Khi Khoa bảng CSVN lãnh đạo qúôc gia vơí tỉ số bằng Tiến Sĩ cao nhất thế giới
22.02.2010 16:00
So sánh Trình độ học vấn của bộ trưởng Việt Nam, Mỹ và ÚcNguyễn Văn Tuấn
Một trong những đặc điểm đáng chú ý trong giới quan chức Việt Nam là họ thường có bằng cấp rất cao. Thật vậy, chỉ nhìn qua những danh thiếp của cấp thứ trưởng, vụ trưởng, hay thỉnh thoảng đọc báo về chức danh của các bộ trưởng, chúng ta thấy họ thường là tiến sĩ hay thạc s.
Ngược lại, đối với giới quan chức nước ngoài, ấn tượng tôi có qua các danh thiếp của họ là trình độ học vấn trung bình, thường thường là bậc cử nhân, rất hiếm thấy bộ trưởng các nước phương Tây có bằng tiến sĩ. Nhưng đó chỉ là ấn tượng, chứ chưa có bằng chứng nào để so sánh cụ thể. Theo tôi biết, cho đến nay, vẫn chưa có ai làm thống kê để biết trình độ học vấn của quan chức Việt Nam và ngoại quốc như thế nào. Có được những thông tin này tôi thiết nghĩ cũng thú vị vì nó cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tổng quan về trình độ của các quan chức chính phủ.
Tôi chọn các quan chức cấp bộ trưởng, vì thông tin về các vị này tương đối đầy đủ hơn. Các thông tin về chức vụ, năm sinh, trình độ học vấn của các bộ trưởng (hay quan chức tương đương cấp bộ trưởng) của Việt Nam, Mĩ, và Úc được thu thập cho từng cá nhân. Riêng trường hợp Việt Nam, tôi còn thu thập thêm thông tin về quê quán để xem sự phân phối giữa 3 miền ra sao.
Kết quả cho thấy nội các của Việt Nam có 26 thành viên, ít hơn Úc (28 người), nhưng đông hơn Mĩ (23 người). Tuy nhiên, có sự mất cân đối nghiêm trọng về phân bố giới tính. Trong số 26 thành viên nội các chính phủ Việt Nam, chỉ có 1 nữ duy nhất: đó là bà Nguyễn Thị Kim Ngân. Trong khi đó, nội các chính phủ Mĩ có đến 7 người là nữ, và con số này chiếm gần 1/3 chính phủ Obana, nhiều hơn cả chính phủ Úc với 4/28 thành viên (hay 14%) là nữ giới.
Về tuổi tác, các bộ trưởng trong chính phủ Việt Nam tương đối cao tuổi hơn so với đồng nghiệp của họ ở Mĩ và Úc. Tuổi trung bình của các bộ trưởng Việt Nam là 59, kế đến là Mĩ (tuổi trung bình 56) và Úc (50 tuổi). Người trẻ nhất trong chính phủ Việt Nam là ông Hoàng Trung Hải (50 tuổi), nhưng người trẻ tuổi nhất trong chính phủ Úc chỉ 33 tuổi (Kate Ellis, bộ trưởng thể thao), còn bộ trưởng trẻ nhất của Mĩ cũng chỉ 42 tuổi (ông Peter R. Orszag, giám đốc ngân sách quốc gia, với bằng tiến sĩ từ London School of Economics).
Về trình độ học vấn, chính phủ Việt Nam có trình độ cao nhất so với Mĩ và Úc. Trong số 26 thành viên trong nội các chính phủ Việt Nam, có đến 50% (13 người) có bằng tiến sĩ, 10 người có bằng cử nhân, và 3 người có bằng thạc sĩ. Phân tích kĩ hơn thì tôi thấy trong số 13 tiến sĩ bộ trưởng Việt Nam, phần lớn là tiến sĩ về kinh tế (7 người, gồm các ông Nguyễn Sinh Hùng, Phạm Khôi Nguyên, Vũ Huy Hoàng, Lê Doãn Hợp, Trần Văn Tuấn, Cao Đức Phát, và Nguyễn Văn Giàu), phần còn lại là xã hội học (ông Nguyễn Quốc Triệu), luyện kim (ông Phạm Gia Khiêm), điều khiển học (ông Nguyễn Thiện Nhân), luật (ông Hà Hùng Cường), kiến trúc (ông Nguyễn Hồng Quân), và toán lí (ông Hoàng Văn Phong).

