Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Mười hai 2021
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31    
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 4
 Lượt truy cập: 19843927

 
Văn hóa - Giải trí 06.12.2021 16:48
Quê tôi Đại Lộc
09.06.2008 20:25

Thơm ngon bánh tráng và gỏi cuốn Đại Lộc, Quảng Nam

Có thể nói, địa phương nào của Việt Nam cũng có bánh tráng. Bình Định nổi tiếng với bánh tráng dừa, Bến Tre là bánh tráng sữa, Tây Ninh có bánh tráng phơi sương..., nhưng bánh tráng cuốn thì không đâu bằng Đại Lộc xứ Quảng.

Bánh tráng Đại Lộc đã có "thương hiệu" và chỗ đứng trên thị trường. Người Đại Lộc thường dùng bánh tráng để làm quà. Trước khi đưa bánh đi xa, phải dùng vật nặng ép bánh xẹp xuống, tiện mang vác. Cồng kềnh là thế, nhưng khi về quê, nhiều Việt kiều vẫn thường mua bánh tráng mang đi. Ngay như trong Hội chợ Triển lãm thành tựu kinh tế - xã hội 10 năm của Quảng Nam vừa rồi, bánh tráng Đại Lộc bày ra bao nhiêu bán hết bấy nhiêu, người Quảng Nam tự dưng cảm thấy vui vui và dậy lên một niềm tự hào...

Điều đặc biệt của bánh tráng cuốn Đại Lộc là nếu biết cách nhúng nước thì các miếng bánh không dính vào nhau, nhưng khi ăn lại dẻo "dính răng". Về hình thức, chiếc bánh tròn vành vạnh, trắng mịn màng, đều ri rí. Sau khi xay bột, người thợ tráng bánh dùng một cái rây có lỗ nhỏ li ti, lượt qua một bận, loại bỏ vỏ trấu lấm tấm, để bột bánh trắng mịn. Khi tráng phải nhanh tay quây cho đều, chậm một tí sẽ chỗ dày chỗ mỏng. Chiếc bánh mỏng mảnh nên khi phơi phải nhẹ nhàng, kẻo bánh rách bươm.

Trước đây, ở Đại Lộc, hầu như nhà nào cũng có dụng cụ tráng bánh và có thể tự tráng được theo kiểu "tay ngang". Chỉ cần có chiếc cối xay, vài tấm liếp tre, một cái nồi to có bịt khung vải, những lúc nông nhàn có thể tráng bánh để ăn lai rai quanh năm. Bây giờ đồ nghề vẫn còn đấy, nhưng ít ai tự tráng bánh mà chỉ còn những thợ chuyên nghiệp. Tất nhiên trước khi trở thành thợ, những người này đã phải "hy sinh" mấy chục cân gạo để tập cho tay nhuần nhuyễn. Cối xay tay bây giờ được thay thế bằng máy. Thay vào những tấm liếp tre là cả mấy chục chiếc vỉ bằng lưới nhựa căng cứng.

Giáp Tết là thời gian làm bánh tráng cao điểm, đây cũng là dịp bánh tráng được tiêu thụ nhiều nhất. Tuy nhiên, trong những tháng này thời tiết lại không thuận lợi cho việc phơi bánh. Không lẽ cứ đứng nhìn trời mưa mà đành chịu một cái Tết vô vị vì thiếu bánh tráng? Bánh tráng phải phơi được nắng mới dẻo, gặp trời tù mù là bánh sượng sượng, dở không chi bằng. Vậy là người thợ nghĩ ngay đến chuyện làm lò sấy bánh. Bánh tráng sấy bằng than, bán đắt hơn bánh tráng phơi nắng một chút, nhưng khách hàng vẫn chuộng.

Bánh tráng Đại Lộc nổi tiếng và người Đại Lộc ăn bánh tráng cuốn cũng... có tiếng. Trước đây, bánh tráng cuốn thường chỉ có mặt vào những ngày giỗ chạp, lễ Tết. Bây giờ thì quanh năm suốt tháng, nhà nào cũng có bánh tráng để sẵn trong nhà. Ăn điểm tâm, ăn nửa buổi, ăn bữa chính. Ăn mọi lúc, mọi nơi. Khách đến, chiêu đãi bánh tráng cuốn; xa quê lâu ngày, khi về làm ngay bữa bánh tráng cho đỡ nhớ, đỡ thèm. Bánh tráng cuốn với cá hấp, chấm mắm cái thì có vạt rau muống trồng sẵn trong vườn nhà; cuốn với thịt heo lại có buồng chuối chát, luống xà lách, mấy cây rau thơm. Thậm chí nếu không có thịt cá thì bánh tráng cuốn chấm nước mắm vẫn ngon như thường!




Đại Lộc nằm ở phía Bắc của Quảng Nam. Phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng. Phía Đông giáp huyện Điện Bàn, phía Đông Nam giáp huyện Duy Xuyên, phía Nam giáp huyện Quế Sơn, phía Tây Nam giáp huyện Nam Giang, phía Tây Bắc giáp huyện Đông Giang.

Đất đai ở Đại Lộc bao gồm các loại đất cát, đất phù sa, đất xám bạc màu, đất đỏ vàng.

Sông Vu Gia chảy ngang qua huyện theo hướng Tây - Đông.

Kinh tế xã hội

Trước đây Đại Lộc là huyện thuần nông, nay cũng đã xuất hiện một vài cụm công nghiệp nhỏ tại các vùng địa hình cao (không bị ngập lụt), chủ yếu là các nhà máy xay xát đá phục vụ nhu cầu xây dựng, hay các xí nghiệp may mặc, chế biến thủy sản phục vụ xuất khẩu. Vì nơi đây có nguồn lao động phổ thông dồi dào. Người dân Đại Lộc đa phần sinh sống bằng các nghề trồng lúa nước, cây công nghiệp ngắn ngày, cây hoa màu, trồng dâu nuôi tằm, trồng bông dệt vải, đan lát, làm nhang, thợ vôi, chế tác đá, đi rừng, tìm trầm, khai thác dầu rái, buôn bán trao đổi. Nổi tiếng nhất huyện là Thôn Bàu Tròn - xã Đại An, nơi đây là vùng chuyên sản xuất các loại rau như các loại rau cải, đậu tây, đậu đũa(đậu que), bí đao, khổ qua, dưa leo (dưa chuột), đu đủ, dưa hấu... Cung ứng cho nhân dân trong vùng và TP.Đà Nẵng. Thôn Bàu Tròn là địa phận giáp ranh giữa xã Đại An và xã Đại Cường(ngăn cách bởi chiếc cầu Quảng Huế bắc qua sông Vu Gia thơ mộng). Món ăn đặc thù là Mỳ Quảng và Bánh tráng cuốn thịt heo luộc, Hoặc Bánh tráng cuốn cá nục Trụng. Đại lộc ngày nay nhìn chung thì nền kinh tế đang trên đà phát triển, người dân thuần nông cây lúa ngày nào, chuyển đổi con, cây trồng là nền tảng để phát triển kinh tế, bên cạnh của việc chuyển đổi này là việc áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật. Thông tin gì mới, đều góp cho chính quyền và nhân Đại Lộc áp dụng sản xuất có năng suất cao hơn trước. Cụ thể như một số thôn của xã Đại An làm cây rau, Đại Hòa làm cây chuối (chuối già hương), mô hình vườn ao chuồng. Cây chuối phát triển thì các con vật nuôi cũng phát triển, hiện nay thôn Lộc Bình là thôn có số hộ chuyên canh cây chuối 100%. Đại Lộc hiện còn tiềm ẩn một nghề tay trái của lúc lão nông nhàn rổi, đó là nghề trông hoa và cây cảnh, nguồn cây mai, Đại Hoà Cây Thế trồng lâu năm, thị trấn Ái Nghĩa cây trồng từ nhiều nguồn. Đây là nguồn kinh tế đang trên đà phát triển. Khu kinh tế ngày càng nở rộ, kinh tế thương mại, hàng quán bán đủ các loại từ hàng tiêu dùng cho đến ngành xây dựng, điện máy, điện tử, xe máy vvv. Trung tâm khu vực này là xã Đại Minh, gọi là ngã tư Đại Minh, đang phát triển. Trung tâm của Huyện là thị Trấn Ái Nghĩa thứ nhì là Khu Kinh tế Quãng Huế thuộc Đại Hoà và Đại An, đây là hai khu vực trung tâm của Đại Lộc, cửa ngõ của huyện cung cấp hàng hoá cho thành phố Đà Nẳng phát xuất từ Quãng Huế và Ái Nghĩa. Quãng Huế trung tâm của ngõ của nữa huyện Đại Lộc, cũng như Ái Nghĩa đồng hành phát triển kinh tế thương mại chủ yểu của Đại Lộc. Đại Lộc cùng đẩy mạnh du lịch sinh thái như Đại Hoà Chuẩn bị quần thể trung tâm văn hoá xã hội, khu thưởng ngoạn câu cá Bàu Thạch Bộ, Thôn Văn Hoá Bộ Bắc, Làng Văn Hoá Bộ Nam. Đại Đồng khu Sinh thái Suối Mơ, khách thích thắng cảnh thiên nhiên này, chắc chắn sẽ cho Đại Lộc Ngành du Lịch Cùng Quãng Nam hòa nhập thành quần thể Du lịch chung cho tỉnh.

Ẩm thực

Xôi ngọt, bánh tổ, bánh nổ, bánh ít lá gai, bánh rò, bánh nậm, bánh ú, bánh ú tro, bánh đúc, bánh bèo, bánh xèo,bánh đập, bún, mỳ quảng, .Bánh tráng cuốn cá nục trụng, hoặc bánh tráng cuốn thịt heo luộc.Trong những năm xưa, ăn uống còn tuỳ thuộc nền kinh tế kém phát triễn, món bắp rang còn là món khoái khẩu đối với những lão nông tri điền, món bắp rang ăn với rau muống cọng được gấp lại chấm với mắm cái cá nục,bắp rang búp không nổ càng ngon hơn bắp nổ,nhất là bắp nếp , không như bắp ngô lai ngày nay, xin nói thêm món cháo bột bắp,có thể ngọt hoặc lạc tuỳ lúc, nhất là cháo bột bắp đường , để nguội ăn rất ngon. Ngoài ra còn có những món, cháo bột bình tinh, cháo bột chuối nước, khoai lang trụng, xôi lạc...nếp làm cốm , (là những hạt nếp tươi vừa gặt ngoài đồng về là đưa lên rang ngay và chế biên thành món cốm , khôn cần rang thành cốm mà ăn trong cung đoạn bán thành phẩm rất ngon.

 

Con tằm Đại Lộc xe tơ...

Bãi dâu Đại Lộc lờ mờ bên sông…

TTQNCâu ca xưa ghi dấu bóng hình thương yêu: cây dâu và con tằm Đại Lộc. Đó là nơi mà một nhà thơ từng mô tả: "Người ơi Giao Thủy đôi dòng nước/ Gặp gỡ nhau chi để ngại ngùng…". Giao Thủy, nơi gặp gỡ của dòng Thu Bồn và Vu Gia, là nôi tằm tơ của Đại Lộc.

Nhờ phù sa sông mẹ bồi đắp, những ruộng dâu ven sông trở nên bạt ngàn xanh ngút tầm mắt. Nghề trồng dâu, nuôi tằm từng phát đạt, từng có Xí nghiệp Ươm tơ Giao Thủy vang danh một thời.

Thời ấy, mọi chuyện "phải không", mua sắm, ăn học... của nhiều gia đình ở Đại Lộc, chủ yếu dựa vào con tằm. Con tằm đem lại nguồn thu nhập chính, "Làm ruộng ba năm không bằng nuôi tằm một lứa".


Tuy nhiên, nuôi tằm cũng vất vả trăm bề "Làm ruộng ăn cơm nằm/Nuôi tằm ăn cơm đứng". Vất vả là bởi, tằm không thể nhịn đói được lâu mà phải ăn liên tục, cứ 3 - 4 giờ, bất kể ngày đêm, khuya sớm, phải cho tằm ăn một lần. Làm ruộng, trời mưa hay mệt mỏi có thể không ra đồng đôi bữa cũng chẳng sao, nhưng nuôi tằm phải đội mưa đội gió hái dâu. Chưa hết, dâu ướt phải nai lưng ra quạt (hồi ấy chưa có quạt máy như bây giờ), vì tằm ăn dâu ướt là sinh bệnh ngay.

