Hải chiến Hoàng Sa (tiếp theo)
01.01.2008 08:09
Đến đây, cần mở một dấu ngoặc để tìm câu trả lời đúng nhất cho nghi vấn quan trọng: chiến hạm VNCH hay Trung Cộng đã khai hỏa trước mở đầu trận hải chiến?
Theo các tài liệu của VNCH trước năm 1975, các chiến hạm Trung Cộng đã bắn trước, phía VNCH chỉ phản ứng để tự vệ. Thí dụ như ngay sau khi xảy ra trận hải chiến vào ngày thứ bảy 19 tháng 1, phát ngôn viên quân sự của VNCH là Trung Tá Lê Trung Hiền đã tuyên bố trong một buổi họp báo có các thông tín viên quốc tế tham dự rằng:" Hồi 10 giờ 22 phút sáng nay, một chiến hạm Trung Cộng đã nổ súng bắn vào một tàu tuần dương (cutter) của VNCH tại Hoàng Sa. Chiến hạm VNCH bắn trả để tự vệ khiến tàu Trung Cộng bị cháy. Tàu VNCH chỉ bị hư hại nhẹ". (Sài Gòn - tin Reuter ngày 19 tháng 1 năm 1974). Chiếc tàu tuần dương của HQ/VNCH mà Trung Tá Hiền nói tới là loại tàu "WHEC" (White High Endurance Cutter) nguyên của Coast Guard Hoa Kỳ, khi chuyển giao cho HQVN được gọi là "Tuần Dương Hạm" như HQ-5 Trần Bình Trọng, HQ-16 Lý Thường Kiệt tham chiến tại Hoàng Sa. Trong Bản Thông Tin (Communique) chính thức của Bộ Ngoại Giao VNCH phát hành ngày 19/1/74 cũng loan báo nguyên văn như sau: "Sáng nay, ngày 19/1/74, vào hồi 10 giờ 20 sáng, một hộ tống hạm Trung Cộng loại Kronstadt đã nổ súng vào Khu Trục Hạm "Trần Khánh Dư" HQ-04 của VNCH. Chiến hạm VN bắn trả để tự vệ khiến tàu Trung Cộng bị hư hại" (Trích Bản Thông Tin của Bộ Ngoại Giao ngày 19/1/74 loan báo về việc Trung Cộng khơi mào những hành động quân sự tại vùng Hoàng Sa). Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư đúng ra mang chiến số "HQ-4" chứ không phải là "HQ-04" như đã đăng trong bản tin. Trong HQVN, chiến hạm mang số "HQ-04" là Hộ Tống Hạm (PC - Patrol Craft) Tụy Động lúc đó đã phế thải. Chúng tôi chỉ muốn nói lại cho đúng vì các vị phát ngôn quân sự thường là sĩ quan bộ binh không mấy quen thuộc với các loại chiến hạm của Hải Quân, còn vị phát ngôn viên dân sự của Bộ Ngoại Giao lại càng dễ lẫn lộn hơn.
Nhưng những lầm lẫn "kỹ thuật nhỏ" như HQ-4 và HQ-04 hay chiến hạm VNCH bị tàu Trung Cộng bắn là Tuần Dương Hạm hay Khu Trục Hạm đều không quan trọng. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh các nguồn tin chính thức của VNCH thời đó đều cho biết các chiến hạm Trung Cộng đã nổ súng trước. Tuy nhiên, những lời tuyên bố chính thức, nhất là về mặt ngoại giao, lại chưa chắc đã là sự thật mà nhiều khi chỉ nhằm mục đích tuyên truyền, tìm thêm hậu thuẫn cho mình. Vì vậy, tới đây, vẫn chưa dứt khoát trả lời được câu hỏi "chiến hạm bên nào đã bắn trước?".
Gần đây, rất may, thay vì sự thật mỗi ngày một mai một với thời gian, chúng ta lại có câu trả lời chắc chắn. Câu trả lời đó nằm trong bài nói chuyện mới đây vào ngày 17/1/1998 nhan đề "Sau 24 năm, nhớ về Hải Chiến Hoàng Sa, tưởng niệm các Liệt Sĩ hy sinh vì Tổ Quốc" của HQ Trung Tá Vũ Hữu San, cựu Hạm Trưởng HQ-4. Trong bài nói chuyện rất cảm động này, Trung Tá San đã cùng với Trung Tá Quỳnh "xác nhận việc các chiến hạm HQ-4, HQ-5, HQ-16 và HQ-10 chúng tôi đã bắn trước vào kẻ xâm lăng". Trung Tá San và Trung Tá Quỳnh, những Hạm Trưởng xuất sắc và quân nhân gương mẫu thuần túy đã đưa ra lý do rất chính đáng và hùng hồn để cần nói lên sự thật này rằng:" Sợ gì mà không nói Hải Quân Việt Nam bắn trước? Giặc vào nhà, ta phải đẩy lui chúng!" Lý do các vị Hạm Trưởng đáng kính này nêu ra cũng oai dũng như khi họ đứng trên đài chỉ huy, ra lệnh cho chiến hạm bắn thẳng vào tàu địch năm xưa tại Hoàng Sa. Để kiểm chứng thêm, mới đây chúng tôi cũng nói chuyện khá nhiều lần với cựu HQ Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh và được ông xác nhận việc các chiến hạm VNCH bắn vào tàu địch trước là đúng vì chính ông đã ra lệnh cho tàu Ông tác xạ mở đầu trận hải chiến tại Hoàng Sa theo lệnh của SQ/CHCHT.
Ðặc biệt, trong một cuộc phỏng vấn mới đây, Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại, nguyên Tư Lệnh Hải Quân VNCH/V1DH tiết lộ thêm chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã trao ông một thủ bút cho phép toàn quyền quyết định, kể cả việc xử dụng biện pháp quân sự. Phó Ðề Ðốc Thoại cho biết như sau: "Tôi là người duy nhất và trực tiếp ra lệnh cho Ðại tá Ngạc "Khai Hỏa" và tôi làm việc này đúng chỉ thị của Tổng Thống Thiệu trong một tài liệu do chính Tổng Thống viết tay chỉ thị trực tiếp cho tôi."
Trở lại các diễn tiến của trận hải chiến Hoàng Sa. Ngay sau khi nhận được lệnh tác xạ chuyển đi từ soái hạm HQ-5, các chiến hạm VNCH đồng loạt khai hỏa vào mục tiêu được chỉ định là các chiến hạm địch đối đầu. Các khẩu đại bác 40 ly và 20 ly tác xạ rất chính xác và hiệu quả vì có nhịp bắn nhanh và mục tiêu lớn lại nằm trong tầm tác xạ hữu hiệu. Các khẩu đại bác 76 ly trên Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư tác xạ cũng rất chính xác nhưng nhịp bắn không được nhanh vì hệ thống radar kiểm xạ viễn khiển bị hỏng từ lâu. Những giàn đại pháo 127 ly trên các Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng và Lý Thường Kiệt có nhịp bắn chậm hơn trong lúc các chiến hạm đôi bên vận chuyển với vận tốc cao nên rất khó nhắm vào mục tiêu. Riêng Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ-10 vì chỉ còn một máy chánh nên xoay trở rất khó khăn và chậm chạp, giàn radar bất khiển dụng, tình trạng kỹ thuật không được khả quan nên lâm vào tình thế rất bất lợi.
Với chiến thuật "tốc chiến, tốc thắng", các chiến hạm VNCH chiếm được thượng phong vì bắn trước với cỡ súng lớn hơn. Các tàu Trung Cộng bị thiệt hại nhiều trong những phút đầu tiên này nhưng cũng chống trả mãnh liệt.
Trên Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ-16 thuộc phân đội Bắc, lệnh tác xạ của Hạm Trưởng, HQ Trung Tá Lê Văn Thự, được đáp ứng ngay bằng quả đạn đầu tiên của khẩu đại pháo 127 ly do Trung Úy Ðoàn Viết Ất làm trưởng khẩu. Sau đó, các khẩu đại bác 40 ly và 20 ly từ trước mũi đến sau lái thi nhau bắn vào tàu địch. Giống như như HQ-5, vũ khí chính của Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt là khẩu đại pháo 127 ly (5 inch) đặt tại sân trước. Cũng ở sân trước, đàng sau của khẩu đại pháo là giàn đại bác 40 ly đôi (2 nòng) nằm một tầng cao hơn ngay dưới đài chỉ huy. Hai bên hông đài chỉ huy là các khẩu đại bác 20 ly đôi (2 nòng). Tại sân sau có các khẩu đại bác 40 ly đơn, một bên tả hạm, một bên hữu hạm. Sau đây là lời tường thuật của của một nhân chứng, sĩ quan hải hành Đào Dân (khóa 18 SQ/HQNT?) có mặt trên đài chỉ huy HQ-16 trong lúc xảy ra trận hải chiến:
"Cả chiến hạm như bị giật lùi vì tiếng khai hỏa của đại pháo 127 ly. Những người trên đài chỉ huy chú tâm đến nỗi ai cũng có cảm tưởng mình nhìn thấy được đường đi của viên đại bác dầu tiên. Rồi tiếng nổ dồn dập của khẩu đại bác 40 ly đôi trước mũi và khẩu 40 ly đơn sau lái hữu hạm, cùng với tiếng nổ liên hồi của đại bác 20 ly làm thành một hòa âm khó tả. Khói thuốc súng từ trước mũi, sau lái, boong trên phía sau và ngay đài chỉ huy phía dưới bay lên làm mờ cả một vùng trời trên chiến hạm ... Từ lỗ tròn của ổ đại bác 127 ly trước mũi, Trung Úy Ất đã đứng hẳn người lên, nhô cả thân mình lên trên ụ súng để tận mắt chứng kiến kết quả của những viên đạn đang nổ, điều chỉnh những sai sót. Tiếng oang oang thường ngày của Ất được dịp phát ra từ đó mà ở đài chỉ huy chúng tôi còn nghe được. "Lên hai độ", "xuống một độ", "bên phải", "bên trái một chút". Cả đài chỉ huy cùng chăm chú theo dõi từng viên đại pháo phát nổ xung quanh tàu địch, bỗng ồ lên như ong vỡ tổ:" Trúng rồi!" Tôi nhìn lên, chếch về phía bên phải mũi tàu, một chiến hạm địch đang bốc khói. Có lẽ là khói của viên đạn nổ tung ngay đài chỉ huy vì sau đó, dường như hoạt động của tàu này có phần chậm lại".
Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ-10 là một hành phần của phân đội Bắc dưới quyền điều động của HQ-16. Trong lúc hải chiến, HQ-10 nằm chếch về hướng Nam, cách HQ-16 chừng 1 hải lý. Vì là một tàu loại rà mìn được biến cải nên là chiến hạm chậm và nhỏ nhất trong số các đơn vị VNCH tham chiến. Ngoài ra, ngay từ khi gia nhập Hải Đội Hoàng Sa, tình trạng kỹ thuật của HQ-10 đã không được khả quan vì chỉ còn một máy chánh, radar lại bị hư. Trước đây, trên đường đi từ Đà Nẵng ra Hoàng Sa vào ngày 18/1, soái hạm HQ-5 đã phải rời đội hình, bỏ HQ-10 lại phía sau vì chạy quá chậm. Tuy cần đi trước cho kịp giờ hẹn với các chiến hạm bạn tại Hoàng Sa, HQ-5 vẫn dùng radar của mình để hướng dẫn HQ-10 hải hành trong đêm. Vũ khí chính của HQ-10 là khẩu trọng pháo 76.2 ly đặt tại sân trước, 2 đại bác 40 ly đơn tại sân giữa và 4 đại bác 20 ly đặt hai bên hông đài chỉ huy và sân sau.
