Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Một 2022
T2T3T4T5T6T7CN
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31            
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 11
 Lượt truy cập: 20199869

 
Tin tức - Sự kiện 27.01.2022 09:59
Vịnh Bắc Bộ đã sáp nhập TQ
02.01.2009 17:14

VỊNH BẮC BỘ ĐÃ THUỘC TOÀN QUYỀN KIỂM SOÁT CỦA TRUNG CỘNG!

Ngày 30.06.2004, Đảng CSVN đã thêm một lần nữa ra tay ký kết nhượng đất biển tổ tiên cho Trung Cộng bằng văn kiện “Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ” (HĐPĐ). Cũng như công hàm bán nước của tên Phạm Văn Đồng vào năm 1958, nội dung rõ ràng của văn kiện “HĐPĐ” thì trong lúc đương thời đã không có một người dân Việt Nam nào được biết tới. Tất cả chỉ là những ngụy từ “rất phấn khởi” trên báo chí, trang mạng của Đảng CSVN : bình đẳng cùng có lợi, không can thiệp, cùng tồn tại, hai bên, của nhau, đàm phán, pháp lý v.v

Vịnh Bắc Bộ trước "HĐPĐ"




Sau "HĐPĐ". Vịnh Bắc Bộ với vũng ngư trường chung Trung-Việt (phần bao bọc theo dấu mũi tên màu xanh). Một kết qủa rõ ràng chứng minh cho hành vi bán nước dâng biển của Đảng CSVN! Theo ranh giới màu đỏ, A là phần Việt Nam. B là phần Trung Cộng. Nhập nhằng và Trung Cộng đã hoàn toàn chiếm hữu Vịnh Bắc Bộ! Một đường biên giới trên biển đầu tiên đã hình thành. Máu lệ của bọn Cộng Sản dành cho dân Việt!




Trải qua hơn bốn năm sau ngày ký kết "HĐPĐ”, có những lợi ích gì không cho phía Vịêt Nam? Có gì không?

-Không! chỉ toàn là chuyện đau thương. Bắt đầu là sự kiện 9 ngư dân Thanh Hóa thiệt mạng đầu tiên cho hành vi bán nước dâng biển của Đảng CSVN! Ngày 08.01.2005 ngư dân Thanh Hóa đang đánh bắt cá trên vùng biển Bắc Bộ bị tàu tuần tra Trung Cộng nã súng giết hại dã man, 9 người thiệt mạng tại chỗ, 8 người bị bắt giữ với tội danh “cướp biển” phải chịu nhục hình bên Trung Cộng. Tất cả là ngư dân xã Hòa Lộc, Thanh Hóa. Chết mất xác!
Vong linh của 9 ngư dân Thanh Hóa có lẽ không biết mình phải tội tình gì. Họ cũng không ngờ rằng lãnh hải của tổ tiên mà vào lúc họ nhắm mắt là đã thuộc về Trung Cộng!


Vì "lợi ích chung" của ngư trường, Trung Cộng ra lệnh truy quét tất cả các ngư thuyền vào khu vực!



Tin tức bắt giữ tàu đánh cá Việt Nam "xâm phạm" ngư trường Trung Cộng đăng tải thường xuyên. Bắt giữ và áp giải tàu bè ngư dân Việt Nam có sự tham gia của biên phòng Việt Nam!










Tuần tra ngày đêm và sẵn sàng nổ súng!









Vịnh Bắc Bộ”! tên gọi này giờ đây chỉ còn là kỷ niệm của 4000 năm văn hiến!
Vâng, “Vịnh Bắc Bộ” kể từ sau ngày Đảng CSVN hiến dâng cho Trung Cộng đã nghiễm nhiên thuộc về Trung Cộng bằng tên gọi “Vịnh Bắc Bộ-Trung Quốc” hoặc là “Vịnh Bắc Bộ-Quảng Tây” trên các phương tiện truyền thông thế giới. Và càng đau lòng hơn, phía Việt Nam khi gọi tên Vịnh Bắc Bộ cũng kèm theo hai chữ Trung Quốc hoặc Quảng Tây!
Hãy tham khảo sang vài link dẫn ngay đây về cách gọi tên Vịnh Bắc Bộ và bài tuyên truyền ca ngợi “Vịnh Bắc Bộ-Quảng Tây” của Đảng CSVN.

Viện Nghiên Cứu Trung Quốc ca ngợi “Vịnh Bắc Bộ-Quảng Tây”:
http://vnics.org.vn/Default.aspx?ctl=Article&aID=55

Thư mời tham dự Hội chợ Thủy sản Vịnh Bắc Bộ-Trung Quốc:
http://www.vasep.com.vn/xttm/2008/vbb.html


Bắc Bộ là một phương vị xác định trên mặt địa lý. Bắc Bộ ở đây là Bắc Bộ của Việt Nam! Sự khai thác tiềm năng của Vịnh Bắc Bộ qúa lớn, mà sau khi ký kết “HĐPĐ” với Việt Nam, tên khổng lồ Trung Cộng ngây ngất như chạm vào núi vàng ròng. Hắn để nguyên tên gọi phiên ngữ sang tiếng Hoa là “BeiBuWan” (Bắc Bộ Loan: Vịnh Bắc Bộ) hoặc “Beibu Gulf” và tung hoành giao dịch, khai thác. Việt Nam chỉ được tính là một trong mười nước đồng minh trong kế hoạch phát triển Vịnh Bắc Bộ của Trung Cộng. Ngày 23.07.2007 trong cuộc “Hội thảo Nghiên cứu Chiến lược Phát triển Vịnh Bắc Bộ” tổ chức tại Bắc Kinh, Ủy viên Bộ Chính Trị Trung Ương ĐCS Trung Cộng là Giả Khánh Lâm đã phát biểu:

"Sự phát triển của Vịnh Bắc Bộ là thiết yếu cho toàn bộ sự phát triển của khu Tự trị Quảng Tây, sự ổn định của biên giới phía Nam và cho đoàn kết quốc gia".

“Vịnh Bắc Bộ” từ sau ngày ký kết “HĐPĐ” với Việt Nam đã không ngừng mang lại lợi ích kinh tế dồi dào cho Trung Cộng: “Vịnh Bắc Bộ là một trong “Tứ đại ngư trường”; “Vịnh Bắc Bộ” trong đặc khu kinh tế Quảng Tây là chiến lược quốc gia; Năm 2007, cục Du lịch Quốc Gia Trung Cộng đặt ra “Kế hoạch Phát triển Du lịch Vịnh Bắc Bộ”; “Vịnh Bắc Bộ” là đặc khu tăng trưởng kinh tế trọng điểm; “Chiến lược Phát triển Vịnh Bắc Bộ-Quảng Tây 2006-2020” đã đặt Vịnh Bắc Bộ là khu tăng trưởng kinh tế hàng thứ 4 (sau các khu kinh tế đặt ra từ trước là Võ Hán ở Trung Bộ, Thẩm Dương ở Đông Bắc, Thành Đô-Trùng Khánh ở Tây Bộ); Năm 2008 thành lập Ngân hàng “Vịnh Bắc Bộ” nhằm thực hiện cho kế hoạch Siêu Cảng và Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 (2011-2015); Ngày 30.07.2008, Hội nghị Quốc tế Phát triển Vịnh Bắc Bộ diễn ra tại Quảng Tây, Việt Nam tham dự với tư cách là khách mời trong khối ASEAN; “Vịnh Bắc Bộ” là một thương hiệu hấp dẫn khách hàng trong và ngoài Trung Cộng, đến nỗi từ giữa năm 2007 đã xảy ra tình trạng tranh nhau đăng ký thương hiệu “Vịnh Bắc Bộ” như một hiện tượng kinh tế…

Hội nghị quốc tế cho đề tài hợp tác với Vịnh Bắc Bộ tại Quảng Tây ngày 30.07.2008







Để cảm nhận rõ hơn sự vĩ đại của nền kinh tế Vịnh Bắc Bộ, có thể tham khảo qua vài trang mạng Trung Cộng chuyên về hoạt động của Vịnh Bắc Bộ:

http://www.bbwnews.com.cn/
http://www.beibuwan.cn/
http://www.bgoec.com/
http://www.bbwdm.cn/ 
http://www.bbwxxw.com/  
http://www.gx.xinhuanet.com/topic/fecbg/
http://www.bbwce.cn/
http://www.jobbw.com/ 


Bên cạnh đó, thông tin từ nội địa Việt Nam chỉ toàn là ca ngợi cho Vịnh Bắc Bộ-Quảng Tây, ca ngợi cho “HĐPĐ” là một giải pháp công bằng, cho dù đã mất đi 12.000km vuông trên biển, cho dù ngư dân Việt Nam không ngừng bị bách hại khi vòng kim cô từ ngoài biển đang càng thắt chặt! Biển Đông ở vị trí chung với Việt Nam không còn là khu vực tranh chấp đối với Trung Quốc. Một đối thủ đáng sợ nhất đã bị loại trừ! Bản đồ kinh tế Trung Cộng ghi rõ, bao trùm toàn phần hải dương Việt Nam là “Khu vực Hợp tác Kinh tế Vịnh Bắc Bộ”.


Khu vực Hợp tác Kinh tế Vịnh Bắc Bộ trong chiến lược "Nam Tiến" phát triển kinh tế Trung Cộng.




Thằng đàn anh ăn nên làm ra như thế, nhưng thằng đàn em không thấy hé môi một tiếng gì về thành qủa có lợi ích thật sự cho quốc gia sau khi ký kết “HĐPĐ”! Có chăng là vài tin báo bão đang vào Vịnh Bắc Bộ! Buồn buồn như mọi năm, như ngàn năm nô lệ!

Thế mà chúng vẫn cười! Bọn bán nước! Từ thằng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến thằng Phó TT Hoàng Trung Hải trong chuyến thăm Vịnh Bắc Bộ-Quảng Tây năm 2008. Lịch sử Việt Nam sẽ lưu tên truyền thống mãi quốc cầu vinh hào hùng của Đảng CSVN!