Những năm cuối thập kỷ 80, đầu 90 của thế kỷ trước, trừ khi dâu mới trồng chưa có lá, còn thì nuôi tằm hầu như quanh năm. Lứa tằm này chưa chín đã bắt đầu "phen" lứa khác. Đại gia đình, từ trẻ đến già, đều tham gia vào công việc này như một dây chuyền công nghiệp: người hái dâu, người cho tằm ăn, người trông bủa tằm, bắt kén. Tuổi nhỏ làm việc nhỏ. Nhiệm vụ của bọn trẻ con là bắt tằm chín cho lên bủa và giữ bủa, canh chừng ruồi bu, kiến đậu. Làm riết rồi đâm ghiền và… thương con tằm lúc nào chẳng biết.

Tằm là con vật sạch sẽ và hiền lành nhất thế gian, hễ dâu kém sạch một chút hay môi trường chung quanh mất vệ sinh là đổ bệnh. Mỗi ngày phải thay phân cho tằm một lần, nếu không tằm cũng không thể "sống chung với phân" - dù đó là phân của mình - quá một ngày được. Nó chẳng bao giờ gây hấn với bất cứ con vật nào. Nó sinh ra chỉ để làm kén, nhả tơ, lặng lẽ...

Nhờ nuôi tằm mà cha mẹ tôi và hàng nghìn gia đình khác cải thiện được kinh tế gia đình, có tiền cho con ăn học. Sau đó, vì chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cây dâu dần vắng bóng trên đồng ruộng. Số người nuôi tằm chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, Xí nghiệp Ươm tơ Giao Thủy cũng giải thể. Để rồi, mỗi lần về ngang qua chỗ xí nghiệp đứng chân trước đây, không người dân nào của Đại An, Đại Hòa không nhớ đến tiếng thoi rộn rã một thời, và cảm thấy lòng bứt rứt như thiếu vắng điều gì. Những chiếc nong nuôi tằm trước kia nay nằm chỏng chơ.Đũi tằm cũng xếp xó.

Đồng đất Đại An, Đại Hòa trước kia nổi tiếng với những "bãi dâu lờ mờ bên sông", bây giờ cũng có tiếng với vùng rau chuyên canh; mỗi héc ta cho thu nhập trên dưới 50 triệu đồng. Mặc dù Nhà nước có chủ trương khôi phục nghề trồng dâu nuôi tằm, ưu đãi cho những nông dân đi tiên phong trong việc này, nhưng người dân vẫn hờ hững, vì làm rau màu thu nhập cao hơn nhiều, lại ít tất bật hơn.

Hình ảnh cô thôn nữ nghiêng nghiêng vành nón lá, tay thoăn thoắt hái dâu, tay ươm tơ dệt lụa, đã thành dĩ vãng, có chăng chỉ còn trong những bài thơ, câu hát:
"Tay em hái lá dâu non
Tay em chăm nong tằm đỏ
Tay ươm tơ dệt lụa...".

Mặc tấm áo lụa tơ tằm mượt mát, hỏi mấy ai còn nhớ, con tằm đã phải rút ruột nhả tơ. Nhớ quá đi thôi tiếng rào rào của tằm ăn rỗi...

                                       PHAN LÊ CHÂU NỮ

 
 
THƯ VỀ ĐẠI LỘC... nổi niềm của người lữ thứ

Cảm nhận về một bài thơ hay

Trong những tháng ngày phiêu bạt nổi trôi nơi đất khách quê người . Nổi nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn bao giờ cũng canh cánh bên lòng của người lữ thứ tha hương . Nổi nhớ ấy càng dâng cao khi ta bắt gặp đâu đó trên nẽo đường xứ lạ hình bóng của quê hương như cây đa giếng nước con đò ... tên núi tên sông tên làng tên xã, một khuôn mặt gợi cho ta nhớ đến những hình bóng thân quên nơi cố quân. Và tôi cũng vậy mõi khi nhớ đến mãnh đất Đại lôc thân yêu của mình tôi lai lần tìm đến bài thơ " Thư Về Đại Lộc " của tác gia Hạ Đình Thao in trong tập thơ " Quảng Nam... chưa mưa đã thấm "

THƯ VỀ ĐẠI LỘC

Con ở phuơng xa nhớ về quê nội
Chắc mẹ buôn nhiều trong những đêm đông
Nghĩ đến tuổi già đời qua rất vội
Nghĩ đến thằng con lang bạt ruổi dong
**
***
Cũng muốn về thăm như từng mong đợi
Nhớ luỹ tre xanh, thương những con đường
Ngọt ngào à ơi ... khu nhà xóm núi
Nhịp chân vội vàn những sớm tinh sương
**
***
Nhưng về làm gì , ừ thôi - mẹ hiểu
Gần nữa đời con ,trên đường long đong
Gần nữa đời con ,chưa tròn manh chiếu
Như bây giờ ngôi chới với tay không
**
***
Con ngữa bàn tay tư bàn tương số
Đường đời thật dài , chắc sẽ sống lâu
Chắc sẽ qua mau , lẽ nao khổ mãi
Hạnh phúc đường này chắc sẽ đến mau
**
***
Con mong ngày vui trỡ về thật sớm
Để mẹ thôi buồn trong những đêm đông
Con vẫn hằng tin như ngày mới lớn
Nên còn miệt mài trên đường ruổi dong
Hạ Đinh Thao
Hoài Thanh tác giả nổi tiếng trong tập " Thi nhân Việt Nam " từng nói : "Thích một bài thơ hay thực chất là thích một con nguời đồng điệu " và " Một bài thơ hay là một cánh cữa đi sâu vào một tâm hồn " . Hay nói một cách khác muốn hiểu được thơ của nguời khác thì phải là tri âm của nhà thơ . Tôi không dám tự nhận mình là tri âm cảu nhà thơ . Tôi chỉ là một nguời con của Đại lộc xa quê và ôm trong mình một nổi nhớ khắc khoải về quê hương xứ sỡ . Trong suốt qua trình đi hoá giải cái nổi nhớ vô bờ đó tôi đã tìm và bắt gặp một tâm hồn đồng điệu . Đồng điệu với một thân phận , đồng điệu với nhưng vần thơ canh cánh của Hạ Đình Thao trong bài "Thư về Đại lộc "
Bài thơ đã đi vào lòng tôi như một sự đồng cảm ngọt ngào . Tôi đã thấy trong ấy dòng nước mắt nhớ quê nhớ mẹ của tác giả và cả những dòng nước mắt của tôi nhỏ xuống trang thơ khi nghi về quê hương
Một con người Đại lộc xa quê khi đọc dòng thơ của một xa quê như mình viết về quê mẹ thử hỏi làm sao không tìm thấy sự đồng điệu trong ấy
Cả một bài thơ dài tác giả không hề nhắc đến bất cứ câu nào về Đại lộc , ngoài trừ cái tiêu đề "Thư về Đại lộc " Bài thơ chỉ là một cánh thư của một đứa con trai trên bước đường lữ thứ gởi về cho mẹ hiền nơi quê hương . Nhưng nổi lòng và một lời tâm sự với mẹ về nổi niềm của một kẽ tha huơng , một thân phận long đong của một con người đang nổi trôi phiêu bạt . Đứa con nơi xa đang nhớ về mẹ muốm trỡ về với mẹ trong những đêm đông để mẹ không con ra ngõ ngóng trong người con ngoài sương gió .Nhưng than ôi bước đường nổi trôi vẫn còn dong ruổi trên những miền xa mù mịt , cũng muốn trỡ về thăm mẹ trong một ngày vui , nhưng xin mẹ thứ lổi đường công danh sự nghiệp của con vẫn còn quá mịt mờ. Còn chỉ có một gói tâm tình trong cánh thư nhỏ gởi về với mẹ....
Con ở phuơng xa nhơ về quê nội
Chắc mẹ buôn nhiều trong nhưng đêm đông
Nghĩ đến tuổi già đời qua rất vội
Nghĩ đến thăng con lang bạt ruổi dong
Cũng muốn về thăm như tưng mong đợi
Nhớ luỹ tre xanh thương những con đường
Ngot ngào à ơi ... khu nhà xóm núi
Nhịp chân vội vàn những sớm tinh sương...
Chỉ có bấy nhiêu thôi , nhưng nguời xưa nói thơ là " Ý tại ngôn ngoại " Nghĩa là ý ở ngoài những câu thơ . Cả một bài thơ tôi không thấy nhưng tên làng tên xã tên sông tên núi quê mình , nhưng tôi biêt Hạ Đình Thao đã gởi cả lòng mình trên trang thơ về Đại lộc thân yêu của tôi ... và tôi đã tìm thấy trong ấy hình bóng của quê mình
Bỡi nấp sau mõi câu chữ của anh tôi vẫn thấy đâu đó bên hiên vắng người mẹ già lưng còng tóc bạc đang dõi mắt trong con .Lấp lánh sau từng dòng thơ là hinh ảnh hai con sông Vu gia và Thu bồn đang uốn mình mang những dòng phù sa như sữa nmẹ bồi đắp cho làng quê yêu dấu . Hai con sông hẹn hò nhau về một nơi để hợp thành Giao Thuỷ truớc khi hoà mình vào Cữa Đại Cữa Hàn . Tôi thấy trong thơ anh có cánh đông lúa chín vàng trãi dài trên cánh đồng Đại hiệp thấp thoáng nhưng cánh cò trắng bay trong chiều nhạt nắng , xa xa là những ngọni đồi tím ngắt hoa mua hoa sim trên cánh núi Sơn Gà hùng vĩ . Tôi thấy những con đường làng " mõi sớm tinh sương " những giot suơng long lanh trên cành non lá biếc, nhưng con đường làng quanh co như một vòng tay xanh bao bọc làng quê yêu mến , núp dưới nhưng rặng tre ấy là mái đình làng rêu phong cổ kính do bàn tay điêu luyện của những thợ hồ Khánh Vân xây cất
Bài thơ đưa tôi về với Đại lộc những ngày xưa với một vùng quê dâu tằm vàng óng
" Con Tằm Đại lộc xe tơ
Bãi dâu Đại lộc lờ mờ bên sông "
Với trái loon boong ngọt liệm của Đại sơn , với cái mênh mông một vùng trời nước của buổi chiều Khe Tân khi hoàng hôn buông xuống . Tôi thấy cả cái xôn xao của những buổi chợ Ái nghĩa ,Phường Đông,Hà nha, Bên dầu , Quảng Huế trong nhưng ngày giáp Tết . Đâu đó trong mõi đoạn thơ hình như có tiếng hát Bài Chòi trong những đêm hội , có nhịp trống Đại Minh , tiếng đục đẽo vào trong từng hòn đá xanh của những nguời thợ Đại Chánh và có cả huơng vị thơm ngon đậm đà của tô mì Quảng ...
Tất cả những hình ảnh trên đã thôi thúc những tâm hồn tha hương lữ thứ hảy quay về với Đại lộc .
Hảy về đi dòng sông Thu vẫn còn đó trên cánh đồng làng vẫn còn nhưng cánh diều của tuổi thơ . Khe Lim Suối mơ vẫn róc rách tuôn nhưng dòng nước tưới xanh cho những cánh đồng bên chân núi và căn nhà xưa nơi tuổi thơ ta sống bên hiên nhà đầy lá rụng mẹ vẫn con ngồi , như ngay xưa mẹ thường nhắc nhỡ " bước lên thềm khoé té nghe con ! "
... Nhưng miếng cơm manh áo , bước công danh đường hoạn lộ , ngần ấy năm trời nơi đât khách con vẫn còn là kẽ trắng tay thì làm sao con về với mẹ !
Nhưng về làm gì , ừ thôi - mẹ hiểu
Gần nữa đời contển đường long đong
Gần nữa đời con chưa tròn manh chiếu
Như bây giờ ngôi chới với tay không
Dẩu vậy nhưng ta vẫn có niềm tin mãnh liệt về một cuộc đời hạnh phúc về một tuơng lai rạng rỡ vẫn con phia trước . Hình như lạc quan yêu đời tin tưởng vào cuộc sống là bản chất của mõi nguời Đại lộc !?
Con ngữa bàn tay tư bàn tương số
Đường đời thật dài chắc sẽ sống lâu
Chắc sẽ qua mau le nao khổ mãi
Hạnh phúc đường này chắc sẽ đến mau
Bỡi sâu thẳm của mõi linh hồn tha hương là quê hương yêu dấu đang thay đổi và lớn lên từng ngày mỡ rộng vòng tay che chỡ cho những trái tim muốn quay về .
Ừ con sẽ về thôi mẹ ạ con sẽ về để mẹ không còn chiều chiều dõi mắt về nơi xa ngóng " thắng con lang bạt ruổi dong ..."
Hởi những tâm hồn tha hương nơi đất khách . Nơi chốn xa làm gì có " Hòn Kẽm Đá Dừng " để:

Ngó lên hòn Kẽm Đá Dừng
Thuơng cha nhớ mẹ qua chừng lắm bậu ơi !