Theo kế hoạch lúc ban đầu, phân đội Bắc có nhiệm vụ yểm trợ hải pháo để phân đội Nam đổ quân chiếm đảo Quang Hòa. Nhưng sau khi cuộc đổ bộ bất thành vì quân Trung Cộng trên đảo quá đông và tàu yểm trợ của chúng cũng rất nhiều - tổng cộng 11 chiếc đủ loại - nên sau khi thảo luận kỹ càng, lực lượng VNCH quyết định tiêu diệt các chiến hạm địch trước. Đây là một quyết định rất sáng suốt vì nếu phá được đoàn tàu yểm trợ, địch quân trên đảo sẽ bị cô lập và sẽ bị đánh tan dễ dàng. Do đó, HQ-10 cũng được chỉ định một mục tiêu tác xạ, đó là chiếc tàu Trung Cộng mang số 396. Theo lời tường thuật của các nhân chứng, chỉ trong vòng 5 phút đầu, các khẩu hải pháo trên HQ-10 đã bắn tê liệt chiến hạm địch, phòng lái và hầm máy bị cháy khiến chiếc tàu này không còn điều khiển được nữa, cứ chạy vòng vòng làm mồi cho hỏa lực chính xác của HQ-10. Tuy nhiên, vì chỉ còn một máy, xoay trở rất khó khăn nên HQ-10 cũng bị trúng nhiều đạn địch. Hạm Trưởng, HQ Thiếu Tá Ngụy Văn Thà bị tử trận, Hạm Phó là HQ Đại Úy Nguyễn Thành Trí bị thương nặng. Sau khi bắn hạ tàu địch, cuối cùng Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo cũng bị hy-sinh. Một số nhân viên xuống được bè đào thoát mang theo vị Hạm Phó, nhưng chẳng bao lâu, Đại Úy Trí cũng đền nợ nước vì bị mất máu quá nhiều.
Theo nguồn tin tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, người Mỹ mất tích tên là Gerald Emil Kosh, 27 tuổi, quê quán tại Lafayetteville, tiểu bang Pennsylvania, cựu Đại Úy lục quân đã từng tham chiến tại Việt Nam và được tưởng thưởng một huy chương với ngôi sao bạc và chiến thương bội tinh. Phát ngôn viên Tòa Đại Sứ còn cho biết thêm:" Ông Kosh hiện là một nhân viên dân chính đã có mặt trên một chiến hạm VNCH tham chiến tại Hoàng Sa. Sau một trận hải chiến dữ dội, HQVN đã đưa ông này lên đảo Hoàng Sa để được an toàn hơn. Nhưng ngày hôm sau, phi cơ Mig và chiến hạm Trung Cộng oanh kích đảo và số phận của ông Kosh không được biết từ đó". Riêng Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ vẫn không tiết lộ gì nhiều về nhiệm vụ của ông Kosh, chỉ nói rằng ông là nhân viên dân sự làm việc cho phòng tùy viên quân sự của Tòa Đại Sứ tại Sài Gòn. Nguồn tin này không được chính xác. Ông Kosh không có mặt trên chiến hạm VNCH vì ông đã yêu cầu HQ-5 đưa lên đảo Hoàng Sa vào tối 18/1, một ngày trước khi xảy ra trận hải chiến.
Cuối cùng, sau 10 ngày bị bắt giữ, ông Kosh được Trung Cộng thả vào ngày 31 tháng 1 tại cây cầu Lo Wu, ranh giới giữa Hương Cảng và tỉnh Quảng Đông.
X. KẾT LUẬN
Trận hải chiến tại quần đảo Hoàng Sa giữa HQ/VNCH và HQ/TC diễn ra trong vòng 30 phút, một thời gian tương đối ngắn ngủi, nhưng hậu quả còn kéo dài cho tới ngày nay. Sau khi chiếm được Hoàng Sa, lực lượng TC tiến sâu hơn về phía Nam, chiếm thêm một số đảo thuộc vùng Trường Sa. Hiện nay, các đảo tại Hoàng Sa đã được cải tiến thành những căn cứ quân sự quan trọng, có phi trường và cầu tàu khá tối tân. Ngoài ra, TC cũng đã có quân đồn trú thường trực và xây cất công sự phòng thủ rất kiên cố trên nhiều hải đảo khác tại Biển Ðông. Tham vọng của Trung Cộng còn biểu lộ trắng trợn hơn khi họ đơn phương vẽ lại bản đồ, đòi chủ quyền hầu như trọn Biển Ðông, có nơi chỉ cách bờ biển Việt Nam vài chục hải lý. Mới đây TC lại ép Việt Nam ký thỏa ước biên giới, chiếm thêm một số đất vùng thượng du, và quan trọng hơn, một phần lãnh hải trong vịnh Bắc Việt.
Trước sự lấn lướt của TC chính quyền Việt Nam hiện tại ở trong thế bị động vì vẫn còn nằm trong quĩ đạo của TC và nhất là trước đây đã lên tiếng công nhận chủ quyền của "người anh em xã nghĩa" tại Biển Ðông. Nếu TC đạt được tham vọng bành trướng của họ, trong tương lai không xa, Việt Nam sẽ bị hoàn toàn khống chế và nằm dưới quyền sinh sát của kẻ thù truyền kiếp. Dưới áp lực nặng nề của người láng giềng không lồ đầy dã tâm phương Bắc, Việt Nam bắt buộc phải cựa quậy bằng đủ mọi cách, kể cả việc mong được nương tựa vào "đế quốc Mỹ" để khỏi bị nghẹt thở. Chính vì vậy mà cách đây không lâu, Bộ Trưởng Quốc Phòng Việt Nam Trần Văn Trà đã chính thức thăm viếng Hoa Kỳ, và chiến hạm Vandergrift của HQ Hoa Kỳ cũng ghé bến Sài Gòn. Ðây là những "đòn gió" của HK và VN ngầm nhắn TC hãy tự chế, nếu không có thể đụng độ với liên minh quân sự Việt - Mỹ.
Tuy nhiên, chính sách "đi giây", ngả bên này nghiêng bên kia để sống còn cũng không phải là kế lâu dài. Vì dựa vào "đế quốc" hay "ông thầy vĩ đại" rút cục cũng vẫn phải chịu thân phận tôi đòi, sớm muộn gì cũng bị chủ nhân bắt nạt. Chỉ khi nào dân Việt được Tự Do làm chủ vận mệnh của mình, đất nước mới hy vọng tiến bộ phú cường khiến thế giới kính nể, lúc đó Việt Nam mới có cơ hội nói chuyện ngang hàng lân bang, đòi lại quyền lợi chính đáng của mình trên Biển Ðông.
Trần Ðỗ Cẩm
(Austin, Texas tháng 1/2004)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ðiạ Lý Biển Ðông Với Hoàng Sa và Trường Sa (Vũ Hữu San)
2. Hạm Ðội Hải Quân QLVNCH (Bảo Biển)
3. Lướt Sóng số đặc biệt "Chiến Thắng Hoàng Sa"
4. Ðặc San CQN/HQ/VNCH số đặc biệt Hoàng Sa
5. Trận Hải Chiến Lịch Sử Hoàng Sa (Hà Văn Ngạc)
6. Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt Và Trận Hải Chiến Hoàng Sa (Ðào Dân)
7. Lần Ðào Thoát Ở Hoàng Sa (Nguyễn Ðông Mai)
8. Tài Liệu từ các Websites Trung Cộng.
_________________________________________
TRẬN HẢI CHIẾN HOÀNG SA THEO TÀI LIỆU TRUNG CỘNG
Trần Ðỗ Cẩm
- Kính tặng thủy thủ đoàn các chiến hạm
HQ-4, HQ-5, HQ-10, HQ-16 HQ/VNCH
đã anh dũng tác-xạ vào tàu địch
trong trận hải chiến lịch sử lẫy lừng nhất
của quân sử HQ/VNCH.
- Kính dâng hương hồn các tử sĩ Hoàng Sa.
MỞ ÐẦU
Trận hải chiến giữa Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa (HQ/VNCH) và Hải Quân Trung Cộng (HQ/TC) tại quần đảo Hoàng Sa xảy ra vào ngày 19 tháng 1 năm 1974, tình đến nay đã được tròn 30 năm. Ngay sau đó, phát ngôn viên quân sự VNCH đã công bố một số chi tiết liên quan tới trận hải chiến. Báo chí tại Miền Nam Việt Nam cũng viết nhiều bài tường thuật dựa theo nguồn tin chính thức. Riêng Bộ Tư Lệnh Hải Quân VNCH đã dành riêng một số báo Lướt Sóng viết về biến cố quan trọng này.
Gần đây tại hải ngoại, một số các nhân chứng trực tiếp tham dự cũng đã viết nhiều bài khá trung thực và giá trị. Tuy nhiên đa số những bài viết kể trên đều căn cứ vào tài liệu và quan điểm của VNCH. Vì cần phù hợp với tình hình chính trị và đường lối uyển chuyển trên lãnh vực ngoại giao vào thời điểm 1974, một số chi tiết quan trọng đã không được tiết lộ chính xác. Điển hình, phát ngôn viên quân sự VNCH trong một cuộc họp báo chính thức cho biết các chiến hạm TC đã nổ súng trước nên phía VNCH phải bắn trả để tự vệ. Thật ra, nhiều nhân chứng có mặt tại chỗ đã xác nhận trong những bài viết sau này, chính các chiến hạm VNCH đã nổ súng trước để đánh đuổi bọn xâm lăng. "Giặc đến nhà thì phải đánh", hành động đầy chính nghĩa, hợp lý và hợp pháp này nếu chưa thích hợp để công bố vào năm 1974, thì bây giờ rất cần làm sáng tỏ để chứng minh người Việt Nam, nhất là HQ/VNCH dù phải đối đầu với quân xâm lược mạnh hơn gấp bội, vẫn không ngần ngại nổ súng để bảo vệ bờ cõi.
Tuy nhiên, dù đã có nhiều bài viết về trận hải chiến Hoàng Sa, thiết tưởng việc tường thuật trung thực vẫn không thể đầy đủ nếu thiếu phần tài liệu của "phía bên kia" tức là TC. Vào thời điểm 1974, vì có sự cách biệt quá lớn về ý-thức-hệ giữa hai khối Tự Do và Cộng Sản nên những tin tức trao đổi giữa đôi bên rất giới hạn. Hầu như những tin tức từ phía Cộng Sản đều bị chế độ độc tài đảng trị cố tình ngăn chặn bởi bức "màn sắt", "màn tre" nên khó lọt ra ngoài. Thảng hoặc, nếu có chi tiết nào cố tình được "Đảng và Nhà Nước" công bố thì cũng chỉ thuộc loại tuyên truyền quá lố như "dân quân TC bò tới gần các chiến hạm VNCH ném lựu đạn vào lỗ châu mai", vì vậy chẳng có một giá trị nào trong việc truy nhận sự thật. Rất may mắn, trong vòng mấy năm gần đây, cao trào Tự Do Dân Chủ đã khiến các nước khối Cộng hoặc tự động bị tan rã như Nga Sô và một số quốc gia Đông Âu. TC và VN cũng bắt buộc phải "đổi mới" để sống còn. Dân chúng TC nhờ thế, đỡ bị "bịt mồm, bóp miệng", có thể nói lên phần nào sự thật.