Nguyễn Tấn Dũng tại Quảng Tây 2008




Hoàng Trung Hải tại Quảng Tây 2008. Chuyến khảo sát Vịnh Bắc Bộ "với hy vọng có thêm sự hợp tác của Trung Quốc cho các miền duyên hải"




Trở lại tên gọi “Vịnh Bắc Bộ”, Trung Cộng lập luận rằng: “Vịnh Bắc Bộ” là tên gọi do người Trung Quốc đặt ra. Người Việt Nam gọi là “Vịnh Đông Kinh” (TonKinWan). Tên gọi “Vịnh Bắc Bộ” là nhằm chỉ vùng vịnh nằm ở phía Bắc biển Nam Trung Quốc” (!). Đây là một cách giải thích thô bỉ nhưng Đảng CSVN vẫn chỉ cười và nín lặng. Giải thích theo lối “khảo cổ” thì gần đây trên mạng sina của Trung Cộng có dẫn ra một bài phân tích về qúa trình biến động biên cảnh Trung-Việt. Theo đó, vùng biển Vịnh Bắc Bộ và miền duyên hải Việt Nam kéo dài xuống tận Nha Trang là thuộc về Trung Cộng từ đời Tây Hán nên Trung Cộng phải bằng mọi giá chiếm hữu trở lại như đã từng chiếm Lão Sơn và những vùng rừng núi ở Bắc Việt!

Vịnh Bắc Bộ và Duyên hải Việt Nam là của Trung Cộng!




Nói như thế nào thì cái họa mất nước đang diễn ra thành sự thật. Hãy nhìn những khuôn mặt xôi thịt của bọn CSVN. Chúng không có Quốc Gia! Chúng đang phục vụ cho Quốc tế Cộng Sản hàng chục năm nay. Một phường ăn cắp, lưu manh, đĩ điếm đang làm nhục đất Việt từng ngày!

Hãy nhìn thêm những hình ảnh dưới đây. Ngày 15.08.2008, nhân dịp đoàn văn công Việt Nam sang biểu diễn tại thành phố Đông Hưng-Quảng Tây, trên trang “Báo Vịnh Bắc Bộ” của tỉnh Quảng Tây đã lên hình ảnh với lời chú thích “tộc người Kinh từ Tam Đảo sang biểu diễn văn nghệ”.

京族三岛风情美
(Nét thơ mộng của tộc người Kinh Tam Đảo)





tham khảo ngay tại đây:
http://www.bbwnews.com.cn/html/20081115/53808.shtml


Đấy, từ hai chữ Việt Nam dần dà được gọi như cách gọi tên của dân tộc thiểu số! Vào năm nào sẽ chính thức mang tên “Khu tự trị Giao Chỉ”? Sẽ lại có báo đài ca ngợi là “một giải pháp công bằng”, “phù hợp với quan điểm lịch sử” chăng?

NGÀN ĐỜI DÂN VIỆT ĐẢ ĐẢO CỘNG SẢN VN
Chân Mây
http://blog.ifrance.com/thanhuu/post/684820-vinh-bac-bo-da-thuoc-quyen-trung-cong
http://vnics.org.vn/Default.aspx?ctl=Article&aID=55

Vịnh Bắc-Việt: Công-ước 1887, ý-nghĩa và hiệu-lực. (phần 2)

Trương Nhân Tuấn

Việc chính-phủ Trung-Hoa kéo dài đường đỏ xuống phía Nam, ghi sai vị-trí địa lý Hoàng-Sa với Hải-Nam và bờ biển An-Nam, rút ngắn khoảng-cách giữa quần-đảo này với Hải-Nam và cho nó vào trong hải-phận của tỉnh Quảng-Ðông để nhằm dành quần-đảo Hoàng-Sa, đồng-hóa Tonkin với Indochine... đã cho thấy chủ-ý của Trung-Hoa trong vấn-đề giải-quyết tranh-chấp lãnh-thổ.

Mặt khác, người ta cũng nhớ lại, những năm phân-giới giữa Bắc-Việt và Trung-Hoa 1889-1897, đã trình-bày trong phần trước. Người Hoa đã không ngần-ngại ngụy-tạo những bằng-chứng để lừa người Pháp và dành đất của Việt-Nam. Núi Phân-Mao giả, đền thờ Mã-Viện giả, sông Ðổ-Chú giả là những thí dụ. Hay là tìm trong lịch-sử Việt-Nam, bộ Kiến-Văn Tiểu Lục của Lê Quí Ðôn, người Hoa nhiều lần lấy một cái tên của địa-phương nào đó thuộc Trung-Hoa để đặt cho một vùng đất của Việt-Nam, sau đó họ hô-hoán rằng người Việt lấn đất rồi đem quân sang chiếm lại. Hoàng-Sa và Trường-Sa cũng nằm trong cùng một âm-mưu. Người Hoa cũng thường có những luận-cứ khác người, thí-dụ, “đường thẳng” đối với họ là một đường từ Bắc xuống Nam hay từ Ðông sang Tây (trục tung và trục hoành) còn đường nghiêng (oblique) thì không phải là đường thẳng. Thí-dụ khác, chiều dài con sông thì chỉ tính bắt đầu lúc con sông chảy ở trên đồng bằng, đoạn sông chảy trên núi thì không tính[1]. Với những luận-cứ nầy họ nhì-nhằng kéo dài việc phân-giới, mục-đích chiếm lấy đất của Việt-Nam. Vì vậy quan-niệm kéo dài « đường đỏ », bất-chấp thực-tế lịch-sử, để dành đảo Hoàng-Sa của Việt-Nam cũng là một trong nhiều quan-niệm khác người. Ðiều lạ là quan-niệm phi-lý nầy vẫn còn được tồn-tại cho đến hôm nay. Nhiều sách, báo, hay tài-liệu chính-thức của Trung-Hoa vẫn còn dựa trên luận-cứ này để dành Hoàng-Sa và Trường-Sa về họ.

Yếu-tố mà chúng ta ghi-nhận nơi công-văn trên là Trung-Hoa đã nghiễm-nhiên công-nhận phần lãnh-thổ phía cực Nam của Trung-Hoa là quần-đảo Hoàng-Sa.

4/ Ý-nghĩa pháp-lý của « đường đỏ »:

Madame Monique Chemillier-Gendreau [2], trong quyển La Souveraineté Sur Les Archipels Paracels et Spratleys, trang 80-83, có trình-bày một số quan-điểm pháp-lý về Công-Ước 1887 nhân việc chính-phủ Trung-Hoa diễn-giải tùy-tiện « đường đỏ » của công ước này để dành chủ-quyền trên quần-đảo Hoàng-Sa. Xin tóm-lược như sau:

« Mục-tiêu của Công-Ước 1887 nhằm phân-định biên-giới giữa Trung-Hoa và Tonkin, như tên mà công-ước đã được đặt và công-ước này liên-quan đến biên-giới trên đất liền. Nếu những định-nghĩa về một đường vạch ở trên biển đã được các công-ước ngày xưa sử-dụng, như là Công-Ước Pháp-Trung 1887 hay Công-ƯớcPháp-Bồ (Portugal) 1886[3],thì những định-nghĩa này chỉ có thể được đưa vàonhững cuộc thương-lượng kim-thời để phân-định lãnh-hải như là những yếu-tố hướng-dẫn, chúng phải được xét lại tùy theo luật-lệ về phân-định lãnh-hải hiện-hành.Những vùng biển mà tại đó những quốc-gia có thể tuyên-bố chủ-quyền đó là lãnh-hải (lãnh-địa hải-phận - mer territoriale). Chiều rộng thông thường của lãnh-hải là 3 hải-lý (1 hải-lý=1,8 Km). Ở một số quốc-gia lãnh-hải này lên tới 6 hải-lý. Những khái-niệm về vùng “tiếp-cận” (zone contigue), vùng đánh cá, thềm lục-địa... chỉ mới hiện-hữu sau thế-thiến thứ hai.Biên-giới phân-định (theo Công-Ước 1887) là biên-giới giữa Tonkin và Trung-Hoa. Nó chỉ liên-hệ đến phần đất này của Việt-Nam mà Pháp gọi là Tonkin mà thôi.Sự diễn-giải nội-dung của công-ước chắc-chắn phải nhắm đến việc phân-chia các đảo cận bờ của hai quốc-gia. Mục-tiêu của công-ước là phân-định lãnh-thổ trên đất liền, nhưng nó cũng có một phụ-chú nhằm vào việc xác-định các hòn đảo gần đó. Vì lo-ngại văn-từ không thể ghi ra hết, bởi có rất nhiều đảo rất nhỏ, người ta có thể bỏ quên một vài đảo ra ngoài vùng phân-định. Ðể hiệu-quả và đơn giản, đường kinh-tuyến được đưa vào. Kết-quả đã thấy thật rõ-ràng. Hơn nữa, nếu vì một lý-do thời-tiết hay vì sự lắn-đọng của phù-sa, một đảo hay một cù-lao mới rất có thể được thành-hình. Chủ-quyền của đảo này sẽ chiếu theo văn-bản mà thi-hành. Ðây là ý-nghĩa của công-ước 1887 và nó không có một hàm ý nào khác nữa.Có một điều rất quan-trọng để xác-quyết cho sự diễn-giải nầy. Ðể ý ta thấy “đường đỏ” có một điểm khởi-hành chính-xác: “đường thẳng Bắc-Nam đi qua đông-điểm của đảo Trà-Cổ” nhưng nó không có điểm chấm dứt. Ðây không phải là một sự tình-cờ hay một sự bỏ quên. Ðường thẳng nầy không cần phải chấm dứt ở một điểm. Chiều dài hữu-dụng của nó tùy-thuộc vào sự hiện-hữu của các đảo ven bờ.Làm sao người ta có thể nghĩ rằng các tác-giả của công-ước dự-trù về hiệu-quả pháp-lý của con đường này cho đến khi nó gặp bờ biển Trung-Việt? Vì ảnh-hưởng của văn-bản mà tất-cả những đảo ven bờ ở phía Nam của Huế sẽ thuộc về Trung-Hoa... Nhưng dầu vậy, một số tác-giả Trung-Hoa đã không ngần-ngại bênh-vực lý-lẽ đó để dựa lên công-ước dành quần-đảo Trường-Sa (Spratleys). Trung-Hoa đã xác-nhận chủ-quyền của họ trên căn-bản mở rộng ra vô-tận về phía Nam và Tây-Nam. Người ta có quyền đặt câu hỏi tại sao Trung-Hoa chỉ dành các đảo san-hô này? Vì dựa lên sự nhượng quyền của Pháp, Trung-Hoa có thể mở rộng bờ-cõi dài ra đến sự phi-lý, đòi hỏi chủ-quyền tại Phi-Luật-Tân, thí-dụ vậy. Các đảo nàykhông phảiở về phía Ðông của đường kinh-tuyến đó sao? Tuy-nhiên, khi mà sự diễn-giải tiến đến sự phi-lý thì phương-pháp giải-quyết phải chiếu theo Công-Ước Vienne, đồng-thời kiểm-soát lại xem trong lúc dự-thảo (công-ước 1887) đã có sự phủ-nhận hay xác-nhận nào đó liên-quan đến vấn-đề này. »Nhận-xét trên đây của Bà M. Chemillier-Gendreau, « đường đỏ » là đường phân-chia các đảo ven bờ. Hiệu-lực của « đường đỏ » chỉ giới-hạn trong Vịnh Bắc-Việt và kéo dài cho đến nơi nào còn đảo trong Vịnh. Chiều dài « đường đỏ » theo ý-kiến này vì thế là từ đông-điểm của đảo Trà-Cổ cho đến vùng gần đảo Cồn Cỏ, tức chấm dứt trước vĩ-tuyến 17. Về ý-nghĩađường chia hải-giới của « đường đỏ », Bà M. Chemillier-Gendreau có đưa ra án-lệ 14 tháng 2 năm 1985 giữa Cộng-Hòa Guinée và nước Guinée-Bissau. Theo Công-Ước giữa Pháp và Bồ-Ðào-Nha (Portugal) 12 tháng 5 năm 1886, xác-định một đường vòng để phân-biệt các đảo thuộc Pháp với các đảo thuộc Bồ. Nước Cộng-hòa Guinée cho đây là đường phân-định lãnh-hải. Nhưng tòa-án đã bác bỏ lý-lẻ này vì cho rằng Công-Ước 1886 chỉ có mục-tiêu phân-định biên-giới trên đất liền.Công-Ước 1887 phân-định biên-giới giữa Trung-Hoa và Tonkin, Convention Relative à la Délimitaton de la Frontière entre la Chine et le Tonkin, « frontière, biên-gới » ở đây ngoài ý-nghĩa biên-giới trên đất liền, « frontière, biên-giới » còn có ý-nghĩa phân-chia vùng biển. Nội-dung công-ước, tức gồm các biên-bản và bản-đồ đính kèm, đã xác-định rõ-rệt: phân-định biên-giới trên đất liền và biên-giới trong vịnh Bắc-Việt. Thật vậy, Công-Ước ghi rõ đường kinh-tuyến « formant la frontière », làm thành đường biên-giới. Nếu danh-từ« biên-giới, frontière » dùng trong bản văn chỉ có nghĩa phân-chia các đảo thì câu « formant la frontière » trong văn-bản hoàn-toàn dư. Nếu bỏ câu này thì ý-nghĩa của việc phân-chia các đảo vẫn không thay đổi: “Les îles qui sont à l’est du méridien de Paris 105° 43’ de longitude est, c’est-à dire de la ligne nord-sud passant par la pointe orientale de l’île de Tch’a-Kou ou Ouan-chan (Tra-Co) sont également attribués à la Chine. Les îles Go-tho et les autres îles qui sont à l’ouest de ce méridien appartiennent à l’Annam. Những đảo ở về phía Ðông của kinh-tuyến Paris kinh-độ Ðông, có nghĩa là đường Bắc-Nam đi qua đông-điểm của đảo Trà-Cổ thì thuộc về Trung-Hoa. Những đảo Go-Tho và những đảo khác ở về phía Tây của đường kinh-tuyến nầy thì thuộc về An-Nam ». Vì thế ý-nghĩa của « frontière, biên-giới » ở đây phải có một ý-nghĩa khác với việc để xác-định chủ-quyền các đảo. Ý-nghĩa khác đó chỉ có thể là ý-nghĩa của một đường biên-giới trên biển ở trong vịnh Bắc-Việt, Golf du Tonkin. Ðể bổ-túc vào việc xác-quyết vấn-đề, theo đề-nghị của Bà M. Chemillier-Gendreau, chúng ta phải khảo-cứu lại các dự-thảo của Công-Ước, tức biên-bản bế-mạc công-trình phân-định biên-giới. Có hai bản dự-thảo, một của Pháp (xem hình trong phần phụ-lục) và một của Trung-Hoa, hiện đang tồn-trữ tại Centre des Archives d’Outre-Mer (CAOM), Aix-En-Provence, Pháp-Quốc, carton có mã-số GGI, INDO, 65355. Cả hai đều không có ghi câu văn liên-quan đến đường kinh-tuyến cũng như việc phân chia các đảo. Trong bản dự-thảo công-ước của ông Constans, ngày 16 tháng 6 năm 1887, gởi về bộ Ngoại-Giao, nguyên-văn không có đoạn « formant la frontière ». Ðoạn văn « formant la frontière » đã được bộ Ngoại-Giao Pháp sửa-chữa và bổ-túc thêm vào sau đó chuyển sang cho Constans để ký-kết. Ðiều nên biết, ông Constans ký-kết với Trung-Hoa, ngoài công-ước phân-định biên-giới, còn có thêm công-ước bổ-túc cho hiệp-ước thương-mại năm 1885. Ðể đạt những ưu-điểm về thương-mại ông Constans đã nhượng cho Trung-Hoa những phần đất của Việt-Nam như tổng Tụ-Long (Hà-Giang), tổng Ðèo-Lương (Cao-Bằng), những xã thuộc hai tổng Kiến-Duyên và Bát-Tràng (Hải-Ninh) và nhất là vùng Pak-Lung (Bạch-Long) như đã viết trong các chương trước. Ðiều này đi ngược lại nội-dung điều 15 của hòa-ước Patenôtre 1884 : « La France s’engage désormais l’intégralité des Etats de Sa Majesté le Roi d’Annam … » Nước Pháp từ nay cam-kết sự toàn-vẹn lãnh-thổ của vua An-Nam…. Vì thế việc sửa-chữa và bổ-túc của bộ Ngoại-Giao Pháp phải có một mục-đích rõ-rệt. Theo tài-liệu Les Frontières du Tonkin của Dr Néis[4], đăng trong Le Tour Du Monde 1888 - ông là một nhân-viên trong phái-đoàn phân-định biên-giới 1886-1887 - có đưa ra một bản đồvùng tranh-chấp là mũi Bạch-Long (cap Packlung), trong đó ta thấy rõ-rệt đường kinh-tuyến và trên đó có ghi câu « frontère actuelle du Tonkin, biên-giới hiện nay của Bắc-Việt ».Nhưng chi-tiết quan-trọng hơn cả là bản-đồ đính-kèm biên-bản, là bản-đồ (hình 1) mà người viết đã tìm thấy tại Văn-Khố Hải-Ngoại của Pháp tại Aix-En-Provence (CAOM) năm 2002. Bản-đồ này được khám-phá ra sau khi quyển sách về Chủ-Quyền Hoàng-Sa và Trường-Sa của bà M. Chemillier-Gendreau được xuất-bản (1996). Bản-đồ có ghi-chú một câu quan-trọng : « Le méridien de Paris 105° 43’ qui passe par la pointe orientale de l’ile Tra-Co, forme la frontière à partir du point où s’est arrêté le traité de la convention. » Tạm dịch : Ðường kinh-tuyến Paris 105 độ 43 phút đi qua đông-điểm của đảo Trà-Cổ, làm thành đường biên-giới bắt đầu tại điểm mà điều-ước của Công-Ước chấm dứt. Một chi-tiết khác, không kém quan-trọng, đó là bản-đồ phân-định biên-giới mà người viết cũng tìm ra ở CAOM, là bản-đồ khu-vực từ sông Gia-Long đến-biển. Người viết chụp lại phần cực-đông, ta thấy đường biên-giới trên đất liền và đường biên-giới trên biển (kinh-tuyến 105° 43’) vẽ liên-tục và có chung màu đỏ (hình 4). Ðiều này cho chúng ta biết ý-định của những người trách-nhiệm phân-định lúc đó : Biên-giới trên biển đồng nghĩa với biên-giới trên đất liền. Việc này sẽ rõ-rệt hơn nếu chúng ta nhìn lại bối-cảnh địa-lý chiến-lược thời đó giữa hai đế quốc Anh và Pháp. Ðương-nhiên Pháp-quốc phải bảo-vệ vùng đất mới chinh-phục của họ sự dòm ngó của Anh ở cách đó không xa (HongKong). Cách bảo-vệ hay nhất là thành-lập một đường biên-giới trên biển trong vịnh Bắc-Việt. Ý-nghĩa của « đường đỏ » vì vậy là đường biên-giới trên biển, nối tiếp với đường biên-giới trên đất liền.Vì thế ta khẳng-định rằng Công-Ước 1887 cũng có mục tiêu phân-định lãnh-hải trong vịnh Bắc-Việt. Các học-giả đồng-ý về vai trò « phân-chia đảo » của « đường đỏ » cho rằng, quan-niệm về quyền chủ-quyền trên biển chỉ mới có vào thế-kỷ 20, theo công-ước 1982 về Biển, lãnh-hải của mỗi nước được xác-định không quá 12 hải-lý. Ðiều 3 công-ước 1982 như sau : « Largeur de la mer territoriale : Tout Etat a le droit de fixer la largeur de sa mer territoriale, cette largeur ne dépasse pas 12 milles marins mesurés à partir de lignes de base établies conformément à la Convention » « Mọi quốc-gia được quyền xác-định bề rộng lãnh-hải nước mình nhưng không vượt quá 12 hải-lý tính từ đường cơ-bản đượcthiết-lập phù-hợp với tinh-thần của Công-Ước ».Nhưng trường-hợp ngoại-lệ, Vịnh Bắc-Việt là một vùng biển « historique », nó chỉ liên-quan đến hai quốc-gia: Trung-Hoa và Việt-Nam. Ðiều 15 của Công-Ước 1982 Luật về Biển như sau : Article 15 : « Délimitation de la mer territoriale entre Etats dont les côtes sont adjacentes ou se font face :Lorsque les côtes de deux Etats sont adjacentes ou se font face, ni l'un ni l'autre de ces Etats n'est en droit, sauf accord contraire entre eux, d'étendre sa mer territoriale au-delà de la ligne médiane dont tous les points sont équidistants des points les plus proches des lignes de base à partir desquelles est mesurée la largeur de la mer territoriale de chacun des deux Etats. Cette disposition ne s'applique cependant pas dans le cas où, en raison de l'existence de titres historiques ou d'autres circonstances spéciales, il est nécessaire de délimiter autrement la mer territoriale des deux Etats. » « Phân-định lãnh-hải giữa hai quốc-gia kế-cận hay đối-diện. Khi hai quốc-gia kế-cận hay đối-diện, không một quốc-gia nào được quyền mở rộng lãnh-hải quá đường trung-tuyến mà mọi điểm trên đây cách đều những điểm gần nhất của các đường cơ-bản, từ những đường này đo chiều rộng lãnh-hải mỗi nước, ngoại trừ có sự thoả-thuận riêng giữa hai nước. Ðiều-lệ này không áp-dụng trong trường-hợp có sự hiện-hữu những văn-kiện lịch-sử hay những trường-hợp đặc-biệt, việc phân-định lãnh-hải vì thế phải được thực-hiện bằng một cách khác. »Chúng ta thấy điều 15 đã dự-trù một ngoại-lệ. Ðó là trường-hợp những vùng biển đã có chủ, được xác-nhận qua một « titre de souveraineté » văn-kiện chứng-nhận chủ-quyền. Ðiều này cho phép ta kết-luận rằng luật quốc-tế về biển công-nhận sự hiện-hữu những văn-kiện liên-quan đến quyền chủ-quyền trong một vùng biển.Công-Ước 1887 là văn-kiện chứng-minh chủ-quyền của Việt-Nam và Trung-Hoa trong vịnh Bắc-Việt. Vịnh này được chia cắt bằng đường kinh-tuyến 105° 43’, mà trong bài nầy ta gọi là « đường đỏ ». Theo án-lệ 14 tháng 2 năm 1985 có nhắc ở trên và ghi-chú phía dưới, tòa-án bác-bỏ yêu-sách của nước Cộng-Hòa Guinée vì Công-Ước Pháp-Bồ chỉ nhằm mục-đích phân-định biên-giới trên đất liền. Công-ước Bắc-Kinh 1887 hoàn-toàn khác với nội-dung Công-Ước Pháp-Bồ 12 tháng 5 năm 1886 vì Công-Ước Bắc-Kinh 1887 có chủ-trương phân-định lãnh-hải trong vịnh Bắc-Bộ. Những tài-liệu của Dr Néis và nhất là bản-đồ đính-kèm công-ước 1887 đã xác-định một cách rõ-rệt mục-tiêu phân-chia hải-giới giữa Pháp và nhà Thanh vào thời đó. Án-lệ này cho thấy luật quốc-tế công-nhận những văn-kiện chứng-nhận chủ-quyền của một quốc-gia trên một vùng biển. Yêu-sách của nước Cộng-Hòa Guinée bị bác bỏ là vì không chứng-minh được sự hiện-hữu của một văn-kiện nhìn-nhận chủ-quyền của nước này tại vùng biển có tranh-chấp. Nếu Việt-Nam đưa ra tòa-án quốc-tế để giải-quyết thì trường-hợp Việt-Nam tại vùng Vịnh Bắc-Việt sẽ tương-tự như trường-hợp Cộng-Hòa Guinée, chỉ khác một điều cơ-bản : Việt-Nam chứng-minh được sự hiện-hữu của một văn-kiện-lịch-sử phân-chia hải-giới trong vùng biển tranh-chấp còn Cộng-Hòa Guinée thì không. Ðường kinh-tuyến 105° 43’ kinh-độ Ðông Paris, tức 108° 3’ 18’’ kinh-độ Ðông Greewich, vì thế vừa là đường phân-định lãnh-hải, vừa là đường phân-chia vùng tiếp-cận, vùng kinh-tế độc-quyền và thềm lục-địa giữa hai nước Trung-Hoa và Việt-Nam trong Vịnh Bắc-Việt. Ðường này bắt đầu từ Ðông-Ðiểm đảo Trà-Cổ và chấm dứt tại điểm mà nó cắt đường nối cửa Vịnh (từ mũi Oanh-Ca thuộc đảo Hải-Nam đến đảo Cồn Cỏ).


