Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2018
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30  
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 4
 Lượt truy cập: 10656762

 
Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP 24.06.2018 17:42
Chân dung hai nhà thơ: Tố Hữu vs Phan Khôi
29.01.2009 15:37

Lịch sử vốn công bằng, vay gì phải trả nấy, Tố Hữu đã vay quá nhiều vinh hoa phú quý ở đời từ sự bất hạnh khốn khổ ngoi ngóp của đồng nghiệp nên thơ đã kịp chết ngay khi nhà thơ còn lù lù sống.

Vào thập kỷ cuối 1950, khi đám Nhân văn Giai phẩm bị đánh tới tấp không còn một mảnh giáp che thân, thơ Tố Hữu bỗng nổi lên như một hiện tượng lạ trong nền văn hoá nước nhà. Sừng sững, xum xuê, tươi tốt, trường tồn - không tác giả nào bằng ...

Thập kỷ 80 trôi nhanh. Sau vụ đổi tiền khiến bao gia đình khuynh gia bại sản, dở mếu dở cười, vì đồng tiền mất giá cả trăm lần, là lời tổng bí thư Nguyễn văn Linh hô hào "cởi trói" cho cánh nhân văn giai phẩm. Một loạt tác phẩm bị đánh được đăng tải lại, hầu như không ai còn đọc Tố Hữu nữa. Các đề thi của các trường đại học, các sách do các nhà xuất bản in cũng vắng dần đề tài Tố Hữu. Từ đầu thập kỷ 90 đến nay, hễ nói đến Tố Hữu là độc giả nhún vai: Tố Hữu ư? Hết thời rồi, ông ta vốn chỉ giỏi tụng ca thôi, thời buổi này ai thèm tụng ca theo ông ấy nữa. Không ít người bặm trợn, huỵch toẹt luôn : "Ôi giời ! Chẳng qua chỉ là một kẻ xu thời, nịnh bợ. Sợ cảnh trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng nên cố tình đánh đu với chính trị, triệt hạ anh em, tố cho họ cái tội nhân văn giai phẩm. Nếu không thứ hoa lòe loẹt, không hương sắc của ông ta có nở rộ giữa đời được không? Khi so với những bài: "Màu tím hoa sim" của Hữu Loan, "Bên kia sông đuống" của Hoàng Cầm, "Lời mẹ dặn" của Phùng Quán, "Nhất định thắng" của Trần Dần ... Còn tiếng, dẫu không phải mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre cũng không thể là chuông đồng, chuông khánh chuyên đặt trong nhà thờ được, vậy thì đua làm sao với các nhà thơ cùng thời khác? Tâm linh kẻ tiểu nhân đã mách bảo ông ta điều đó nên trong cơn sợ hãi, ông ta tung đòn đánh trước, đánh rất trúng đích bằng cây gậy chỉ huy của Đảng để vô hiệu hóa một loạt nhà thơ danh tiếng ... chỉ còn mình ông ta độc diễn, từ vi mô đến vĩ mô, gi gỉ gì gi cái gì cũng diễn ... Các đảng ủy viên trong trung ương Đảng và chính phủ bỗng dưng thấy có một thằng khùng, sẵn sàng bỏ cuộc đời để theo mình, ca ngợi mình, liền ấn thành tượng luôn chứ thơ hắn, nào có ấn tượng gì ?"

Hỏi chuyện Hữu Loan, Hoàng Cầm , Lê Đạt, Trần Dần - những tài hoa tinh anh của đất nước bị nhét chung vào rọ "nhân văn giai phẩm" cho lên ô tô bịt bùng với còng số 8 thả khắp nơi , từ nhà tù, trại cải tạo, trang trại nơi đồng không mông quạnh, vùng thôn quê hẻo lánh, heo hút v.v ... Ba mươi năm sau được xổng, thì sức đã tàn, lực đã kiệt, tài năng hư hao, lụi tàn...Tất cả cùng chung nhận định: Tố Hữu chỉ là một nhà thơ trung bình, suốt đời chỉ nói có một ý, nghĩ có một chiều và chỉ làm một việc duy nhất là tôn vinh Đảng cộng sản Việt Nam để một thằng tầm tầm như hắn còn được hít bã, ăn tàn dài dài. Hệt câu chuyện được lưu truyền khắp thế giới về một kẻ nịnh thần: Vẫn biết là rắm rất thối, và rắm của kẻ chuyên ăn sơn hào hải vị còn thối gấp trăm nghìn lần dân thường, chỉ có rau xanh và cám bã thừa, vậy mà hắn vẫn tâu: Thưa bệ hạ! rắm của ngài thơm lắm ạ...

Lịch sử vốn công bằng, vay gì phải trả nấy, Tố Hữu đã vay quá nhiều vinh hoa phú quý ở đời từ sự bất hạnh khốn khổ ngoi ngóp của đồng nghiệp nên thơ đã kịp chết ngay khi nhà thơ còn lù lù sống. Oái oăm thay, chính nhân dân đã dùng những vần thơ nhái, thay cuốc, xẻng gậy gộc để đập chết và đào huyệt chôn thơ Tố Hữu , trả thù việc Tố đã dùng gậy của Đảng để đánh anh em trước đó . Ví dụ bài Bầm ơi, nhân dân truyền miệng:

Bầm ơi có rét không bầm
Hon đa con cưỡi, gà hầm con xơi
Con thương bầm lắm bầm ơi
70, bầm vẫn phải ngồi nhá khoai

Hay bài thơ ca ngợi Đảng :

50 tuổi Đảng và thơ
Từ ấy thơ đui đến tận giờ
Tóc mặn muối tiêu thơ nước ốc,
Thương con tằm bệnh nhện nhường tơ
Thuyền rò vượt sóng thuyền ngoi ngóp
Mộng lớn thăng quan hết ngóng chờ

Mới nửa đường quan, cầu đã gãy
áo quan* muốn mặc, chớ đòi thơ!

Bài Một tiếng đờn:

...Danh lợi đua chen được mấy ngày
Phù vân một thoáng gió xua bay
Thủy chung không dễ đâu bè bạn
Êm ấm hồn sao được phút giây

Đúng vậy còn gì đau khổ hơn
Đời chuyên khi dạy nỗi oán hờn
Còn đây một chút trong cỏ lạnh
Mới thấm nhân văn một tiếng đờn

Trong 100 chân dung các nhà thơ , Xuân Sách cũng dùng bút thần để họa chân dung Tố Hữu

Ta đi tới đỉnh cao muôn trượng
Mắt trông về tám hướng phía trời xa
Chân dép lốp bay vào vũ trụ
Khi trở về ta lại là ta

Và:

Từ ấy tim tôi ngừng tiếng hát
Trông về Việt Bắc tít mù mây
Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt
Máu ở chiến trường hoa ở đây

Hai khổ thơ của Xuân Sách đã sớm đi vào lòng người Việt Nam vì vừa là tên các tập thơ của Tố Hữu, vừa ám chỉ chất lượng thơ ca - được ở biệt thự rộng rãi, bề thế 1,500 mét vuông mà nhạt như nước ốc, ngược hoàn toàn với cảnh khốn cùng của các nhà thơ Việt Nam lúc ấy, cũng là chứi khéo hắn vì những vần thơ hiếu chiến, hiếu sát, quá coi rẻ mạng người...Trong khi ông bà dạy: máu đổ một giây, di họa một đời, thì Tố Hữu vung bút ca ngợi sự đổ máu :

Cứ xốc tới, cứ chảy máu, cứ rơi đầu
Mỗi xác thây sẽ là một nhịp cầu
Cho ta bước tới chân trời khát vọng

Lớp hậu sinh còn ngồi trên ghế nhà trường khi bắt buộc phải phát biểu về thơ Tố Hữu, không dám nói một cách mạnh bạo nhưng dám nhận định không còn phù hợp với thời đại nữa .Ví như bài ca mùa xuân 1968, Tố Hữu viết đầy ngô ngọng, máy móc:

Mà nói vậy trái tim anh đó
Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ ...

Bị nhại thành :

Tháng lương anh chia ba phần to nhỏ,
Anh giành riêng trả nợ phần nhiều
Phần cho em và phần để anh tiêu
Em xấn sổ thế cũng đòi sòng phẳng

Rồi hai đứa tay bo, hai thằng lỏng chỏng ...
Còi xe cấp cứu "ủ" váng đường

Khổ thơ đầu của bài Từ ấy, sau hàng chục lần chứng kiến cảnh lũ lụt của đồng bào, trái ngược hoàn toàn với tâm hồn hoa lá, chim muông của Tố Hữu, cả dân tộc phải ngậm ngùi thốt lên:

Từ ấy nước tôi tràn lũ lụt
Màn trời, chiếu nước, khắp muôn nơi
Làng tôi là một đồi hoang hoá
Hết sạch hương và bặt tiếng chim ca ...

Cả bài thơ bốn khổ được các bậc tiên chỉ trong làng thơ, mỗi người góp một ý, sửa một câu, thành một bài toàn bích, nội dung ngược hẳn với bản sáng tác cũ :

Từ ấy trong tôi bừng chính trị
Một trời mưu kế cháy trong tim
Hồn tôi là một hầm giam giữ
Máu người dân và xác các nhà văn

Tôi đã là cha của mọi thằng
Là anh của một lũ háo danh
Là em của bọn người cơ hội
Không lương tâm, lừa dối mị dân

Tôi quyết trèo lên cổ giống nòi
Văn nhân giai phẩm đánh không thôi
Từ :Đang, Cao ,Thăng, tới Cầm, Tuân, Bão...*
Kìm kẹp tang thương trọn kiếp người

Tôi buộc người dân sống đoạ đày
Để tiền trượt giá, có như không
Để người dân sống trong cùng khổ
Không áo cơm, cù bất cù bơ ...

Ngày truyền hình phát bộ phim Bao công của Trung Quốc, trí tuệ dân gian lại được thể phát lộ và lưu truyền trong quần chúng bài Tố hữu ca nổi tiếng, dựa theo nhạc phim Bao Công xử án :

Cụ Tố Hữu bước chân ra đường
Xe đạp kia bỗng dưng lao vào
óc với tim dính liền cùng thịt da...
Hồn Tố Hữu đã vô quan tài
Bao người theo tiễn đưa lên đài...
Ai cũng khen thơ cụ : thật là hay...
Thịt với da tim óc dính liền
(Bao đời nay có ai như vầy )
Ôi quái thai thời đại, thật là siêu ...

Khi ấy Tố Hữu vẫn sống nhăn, kiên quyết không nghe theo lời khuyên của tướng Trần Độ là xin lỗi anh em văn nhân giai phẩm đã bị hàm oan bao năm trước đó, dù biết hổ chết để da, người ta chết để tiếng.

Ngày Tố Hữu chết, so sánh với cái chết của lão tướng Trần Độ , cựu chiến binh Hoàng Giáp viết:

Người đời vẫn gọi ông
Là tướng công Trần Độ
Người đời lại gọi hắn
Là cho - thêm sắc vào*
Lễ tang ông không mời
Dân vẫn ào ạt tới
Lễ tang hắn cử người
Mà vắng ngơ vắng ngắt
Tài liệu ông, chúng bắt
Dân phát tận mây xanh
Tài liệu hắn, chúng đọc
Dân sửa lại chức danh...