Ở Úc, trong số 28 thành viên chính phủ, chỉ có 1 người duy nhất có bằng tiến sĩ (ông Craig Emerson), 5 người có bằng thạc sĩ, và đa số (22 người ) có bằng cử nhân. Nội các chính phủ Obama có trình độ học vấn cao hơn Úc một chút, nhưng vẫn còn thua xa so với Việt Nam. Trong số 23 thành viên, 7 người có bằng tiến sĩ, 8 người với bằng thạc sĩ, và 8 người với bằng cử nhân.
Nếu [tạm] tính PhD là 10 năm theo học đại học, thạc sĩ 6 năm, và cử nhân 4 năm, thì tính trung bình mỗi bộ trưởng hay thành viên trong nội các chính phủ VN có 7.2 năm học đại học, kế đến là Mĩ (6.5 năm), và thấp nhất trong nhóm là Úc (4.6 năm).
Phân tích theo vùng. Nói đến Việt Nam là phải nói đến chính trị vùng. Tình hình phân bố các thành viên và trình độ học vấn trong nội các chính phủ Việt Nam không đồng đều giữa 3 vùng. Trong số 26 thành viên, đa số là từ miền Bắc (12 người, hay 46%), miền Trung và miền Nam mỗi miền có 7 người. Điều thú vị ở đây là trong số 12 thành viên từ miền Bắc, có đến 8 người (67%) có bằng tiến sĩ. Số thành viên có bằng tiến sĩ từ miền Trung là 3/7 (43%), và miền Nam là 2/7 (28%).
Vài nhận xét
Trong loạt bài về những bất cập trong việc đào tạo tiến sĩ trên Sài Gòn Giải Phóng, tác giả viết như sau: “Nhà khoa học, nhà quản lý các nước cũng sẽ rất ngạc nhiên khi biết được trong đội ngũ cán bộ của ta hiện nay, tỷ lệ TS rất cao! […] Trên các nước, TS nếu có trong bộ máy quản lý nhà nước thì cũng chỉ chiếm tỷ lệ rất ít.” Những phân tích trong bài này phù hợp với nhận xét đó. Phân nửa các bộ trưởng (hay quan chức tương đương bộ trưởng) Việt Nam có bằng tiến sĩ, và con số này cao hơn so với chính phủ Mĩ và Úc, hai nước mà trình độ dân trí cao hơn Việt Nam. Tôi chưa có bằng chứng, nhưng tôi nghi rằng tỉ lệ tiến sĩ trong chính phủ Việt Nam có lẽ là cao nhất thế giới.
Ở Việt Nam đang tồn tại một nghịch lí lạ lùng: muốn đề bạt chức vụ nào đó thì phải có bằng cấp tương xứng. Chẳng hạn như điều kiện tiên quyết cho chức vụ giám đốc sở thì phải là bằng cử nhân hay thạc sĩ, trưởng khoa một bộ môn trong bệnh viện thì cần phải có bằng tiến sĩ và … đảng viên. Do đó, người ta đổ xô nhau đi “làm” tiến sĩ, tìm mọi cách và mọi giá để có một cái bằng tiến sĩ chỉ để thăng quan tiến chức, hơn là phục vụ cho khoa học. Chú ý là người ta “làm” tiến sĩ, chứ không hẳn là “học” tiến sĩ. Động từ “làm” ở đây bao gồm nhiều hành động, kể cả “bôi trơn” với những cái giá khá cụ thể tùy theo ngành học và tùy vào trung tâm đào tạo.
Tuy nhiên, qui định bằng cấp và chức vụ đó là ở cấp địa phương và cơ sở, còn đối với các cấp bộ trưởng hay tương đương thì tôi nghĩ không có qui định bằng cấp càng cao mới được bổ nhiệm chức cao, vì ở cấp này, vị thế và thành tích chính trị đóng vai trò quan trọng hơn là bằng cấp. Nhưng trước khi làm bộ trưởng thì các vị này cũng đã trải qua các chức vụ thấp hơn, nên nhu cầu bằng cấp lúc đó ắt phải có. Điều này có nghĩa là phong trào tiến sĩ và chức vụ đã xảy ra trước đây, và bây giờ chính là giai đoạn gặt hái thành quả. Hiểu theo nghĩa này, tôi nghĩ trong tương lai chúng ta sẽ còn thấy nhiều tiến sĩ trong chính phủ hơn nữa. Nhiệm kì tới biết đâu con số bộ trưởng có bằng tiến sĩ không phải là 50% như bây giờ mà có thể là 2/3.