[1] Ðọc Lettre du Commandant Chiniac de Labastide, Président de la Commission d’abornement des frontières sino-annamites, à Monsieur le Gouverneur Général de l’Indochine. Au sujet des travaux de l’abornement. Ðọc thêm Lettre du Commandant Chiniac de Labastide, Président de la Commission d’abornement des frontières sino-annamites, à Monsieur le Gouverneur Général de l’Indochine. Objet: Inconvénients et dangers de la frontière admise entre Kalong et Bac-Cuong-Ai par la Commission française de délimitation. Phần Biên-Giới Quảng-Ðông.

[2] M. Chemillier-Gendreau, Giáo-Sư các ngành Khoa-Học Chính-Trị và Công-Pháp tại trường Ðại-Học Paris VII, tác-giả quyển La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys, nxb Harmattan 1996.

[3]Một trường-hợp tương-tự: Án-lệ 14 tháng 2 năm 1985 giữa Cộng-Hòa Guinée và Guinée-Bissau. Công-ước 12-5-1886 Pháp-Bồ bị đặt vấn-đề. Công-Ước nầy có vẽ một đường vòng trênbiển để phân-biệt những đảo thuộc Pháp với những đảo thuộc Bồ-Ðào-Nha. Nước Cộng-Hòa Guinée cho rằng đường nầy có giá-trị như là một đuờng biên-giới trên biển. Tòa-án không chấp-nhận vì công-ước 1886 chỉ quan-hệ đến biên-giới trên đất liền.

[4] Paul-Marie Neis sinh ngày

Vài ý-kiến về biên-giới Việt-Trung

 

Trương Nhân Tuấn

 



Không ai được phép nhân nhượng chủ quyền ngoại trừ VC!

"Việt Nam đã hy sinh hàng triệu người, cũng là để bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước. Không có lý do gì, không ai được phép và không ai có quyền nhân nhượng về đất đai". Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng, Trưởng đoàn đàm phán biên giới trả lời VnExpress.net.
> Việt Nam - Trung Quốc hoàn thành phân giới cắm mốc biên giới

- Hơn 7 năm sau khi cắm cột mốc đầu tiên, Việt Nam - Trung Quốc đã hoàn thành việc phân giới cắm mốc 1.400 km biên giới. Trong cuộc đàm phán cuối cùng (28-31/12), vấn đề mấu chốt còn lại giữa hai bên là gì?

- Trong những ngày đàm phán cuối cùng, hai bên tập trung bàn thảo hai khu vực còn tồn tại, đó là khu vực thác Bản Giốc (Cao Bằng) và cửa sông Bắc Luân (Quảng Ninh). Đây là hai khu vực nhạy cảm, chưa được phân định rõ ràng.

Khi ký hiệp ước năm 1999, các khu vực khác đều vẽ được đường biên giới chung, riêng hai khu vực này chỉ vẽ được đường chủ trương của hai bên, có nghĩa có hai đường chủ trương của Việt Nam và Trung Quốc. Do đó, đây là hai khu vực khó khăn nhất và được giải quyết vào phiên cuối cùng giữa hai Trưởng đoàn đàm phán.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Vũ Dũng. Ảnh: Việt Anh.

- Kết quả giải quyết tại 2 khu vực"nhạy cảm" này như thế nào, thưa ông?

- Tại thác Bản Giốc, hai bên đã thống nhất đường biên giới đi từ mốc 53 cũ (do Pháp - Thanh xây dựng). Thác Bản Giốc có hai phần, phần hoàn toàn về phía Việt Nam gọi là thác cao. Thác cao nhưng lại là thác phụ vì lượng nước không lớn. Thác thấp là thác chính sẽ chia đôi, mỗi bên được một nửa. Đương nhiên chỗ đó không cắm mốc, chỉ để nhận biết và quản lý.

Thỏa thuận thứ hai đạt được ở thác Bản Giốc là hai bên không xây dựng các công trình nhân tạo trong phạm vi hẹp khu vực thác để giữ nguyên cảnh quan, vì đây là một thác đẹp thác có thể khai thác du lịch.

Thỏa thuận thứ ba là hai bên sẽ cùng nhau nghiên cứu và hợp tác phát triển du lịch khu vực thác Bản Giốc. Nếu chúng ta hợp tác, phát triển khu du lịch có thể thu hút khách nội địa, khách Trung Quốc và các nước khác.

Hai bên còn hai cột mốc nữa ở thác Bản Giốc chưa cắm, đó là cột mốc trên thượng lưu ở mốc 53 mà tôi vừa đề cập và cột mốc ở ngay dưới chân thác. Hy vọng ngày 2/1 sẽ cắm cột mốc này.

Về vấn đề cửa sông Bắc Luân, hai bên đã đạt được thỏa thuận tạo được đường biên giới từ thượng lưu cho đến hạ lưu và đi ra điểm đầu của đường phân định Vịnh Bắc bộ.

- Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ luôn là nhiệm vụ hàng đầu trong đàm phán biên giới. Nhiệm vụ này đã được đoàn đàm phán Việt Nam thực hiện như thế nào?

- Vấn đề chủ quyền là hết sức thiêng liêng. Việt Nam đã trải qua mấy cuộc chiến tranh, hy sinh hàng triệu người, cũng là để bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước. Thế thì không có lý do gì, không ai được phép, không ai có quyền nhân nhượng về đất đai. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc của anh em trong đoàn đàm phán dưới sự chỉ đạo của lãnh đạo cấp cao và tôi.

- Vậy đường biên giới mà Việt Nam - Trung Quốc vừa hoàn thành phân định có gì khác so với đường biên giới thời Pháp?

Việc hoàn thành công tác phân giới cắm mốc Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa lịch sử trọng đại đối với quan hệ hai nước, tạo ra các cơ hội mới cho các địa phương biên giới quản lý biên giới, thúc đẩy giao lưu kinh tế thương mại du lịch. Bằng chứng cho thấy, ở nơi nào cắm mốc phân giới xong thì giao lưu kinh tế, thương mại, du lịch thuận tiện hơn rất nhiều. (Thứ trưởng Vũ Dũng)

- Đường biên giới do Pháp - Thanh xây dựng những năm cuối thế kỷ 19 là hệ thống cột mốc sơ sài, có cột mốc cách nhau 40 km. Vậy giữa 40 km như thế nào, nhất là đối với những người dân biên giới phần lớn là đồng bào dân tộc, có khi người Việt Nam lại sang ở phía bên kia, có khi người Trung Quốc canh tác sang đất mình.

Hướng đi của đường biên giới vừa đạt được cơ bản như đường biên giới thời Pháp - Thanh. Chúng ta đã có đường biên giới hoàn chỉnh, kéo dài từ Điện Biên, ngã ba biên giới Việt Nam – Lào - Trung Quốc, đến cửa sông Bắc Luân (Quảng Ninh) là hoàn chỉnh, khép kín. Nhân dân 7 tỉnh biên giới Việt Nam rất hài lòng.