Cay đắng nhất là bài thơ cuối cùng Tố Hữu gửi lại cho đời, bị cánh nhà thơ, nhà báo sửa lại bằng cách thêm một dấu sắc vào hai chữ cho ở câu cuối rồi rỉ tai nhau lan khắp hội , ngoài phường:

Xin gửi bạn đời yêu quý nhất
Còn mấy vần thơ một nắm tro,
Thơ gởi cuộc đời, tro bón đất
Sống là CHO và chết cũng là CHO (!)

Quả là chẳng còn gì để nói về con người - sống như chết , anh hèn đốn mạt này, xác đáng bằng câu thơ đã được thêm dấu sắc trên. Hy vọng họ nhà Khuyển không lấy làm chạnh lòng về điều ấy ...

Góc thành Nam 2004, Hà Nội

(*)
- Nguyễn Hữu Đang : Thứ trưởng bộ thanh niên bị đi cải tạo 25 năm tại Lai Châu, sau khi về quê ở thái Bình còn tiếp tục bị quản thúc
- Văn Cao tiên chỉ của làng văn Việt Nam, tác giả của bài Quốc ca (Thiên thai từ giã về dương thế, nhắc chi ngày ấy buồn lòng ta)
- Hoàng Cầm nhà thơ
- Phù Thăng tác giả cuốn Phá vây( Phá vây rồi lại chết mòn trong vây)
- Hà minh Tuân: Tác giả cuốn Vào đời( 40 tuổi mới vào đời, ăn đòn hội chợ tơi bời xác xơ)
- Nhà văn Vũ Bão tức Phạm Thế Hệ với tiểu thuyết đầu tay: Sắp cưới
(Sắp cưới có thằng phá đám, Nên ông chửi bố chúng mày lên...) v.v


Hoàng Sơn Tiên (DCV)

    Hồi “chín năm”, Tố Hữu sáng tác bài thơ nổi tiếng “Bầm ơi!” dạt dào tình nghĩa gắn bó giữa chiến sĩ cách mạng và người dân nghèo. Bài thơ có đoạn:

    

    Bầm ơi có rét không bầm

    Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

    Bầm ra ruộng cấy bầm run

    Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non...

     Nhiều năm trôi qua. Tố Hữu “chín năm” và Tố Hữu ngày nay cách xa một trời một vực không chỉ về chức tước, mà cả về tình người.

    Cho nên, một “sĩ phu Bắc Hà” đã nhại thơ Tố Hữu bằng bốn câu chua chát dưới đây:

     Bầm ơi có rét không bầm

    Vônga [3] con cưỡi, gà hầm con xơi

    Con thương bầm lắm bầm ơi

    Bảy mươi, bầm vẫn phải ngồi nhá khoai...

       Ngoài chuyện nhại thơ Tố Hữu, tưởng cũng nên kể thêm chuyện hoạ thơ Tố Hữu theo chiều hướng... “tiếu lâm”. Ấy là khi Tố Hữu cho [4] đăng trên báo Văn nghệ và nhiều báo khác bài “Đảng và thơ”, toàn văn như sau:

    

    Trên năm mươi tuổi Đảng và thơ

    Từ ấy [5] hồn vui mãi đến giờ

    Mái tóc pha sương chưa cạn ý

    Con tằm rút ruột vẫn còn tơ

    Thuyền con vượt sóng không nghiêng ngả

    Nghiệp lớn muôn đường lộng ước mơ

    Mới nửa đường thôi, còn bước tiếp

    Trăm năm duyên kiếp, Đảng và thơ.

      Ngay sau đó, từ Hà Nội lan truyền khắp cả nước bài thơ hoạ, ý và thơ “đối nhau chan chát”:

     Năm mươi năm ấy vẫn còn thơ

    Từ ấy đua chen mãi đến giờ

    Mái tóc pha sương chưa hết dại

    Con tằm rút ruột chẳng còn tơ

    Thuyền con quá tải không qua sóng

    Mộng lớn tài hèn chớ ước mơ

    Với giá, lương, tiền [6] dân khốn đốn

    Trăm năm bia miệng, hỡi nhà thơ!

         Bà con khoái thơ phú kháo nhau rằng tác giả bài thơ hoạ này là một sĩ phu thứ thiệt: nhà trí thức văn hoá, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện [7].

    Nhân nhắc đến chuyện ông Tố Hữu vừa làm quan vừa làm thơ, cũng cần kể thêm rằng hồi ông ta còn làm Trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương, ông cùng các cán bộ tuyên huấn - đối ngoại phải diễn trò xiếc “đi trên dây” giữa ông anh cả (Liên Xô) và ông anh hai (Trung Quốc) khi hai ông anh tối ngày hục hặc và thậm chí còn “tẩn” nhau ở biên giới. Cám cảnh anh Lành (bí danh thường dùng của Tố Hữu), một “vè sĩ” Hà Thành đã “tặng” hai câu sau:

     Anh Lành mà dạ chẳng lành

    Tay vin cành táo, tay giành cành nho...


PHÙNG QUÁN, TỐ HỮU VÀ NGUYỄN KHOA ÐIỀM

Tưởng Năng Tiến

Có lần, tôi nghe Phùng Quán kể chuyện "Xông Ðất Nhà Thơ Tố Hữu" - đại lược - như sau:

" Sáng mùng một Tết năm Canh Ngọ. Như thường lệ, vợ chồng chúng tôi xuất hành vào 9 giờ sáng, đến chúc Tết những gia đình họ hàng nội ngoại. Năm đó, chúng tôi quyết định xông đất đầu tiên gia đình nhà thơ Tố Hữu."

"Trong mối liên hệ gia tộc, tôi gọi nhà thơ bằng cậu... Mọi năm, trên đường đi chúc Tết, tôi vẫn thường đạp xe đi qua trước cổng biệt thự của nhà thơ trên đường Phan Ðình Phùng. Cảnh tượng tưng bừng, tấp nập trước cổng biệt thự tôi không tả nổi; chỉ đoán chắc cả Hà Nội cũng chỉ năm bẩy nhà sánh kịp mà thôi..."

"Nhưng tết này, trước cổng biệt thự của nhà thơ quang cảnh vắng teo. Không có chiếc ô tô con nào, không công an cũng chẳng lính cảnh vệ. Cái cổng sắt mọi ngày nom như hẹp hẳn lại, hai cánh cửa khép hờ, ai vào cứ việc đẩy cửa mà vào y như thể dân thường. Hai vợ chồng chúng tôi xuống xe đạp đứng tần ngần một lúc trước cổng sắt."

Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo.

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương...

"Hai câu thơ của bà huyện Thanh Quan bỗng đột ngột hiện ra trong trí nhớ của tôi với toàn bộ vẻ đẹp u trầm và sâu sắc đến kinh người của nó..."

"Thưa cậu, năm mới vợ chồng cháu xin đến chúc Tết, mừng tuổi cậu mợ và các anh chị..." Sau ba muơi năm không gặp lại, nhà thơ vẫn nhận ra tôi. "Vợ chồng Phùng Quán" - nhà thơ nói như muốn giới thiệu luôn với mấy người khách - Sao lâu nay cháu không đến cậu?" Giọng nhà thơ ân cần, có pha chút trách cứ của bề trên..."

"Sau khi khách khưá ra về chỉ còn lại ba cậu cháu. Tôi đã uống đến ly Ararat thứ năm. Ruợu bắt đầu ngấm làm tôi trở nên mạnh dạn. Tôi hỏi nhà thơ câu hỏi tôi muốn hỏi từ lâu: -'Thưa cậu, cháu rất muốn biết, bây giờ thực sự cậu mong muốn điều gì?'. Một thoáng trầm ngâm nhà thơ nói:'Cậu ao ước còn đủ sức khoẻ, đạp một chiếc xe đạp về trong quê mình, sống lại kỷ niệm của thời ấu thơ, thời hoạt động sục sôi của tuổi thanh niên, rồi đặt những bài vè... tìm đến nơi đồng bào, bà con tụ tập, đọc lên cho bà con nghe... Cậu mong muốn được nguời hát rong của nhân dân...'

"Có lúc nhà thơ đã đạt đến chức Tam Công trong bộ máy quyền lực của đất nước, nhưng cuối đời lại chỉ mong ước được làm một nghệ sĩ hát rong của nhân dân mà không hy vọng thực hiện được. Trong khoảnh khắc đó, lần đầu tiên tôi lĩnh hội được hết vẻ cao sang của thi ca đích thực."

"Vợ chồng tôi xin phép cậu ra về... Bước xuống khỏi những bậc tam cấp, nhà thơ nói với vợ tôi:'Thằng Quán nó dại...'. Khi ra gần đến cổng sắt, nhà thơ dừng lại, nói tiếp như vẫn không dứt dòng suy nghĩ của mình:'- mà cậu cũng dại" (Ngô Minh et al. Nhớ Phùng Quán. Phương Nam Corp., 2003).

Nếu được sống lại đời mình, và cũng ở vào hoàn cảnh cũ, tôi tin rằng Phùng Quán sẽ vẫn cứ "dại" y như thế nhưng Tố Hữu thì chưa chắc. Ông ấy đủ khôn ngoan để biết rằng "mong ước được làm một nghệ sĩ hát rong của nhân dân" sẽ không thể thực hiện được, nếu cứ tiếp tục dại dột làm những câu vè (bậy bạ) kiểu như:

Vui biết mấy khi nghe con tập nói

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin!

Nếu Tố Hữu không phải là một nguời làm thơ, không phải bận tâm đến chuyện hèn mọn hay "cao sang của thi ca" thì sự dại dột của ông cũng... tốt thôi. Ông được ban phát bổng lộc hậu và chức quyền cao nhờ thế. "Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt" thì lại là chuyện khác.

Ðể ở nhà cao cửa rộng, để "đạt đến chức Tam Công trong bộ máy quyền lực của đất nước," Tố Hữu không chỉ sống xa rời nhân dân mà còn nhúng tay vào (hơi) nhiều tội ác. "Nhìn Lại vụ An Nhân Văn - Giai Phẩm Cách Ðây 40 Năm", có người đã viết như sau:

"Trong cái bề bộn rối rắm của sự việc, chân lý lại thường ở dạng rất đơn giản. Tôi đã thấy được cái đuôi chuột thò ra ở sự cấm đoán sáng tác nghiệt ngã với anh em Nhân Văn - Giai Phẩm kéo dài quá đáng. Những 30 năm. Nhờ vậy mà tôi nhìn ra cái mạch ngầm, cái cốt lõi, cái nguyên nhân xâu sa, là sự đố kỵ tài năng, được phủ đậy lên bằng tấm màn đấu tranh tư tuởng, đấu tranh giai cấp... Ông Tố Hữu lãnh đạo thời đó, hẳn phải biết tài thơ của các ông Hữu Loan, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Trần Dần, Văn Cao, Lê Ðạt, Phùng Quán... Nếu mà họ tồn tại thì thơ của ông khó mà được suy tôn như người ta đã suy tôn. Vậy tốt hơn hết là triệt đi, không cho họ viết báo in sách nữa..."

"Tiếp theo là bắt bớ, tù đầy, và hàng loạt văn nghệ sĩ phải đi cải tạo lao động ở các nhà máy hoặc ở nông thôn trong nhiều năm trời. Sau nữa là sự quản thúc, sự cấm đoán sáng tác kéo dài hàng vài chục năm. Ðến khi được cởi trói cho văn nghệ sĩ thì nhiều người đã đầu bạc, da nhăn nheo, người thì bại liệt; người tâm thần; có người chết trước khi được cởi trói..."
http://diendandanchuvn.com/sangtac/HoangTien/HT-nhinlaivuNVGP.htm...