Lại nữa, phương tiện truyền thông qua mạng lưới điện tử toàn cầu đã khiến việc trao đổi tin tức trở nên dễ dàng hơn. Vả lại, trận hải chiến Hoàng Sa xảy ra đã khá lâu, khía cạnh tuyên truyền không còn được đặt nặng bằng nhu cầu tìm hiểu sự thật. Vì vậy trong khoảng thời gian gần đây, chúng tôi đã may mắn tìm được một số các tài liệu TC liên quan tới trận hải chiến do chính những nhân chứng tham dự thuật lại. Nhìn chung, tuy vẫn còn nặng mang hơi hướm "Mao Chỉ Tịch", nhưng nếu gạn bỏ khía cạnh tuyên truyền như đề cao dân quân quá đáng, che dấu thiệt hại, dành phần thắng về mình v.v…, chúng ta vẫn có thể tìm được một số chi tiết khá giá trị. Khi tổng hợp những chi tiết này với những tài liệu đã được công bố từ trước, chúng ta có thể nhìn được khá gần sự thật.
Do đó, mục tiêu của bài này không phải tường thuật lại những chi tiết liên quan tới trận hải chiến Hoàng Sa là điều các tác giả khác đã viết khá chi tiết và đầy đủ. Chúng tôi chỉ muốn bổ túc một số chi tiết về trận hải chiến Hoàng-Sa dựa theo các tài liệu của TC mới sưu tầm được để tìm hiểu một số quyết định quan trọng của họ liên quan tới trận hải chiến như: kế hoạch lấn chiếm Hoàng Sa, các chiến hạm tham chiến, diễn-tiến trận hải chiến, hệ-thống chỉ-đạo, chiến lược chiến thuật, trường hợp hy sinh bi hùng của Hộ Tống Hạm (HTH) Nhựt Tảo… Ngoài ra chúng ta cũng có thể suy đoán được khá chính xác về những thiệt hại của phía TC.
Ðể dễ theo dõi, tưởng cũng cần nhấn mạnh đa số những điểm chính nêu lên trong bài này đều là những ghi nhận và quan điểm căn cứ vào tài liệu và nhãn quan của TC. Phụ thêm vào đó là một số nhận định riêng của người viết.
Khi đề cập tới những chiến hạm VNCH, phía TC thường dùng tên hiệu như Tuần Dương Hạm (TDH) Lý Thường Kiệt, Khu Trục Hạm (KTH) Trần Khánh Dư v.v…, trong khi các bài viết của chúng ta lại hay sử-dụng chỉ số như HQ-16, HQ-4 thay vì tên hiệu như họ. Ðây là sự khác biệt khá quan trọng. Vì bài viết này căn cứ vào tài liệu TC nên chúng tôi cũng xử dụng tên hiệu của các chiến hạm VNCH để phần tường thuật được nhất quán.
KẾ HOẠCH LẤN CHIẾM HOÀNG SA
Sau khi cưỡng chiếm nhóm đảo An Vĩnh (Amphitrite Group) vào ngày 21 tháng 12 năm 1956, đến năm 1974, dùng chính sách ngoại giao "bóng bàn" bang giao được với Hoa Kỳ, TC đã chuẩn bị khá kỹ càng kế hoạch bành trướng tại Biển Đông. Ngoài tầm quan trọng về mặt quân sự, với dân số quá đông trên 1 tỷ người, TC cần tận dụng các tài nguyên về ngư sản và khoáng sản tại vùng biển chưa được khai thác này để sống còn. Người Mỹ lúc đó đã rút quân khỏi Việt Nam và cũng đã có kế hoạch triệt thoái khỏi toàn vùng Đông Nam Á bằng cách đóng cửa các cơ sở quân sự quan trọng tại Phi Luật Tân như căn cứ Không Quân Clark Air Base, căn cứ Hải Quân Subic Bay. Lo ngại rằng sự vắng mặt của mình sẽ tạo cơ hội tốt cho Nga Sô bành trướng nên Hoa Kỳ cũng muốn có một lực lượng tương đối mạnh khả dĩ có thể thay thế họ ngăn chặn và cầm chân lực lượng đối thủ chiến tranh lạnh hàng đầu. TC đang có tham vọng bành trướng tại Biển Đông, còn Hoa Kỳ muốn ngăn chặn ảnh hưởng của Nga Sô tại vùng này nên chúng ta không ngạc nhiên khi "kẻ cắp bà già" bắt tay nhau, Hoa Kỳ đã ngầm thỏa thuận để TC ngang nhiên lấn chiếm quần đảo Hoàng Sa của VNCH và sau này tiến xa hơn tới tận Trường Sa, cách lãnh thổ TC cả ngàn cây số.
Để mở đầu kế hoạch lấn chiếm, trên mặt ngoại giao, Bộ Ngoại Giao TC đột nhiên lên tiếng đòi chủ quyền tại Hoàng Sa, đồng thời lén lút cho ngư thuyền võ trang chở quân lính giả dạng dân đánh cá đổ bộ lên một số đảo do VNCH kiểm soát từ lâu trong vùng Hoàng Sa. Dự đoán thế nào phía VNCH cũng phản ứng mạnh mẽ, chính phủ TC từ các giới chức cao cấp nhất như Chủ Tịch Mao Trạch Đông đến Đặng Tiểu Bình, Châu Ân Lai và toàn bộ Quân Ủy Trung Ương đã đồng thanh quyết định sẽ dùng biện pháp quân sự để đánh chiếm Hoàng Sa từ tay VNCH nếu cần. Khởi đầu, họ đổ quân lên các đảo, đồng thời cho tàu bè và chiến hạm khiêu khích lực lượng VNCH. Nếu các chiến hạm VNCH lặng lẽ cúi đầu bỏ đi như lời một viên chứa Hoa Kỳ tại Việt Nam đe dọa "nếu các chiến hạm Việt Nam nổ súng tại Hoàng Sa, HQ/VNCH sẽ bị xoá tên ngay", TC sẽ ngang nhiên chiếm Hoàng Sa theo chiến thuật tiệm tiến "tầm ăn dâu" lấy từng đảo một như họ làm tại Trường Sa sau này. Ngược lại, nếu VNCH tham chiến, dù các HQ/VNCH có chiến thắng đánh chìm tất cả các chiến hạm TC tại chỗ nhưng vẫn không thể giữ được Hoàng Sa vì lực lượng tăng viện TC gồm nhiều chiến hạm tối tân và có cả phi cơ tham chiến sẽ kéo tới đánh chìm các chiến hạm VNCH dễ dàng. Vì vậy, khi TDH Lý Thường Kiệt được phái ra Hoàng Sa vào ngày 15 tháng 1 năm 1974 để thám sát, chính phủ TC liền lập tức xử dụng phương tiện quân sự. Tài liệu TC tóm lược kế hoạch lấn chiếm này như sau:
"Lo ngại VNCH điên cuồng khiêu khích để chiếm Hoàng Sa, quân trên đảo báo cáo về Trung Ương và lập tức được trình lên thượng cấp. Các đồng chí Zhou Enlai và Phó Chủ Tịch nhà nước Ye Jianying đệ trình một kế hoạch phản công bằng quân sự và được chủ tịch Mao Zedong mau chóng chấp thuận. Kế hoạch này bao gồm việc tăng cường chiến hạm tuần tiễu và dùng biện pháp quân sự để giữ đảo. Đồng chí Đặng Tiểu Bình cùng giới lãnh đạo quân sự thảo kế hoạch đánh chiến hạm địch, tái chiếm các đảo bị VNCH xâm lấn, đồng thời kiểm soát hoàn toàn vùng Hoàng Sa."
Như vậy, chúng ta thấy rõ sách lược bành trướng tại Biển Đông đã được TC chuẩn bị kỹ càng, khởi đầu bằng việc gây hấn tiến chiếm Hoàng Sa. Đây là một quốc sách quan trọng đã được hoạch định từ lâu nên trận hải chiến tại Hoàng Sa đã được cố ý dự trù, tiên liệu, chuẩn bị và thiết kế chu đáo. Về phía VNCH, trong lúc phải đối đầu trong trận chiến một mất một còn với Việt Cộng trong nội địa, việc tham chiến tại Hoàng Sa chỉ là một sự tình cờ, cũng như TDH Lý Thường Kiệt HQ-16 ra Hoàng Sa với nhiệm vụ chính chở phái đoàn Công Binh thám sát thiết lập phi trường, tình cờ phát hiện ngư thuyền và quân TC trong vùng. Sau đó, VNCH mới hối hả phái các chiến hạm khác ra tăng cường. Đến đây tưởng cũng nên ghi nhận một điểm son về Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lúc đó đã đích thân thăm viếng BTL/HQ/V1DH để duyệt xét tình hình và ra lệnh bằng thủ bút cho phép Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, TL/HQ/V1DH được toàn quyền hành động, kể cả việc xử dụng võ lực để bảo vệ Hoàng Sa. Phó Ðề Ðốc Thoại đôi lúc cũng cảm thấy đơn độc, đã thi hành đúng đắn chỉ thị của thượng cấp khi ra lệnh "Khai Hỏa". Trong lúc chiến trường quốc nội gay go sôi động, ngoài biển TC đe dọa lấn chiếm Hoàng Sa; hành động "quyết chiến" đối đầu với kẻ thù truyền kiếp để bảo vệ lãnh thổ của vị nguyên thủ VNCH phải được coi là quyết định lịch sử, có thể đem so sánh với thời "Hội Nghị Diên Hồng". Sau đó, TL/HQ/V1DH và các chiến sĩ HQ/VNCH nhất nhất tuân-hành quân lệnh do vị Tổng Tư Lệnh ban-hành, chiến đấu rất anh dũng tại Hoàng Sa theo đúng truyền thống chống ngoại xâm của tiền nhân Việt-tộc.
CÁC CHIẾN HẠM THAM CHIẾN
Khi các chiến hạm VNCH được phái tới Hoàng Sa, phía TC cũng tăng cường lực lượng hải quân của họ. Lúc đầu chỉ có 2 ngư thuyền võ trang 402 và 407, sau đó thêm nhiều chiến hạm nhập vùng.Về tổng số chiến hạm tham chiến, tài liệu của TC ghi rất rõ ràng. Họ cho biết như sau:
"Ngày 17 tháng 1, Quân Ủy Trung Ương ra lệnh Hạm Đội Nam Hải lập tức phái chiến hạm tuần tiễu tại Hoàng Sa, đồng thời ra lệnh Quân Khu Hải Nam gửi quân lính theo tàu ra giữ đảo. Theo lệnh Quân Ủy Trung Ương, quân khu Quảng Châu ra lệnh Hạm Đôi Nam Hải phái hai Trục Lôi Hạm 396 và 389 (ghi chú của tác giả: tạm gọi tắt là T-396 và T-389) thuộc Phân Đội Trục Lôi 10 căn cứ tại Quảng Châu và hai Hộ Tống Hạm loại Kronstad 271 và 274 (ghi chú của tác giả: tạm gọi tắt là K-271 và K-274) thuộc Phân Đội chống Tiềm Thủy Đĩnh (TTÐ) 73 căn cứ tại Yulin, lên đường ra Hoàng Sa vào các ngày 17 và 18 để tuần tiễu. Ngoài ra, Quân Khu Hải Nam còn phái 4 Đại Đội Bộ Binh để chiếm đóng các đảo Vĩnh Lạc, Cam Tuyền và Quang Hòa. Thêm vào đó, Căn Cứ Hải Quân Quảng Châu còn phái 2 chiến hạm K-281 và K-282 thuộc Phân Đội Chống TTĐ 74 tới Hoàng Sa sau đó làm lực thành phần tiếp ứng. Toàn thể lực lượng được đặt dưới quyền chỉ huy của Tư Lệnh Phó Hạm Đội Nam hải tên Wie Ming Sen lúc đó có mặt tại can Cứ Hải Quân Yulin nằm vế phía Nam đảo Hải Nam. Bộ Tư Lệnh Hành Quân được đặt trên soái hạm K-271 thuộc Phân Đội 73. Về không yểm, quân khu Quảng Châu ra lệnh Phi Đoàn 22 thuộc Hạm Đội Nam Hải cử 2 phi cơ túc trực bao vùng, đồng thời yêu cầu Không Quân thuộc Quảng Châu sẵn sàng yểm trợ. Nếu nhìn vào lực lượng Hải, Không và Lục quân được phái ra Hoàng Sa, mọi người đều thấy chúng ta chỉ đưa ra một lực lượng quân sự rất hạn chế với mục đích bảo vệ Hoàng Sa chứ không phải tiêu diệt hạm đội địch."