Bình Định 2004 Đại lộc 2006
Tiểu Vũ

ĐI HÁI BÒN BON

CUNG DIỄM 

Sàng đầu lưu Bắc phiến
Giang thượng lạc Nam Trân

                                TÚ QUỲ

Nói đến bòn bon, lẽ ra phải nói rằng bòn bon thuộc họ nào và tên khoa học gọi là gì thì mới đúng bài bản nhưng lại nghĩ rằng đã có những nhà thực vật học làm cái việc ấy nên cái khoản mà mình không rành hay nói đúng hơn là không biết thì cứ "dựa cột" là chắc ăn.
Người Quảng Nam ít ai gọi là bòn bon mà đa số đều gọi là lòn bon, ngay trong câu hát ru em từ thế hệ này đến thế hệ khác cũng cứ:

À ơi lụt nguồn trôi trái Lòn bon
Cha thác mẹ còn nên chịu chữ mồ côi.

Cây bòn bon không phải riêng ở Quảng Nam mới có mà trong miền Nam cũng rải rác ở miệt Tây Ninh nhưng có điều trái bòn bon trong Nam nhỏ mà lại chua tuy không đến nỗi chua "lét" nhưng so với bòn bon Quảng Nam thì thua xa. Quảng Nam có hai nơi có loại quả này là vùng rừng thuộc huyện Đại Lộc và huyện Quế Sơn, tuy nhiên cây bòn bon ở Quế Sơn chỉ có một ít gần các nơi người Thượng ở như Làng Da và Làng Rô. Ở miệt này cứ đến mùa bòn bon là dân các làng như Dùi Chiêng, Bình Yên, Phú Gia cứ mang muối, rựa vào đổi bòn bon đem về ăn hoặc bán. Bòn bon ra trái từng chuỗi chứ không từng chùm như nho, khi chín có màu vàng nhạt như mỡ gà nom rất đẹp. Quả có từng múi, mỗi múi mang một hột bên trong. Hạt bòn bon rất đắng nên khi ăn ta chỉ nhấp nhấp để thưởng thức cái mùi vị thơm ngọt của bòn bon rồi nuốt luôn cả hột bởi vì không tách riêng được múi với hạt. Đặc biệt ở làng Dùi Chiêng có nhiều người đã đem cây bòn bon về trồng ở vườn nhà cùng với các loại cây ăn trái khác. Nổi tiếng nhất là vườn bòn bon của bà Bát Lợi, nhờ chăm sóc, cây xum xuê, cho nhiều quả và ngọt không kém mấy so với bòn bon rừng.

Nếu so với bòn bon Đại Lộc thì Quế Sơn chẳng thấm vào đâu Đại Lộc từ ngã sông Con đi lên có nhiều cây bòn bon mọc thành rừng và nổi tiếng ngon. Nếu Hưng Yên có nhãn ngon để "tiến" vua - gọi là nhãn tiến = thì quả Nam Trân của Quảng Nam cũng chẳng chịu nhường. Tương truyền rằng khi Đức Thế Tổ Cao Hoàng nhà Nguyễn tức vua Gia Long khi còn chống với Tây Sơn đã có lần nhờ trái bòn bon của Đại Lộc để đỡ đói trên bước đường bôn tẩu. Các ông bà già lão còn nói rằng trong múi của trái bòn bon có một vết bấm đó là vết móng tay của vua khi xưa. Lúc còn bé, mỗi lần ăn bòn bon là tôi cố tìm cho được cái vết ấy để rồi vênh mặt lên kể cho mấy thằng bạn hàng xóm về cái "hiểu biết" của mình. Quả là... trẻ con.

Như đã nói trên, bòn bon Đại Lộc mọc thành rừng, dân chúng không được vào ra trừ dịp vào hái trái khi bòn bon đã chín. Để bảo vệ khi còn Pháp thuộc - huyện sở tại chọn một người tại địa phương làm chức Quản Viên để coi sóc. Mỗi năm khi đến mùa hái quả Quản Viên hái một ít mang trình quan huyện sở tại, huyện lại đưa về Tỉnh để xem xét việc làm này gọi là "chạy kiểu". Khi quan Tỉnh thấy bòn bon đã thu hoạch được thì thông sức cho địa phương chọn hái những loại ngon, ngọt, lớn trái đóng vào những giỏ lớn mang ra Huế dâng Vua. Xong việc này, huyện địa phương báo cho Quản Viên biết là thông sức cho xã biết ngày giờ nhập viên để hái quả. Khi được thông báo, dân chúng ai muốn đi hái thì chuẩn bị cơm ghe bè bạn, ngược sông Con để đến nơi ấn định mà Quản Viên đã cho biết. Sông Con là một nhánh sông nhỏ chảy xuống từ Thượng nguồn huyện Thượng Đức và gặp sông Thu Bồn ở Giao Thủy để cùng đổ ra cửa Đại Chiêm. Đã là sông Con nên càng về thượng nguồn càng hẹp dần. Tất cả những ghe thuyền đi hái bòn bon đều dừng lại ở thác Trưởng để đợi lệnh nhập viên, Thác Trưởng không chảy xiết lắm và có một loại cây mọc dưới nước gọi là Rì ngang qua sông từ bờ này đến bờ kia. Có nhiều đàn khỉ cứ nương theo cây rì để qua sông kiếm ăn, do đó dân địa phương mới gọi là Thác Trưởng, thậm chí còn gọi là thác ông Trưởng chỉ vì muốn tránh tiếng khỉ nên gọi né đi. Sở dĩ như thế vì giống họ nhà khỉ vốn liếng thoắng, tọc mạch phá phác nên dân quanh vùng không dám gọi đích danh. Khi không có người trong thuyền, họ hàng nhà khỉ rủ nhau vào lục lạo tử niêu cơm, trả cá, thức gì ăn được thì chúng giành giựt nhau chí chóe, cái gì không bỏ vào mồm được như con dao, cái rựa... chúng bèn quảng tung cả xuống sông. "Ông Trưởng". Té ra những loại chuyện phá hại nồi cơm chén mắm của dân chúng đều được dân chúng tôn bằng Ông cả. Ông Cọp, ông Voi, ông Trưởng, ông Tí, ông Sói...và còn rất nhiều "ông" khác nữa.


Những người đi hái bòn bon đều chuẩn bị gồng gánh và một cái "xà lắc" còn gọi là cái "gùi" mang sau lưng để đựng khi leo lên cây. Vào giờ Dần, khoảng từ 4 đến 6 giờ sáng, ngày đã định, Viên Quản Viên cho đánh một hồi lại ba dùi trống lớn, tan hồi trống, mọi người ùa nhau vào vườn đề mong vớ được những cây sai quả. Có điều không phải tất cả đều là cây bòn bon mà còn có các loại cây khác mọc chen vào. Vào cái giờ ấy, giờ Dần, trời chưa tờ mờ mà rừng cây lại rậm rạp thì cứ kể như là còn tối như om, nên mọi người sờ soạng và ôm đại một gốc để choáng phần rồi chờ sáng rõ mới trèo lên để hái. Vui nhất là những người chưa có kinh nghiệm cứ ôm khư khư một gốc cây đến khi sáng ra xem lại thì chẳng phải là cây bòn bon mà lại là một cây rừng khác. Người có kinh nghiệm khi ôm gốc cây lúc trời còn tối đều gặm vỏ cây nếm thử để xem có đúng là cây bòn bon hay không, nếu chẳng phải thì lập tức tìm một cây khác. Người dân Quảng Nam vốn ăn chắc mặc bền, tính bộc trực có răng nói rửa nhưng rất tất bụng, có điều khi tranh luận điều gì thì "phe ta" nhất định phải cho ra ngô ra khoai mới chịu. Quảng Nam hay cãi là thế. Những người không may vớ phải những cây không phải là bòn bon dĩ nhiên là không hái được để mang về thì được bà con chia cho mỗi người một ít nên không đến nỗi phải đi không về rồi.

Thế rồi tại các chợ như Ái Nghĩa, Quảng Huế, Phú Thuận, Phường Đông...đều có bòn bon do các người đi hái được mang về thì ban 1. Lại có người không đi hái được thì bỏ tiền mua sỉ để xuôi về Hội An trước là bán kiếm lời sau lại có dịp thưởng thức một vài tô Cao Lầu, Hoành Thánh, hai món nổi tiếng của Faifo hoặc ít ra cũng "làm" một bụng "mì ghe" - mì bán trên sông - để nghe giọng rao ngọt lịm của cô hàng: A...a...a...i...mì...hô...ô...ông. Đây là chuyện đi hái bòn bon vào những năm xưa dễ chừng non nửa thế kỷ, còn về sau này thì không còn như thế nữa. Thời cuộc thay đổi, rừng núi cũng đổi thay, lớp người trẻ nghe kể lại cứ há mồm, vểnh tai như nghe một Chuyện Cổ Tích. Hiện thời, bòn bon Đại Lộc vẫn còn nhưng không tú mậu như thuở xa xưa. Cây cằn cỗi, trái nhỏ đi, đến mùa quả chín, chính thuyền địa phương cho đấu thầu, ai đấu được thì vào rừng thu hoạch rồi lại mang đi Đà Nẵng, Vĩnh Điện, Hội An để bán kiếm lời và cũng kiếm một số bòn bon hoặc để cho bạn bè, biếu xén và cũng để cho con cháu ăn tóp tép... vui mồm.

ĐẠI LỘC NGÀY XƯA

Trần Đình Nhân

Đại Lộc ngày xưa tôi nhớ lắm. Vài lần đi củi, lên núi Ngọc Linh nhìn xuống thấy huyện Đại Lộc quê tôi đẹp như tranh, những mảng màu xanh bên những dải dài màu trắng lóng lánh chính là những thôn làng quê tôi đang bám lấy các dòng Vu gia, Thu bồn đó. Dòng Vu Gia lượn lờ quanh co, bắt nguồn từ xã Đại Sơn, băng qua hầu hết các xã trong huyện, để rồi chia tay ở Đại Hòa, Đại Hiệp trước khi chảy về với huyện Hòa Vang. Sông Thu Bồn như là ranh giới huyện về phía nam, bọc từ vùng núi Đại thạnh cho đến những bãi dâu Đại hòa.

“Tôi đi giữa một cánh đồng,
Ngóng sông bên nọ, ngóng sông bên này.”
Hai câu thơ này của ai đó (không biết tôi trích có đúng không?) hình như nói về hai dòng sông trên của quê tôi.
Quê tôi còn có sông Giao Thủy nữa, đó là dòng nối giữa sông Vu Gia và sông Thu Bồn, sông cạn lắm, mùa hè đã mấy lần tôi lội qua.
Người dân quê tôi mang ơn sông nhiều lắm. Nhờ sông mà những cánh đồng lúa quê tôi luôn được tưới mát, ba mùa lúa nước đã phần nào giúp quê tôi lo được cái ăn. Bây giờ người dân quê tôi không chỉ sống dựa vào dòng sông khi mà nhiều ngành nghề khác đã phát triển.

Ngày xưa Đại Lộc rộng lắm, đi cả ngày không hết. Mỗi lần huyện tổ chức mit-ting, dân các xã xa phải đi từ hôm trước. Tôi và nhiều bạn ở vùng B, vùng C đi học trường huyện cũng phải ở lại, cuối tuần mới về thăm nhà một lần. Nhiều bạn nhà không gần trường nhưng cố đi về trong ngày nên suốt ngày cứ đi trên đường, thời gian đi có khi bằng thời gian học, đúng là đi-học. Bây giờ Đại Lộc như nhỏ lại, có lẽ bởi chúng tôi hầu như ai cũng có xe máy, đi lại thăm nhau dễ dàng, nếu không đến với nhau thì chỉ do thiếu tấm lòng mà thôi.

Đại lộc ngày xưa nghèo lắm. Tôi nghèo, bạn tôi nghèo, mọi người nghèo, cũng may nhờ nghèo đều như thế nên không ai thấy mình nghèo. Những năm quê tôi còn làm theo cơ chế HTX nông nghiệp, năng suất lúa quá thấp do đồng ruộng không được xã viên chăm sóc, chúng tôi thậm chí không đủ gạo để ăn. Những ngày đi học và ở trọ lại thị trấn Ái nghĩa, buổi tối chúng tôi thường đi dạo ngang qua quán chè Cây Dừa (hình như tên như thế và sau này nghe nói là của gia đình bạn An học cùng trường) nhưng chúng tôi không bao giờ dám vào, vì chúng tôi thậm chí không đủ gạo 60 lon một tháng để nộp cho chủ nhà trọ. Sau này dân được khoán ruộng để canh tác nên đời sống có khá hơn. Chúng tôi không có nhiều áo quần mặc đến trường như bọn trẻ bây giờ, nhờ thế nên giờ khi nhớ đến bạn bè ngày đó vẫn có thể nhớ cả cái áo cái quần mà bạn mình hay mặc. Nhà đứa nào khá giả thì có chiếc xe đạp để đi học, còn không thì cuốc bộ với đôi dép lốp. Tôi may mắn có chị làm thương nghiệp (hồi đó làm ngành này oai lắm) nên được chị cho chiếc xe đạp. Bây giờ mọi người ai cũng khá hơn, gặp nhau là nhậu, quí nhau là phải nhậu hết mình với nhau. Chúng tôi ngồi nhắc lại những năm tháng thiếu thốn ngày xưa, nâng niu quá khứ khổ cực và tự hào bởi mình có được những kỷ niệm đẹp như thế (có khi còn thấy mình may mắn hơn lớp trẻ bây giờ vì được cực nhiều hơn)!