Tiến sĩ là học vị cao nhất trong hệ thống bằng cấp đại học. Thông thường, con số người có bằng tiến sĩ thấp hơn con số thạc sĩ, và số người với bằng thạc sĩ ít hơn số người với bằng cử nhân. Đó là xu hướng mà chúng ta thấy ở Mĩ và Úc. Ở Úc, chỉ có 1 bộ trưởng duy nhất có bằng tiến sĩ. Nhưng trong chính phủ Việt Nam thì ngược lại: số người có bằng tiến sĩ nhiều hơn số người có bằng cử nhân và thạc sĩ. Đó là một sự phân bố bất bình thường. Sự bất bình thường đó đặt ra câu hỏi có phải bằng tiến sĩ ở Việt Nam quá dễ “lấy”. Tôi không có câu trả lời cho câu hỏi này, nhưng những lem nhem và bất cập về cách đào tạo tiến sĩ ở trong nước mà báo chí phản ảnh trong thời gian qua làm cho xã hội đánh một dấu hỏi lớn.
Thật ra, nhìn một cách tích cực hơn, chính phủ có nhiều tiến sĩ là một tín hiệu tốt. Con số 50% bộ trưởng có bằng tiến sĩ cho thấy nước ta đúng là nước có trình độ học vấn cao, có lẽ cao nhất thế giới. Phần lớn các tiến sĩ bộ trưởng học về kinh tế, và điều này nói lên rằng chúng ta có thể tin tưởng rằng kinh tế VN sẽ phát triển bượt bực nay mai. Trong khi chưa có bằng chứng cho phát biểu đó, chúng ta hãy cứ tin và hi vọng vậy.
Ở các nước tiên tiến, phần lớn tiến sĩ làm việc trong các đại học và trung tâm nghiên cứu, với một thiểu số nhỏ làm việc trong ngành quản lí. Ở Việt Nam thì ngược lại: phần lớn tiến sĩ làm trong ngành quản lí hành chính, rất ít người giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học. Thật vậy, chỉ có khoảng ~20% giảng viên trong các đại học lớn ở VN có văn bằng tiến sĩ. Trong khi đó, 50% bộ trưởng VN có bằng tiến sĩ. Một câu hỏi khác cũng cần đặt ra là chính phủ có cần nhiều tiến sĩ như thế hay không trong khi các trường đại học rất thiếu giảng viên ở trình độ tiến sĩ?
Tìm thuốc giải cho bệnh tiến sĩ 'giấy'  | | Thạc sĩ ĐH Luật TP HCM. Ảnh: Tuổi Trẻ |
"Tôi vừa hỏi đồng chí Bộ trưởng Giáo dục & Đào tạo là có đường dây chạy luận án không? Báo chí đã phản ánh nhiều về tình trạng thuê làm luận án, nhưng nếu họ mua cả Hội đồng phản biện nữa thì hỏng", Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm phát biểu tại Hội nghị tuyển sinh sau ĐH, sáng 4/1. Với thái độ thẳng thắn, Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm chỉ rõ cách đào tạo hiện nay theo quy trình cũ là đầu vào thì chặt, đầu ra thì lỏng. Trong đó, đáng lo ngại là xu hướng cẩu thả trong đánh giá "đầu ra". Nhiều luận án có đề tài cũ kỹ, lặp lại hoặc "đi mây về gió" không gắn với thực tiễn đời sống. Theo Phó thủ tướng, ngành giáo dục cần phải kiểm soát chặt chất lượng đào tạo tiến sĩ, xem xét việc lập các Hội đồng phản biện "kín" nhằm đánh giá khách quan các luận án. "Với mạng lưới hơn 100 cơ sở đào tạo sau ĐH hiện nay, Bộ GD&ĐT cần kiểm tra đánh giá xem đã đáp ứng đủ yêu cầu hay chưa?", Phó thủ tướng nhấn mạnh. Bội thực luận án xuất sắc "Có lần tôi dự định mời những cán bộ trong trường có bằng tiến sĩ xuất sắc để khen thưởng. Cán bộ trình lên, tôi ngạc nhiên khi danh sách lên tới hơn 40 chục người. Hỏi ra mới biết, những người bảo vệ luận án tiến sĩ ở Việt Nam hiếm khi dưới điểm 9", Hiệu trưởng ĐH Cần Thơ Lê Quang Minh kể. Theo ông Minh, tại một số nước châu Âu, điểm bảo vệ luận án phần nhiều là 7-8, những nghiên cứu sinh đạt trên 8, được cấp