- Trong hàng loạt vòng họp biên giới Việt - Trung, cuộc đàm phán nào gay go và khiến ông nhớ nhất?

- Bất kỳ cuộc đàm phán biên giới lãnh thổ nào đều hết sức khó khăn, có vòng họp kéo dài 23 ngày. Phiên họp kỷ lục kéo dài 31 giờ, tất cả thành viên đoàn đàm phán hai bên ăn tới ba bữa cơm hộp tại bàn đàm phán. Riêng năm 2008, đoàn đàm phán hai bên đã có 11 vòng họp. Cuộc họp ngày 31/12, sau 13 giờ họp, hai bên mới ký được biên bản.

Việt Anh thực hiện

Trương Nhân Tuấn

Nhân đọc bài phỏng-vấn Thứ-Trưởng bộ Ngoại-Giao Vũ Dũngtrên báo Nhân-Dân

Báo Nhân-Dân hôm 2 tháng 1 năm 2008 có đăng bài phỏng-vấn ông Vũ Dũng, Thứ-Trưởng bộ Ngoại-Giao kiêm Chủ-Nhiệm Ủy-Ban Biên-Giới Quốc-Gia nhân-dịp tỉnh Lào-Cai hoàn-thành công-tác phân-giới cắm-mốc trên thực-địa với tỉnh Vân-Nam, Trung Quốc. Toàn-bộ bài phỏng-vấn đăng ở http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=37&sub=50&article=112915 Tác-giả bài viết này có một số nhận-xét về bài phỏng vấn, phần liên-quan đến đường biên-giới, lần-lượt ghi lại theo thứ-tự các câu hỏi của phóng-viên báo Nhân-Dân như sau :

1/Hỏi: Xin ông cho biết ý nghĩa của việc hoàn thành phân giới cắm mốc (PGCM) biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc tại địa bàn tỉnh Lào Cai?

Trả lời: Với việc cắm cột mốc số 144 tuần qua, công tác PGCM trên tuyến biên giới của tỉnh Lào Cai của Việt Nam với tỉnh Vân Nam của Trung Quốc đã kết thúc thắng lợi…

Trương Nhân Tuấn

Người ta không thể nói việc cắm mốc khu-vực biên-giới này là thắng-lợi nếu người ta nắm rõ tình-hình biên-giới Việt-Trung. Việc cắm mốc được bắt đầu từ cuối năm 2001, tức đã 6 năm qua và đoạn biên-giới Lào-Cai là đoạn ngắn nhất, dễ cắm mốc nhất so với các tỉnh khác nhưCao-Bằng, Lạng-Sơn.

Biên-giới trên bộ giữa Việt-Nam và Trung-Quốc dài khoảng 1.400Km, đi qua các tỉnh thuộc Việt-Nam từ Đông sang Tây là Quảng-Ninh, Lạng-Sơn, Cao-Bằng, Hà-Giang, Lào-Cai và Lai-Châu. Hai tỉnh Lào-Cai và Quảng-Ninh có đường biên-giới ngắn hơn nhiều so với các tỉnh còn lại. Đặc-biệt đường biên-giới Lào-Cai với Vân-Nam hầu hết là biên-giới thiên-nhiên do sông, suối cấu thành. Vùng biên-giới Lào-Cai chỉ được xác-định vỏn-vẹn bằng 4 giới-điểm chiếu theo Hiệp-Ước Biên-Giới 20-12-1999 (HUBG), là các giới-điểm 6,7,8 và 9 (tức chỉ có 3 đoạn biên-giới trên tổng số 60 đoạn). Theo HUBG, nếu biên-giới theo sông hay suối thì không cắm mốc mà chỉ xác-định đường biên-giới qua đường trung-tuyến dòng chảy hay trung-tuyến luồng tàu bè qua lại và chủ-quyền các cồn, bãi nếu có trên sông hay suối. Như thế biên-giới Lao-Cai với Vân-Nam chỉ phải cắm mốc trên chiều dài vài ba chục ki-lô-mét. Điều đáng chú ý khác đoạn biên-giới Lào-Cai – Vân-Nam không có những tranh-chấp lãnh-thổ làm thay đổi đường biên-giới lịch-sử (tức đường biên-giới theo các công-ước Pháp-Thanh 1887 và 1895). Các đoạn biên-giới có tranh-chấp được thể-hiện qua HUBG ở các điểm « đường biên-giới theo đường đỏ », tức hai bên không đồng-ý bản-đồ của Nha Địa-Dư Pháp vẽ theo các công-ước 1887 và 1895 mà phải thuơng-lượng lại.

Phải 6 năm mới hoàn-tất được vài mươi cây-số khu-vực Lào-Cai cho thấy đây không phải là một « thắng-lợi lớn » như ông Vũ Dũng nói.

Nguyên-văn phần mô-tả đường biên-giới Lào-Cai theo HUBG sau đây (1), các chữ viết màu xanh là đoạn biên-giới phải cắm mốc.

2/ Hỏi: Xin ông cho biết thực trạng tình hình PGCM (tức phân giới, cắm mốc, chú thích của tác-giả) trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc và khả năng hoàn thành toàn bộ nhiệm vụ này trước tháng 6-2008?

Trả lời: Biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc dài khoảng 1.400 km. Hai bên thống nhất cắm khoảng 1.800 cột mốc, trong đó có 1.533 mốc chính và gần 300 mốc phụ.

Kể từ khi cắm mốc giới đầu tiên đến nay các lực lượng PGCM của hai nước Việt Nam - Trung Quốc đã hoàn thành hơn 85% khối lượng công việc PGCM trên thực địa… Ngoài Lào Cai, các tỉnh Lai Châu, Quảng Ninh cũng đã hoàn thành hơn 95% công việc, Nhóm PGCM số sáu thuộc tỉnh Hà Giang cũng vừa hoàn thành toàn bộ công việc trên thực địa… chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng rằng công tác PGCM trên tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc sẽ hoàn thành thắng lợi trong sáu tháng đầu năm 2008 như thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước

Trương Nhân Tuấn

Đường biên-giới tỉnh Quảng-Ninh, tương-tự như tỉnh Lào-Cai, là đường biên-giới ngắn so với các tỉnh khác và một phần là biên-giới thiên-nhiên do sông, suối cấu-tạo thành. Đường biên-giới này tương-ứng khoảng từ mốc-giới 56 đến mốc giới 61 của HUBG, tức chỉ có 5 đoạn biên-giới trên tổng-số 60 đoạn. Trong đó có một vùng tranh-chấp lãnh-thổ, ghi lại qua HUBG bằng câu « đường biên-giới theo đường đỏ », được viết bằng màu đỏ (2).

Đoạn màu đỏ tương-ứng trên thực-địa là vùng Trình-Tường. Tài-liệu của nhà-nước CSVN do Nhà Xuất-Bản Sự-Thật phát hành năm 1979 mang tựa đề « Vấn Đề Biên-Giới giữa Việt-Nam và Trung-Quốc » mô-tả lại nguyên-nhân và hậu-quả của tranh-chấp vùng Trình-Tường như sau :

« Lợi-dụng đặc-điểm là núi-sông hai nước ở nhiều nơi liền một dải, nhân-dân hai bên biên-giới vốn có quan-hệ họ-hàng, dân-tộc, phía Trung-Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh-thổ Việt-Nam để làm ruộng, làm nương, rồi định-cư những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng, nương, cuối cùng nhà cầm-quyền Trung-Quốc ngang-ngược coi những khu-vực đó là lãnh-thổ Trung-Quốc.

Khu-vực Trình-Tường thuộc tỉnh Quảng-Ninh là một thí-dụ điển-hình cho kiểu lấn-chiếm đó. Khu-vực này được các văn-bản và các bản-đồ hoạch-định và cắm mốc xác-định rõ-ràng là thuộc lãnh-thổ Việt-Nam: đường biên-giới lịch-sử tại đây đi qua một dải núi cao, chỉ rõ làng Trình-Tường và vùng chung-quanh là lãnh-thổ Việt-Nam. Trên thực-tế, trong bao nhiêu đời qua, những người dân Trình-Tường, những người dân Trung-Quốc sang quá-canh ở Trình-Tường đều đóng thuế cho nhà đương-cục Việt-Nam. Nhưng từ năm 1956, phía Trung-Quốc tìm cách nắm số dân sang làm ăn ở Trình-Tường bằng cách cung-cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường, vải, và nhiều hàng khác, đưa họ vào công-xã Ðồng-Tâm thuộc huyện Ðông-Hưng, khu tự-trị Choang - Quảng-Tây. Nhà đương-cục Trung-Quốc nghiễm-nhiên biến một vùng lãnh-thổ Việt-Nam, dài 6 km, sâu hơn 1.300 mthành sở-hữu tập-thể của một công-xã Trung-Quốc. Từ đó, họ đuổi những người Việt-Nam đã nhiều đời nay làm ăn sinh-sống ở Trình-Tường đi nơi khác, đặt đường dây điện-thoại, tự cho phép đi tuần-tra khu-vực này, đơn-phương sửa lại đường biên-gới sang đồi Khâu-Thúc của Việt-Nam. Tiếp đó họ đã gây ra rất nhiều vụ hành-hung, bắt cóc công-an vũ-trang Việt-Nam đi tuần-tra theo đường biên-giới lịch-sử và họ phá-hoại hoa-mầu của nhân-dân địa-phương ».

Theo biên-bản phân-giới cắm mốc ngày 21 tháng 12 năm 1893 của công-ước Pháp-Thanh 1887, biên-giới vùng Trình-Tường tương-ứng các cột mốc 30, 31, 32, được xác-định nguyên-văn như sau:

«La frontière suivra ensuite le cours de ce même affluent jusqu’à son intersection avec le ruisseau qui prend sa source à 500 mètres de 呈祥 (en annamite Trinh Tuong, en chinois Tcheng Siang) ; elle suivra ce ruisseau depuis cette intersection jusqu’à sa source ; de là, elle se dirigera par des lignes droites jusqu’à 北崗 (en annamite Bac Cuong Aï, en chinois Pé Kang Aï), passant par les sommets 675, 812 et 746 qui se trouvent au N.O. de Trinh Tuong.