Nhận xét này của nhà văn Hoàng Tiến tuy không sai nhưng thiếu. Ðó "chỉ là phần nổi của một tảng băng sơn." Phần chìm của nó "là cả một nền văn học, nghệ thuật giáo dục, đạo đức của miền Bắc bị lụn bại, méo mó, què quặt và hầu như cả một thế hệ trí thức, văn nghệ sĩ miền Bắc bị đánh gục, bị dìm trong nỗi sợ triền miên." (Trần Minh, "Nhân Văn - Giai Phẩm, Một Tư Trào, Một Vụ An, Một Tội Ac," Thế Giới Ngày Nay, Nov. & Dec. 1994).

"Vụ án" này lịch sử chưa xét đến nên Tố Hữu đã lo trước việc "chữa chạy" với hy vọng được giảm khinh hay trắng án. Cũng theo Hoàng Tiến, người đã có dịp đọc bảo thảo "Nhà Thơ Tố Hữu Tâm Sự" (viết xong vào tháng 5 năm 1977) thì Tố Hữu vào lúc cuối đời " hoàn toàn khác với Tố Hữu đã sống trước đây... có hai Tố Hữu khác hẳn nhau như nước với lửa, như lòng bàn tay với mu bàn tay... Trong lời tâm sự Tố Hữu Nhật Hoa Khanh ghi không thấy lời nhận lỗi hoặc xin lỗi những nạn nhân trước đây của mình, ai cũng được ông Tố Hữu đánh giá rất cao, chỉ thấy khen là khen. Những thế hệ bây giờ không biết chuyện cũ, cứ tưởng ông Tố Hữu rất tốt với mọi người, rất đáng kính và rất đáng yêu, ông không thù ghét ai, làm sao ông Tố Hữu lại có thể đánh những tài năng văn nghệ như anh em Nhân Văn - Giai Phẩm được?" ("Sự Thật Ở Ðâu?"
http://www.geocities.com/hoangmaidat/opinion/0730hoangtien.html ...

Tôi e rằng Hoàng Tiến đã lo xa quá, và sự lo lắng này không cần thiết. Mọi cố gắng gian giảo để "phi tang" của Tố Hữu đều đã muộn màng và (hoàn toàn) vô ích. "Sự Thực Ở Ðâu" ai mà không biết.

Tôi biết nó, cả nước này biết nó

Việc nó làm tội ác nó ra sao?

Hai câu thơ vừa dẫn (viết về Người (khác)] bỗng chợt hiện - dù tôi đang không ngồi trong phòng thẩm vấn - và tiện tay nên tôi ghi lại chơi cho vui vậy thôi, chứ thực không có ý muốn mượn lời Nguyễn Chí Thiện để luận tội hay kết án gì nhà thơ Tố Hữu. Chúng tôi sinh ra và sống trong một thời đại mà mọi người đều vội vã. Không ai rảnh để đi đá vào những con chó chết.

Tôi xin dùng thì giờ có được hôm nay để nói chuyện với ông Nguyễn Khoa Ðiềm, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Bí Thư Trung Ương Ðảng, và là kẻ đang giữ chức Trưởng Ban Tư Tưởng Văn Hoá Trung Ương. Cũng như ông Tố Hữu, ông Nguyễn Khoa Ðiềm - xem chừng - cũng... dại!

Phải đợi đến bốn mươi năm, Hoàng Tiến mới nhìn ra "cái tâm" của Tố Hữu trong vụ án Nhân Văn - Giai Phẩm nhưng chỉ cần bốn ngày sau chuyện tường lửa xẩy ra với website talawas thì mọi người đều thấy được "tấm lòng" của ông Nguyễn Khoa Ðiềm.

Vì phở quốc doanh không người ăn, cà phê quốc doanh không có người uống, cửa hàng quốc doanh không có hàng bán, tu sĩ quốc doanh không có tín đồ, bác sĩ quốc doanh không có bệnh nhân, văn sĩ và thi sĩ quốc doanh không có độc giả, web site quốc doanh không có người xem...; do đó, ông Nguyễn Khoa Ðiềm đã dùng đến "hạ sách" là dựng tường lửa để ngăn những trang webs (đắt khách) ngoài vòng kiểm soát của mình.

Và đó chỉ là chuyện nhỏ. Người ta có thể nhìn thấy con người của ông Nguyễn Khoa Ðiềm - qua nhiều chuyện nữa, tệ hại hơn - trước đó. Xin đan cử một thí khác.

Tối mồng một Tết nguyên đán Giáp Thân (2004), Hà Nội đã long trọng tổ chức buổi Lễ Trao Giải Thưởng Cuộc Thi Trí Tuệ Việt Nam do ông Nguyễn Khoa Ðiềm chủ toạ. Giải nhất được trao cho nhóm người "sáng tạo" ra phần mềm (software) "Hệ Thống Quản Trị Nội Dung". Họ là bốn sinh viên, gọi là nhóm iCMS. Ðây vừa là tên nhóm vừa là tên sản phẩm của họ: Content Management System.

"Tôi nhớ một chi tiết hôm xem lễ trao giải được truyền hình trực tiếp. Khi nghe đọc tên nhóm trúng giải, đề tài và lời giải thích sản phẩm trúng giải, anh tôi la lên:' Thấy chưa, nó trao giải Nhất cho Quản lý nội dung thông tin. Hừm!' Tiếng la của anh đã gợi ý cho tôi viết bài này..."

"Ðó là buổi trao giải nhiều ý nghĩa. Nó mang tên là 'Trí Tuệ Việt Nam.' Giải nhất là 'Kiểm soát thông tin.' Nguời trao giải là Ủy viên Bộ Chính trị kiêm Trưởng ban Tư tưởng và Văn hoá Trung ương."

"Ðầu não tinh túy nhất của nhà cầm quyền đã chọn việc kiểm soát thông tin làm trí tuệ Việt Nam. Nếu đồng ý ngu dốt là thiếu thông tin và do thiếu thông tin, thì họ đã muốn lấy ngu dốt làm sách lược trị nước" (Lê Lô, "Trí Tuệ Việt Nam: Hệ Thống Quảng Trị Nội Dung," Thế Kỷ 21, May 2004:31).

Ngoài chuyện chủ trương kiểm soát thông tin, xây dựng tường lửa - điều mà những người tiền nhiệm không phải bận tâm - thời ông Nguyễn Khoa Ðiềm làm Trưởng Ban Tư Tưởng Văn Hoá Trung Ương, những "vụ án gián điệp", những tác phẩm bị thu hồi, và những bản thảo bị tước đoạt hay... mất cắp (xem ra) có phần "phong phú" hơn thời Tố Hữu.

"Ông Tố Hữu, là một nhà thơ trung bình, được Ðảng Cộng Sản Việt Nam trọng dụng cho phụ trách công tác văn nghệ, đã dùng quyền lực cũng trấn áp tù đầy, làm thui chột đi nhiều tài năng văn học. Ông cũng kéo lùi nền văn học Việt Nam ít nhất là 30 năm, tính từ 1957 cho đến thời kỳ đổi mới mở cửa 1987."

Ðó là một nhận xét khác của nhà văn Hoàng Tiến khi " Nhìn lại Vụ An Nhân Văn Giai Phẩm". Hoàng Tiến lại đúng nhưng vẫn... thiếu. Trách nhiệm của Tố Hữu (e) không đơn thuần chỉ giới hạn trong lãnh vực văn học và cũng không phải chỉ ảnh hưởng đến một thế hệ mà thôi. Những thế hệ kế tiếp tuy không đến nỗi méo mó, què quặt nhưng (rõ ràng) rất khó nuôi vì... còi cọt.

"Vừa rồi, Bộ Kế hoạch Ðầu tư công bố chỉ tiêu về trí tuệ, trình độ ngoại ngữ, khả năng thích ứng với điều kiện tiếp nhận KHKT của thanh niên Việt Nam theo tiêu chuẩn thang điểm 10 của khu vực khiến người ta giật mình: trí tuệ đạt 2,3/10đ;ngoại ngữ là 2,5/10đ và khả năng thích ứng với điều kiện tiếp cận KHKT chỉ đạt hơn 2/10đ! Ðiều đó chứng tỏ thanh niên chúng ta đang tụt hậu rất xa so với khu vực, đấy là chưa kể yếu tố sức khoẻ, thể lực" ("Thanh Niên VN Ðang Tụt Hậu Từ A Ðến Z"
http://tintucvietnam.com/News/PrintView.aspx?ID=52975.


Ngoài những câu thơ dại dột, và những ngôi nhà lộng gió (không thể mang theo về thế giới bên kia), hiện tượng "Thanh Niên VN Ðang Tụt Hậu Từ A Ðến Z" là "di sản" mà Tố Hữu (đã góp phần không nhỏ) để lại cho hậu thế. Tôi hy vọng là ông Nguyễn Khoa Ðiềm, một người (vẫn) còn sống, sẽ sống khôn ngoan hơn những người tiền nhiệm của mình - chút xíu.

Tưởng Năng Tiến

Bàn về thơ Tố Hữu -

Sự tôn sùng quá đáng đã gây những phản tác dụng. Chưa có một nhà thơ Việt Nam nào mà thơ được quần chúng nhại lại như thơ Tố Hữu. Xin đơn cử vài bài:
Bài Bầm ơi:
Bầm ơi rét cũng mặc bầm?
Von-ga con cưỡi, gà hầm con xơi.
Con đi sướng thế bầm ơi,
Mặc cho bầm ở nhà ngồi nhá khoai!

Bài 50 Năm Tuổi Đảng và Thơ:
Năm mươi năm tuổi Đảng và thơ,
Từ ấy thơ "dui" đến tận giờ.
Tóc mặn muối tiêu thơ nước ốc,
Thương con tằm bện nhện nhường tơ.
Thuyền rò vượt sóng thuyền ngoi ngóp,
Mộng lớn thăng quan hết ngóng chờ.
Mới nửa đường quan cầu đã gãy,
Áo quan muốn mặc chớ đòi thơ.

Bài Một Tiếng Đờn:
Nắng hè sao đã vội hoàng hôn
Tươi thế mà sao lệ bỗng tuôn
Mới hay nhân quả là như vậy
Vui lắm thì ra cũng lắm buồn.

Danh lợi đua chen được mấy ngày
Phù vân một thoáng gió xua bay
Thủy chung không dễ, đâu bè bạn
Êm ấm hồn sao được phút giây.

Đúng vậy, còn gì đau khổ hơn
Đời chuyên khơi dậy nỗi oán hờn
Còn đây một chút trong cô lạnh
Mới thấm nhân văn một tiếng đờn.

Chân dung Tố Hữu được nhà thơ Xuân Sách khắc họa bằng mấy câu thần tình:
"Từ ấy" trong tim ngừng tiếng hát
Trông về "Việt Bắc" tít mù mây
Nhà càng "lộng gió" thơ càng nhạt
"Máu" ở chiến trường "hoa" ở đây.