Khi phân đội K-271 và K-274 trên chở một Trung Đội Bộ Binh tới vùng Hoàng Sa cũng là lúc hai KTH Trần Khánh Dư và TDH Lý Thường Kiệt của VNCH đang săn đuổi và đe dọa các ngư thuyền 402 (Nam Ngư 1) và 407 (Nam Ngư 2) của TC. Các chiến hạm TC lập tức phản ứng bằng cách gửi tín hiệu yêu cầu chiến hạm VNCH rời vùng. Tối 17 tháng 1, TDH Trần Bình Trọng (HQ-5) và HTH Nhựt Tảo (HQ-10) rời quân cảng Đà Nẵng và tới Hoàng Sa vào buổi chiều ngày 18 tháng 1. Phía TC dùng chiến thuật "khiêu khích", cho các ngư thuyền bám sát chiến hạm VNCH để cản đường. Về những vận chuyển cắt đường và những hành động khiêu khích trên biển, tài liệu TC tường thuật như sau:
"Sáng ngày 18 tháng 1, sau khi tuần tiễu vùng Hoàng Sa, các chiến hạm VNCH một lần nữa lại có những hành động thù nghịch, tiến gần ngư thuyền 407 và dùng loa phóng thanh đuổi ngư thuyền này ra khỏi vùng. Tuy phải đối diện với tàu lớn và đại pháo, thuyền trưởng ngư thuyền 422 vẫn không sợ hãi trả lời: “Đây là lãnh hải Trung Quốc, các anh phải rời xa ngay”. Phía VNCH có một sĩ quan đe dọa: “Nếu các anh không lập tức rời vùng sẽ bị đánh chìm”. Khi thấy ngư thuyền 407 vẫn không bỏ đi, chiến hạm Trần Khánh Dư trở nên giận dữ, dùng hết tốc lực đụng vào khiến phòng lái ngư thuyền 407 bị thủng một lỗ lớn. Lúc này toán chiến hạm K-271 cũng nhập vùng, lại gửi tín hiệu yêu cầu các chiến hạm VNCH rời khỏi vùng biển Hoàng Sa. Tới đêm 18 tháng 1, tình hình rất căng thẳng, đôi bên canh chừng lẫn nhau nhưng không có đụng độ."
Phía TC đã tả lại khá rõ ràng biến cố KTH Trần Khánh Dư cố ý đụng vào ngư thuyền 407 khiến đài chỉ-huy bị phá-hủy, phòng lái bị thủng một lỗ lớn, nhưng chi tiết "dùng hết tốc lực" có vẻ hơi quá đáng. Theo HQ Trung Tá Vũ Hữu San, Hạm Trưởng KTH Trần Khánh Dư, cho biết lúc đó , tình hình rất căng thẳng, các ngư thuyền TC cố ý vận chuyển chận đường các chiến hạm VNCH, ngăn cản không cho lại gần hải-đảo để bảo vệ quân TC trên đó. Thoạt đầu HQ.4 đã dùng mọi biện pháp "hòa bình" đúng theo luật đi biển yêu cầu họ rời khỏi lãnh hải VNCH nhưng các ngư thuyền này vẫn không bỏ đi.
Muốn tìm hiểu thêm về quyết định cố ý “đụng tàu” có tính toán này, chúng ta cần biết rõ nhiệm vụ của Hạm-Trưởng HQ.4 lúc bấy giờ. Theo đúng lệnh Hành-Quân, cho tới ngày 18 tháng 1, Hạm Trưởng HQ-4 vẫn còn kiêm nhiệm chức vụ Chỉ-Huy-Trưởng Hành Quân bảo-vệ quần-đảo Hoàng-Sa. Để chu toàn trọng trách, chiến hạm VNCH phải đổ quân để lấy lại các đảo đã bị quân TC chiếm đóng bất hợp pháp. Vì tàu TC đang tuần tiễu quanh các đảo có thể liều lĩnh đụng chìm hay bắn vào các xuồng đổ bộ nên trước hết phải tìm cách cô lập hóa lực lượng yểm trợ này để bảo đảm an toàn cho toán đổ bộ. Thượng cấp lại đã ra lệnh “chiếm lại các đảo bằng biện pháp hòa bình” trước khi xử dụng vũ lực. Do đó Hạm Trưởng HQ-4 chỉ có thể biểu lộ quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ bằng cách ủi vào ngư thuyền TC như một hành động cảnh cáo có tính toán buộc chúng phải rời vùng, trong lúc hải pháo sẵn sàng yểm trợ cho toán đổ quân nếu TC nổ súng trước.
Vì vậy, Hạm Trưởng San mới ra lệnh dùng mũi tàu "ủi nhẹ" vào ngư thuyền 407 thấp hơn để cảnh cáo và cũng tượng trưng việc "đẩy" ngư thuyền TC ra khỏi hải phận VNCH. Nếu bị KTH Trần Khánh Dư cao lớn "dùng hết tốc lực" đụng vào, chắc ngư thuyền 407 đã về với hà bá, đâu còn cơ hội để kể lại chuyện này. Theo lời các thủy thủ trên các chiến hạm VN, các thủy thủ trên tàu TC đều có những cử chỉ khiêu khích thô tục, chửi bới khiến nhân viên VN rất tức giận, nhưng vì tuân lệnh "chạm trán hòa bình" nên buộc phải tự chế. Việc KTH Trần Khánh Dư đụng vào ngư thuyền 407 đã khiến các thủy thủ VN "lên tinh thần", hăng hái như đã trả được thù.
Về biến cố "đụng tàu" này, tác giả Ðào Dân hiện diện trên TDH Lý Thường Kiệt được chứng kiến tận mắt, thuật lại như sau: "Bốn chiếc tàu, 2 lớn ở ngoài, 2 nhỏ ở giữa vẫn thả trôi bình yên để mặc cho con người đấu khẩu. Có lẽ không còn kiên nhẫn được nữa, HQ 4 nổ máy đâm thẳng ngang hông tàu địch, đẩy nó ra khơi. vì vận tốc chậm, có lẽ khoảng 2 máy tiến 1, nên không có thiệt hại nào cho bên địch, nếu có, có lẽ bát đũa nồi nêu cơm nước bị đổ bể tùm lum trong phòng ăn và nhà bếp. Trước thái độ quyết liệt của HQ 4, tàu Trung Quốc đành nhượng bộ, mở máy, từ từ tăng tốc độ chạy về phía Nam của 2 đảo Duy Mộng và Quang Hòa, để lại chiến trường một vùng nước bọt trắng xóa. Chúng tôi toàn thắng mà không tốn một viên đạn (chỉ tốn một cái húc của Trung Tá Vũ Hữu San). Ðến đây người viết cần phải ngừng lại một chút vừa để hoan nghênh Hạm-Trưởng San …"
Riêng đối với Hạm Trưởng San, chuyện đụng tàu trên biển này chắc cũng đã gây ra không ít suy-tư, vì theo công pháp quốc tế, chiến hạm hay thương thuyền của một quốc gia được coi như lãnh thổ của quốc gia đó. Như trước đây, Hoa Kỳ đã buộc Nhật Bản ký văn bản đầu hàng vô điều kiện chấm dứt thế chiến II tại Thái Bình Dương trên Thiết Giáp Hạm Missouri bỏ neo trong vịnh Tokyo, một hành động tượng trưng coi như Nhật Bản đã phải ký hòa ước trên đất Hoa Kỳ. Làm Hạm Trưởng, việc để chiến hạm mắc cạn hay đụng vào tàu khác là điều tối kỵ thường đưa tới việc mất chức. Hạm Trưởng San đã cố ý đụng tàu TC, chẳng khác nào tự ý "xâm lăng" Trung Quốc có thể đưa tới những hậu quả nghiêm trọng. Trong trường-hợp có đối-thoại hay dàn-xếp thương-thuyết Việt-Hoa, Ông rất có thể trở thành “vật hy-sinh” và bị cả hai quốc-gia kết tội là kẻ gây nên chiến-tranh.
Thiết tưởng đây là một hành động can đảm tuy tự chế, chẳng khác danh tướng Trần Quốc Toản đời Trần đã vì tức giận giặc Tàu xâm lăng đã bóp nát quả cam trong tay lúc nào không biết!
Một chi tiết khác khá quan trọng là TC cũng gửi 2 tiềm thủy đĩnh tham dự chiến dịch Hoàng Sa, nhưng sau khi trận chiến đã kết thúc. Tác giả Lu Qi Minh trong bài viết nhan đề "Tiềm Thủy Ðĩnh TC Ðầu Tiên Tham Dư Chiến Dịch" cho biết như sau: "Vì lo ngại Hoa Kỳ và VNCH không chịu rút lui dù đã bị thất bại, nên Hạm Ðội TC vẫn phải gửi chiến hạm tăng cường lực lượng tại Hoàng Sa. Lúc đó trời bão, biển động mạnh nên các chiến hạm không rời bến được, do đó hai tiềm thủy đĩnh được lệnh công tác tại Hoàng Sa. Ðây là lần đầu tiên tiềm thủy đĩnh dược dùng vào công tác chiến đấu nên phải có sự chấp thuận đặc biệt của chủ tịch Mao Trạch Ðông. Hai tiềm thủy đĩnh dùng trong công tác mang số hiệu 282 và 289."
Tóm lại về lực lượng tham chiến, phía TC có 2 ngư thuyền võ trang mang số 402 và 407, hai TLH mang số 389 và 396, hai Kronstadt mang số 271 và 274 và hai Kronstadt 281 và 281 tăng viện. Trong số này, chỉ có 4 chiến hạm T-389, T-396, K-271 và K-274 trực tiếp tham chiến. Còn K-281 và K-282 tới Hoàng Sa vào hồi 11 giờ 49 ngày 19 tháng 1, lúc đó trận hải chiến đã kết thúc (vào hồi 11 giờ). Chính hai chiến hạm mới đến này đã bắn chìm HTH Nhựt Tảo. Hai tiềm thủy đĩnh mang số 282 và 289 cũng tới Hoàng Sa sau đó để tăng cường tuần tiễu và đề phòng lực lượng VNCH trở lại tái chiếm quần đảo.