Le village de Trinh Tuong appartient à l’Annam ; ceux de 衞慙 (en annamite Vệ Tàm, en chinois Shu Tsan) et de 矯曹(en annamite Kiểu-Tào, en chinois Kiao Tsao) à la Chine. »

Tạm dịch : « Ðường biên-giới sau đó theo dòng chảy của phụ-lưu nói trên cho tới giao điểm của phụ-lưu này với con suối mà nguồn của nó cách Trình-Tường 呈祥 (Tcheng-Siang) 500 m ; đường biên-giới theo dòng suối từ giao-điểm này cho tới nguồn của nó. Từ đây đường biên-giới là những đường thẳng nối cho tới Bắc-Cương Ải 北崗, đi ngang qua các đỉnh 675, 812 và 746 ở phía Tây-Bắc Trình-Tường.

Làng Trình-Tường thuộc về Việt-Nam ; các làng Vệ-Tàm 衞慙 ( Shu-Tan) và Kiểu-Tào 矯曹(Kiao Tsao) thì thuộc về Trung-Hoa. »

Nguyên-văn biên-bản cắm mốc các cột mốc chung-quanh vùng Trình-Tường như sau :

BORNE n° 30

à 60 mètres au S.E. du village de 那沙 (en annamite Na Sa, en chinois Na Cha).

Repérage (azimuths magnétiques)

Cote 32765°

Poste de Hoan Mô (côté Ouest)343°

BORNE COMMUNE n° 31

à 600 mètres à l’Est de 呈祥 (en annamite Trinh Tuong, en chinois Tcheng Siang).

Repérage (azimuths magnétiques)

Poste de Hoan Mô347°

Sommet du 東另嶺 (en annamite Đông Lánh Lãnh, en chinois Toung Linh Ling)

cote 763210°

BORNE COMMUNE n° 32

à 1160 mètres au N.N.O. du village de Trinh Tuong.

Repérage (azimuths magnétiques)

Sommet du Ðông-Lánh-Lãnh176°

Sommet du (en annamite Pha Lai Lanh, en chinois Pa Lai Ling)

cote 89573°

BORNE COMMUNE n° 33

au col situé entre les côtes 746 et 750 ; à 340 métres au S ; de la vallée de Bac Cuong Aï.

Biên-bản của công-ước Pháp-Thanh xác-định rõ rệt làng Trình-Tường thuộc về Việt-Nam cũng như các cột mốc xác-định vị-trí đường biên-giới. Nếu văn-bản này được đưa ra thì phía Trung-Quốc không có lý-do gì dành đất của Việt-Nam (nếu họ tôn-trọng công-ước 1887).

Đến nay tỉnh Quảng-Ninh đạt được 95% công việc. Chắc-chắn 5% còn lại là khúc xương khó nuốt tên Trình-Tường. Biên-giới vùng Trình-Tường đã được Ủy-Ban Phân-Giới do ông Galliéni vẽ bản-đồ (năm 1893) rất chính-xác. Bộ bản-đồ 1/50.000 của Sở Địa-Dư Đông-Dương cũng vẽ rất rõ-rệt vùng này. Việc khó-khăn chắc-chắn là do phía Trung-Quốc đã chiếm và cho dân đến sinh-sống từ nhiều thập niên (từ năm 1956). Biện-pháp nào giải quyết cho những người dân Hoa trên đất Việt này ? Phía Trung –Quốc thì luôn có luận-cứ : Nếu là đất Việt thì làm sao có dân Hoa được ? Và như vậy trên đường biên-giới có vài mươi trường-hợp tương-tự như vùng Trình-Tường.

Ông Vũ Dũng tin-tưởng các đội phân-giới – cắm mốc sẽ hoàn-tất vào tháng 6 năm này nhưng có lẽ đây là lời tiên-đoán lạc-quan, không thuyết-phục.

9e8f

Thác Bản Giôc [ảnh:Điếu cày]

3/ Hỏi: Một số mạng nước ngoài đưa tin thất thiệt rằng, Việt Nam bị mất đất. Ông có bình luận gì về ý kiến này?

Trả lời: Chủ quyền lãnh thổ là vấn đề hết sức thiêng liêng đối với bất kỳ quốc gia, dân tộc nào. Ðối với dân tộc Việt Nam thì chủ quyền lãnh thổ lại càng thiêng liêng cao cả. Dân tộc ta từ nghìn xưa đã chiến đấu, hy sinh để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Gần tám thập kỷ qua, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Bác Hồ kính yêu, đã đi qua những cuộc kháng chiến vô cùng gian khổ, chịu đựng những hy sinh, mất mát to lớn để giữ vững chủ quyền lãnh thổ của mảnh đất thân yêu này…

Chỉ có thể giải thích rằng những mạng này hoặc do thiếu thông tin hoặc cố tình làm sai lệch thông tin vì những ý đồ khác nhau.

90a7

Tòan cảnh thác Bản Giôc [ảnh:Điếu cày]

Trương Nhân Tuấn

Trước tiên là nhận-xét về cách đặt câu hỏi của phóng-viên báo Nhân-Dân. Chúng tôi cho rằng cách đặt câu hỏi như thế thật không đúng điệu, nếu không nói là vừa thiếu lương-tâm vừa vô trách nhiệm. Người cầm bút lương-thiện không ai đặt như thế. Ký-giả cho rằng « Một số mạng nước ngoài đưa tin thất thiệt rằng, Việt Nam bị mất đất ». Căn-cứ vào đâu ký-giả cho rằng người ta loan tin thất-thiệt ?

Vấn-đề mất đất đã quá rõ-ràng ở một số địa-điểm mà các bằng-chứng đến từ các cơ-quannhư bộ Ngoại-Giao, các viên-chức thẩm-quyền của nhà nước CSVN hay từ các tài-liệu phân-giới Pháp-Thanh 1885-1897, hiện đang tồn-trữ ở Văn-Khố Hải-Ngoại Pháp-Quốc (Centre des Archives d’Outre-Mer - CAOM) tại Aix-En-Provence. Nó đã là những sự thật hiển-nhiên, người viết sẽ trở lại ở dưới. Về biển cũng thế, trong Vịnh Bắc-Việt nhà-nước CSVN đã làm mất 11.000km² lãnh-hải Việt-Nam cho Trung-Quốc do hậu-quả hiệp-ước tháng 12 năm 2000. Số-phận quần-đảo Hoàng-Sa có thể sẽ vĩnh-viễn thuộc về Trung-Quốc nếu công-hàm 1958 của chủ-tịch Hồ Chí Minh (do thủ-tướng Phạm Văn Đồng ký) được một tòa-án quốc-tế công-nhận hiệu-quả của nó.

Ông Vũ Dũng cho rằng : « Chỉ có thể giải thích rằng những mạng này hoặc do thiếu thông tin hoặc cố tình làm sai lệch thông tin vì những ý đồ khác nhau ».

Đất đai, đường biên-giới lịch-sử (1887), đường biên-giới hiện nay (1999) vẫn còn nguyên-vẹn, một mặt trên giấy-tờ lịch-sử và pháp-lý, một mặt trên thực-địa. Nếu ông Vũ Dũng cho rằng những « mạng này » thiếu thông-tin thì phải cung-cấp thông-tin cho người ta. Không thể một mặt dấu thông-tin mặt khác cho rằng nguời ta thiếu thông-tin được. Làm thế là thiếu trách-nhiệm. Và cũng cần khẳng-định là không ai có « ý-đồ » nào trong vấn-đề lãnh-thổ, lãnh-hải quốc-gia ngoài « ý-đồ » yêu nước, muốn bảo-vệ lãnh-thổ. Ông Vũ Dũng sẽ gặp nhiều khó-khăn để bênh-vực hành-vi mà một bộ-phận lớn nhân-dân Việt-Nam cho là « bán nước nhượng biển » của chế-độ hiện-tại.

Riêng về ký-giả phỏng-vấn, thiển-nghĩ, xưa nay đã đi « dưới tấm chỉ đường của trí-tuệ », đã quen thói đi một bên lề đường, cây viết của họ là « cần câu cơm ». Vì thế cũng thông-cảm cho việc sai sót. Tuy nhiên, chuyện của đất nước là chuyện trọng-đại, khi khác nếu có viết thì nên cân-nhắc.

4/ Hỏi: Gần đây có nhiều dư luận khác nhau về việc phân định khu vực thác Bản Giốc và khu vực cửa khẩu Hữu Nghị, xin Thứ trưởng cho biết ý kiến về vấn đề này?

af69

Trên đồi phía bên kia sông Quây Sơn là các khách sạn của Tàu [ảnh:Điếu cày]

Trả lời: Như trên tôi đã nói, căn cứ quan trọng nhất để xây dựng Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc là các Công ước Pháp - Thanh năm 1887 và 1895. Do hạn chế của điều kiện lịch sử, các văn bản pháp lý về hoạch định và PGCM giữa Pháp và Nhà Thanh có những điểm quy định không rõ ràng. đường biên giới được vẽ trên bản đồ tỷ lệ lớn từ 1/20.000 đến 1/500.000, có nghĩa một mi-li-mét trên bản đồ tương đương với từ 20 m đến 500 m trên thực địa. Hơn nữa, địa hình trên bản đồ không hoàn toàn phù hợp với địa hình trên thực địa, nên rất khó xác định hướng đi của đường biên giới tại các khu vực này. Chính vì vậy tại các khu vực này đã xảy ra tranh chấp rất phức tạp và kéo dài.

Tại khu vực cửa khẩu Hữu Nghị, theo các văn bản pháp lý lịch sử, đường biên giới luôn nằm phía nam Ải Nam Quan. Trấn Nam Quan do Trung Quốc xây dựng vẫn thuộc Trung Quốc, chứ không phải đường biên giới đi qua Ải Nam Quan như một số người vẫn hiểu.

Thác Bản Giốc gồm hai phần: phần thác cao hoàn toàn thuộc Việt Nam, không có tranh chấp; phần thác thấp gắn liền với sông Quây Sơn. Theo Công ước Pháp - Thanh, đường biên giới đi giữa sông Quây Sơn đến thác và mốc 53 nằm phía trên thác đánh dấu sự chuyển hướng đường biên giới từ sông lên bờ. Hiện nay ta và Trung Quốc chưa PGCM đoạn biên giới khu vực này nhưng có thể khẳng định phần thác cao hoàn toàn thuộc Việt Nam, phần thác thấp sẽ được phân giới theo luật pháp và tập quán quốc tế về trung tuyến dòng chảy hoặc trung tuyến tàu thuyền đi lại được, hoàn toàn không có chuyện Việt Nam mất thác Bản Giốc như một số người nói. Hàng triệu lượt khách du lịch đến thác Bản Giốc đều biết rất rõ điều này.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, về tổng thể, các giải pháp đạt được trong việc giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền nói chung và đối với hai khu vực cụ thể nói trên là thỏa đáng, đáp ứng được lợi ích và nguyện vọng của cả hai bên.