Vân vân... và.... vân vân...
Nhà thơ Hữu Loan về quê làm ruộng, thồ miá, thồ đá nung vôi, sau 30 năm mới trở ra Hà Nội đã thành một ông già râu tóc bạc trắng. Hỏi ông đánh giá về thơ Tố Hữu? Ông suy nghĩ một lát, rồi trả lời: "Một nhà thơ trung bình".
Tôi cho đánh giá của nhà thơ Hữu Loan là đúng mực.
Vì đã là một thần tượng thi ca, thì ngoài nội dung tư tưởng, còn phải có đóng góp về phương thức biểu cảm. Thơ Tố Hữu được phần nội dung tư tưởng cách mạng, nhưng phần hình thức biểu hiện không có đóng góp mới. Ông sử dụng những hình thức biểu hiện sẵn có như thể lục bát, hoặc thất ngôn trường thiên và ngũ ngôn trường thiên của thể cổ phong. Mà lục bát thì ông không thể hơn được Nguyễn Du, cũng chưa hơn được Nguyễn Bính. Các cách thức biểu hiện khác (gọi là thể tự do), thì đã có cả trong phong trào thơ mới giai đoạn 1930 -1945. Họ (những nhà thơ lãng mạn) là những người đóng góp, chứ ông (Tố Hữu) là người lặp lại.
Câu thơ của Phạm Huy Thông:
Sở bá vương ngồi yên trên mình ngựa
Đưa mắt buồn lặng ngắm chân trời xa
Trong sương thu nhẹ đượm ánh dương tà
Quân Lưu Bang đang tưng bừng hạ trại.

(Tiếng địch sông Ô - 1935)
Ấm cuối câu thứ nhất Phạm Huy Thông gieo vần trắc, gợi hình một võ tướng gắn chặt với chiến mã, con chiến mã bám chắc xuống mặt đất, giống như một khối tượng.
Ấm cuối câu 2 và câu 3 gieo vần bằng, làm câu thơ thoát ra, ngân dài, như không gian bát ngát bao la trước mặt Hạng Võ.
Ấm cuối câu thứ 4 hai vần trắc liền nhau (hạ trại), nghe như thấy tiếng đóng cọc dựng lều của quân sĩ Lưu Bang đang bao vây Hạng Võ ở vùng Cai Hạ, dẫn đến tiêu diệt đối thủ dũng mãnh này.
Câu thơ của Tố Hữu:
Mã Chiêm Sơn buông cương và ngẫm nghĩ
Ngựa rung đầu hý mạnh giữa tàn quân
Đồi non xa thấp thoáng đỉnh non gần
Đã khuất phục dưới lá cờ binh Nhật.

(Mã Chiêm Sơn - in trong tập Từ Ầy xuất bản năm 1946)
Ấm cuối của câu 1 và câu 4, Tố Hữu cũng gieo vần trắc; âm cuối câu 2 và câu 3 cũng gieo vần bằng, y hệt Phạm Huy Thông. Nhưng câu thơ của Phạm Huy Thông ăn nhập chặt chẽ giữa nội dung và hình thức biết bao! Một thành công trong nghệ thuật biểu cảm của lối thơ 8 âm tiết được sáng tạo trong phong trào thơ mới. Còn hình tượng Mã Chiêm Sơn của Tố Hữu chỉ là một phiên bản vụng về. Ngay câu đầu, hai từ "buông cương""ngẫm nghĩ" làm cấu trúc câu thơ lỏng lẻo hẳn đi, rã rời hình ảnh một chiến tướng, đâu còn có thể "đánh tan xương quân Nhật một sư đoàn". Bạn hãy đọc to lên, ngâm lên nữa càng hay, sẽ nhận ra rất rõ sự hơn kém về tứ về âm của cả khổ thơ, của từng câu thơ, của từng lời thơ.
Các nhà phê bình thường lớn tiếng khen ngợi cái nhạc điệu vui vẻ, lách chách của chú bé liên lạc Lượm như một sáng tạo nhạc điệu trong thơ Tố Hữu:
Chú bé loắt choắt
Cái xắc xinh xinh
Cái chân thoăn thoắt
Cái đầu nghênh nghênh
Ca-lô đội lệch
Mồm huýt sáo vang
Như con chim chích
Nhảy trên đường vàng
...
(Lượm - 1949)
Cũng nên biết trước đó, thơ mới đã miêu tả đối tượng bằng nhạc điệu, như bài "Sương rơi" của Nguyễn Vỹ có trước bài "Lượm" gần 15 năm.
Rơi sương
Cành dương
Liễu ngả
Gió mưa
Tơi tả
Từng giọt
Thánh thót
Từng giọt
Tơi bời
Mưa rơi
Gió rơi
Lá rơi
Em ơi!...

(Sương rơi - 1935)
Hơn nữa, thơ Tố Hữu có khá nhiều hạt sạn. Lấy như bài "Hoan hô chiến sĩ Điện Biên" (1954), ông viết:
Chúng bay chỉ một đường ra
Một là tử địa, hai là tù binh.

Có lời bình rằng:
Đã một mà lại hóa hai
Một hai, hai một, khổ tai bực mình.

Trong bài "Ta đi tới" (1954), ông cũng viết:
Đường ta rộng thênh thang tám thước
Nghe buồn cười. Thênh thang mà lại có 8 thước. Vả lại thơ không nên bám sát lấy con số thực quá. Thơ cần khái quát bản chất để có thể bốc lên, bay lên. Vì câu thơ trên, nên thành một giai thoại văn học. Giai thoại kể rằng, nhà thơ Trần Đăng Khoa hồi còn là một chú thiếu nhi đã xin phép bác Tố Hữu cho cháu được chữa:
Đường ta rộng thênh thang ta bước
Như thế câu thơ mới thơ hơn.
Thơ Tố Hữu có nhiều câu sáo ngữ. Khi nghe tin Xít-ta-lin mất, Tố Hữu viết:
Thương cha thương mẹ thương chồng
Thường mình thương một thương ông thương mười.

(Đời đời nhớ ông - 1953)
Lại nữa:
Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Xít-ta-lin!

(Đời đời nhớ ông - 1953)
Hỡi ôi! con mình dứt ruột đẻ ra, tiếng đầu lòng phải là gọi mẹ, gọi bố, gọi bà, vừa dễ phát âm vừa biết bao tình cảm thiêng liêng huyết thống. Đằng này nó lại gọi tên một con người xa lạ nước ngoài, vả lại rất khó phát âm với con trẻ Việt Nam. Câu thơ chỉ có thể là giả dối, nếu không thì tác giả là người đã để mất linh hồn dân tộc.
Lại câu:
Chân dép lốp mà bay vào vũ trụ
Mới nghe tưởng rất tự hào. Suy nghĩ một chút thì thấy lố. Xét nghĩa đen, vào vũ trụ không đi dép lốp được, phải có một loại giầy đặc biệt. Xét nghĩa bóng, nó giống chuyện một anh ngố, đi nhờ xe người ta lại nghĩ mình cũng oai như người ta.
Thổ lộ tình yêu cũng nguyên tắc, máy móc; lại có phần trịch thượng, ban ơn:
Mà nói vậy: "Trái tim anh đó
Rất chân thật, chia ba phần tươi đỏ:
Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều
Phần cho thơ, và phần để em yêu..."
Em xấu hổ: "Thế cũng nhiều anh nhỉ!"
Rồi hai đứa hôn nhau, hai người đồng chí.

(Bài ca Mùa xuân 61)
Nhà thơ Nadim Híchmét, người Thổ-nhỉ-kỳ, cũng là nhà thơ cộng sản, ông nói khác: "Cộng sản có thể chung nhau nhiều thứ. Riêng má người yêu thì không chung được."
Cô bạn giáo viên dạy văn phổ thông trung học bình phẩm về hai câu thơ cuối đoạn: "Em thì chẳng việc gì phải xấu hổ. Em sẽ nói: "Xin lỗi, tôi không thể yêu ông." Đến hôn nhau mà cũng còn phân biệt "đồng chí" với "quần chúng", thì không sao hiểu nổi. Có lẽ môi những người đồng chí được cấu tạo bằng thép, khi chạm nhau chúng kêu coong coong."
Làm duyên đấy thôi cô ạ! Khối các ông cộng sản hai ba vợ, ngoài ra lại còn bồ bịch hàng đống.
Thơ Tố Hữu được in nhiều trong sách giáo khoa. Các nhà trường đều học. Coi như thơ kinh điển. Bài thơ "Bài ca Tháng Mười" của ông, mở đầu bằng khổ thơ:
Thuở Anh chưa ra đời
Trái đất còn nức nở
Nhân loại chửa thành người
Đêm ngàn năm man rợ

(Bài ca Tháng Mười - 1950)
Từ "Anh" ở đây viết hoa, để chỉ Liên Xô, người anh cả phe Xã hội chủ nghĩa, nơi có cuộc Cách mạng Tháng Mười. Tôi không lấy cái chuyện Liên Xô bây giờ tan rã để bắt bẻ tác giả. Tôi cứ cho Cách mạng Tháng Mười là một sự kiện đáng ca ngợi. Nhưng ca ngợi làm sao cho người ta nghe được, không cho mình là quá lời, là tâng bốc. Lại không được miệt thị dân tộc mình và miệt thị các dân tộc khác. Giữ được tinh thần bình đẳng tỉnh táo của người cầm bút. Xin hỏi tác giả bài thơ: Vậy trước Cách Mạng Tháng Mười, những giá trị nhân bản của nước Nga như Puchkine, Tolstoi, Tchékhov... là chửa thành người ư? là man rợ cả ư? Lại còn những Shakespeare, Byron của Anh; Voltaire, Rousseau của Pháp; Goethe của Đức; Tagore của Ần Độ; Lý Bạch, Đỗ Phủ của Trung Quốc... đều chửa thành người cả ư? đều man rợ cả ư? Rồi những giá trị nhân văn của chúng ta như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du... cũng chửa thành người ư? cũng man rợ cả ư? Tụng ca như vậy là lối bốc đồng của một thứ kiến thức loại học sinh phổ thông, nếu không muốn nói là sai lầm về phương pháp tư tưởng của cán bộ cách mạng


Chủ tịch nước yêu thơ Tố Hữu

Những câu chuyện dưới đây được ghi lại qua lời kể của ông Lê Hùng Dũng - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Cty Vàng bạc - Đá quí Sài Gòn (SJC), tháp tùng đoàn Chủ tịch nước thăm Hoa Kỳ.

Sông Potomac và Norman Morrison

Chủ tịch nước đọc thơ Tố Hữu bên bờ sông Potomac

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (phải) cùng ông Lê Hùng Dũng ở bờ sông Potomac, phía bên kia là bang Virginia. Tòa nhà phía sau là khu tưởng niệm Thomas Jefferson - Ảnh do ông Lê Hùng Dũng cung cấp.

Sáng 22/6, từ 8 - 11g (thời điểm trước khi hội đàm với Tổng thống George Bush), Chủ tịch nước yêu cầu không bố trí thời gian tiếp xúc bất kỳ ai để đến bờ sông Potomac. Bộ Ngoại giao Mỹ cũng khá ngạc nhiên với yêu cầu đó.

Chỉ đến khi đoàn xe đến bờ sông bên phần đất của Washington D.C, xuống xe, Chủ tịch nước mới nói rằng đến đây để tưởng nhớ Norman Morrison, người đã tự thiêu trước Lầu Năm Góc ngày 2-11-1965 để phản đối chiến tranh VN.