TRẬN HẢI CHIẾN
Tài liệu TC nói về trận hải chiến được tóm lược như sau:
"Rạng sáng ngày 19 tháng 1, các chiến hạm VNCH chia thành hai phân đội. TDH Lý Thường Kiệt và HTH Nhựt Tảo hoạt động trong vùng lòng chảo, từ phía Bắc gần đảo Hoàng Sa tiến về hướng Nam gần đảo Quang Hòa. Trong khi đó, KTH Trần Khánh Dư và TDH Trần Bình Trọng bọc từ phía ngoài biển cũng tiến về đảo Quang Hòa từ hướng Tây Nam. Nếu nhìn vào tầm cỡ và trọng tấn, phía VNCH gồm 3 chiến hạm lớn, trọng tấn khoảng 1,770 tấn mỗi chiếc và một chiến hạm nhỏ trọng tấn khoảng 650 tấn, như vậy tổng cộng trọng tấn phía VNCH khoảng 6,000 tấn, trong khi phía TC có hai chiến hạm loại Kronstad trọng tấn 570 tấn và hai Trục Lôi Hạm (TLH) loại T-43 trọng tấn 300 tấn, tổng cộng khoảng 1760 tấn. Về vũ khí, phía TC cỡ súng lớn nhất là 85 ly đôi trong khi VNCH có súng cỡ 127 ly. Như vậy về hỏa lực, phía VNCH cũng trội trội hơn. Các chiến hạm VNCH với hải pháo lớn chiếm vị trí bên ngoài lợi thế hơn, trong khi các chiến hạm TC ở phía trong gần các đảo.
Trước ý đồ gây hấn của VNCH, theo chỉ thị của Quân Ủy Trung Ương, quân khu Quảng Châu đã đặt các đơn vị trực thuộc trong tình trạng báo động khẩn cấp, đồng thời ra lệnh cho các chiến hạm tại Hoàng Sa sẵn sáng đối phó nếu bị tấn công. Các chiến hạm TC được lện phối trí tại vùng đảo Quang Hòa để bám sát các chiến hạm VNCH. Trước các họng đại pháo của chiến hạm VNCH, các chiến hạm TC tuy nhỏ hơn nhưng không hề nao núng.
Hai TLH T-396 và T-389 có nhiệm vụ bám sát TDH Lý Thường Kiệt. Mặc dù nhỏ hơn với trọng tấn chỉ bằng một phần tư, T-396 vẫn không giảm tốc độ khi cản đường. TDH Lý Thường Kiệt ỷ vào súng lớn và vỏ tàu dầy hơn, chẳng những không đổi hướng mà còn dùng mũi đụng vào T-389 khiến sườn tàu và pháo tháp bị hư hại, sau đó còn cắt ngang đội hình TC. Các chiến hạm VNCH còn tiến về phía đảo Quang Hòa thả xuống 4 xuồng cao su trên chở khoảng 40 quân VNCH để đổ bộ. Tuy lần đầu tiên đụng độ, nhưng dân quân TC vẫn nổ súng khiến VNCH bị chết 1, bị thương 3 khiến toán đổ bộ VNCH phải rút lui. Khi thấy cuộc đổ bộ bị thất bại, phía VNCH đổi chiến thuật, lợi dụng ưu thế về hỏa lực và vị trí thuận lợi để tấn công các chiến hạm TC.
Trước hỏa lực hùng hậu của phía VNCH, các chiến hạm TC lần lượt bị trúng đạn. Phía TC lập tức phản công. Các HTH K-271 và K-274 tấn công các KTH Trần Khánh Dư và TDH Trần Bình Trong của VNCH, trong khi các TLH T-396 và T-389 đối đầu TDH Lý Thường Kiệt và HTH Nhựt Tảo. Các chiến hạm VNCH khai triển đội hình cố giữ khoảng các lớn hơn hầu tận dụng hải pháo tầm xa, nhưng các chiến hạm TC có vận tốc cao hơn nên khoảng cách đôi bên mỗi lúc càng giảm, có lúc gần như sát vào nhau. Vì vậy, các chiến hạm TC tuy cỡ súng nhỏ, nhưng có nhịp bắn cao hơn nên chiếm được lợi thế. Sau mười ba phút giao tranh, hàng ngũ chiến hạm VNCH đâm ra rối loạn.
KTH Trần Khánh Dư là Soái Hạm của Hải Đội VNCH nên bị hai HTH K-271 và K-274 dồn nỗ lực vây đánh. Mặc dầu KTH Trần Khánh Dư đã tận dụng hỏa lực dữ dội để mong làm chủ chiến trường, nhưng vẫn bị yếu thế vì hỏa lực TC tập trung vào các giàn hải pháo chính và bị trúng đạn hư hại nhiều nơi khác, khói đen tỏa ra nhiều nơi, vì vậy phải rời vòng chiến. K- 274 không bỏ lỡ cơ hội, theo sát KHT Trần Khánh Dư. Thấy vậy TDH Trần Bình Trọng vội chận đánh K-274 ngay bên ngang hông để cứu nguy cho Soái Hạm. Bị hỏa lực của hai chiến hạm VNCH tấn công cả hai phía trước và sau, K-274 bị trúng đạn nhiều nơi, tay lái bị bất khiển dụng phải dùng hệ thống lái tay, nhưng vẫn chạy hết tốc lực, cuối cùng chiếm lại được thế thượng phong. Tuy được lợi thế trong lúc cận chiến, nhưng cũng dễ bị trúng đạn đại pháo của các chiến hạm VNCH. K-274 bị một viên đạn bắn trúng đài chỉ huy khiến nhiều người chết và bị thương nên hệ thống truyền tin bị rối loạn nên phải dùng thủ lệnh. Tuy vậy, chiến hạm vẫn phản công khiến KTH Trần Khánh Dư bị trúng đạn tại nhiều chỗ, hiệu kỳ bị bằn đứt bay xuống biển.
Xa hơn về phía Bắc, các TLH T-396 và T-389 nghênh cản TDH Lý Thường Kiệt và HTH Nhựt Tảo. Lúc đầu, chiến hạm TC tập trung hỏa lực vào mục tiêu lớn hơn là TDH Lý Thường Kiệt, nhưng bị HTH Nhựt Tảo chận bắn dữ dội. Các chiến hạm TC chuyển xạ nhắm vào HTH Nhựt Tảo khiến kho đạn phát nổ, hầm máy bị cháy không còn vận chuyển được nữa. TDH Lý Thường Kiệt cũng bị trúng đạn nên rời vòng chiến. Thấy vậy, các chiến hạm VNCH Trần Khánh Dư và Trần Bình Trọng cũng hối hả rời vùng."
Phần tường thuật của TC về cuộc hải chiến, tuy có đôi chút trung thực, nhưng nặng hơn về mặt tuyên truyền. KTH Trần Khánh Dư đã không rời vùng dù bị hai chiến hạm TC vây đánh gây thiệt hại, có tới 912 vết đạn trên vỏ tàu. KTH Trần Khánh Dư là loại chiến-hạm tấn-công, kiến-trúc khoẻ nhất trong hải-đội với 4 phòng hầm máy chánh và nhiều phòng kín nước khác, sức chịu-đựng rất cao. Khi tàu Trung-Cộng bắt đầu rút về hướng Tây, rơi vào đúng ngay tầm bắn hữu-hiệu của hải-pháo 76.2 ly, các chiến hạm TC, đặc biệt K-274 bị trúng thêm mấy trái đạn lớn nữa, đến độ tê liệt.
CHIẾN LƯỢC CHIẾN THUẬT
Ðể đối đầu với hai phân đội chiến hạm VNCH, phía TC cũng chia các chiến hạm thành hai phân đội. Các HTH K-271 và K-274 phối trí tại vùng Tây Nam đảo Quang Hòa để đối đầu với các KTH Trần Khánh Dư và TDH Trần Bình Trọng, trong khi các TLH T-389 và T-386 chiếm vị trí xa hơn về phía Bắc để ngăn chặn các TDH Lý Thường Kiệt và HTH Nhựt Tảo. Nhìn chung, các chiến hạm VNCH chiếm vị trí hình cánh cung bên ngoài đảo Quang Hòa, trong khi các chiến hạm TC cũng dàn hình cánh cung đối đầu, nhưng nằm bên trong, gần đảo hơn. Các chiến hạm TC tuy nhỏ, nhưng có vận tốc cao và nhịp bắn nhanh hơn nên đã xử dụng chiến thuật "cận chiến". Tài liệu TC mô tả như sau:
"Chiếm được lợi thế vì phối trí ở vòng ngoài và lợi dụng hải pháo có thể bắn xa hơn[10], các chiến hạm VNCH khai triển đội hình, gia tăng khoảng cách. Các chiến hạm TC nhỏ và hỏa lực yếu hơn lại ở vào vị thế bên trong bất lợi nên phải thu hẹp chiến trường bằng cách mở hết tốc lực tiến về phía chiến hạm địch nhiều khi như cập vào nhau nên cỡ súng tuy nhỏ nhưng bắn nhanh nên các loạt đạn đều trúng mục tiêu."
Trong lúc cận chiến, các chiến hạm TC cũng "Tuân hành chiến thuật và lời dạy của Mao Chủ Tịch “Dồn sức mạnh để tiêu diệt bộ phận đầu não địch”, các chiến hạm 271 và 274 tập trung hỏa lực vào KTH Trần Khánh Dư là soái hạm địch, trong lúc các TLH 396 và 389 hướng mọi họng súng vào TDH Lý Thường Kiệt. Do đó, hai chiến hạm VNCH bị thiệt hại nặng nề."
Ðến đây, chúng ta thấy rõ cấp chỉ huy TC đã sai lầm khi xác quyết "KTH Trần Khánh Dư là soái hạm địch" nên đã tập trung hỏa lực quyết tiêu diệt chiến hạm này. Thực tế, chúng ta đều biết soái hạm của hải đội VNCH là TDH Trần Bình Trọng. Vì sự nhận định không chính xác nói trên nên lúc khởi đầu trận chiến, các chiến hạm TC đã bám sát "soái hạm" Trần Khánh Dư và "tập trung hỏa tiêu diệt các giàn hải pháo chính và thượng tầng kiến trúc khiến hệ thống truyền tin bị hư hại ."
Vì bị hai chiến hạm TC dồn nỗ lực chặn đánh nên KTH Trần Khánh Dư bị trúng đạn khá nặng bên tả hạm. Theo báo cáo chính thức của BTL/Hành Quân Biển, tổng cộng KTH Trần Khánh Dư đếm được 37 lỗ đạn đường kính 4 tấc hay lớn hơn và 44 lỗ đạn khác nhỏ hơn 4 tấc. Giàn radar phòng-không bị suy-giảm năng-lực phát-thâu và radar hải hành tạm thời bất khiển dụng trong vòng hai giờ sau đó. Ðổi lại, soái hạm K-271 của TC cũng bị trúng đạn tại đài chỉ huy gây thiệt hại nặng nề về nhân mạng. Theo tài liệu chưa được phối kiểm của Trần Ðại Sỹ, Tư Lệnh mặt trận và toàn bộ tham mưu của TC bị tử thương. K-274 còn lại coi như không còn khả năng tác chiến.