Trương Nhân Tuấn

a/ Khu-vực Nam-Quan :

Ở trên ông Vũ Dũng đã cho rằng « các mạng » loan tin sai hoặc vì do thiếu thông-tin, hoặc vì do có « ý-đồ ». Nhưng đọc phần trả lời của ông Vũ Dũng về khu-vực Nam-Quan người ta không khỏi nghi-ngờ các « thông-tin » của ông. Ông Dũng thiếu thông-tin hay ông có « ý-đồ » ?

Với tư-cách Thứ-Trưởng bộ Ngoại-Giao kiêm Chủ-Nhiệm Ủy-Ban Biên-Giới Quốc-Gia, ông Dũng đương-nhiên thông-hiểu các vấn-đề liên-quan đến biên-giới hơn ai hết. Ông nói« Tại khu vực cửa khẩu Hữu Nghị, theo các văn bản pháp lý lịch sử, đường biên giới luôn nằm phía nam Ải Nam Quan ». Điều này không sai nhưng không ai nói như thế vì nó không có ý nghĩa gì hết. Đường biên-giới ở phía Nam của Nam-Quan, ta thấy Hà-Nội hay Sài-Gòn đều ở phía Nam của Nam-Quan, phải chăng đưòng biên-giới qua các nơi này ?

Thực sự đường biên-giới tại cổng Nam-Quan được xác-định ra sao theo các công-ước Pháp-Thanh ?

Biên-bản phân-định ký ngày 7 tháng 4 năm 1886 của hai phái-đoàn Pháp và nhà Thanh tại Đồng-Đăng như sau :

La Commission de Délimitation Franco-Chinoise a reconnu, le sept avril mil huit cent quatre-vingt-six, qu’à partir du point situé à cent mètres en avant de la Porte de Nam-Quan, sur la route de Nam-Quan à Ðồng-Ðăng, la frontière remonte à l’Ouest jusqu’au sommet de la montagne rocheuse sur lequel est situé le fort marqué A sur le croquis ci-joint, suit à partir de ce fort le haut de la muraille rocheuse qui domine la route de Ðồng-Ðăng jusqu’au point marqué B sur le croquis. Ce point B se trouve à l’endroit où le sentier qui, se détachant de la route de Ðồng-Ðăng à Nam-Quan, conduit au village de Lung-Ngieu, coupe la muraille rocheuse. Elle suit ensuite ce même chemin jusqu’au la Porte du village de Lung-Ngieu. A partir de cette Porte elle reprend le haut des rochers qui contournent le cirque du village de Lung-Ngieu pour arriver à un point marqué C. Du point C elle se dirige à l’Ouest jusqu’à la Porte de Kida.

….

Tạm dịch:

Biên-bản số 4.

Ủy-Ban Pháp-Hoa Phân-Ðịnh Biên-Giới nhìn-nhận, nhằm ngày bẩy tháng tư năm một ngàn tám trăm tám mươi sáu, bắt đầu từ một điểm được xác-định cách cổng Nam-Quan 100 thước trên đường từ Nam-Quan về Ðồng-Ðăng, đường biên-giới theo hướng Tây lên đến đỉnh ngọn núi đá mà trên đó có một đồn-binh được đánh dấu là điểm A theo sơ-đồ kèm theo đây, sau đó đường biên-giới từ điểm nầy theo đỉnh cao của bức tường núi đá nhìn xuống con đường Ðồng-Ðăng cho đến điểm B đánh dấu trên sơ-đồ. Ðiểm B là điểm mà đường mòn dẫn đến làng Lũng-Ngọ cắt bức tường núi đá - đường mòn nầy là một nhánh rẽ của con đường Ðồng-Ðăng đi Nam-Quan. Ðường biên-giới theo đường mòn nầy cho đến Cổng làng Lũng-Ngọ. Từ cổng nầy đường biên-giới đi lên đỉnh của rặng núi đá bọc quanh thung-lũng của làng Lũng-Ngọ để đi đến điểm C. Từ điểm C đường biên-giới đi về hướng Tây cho đến cửa Du.

Tài-liệu khác là biên-bản tổng-hợp ký-kết giữa đại-tá Galliéni và ông tri-phủ Long-Châu tên Thái Hy Bân ngày 19 tháng 6 năm 1894, cột mốc tại Nam-Quan được ghi-nhận như sau: Tên Nam-Quan, Mang số 18, cắm trên đường Nam-Quan về Ðồng-Ðăng, cách cổng Nam-Quan 100 mét. (A environ 100m en avant de la porte de Nam-Quan). Biên-bản tiếng Hán thì cột mốc số 18 mang tên Trấn Nam Quan Ngọai 鎭南關外 .

Như thế cột mốc tại Nam-Quan đã được xác-định một cách rõ-rệt trên hai biên-bản : biên-bản phân-định 7 tháng 4 năm 1886 và biên-bản phân-giới, cắm mốc ngày 19 tháng 6 năm 1894, ghi rõ tên và vị-trí cột mốc bằng 2 thứ tiếng (Pháp và Hoa). Mô-tả như thế không thể chính-xác hơn được nữa.

Vì thế « thông tin » của ông Dũng về « các văn-bản pháp-lý lịch-sử » nơi cửa Hữu-Nghị hoàn-toàn sai. Nhưng cái sai của ông Dũng có ý-đồ rõ rệt.

Thật vậy, tài-liệu của bộ Ngoại-Giao, nơi ông Vũ Dũng làm việc đến chức Thứ-Trưởng, công-bố năm 1979 qua nhà Xuất-Bản Sự-Thật, nói về Nam-Quan như sau :

Năm 1955, tại khu-vực Hữu-Nghị Quan, khi giúp Việt-Nam khôi-phục đoạn đường sắt từ biên-giới Việt-Trung đến Yên-Viên, gần Hà-Nội, lợi-dụng lòng tin của Việt-Nam, phía Trung-Quốc đã đặt điểm nối rayđường sắt Việt-Trung sâu trong lãnh-thổ Việt-Nam trên 300m so với đường biên-giới lịch-sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên-giớigiữa hai nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính-Phủ Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa đã đề-nghị chính-phủ hai nước giao cho ngành đường sắt hai bên điều-chỉnh lại điểm nối ray cho phù-hợp với đường biên-giới lịch-sử nhưng họ một-mực khước-từ bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn-bộ vấn-đề biên-giới thì sẽ xem-xét. Cho đến nay họ vẫn trắng-trợn ngụy-biện rằng khu-vực hơn 300m đường sắt đó là đất Trung-Quốc với lập-luận rằng “không thể có đường sắt nuớc này đặt trên lãnh-thổ nước khác”.

Cũng tại khu-vực này, phía Trung-Quốc đã ủi nát mốc biên-giới số 18 nằm cách cửa Nam-Quan 100m trên đường Quốc-Lộ để xóa vết-tích đường biên-giới lịch-sử, rồi đặt cột mốc ki-lô-mét 0 đường bộ sâu vào lãnh-thổ Việt-Nam trên 100m, coi đó là vị-trí đường quốc-giới giữa hai nước ở khu-vực này.

Như vậy, họ đã lấn-chiếm một khu-vực liên-hoàn từ đường sắt sang đường bộ thuộc xã Bảo-Lâm, huyện Văn-Lãng, tỉnh Lạng-Sơn của Việt-Nam, dài 3.100km (có lẽ ghi sai, m chứ không thể km, chú-thích của tác-giả) và vào sâu đất Việt-Nam 0,500 km. Năm 1975, tại khu-vực mốc 23 (xã Bảo-Lâm, huyện Văn-Lãng, tỉnh Lạng-Sơn), họ định diễn lại thủ-đoạn tương-tự khi hai bên phối hợp đặt ống dẫn dầu chạy qua biên-giới: phía Việt-Nam đề-nghị đặt điểm nối ống dẫn dầu đúng đường biên-giới, họ đã từ-chối, do đó bỏ dở công-trình này.

Như thế phía Việt-Nam nắm vững hoàn-toàn nội-dung công-ước Pháp-Thanh, phần liên-quan đến Nam-Quan.

Thực-tế là cột mốc mang số 18 cách cổng Nam-Quan 100m đã bị Trung-Quốc « ủi nát » và biên-giới tại đây đã lấn vô phía Việt-Nam trên 100m từ thời ông Hồ còn làm Chủ-Tịch nước.

Ông Dũng diễn-dịch đường biên-giới vùng Nam-Quan với ngôn-ngữ rất « ngoại-giao », rất chung chung, không nói chính-xác cột mốc tại Nam-Quan thời Pháp và nhà Thanh họ cắm tại đâu, cột mốc này sang thời chủ-tịch Hồ Chí Minh thì bị Trung-Quốc « ủi nát » và lấn đất ra sao. Ông Dũng nói thế không phải vì ông không biết mà vì ông không dám nói. Ông không nói thì mọi người cũng thông-cảm thôi. Vì nói ra thì để lộ cái tội không giữ được nước của Bác Hồ mà ông đã không hết lời ca ngợi : Gần tám thập kỷ qua, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Bác Hồ kính yêu, đã đi qua những cuộc kháng chiến vô cùng gian khổ, chịu đựng những hy sinh, mất mát to lớn để giữ vững chủ quyền lãnh thổ của mảnh đất thân yêu này…

Giữ thế nào mà lại viết công-hàm nhượng đảo 1958, ký hiệp-ước nhượng đất và biển năm 1999 và năm 2000 ?

b/ Thác Bản-Giốc :

Ông Vũ Dũng nói rằng : Thác Bản Giốc gồm hai phần: phần thác cao hoàn toàn thuộc Việt Nam, không có tranh chấp; phần thác thấp gắn liền với sông Quây Sơn. Theo Công ước Pháp - Thanh, đường biên giới đi giữa sông Quây Sơn đến thác và mốc 53 nằm phía trên thác đánh dấu sự chuyển hướng đường biên giới từ sông lên bờ.

Đây cũng là ngôn-ngữ « ngoại-giao », chỉ nói chung chung, hiểu sao cũng đúng. Con sông Qui-Xuân (Quây-Sơn) bắt nguồn từ Trung-Quốc, chảy vào Việt-Nam (qua Ải Lung, cột mốc 81), cắt một góc Đông-Bắc Cao-Bằng, và chảy vào lại Trung-Quốc (mốc 50, 51, 52). Phần trên hay phần dưới thác đều thuộc sông Qui-Xuân. Đoạn trên thuộc Việt-Nam, đoạn dưới sông (khoảng các cột mốc 50-51-52) con sông là đường biên-giới. Nhưng thác Bản-Giốc nằm ở đâu ?