Ngày xưa Đại lộc không có nhiều người được đi học đến nơi đến chốn. Mỗi xã chỉ có vài đứa may mắn được cha mẹ cho đi học tiếp cấp 3. Bạn tôi hàng trăm đứa ở xã Đại minh phải bỏ học ở cấp 2, ở nhà làm ruộng hoặc đi học nghề. Lên cấp 3 chúng tôi không có nhiều thời gian cho việc học, đến mùa gặt có khi cả tuần chúng tôi nghỉ để cùng làm với gia đình. Chúng tôi chỉ có vài cuốn sách sách giáo khoa, chúng tôi không biết đến sách bài tập toán là gì vì ngay cả các bài toán trong sách bài học chúng tôi còn không làm hết. Bây giờ con cái chúng tôi sướng hơn khi chúng được học cả ngày lẫn đêm, học trong giờ, học ngoài giờ, học cả ngày nghỉ, sách vở nhiều đến oằn cả vai (không biết có sướng thật không)!

Những “đốc-tờ” ở Đại Lộc

28-03-2008 23:08:57 GMT +7

Bác sĩ chuyên khoa I Lê Tấn Dũng (trái) tại phòng khám Răng - Hàm - Mặt, Bệnh viện Đa khoa khu vực miền núi phía Bắc Quảng Nam

Nghề “đốc-tờ” hiện nay với người dân Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam không còn là chuyện trong mơ - Bệnh viện có 50 bác sĩ (8 thạc sĩ y khoa, 21 bác sĩ chuyên khoa I) thì 47 bác sĩ là con dân Đại Lộc

Đại Lộc quê tôi chưa ai gọi là vùng đất học, dù Quảng Nam luôn tự hào là xứ “Ngũ phụng tề phi”. Họ Hồ ở làng Phú Mỹ (Đại Minh, Đại Lộc) được Quốc triều Hương khoa lục ghi “Cha con, chú cháu cùng đỗ” đã là oai ngất trời, nhưng đếm tới đếm lui cũng chưa đầy một bàn tay. Chuyện kể rằng, sinh thời, cụ Hồ Ngận, cử nhân cuối cùng của khoa thi chữ Hán có người con vào học ban A ở Trường Quốc học - Huế. Cụ rất tự hào con mình đang học ban... “đốc-tờ”, nhưng anh này thành đạt với nghề luật sư! Điều đó cho thấy nghề “đốc-tờ” là mong ước của nhiều bậc cha mẹ - nhưng là những bậc cha mẹ khá giả, chứ còn những nông dân “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” thì ai lãng mạn lắm cũng chỉ có trong giấc mơ đẹp.

Chuyện như trong mơ!

Thầy thuốc ưu tú - thạc sĩ y khoa Tô Mười, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa khu vực miền núi phía Bắc Quảng Nam, kể cho tôi nghe nghề bác sĩ ở Đại Lộc chẳng khác nào chuyện mở đầu bằng những tiếng “ngày xửa ngày xưa”. Sau ngày 30-4-1975, huyện Đại Lộc không có bác sĩ nào, ngành y tế tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng điều về một bác sĩ để góp phần chăm lo sức khỏe cho dân. Đó là bác sĩ Cao Ngọc Trản. Người dân Đại Lộc nhìn bác sĩ Trản với cặp mắt ngưỡng mộ và không hề nghĩ, ngày nào đó đồng đất Đại Lộc sản sinh được vài ba bác sĩ để chăm lo sức khỏe cho dân mình, bởi người Đại Lộc có thời nào dư ăn, dư mặc đâu mà nói đến chuyện học, nhất là học để trở thành bác sĩ. “Bệnh viện hiện có 50 bác sĩ, trong đó có 8 thạc sĩ y khoa, 21 bác sĩ chuyên khoa (BSCK) I, đảm trách chăm sóc sức khỏe cho bà con 5 huyện miền núi: Đại Lộc, Phước Sơn, Nam Giang, Đông Giang và Tây Giang. Trong 50 bác sĩ ấy đã có 47 bác sĩ là con dân Đại Lộc. Anh thấy có giống chuyện cổ tích không?”- thầy thuốc ưu tú Tô Mười tự hào.

Phần lớn bác sĩ là con dân Đại Lộc làm việc ở đây, ngày giải phóng là lớp quàng khăn đỏ, còn lại được sinh sau ngày đất nước thống nhất. BSCK I Nguyễn Hoài Mảnh, chi đội trưởng măng non của hơn 30 năm trước, nói như tâm tình: “Lớp trẻ sau ngày giải phóng siêng học lắm. Họ gắng học để thay đổi cuộc đời dãi nắng dầm mưa bên luống cày mà cái nghèo, cái khổ cứ bám dai như đỉa đói”.

Lớn lên từ đồng đất quê nhà

Bác sĩ Lê Bốn là tấm gương hiếu học, vượt khó đáng trân trọng. Anh mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Ngày giải phóng, Lê Bốn mới học lớp ba, anh chị chưa ai qua tuổi 20, phía sau còn 2 người em. Cuộc sống rất khó khăn, tưởng chừng sống không nổi nói gì đến chuyện học. Ngày ngày trên đường từ trường về, Lê Bốn để sách vở trên bờ, xuống ruộng cuốc đất, nhổ mạ, mò cỏ lúa cùng với anh chị. Bà con trong làng thương lắm nhưng họ cũng nghèo nên chẳng giúp được gì ngoài việc tranh thủ cuốc giúp lưng nửa lối đất, nhổ giúp cho mươi túm mạ, mò cỏ giúp cho một vài hàng lúa... Nghị lực và đồng đất quê nhà đưa anh vào giảng đường đại học, nay anh đã là BSCK I Tai - Mũi - Họng.

Ông Nguyễn Văn Ca (thương binh, xã Đại Đồng) ngày ngày trằn lưng ra ruộng nuôi 6 đứa con nhỏ ăn học. Nay, nhà ông có 4 bác sĩ (2 thạc sĩ y khoa, một BSCK I, một bác sĩ đang hành nghề tại Mỹ), 2 kỹ sư. Nói tới chuyện chịu khổ chịu khó học hành, bác sĩ Tô Mười cho biết năm rồi, anh em thích học thêm quá, bệnh viện cho 3 BSCK I dự tuyển BSCK II, ai ngờ đậu cả 3. Thế là phải động viên một bác sĩ lưu kết quả 1 năm. Như vậy khoảng 4-5 tháng nữa, Đại Lộc có 3 người theo học BSCK II. Theo bác sĩ Nguyễn Hoài Mảnh - người chuẩn bị theo học BSCK II, đội ngũ thầy thuốc ở Đại Lộc không muốn chuyển tuyến bất cứ bệnh nhân nào vì “năng lực hạn chế”. Ngoài ra, một số bác sĩ quê Đại Lộc đang phục vụ nhiều nơi khác trong nước cũng như cho nhân loại tại nhiều nước tân tiến.

Ông Nguyễn Văn Ngũ, Bí thư Huyện ủy huyện Đại Lộc, tự hào: “Đây là thành tựu lớn nhất của Đại Lộc. Ngày nay, con dân Đại Lộc hành nghề bác sĩ ở khắp nơi và tụ lại 47 người thế là rất quý. Mong Nhà nước có chính sách thích hợp để bất cứ nơi nào trên đất nước này cũng chỉ có tụ mà không có tan”.

Thầy thuốc ưu tú - BSCK - Nguyễn Chín, Trưởng Phòng Y tế huyện Đại Lộc:

Thật đáng tự hào

Nghề “đốc-tờ” hiện nay với người dân Đại Lộc không còn là chuyện trong mơ. Trước năm 2001, tất cả các trạm y tế đều có bác sĩ. Khi tỉnh thành lập Bệnh viện Đa khoa khu vực miền núi phía Bắc Quảng Nam thì phần lớn các bác sĩ được điều động về bệnh viện. Đại Lộc hiện có 14/18 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia y tế cơ sở. Tất cả các bác sĩ này đều là dân Đại Lộc. Thật đáng tự hào, bởi nghề bác sĩ không phải như bao nghề khác mà phải qua sự sàng lọc khá gắt gao cả “đầu vào”, lẫn “đầu ra”. Ở bất cứ quốc gia nào, muốn vào nghề bác sĩ phải là những học sinh rất giỏi trong số những học sinh giỏi...

Học bổng cho sinh viên đậu Y Khoa năm 2008
Thi sĩ Tân Văn từ Canada sẽ cấp 5 học bổng mỗi học bổng 1.000.000$ cho sinh viên từ Đại Lộc thi đậu vào trường đại học y khoa năm 2008,
xin liên lạc
ngovantan@yahoo.com

Bài và ảnh: VU GIA

KHỞI NGUỒN PHONG TRÀO CHỐNG THUẾ
VỀ NƠI KHỞI NGUỒN PHONG TRÀO CHỐNG THUẾ
16:04 04/06/2008
(Kỷ niệm 100 năm phong trào chống thuế 1908)    
vhxh 4-6.jpg
Nhà thờ tộc Trương thôn Phiếm Ái

     Đầu thế kỷ 20, Phong trào Duy Tân được khởi xướng ở Quảng Nam đã lan ra toàn quốc. Đỉnh cao của phong trào Duy Tân là cuộc nổi dậy của nhân dân kháng sưu thuế năm 1908 ở Trung kỳ. Đây là cuộc nổi dậy rộng lớn và oanh liệt, nhằm mục đích đòi giảm sưu thuế, chống lại sự cai trị hà khắc của bọn thực dân phong kiến.

     Những ngày đầu tháng 3, chúng tôi đã về thôn Phiếm Ái xã Đại Nghĩa huyện Đại Lộc, nơi cách đây 100 năm, vào ngày 9-3-1908, nhân một bữa giỗ tộc, các ông Trương Hoành, Trương Tổn, Trương Côn, Lương Châu...đã vận động mọi người đưa yêu sách đòi giảm sưu cao thuế nặng. Người dân các xã lân cận biết chuyện cũng kéo đến hưởng ứng. Ông Trương Thời, 78 tuổi, cháu gọi ông Trương Hoành là ông nội chú kể lại : Trong nhiều yêu sách như chống sự sách nhiễu, tham ô...thì việc xin xâu, giảm thuế được đặt lên hàng đầu, nhằm huy động sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân và là lý do chính đáng để lấy chữ ký của các lý trưởng. Khi đã có đầu đủ “tư cách pháp nhân”, mọi người đã tập hợp nhau lại để kéo đến huyện đường “trình đơn cứu xét”. Đoàn biểu tình kéo đến huyện đường, rồi tỉnh đường La Qua đều không gặp được nhà “chức trách” do tất cả đã bỏ trốn xuống Toà Sứ (Hội An). Đoàn biểu tình vì thế mỗi lúc một thêm đông đảo có lúc lên đến gần 1 ngàn người.

     Đình làng Phiếm Ái cũng là một trong những địa điểm hội quân của đoàn biểu tình chống thuế, trên bia ghi công của đình đã ghi lại sự kiện này. Theo đó, ngày 11-3-1908, dân chúng biểu tình đã kéo tới tòa sứ ở Hội An. Phong trào đòi giảm sưu cao thuế nặng cũng được nhân dân ở các huỵện phủ Điện Bàn, Thăng Bình, Tam Kỳ nhiệt tình hưởng ứng... Sức lớn mạnh của phong trào chống thuế ở Quảng Nam đã lan rộng ra nhiều tỉnh thành ở Trung Kỳ lúc bấy gìơ và kéo dài cho đến đầu tháng 4 năm 1908.