TRƯỜNG HỢP HTH NHỰT TẢO (HQ-10)
Tài liệu TC cho biết:
"Xa hơn về hướng Bắc, thừa lúc các TLH T-396 và T-389 dồn nỗ lực tấn công TDH Lý Thường Kiệt, HTH Nhựt Tảo tương đối rảnh rang liền bắn dữ dội vào hai chiến hạm TC. Bị tấn công ác liệt, hai chiến hạm TC chuyển xạ, tập trung hỏa lực nhắm vào HTH Nhựt Tảo khiến hầm đạn bị phát nổ. T-389 liền bám sát và tác xạ dữ dội vào chiến hạm đã bị thương này, không để chạy thoát. Tưởng cũng nên nói T-389 vừa được sửa chữa xong tại thủy xưởng ngày hôm trước thì đêm sau đã nhận được ra Hoàng Sa nên chưa đủ thì giờ để thử máy đường trường cũng như bắn thử hải pháo. Vì vậy, trong lúc hải chiến ác liệt, tuy HTH Nhựt Tảo của VNCH bị trọng thương, nhưng T-389 cũng bị chiến hạm VNCH bắn hư hại nặng. Đài chỉ hủy hoàn toàn bị tiêu hủy, thủy thủ đoàn nhiều người chết và bị thương. Tuy nhiên những nhân viên còn lại vẫn không sợ chết, kiên trì giữ vững vị trí chiến đấu. Vì hầm chứa đạn bị bắn trúng thủng một lỗ lớn, một thủy thủ tuy đã bị thương nặng ở bụng và hai đầu gối nhưng vẫn cởi quần áo nhét vào lỗ thủng và tiếp đạn cho tới lúc chết tại chỗ. Hầm máy cũng bị bắn trúng nên bị cháy dữ dội, khiến tàu vô nước bị nghiêng, không còn dưỡng khí khiến cơ khí phó và 5 cơ khí viên tử trận tại chỗ. T-389 và HTH Nhựt Tảo đều bị thương nặng, không tự điều khiển được nên trôi lại gần, có lúc đụng cả vào nhau. Dân quân trên T-389 có lúc đã dùng đại liên và lựu đạn để tấn công HTH Nhựt Tảo vì khoảng cách đôi bên quá gần.
Trong lúc đó, TDH Lý Thường Kiệt ở phía bên ngoài tác xạ dữ dội vào T-389. Tuy bị thương nặng, hầm máy bị cháy có thể phát nổ bất cứ lúc nào, TLH 389 vẫn chống trả dữ dội. Vì sợ bị bắn trúng, TDH Lý Thường Kiệt rời vùng hải chiến, vận chuyển ra hướng ngoài biển. Thấy TDH Lý Thường Kiệt bỏ đi, các chiến hạm VNCH Trần Khánh Dư và Trần Bình Trọng cũng rời vùng. Riêng HTH Nhựt Tảo vì bị hư hại nặng chỉ còn trôi trên mặt biển nên bị bỏ lại không còn đủ sức tự vệ. Lúc đó, hai chiến hạm TC tăng viện là HTH 281 và 282 thuộc phân đội chống tàu ngầm 74 do phân đội trưởng Liu Xi Zhong chỉ huy cũng vừa tới vùng vào hồi 11 giờ 49 liền mở cuộc tấn công. HTH 281 tiến gần HTH Nhựt Tảo, tất cả mười họng súng đều khai hỏa vào mục tiêu rõ ràng không còn tự vệ được. Đến 2 giời 52 phút chiều ngày 19 tháng 1, HTH Nhựt Tảo bị chìm tại vị trí chừng hai hải lý rưỡi về phía nam của bãi san hô Antelope."
HTH Nhựt Tảo lên đường ra Hoàng Sa cùng với TDH Trần Bình Trọng vào tối 17 tháng 1. Theo lời kể lại của Hải Ðội Trưởng Hà Văn Ngạc trong bài "Trận Hải Chiến Lịch Sử Hoàng Sa "HTH HQ-10 Nhựt Tảo được chỉ định xung vào Hải Ðoàn Ðặc Nhiệm, với lý do chính là chiếc HTH này đang tuần dương ngay khu vực cửa khẩu Ðà Nẵng nên giảm bớt thời gian di chuyển, chiến hạm chỉ có một máy chánh khiển dụng mà thôi." Như vậy, HTH Nhựt Tảo không những là chiến hạm nhỏ, có hỏa lực yếu nhất trong Hải Ðội Ðặc Nhiệm mà tình trạng kỹ thuật cũng kém khả quan, chỉ còn một máy chánh. Trong phúc trình "Diễn Tiến Hành Quân Hoàng Sa" ngày 21 tháng 2 năm 1974 của TDH Trần Bình Trọng cũng ghi rõ "Ngày 18-01-1974 lúc 0315H (chi chú của người viết: 3 giờ 12 phút sáng), chiến hạm đế điểm hẹn với HQ.10 tại vị trí 083 độ đèn Tiên Sa 090 (ghi chú của người viết: hướng đông của hải đăng Tiên Sa, cách 9 hải lý). Hồi 0327H vì tình trạng kỹ thuật của HQ.10 kém và để đúng giờ hẹn tại Hoàng Sa theo như đã dự trù, chiến hạm đươc lệnh của Sĩ Quan Chỉ Huy Chiến Thuật (Ðại Tá Hà Văn Ngạc, Chỉ Huy Trưởng Hải Ðội 3) cho tăng máy, tách khỏi đội hình với HQ.10, trưc chỉ đảo Cam Tuyền." Trong một trận hải chiến, ngoài hỏa lực hải pháo, việc vận chuyển mau chóng vào vị trí thích hợp là yếu tố vô cùng quan trọng. Tình trạng kỹ thuật kém "chỉ còn một máy" của HTH Nhựt Tảo gây khó khăn trong việc vận chuyển có lẽ đã là nguyên nhân chính khiến chiến hạm này bị đánh chìm. Chúng ta tự hỏi nếu HTH Nhựt Tảo còn đủ hai máy chánh, dù bị bắn thiệt hại còn một máy vẫn có thể tự vận chuyển được, biết đâu có thể tới vùng an toàn, vì lúc đó các chiến hạm TC đều đã bị hư hại nặng, không còn khả năng truy kích.
Tuy là chiến hạm yếu nhất, nhưng HTH Nhựt Tảo đã chiến đấu hăng hái và dũng cảm nhất. Khi thấy hai TLH T-389 và T-396 dồn nỗ lực tấn công TDH Lý Thường Kiệt, HTH Nhựt Tảo lập tức can thiệp, dùng hải pháo tác xạ chính xác chiến hạm TC khiến T-389 bị trúng đạn vào đài chỉ huy, Hạm Trưởng tử thương, phòng máy bị cháy. T-389 cũng bị hư hại nặng, trôi nổi trên mặt biển tương tự như HTH Nhựt Tảo, có lúc hai đối thủ đụng vào nhau như Trung Úy Nguyễn Ðông Mai thuộc HTH Nhựt Tảo diễn tả trong bài viết "Lần Ðào Thoát Tại Hoàng Sa: "Rồi chừng 15 phút sau, một tiếng va chạm mạnh khiến chúng tôi té nhào trên sàn tàu. Tôi chợt nghĩ đến chuyện tàu lên cạn vì vì vùng này có nhiều san hô. Sau này khi đào thoát tôi mới biết HQ.10 đâm vào tả hạm chiếc 396".
Tài liệu TC cũng xác nhận thêm "Nếu T-389 không dạt vào một bãi san hô, chắc chắn cũng sẽ bị chìm". Như vậy HTH Nhựt Tảo tuy bị chìm, nhưng đối thủ cũng bị thiệt hại tương tự, coi như một đổi một.
Trận hải chiến khởi đầu lúc 10 giờ 23 phút, khoảng nửa giờ sau đó các chiến hạm VNCH rời vùng, chỉ còn lại HTH Nhựt Tảo bị hư hại nặng trôi nổi trên mặt biển, nhân viên đã xuống bè đào thoát, không còn ai trên tàu. Về những giây phút cuối của HTH Nhựt Tảo, tài liệu TC ghi rõ: "Tới 11 giờ 49 phút, hai HTH K-281 và K-282 do Phân Ðoàn Trưởng Liu Xi Zhong chỉ huy từ căn cứ hải quân Shantou tăng viện đến vùng Hoàng Sa. K-281 tập trung hỏa lực bắn vào xác HTH Nhựt Tảo. Mãi đến 14 giờ 52 phút ngày 19 tháng 1, HTH Nhựt Tảo mới bị chìm tại vị tri Nam bãi san hô Antelope, khoảng cách chừng 2.5 hải lý."
Sau này một số bài viết cho rằng HTH Nhựt Tảo bị trúng hỏa tiễn TC vào đài chỉ huy khiến Hạm Trưởng hy sinh. Tuy nhiên, các chiến hạm TC tham chiến cũng không được trang bị hỏa tiễn hải - hải và tài liệu TC cũng nói rõ không có Phi Tiễn Ðĩnh (PTÐ) Komar tại Hoàng Sa. Dĩ nhiên, chúng ta không hoàn toàn tin tưởng vào lời nói của họ, nhưng có thể suy đoán tìm câu trả lời hợp lý. Trước hết, PTÐ Komar trang bị hỏa tiễn hải - hải Styx là loại Ai Cập đã dùng để bắn chìm Khu Trục Hạm Eilat của Do Thái vào tháng 10 năm 1967 gần cảng Port Said. Nếu hỏa tiễn Styx có thể đánh chìm một chiến hạm lớn nhất và cũng là soái hạm của HQ Do Thái thì đối với HTH Nhựt Tảo là chiến hạm nhỏ hơn, bị trúng hỏa tiễn Styx chắc không trôi nổi trên mặt biển, mãi mấy tiếng đồng hồ sau mới bị chiến hạm tăng viện của TC bắn chìm. Ngoài ra, nếu có hỏa tiễn, theo đúng sách lược "đánh vào chỗ mạnh nhất của Mao Trạch Ðông", chắc chắn TC sẽ nhằm vào chiến hạm VNCH lớn và quan trọng, như "soái hạm" Trần Khánh Dư hoặc các TDH, hơn là HTH Nhựt Tảo nhỏ. Hơn nữa, mỗi Phi Tiễn Ðĩnh Komar được trang bị 2 hỏa tiễn Styx, nếu tham chiến có lẽ sẽ bắn cả 2 hỏa tiễn vào các chiến hạm VNCH, gây thiệt hại nhiều hơn, thay vì chỉ bắn HTH Nhựt Tảo. Về mặt chiến thuật, hỏa tiễn cũng như pháo binh, chỉ hiệu quả khi mục tiêu được xác định rõ ràng, chính xác. Trong trận hải chiến Hoàng Sa, chiến hạm đôi bên đều trong thế "cận chiến" trộn lẫn vào nhau, việc xử dụng hỏa tiễn có thể gây thiệt hại cho chính lực lượng mình. Vì những lý do trên, cộng thêm lời xác nhận về phía TC, chúng tôi nghĩ rằng TC đã không có hỏa tiễn hải - hải trong trận hải chiến Hoàng Sa. Rất có thể, bộ binh theo tàu để đổ bộ xử dụng một số hỏa tiễn “cầm tay” mang theo hoặc bất cứ vũ khí nào khác khi khoảng cách đôi bên quá gần.
THIỆT HẠI
Về phần thiệt hại, tài liệu TC cho biết: "Tuy nhiên, chiến thắng nào cũng phải trả giá. Về phía TC, tổng cộng có 18 người tử trận trong số này 1 Hạm Trưởng và 67 người khác bị thương. T-389 bị hư hại nặng, nếu không kịp ủi vào bãi san hô chắc chắn sẽ bị chìm. Ba chiến hạm khác đều bị trúng đạn, thiệt hại trung bình".
Theo tài liệu của Yên Tử Cư Sĩ Trần Ðại Sĩ (chưa thấy Trung-Cộng phản-đối) cho biết cả 4 Hạm Trưởng các chiến hạm TC gồm 3 Ðại Tá và 1 Trung Tá đều bị tử thương. Ngoài ra, BTL mặt trận gồm 1 Ðô Ðốc, 4 Ðại Tá, 6 Trung Tá, 2 Thiếu Tá và 7 sĩ quan cấp úy cũng bị tử thương. Chúng tôi rất dè dặt khi loan tin này, vì tác giả Trần Ðại Sĩ không cung cấp rõ ràng xuất sứ của nguồn tin trên. Hơn nữa, các chiến hạm TC đều thuộc loại nhỏ, thủy thủ đoàn không quá trăm người, nên Hạm Trưởng mang cấp bậc Ðại Tá là điều hãn hữu.