Thực tế thì điểm tự thiêu của Norman Morrison nằm phía bờ bên kia sông Potomac (bên bang Virginia). Khi đó ông Morrison chọn cánh phía đông của Lầu Năm Góc, nơi có văn phòng làm việc của Bộ trưởng McNamara. Ông đến bên hàng rào, đặt cô con gái út một tuổi tên Emily bên bờ hè và viết lá thư cho vợ. Về sau, khi nhớ lại sự kiện này, McNamara viết: “Cái chết của Morrison là một thảm họa không chỉ cho gia đình anh mà cho cả tôi và nước Mỹ. Đó là lời phản đối rõ ràng nhất trước hành động hủy diệt cuộc sống người dân VN và rất nhiều binh sĩ trẻ Mỹ”.

Sự kiện đó rất ít người trong đoàn biết hoặc nhớ nhưng lần đầu tiên tới thăm Mỹ, trước buổi gặp Tổng thống Bush - một dấu mốc mới trong quan hệ hai nước, Chủ tịch nước vẫn nhớ đến ông Morrison. Đó là một cử chỉ hết sức nhân văn và hết sức thiêng liêng. Anh em trong đoàn đi theo đều rất cảm động.

Chủ tịch nước khi đó đã đọc lại một đoạn trong bài thơ của Tố Hữu:

…Emily con ơi

Trời sắp tối rồi

Cha không bế con về được nữa

Khi đã sáng bừng lên ngọn lửa

Đêm nay mẹ đến tìm con

Con sẽ ôm lấy mẹ mà hôn

Cho cha nhé

Và con

cũng nói giùm với mẹ

Cha đi vui

Xin mẹ đừng buồn…

(Emily con ơi - Tố Hữu)

Sau đó đoàn xe của Chủ tịch nước chạy một vòng sang bên bờ sông Potomac ở phía bang Virginia. Đại sứ Nguyễn Tâm Chiến ngồi cùng trên xe của Chủ tịch nước khi đó có đề nghị đoàn xe chạy chậm lại để có giây phút thiêng liêng tưởng nhớ đến người bạn lớn của VN.

 

CHÂN DUNG ÔNG TỐ HỮU
Thanh Phong

Thực ra, người viết đã nghĩ là sẽ không ghi chép, bình luận thêm gì về chân dung ông Tố Hữu nữa. Nhưng đọc báo trong nước, lại thấy ông Tố Hữu tự tô đậm thêm chân dung của ông một lần nữa, nên cũng xin chép lại để giới thiệu với các bạn. Số là, sau khi cuốn “Chân Dung Và Ðối Thoại” của Trần Ðăng Khoa ra mắt độc giả, dư luận trong nước khá xôn xao, bạn đọc kẻ khen người chê, người thì cho là Trần Ðăng Khoa mạnh dạn “xé rào” dám đưa ra một phần sự thật về các nhà văn, kẻ lại chê là tác giả “láo lếu” dám “xỏ ngầm” các bậc đàn anh khả kính. Tờ “An Ninh Thế Giới” (ANTG) quan tâm đến “an ninh văn hóa” nước nhà, đã cử nhà báo N.N.P. phỏng vấn ông Tố Hữu để xin ý kiến của ông về bài Trần Ðăng Khoa viết về ông. Trong ANTG số 117, có đăng bài phỏng vấn đó.
Trả lời câu hỏi của nhà báo công an, ông Tố Hữu nói:
- Chú chưa có ý kiến gì đâu. Cứ để các nhà phê bình, bạn đọc lên tiếng đã. Rồi sau đó chú sẽ có tiếng nói chính thức. Mà có lẽ tốt hơn cả là chú gọi Khoa tới... như ngày xưa Khoa còn bé tý. Mà này, cháu ở Văn hoá - Văn nghệ Công an hả. Chà chà, phải cẩn thận khi phát ngôn đấy. Kẻo người ta bảo ông Tố Hữu dùng "Công an đánh Khoa" thì gay. Cháu cứ ghi ý kiến của chú, đăng báo nào thì tuỳ, nhưng đăng ở Công an... Từ từ nhé!
Quả là ông nhà thơ tỏ ra... “khôn” thật. Ông dặn anh nhà báo công an phải cẩn thận... “Kẻo người ta bảo ông Tố Hữu dùng "Công an đánh Khoa" thì gay”! Tố Hữu làm như tuồng ông chưa hề bao giờ dùng công an “đánh” một văn nghệ sĩ nào cả! Chưa hề bao giờ bắt bớ, giam cầm và bỏ tù văn nghệ sĩ cả! Các văn nghệ sĩ là nạn nhân còn sống sót sau bao cuộc đàn áp - mà ông Tố Hữu là một trong những người phải chịu trách niệm chính - nghĩ thế nào khi nghe ông nói thế?
Rồi ông Tố Hữu nói tiếp:
- ... Tôi và anh Xuân Diệu phát hiện ra Khoa, bồi dưỡng Khoa. Tập thơ "Góc sân và khoảng trời" đến bây giờ vẫn giữ nguyên giá trị... Sau này, Khoa không được như trước nữa, có lẽ là vì "đứt rễ", vì phải xa cái sân gạch nhà mình, xa cây na ngày gọi chim, đêm gọi trăng... Nhà văn, nhà thơ mà xa mảnh đất đã làm nên mình là hỏng. Ðặc biệt sai lầm là cái việc đưa Khoa đi học Trường viết văn Goócki. Làm gì có trường dạy viết văn. Nghề văn không dạy được. Nhà văn hình thành là do cuộc sống, do một năng khiếu bẩm sinh. Nhà văn là phải học ở trường đời. Tôi cho Trường viết văn Nguyễn Du là thứ tào lao, không nên có. Chỉ nên mở lớp bồi dưỡng khoảng một năm.
Ðúng quá! “Làm gì có trường dạy viết văn. Nghề văn không dạy được. Nhà văn hình thành là do cuộc sống, do một năng khiếu bẩm sinh. Nhà văn là phải học ở trường đời”. Ðiều này trước đây nhiều người đã nói, nhưng ông Tố Hữu cũng như các vị lãnh đạo khác của Ðảng có chịu nghe đâu?! Còn... bây giờ thì ông nói thế, một lần nữa ông lại “phịa như thật”! Làm như tuồng trước đây ai đấy đã quyết định làm cái “thứ tào lao” đó, tức là bày ra Trường viết văn Nguyễn Du, là cử sinh viên đi học ở Trường viết văn Goócki, chứ không phải ông Tố Hữu, người đã “thống lĩnh” văn học nghệ thuật Việt Nam xã hội chủ nghĩa suốt mấy chục năm trời! Ông cũng cố lờ đi cái mục đích chính của trường viết văn do Ðảng của ông bày ra. Ðảng mở ra trường viết văn đâu có phải để dạy viết văn - như ông nói bây giờ - mà chính là để nhồi sọ cho các nhà văn tương lai cái đầu óc tuyệt đối phục tùng Ðảng, hết lòng hết sức phục vụ cho đường lối của Ðảng. Những thứ đó các ông lãnh đạo Ðảng thường gọi là “tính đảng trong văn học nghệ thuật”! Hay là “trau giồi thế giới quan mác-xít lê-nin-nít”!
Ðọc câu trả lời của Tố Hữu, tôi bỗng liên tưởng đến một chuyện thật chua xót thế này: sau khi đã giam cầm, bỏ tù một loạt văn nghệ sĩ hoàn toàn vô tội, hay chỉ có cái “tội” tha thiết ước muốn tự do, trong cái gọi là “vụ án Nhân Văn Giai Phẩm”, ngày 25.7.1961, ông Tố Hữu đọc một bài diễn văn quan trọng, nhan đề “Ðào tạo những nghệ sĩ mới của dân tộc”, trong đó ông nói: “Chúng ta giàu cái gì nhất? Giàu tự do. Tự do là điều kiện thiết yếu của nghệ thuật. Tự do là nước, nghệ thuật là cá. Không có tự do, nghệ thuật không sống được và sẽ chết. Nếu không có ý thức đầy đủ về điều đó, thì nghệ thuật không thể phát triển được” (chép đúng nguyên văn, xem tr. 261 sách “Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta với thời đại ta” của Tố Hữu, Hà Nội 1973). Xin nhắc lại: cái chúng ta giàu nhất là tự do!!! Ðấy, cái tài - có thể gọi là nghệ thuật - “phịa như thật” của Tố Hữu là như thế đó: cái đúng và cái bịp, cái thật và cái phịa xen kẽ nhau, xoắn quyện nhau, khó mà “lần” cho ra... Nhắc lại điều này để thấy chân dung ông Tố Hữu gần 40 năm trước và bây giờ về cơ bản không có gì thay đổi mấy!
Ông Tố Hữu nói tiếp với nhà báo công an:
- ... Nhưng mà này, tôi có cảm giác Khoa đang sống xa dân, xa cuộc sống thật... Nguy đấy. Gần đây, văn học nước nhà không có cuốn tiểu thuyết nào gây ấn tượng. À, tôi thấy có câu này không ổn. Khi nói đến Ðảng, đến Bác là chúng ta hay nói “ơn Ðảng, ơn Bác Hồ”. Nói thế Bác buồn đấy. Phải là “ơn dân” rồi mới đến Ðảng, đến Bác.
Một lần nữa, ông Tố Hữu lại tỏ rõ biệt tài “phịa như thật”. “Nói thế Bác buồn đấy”! Ðạo đức giả làm sao! Tố Hữu làm như hồi sinh thời, ông Hồ coi trọng dân hơn Hồ Chủ tịch, coi trọng dân hơn đảng cộng sản. Lẽ nào ông trưởng ban tuyên huấn của Trung ương Ðảng lại không biết chuyện ông Hồ đã dùng tên giả, tự tay mình viết sách (không phải chỉ một cuốn!), viết báo (không phải chỉ một bài) để ca tụng mình? Lẽ nào ông lại không biết là trong sách do ông Hồ viết, chính ông Hồ đã tự tôn vinh “Hồ Chủ tịch là Cha già dân tộc”? Nếu ông biết thì xin ông trả lời thành thật: “Thế thì Bác Hồ của ông đặt dân trên Bác hay Bác trên dân”?
Ông Tố Hữu cố tình quên là trước đây chính ông và “đội quân” tuyên huấn của ông là những kẻ gieo rắc tệ sùng bái cá nhân ông Hồ tích cực nhất, lắm khi đến lố bịch. Chắc ông Tố Hữu cố quên chuyện thật này: hồi đầu năm 60, một số người Hà Nội đã đề nghị dựng tượng các anh hùng dân tộc Lê Lợi và Nguyễn Trãi tại thủ đô Hà Nội, thì chính ông Tố Hữu đã bác đi và nói: “Chỉ khi nào ở thủ đô dựng tượng Bác Hồ rồi thì lúc đó mới được dựng các tượng khác của các anh hùng dân tộc”!
Mà thực ra, chẳng đợi ban tuyên huấn đảng làm chuyện gieo rắc tệ sùng bái cá nhân ông Hồ, chính bản thân ông Hồ cũng đã tự mình làm việc đó thật hăng say. Chuyện đó không còn là điều “tối mật” nữa.
Biết rằng cái thế của mình không còn “hét ra lửa” như xưa, ông Tố Hữu tỏ ra dịu dàng, “độ lượng” (chữ này của nhà báo N.N.P.) đến cảm động khi nhận xét bài viết của Trần Ðăng Khoa:
- ... Nhưng thôi, bài viết thế là tốt... Viết như thế có gì đâu mà không phải với tôi. Ờ, mà tại sao có người lại tức giận hộ cho tôi nhỉ... Khoa phải cẩn thận lắm mới có thể vượt qua "Góc sân và khoảng trời" nhà mình. Từ đó đến nay đã 30 năm rồi còn gì. Vậy mà sau lưng Khoa trống đấy. Cháu là công an hả, phải thổi còi cho Khoa thôi. Nhưng đừng để nó giật mình, ngã xe nhé!
Và anh công an đã thổi còi... Còn chúng ta đưọc thấy thêm vài nét nữa trên chân dung của Tố Hữu.