     Để giảm khí thế của các cuộc biểu tình, thực dân Pháp và phong kiến ban đầu chịu nhượng bộ một số yêu sách của nhân dân như hứa giảm sưu thuế, hứa trị tội quan lại tham nhũng. Nhưng khi phong trào đã lắng xuống, chúng lại giở trò khủng bố trắng. Trong gia phả tộc Trương cũng ghi lại: Các ông Trương Hoành,Trương Tổn, Hứa Tạo, Lương Châu đều bị bắt sau cuộc biểu tình và bị đi đày, sau này chỉ còn ông Trương Hoành sống sót trở về và tiếp tục tham gia các hoạt động kháng Pháp. “Theo bảng thống kê của tòa Khâm sứ Huế, sau các cuộc biểu tình tháng 3 và 4-1908, ở Trung kỳ có đến 216 người bị bắt và xử án. Cụ Phan Chu Trinh bị bắt ở Hà Nội ngày 31-3-1908, giải về kinh, giam ở Hộ Thành. Cụ bị đưa ra Hội đồng Vấn xứ có cả quan Tây, quan Nam, bị xử tù chung thân và đày đi Côn Đảo. Cụ Huỳnh Thúc Kháng bị thực dân Pháp buộc tội là “Thông đồng với người bội quốc (chỉ Phan Bội Châu), xướng thuyết “Dân Quyền” cùng các cuộc khai trương lập học”, bị đày ra Côn Đảo suốt 13 năm, cho đến năm 1921, mới được trả tự do. Riêng Trần Quý Cáp, tuy bị đày vào Khánh Hòa đầu tháng Giêng 1908, xem ra như ông không can dự vào việc “xin xâu”, nhưng thực dân Pháp vẫn xử tội tử hình. Cái chết của Trần Quý Cáp gây xúc động mạnh trong lòng dân chúng. Cùng với sự bắt bớ giam cầm, thực dân Pháp còn ra lệnh đóng cửa các cơ sở của “Phong trào Duy Tân”( Theo Việt Báo) 

vhxh 4-6 (1).jpg
Văn bia trước đình làng Phiếm Ái
     Trong cuốn “ Trung Kỳ dân biến thỉ mạt ký” của Phan Châu Trinh và “Trung Kỳ cựu sưu thuế” của Huỳnh Thúc Kháng đều cho rằng đây là cuộc biểu dương lực lượng rộng lớn ôn hoà của giai cấp nông dân.Tuy ôn hoà nhưng đã thấm sâu vào trong tư tưởng và thôi thúc họ phải hành động. Phong trào tan rã nhưng đã đánh dấu một mốc son trong lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam.

     Kỷ niệm 100 năm phong trào chống thuế ở Quảng Nam, UBND huyện Đại Lộc đã thống nhất chủ trương chọn địa điểm trường mẫu giáo ở thôn Phiếm Ái xã Đại Nghĩa để xây dựng khu di tích lịch sử phong trào chống thuế trên diện tích 1.000m2, bao gồm các công trình tượng đài, phù điêu, minh bia, nhà truyền thống, khuôn viên cây xanh, tường rào cổng ngõ. Nơi đây cũng sẽ là địa điểm sinh hoạt văn hoá, giáo dục truyền thống của nhân dân địa phương.Dự kiến công trình sẽ khởi công nhân dịp ngành Văn hoá- thể thao và du lịch tổ chức Hội thảo 100 năm phong trào chống thuế ở Quảng Nam.

     Kỷ niệm 100 năm phong trào chống thuế 1908 ở Quảng Nam là dịp để chúng ta hiểu thêm về nơi khởi nguồn của phong trào, hiểu thêm về sự kiện được xem là gây tiếng vang nhất đầu thế kỷ 20 và tự hào hơn về truyền thống đấu tranh của con người và vùng đất xứ Quảng.

Quang Nguyễn


Đại Lộc: Điểm sáng thu hút đầu tư
07:47 14/09/2007

Cơ sở sản xuất đá ốp lát tại cụm công nghiệp Đại Quang.

Với 6 cụm công nghiệp (CCN) đã được lấp đầy diện tích và 6 CCN khác đang xúc tiến đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, huyện Đại Lộc đang là một trong những điểm sáng về thu hút đầu tư trong toàn tỉnh.

Xác định thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là giải pháp đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phấn đấu cơ bản trở thành huyện công nghiệp vào năm 2010, những năm gần đây, Đại Lộc đã thực thi hàng loạt giải pháp về quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng các CCN, làng nghề; quảng bá tiềm năng, mời gọi đầu tư; cải cách thủ tục hành chính, xây dựng các cơ chế chính sách ưu đãi… nhằm thu hút có hiệu quả các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh đến triển khai các dự án tại địa phương. Ban Quản lý các CCN huyện được thành lập là cơ quan đầu mối tham mưu cho UBND huyện và trực tiếp giải quyết nhanh các thủ tục đăng ký đầu tư, giảm phiền hà cho các đối tác. Bên cạnh đó, công tác quy hoạch, bồi thường thiệt hại, thu hồi đất, xây dựng kết cấu hạ tầng tại các CCN được thực hiện nhanh gọn và đồng bộ, cũng được Đại Lộc chú trọng, xem đây là một trong những biện pháp hữu hiệu trong thu hút đầu tư tại của địa phương.

Nhờ vậy, từ năm 2003 đến nay, Đại Lộc đã thu hút được 50 dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp, với tổng nguồn vốn đầu tư hơn 1.000 tỷ đồng. Đến nay, đã có nhiều CCN cơ bản lấp đầy diện tích đất đã quy hoạch như các CCN Đại Hiệp, Đại An, Đại Nghĩa 1, Đại Nghĩa 2 và Đại Quang. Trong đó, có những dự án lớn, như Công ty cổ phần Đại Quang xây dựng nhà máy chế biến giấy, công suất 20.000 tấn/năm, vốn đầu tư 180 tỷ đồng; Nhà máy may Đài Loan gồm 2 chuyền may, giải quyết việc làm cho 1.500 lao động…

 Nếu như năm 1999, Đại Lộc chỉ  có gần 1.000 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất  công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; thì đến đầu năm 2007 đã lên đến  hơn 2.500 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất,  giải quyết việc làm hơn 8.200 lao động. Giá trị sản xuất công nghiệp  tiểu thủ công nghiệp từ năm 1999 đến nay đạt mức độ tăng trưởng bình quân hơn 30%/năm.

Để đáp ứng nguồn nhân lực cho các dự án phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề, Đại Lộc đã và đang tập trung mạnh cho công tác đào tạo lực lượng lao động và thu hút con em của quê hương có tay nghề, đang làm ăn xa về quê sinh sống. Số liệu điều tra mới đây cho thấy, hiện nay, tỷ lệ lao động được đào tạo nghề của huyện Đại Lộc mới chỉ chiếm khoảng 11% tổng số lao động tại địa phuơng. Trên cơ sở kết quả khảo sát và dự báo nhu cầu nguồn nhân lực của từng ngành nghề, Đại Lộc đã xây dựng phương án đào tạo nguồn nhân lực theo hướng phân ngành, phân kỳ đào tạo cụ thể trong giai đoạn từ nay đến năm  2010. Trước mắt, tập trung mở rộng chức năng, đầu tư thiết bị đào tạo nghề để phát huy vai trò của Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện; cho phép trung tâm liên kết với các trường đại học trong nước mở các lớp đại học tại chức, phối hợp các trường dạy nghề mở các lớp đào tạo nghề, đáp ứng theo yêu cầu phát triển của địa phương. Ngoài ra, huyện còn có cơ chế ưu đãi khuyến khích các ngành, các doanh nghiệp tài trợ kinh phí đào tạo nghề; đồng thời ban hành một số  chính sách  ưu đãi,  thu hút nhân tài, cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi, nghệ nhân, công nhân có tay nghề về làm việc tại huyện. Mục tiêu của Đại Lộc là đến  năm 2010,   50 - 55%  lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề.

Theo BaoQuangNam




Đại Sơn còn nghèo khó lắm!
Thứ năm, 24/01/2008, 00:25 (GMT+7)

Sau hơn một giờ rưỡi ngồi trên chiếc thuyền máy, chúng tôi đến khu 2, xã Đại Sơn (Đại Lộc, Quảng Nam) khi tết cổ truyền của dân tộc đã cận kề. Thêm 30 phút cuốc bộ nữa, chúng tôi đặt chân đến thôn Đồng Chàm, một trong những thôn “5 không”.

Học sinh thôn Đồng Chàm, xã Đại Sơn, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam đến trường chỉ với quyển sách, cuốn vở trên tay. Ảnh: NG. KHÔI

Ngược dòng Vu Gia, hai bên bờ sông lổm chổm những điểm sạt lở vì lũ nay đã mơn mởn xanh những luống đậu, luống dưa… Khác với màu xanh nơi triền sông, một cảnh ảm đạm, buồn tẻ in hằn trên từng thớ đất đường đến đầu làng. Những đứa trẻ lem luốc, mũi dãi lòng thòng đứng tựa trong căn nhà xiêu vẹo bốn bề trống hoác không người lớn, trố mắt nhìn khách lạ đến làng.

Ngoài những người trong làng, với chúng, ai cũng là người lạ. Làng “5 không” là đây! Đúng ra là có rất nhiều “không”, nhưng 5 cái “không” lớn nhất đó là: không điện, không đường, không trạm xá, không thông tin liên lạc và không chợ.

Chính vì thế, ngôi làng này rất đặc biệt so với bất cứ làng quê Việt Nam nào: không hề thấy bóng dáng của chiếc xe, dù chỉ là xe đạp. “Đường đâu mà đi, sắm xe làm gì cho tốn tiền. Ở đây, xa gần chi cũng đi bộ hết. Còn phương tiện “thông tin đại chúng”, cả làng chỉ có 3 cái tivi trắng đen dùng nguồn điện ắc-quy. Chính vì thế, người dân biết tình hình thời sự chỉ thông qua… cán bộ xã. Nhưng cán bộ xã giỏi lắm cũng chỉ nắm tình hình huyện, tỉnh về phổ biến lại, còn những vấn đề văn hóa – xã hội khác thì coi như… tịt” – ông Dương Tài Liệu – Phó Chủ tịch UBND xã Đại Sơn cho biết.

Không có chợ, thực phẩm hàng ngày ở đây chủ yếu “tự cung, tự cấp” là chính. Chừng mươi ngày nửa tháng, bà con lại rủ nhau chèo ghe xuống Hà Tân (xã Đại Lãnh) cách xã khoảng hơn 1 giờ chèo ghe để mua cái áo, sắm cái quần, mua mớ tôm mớ tép về ăn. Ở cái làng này, khi đau ốm càng nguy hiểm hơn. Cả thôn chỉ có 3 chiếc thuyền máy là phương tiện duy nhất đi lại nơi đây. Mỗi khi có người ốm hay sinh nở, nhất là các ca cấp cứu người bị thương, đau ruột thừa,… thì nguy cơ tử vong rất cao. Trong cuộc đời hơn 30 năm làm y tá thôn của mình, chị Lê Thị Cam (47 tuổi) không biết mình đã bao lần bất lực trước sự đau đớn của dân làng. Chị Cam cho biết: “Ở đây chỉ có sơ cứu thôi, những ca nặng như sinh đẻ, viêm ruột thừa hay cấp cứu thì chỉ có chết. Chuyện trẻ con sinh rơi, sinh rớt ở cái làng này thì nhiều vô kể”.

Ông Nguyễn Đình Hữu, Trưởng thôn Đồng Chàm nói: “Mỗi khi trong làng có người đau ốm, phương tiện cấp cứu duy nhất là khiêng bằng võng rồi đưa xuống thuyền chở đến trạm xá xã. Nếu không có thuyền máy thì đành đưa thuyền chèo bằng tay. Có trường hợp, cha chở con gái đau bụng đẻ xuống trạm xá của xã để sinh. Vì đường xa, lại đi bằng ghe chèo nên cô con gái sinh ngay giữa sông, người cha làm bà mụ rồi lấy liềm cắt rốn”. Có những người già mơ ước nhìn thấy điện sáng, thấy con đường và chiếc xe ôtô chạy trong làng.

Vốn đã khổ, nay người dân nơi đây lại càng khổ hơn khi những cơn lũ liên tiếp vừa qua đã cuốn trôi hàng chục hécta dứa, ngô, khoai của người dân nơi đây ra biển. Nông dân trắng tay. Cái đói cận kề. Còn tết: chẳng bận tâm! Ngày xuân của những đứa trẻ nơi đây được báo hiệu bởi những ngày được thầy cô cho nghỉ học. Thế là mùa xuân!

Cùng cảnh ngộ với Đồng Chàm còn có các thôn Ba Tớt, Thác Cạn và Đầu Gò. 4 thôn nằm rải trên 4 phía của ngã ba sông Mõm Lợn. Nơi đây từng là căn cứ địa cách mạng, người dân kiên trung bám trụ lập lũy chiến đấu đánh thắng giặc Mỹ ở đồi Thượng Đức, góp phần đánh dấu vào mốc son chói lọi của lịch sử dân tộc. Thế mà giờ đây, điện, đường, trạm, chợ… đối với người dân khu 2, xã Đại Sơn vẫn còn là một giấc mơ.