bằng tiến sĩ danh dự rất hiếm. Với những luận án này, nhà trường sẽ lập thêm một Hội đồng phản biện nữa để thẩm định. "Tôi đề nghị phải thành lập Hội đồng phản biện kín, gồm 4-5 nhà khoa học. Hiện nay, danh sách Hội đồng phản biện của Bộ GD&ĐT chưa gửi về đến trường, nghiên cứu sinh đã biết, gọi điện cho thày phản biện. Nhiều khi do quan hệ, thày rất khó xử", ông Minh đề xuất. Thừa nhận thực trạng trên, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Bành Tiến Long cho rằng, việc thành lập Hội đồng đánh giá luận văn, luận án hiện nay chưa chú trọng tới chất lượng chuyên môn của thành viên. Một số hội đồng thường tập trung vào một số người quen thuộc, ôn hoà tránh các thày có "góc cạnh" hay "nhiều ý kiến". Do vậy, buổi bảo vệ luận văn, luận án trở nên hình thức Để gây áp lực với Hội đồng đánh giá, theo ông Long, đang có xu hướng phân công các thày có vị trí, chức vụ quản lý hướng dẫn nghiên cứu sinh. Điều này dẫn tới tình trạng có thày thì cùng một lúc hướng dẫn nhiều nghiên cứu sinh, còn có thày thì lại không có người hướng dẫn. Trong khi, xét về năng lực chuyên môn hoàn toàn có thể đáp ứng. Nghiên cứu sinh không xuất hiện trên giảng đường | Theo Bộ GD&ĐT, từ năm 1999 đến nay các cơ sở đào tạo sau đại học đã đào tạo 4.105 tiến sĩ. Trong đó, tiến sĩ thuộc khối khoa học xã hội chiếm 46%, khối khoa học tự nhiên 14%, khối khoa học kỹ thuật chỉ có 11%. |
Không chỉ ở bậc phổ thông, đại học, ngay đến bậc đào tạo tiến sĩ tình trạng trốn học, thuê người học hộ cũng diễn ra phổ biến. Theo Thứ trưởng Long, vấn đề bức xúc nhất hiện nay là hoạt động chuyên môn trong đào tạo nghiên cứu sinh, đặc biệt là các ngành kinh tế, khoa học xã hội, nhân văn. "Khá nhiều nghiên cứu sinh hầu như không có mặt tại cơ sở đào tạo, không tham gia hoạt động nghiên cứu, sinh hoạt chuyên môn, không có sự kiểm soát về tiến độ thực hiện đề tài. Việc hoàn thành luận án, bảo vệ luận án mang nặng tính hành chính", ông Long nói. Với góc nhìn của một nhà sư phạm, Hiệu phó ĐH Sư phạm Hà Nội Đinh Ngọc Bảo cho rằng, ngoài lý do bận công việc cơ quan, một nguyên nhân nữa khiến nghiên cứu sinh không mặn mà đến trường là bởi chương trình còn trùng lặp, xa rời thực tiễn. Học viên không tìm được cái mà họ cần tại nhà trường, nên nảy sinh tâm lý chán nản. Ông Bảo lấy thí dụ, chương trình đào tạo sau ĐH hiện nay có tới 1/3 là các môn Triết, Kinh tế chính trị... Nhiều nghiên cứu sinh phản ánh, nội dung chương trình những môn này chủ yếu lặp lại ở bậc đại học. Bộ GD&ĐT cần mạnh dạn cắt giảm các môn đã dạy ở bậc học trước, tăng các môn học tự chọn. Theo dự thảo quy chế đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ được đưa ra bàn thảo, sáng 4/1, thạc sĩ vẫn giữ nguyên hình thức thi tuyển, còn tuyển sinh tiến sĩ sẽ theo hình thức xét tuyển. Ở bậc đào tạo tiến sĩ, dự kiến quy định thời gian đào tạo tập trung là 3 năm, có thể rút ngắn xuống 2 năm. Thời gian tối đa cho phép một luận án để bảo vệ là 8 năm. Việt Anh