CHÂN DUNG ÔNG TỐ HỮU
(TRANH KHẢM)

Sau khi "Chân dung ông Tố Hữu" được đăng báo, người viết nhận được hồi âm của khá nhiều bạn đọc từ các nơi gửi đến góp ý kiến và bổ sung thêm nhiều chuyện mới khắc họa thêm những nét sống động cho chân dung. Người viết xin chân thành cảm tạ các bạn và xin phép chép ra đây mấy bài. Chúng tôi cố giữ nguyên phong cách, ngôn từ của các bạn gửi bài.
Cây táo ông Lành
Một bạn trong nước nói rõ bài “Tên Lành mà dạ chẳng lành...” lưu truyền từ hồi cuối những năm 70 và kể thêm một chuyện sau:
Năm 1974, nhân dịp ngày quốc tế thiếu nhi (ngày 1/6), tuần báo Văn nghệ có đăng truyện ngắn "Cây táo ông Lành". Chuyện kể về một ông già tên là Lành, có cây táo mọc trong vườn sát đường đi học của lũ trẻ trong làng. Bọn học trò thường vít cành bứt quả khiến ông bực tức và dùng vải đen tạo ra một ổ kiến lửa trên cây, dọa trẻ con. Lũ trẻ con trông tổ kiến giống đầu lâu đen sợ hãi, và tránh, đi lối khác, "không đi theo con đường ông Lành nữa". Lão Lành giữ được cây táo thì mất lũ trẻ con ríu rít hàng ngày qua lại. Lão tìm cách giải thích cho trẻ con đấy không phải là đầu lâu đen, nhưng chẳng đứa trẻ nào tin.
Tên cúng cơm của ông Tố Hữu là Lành. Hồi đó, ông đang ở trên “đỉnh cao muôn trượng” của quyền lực, thế là họ truy tìm lý lịch người viết. Lũ bồi bút "phê bình" văn học mang kính lúp ra soi, nào là "đầu lâu đen" viết tắt là ÐLÐ, ám chỉ Ðảng Lao động Việt nam, nào là "không đi theo con đường ông Lành nữa", nghĩa là không đi theo con đường của Ðảng...Tác giả bài báo phải “chịu sóng gió” một thời, nhưng may thay, anh là một thương binh có hạng, không thì cũng khó sống yên với họ.

"Khơi lại những ý thích tầm thường"

Một bạn khác cũng ở trong nước kể lại:
Dạo ấy, Nguyễn Tuân bị Tố Hữu phê phán nặng vì bài “phở” và “giò lụa” với tội danh “tư tưởng hưởng lạc”, “tầm phào”, “khơi lại những ý thích tầm thường”. Chuyện đó xảy ra sau khi quân ta vào Hà Nội vài năm, nên cái “tội” có “tư tưởng hưởng lạc”, “khơi lại ý thức tầm thường” là nặng lắm, vì nó thuộc về lập trường giai cấp, đó là biểu hiện tư tưởng tư sản, tiểu tư sản, biểu hiện sút kém tinh thần cách mạng, điều mà Lê Duẩn thường “lên gân” nhắc nhở cán bộ.
Thế nhưng, vào thời đó ở Miền Bắc, người ta (cụ thể là ban bảo vệ sức khỏe lãnh đạo, được lập nên do sáng kiến của Lê Ðức Thọ và Trần Quốc Hoàn) cũng đã bí mật... “khơi lại những ý thích tầm thường” và “tư tưởng hưởng lạc”... cho “các cụ” lãnh đạo. Không phải bằng văn học như Nguyễn Tuân, mà “bằng công việc thiết thực”, tức là tuyển dụng các cô gái trẻ để thành lập khoa “lý liệu pháp” hay về sau đổi tên là “vật lý trị liệu” (tiền thân của massage - xoa bóp - sau này) chuyên “phục vụ” cho “các cụ” lãnh đạo. Bọn quân sư lý luận rằng “cơ thể là một khối thống nhất” cho nên phải làm “thức tỉnh” tất cả các cơ quan chức năng của “các cụ” để các cụ minh mẫn đưa dân ta ra khỏi con đường lầm than.
Ðứa con trai nhỏ “ngoài giá thú” của Ba Duẩn sinh hạ chính là trong dịp này. Chuyện ồn lên ở Hà Nội một dạo. Sau phải đưa cả hai mẹ con đứa bé vào Miền Trung bộ Việt Nam sống. Nghe nói năm 1986 khi Lê Duẩn chết, cô ta ra dự tang và xuất hiện trên màn ảnh TV.

Ao cá Bác Hồ

Chuyện này cũng do một bạn trong nước gửi cho:
Năm 1979, trong nước rộn lên phong trào “Ao cá Bác Hồ”, tác giả chính là Tố Hữu. Chuyện thế này: ở các vùng thôn quê, người ta huy động thanh thiếu niên đào ao cá Bác Hồ, cá giống được các bô lão thuê xe ca “Ba Ðình” gióng trống mở cờ lên tận nhà sàn Bác nhận cá giống. Ðúng là cá “thần” thật, chỉ một vài chục con thả xuống, sau thời gian ngắn đàn cá sinh sôi nảy nở phục vụ cho dân làng lễ Tết. Trước đó, từng gia đình người ta thả cá ở ao nhưng... ít khi được xơi. Lý do thì nhiều: nào là mưa to, cá trôi sạch, nào là bọn đạo chích câu trộm, nào là cá chết vì bệnh... Vì thế sáng kiến của Tố Hữu được báo chí khen rầm rộ. Lạ lùng thế này: trường đại học thủy sản, đào tạo các kỹ sư nuôi cá nước mặn, nước ngọt, nước lợ... mà không con nào sống cả, nhưng chỉ vài con cá “thần” lấy từ ao ông Hồ về thì cá lớn nhanh, khoẻ re. Sao không đóng mẹ nó cửa cái trường đào tạo ra rặt bọn ăn hại đái nát ấy đi? Hay là duy tâm thắng duy vật rồi?
Nhưng Tố Hữu đâu có biết rằng (hoặc biết mà lờ đi? - người đánh máy) sau khi thả “cá giống Bác Hồ” thì chủ nhiệm hợp tác xã cũng phải xuất thóc mua hàng tạ cá giống khác ném tiếp xuống ao, cử một xã viên ăn công điểm hẳn hoi ngày ngày giã cám vứt xuống ao nuôi chúng. Dân quân được lệnh 24/24 giờ trông coi ao cẩn thận. Nếu mưa to, cá bỏ đi mất thì... xuất tiền mua bù bỏ vào để khỏi bay cái chức chủ nhiệm.
Tại ao cá Bác Hồ nằm phía sau Nhà hát nhân dân thành phố Hải phòng, giáp với ngõ Ðồng Lùn (quê hương của anh bạn tôi) đã xảy ra thảm cảnh. Tự vệ trông hồ cá đã nổ súng vào bọn đánh cá trộm ban đêm. Không trúng trộm, mà trúng ngay bà cụ 70 tuổi nằm hóng mát ven hồ. May mà lũ con bà cụ không làm to chuyện, sáu mâm cỗ và cỗ quan tài là... xong việc.
Giá như Bác Hồ, ngoài việc biết nuôi cá, lại biết làm thêm xe máy, ôtô, máy bay, TV ... để Tố Hữu “vận dụng” theo kiểu “ao cá Bác Hồ” thì... chắc dân ta không mạt vận như thế này!

Tố Hữu thương thanh niên Pháp

Một bạn hiện đang ở Ðức gửi thư kể chuyện này:
Sau khi dự đại đại hội Ðảng cộng sản Pháp, về nước Tố Hữu thường tỏ lòng thương thế hệ trẻ Pháp. Trong buổi gặp mặt thanh niên ở Hà Nội, ông nói như sau: "Thật thương cho thế hệ trẻ ở Pháp có cuộc sống vật chất đầy đủ, nhưng còn thiếu ánh sáng của chủ nghĩa xã hội soi rọi để sống có lý tưởng" (!)
Thế mà bây giờ con gái Tố Hữu tên là Hoa, phó tiến sĩ sinh vật học đang cùng chồng là Châu (tiến sĩ cơ học) mang con cái sang ở Ðức, chỗ tăm tối thiếu ánh sáng của chủ nghĩa xã hội và có ý định sống lâu dài ở đó. Không thấy Tố Hữu thương con, thương cháu gọi chúng về nước... sống dưới ánh sáng của chủ nghĩa xã hội!

Chỉ sợ các Bác không buông quang gánh ra thôi

Một bạn đã từng đi học ở Czechoslovakia (Tiệp Khắc) kể lại chuyện thật mà anh đã chứng kiến sau đây:
Hè năm 1981, Tố Hữu lúc đó là Phó thủ tướng thường trực, sang thăm một số nước Châu Âu. Hồi đó, Tố Hữu thay quyền hạn Phạm Văn Ðồng, nên kiêu lắm. Tại Prague (thủ đô của Czechoslovakia), có cuộc gặp gỡ và nói chuyện với sinh viên. Khi ra về, Tố Hữu lên giọng "lãnh tụ" cũng tự xưng là “bác” như... ai: "Bác và các đồng chí lãnh đạo đang gồng mình gánh vác gánh nặng khó khăn của đất nước, các cháu cần phải học hành chăm chỉ để sau này thay thế các Bác gánh vác gánh nặng ấy. Các cháu đã sẵn sàng chưa?"
Một sinh viên lớn tuổi nhất trong đám đông trả lời ngay tắp lự: "Chúng cháu đã sẵn sàng cả rồi, chỉ sợ các Bác không buông quang gánh ra thôi". Tố Hữu tím mặt, tọt ngay vào xe, chuồn thẳng. Khốn khổ cho anh chàng bạo miệng! Tố Hữu về đến Hà Nội thì anh này bị sứ quán gọi lên và trục xuất về nước ngay.