Bước lên thuyền về xuôi, quay lưng nhìn về ngã ba sông Mõm Lợn, nơi “tụ thủy” của hai dòng sông Bung và sông Cái để tạo thành một dòng Vu Gia thơ mộng, chúng tôi không khỏi ngậm ngùi. Đại Sơn ơi, bao giờ vào xuân? 

NGUYÊN KHÔI (SGGP)

Những căn nhà tình nghĩa do kiều bào tặng dân nghèo Đại Lộc

Chia tay ông ABing Duốch(đồng bào thiểu số), đoàn đến thôn Đắc Ốc, xã Ladêê huyện Nam Giang. Tại đây ngôi nhà xây tặng bà HienR Mél, 61 tuổi với số tiền đóng góp của kiều bào ở Thuỵ Sỹ sắp hoàn thành và sẽ được tổ chức bàn giao trong thời gian tới. Hy vọng bà HienR Mél sẽ được hưởng niềm vui có nhà mới như ông ABing Duốch.


Ngôi nhà cũ của ông ABing Duốch


Ngôi nhà mới của ông ABing Duốch do
Cty TNHH Cao su DakLak đầu tư tại
Nam Lào ủng hộ

 


Tại lễ bàn giao nhà cho chị Võ Thị tám (người bế
con) do cộng đồng người Việt Nam ở Ba Lan
tặng

Đến thôn Thạnh Trung, xã Đại Chánh, huyện Đại Lộc dự lễ bàn giao nhà cho chị Võ Thị Tám do kiều bào ở Ba Lan tặng, đoàn được chứng kiến một hoàn cảnh khó khăn khác cũng rất thương tâm và ái ngại. Chị Tám phải nuôi một mẹ già 96 tuổi cùng đứa con bị nhiễm chất độc da cam, tuy đã 17 tuổi mà chỉ nhỏ bé như đứa trẻ lên 5, không thể đi đứng làm được việc gì. Ngôi nhà đại đoàn kết trị giá 25 triệu đồng với sự đóng góp 15 triệu đồng của kiều bào Ba Lan hy vọng sẽ giúp chị Tám bớt đi phần nào những vất vả trong cuộc sống.

 

Vậy là “tấm lòng của bà con kiều bào đã đến được những địa chỉ cần thiết” – Phó chủ nhiệm UBNVNONN Trần Quang Hoan nói. “Những căn nhà mới này thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với người dân nghèo và truyền thống thương yêu đùm bọc, đoàn kết giúp đỡ nhau của người Việt Nam ở nước ngoài đối với đồng bào khó khăn trong nước”.


 

Tại lễ bàn giao nhà cho chị Võ Thị Tám ở thôn Thạnh Trung,
xã Đại Chánh, huyện Đại Lộc do kiều bào Ba Lan tặng

Bà Phan Thị Hồng Hoa, Chủ tịch UBMTTQ huyện Đại Lộc cho biết Đại Lộc là một trong những huyện nghèo, có nhiều khó khăn. Cả huyện có 18 xã còn 6 xã chưa xoá được nhà dột nát trong đó có xã Đại Chánh, số hộ nghèo nhiều, gần 1000 căn nhà dột nát cần được hỗ trợ. Không chỉ riêng Đại Lộc mà nhiều huyện khác của tỉnh Quảng Nam còn rất nhiều những hoàn cảnh khó khăn cần được giúp đỡ.

 

Trên đây chỉ là 3 trong số biết bao những gia đình có hoàn cảnh khó khăn nhưng may mắn nhận được sự trợ giúp từ kiều bào sống xa Tổ quốc. Mong rằng với truyền thống tương thân tương ái, đồng bào khó khăn trong nước sẽ tiếp tục nhận được những tình cảm sẻ chia giúp đỡ quý báu của người Việt Nam ở trong và ngoài nước.

Lê Thu



Chàng thủ khoa đại học Bách Khoa Đà Nẵng 2008 là học sinh Đại Lộc

Cao lớn, đẹp trai và chững chạc - đó là hình ảnh chàng lớp trưởng lớp 12A7 trường Huỳnh Ngọc Huệ (huyện Đại Lộc – Quảng Nam) Hoàng Trung -  tân thủ khoa ĐH Bách khoa Đà Nẵng, với số điểm 30,5: Toán 10, Vật lý 10, Hóa học 9,5, và 1 điểm ưu tiên miền núi.

Hoàng Trung và gia đình

Huỳnh Ngọc Huệ đồng thủ khoa ĐHBK Đà Nẵng với Trung là thí sinh Nguyễn Bá Kiên cũng 30,5 điểm, trong đó có 1 điểm cộng.

PV Tiền phong tìm đến nhà Hoàng Trung tại thôn Bầu Tròn (Đại An, Đại Lộc). Trung vui vẻ: “Cậu em ở Đà Nẵng gọi điện cho cả nhà từ tối qua, nói có học sinh ở trường Huỳnh Ngọc Huệ đạt điểm thủ khoa, cả đêm em ngủ không được, người cứ nôn nao thế nào ấy. Chỉ mong trời sáng để lên mạng xem điểm”.

Sự kiện Trung đậu thủ khoa làm cả nhà vô cùng hạnh phúc. Anh Hoàng Như Ánh đang công tác ở Đà Nẵng quyết định xin nghỉ làm một ngày để về chia vui với con.

Chị Đỗ Thị Kim Hồng - mẹ Trung tâm sự: “Sáng nay, nhiều bạn học cùng lớp với em nó cũng biết điểm thi cả rồi. Hầu hết đều điểm cao như mọi năm”.

Giải thích cho cái thắc mắc “như mọi năm” mà tôi chưa hiểu, Hoàng Trung vui vẻ: “Lớp 12A7 trường em có truyền thống đậu đại học ở tỉnh Quảng Nam đấy. Năm nào cũng trên 90%, có năm 100%”. Chị Hồng cho biết thêm, nhóm bạn của Trung cùng lớp 12A7 trong thôn Bầu Tròn như em Thảo, em An... đều có điểm trên 26.

Trung tâm sự: “Ngay từ lớp 10, bọn em phải trải qua kỳ thi tuyển vào lớp 12A7. Thi 3 môn Toán, Lý, Hóa, ai trên 20 điểm mới được vào học. Ba năm liền em là lớp trưởng nên lại phải cố nhiều hơn, không thì quê lắm”.

Chàng tân thủ khoa bật mí phương pháp học được xem là “cổ điển” nhất từ trước đến nay: Đi từ cơ bản đến phức tạp. Trung nói: “Em rất mê bóng đá và cờ vua, càng đam mê, em càng khám phá ra rằng, bóng đá hay cờ vua thì cũng phải có cơ bản vững chắc rồi mới nâng cao trình độ được. Từ đó, em nghĩ việc học cũng thế thôi, không vội vàng hấp tấp”.

Năm lớp 9, Trung từng đạt huy chương Bạc môn cờ Vua tỉnh Quảng Nam, khi lên học PTTH, Trung vẫn “siêu” trong tất cả các môn học, đặc biệt là môn Toán. Trung đạt giải khuyến khích cuộc thi Toán năm lớp 10 và giải ba năm lớp 12 cuộc thi toàn tỉnh Quảng Nam.

Trung còn là một cán bộ Đoàn năng nổ trong các phong trào. Thầy Huỳnh Văn Tân – Hiệu trưởng trường PTTH Huỳnh Ngọc Huệ đang đi công tác ở TP HCM, hồ hởi qua điện thoại: “Tôi rất vui vì từ hôm nay, trường Huỳnh Ngọc Huệ đã có thủ khoa đầu tiên. Học sinh thế hệ sau cần phải nhìn tấm gương đó để phấn đấu”.  

Theo TPO


Cựu học sinh và VK họp mặt hàng năm

Sáng nay, ngày 01-5-2008 Tại Hội trường Trường Phổ thông Trung học Huỳnh Ngọc Huệ, huyện Đại Lộc đã tổ chức họp mặt định kỳ theo thống nhất chung. Tham dự cuộc họp mặt gồm Thầy giáo VĩnhThông, Thầy Nguyễn Thiều và hơn 25 cựu học sinh của 3 khối lớp A,C,D khóa 1977-1980, đặc biệt năm nay Thầy Nguyễn Văn Lơ đã đến dự và có lời phát biểu nặng tình cảm thầy trò, anh em.

Mở đầu chương trình, Thầy Thiều thay mặt sự ủy nhiệm quỹ ủng hộ gia đình thầy Phan Đình Cưỡng của cựu học sinh chủ trì bàn bạc phương thức sử dụng quỹ, đã đi đến thống nhất mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng thương mại để thuận lợi cho việc tiếp tục huy động thêm đóng góp đồng thời ủy nhiệm chi cho hai cụ thân sinh thầy Cưỡng sử dụng số tiền này. Trong cuộc họp mặt này, ý tưởng về việc tổ chức kỷ niệm 30 năm ngày ra trường (năm 2010) và phát triển diễn đàn o­nline của khối lớp được lưu tâm.

Như thông lệ, tiếp theo là phần sinh hoạt tiệc trà thân mật, chia sẽ tình cảm bạn bè, thăm hỏi sức khoẻ, công việc, tặng quà lưu niệm

Quảng Nam: Huyện Đại Lộc thu hút nhiều nhà đầu tư vào các cụm công nghiệp

Qua 4 năm triển khai đề án phát triển công nghiệp địa phương, huyện Đại Lộc (tỉnh Quảng Nam) được xem là một điểm sáng về thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước đến đầu tư với quy mô ngày càng lớn.

Hiện nay, huyện có 7 cụm công nghiệp (CCN) đã và đang được triển khai xây dựng gồm: Đại Hiệp, Đại Đồng, Mỹ An, Đại Nghĩa, Khu 5 thị trấn ái Nghĩa, Đồng Mặn, Đại Tân. Nhiều doanh nghiệp đầu tư xây dựng và đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, giải quyết việc làm cho một lượng lớn lao động tại địa phương. Theo ông Nguyễn Văn Trúc, Phó Chủ tịch UBND huyện Đại Lộc, kiêm Trưởng ban quản lý các CCN của huyện: Hiện nay, Đại Lộc đang xúc tiến kêu gọi, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào một số lĩnh vực như: xây dựng và kinh doanh khu du lịch cao cấp, khu vui chơi giải trí; đầu tư xây dựng và kinh doanh khu đô thị mới; các dự án thuộc lĩnh vực tài chính ngân hàng; dự án sản xuất và kinh doanh thuộc các ngành công nghiệp, chế biến nông sản, cơ khí, điện tử, công nghiệp sạch và có kỹ thuật công nghệ cao và đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng các CCN và hạ tầng kinh tế xã hội khác...

Nhiều nhà đầu tư đến với Đại Lộc bởi nơi đây nằm trên trục hành lang kinh tế Đông - Tây, đặc biệt có tuyến đường Hồ Chí Minh chạy ngang qua quốc lộ 14B nối liền Đại Lộc với các tỉnh Tây Nguyên thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và thông thương hàng hoá qua các cửa khẩu quốc gia như: Bờ Y (Kom Tum), Đắc Ốc (huyện Nam Giang, Quảng Nam). Huyện Đại Lộc còn cách sân bay Chu Lai, cảng Kỳ Hà, khu kinh tế mở Chu Lai gần 120 km về phía Nam và cách thành phố Đà Nẵng khoảng 40 km. Bên cạnh đó, Đại Lộc có nhiều tiềm năng phát triển ngành nông nghiệp và có nhiều tài nguyên khoáng sản như: vàng, felspat (tràng thạch) đá xây dựng, đá sa thạch, cao lanh, đất sét, than đá, đá vôi, mica, uran…. Với những kết quả đã đạt được trong thời gian qua, Đại Lộc đang dần khẳng định và phấn đấu vươn lên trở thành huyện công nghiệp của tỉnh Quảng Nam vào năm 2015./.

(Nguồn: TTXVN)

Học Bổng Quảng Nam.

*HUY PHƯƠNG


Một người đã sống một cuộc đời khắc khổ, đạm bạc pha đôi chút cô đơn, lúc ra đi bình thản, lặng lẽ nhưng đã để lại cho đời một kho tàng âm nhạc vĩ đại, vĩ đại không ở chỗ nhiều người nghe, nhiều người thuộc như các tác giả thời danh khác, mà ở ông tấm lòng của một người lưu lạc, luôn luôn tin tưởng vào đất nước một ngày mai. Nơi ông, suốt đời và nhất là những năm cuối cùng, hai chữ Việt Nam luôn luôn như một lời réo gọi chứa chan thương yêu ngọt ngào và đầy hy vọng.

 Nguyễn Văn Lợi (tên thật của ông) ra đời tại quận Đại Lộc, Quảng Nam năm 1937, đã lớn lên và trải qua thời thơ ấu trong Liên Khu Năm Nam Ngãi, những năm tháng chiến tranh và ông đã hiểu thế nào là một đời sống trong chế độ Cộng Sản nhất là với tuổi ấu thơ. Khi mảnh đất này được tự do, ông vào Saigon theo học trường Sư Phạm Nam Việt và trở thành một thầy giáo, chăm sóc đám trẻ thơ của đất nước. Bản chất của ông cũng như nghề nghiệp đã đào tạo Trầm Tử Thiêng thành một người nhân hậu nhưng thẳng thắn, cương quyết đi đến tận cùng, nếu cần để tranh đấu cho lẽ phải.

Những ca khúc đầu tay cũng như những sáng tác trong thời gian bị động viên: “Mưa Trên Poncho”.”Đêm Di Hành”, “Quân Trường Vang Tiếng Gọi” đã đưa ông từ quân trường về Phòng Văn nghệ, Cục Tâm Lý Chiến, nơi ông có thể đành tất cả thời gian cho việc sáng tác và sinh hoạt âm nhạc của ông. Tuy ở trong một môi trường mà những ca khúc của ông có thể phổ biến mạnh mẽ trên thị trường  để đem lại no ấm cho ông như các nhạc sĩ thời thượng vào lúc bấy giờ, Trầm Tử Thiêng đã chọn con đường đi của mình. Đó là Trầm Tử Thiêng, nhạc sĩ của thời đại với những nỗi buồn vui chung, không phải của riêng ai. “Đưa Em Vào Hạ”, “Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy”, “Hương Ca Vô Tận”, “Bài Vinh Thăng Cho Một Loài Chim”... là những ca khúc của một thời chinh chiến mà những người như Trầm Tử Thiêng đã sống và cảm nhận, trang trải với những âm thanh làm xúc động lòng người.

Nhạc của Trầm Tử Thiêng mang âm hưởng dân ca như những bài “Trộm Nhìn Nhau”, “Hương Ca Vô Tận”, “Đưa Em Vào Hạ”, “Cha Đàng Ngoài, Mẹ Đàng Trong”, và lời thì trau chuốt, ngọt ngào, trong nội dung, quê hương và tình yêu luôn luôn là những đề tài của nhạc ông. Vào thời bấy giờ, trong chiến tranh, nhạc ông đã có những ước mơ về hoà bình và những lời kêu gọi quên hận thù: “Ta gánh chung đau thương một trời, Nam Bắc ơi, yêu thương tình người”(Hoà Bình ơi! Việt Nam ơi!) hay:”Thù hằn anh em bỗng ngày mai, nhìn nhau gọi nhau thật đậm đà” (Kinh Khổ).

Năm 1990, Trầm Tử Thiêng được biệt phái trở lại ngành giáo dục và làm việc tại Trung Tâm Học Liệu, tại đây ông đã có cơ hội làm việc với các nhạc sĩ đàn anh như Hùng Lân, Lê Thương...và cho ra đời tuyển tập nhạc dành cho thiếu nhi “Hãy hát Lên Tuổi Thơ”.

Sau tháng 4 năm 1975, bản thân của Trầm Tử Thiêng hoà vào niềm đau chung của cả dân tộc, ông là một trong những người vượt biển, tù đày, bị lao động cưỡng bức trên nông trường. Đây là giai đoạn ông viết “ Tâm Ca Của Người Tù Vượt Biển”, “Hành Ca Trên Nông Trường Oan Nghiệt”, “Du Ca Trên Thành Phố Đỏ”...Bối cảnh những cuộc vượt biển, chia ly, chết chóc thể hiện trong: “Gởi Em Hành Lý”, “Người Ở Lại Đưa Đò. “Mẹ Hậu Giang”, “Trại Tỵ Nạn Galang”.

Mừơi năm sau biến cố điêu linh của đất nước, Trầm Tử Thiêng đến được bến bờ của Tự Do, “Mười Năm Yêu Em” mang ẩn dụ mười năm khao khát được thấy ánh sáng ý nghĩa của cuộc đời nhưng đồng thời cũng cùng với những đắng cay của nó. Trầm Tử Thiêng đã sống qua thời thơ ấu trong chiến tranh, lớn lên cùng chiến tranh và người nhạc sĩ này đã đi theo nhịp bước của những con người Việt Nam bình thường, khoác áo trận, ngã nghiêng vì vận nước, tù đày, xót xa cùng thân phận chung của những người vượt biển, bỏ nước ra đi.

Được đến bến bờ tự do dù là muộn màng, Trầm Tử Thiêng, người nghệ sĩ chân chính, không lo chuyện cơm áo mà thấy mình có bổn phận của con người nhớ đến con người. Trầm Tử Thiêng còn biết nhìn lại những trại cấm, đêm ngày đang vẳng tiếng kêu siết của những người đói tự do, đuổi người trở lại biển khơi hay trói người trả lại nơi khổ nhục mà nơi đó họ đã ra đi, trong chiến địch “cưỡng bức hồi hương” để viết nên “Nói Với Hồng Kông”, hay “Thà  Chết Nơi Này”. Người nhạc sĩ đã thoát ra từ nỗi khổ đau của riêng mình, để hoà nhập trải lòng ra với những nỗi khổ đau của con người, đó là lúc ông nghĩ đến những đồng bào đang “mắc cạn” trên những hòn đảo trong Thái Bình Dương, mà giấc mơ nhìn thấy ánh sáng tự do tàn phai cùng năm tháng. Tấm lòng của Trầm Tử Thiêng lại giạt dào : “Ta Hát Tình Thương Về Biển Đông”!

Trong thời gian định cư tại quận Cam, Trần Tử Thiêng đã tham gia nhiều sinh hoạt cộng đồng như thành lập Thư Viện Việt Nam với du Miên, Trần Đức Lập..., làm cố vấn cho Tổng Hội Sinh Viên VN tại Nam Cali, cũng như góp một bàn tay vào phong trào vận động các gia đình Việt Nam khuyến khích con em học Việt Ngữ. “Vang Vang Tình Việt Nam” là một bài hát mà Trung Tâm Việt Ngữ nào ở Nam Cali cũng biết tới, với câu “tiếng quê người hoà chung tiếng mẹ ru.”

Trầm Tử Thiêng đóng góp cho phong trào du ca không phải là ít, nhất là từ khi ra hải ngoại, tuy ông không muốn đứng trong phong trào du ca, nhưng ông vẫn sáng tác đều và tham gia hoạt động du ca nối dài là “hát cộng đồng”, rất được giới trẻ tham gia, phong trào rất được phổ biến vào cuối thập niên 90 tại Hoa kỳ, nhất là vùng California, với những nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu, Nhật Ngân, Nguyễn Đức Quang và Xuân Điềm về sau này.

Cho tới khi Trầm Tử Thiêng gặp được Trúc Hồ, con người sinh ra sau ông gần một thế hệ mà gần gũi như một người bạn tri kỷ. Cả hai cùng nhìn về những người bất hạnh hơn họ, nhìn về những đứa trẻ thơ thiếu may mắn hơn tuổi thơ của họ, sinh ra và lớn lên trong vòng rào kẽm gai của những trại tỵ nạn, không hề có tương lai. Xúc cảm, Trúc Hồ đã viết nên những dòng nhạc chan chứa yêu thương, và Trầm tử Thiêng đã diễn dạt bằng lời hát ngọt ngào, kêu gọi “Bên Em Đang Có Ta”. Đây không là một bản tình ca của một người, mà là bản tình ca nhân ái dành cho đồng loại. Cũng với tấm lòng đó, trước khi qua đời, Trầm Tử Thiêng muốn thành lập một “foundation” mang tên ca khúc “Bên Em Đang Có Ta” dành cho những em bé tỵ nạn đang còn bơ vơ trong các trại cấm. Ngày nay không còn những trẻ em sau hàng rào kẽm gai trong trại cấm tại các hòn đảo trên Thái Bình Dương, nhưng tại quê nhà vẫn còn nhiều trẻ em nghèo đói, thất học, lam lũ giữ chợ đời, trên đường phố để kiếm miếng cơm, thì quỹ “Bên Em Đang Có Ta” vẫn còn nghĩa vụ hướng về các em bé bất hạnh tại Việt Nam.

“Có Tin Vui Giữa Giờ Tuyệt Vọng” nói lên giai đoạn “cưỡng bách hồi hương” đã chấm dứt, khi đồng bào đã tìm được đất dung thân trên đất Phi, và đó cũng là lời tiên tri cho những năm tháng sau cùng, nhờ sự vận động của Luật sư Trịnh Hội và các tổ chức thiện nguyện ở hải ngoại tiếp tay cứu vớt họ đến bến bờ tự do.

Đánh dấu 20 năm bỏ nước ra đi của người Việt tỵ nạn, trung tâm Asia đã thực hiện chương trình “1975-1995” như một tác phẩm đánh dấu nỗi gian nguy, ghi nhớ những người đã khuất cũng như ngỏ lời cám ơn những bàn tay rộng lượng khắp năm châu đã dang tay đón nhận những người tỵ nạn. Đó là “Bước Chân Việt Nam”, do Trầm Tử Thiêng và Trúc Hồ viết chung, như một bản quốc ca cho những người Việt Nam thống khổ, lưu vong. Trong niềm tin tất yếu vào tương lai, người nghệ sĩ khẳng định về một ngày mai của đất nước, một ngày mai có tự do, dân chủ và nhân quyền, “Một Ngày Việt Nam” hợp soạn giữa hai nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng & Trúc Hồ chính là nỗi mơ ước ấy. Chính chúng ta, những người Việt lưu vong sẽ bước trở về theo nhịp bước đồng hành reo vui của “Một Ngày Việt Nam”như nỗi ước mơ của bao người, thế hệ này không thành thì hy vọng đến đời sau.

Về phương diện chính trị, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng có thái độ đứt khoát, như lời thổ lộ với bạn bè: “Sẽ về Việt Nam nhưng về với tư cách nào?”. Nhìn lại toàn bộ nhạc phẩm của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, chúng ta thấy con người của ông hình như sinh ra để sống và viết cho người khác hơn là cho cõi riêng tư của ông, và nếu có thì cõi riêng tư đó cũng mang niềm vui hay đau xót chung của cả dân tộc. Từ một bài hát từ quân trường của ngày nhập ngũ đến ca khúc bát ngát tấm lòng nhân ái đối với con người và đất nước, Trầm Tử Thiêng đã đi hết con đường trong gai góc của chiến tranh, tù đày, vượt biển và lưu vong, cho nên có thể nói toàn bộ nhạc phẩm của người nhạc sĩ này phản ánh đời sống và tâm trạng của một con người Việt Nam lưu vong.

Trầm Tử Thiêng ra đi vào ngày 25 tháng 1 năm 2000 sau một thời gian chữa bệnh nan y theo cách riêng của ông và đã chết vì kiệt lực khi mỗi ngày chỉ nhấp vài  giọt nước. Trước đó, năm 1972 Trầm Tử Thiêng đã viết bài “Tưởng Niệm” như một định mệnh. Ông viết bài “Hẹn Nhau Năm 2000”, nhưng đầu năm ấy, ông đã bỏ bạn bè ra đi quá sớm. Trong số những nhạc sĩ sáng tác có nhiều gắn bó với quê hương nhất thì Trầm Tử Thiêng là một tên tuổi sáng chói với rất nhiều nhạc phẩm đã đi vào lòng người từ trước năm 75 cho đến khi ông qua đời vào hồi 8 giờ 15 sáng ( giờ California ) ngày Thứ Ba 25 tháng 01 năm 2000 tại bệnh viện Anaheim West Medical Center, nam California thuộc thành phố nơi ông cư ngụ. Hồ sơ bệnh lý của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng ghi lý do đã đưa đến cái chết là bị ngộp thở do bệnh tim, sau khi được đưa vào bệnh viện vào ngày hôm trước. Ông ra đi không một lời trăn trối mặc dù có người cháu trai bên cạnh. Ông sống đời độc thân cho đến khi nhắm mắt, trong khi gia đình ông còn ở tại Việt Nam. 

Trầm Tử Thiêng chết không trẻ, giữa lúc ông đã đến tuổi 64, nhưng hình như nơi ông, chúng ta tìm thấy hình ảnh một ông thầy giáo khắc khổ, sống đạm bạc và cô đơn cho tới  lúc cuối đời, hơn là một người nghệ sĩ nổi tiếng hiện diện giữa đám đông hay dưới ánh đèn sân khấu. Trầm Tử Thiêng ít bộc lộ cuộc đời riêng của ông, những mối tình ít người biết cũng như cả bệnh tật ông mang vào những ngày cận tử. Nhưng dưới mắt bạn bè, Trầm Tử Thiêng là một người đạo đức nhân hậu, rộng rãi và thẳng thắn, tuy đôi khi nóng nảy. Anh cũng được tiếng là người  trọng nghĩa khinh tài.