Nếu còn một số nghi vấn về thiệt hại nhân mạng, chúng ta có nhiều bằng cớ khá xác đáng về mặt các chiến hạm TC. Trận hải chiến kết thúc vào khoảng 11 giờ sáng ngày 19 tháng 1 năm 1974 sau chừng 30 phút giao tranh khi ba chiến hạm VNCH rời vùng, chỉ còn lại 4 chiến hạm TC và HTH Nhựt Tảo bị hư hại không tự vận chuyển được, các nhân viên đã xuống bè đào thoát. Nếu chưa bị chìm hoặc lên cạn hết, chắc chắn chiến hạm TC sẽ lại gần HTH Nhựt Tảo, bắt sống những người trên bè đào thoát và đánh chìm đối thủ. Nhưng thực tế cho thấy không một chiến hạm TC nào ngăn chận được các bè đào thoát và phải chờ hơn 3 tiếng đồng hồ sau, lực lượng tăng viện vừa tới gồm các K-281 va K-282 mới bắn chìm HTH Nhựt Tảo. Ðiều này cho thấy cả 4 chiến hạm TC trực tiếp tham chiến hoặc đã bị chìm, hoặc ủi bãi san hô hay hư hại nặng, không còn vận chuyển được nữa.
Qua lời tường thuật của TC về trường hợp các chiến hạm của họ bị trúng đạn hư hại ra sao, gặp những khó khăn nào, cộng với bằng chứng chỉ còn 2 chiến hạm tăng viện hoạt động sau trận hải chiến, chúng ta có thể khá chắc chắn tìm ra sự thật. Ðó là cả 4 chiến hạm TC trực tiếp tham chiến đều bị bắn hư hại nặng, nếu không chìm hay lên cạn cũng sẽ bị phế thải.
KẾT LUẬN
Trận hải chiến tại Quần đảo Hoàng Sa vào ngày 19 tháng 1 năm 1974 đã trở thành lịch sử. Việc thành bại, hơn thua không còn được đặt nặng so với nhu cầu tìm hiểu sự thật và vinh danh các chiến sĩ HQ/VNCH tham dự trận đánh bảo vệ quê cha đất tổ, đã chết hay còn sống. Dù phải đối đầu với kẻ thù mạnh hơn nhiều lần, nhưng các chiến sĩ HQ/VNCH đã tận dụng mọi khả năng, phương tiện hiện có và nhất là tinh thần chiến đấu, truyền thống hào hùng ngang nhiên bắn vào tàu địch, khiến đối phương cũng phải kiêng sợ và thán phục. Các yếu tố "Thời, Thế và Cơ" cần thiết cho chiến thắng đều không nằm trong tay Hải Ðội VNCH. Giả sử chúng ta có đánh chìm hết các chiến hạm TC tại Hoàng Sa, thu được thành quả tuyệt đối về mặt chiến thuật, nhưng cũng sẽ phải rời bỏ vùng hải đảo thân yêu này để bảo toàn lực lượng, vì dù có vận dụng hết khả năng cũng khó bề đương cự với Hải Quân TC.
Ðể kết thúc, chúng tôi mạn phép tác giả Ngô Minh Hằng, mượn bài thơ rất cảm động của nữ sĩ để vinh danh các chiến sĩ Hoàng Sa, đồng thời bày tỏ kỳ vọng "Sẽ Có Một Ngày…"
Sẽ Có Một Ngày…
(Kính dâng hương hồn các chiến sĩ Hải Quân VNCH đã hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa)
Việt Nam xưa, Ðức Thánh Trần Bạch Ðằng cưỡi ngọn sóng thần tuốt gươm Giặc Mông Cổ tìm đường tháo chạy Tướng như quân hết thảy rụng rời Tàn binh cọc nhọn thây phơi Một phen thủy chiến muôn đời sử xanh (1287) Mộng xâm lấn tranh giành bờ cõi Vẫn âm mưu dẫn lối quân Tàu Sáu trăm tám bảy năm sau (1974) Hoàng Sa máu lại đỏ ngầu biển Ðông Trận hải chiến hào hùng, khốc liệt Với kẻ thù truyền kiếp Trung Hoa Ðây, trang chiến sử Hoàng Sa Chỉ huy Hải đội, họ Hà điều binh (1) Bốn chiến hạm hải trình tham chiến (2) Những người con của biển kiên cường Trong vòng lửa đạn đau thương Lưu danh muôn thuở tấm gương anh hùng Và chiến đấu vô cùng dũng liệt Dù địch quân ứng chiến đông hơn Ðạn bay súng nổ từng cơn Bốn tàu Trung Cộng chiến trường lâm nguy Cái bị pháo chìm đi mất dấu Cái nước theo phía hậu tuôn vào Ðịch quân hoảng hốt xôn xao Và quân ta cũng bước vào khó khăn Gương chiến đấu Bạch Ðằng bỗng hiện Sáng như sao trên phiến linh hồn Biển xanh đỏ máu oan hờn Chiến hạm Nhật Tảo trong cơn nguy nàn (3) Ðã anh dũng chặn làn sóng địch Ðể đoàn quân rời đích an toàn Lòng tàu nước ngập, máu loang Nhưng lòng thủy thủ hiên ngang trên tàu Ngay cả lúc chìm sâu đáy biển Vẫn một niềm tận hiến, hy sinh Trong lòng biển mẹ mông mênh Trái tim bất khuất đau tình quê hương! Sẽ một ngày trùng dương sóng nổi Về Hoàng Sa rửa mối hận này Chủ quyền Hoàng đảo trong tay Xanh reo ngọn sóng, vàng bay sắc cờ Sẽ một ngày cõi bờ dân Việt Thoát qua hồi nạn kiếp đau thương Có anh đứng giữa đại dương Hát mừng bốn cõi quê hương thanh bình
Ngô Minh Hằng
Chú Thích của Trần Ðỗ Cẩm
(1). Hải Quân Ðại Tá Hà Văn Ngạc, Chỉ Huy Trưởng Hải Ðội VNCH trong trận hải chiến Hoàng Sa.
(2). Bốn chiến hạm HQVNCH tham chiến trong trận Hoàng Sa gồm:
- Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16) do HQ Trung Tá Lê Văn Thự (Khóa 10 SQHQ/Nha Tran)g làm Hạm Trưởng.
- Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) do HQ Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh (Khóa 11 SQHQ/Nha Trang) làm Hạm Trưởng. Ðây là Soái Hạm. Ðại Tá Hà Văn Ngạc ở trên chiến hạm này chỉ huy trận đánh.
- Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) do HQ Trung Tá Vũ Hữu San (Khóa 11 SQHQ/Nha Trang) làm Hạm Trưởng.
- Hộ Tống Hạm Nhật Tảo (HQ-10) do HQ Thiếu/Tá Ngụy Văn Thà (Khóa 12 SQHQ/Nha Trang) làm Hạm Trưởng.
(3). Hạm Trưởng HQ-10, Th/T Ngụy Văn Thà bị thương, quyết ở lại trên tàu. Ba đoàn viên tên Lê Văn Tây, Ðinh Hoàng Mai và Phạm Anh Dũng đã hy sinh ở lại bắn chặn tàu Trung Cộng để đồng đội an toàn rời khỏi chiến hạm. HQ Thiếu Tá Ngụy Văn Thà và ba đoàn viên đã can đảm trong truyền thống "chết theo tàu" và để lại bao nhớ tiếc đau thương cho những người ở lại.
Trần Ðỗ Cẩm
(Austin, Texas tháng 1/2004)
[1] Chiến-hạm HQVNCH thường mang chỉ-danh hai chữ HQ (Hải-Quân) Có thể viết hai cách HQ.4 hay HQ-4.
[2] Quân-Ủy Trung-Ương Trung-Cộng bắt đầu “ngán” KTH Trần-Khánh-Dư (họ gọi là Soái-hạm số 4 – “4th command ship”), rất ngại HQ.4 bất-thần tấn-công bất-cứ lúc nào. Translated From http://www.ccjs.net/1117/171/23.HTM: According to the instruction from superiors spirit, the command hunts for the submarine rapidly closes up, monitors the enemy 4th command ship motion, takes strict precautions against the enemy warship the suddenly attack.
[3] Hải Đội 3 Tuần Dương là một tổ-chức hành-chánh trực-thuộc Bộ Tư-Lệnh Hạm-Đội. Hai Hải-đội kia là Hải-đội 1 Tuần-Duyên (gồm các Tuần-Duyên-Hạm, Giang-Pháo-Hạm, Trợ-Chiến-Hạm) và Hải-đội 2 Chuyển-Vận (gồm các Dương-Vận-Hạm, Hải-Vận-Hạm, Giang-Vận-Hạm, Hỏa-Vận-Hạm).
[4] Không có hê-thống radar khiển-xạ, vũ-khí của Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 (2 cây 76.2 ly -3 inch.) lúc đó thật ra chỉ tương-đương vớì Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ-10 (ngoài 76.2 ly HQ.10 còn có 2 cây 40 ly Bofors) và thua xa loại Tuần-Dương-Hạm WHEC (với đại bác 127 ly và 4 đại bác 40 ly), cũng như kém hẳn Kronstadt Trung-Cộng (với đại bác 100 ly -3.9 inch.- và 2 đại bác 37 ly).
[5] Riêng Khu Trục Hạm VNCH được trang-bị 76.2 ly -3 inch.
[6] Thơ của Đại-Tá Nguyễn-Viết-Tân CHT/ Sở Phòng-Vệ Duyên-hải (Ngày 20-1-1974), thay mặt các chiến-sĩ đổ-bộ, đã viết: “nghìn năm ghi ơn”, nhờ những quyết-định sáng suốt và kịp thời của Hạm-Trưởng HQ.4 khi điều-động các toán đổ-bộ Biệt-hải và Hải-kích, do đó cứu sinh-mạng người sống, giảm-thiểu sự hy-sinh vô-ích. Thơ này sẽ phổ-biến sau vì sách không còn chỗ.
[7] Trên HQ.4, thủy-thủ-đoàn nhìn qua ống nhòm thấy rõ ràng cả đến những vành mũ vàng choé của các Sĩ-Quan Cao-Cấp Trung-Cộng quá đông trên đài chỉ-huy của Kronstadt. Lời Hạm-Trưởng HQ.4 nói “Vàng nhiều rồi sẽ thành đỏ hết” như là lời tiên-đoán. Chừng một giờ sau, nhiều người trong nhóm này tử-trận.
[8] MSF - Mine Sweeper Fleet.
[9] Trong những lần huấn-luyện ngoài khơi, HQ.4 luôn-luôn đoạt ưu-hạng. Báo cáo hoạt-động của Toán Phòng-tai này còn được lưu-giữ, chứng-minh rõ-ràng điều đó.
[10] Điều này không hoàn-toàn đúng vì đại-bác trang-bị trên Kronstadt lớn hơn và bắn xa hơn hải-pháo 76.2 ly của HQ.4.