Cái nhầm... đáng yêu

Một cụ già về hưu đã gửi cho mẩu chuyện này:

Vào những năm 70, nhà thơ "mẹ mìn" của chúng ta bỗng dưng sáng chói trên chính trường Việt Nam, với chức Phó thủ tướng thường trực. Theo lời đồn đại của dân chúng thì ông còn được "dự kiến" làm Tổng bí thư Ðảng, kế vị Lê Duẩn. Thế mà sau cái chết của Lê Duẩn vào năm 1976, khúc sông chính trị bỗng nhiên nổi sóng, khiến cho Tố Hữu lặn mất tăm, không còn vai vế gì trong Ðảng. Tố Hữu sống ở ngôi nhà khá đẹp trên phố Phan Ðình Phùng. Ðã thấu hiểu phương châm "sóng trước vỗ đâu, sóng sau vỗ đó" của các "chiến hữu", Tố Hữu lo xa đến ngày phải rời tổ ấm chuyển đi căn hộ "lắp ghép" với "song sắt chuồng cọp", bèn nẩy kế xin một khoảnh đất đẹp ở Hồ Tây để... xây nhà trong lúc tình cảm đồng chí còn chưa hết hơi nồng.
Tố Hữu đã nhầm to, chẳng có ai "thu" lại ngôi nhà to đùng ở phố Phan Ðình Phùng, như ông nghĩ, nên ông vẫn ung dung "tọa lạc" ở đó. Còn ngôi nhà to đùng mới xây "thừa ra" ở Hồ Tây đành phải cho thuê lấy 2000USD/tháng, phụ thêm khoản rau dưa cho bà Thanh (1) đi chợ.
Cái nhầm đáng yêu của ông Lành không ngờ mang lại hiệu quả lớn!

* * *

Những mẩu chuyện trên đây ghép lại thành bức tranh khảm, xin gửi tặng các bạn.

Thanh Phong


1. Tên vợ ông Tố Hữu.

Linh Dinh

Are there still sky and earth?

800px-Stalin_Statue_closeup.jpg

Gori, population 50,000, is in the news because of the escalating war between Russia and Georgia. Its most famous son is Joseph Stalin. In Gori, there is a Stalin Avenue, a Stalin Square, three Stalin statues, including a giant o­ne in front of town hall, and a Stalin Museum, the town's main tourist attraction. Its exhibits mention no Great Terror purges, gulags or mass starvation. The dictator is still a great man in Gori but likely nowhere else, although his cult was o­nce widespread. When Stalin died in 1953, Communist Vietnam's most celebrated poet, Tố Hữu, wrote a hysterical elegy. I translate:

Stalin! Stalin!

A mother showed to her child
A picture of Stalin with a young child
His shirt is white against red clouds
His eyes are kind, his mouth smiling

On an immense green field
He stands with a little child
Wearing a red scarf round his neck
Towards the future they both look

Stalin! Stalin!
How I loved my child's first word
When he said the word Stalin!
The milky fragance of a baby's mouth
Is like the dove of peace and a limpid moon

Yesterday the field speaker blared
Tore my stomach to shreds
O how the village convulsed
O how can it be... He's dead!

O Stalin! O Stalin!
Without you, are there still sky and earth?
The love for my father, mother, wife
The love for myself are but o­ne tenth
Of my love for you
The love for my child, country, race
Can't be greater than my love for you

Before there was o­nly barren desolation
Thanks to you there's brightness and joy
Before o­nly torn clothes and hunger
Thanks to you our rice pots are full
Before o­nly torment and shackles
Thanks to you we have days of freedom

When people have land to till
When independence comes tomorrow
Who will we remember with gratitude?
This gratitude I'll bear o­n my shoulders
One side for Uncle Ho, o­ne for you
My child, you're still so clueless
But you'll learn to thank Stalin for life

Loving you a mother vowed in silence
To love village, country, husband, child
Although you have disappeared, gone
Your crimson footsteps are forever
Today o­n the village road at dawn
Incense smoke curled up everywhere
A thousand in mourning white, joined
In wrenching eternal remembrance of you.

Much superior artists to Tố Hữu, most notably Picasso and Neruda, have tainted themselves by paying homage to a man responsible for 20 to 60 million deaths. Even Albert Einstein refused to condemn Stalin's murder of political prisoners, stating, "The Russians have proved that their o­nly aim is really the improvement of the lot of the Russian people.” Not all major intellectuals got it wrong, of course. During WWII, when the dictator was an ally of Roosevelt and Churchill, an important American poet did declare, "Stalin's regime considers humanity as nothing save raw material. Deliver so many carloads of human material at the consumption point. That is the logical result of materialism. If you assert that men are dirty, that humanity is merely material, that is where you come out. And the old Georgian train robber is perfectly logical. If all things are merely material, man is material--and the system of anti-man treats man as matter"--Ezra Pound. What Pound got wrong have been amply broadcast.

Tố Hữu spent decades writing obsequious and bloodthirsty poetry and was also very dangerous as a high-ranking Party member. Near death in 2002, he circulated a farewell poem. I translate:

To my most beloved friend in life
A few lines of verse and a bit of ash
Poetry for life, ash for the soil
In life I give, in death I also give.
The Vietnamese word for "give" is "cho." Add a rising diacritic, however, and "cho" becomes "chó," meaning "dog." In oral circulation, the last line of Tố Hữu's poem has been converted to:
In life I was a dog, in death a dog.
http://www.poetryfoundation.org/ (website thơ quốc tế)

Thừa Thiên mất Tố Hữu,
Quảng Nam còn Phan Khôi

Hai xứ Huế và Quảng gần nhau chỉ cách đèo Hải Vân nhưng giọng nói và khí khái cũng khác nhau xa. Hai nhà thơ của hai tỉnh cùng thời nhưng lý tưởng khác nhau

Phan Khôi 

Cụ sinh năm 1887 tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, ông thân sinh ra cụ là Phan Trân, trước làm Tri phủ, phủ Điện Khánh, sau từ quan về làm nghề dạy học. Bà mẹ cụ Phan Khôi là con gái cụ Hoàng Diệu, nguyên Tổng đốc Hà Nôị, có lần đã đi sứ sang Tây Ban Nha và Anh Cát Lợi. Cụ Hoàng Diệu tuẩn tiết khi thành Hà Nội bị lọt vào tay Henri Riviere năm 1882.

Cụ Phan Khôi học chữ nho rất giỏi và mới 19 tuổi đã đỗ Tú Tài (1905) tuy rằng sức học đáng đề cao hơn. Đỗ xong cụ tỏ ý chán khoa cử, vì cụ được gặp cụ Phan Bội Châu và cụ Phan Chu Trinh nên bị ảnh hưởng của hai nhà cách mạng nàỵ

Năm 1907 cụ Phan Khôi ra Hà Nội, tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục và viết cho tờ tạp chí Đăng Cổ Tùng Báo do phong trào này xuất bản. Chẳng bao lâu tờ tạp chí bị cấm và phong trào bị khủng bố. Cụ Phan liền rút lui về Nam Định rồi về Hải Phòng ẩn náụ Ít lâu sau cụ lén về Quảng Nam hoạt động trong phong trào Văn Thân cùng với cụ Huỳnh Thúc Kháng.

Trong một cuộc biểu tình đòi giảm thuế cụ Phan bị bắt và giam tại nhà lao Quảng Nam cho mãi đến năm 1914, vì có chiến tranh Đức Pháp, toàn quyền Albert Sarraut mới ân xá cho nhiều tù nhân, trong đó có cụ .

Trong thời gian bị tù, cụ Phan học chữ Pháp với những công chức cùng bị giam . Thoát khỏi tù, cụ ra Hà Nội làm nghề viết báọ Cụ viết cho tờ Nam Phong, là tờ báo văn học duy nhất của thời bấy giờ. VÌ bất bình với Phạm Quỳnh là giám đốc tờ Nam Phong, cụ bỏ Hà Nội vào Saigon viết cho tờ Lục Tỉnh Tân Văn .

Năm 1920 cụ lại trở ra Hà Nội viết cho tờ Thực Nghiệp Dân Báo và tờ Hữu Thanh của cụ Ngô Đức Kế. Trong thời kỳ này cụ dịch thuê cuốn Kinh Thánh cho Hội Tin Lành. Cuốn Nam Âm thi thoại của cụ ra đời trong thời kỳ nàỵ

Năm 1928, tờ Thực Nghiệp Dân Báo và tờ Hữu Thanh bị đóng cửa, cụ Phan lại trở vào Saigon viết cho tờ Thần Chung và tờ Phụ Nữ Tân Văn, và gửi bài ra Hà Nội cho báo Đông Tây . Trong thời kỳ này cụ Phan bút chiến với Hải Triều, nhà văn Cộng sản, về vấn đề Duy Tâm và Duy Vật. Cuộc bút chiến này sôi nổi dư luận trong toàn quốc .

Năm 1931, cụ Phan lại trở ra Hà Nội viết cho tờ Phụ Nữ Thời Đàm.

Năm 1936 cụ vào Huế viết cho tờ Tràng An và xin được phép xuất bản tờ Sông Hương . Cụ tái bản cuốn Nam Âm Thi Thoại và đổi tên là Chương Dân Thi Thoại .

Năm 1939 tờ Sông Hương chết, cụ Phan lại trở vô Saigon dạy học chữ Nho và viết tiểu thuyết. Thời kỳ này cụ viết cuốn "Trở vỏ lửa ra" .

Sau khi Saigon bị phi cơ đồng minh oanh tạc dữ dội, cụ Phan rút lui về quê để tránh bom và sống an nhàn cho đến khi Việt Minh cướp chính quyền, năm 1945.

Cụ bất bình với chính sách khủng bố của Việt Minh thi hành ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, nhất là về việc cán bộ địa phương định phá hủy nhà thờ cụ Hoàng Diệu, nên cụ lớn tiếng công kích. Cán bộ địa phương toan bắt cụ, nhưng vì nể Phan Thao là con cụ lúc bấy giờ làm cán bộ cao cấp trong Ủy ban Trung bộ, nên không dám bắt mà chỉ báo cáo lên cấp trên . Về phần cụ Phan, cụ cũng khôn khéo viết thư cho cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc bấy giờ giữ chức Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ ở Hà Nộị Cụ Huỳnh vội vàng can thiệp. Hồ Chí Minh giàn xếp vấn đề bằng cách tự tay viết thư mời cụ Phan ra Hà Nội hợp tác, nhưng kỳ thực là giao cho em họ cụ là Phan Bôi, tức Hoàng Hữu Nam, Trung Ương Ủy viên và Thứ trưởng Bộ Nội Vụ phụ trách quản thúc.

Ra đến Hà Nội , cụ Phan không chịu ở nhà Phan Bôi, cụ lên phố Quan Thánh ở nhà Khái Hưng, tức Trần Khánh Dư, là một nhà văn theo Quốc Dân Đảng . Khi Việt Minh khủng bố Quốc Dân Đảng và vây nhà Khái Hưng để bắt Khái Hưng thì đồng thời cũng bắt được cụ Phan Khôi trong đó. Vì lúc bấy giờ Phan Thao con cụ làm chủ Nhiệm báo Cứu Quốc ở Hà Nội, nên một lần nữa Việt Minh lại không dám khủng bố cụ Phan. Chúng giao cụ cho Phan Bôi điệu lên chiến khu Việt Bắc. Cụ ở Việt Bắc suốt 9 năm kháng chiến.

Ở chiến khu cụ Phan được giao công tác phiên dịch sách chữ Hán hoặc chữ Pháp sang tiếng Việt. Tuy bất mãn, nhưng cụ cũng làm tròn nhiệm vụ . Ông Hồ lấy làm bằng lòng và ban cho cụ một chiếc áo "bờ lu dông" Mỹ .

Sự thực thì cụ Phan chỉ tán thành cuộc kháng chiến chống Pháp, nhưng cụ rất ghét Việt Minh . Hồi 1951 cụ làm bài thơ ví cuộc kháng chiến như hoa Hồng và ví Việt Minh như gai . Đại ý cụ nói cụ vì yêu kháng chiến mà phải phục tùng Việt Minh . Bài thơ "Hồng gai" như sau :

Hồng nào hồng chẳng có gai 
Miễn đừng là thứ hồng dài không hoa, 
Là hồng thì phải có hoa, 
Không hoa chỉ có gai mà ai chơi ? 
Ta yêu hồng lắm hồng ơi ! 
Có gai mà cũng có mùi hương thơm . 