Ông Dũng cho rằng thác gồm hai phần, phần trên và phần dưới, nhưng nói vậy là thiếu.

Chỉ nói về trường-hợp thác Bản-Giốc. Thác Bản-Giốc là một loại thác bậc thềm (có 3 bậc), cao khoảng 50m. Như thế thác Bản-Giốc (cũng như các thác nước khác) có 3 phần : phần trên (là sông), phần giữa (là thác), phần dưới (là sông). Phần giữa thác Bản-Giốc cao khoảng 50m. Ông Dũng nói thác có hai phần để khỏi cắt nghĩa lôi-thôi về phần giữa, tức phần quan-trọng nhất, cái thác thuộc về nước nào ?

Ký-giả phỏng-vấn rõ-ràng không có kiến-thức (thông-tin) về thác nước để đặt câu hỏi cụ-thể hơn.

Nhưng thực ra vị-trí thác Bản-Giốc trên sông Qui-Xuân (Quây-Sơn) không đơn-giản như ông Dũng mô-tả. Sự thật về thác Bản-Giốc như thế nào ? Thác này theo tài-liệu lịch-sử thì thuộc về ai ? Quí độc-giả có thể xem bài viết sau đây, có đầy đủ hình-ảnh, tài-liệu lịch-sử và pháp-lý : http://www.congdongnguoiviet.fr/TaiLieu/tlTimHieuChuQuyenBanGioc.htm

Trong bài viết này chúng tôi chỉ xin trưng ra tài-liệu của bộ Ngoại-Giao Việt-Nam công-bố năm 1979 nói về chủ-quyền thác Bản-Giốc.

« Năm 1955-1956, Việt-Nam đã nhờ Trung-Quốc in lại bản-đồ nước Việt-Nam tỉ-lệ 1/100.000. Lợi-dụng lòng tin của Việt-Nam, họ đã sửa ký-hiệu một số đoạn đường biên-giới dịch về phía Việt-Nam, biến vùng đất của Việt-Nam thành của Trung-Quốc. Thí-dụ: họ đã sửa ký-hiệu ở khu-vực thác Bản-Giốc (mốc 53) thuộc tỉnh Cao-Bằng, nơi họ định chiếm một phần thác Bản-Giốc của Việt-Nam và cồn Pò-Thoong….

Tại khu-vực cột mốc 53 (xã Ðàm-Thủy, huyện Trùng-Khánh, tỉnh Cao-Bằng) trên sông Qui-Thuận có thác Bản-Giốc, từ lâu là của Việt-Nam và chính-quyền Bắc-Kinh cũng đã công-nhận sự thật đó. Ngày 29 tháng 2 năm 1976, phía Trung-Quốc đã huy-động trên 2.000 người kể cả lực-lượng vũ-trang lập-thành hàng rào bố-phòng dày-dặc bao-quanh toàn-bộ khu-vực thác Bản-Giốc thuộc lãnh-thổ Việt-Nam, cho công-nhân cấp-tốc xây-dựng một đập kiên-cố bằng bê-tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên-giới, làm việc đã rồi, xâm-phạm lãnh-thổ Việt-Nam trên cồn Pò-Thoong và ngang-nhiên nhận cồn này là của Trung-Quốc. »

Theo tài-liệu dẫn trên và các tài-liệu lịch-sử thì thác Bản-Giốc hoàn-toàn thuộc về Việt-Nam.

Ta thấy mới đây, phát-ngôn-nhân Trung-Quốc ông Tần Cương có cho rằng phe Việt-Nam thay đổi quan-điểm theo thời-gian. Ông này nói đúng. Thác Bản-Giốc đang của Việt-Nam bây giờ thành của Trung-Quốc phân nửa.

Ông Dũng nói rằng vùng Bản-Giốc chưa phân-giới : « Hiện nay ta và Trung Quốc chưa PGCM đoạn biên giới khu vực này nhưng có thể khẳng định phần thác cao hoàn toàn thuộc Việt Nam, phần thác thấp sẽ được phân giới theo luật pháp và tập quán quốc tế về trung tuyến dòng chảy hoặc trung tuyến tàu thuyền đi lại được, hoàn toàn không có chuyện Việt Nam mất thác Bản Giốc như một số người nói. Hàng triệu lượt khách du lịch đến thác Bản Giốc đều biết rất rõ điều này ».

Từ lâu phía Trung-Quốc đã đặt tên thác Bản-Giốc của Việt-Nam là Đức Thiên Bộc Bố (德 天 )và cho khai-thác du-lịch. Thác này được giới thiệu trên tờ quảng-cáo du-lịch « Guangxi Carte Touristique » như là « première grande chute d’eau transnationale de l’Asie ».

Nếu chưa phân-giới thì tại sao Trung-Quốc có thể làm việc này được ? Ông Dũng thiếu thông-tin hay ông Dũng có « ý-đồ » ?

Kết-luận : Không ngoại-lệ, ông Vũ Dũng, không khác các nhân-vật tương-tự như Thứ-Trưởng bộ Ngoại-Giao Lê Công Phụng, ông Bộ-Trưởng Nguyễn Dy Niên trong quá-khứ, tất-cả những tuyên-bố hay trả lời phỏng-vấn của các ông này chỉ làm cho vấn-đề biên-giới càng thêm mù-mờ. Ở hai điểm trên vùng biên-giới được đề-cập là Nam-Quan và Bản-Giốc, nội-dung bài trả lời của ông Vũ-Dũng không khác ông Lê Công Phụng, tức cả hai chối quanh là không có mất đất, có điều ông Dũng có cái lưỡi gỗ chuyên-nghiệp hơn ông Phụng. Công-tác cắm mốc kéo dài cho thấy đã có những tranh-chấp sôi-nổi chủ-quyền một số vùng đất trên biên-giới. Ở Nam-Quan, Bản-Giốc với những bằng-chứng cụ-thể như vậy cho thấy Việt-Nam có mất đất cho Trung-Quốc, nhà-nước CSVN không thể ngụy-biện. Chúng tôi nghĩ rằng, nhà-nước CSVN không thể bưng-bít thông-tin mãi như thế được. Ông Vũ Dũng, với trách-nhiệm đang có, nên công-bố bộ bản-đồ đính-kèm hiệp-ước 1999, một bộ-phận không thể tách-rời của HUBG 1999. Chỉ có việc công-bố này mới có thể giải-tỏa mọi ngộ-nhận bất-lợi nơi dư-luận và chứng-tỏ đây là một nhà-nước có trách-nhiệm.

Trương Nhân Tuấn

Tài-liệu tham-khảo : hồ-sơ phân-định biên-giới CAOM. Xem Biên-Giới Việt-Trung 1885-2000 – Lịch-sử thành-hình và những tranh-chấp xuất bản năm 2005 của cùng tác-giả.



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Luân thường đạo lý bác Hồ thời XHCN: Nữ sinh viên đại học Luật đầu độc cha chôn xác phi tang
Giải thưởng VinFuture của VN có trị giáo cao hơn giải thưởng Nobel
Phá tan đạo đức là quốc sách của CSBK do TQ chỉ đạo
Nhân dịp Xuân về nhớ Tết Mậu Thân
Việt Nam Hóa chiến tranh: Môt sự lừa dối dối tàn ác
Xem tướng phụ nữ
Thiền Sư Nhất Hạnh ra đi 'yên bình' ở tuổi 95
CSBK lừa cả dân tộc Đại Ngu đến bao giờ?
CSVN trao tặng huy chương cho tội phạm ấu dâm gốc Hoa Minh Béo
Đề đốc Lâm Ngươn Tánh của hải chiến Hoàng Sa qua đời ở Mỹ- Ôn lại hải chiến Hoàng Sa
Thành kính phân ưu gia đình ký giả thi thi văn sĩ giáo sư Hoang lê vừa tạ thế tại Montr1al do Covid
Hun Sen tay sai TQ vong ân bội nghĩa, ASEAN phản đối hội nghị Siem Reap: Không phải Trung Quốc muốn phá cái gì cũng được
Ngươi Việt cẩn thận: Thêm một phụ nữ gốc Á bị Mỹ đen sát nhân dã man xô xuống đường rày tan xác khi xe điện ngầm đang vừa tới do thù ghét chủng tộc
TQ ném đá công nhân VN , chơi kiểu ông nội VC: Cấm xe chở thực phẩm VN tại biên giới làm hư hỏng hết trong khi cho xe lửa chở hàng sang VN được tiếp đón thượng khách
Bắc Kinh đã ngăn cản Võ Nguyên Giáp trở thành Tổng Bí thư như thế nào?

     Đọc nhiều nhất 
Thủ tướng Hun Sen buộc CSVN xin lỗi nếu không muốn bị trừng phạt vì tuyên bố Covid lan từ Campuchia thay vì từ TQ [Đã đọc: 582 lần]
Huỳnh Thục Vy ‘bình an đón nhận’ tin thi hành án tù vì tội 'xúc phạm Quốc kỳ' [Đã đọc: 539 lần]
Dịch bệnh lây lan chết chóc quá nhiều hơn số công bố dân hết tin tưởng, CSVN se ngưng công bố về dịch bệnh để mặc dân sống chết kệ bay [Đã đọc: 509 lần]
Hoa hậu Việt Nam đồng hương Phạm Minh Chính biểu diễn đàn T'rưng Diệt MỸ giúp TQ bị đánh rớt [Đã đọc: 455 lần]
Vụ cô gái quỳ gối trong shop quần áo: Đồng hương thủ tướng PMC thuộc gia đình quá nghèo, đông con! [Đã đọc: 432 lần]
Doanh nhân Việt trên đất Mỹ [Đã đọc: 375 lần]
Nhan sắc VN hàng đàu thế giới vượt xa Âu Mỹ, TQ , Nhật, Hàn [Đã đọc: 367 lần]
Đại ngu quốc nhục: CSVN đồng tài trợ với Trung Quốc cho trụ sở mới của Bộ Quốc phòng Campuchia để cùng xâm lăng đồng hóa VN [Đã đọc: 358 lần]
Cách mạng Vô Khuyển Nhục:Hội An, thành phố đầu tiên ở Việt Nam cam kết không tiêu thụ thịt chó, mèo [Đã đọc: 357 lần]
Trung thành mù quáng: Việt Nam liên tục phát hiện các ca tử vong sau khi tiêm vắc-xin ngừa COVID-19TQ [Đã đọc: 357 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.