Nguồn: http://hoangsa74.tripod.com/tranhaichien.htm
Chớ bước chân vào quán ăn TQ! Jochen Schönmann, Spiegel online Phương Tôn phỏng dịch 20 tháng 12 năm 2007 ® Phải có sự đồng ý của tác giả cũng như ghi rõ nguồn "www.khoahoc.net" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này
Lời người dịch: „Cái ăn là cái nhục“ đây là câu nói rất phù hợp cho tình trạng thực phẩm ăn uống tại Trung quốc hiện nay. Cái nhục của một đất nước tự mình đi giết lấy con cháu của mình. Cái nhục của một chế độ không kiểm soát được giới sản xuất để thế giới liên tục thay phiên nhau lên án những sản phẩm của họ khi xuất cảng sang xứ người. Câu nói của một người dân Trung quốc khuyên nhủ những người ngoại quốc : „Đừng bao giờ bạn bước chân vào một nhà hàng“ là một cái tát vào mặt những người trong bộ máy cầm quyền thiếu trách nhiệm hiện nay tại Bắc kinh. Thị trường Chung Âu Châu EU đã lên tiếng, cơ quan FDA của Hoa Kỳ cũng đã nhiều lần nêu danh sách thực phẩm bị nhiểm độc của Trung quốc và nay một người con ưu tú của Trung quốc cũng đã trình bày một công trình nghiên cứu quý giá được thế giới công nhận. Việc tiếp tục sử dụng thực phẩm của Trung quốc nữa hay không nay nằm trong tay bạn. Câu hỏi tự đặt ra, có nên tự mình đầu độc lấy mình hay không thì chỉ có bạn tự trả lời mà thôi .
* * *
Chất kháng sinh trong thịt, thuốc xịt chống côn trùng dùng để làm chất bảo tồn thực phẩm, chất thủy ngân trong nước uống – Tác giả Zhou Qing người Trung quốc trình bày thật chi tiết về công trình nghiên cứu của ông trong lảnh vực kỹ nghệ thực phẩm của nước này trong cuốn sách vừa được giới thiệu. Bài nghiên cứu cho thấy kỹ nghệ thực phẩm đang đầu độc đất nước này cũng như những tên tham lợi đang phá nát cuộc sống của người dân Trung quốc. Đề tài này hiện được xem là ngòi châm „quả bom chính trị“ dù rằng trên bề mặt nỗi nó chỉ là một vấn đề thực phẩm. Trong vòng hai năm trường Zhou Qing, một nhà đối kháng và cũng là nhà báo đã bỏ công lần mò tìm kiếm chuyện trò phỏng vấn những người chủ trại nuôi cá, nông dân, với những người buôn bán thực phẩm và các người chủ nhà hàng. Zhou cho biết đây là một việc rất nguy hiểm: „Còn nguy hiểm hơn công việc đi săn đuổi những tên buôn bạch phiến“. Qua bài nghiên cứu này Zhou Qing đã được trao giải "Lettres Ulysses Award" trị giá 100.000 Dollar do Aventis-Foundation và Goethe-Institut tài trợ. Jakob Köllhofer, lảnh đạo của Viện Đức quốc – Hoa Kỳ tại thành phố Heidelberg đã hết lời ca ngợi nhà báo người Trung quốc này: „Thật là điều quan trọng khi được nghe những tiếng nói như vậy, nơi mà người ta chỉ nhận được những tin tức được chỉ đạo trước“ Những kết quả mà nhà báo Zhou Qing tìm thấy có thể là nguyên cớ để tạo nên một cuộc cách mạng. Chi tiết bản báo cáo cho thấy tình trạng kỹ nghệ thực phẩm tại Trung quốc không khác gì rác bẩn đang rơi vào vực thẳm. Tác giả đưa ra những hình ảnh Mafia tàn nhẫn không còn lương tri: Dùng thuốc ngừa thai để nuôi cá cho mau lớn, dùng chất độc chống sâu bọ DDT để giữ cho dưa gang được tươi, Hormone như là chất phụ gia, muối bị nhiễm độc và lượng kháng sinh cao không tưởng trong thịt. Zhou cho biết, nói chung là tất cả mọi thực phẩm, mọi chất độc đều được dùng đến, miễn sao giá thành sản xuất được rẻ mà thôi. Không đâu khác mà chính ngay tại nơi tự xem mình là trung tâm của thế giới, nơi mà hàng ngàn năm qua việc ăn uống được xem là một phần văn hóa thì những tên hám lợi không bị ai kiểm soát, tha hồ tung hoành để gây nên thảm trạng thực phẩm. Hậu quả sẽ khủng khiếp đến độ không ai lường trước được, Zhou giải thích trong buổi lể nhận giải thưởng „ Tôi có thể khuyên các bạn rằng: Đừng bao giờ bước chân vào một tiệm ăn“. Mới nghe qua thì tưởng chừng như là anh nhà báo này cao hứng tô đậm màu đen cho kỹ nghệ thực phẩm của nước này, nhưng không, đây chính là sự thật. Ngay cả những tờ báo do nhà nước lèo lái cũng thường xuyên nêu lên những vụ sì căng đan trong nước. Vào đầu tháng 12 này nhà cầm quyền thành phố Thượng Hải ban lệnh cấm xuất cảng sản phẩm của Shanghai Meilin Food Company sau khi khám phá ra chất gây ung thư trong các lon thịt heo. Vào tháng bảy vừa qua nhà cầm quyền cũng đã xử tử tên Zheng Xiaoyu, tên này từng là giám đốc cơ quan nhà nước chuyên kiểm soát thực phẩm và dược phẩm. Hắn ta nhận tiền hối lộ để cấp giấy phép sản xuất thuốc giả mạo gây nên những biến chứng chết người. Zhou cho biết, trẻ em là nhóm người lảnh hậu quả nặng nề nhất về việc dùng thực phẩm tại Trung quốc: Bộ phận sinh dục của các bé gái trưởng thành sớm hơn 4 năm so với bình thường. Rất nhiều bé trai, ngược lại, không đủ tinh trùng. Thức ăn cho trẻ nhỏ bị nhiễm độc tạo nên hình tượng quái thai và hàng loạt bệnh lạ. Zhou cho biết trong bản báo cáo, hàng năm có 200.000 đến 400.000 nạn nhân của thực phẩm nhiễm độc tại Trung quốc. Một phần ba số người bị mắc bệnh ung thư là do thực phẩm nhiểm độc mà ra. Số người này hiện tăng trưởng mỗi năm theo đơn vị hàng chục. Đây không phải là lần đầu tiên Zhou lên tiếng phê bình hệ thống của nhà cầm quyền Bắc Kinh. Anh từng là một trong những người tiên phong trong phong trào sinh viên phản đối chế độ để rồi nhóm bị tàn sát vào ngày 4.5.1989 tại quảng trường Thiên An Môn: Zhou bị cầm tù hai năm trong đó hết 52 ngày bị giam trong ngục cấm. Sau khi được trao trả tự do, Zhou liền lập nên một tờ báo tự do nhưng lại bị đóng cửa do áp lực của nhà cầm quyền. Kể từ đó đến nay anh sinh sống bằng nghề viết lách. Đề tài thường xuyên được Zhou chiếu cố là phê bình chế độ như là những việc vi phạm nhân quyền hay nguyên nhân gây nên nạn SARS v.v… Zhou Qing đã suy nghĩ thâm trầm khi đặt cho tên cho cuốn sách "What kind of God?": Người Trung Hoa xem cái Ăn rất quan trọng trong đời sống thường nhật. Còn đâu nữa một đất nước từng tự hào với nghệ thuật nấu ăn! „Người dân bình thường họ chưa biết về những điều này“, Zhou nhấn mạnh „một khi mọi người biết đến thì thế nào cũng nổ ra một cuộc cách mạng lật đổ chính quyền. Khi đó sẽ không có gì để ngăn chận nỗi hờn căm của người dân“. Lịch sử hàng ngàn năm qua cho thấy các thế lực chính trị muốn đứng vững tại Trung quốc đều bị lệ thuộc vào việc nuôi người dân ăn uống đầy đủ. Theo Zhou, „Cách Mạng“ xảy ra không chỉ do những khác biệt về quan điểm chính trị mà xảy ra do việc thiếu bánh mì. Zhou chỉ có thể hy vọng, công trình nghiên cứu của anh sẽ được truyền bá khắp nơi: Vừa ngay sau khi xuất bản sách của anh đã lập tức bị cấm phổ biến! Phương Tôn
Chuẩn bị hải chiến với TC trong tương lai để đòi lại Hoàng Sa: Phải có sức mạnh, chién thuật và kỹ thuậtcao: Hãy bắt chước kỹ thuậ làm hải hầm của Thụy Điển dưới đây: Ảnh căn cứ hải quân bí mật dưới lòng đất Căn cứ hải quân Musko của Thụy Điển được xây ngầm trong lòng núi đá granit rất kiên cố trên đảo, có khả năng chống cả bom hạt nhân lẫn bom phá boongke. Cơ sở quân sự hoàn chỉnh này chứa được nhiều tàu ngầm và chiến hạm.  | | Một chiếc tàu ngầm của Thụy Điển đang tiến về phía một cửa ra vào căn cứ hải quân ngầm Musko, nơi có khoảng 800 người làm việc trong thời bình. Musko là tên một hòn đảo được nối với đất liền thông qua một đường hầm dưới đáy biển. Ảnh: Pravda. |
 | | Một lối vào khu căn cứ Musko với những cánh cửa sắt nặng hàng chục tấn. Người ta thường sử dụng những chiếc xe buýt để chuyên chở người dưới căn cứ ngầm này. Thời Chiến tranh Lạnh đây là một cơ sở tuyệt mật nhưng kể từ sau khi Liên Xô sụp đổ, bí ẩn về căn cứ Musko hé mở với nhiều bức ảnh chụp bên trong được công bố. Ảnh: Defence Talk. |
 | | Một tàu hộ tống và một tàu săn thủy lôi tại vũng tàu đậu bên trong căn cứ ngầm Musko. Đoạn hầm khổng lồ này có chiều dài 250 mét và riêng khu vực bến tàu đậu dài 145 mét. Ảnh: Military Photos. |
 | | Tàu tiếp liệu HMS Visborg (trước đây là tàu thả thủy lôi) của hải quân Thụy Điển tại một bến tàu cạn bên trong căn cứ ngầm Musko. Ảnh: Military Photos. |
 | | Chiến hạm hộ tống HMS Gävle đang rời đường hầm bên trong căn cứ Musko. Mặt nước có nhiều chỗ bị đóng băng do thời tiết lạnh giá. Ảnh: Pravda. |
 | | Một chiếc tàu ngầm của hải quân Thụy Điển bên trong căn cứ Musko. Ảnh: Military Photos. |
 | | Vì là một căn cứ hải quân nên Musko còn có nhiều cơ sở khác phục vụ cho hoạt động của các chiến hạm và tàu ngầm như nhà xưởng trong ảnh cùng các phòng ăn, khu dành cho binh sĩ, bệnh viện... Ảnh: Military Photos. |
 | | Tàu hộ tống HMS Sundsvall trên bến cạn bên trong căn cứ Musko. Ảnh: Pravda. |
 | | Việc di chuyển giữa các cơ sở bên trong khu căn cứ hải quân ngầm của Thụy Điển chủ yếu bằng các phương tiện thô sơ. Ảnh: Defence Talk. |
 | | Một bến cạn cỡ lớn bên trong căn cứ Musko, nơi có một số tàu đang được đưa lên sửa chữa hoặc bảo dưỡng. Ảnh: Military Photos. |
 | | Chiến hạm hộ tống HMS Gävle đang rời đường hầm của căn cứ Musko. Ảnh: Defence Talk. |
 | | Musko là tên một hòn đảo của Thụy Điển được nối với đất liền bằng một đường hầm nằm dưới đáy biển. Điểm đầu của đường hầm này nằm ở nơi kết thúc của tuyến đường được vẽ màu vàng bên dưới bức ảnh. Khu vực có màu xanh thẫm là bến cảng lộ thiên của căn cứ hải quân Musko. Ảnh: Defence Talk. |
Đình Chính
|
|