(16-03-1951)

Cụ ghét Việt Minh về nỗi cấm đoán tự do ngôn luận nên cụ làm một bài thơ tả số phận con lợn như sau :

Đánh đùng một cái Kêu éc éc ngay Bịt mồm , bịt miệng, Trói chân, trói tay

. . . . . . . . . . . . . . Từ dây đến cái dao Chẳng còn xa là bao .

Cám cảnh cô độc ở Việt Bắc, cụ Phan làm một bài thơ chữ Hán mà Thế Lữ dịch ý như sau :

Một mình trước cảnh xanh núi rừng
Ta ngồi ngạo nghễ với bầy chim bầy vượn 
Vì ta chạy loạn mà tình cờ gặp cảnh lâm tuyền
.

(Cụ ví Việt Minh là thú vật).

Và một bài khác Thế Lữ dịch ý như sau :

Một mình đêm giao thừa Đến ngọn đèn làm bầu bạn cũng không có Đắp lên thân suy tàn một tấm chăn kép Chợp mắt mơ là nhằm miếng chua cay Có vợ con mà sống chia cách Không sinh kế đành phải ăn nhờ Nghe tiếng gà mừng vùng dậy Kháng chiến bốn lần gặp Xuân rồi (1950)

Vì khí hậu độc nên cụ sinh ốm đau và phải vào bệnh viện nằm trong đó một thời gian . Ra khỏi bệnh viện, cụ đi hớt tóc và cảm hứng cụ làm bốn câu thơ :

Tuổi già thêm bệnh hoạn 
Kháng chiến thấy thừa ta 
Mối sầu như tóc bạc 
Cứ cắt lại dài ra

(1952)

Cuối năm 1954 cụ Phan Khôi ở chiến khu về Hà Nội cùng với đa số các văn nghệ sĩ khác. Vì không có nhà cửa ở Hà Nội nên Hội Văn Nghệ dành cho cụ một buồng ở tầng ba của nhà trụ sở hội đường Gambetta cũ. Cụ vẫn tiếp tục công việc phiên dịch .

Mùa Thu 1956 cụ viết bài "Phê bình Lãnh đạo Văn Nghệ" đăng trong Giai Phẩm Mùa Thu . Bài này gây nên ngọn lửa chiến tranh giữa trí thức miền Bắc với Đảng . Để nới rộng cuộc đấu tranh sang lĩnh vực chính trị, cụ Phan Khôi đứng ra làm chủ nhiêm kiêm chủ bút báo Nhân Văn . Để tỏ ý chí đấu tranh đến cùng, cụ làm bốn câu thơ :


Nắng chiếu tuy có đẹp 
Tiếc tài gần chạng vạng 
Mặc dù gần chạng vạng 
Nắng được thì cứ nắng

(1956)

Nhận thấy thái độ chống đối của cụ Phan Khôi là một điều tối nguy hại cho chế độ, Việt cộng, một lần cuối cùng, cố sức mua chuộc cụ bằng cách mời cụ sang Bắc Kinh để dự lễ kỷ niệm nhà văn Lỗ Tấn. Chính quyền miền Bắc hy vọng rằng cho cụ đi thăm các xưởng máy đồ sộ của Trung Quốc, cụ sẽ phải khâm phục sự tiến bộ của nước đàn anh vĩ đại, và do đó sẽ thay đổi quan niệm, không chỉ trích cộng sản nữa . Một lần nữa, cộng sản lại thất vọng .

Một hôm cụ Phan được đưa tới thăm nhà máy An Sơn của Trung cộng, cụ làm ra vẻ tấm tắc khen ngợi những máy móc tinh xảo và phát biểu như sau :

"Ngày xưa ông Mác nói : Lao động sáng tạo nhưng tôi nghĩ rằng nên nói trí thức và lao động sáng tạo, mới đúng" .

Cán bộ Trung Cộng lễ phép chữa lại :

"Thưa cụ, ông Mác nói là lao động là bao gồm cả trí thức trong đó chứ ạ !"

Cụ Phan trả lời ngay :

"Không đâu, ý ông Mác chỉ muốn nói công nhân thôi, còn trí thức thì sau này người ta mới thêm thắt vào đó ".

Cán bộ Trung cộng ứ hơi cứng họng không trả lời được .

Sau khi ở Trung quốc về cụ Phan lại tiếp tục công việc làm chủ nhiệm báo Nhân Văn . Biết rằng đảng sắp khủng bố đến nơi, cụ vẫn bình tĩnh tiếp tục cuộc đấu tranh . Hồi đó cụ làm bốn câu thơ hài hước như sau :


Làm sao cũng chẳng làm sao
Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi
Làm chi cũng chẳng làm chi 
Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao

Việc cụ Phan Khôi chống đối đảng trong hai năm vừa qua như thế nào, chúng tôi đã trình bày tường tận trong mục : "Lịch trình đấu tranh của trí thức ở miền Bắc ". Chúng tôi cũng đã tường thuật việc cụ bị đả kích và chửi bới như thế nàọ Họ bảo cụ là phản động Việt gian, phá hoại, tờ-rốt-kít, cụ hút thuốc phiện, chơi gái ... và cụ "hủ hóa" cả với nữ sĩ Thụy An nữa (nên nhớ rằng khi cụ Phan gặp bà Thụy An, cụ đã ngoài 70 tuổi). Điều đó không làm cho chúng ta ngạc nhiên vì tục ngữ của chúng ta đã sẵn có câu : Được là vua, thua là giặc.

Điều mà chúng ta cần chú ý là nhờ có sự chửi bới moi móc đó mà chúng ta biết thêm được một vài chi tiết về sự nghiệp văn chương của cụ Phan . Số là trong báo Văn Nghệ số 15, xuất bản hồi tháng 8, 1958. Đoàn Giỏi, một cán bộ văn nghệ có viết 1 bài mạt sát cụ Phan, trong đó có nói nhiều đến cuốn "Nắng Chiều" của cụ Phan mà từ trước tới nay chưa ai biết, vì chưa xuất bản .

Cũng vì không thể kiếm được nguyên bản nên chúng tôi tạm trích bài phê bình của Đoàn Giỏi để độc giả có thể có một khái niệm về tác phẩm cuối cùng của cụ và cũng để độc giả thử đoán xem Đoàn Giỏi có chủ tâm đả kích cụ Phan Khôi không, hay là chỉ mượn cớ chửi bới để phổ biến một tác phẩm mà từ lâu đảng vẫn dấu kín trong tủ sắt. Chúng tôi không dám quyết định, chỉ biết rằng sau khi đăng bài đó, ban biên tập tờ Văn Nghệ phải tự kiểm thảo và từ ngày ấy thấy vắng tên Đoàn Giỏi trên mặt báo.

Chúng tôi cũng không dám phê bình cụ Phan Khôi vì cụ là tiền bốị Những người đã có dịp quen biết với cụ trong cuộc đời bôn ba của cụ, tất nhiên biết về cụ rõ hơn chúng tôi .

  • PHÊ BÌNH LÃNH ĐẠO VĂN NGHỆ
  • TÌM ƯU ĐIỂM (Ngụ Ngôn)
  • ÔNG BÌNH VÔI
  • ÔNG NĂM CHUỘT (Truyện Ngắn)
  • NẮNG CHIỀU
    (xuquang.com)



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Cách làm biểu ngữ bích chương nhanh và rẻ nhất cho chiến dịch biểu tình [NEW]
Đặc khu phá sản: Ngoài đường dân tổng biểu tình,tẩy chay chế độ , nội bộ đá nhau chí tử, dân rút tiền ngân hàng, bán tháo chứng khoán kinh tế CSVN sắp sụp đổ, toàn dân tiến lên
Miền Trung đứng lên cứu quốc: Biểu tình khắp các tỉnh không khiếp sợ CS bắt bớ khắp nơi
Uất hận trào dâng, đồng bào cả nước can đảm đứng lên đòi lại đất nước, một mất một còn ta sẽ thắng
Lãnh đạo CSVN thờ kính TQ nhưng khinh bỉ dân VN: Ông Trọng mạ lỵ dân, bà Ngân lẻo mép dạy đời
Khủng bô Công An TPHCM: Nổ lớn tại trụ sở công an phường, 1 công an nhập viện
Tại sao lại là Bình Thuận? Công an to mập gốc Hoa dã man đánh thiếu niên Nguyễn Minh Kha và nhiều đồng bào chí tử - Dân phóng hỏa đốt nhà công an ban đêm
Tâm Thư LM Lý gửi Chức Sắc thuộc 6 Giáo Hội Phật Giáo tại VN thờ giặc Hồ mãi quốc- PHẬT TỬ CÙNG ĐỨNG LÊN TRẢ NỢ TỔ QUỐC
Chỉ có tổng biểu tình toàn quốc mới giải phóng được dân tộc VN thoát khỏi nô lệ Tàu - Cách băng qua rào kẻm gai
Trong khi đảng CSVN đưa ra bán nước, tàu Trung Quốc xua đuổi 20 tàu cá Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa
Người Việt định cư ở Mỹ từ năm 1980 bị tử vong trong khi bị giam chờ trục xuất
Những kẻ ăn cơm Quốc-Gia thờ ma Cộng-sản ngày ấy, bây giờ ra sao?
Nhờ công lao đảng CSVN, toàn bộ lãnh thổ Việt Nam đã an bài trong tay Trung Quốc
Người Việt có tiền mua ngay thị trấn ở California chỉ 900,000$US được làm thị trưởng
QH Việt Nam sẽ lo ‘dịch chuyển đám mây ảo’?

     Đọc nhiều nhất 
Hiện tượng Thích Chân Quang: Trung Quốc là anh, Việt Nam là em… em phải lễ phép với anh, Lý Thường Kiệt vô lễ [Đã đọc: 1565 lần]
30-4: Hãy trả về cho dân tộc [Đã đọc: 1381 lần]
Cháy nhà máy Đài Loan có nhiều lao động Việt Nam, 5 lính cứu hỏa hy sinh [Đã đọc: 1163 lần]
Xót xa trước hình ảnh MC Nguyễn Ngọc Ngạn phải thở oxy trước giờ giờ ra sân khấu [Đã đọc: 1126 lần]
Lụi tàn làng Việt tại Philippines - Nữ Việt kiều Anh bị khủng bố ở VN [Đã đọc: 1125 lần]
Cái bắt tay lịch sử của Triều Tiên là tấm gương cho CSVN học tập, làm theo [Đã đọc: 998 lần]
Hồi tưởng ngày giải phóng, nổi kinh hoàng của dân tộc VN [Đã đọc: 956 lần]
Mỹ cảnh báo “hậu quả” nếu Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông, dân VN đứng lên đòi lại Hoàng Trường Sa [Đã đọc: 897 lần]
Dân VN khủng hoảng niềm tin thất vọng đạo CS bác Hồ rủ nhau theo tà đạo Hội Thánh Đức Chúa Trời [Đã đọc: 888 lần]
Vụ Trịnh Xuân Thanh: Slovakia ‘triệu tập đại sứ VN’ [Đã đọc: 815 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.