Trầm Tử Thiêng ra đi là một niềm mất mát lớn, trong phạm vi nhỏ là với những trung tâm băng nhạc ông đã cộng tác, mà nhất là Asia, nơi mà Trầm Tử Thiêng và Trúc Hồ đã chung sức và tâm huyết viết nên những ca khúc để đời. Nếu mai sau, dất nước không còn Cộng Sản, không còn thù hận, đố kỵ giữa con người chung một quê hương, thì những bản nhạc của riêng ông hay viết chung với Trúc Hồ là những bản nhạc mang tính chất lịch sử, phải được đời sau nhắc nhở.

 Có thể nói, Trầm Tử Thiêng chết đi cho đến giờ này, bảy tám năm sau, cho tới giờ này, hải ngoại vẫn chưa ai có thể thay thế ông. Bảy năm, người bạn vong niên của ông, Trúc Hồ như mất nguồn cảm hứng, nếu không nói như Bá Nha đập vỡ cây đàn khi Tử Kỳ không còn nữa, đó là điều mà người đời gọi là tri âm, tri kỷ.

Ông không còn sống để chờ những “tin vui giữa giờ tuyệt vọng”, nhưng ông đã trao lại cho thế hệ trẻ tuổi niềm tin vào một buổi sáng bình minh của đất nước, để chúng ta có thể trở về như lời tiên tri của ông:“người về một giờ một đông hơn !”trong bài “Kinh Khổ”.

                                                                 See all 34 videos   Nhạc audio   Nhạc phẩm 

Huy Phương 04-2007

Hãy ngăn chận để cứu môi trường trước khi rừng Trường Sơn-Đại Lộc bị khai quang gây lũ lụt thảm khốc

Lao Động Cuối tuần số 23 Ngày 08/06/2008 Cập nhật: 12:12 AM, 08/06/2008
Ảnh 1
(LĐCT) - "Phong trào phá rừng" khai thác gỗ lậu ở tỉnh Quảng Nam diễn ra rất nóng bỏng, và đặc biệt nóng ở dọc tuyến đường Hồ Chí Minh (HCM) ngang qua các huyện núi Đông Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Đại Lộc.

PV đã thâm nhập các điểm nóng, ghi lại những "hoạt động thường xuyên" của lâm tặc.

Những cánh rừng già nguyên sinh đại ngàn Trường Sơn dọc tuyến đường HCM qua Nam Giang đầy gỗ lớn quý hiếm bị tàn sát không thương tiếc (ảnh 1). Lâm tặc dùng trâu kéo gỗ trên đường HCM đoạn giáp ranh Đông Giang-Nam Giang, khi gặp PV thì vội vã chặt dây đuổi trâu bỏ chạy (ảnh 3).

Những "lâm tặc nhí" cũng được huy động chuyển gỗ lậu (ảnh 4). Từ đường HCM, gỗ lậu được kết bè ngang nhiên về xuôi theo đường sông lớn Vu Gia-Thu Bồn (ảnh 2). Còn đây là công nghệ "máng kéo gỗ lậu" từ bờ sông lên các xưởng cưa xẻ gỗ lậu dày đặc dọc sông thuộc huyện Đại Lộc (ảnh 5).

Huyện này nằm ngay bên dưới đường HCM, được ghi nhận "cả huyện là một cái chợ gỗ lậu", với hàng trăm xưởng cưa gỗ lậu. Hàng chục mét khối gỗ lậu được nguỵ trang cất giấu dưới mương, sau đồi trong một xưởng cưa xẻ gỗ lậu núp bóng Cty TNHH Hoàng Ty tại Đại Lộc giáp ranh huyện Nam Giang (ảnh 6).

Ảnh 2

Ảnh 3

Ảnh 4

Ảnh 5

Ảnh 6

Trương Tâm Thư


Dự án thành lập trường Cao Đẳng Đại Lộc

Hiện nay tại huyện Đại Lộc có gần 200.000 dân nhưng không có trường dạy sau cấp trung học, các em học sinh học xong không có phương tiện ra Đà Nẵng trọ học thì coi như bao nhiêu công trình học hành trở nên lãng phí vì không có nghề nghiệp chuyên môn, nhiều em thất nghiệp suốt đời hoặc đi làm nông, chạy xe ôm, tương lai tăm tội

Nhằm giúp các em có cơ hội học tiếp nghề chuyên môn, một nhóm người có thiện chí muốn mở một trường cao đẳng dạy nghề chuyên môn ngắn và dài hạn, các chuyên khoa như canh nông, chăn nuôi, kỹ thuật điện, điện tử, cơ khí, hàn xì, mộc và lâm nghiệp, sinh ngữ, quản trị xí nghiệp, tiếp thị, ca nhạc và sáng tác, võ thuật và y dược cỗ truyền v.v... Rất mong quý vị hảo tâm hưởng ứng dự án hữu ích dài hạn nầy, các trường ở Canada và Mỹ sẵ sàng giúp đỡ cho trường cao đảng Đại Lộc nếu địa phương đứng ra thành lập, xin e-mail:
ngovantan@yahoo.com

Giải thưởng sáng tác ca khúc Đại Lộc

Trong mục tiêu ca ngợi thắng cảnh quê hương và con ngýời nhân hậu, giản dị, chất phác, cần cù Đại Lộc, thi sĩ Tân Văn từ Canada sẽ ủng hộ 3 giải thưởng sáng tác âm nhạc chủ đề Đại Lộc

Điều kiện: Mỗi tác giả được tham gia không hạn chế số ca khúc

Những tác phẩm phải là mới sáng tác bởi chính người dự thi, chưa hề công bố trên bất cứ phương tiện truyền thông nào bất cứ nơi nào trên thế giới.Tác phẩm phải có đầy đủ hai phần nhạc và lời tiếng Việt, có kèm CD tham khảo càng tốt.

Những công dân Đại Lộc, những ai có quê hưõng Đại Lộc hiện cý ngụ trên bất cứ nõi nào trong hoặc ngoài nýớc kể cả các nhạc sĩ chuyên nghiệp hoặc không chuyên nghiệp

Giải Thưởng:

Giải danh dự: 2.000.000$VN

Giải ưu hạng: 1.000.000$VN

Giải thượng hạng: 500.000$VN

Những bản nhạc trúng giải sẽ được công bố trong và ngoài nước, tác giả được giữ bản quyền và nhận tác quyền khi được xử dụng. Xin liên lạc với ngovantan@yahoo.com

 
Đại Lộc Quê Mình,  tác giả Trần Ái Nghĩa

Liên hoan tiếng hát Nữ công nhân viên chức ngành Giáo dục
14:17 19/03/2008

dsc07567.jpgChào mừng kỷ niệm 98 năm ngày quốc tế phụ nữ 8/3 (8/3/1910 - 8/3/2008) và 1968 năm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Ngày 7/3/2008 Công đoàn ngành Giáo dục huyện Đại Lộc tổ chức Liên hoan tiếng hát nữ công nhân viên chức - năm 2008 tại Trung tâm văn hoá huyện, với 61 đơn vị trường học từ cấp học Mầm non, Tiểu học đến THCS trong toàn huyện tham gia, 61 tiết mục văn nghệ đủ các thể loại, được dàn dựng và tập luyện công phu đã mang đến cho ngày hội liên hoan một không khí ấm cúng vui vẻ và đầy ắp niềm vui.

dsc07484.jpg

            Tại buổi Liên hoan Đ/c Phạm Quang Phú - Chủ tịch Công đoàn ngành cũng đã phát biểu chúc mừng, ghi nhận những đóng góp đáng kể của chị em phụ nữ ngành Giáo dục trong năm qua và động viện nữ tích cực học tập, lao động, sáng tạo, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ hạnh phúc, tham gia ngày càng nhiều hoạt động góp phần nâng cao chất lượng hoạt động nữ công năm 2008.

Vũ Huyền

Tham Quê Em Ðại Lộc(thơ phổ nhạc slow boston)

Anh dến thăm quê hương em Ðại Lộc

Cao ngất Truờng Sơn, trùng trùng điệp điệp

Dòng sông Vu Gia bên lỡ bên bồi

Anh ngắt tặng em cành hoa thiên lý

Nối tình ngàn dặm bằng nụ hôn môi

Ðồng cỏ xanh tươi mục đồng thổi sáo

Bên đồi sim tím hẹn thề trăm năm

Ta dắt nhau di trên cầu Ái Nghĩa

Cùng đến Suối Mơ, róc rách Suối Tho

Bên nầy Khe Tân, Bằng Am, Ðại Lãnh

Bên kia Bàu Voi, Quảng Huế ân tình

Sông nuớc giao duyên thành dòng Giao Thủy

Suởi ấm cõi lòng suối nóng Thái Son

Thơm ngát Nam Trân, ngọt ngào Tố Nữ

Hoa thắm khoe màu, chào đón giai nhân

Ðại Lộc quê hương nguời em sầu mộng

Mới đến một lần lòng đã vấn vương

Tân Văn

(Nam Trân = trái bòn bon, đuợc vua Gia Long ban cho tên dó vì lúc chạy giặc dói phải an trái nầy dể sống sót, Tố Nữ= mít uớc rất ngon ngọt của Ðại Lộc, những chữ viết hoa là dia danh)

Tân Văn





 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận Xem thảo luận (tổng cộng: 1)


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Thủ tướng Hun Sen buộc CSVN xin lỗi nếu không muốn bị trừng phạt vì tuyên bố Covid lan từ Campuchia thay vì từ TQ [NEW]
Đã tìm ra sự thật nguyên nhân tại sao Lý Tiểu Long tử vong lúc vừa tròn 38 tuổi [NEW]
Vụ cô gái quỳ gối trong shop quần áo: Đồng hương thủ tướng PMC đình quá nghèo, đông con!
Huỳnh Thục Vy ‘bình an đón nhận’ tin thi hành án tù vì tội 'xúc phạm Quốc kỳ'
Trung thành mù quáng: Việt Nam liên tục phát hiện các ca tử vong sau khi tiêm vắc-xin ngừa COVID-19TQ
Hoa hậu Việt Nam đồng hương Phạm Minh Chính biểu diễn đàn T'rưng Diệt MỸ giúp TQ bị đánh rớt
Bí thư huyện hiếp dâm ở Quảng Ninh gốc Hoa đảng viên gương mẫu chỉ bị khai trừ khỏi đảng
TQ là tác giả của Corona virus nhưng cả thế giới khiếp sợ bị trừng phạt nên không dám tố đích danh
Nhân viên Trung Quốc bị tố trộm bí mật vắc-xin Covid-19 của Pfizer
Phong trào cán bộ CS tự tử gia tăng
Chính phủ CSVN triều cống nô lệ Việt làm lao nô tại Serbia để TQ bóc lột tận xưởng tủy
Thanh Hóa quê hương Phạm Minh Chính, cái nôi cách mạng trung thành với TQ được chích Vaccine Tàu nhiều người tử vong
Vãn chuyện bọ trưởng công an gốc ba tàu ăn thị bò dát vàng
NPH được TQ che chở làm sỉ nhục và thách thức chính quyền CSVN chửi cả báo chi CS câm mồm không dám phản ứng
1

     Đọc nhiều nhất 
Động thái mới của bà Phương Hằng sau khi Phi Nhung qua đời - Phi Nhung bị ám hại đầu độc không phải chết do Covid lây lan thông thường [Đã đọc: 479 lần]
Trồng cỏ muôn năm: Ngôi nhà trồng đầy cần sa của ký giả từ quê hương Bác được giấu kín bởi vỏ bọc hoa hồng [Đã đọc: 417 lần]
Cảnh sát biển Việt Nam toàn buôn lậu tay sai cua TQ [Đã đọc: 377 lần]
Cuộc đối đầu Đài Loan – Đại lục trong mối duyên nợ tay ba: Đài Loan – Trung Quốc – Nhật Bản [Đã đọc: 350 lần]
Nổ tại viện nghiên cứu quốc phòng hàng đầu Trung Quốc khi đang thí nghiệm hỏa tiển bằn sang Mỹ, 2 người chết [Đã đọc: 344 lần]
Sau khi Phi Nhung bị ám hại bà Phương Hằng vẫn chưa hã giận gọi hồn ca sĩ lên mắng nhiếc [Đã đọc: 331 lần]
VN hụt cơ hội trờ thành cường quốc Hải Quân: 2 hàng không mẫu hạm của HQ Mỹ giá 1 xu mỗi chiếc [Đã đọc: 301 lần]
Chiến lược Covid của Trung Quốc tại VN thành công nhờ TT Chính giúp đảo ngược thế cờ mang các công ty Tây Phương trở lại TQ [Đã đọc: 300 lần]
Việt Nam: Dân tộc nói ngọng nhất thế giới! [Đã đọc: 280 lần]
Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn chia sẻ kỷ niệm về Paris By Night [Đã đọc: 266 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.