Làm chính trị gia ở Việt Nam thật sướng: Không làm gì cả Nguyễn Hưng Quốc, VOA 19.02.2010 Đọc báo, thấy các nhà lãnh đạo Tây phương thật khổ. Có cảm tưởng hầu như lúc nào họ cũng tất bật với công việc. Hết họp hành lại họp báo; hết thăm nơi này lại viếng nơi khác; hết đưa ra chính sách này lại đưa ra chính sách khác; hết tranh cãi với phe đối lập lại đối diện với các câu hỏi hóc búa của các ký giả cũng như của dân chúng trong các cuộc trực thoại trên đài truyền thanh. Mỗi ngày, họ đối diện với không biết bao nhiêu là vấn đề. Không có vấn đề nào là không quan trọng và không khẩn cấp. Với Tổng thống Mỹ, đó là những vấn đề của cả thế giới, từ chuyện chiến tranh ở Iraq và Afghanistan đến chuyện lục đục giữa Do Thái và Palestine, giữa Pakistan và Ấn Độ, chuyện chạy đua chế tạo vũ khí hạt nhân của Iran và Bắc Hàn, v.v… Rồi chuyện khủng hoảng kinh tế, chuyện công ăn việc làm của dân chúng, chuyện di dân lậu, chuyện cúm heo… Trời, cả ngàn chuyện. Chuyện gì cũng đòi ông có ý kiến và có quyết định. Tại Úc, nơi tôi đang định cư, người đứng đầu chính phủ là Thủ tướng. Thủ tướng Kevin Rudd nổi tiếng với biệt danh là Kevin 24/7. Vợ ông tiết lộ, ngay từ trẻ, hầu như ông chỉ cần ngủ vài tiếng mỗi ngày. Nhưng những người làm việc chung với ông, từ các bộ trưởng đến các nhân viên trong văn phòng Phủ thủ tướng, đều có cảm tưởng là ông không bao giờ ngủ. Đi công tác ở ngoại quốc, nhiều lúc rời nước này vào buổi chiều, bay sang nước khác đã là sáng sớm, ông tranh thủ làm việc ngay tức khắc. Không ngủ nghê hay nghỉ ngơi gì hết. Còn ở trong nước thì khỏi nói. Ông làm việc quần quật cả ngày lẫn đêm. Chuyện cố vấn hay nhân viên của ông nhận điện thoại của ông lúc 2,3 giờ sáng xảy ra như “chuyện thường ngày ở huyện”. Không có gì đáng ngạc nhiên khi, chỉ sau gần hai năm ông lên cầm quyền, hơn một nửa nhân viên dưới quyền đã xin nghỉ việc. Lý do: Họ theo không nổi sức làm việc ghê gớm của ông! Cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi, với sức làm việc như thế, Thủ tướng Úc cũng như hầu hết các lãnh tụ Tây phương khác, có khối kiến thức rộng rãi và cập nhật rất đáng nể. Hỏi chuyện gì họ cũng biết. Chuyện lớn lao như chiến tranh giữa nước này và nước nọ, họ biết, đã đành. Chuyện đồng đô-la mới xuống giá, xí nghiệp này đóng cửa, công ty kia lỗ lã, phải sa thải cả ngàn nhân viên, họ cũng biết. Một tai nạn xe lửa mới xảy ra khiến vài chục người thiệt mạng, người ta bèn hỏi Thủ tướng về vấn đề an toàn giao thông. Một sự cố gì đó trong bệnh viện khiến năm bảy người bị chết một cách oan uổng, người ta lại hỏi Thủ tướng về hệ thống y tế trong nước. Thậm chí, giá xăng tăng, giá sữa tăng, giá bánh mì tăng, người ta cũng hỏi Thủ tướng. v.v… Giới lãnh đạo hầu như lúc nào cũng bị giới truyền thông và giới đối lập vây quanh để hạch hỏi hết chuyện này đến chuyện khác. Toàn những chuyện hiểm hóc. Và họ phải trả lời ngay. Dân chúng thường không chấp nhận nghe lãnh tụ của họ trả lời là “không biết” về bất cứ sự kiện hay vấn đề gì liên quan đến quốc gia. Nhiệm vụ của họ, với tư cách lãnh đạo, là phải biết. Biết rõ. Biết tình hình. Biết sự kiện. Biết một cách cụ thể và chính xác. Và phải biết cả các chính sách cần thiết để khắc phục các sự cố hay vấn đề ấy. Đó là chuyện ở Tây phương. Còn ở Việt Nam thì khác. Đọc báo, thấy giới lãnh đạo nước mình thật sướng. Ví dụ mở trang báo Nhân Dân điện tử, cơ quan ngôn luận chính thức của đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam, chúng ta dễ có cảm tưởng là giới lãnh đạo Việt Nam, từ Tổng bí thư đến Thủ tướng và Chủ tịch nước, hình như không làm việc gì khác ngoài việc tiếp khách hay thăm viếng các công ty, xí nghiệp và tham dự các lễ lạc cũng như hội nghị. Ở đâu cũng có tiệc tùng ăn uống. Ở đâu họ cũng lên đọc bài diễn văn đã soạn sẵn với những nội dung và cả câu chữ lặp đi lặp lại từ cả mấy chục năm trước. Có khi đọc nhầm diễn văn cũng không sao. Không có lúc nào họ bị hạch hỏi, tra vấn, bắt bẻ, cãi cọ. Không có lúc nào họ cần phải cố gắng thuyết phục ai cả. Họ muốn làm gì thì làm. Muốn nói gì thì nói. Đây là trang đầu phần chính trị của tờ Nhân Dân ngày 9 tháng 2 năm 2010. Để cho gọn, tôi bỏ hết các hình ảnh minh hoạ cũng như những câu tóm tắt ở đầu mỗi bản tin. Tôi chỉ giữ lại nhan đề của các bản tin mà thôi. Báo Nhân Dân: Cập nhật 11:27 ngày 09-02-2010 GMT+7 Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh thăm và chúc Tết tại Bệnh viện Bạch Mai (9-2) Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thăm, chúc Tết tại tỉnh Bình Dương (9-2) Các đồng chí lãnh đạo Ðảng, Nhà nước thăm, chúc Tết đồng bào, chiến sĩ (9-2) Kỳ họp thứ 8 Hội đồng Lý luận, phê bình văn học - nghệ thuật Trung ương (9-2) Tổ chức thăm, tặng quà hộ nghèo, gia đình chính sách, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (9-2) Công an Hà Nội khen thưởng các đơn vị lập thành tích xuất sắc (9-2) TIẾP KHÁCH (9-2) Ðổi thay ở vùng đồng bào Chăm (9-2) BITEXCO chăm lo xây dựng tổ chức đảng (9-2) Kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước Trung Âu (9-2) Phóng sự điều tra: Chất Da cam/dioxin – Di chứng dai dẳng (Phần 4) (9-2) Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh, đưa Quảng Trị không ngừng phát triển (8-2) Tai nạn giao thông đường sắt, một người tử vong (8-2) Đồng chí Tô Huy Rứa thăm và chúc Tết tại Quảng Nam (8-2) Thừa Thiên - Huế tổ chức Hội Báo Xuân Canh Dần (8-2) Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp Bộ trưởng Thương mại I-ran và Thứ trưởng Ngoại giao Ca-dắc-xtan (23-12) Thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng Vĩnh Long nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở (23-12) Ðoàn đại biểu Ðảng ủy Quân sự T.Ư và Bộ Quốc phòng thăm và chúc mừng Ðại tướng Võ Nguyên Giáp (23-12) Hoạt động kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, 20 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (23-12) Phong tặng và truy tặng Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (23-12) Xứng đáng với niềm tin yêu của người dân đất Cảng (23-12) Kết quả cuộc thi trắc nghiệm tuần thứ 20 Cuộc thi tìm hiểu 80 năm truyền thống ngành Tuyên giáo (Từ ngày 15 đến 22-12-2009) (23-12) Kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập QÐND Việt Nam, 20 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12) Quân khu 7 mít tinh kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12) Hội nghị Ủy ban điều phối Khu vực Tam giác phát triển lần thứ 4 Campuchia – Lào – Việt Nam (22-12) Tiếp khách (22-12) Nếu bạn đủ kiên nhẫn, lục lại trang ngày trước đó hay, thậm chí, các năm trước đó, cam đoan là bạn sẽ không thấy điều gì khác lạ cả. Cũng tiếp khách. Cũng dự hội nghị. Cũng thăm viếng nơi này nơi khác. Mặt mũi lúc nào cũng hớn hở tươi cười. Mà không hớn hở tươi cười sao được? Họ có phải làm gì đâu. |
|