Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Mười một 2017
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30      
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 17
 Lượt truy cập: 9352842

 
Bản sắc Việt » Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh 20.11.2017 11:20
Bí quyết làm giàu bằng cách đầu tư thị trường chứng khoán
14.01.2007 00:33

Thị trường chứng khoán là gì

 

Thị trường chứng khoán: là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời. Tuy nhiên, đó có thể là TTCK tập trung hoặc phi tập trung.

 

 

Tính tập trung ở đây là muốn nói đến việc các giao dịch được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất.Hình thái điển hình của TTCK tập trung là Sở giao dịch chứng khoán ( Stock exchange). Tại Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK), các giao dịch được tập trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch.

 

TTCK phi tập trung còn gọi là thị trường OTC (over the counter). Trên thị trường OTC, các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán phân tán trên khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạng điện tử. Giá trên thị trường này được hình thành theo phương thức thoả thuận.

 

Chức năng của TTCK

 

1. Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế:

 

Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội. Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.

 

2. Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng:

 

TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.

 

3. Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán:

 

Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao.

 

4. Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp:

 

Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.

 

5. Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô:

 

Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế.

 

Cơ cấu Thị trường Chứng khoán:

 

Xét về sự lưu thông của chứng khoán trên thị trường, TTCK có hai loại:

 

1. Thị trường sơ cấp:

 

Là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành.

 

2. Thị trường thứ cấp:

 

Là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp.Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành.

 

Các nguyên tắc hoạt động của TTCK:

 

1. Nguyên tắc cạnh tranh:

 

Theo nguyên tắc này, giá cả trên TTCK phản ánh quan hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty. Trên thị trường sơ cấp, các nhà phát hành cạnh tranh với nhau để bán chứng khoán của mình cho các nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng khoán theo các mục tiêu của mình. Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất, và giá cả được hình thành theo phương thức đấu giá.

 

2. Nguyên tắc công bằng:

 

Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủ những qui định chung, được bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và trong việc gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những qui định đó.

 

3. Nguyên tắc công khai:

 

Chứng khoán là loại hàng hoá trừu tượng nên TTCK phải được xây dựng trên cơ sở hệ thống công bố thông tin tốt. Theo luật định, các tổ chức phát hành có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin đầy đủ theo chế độ thường xuyên và đột xuất thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, Sở giao dịch, các công ty chứng khoán và các tổ chức có liên quan.

 

4. Nguyên tắc trung gian:

 

Nguyên tắc này có nghĩa là các giao dịch chứng khoán được thực hiện thông qua tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán. Trên thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư không mua trực tiếp của nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành. Trên thị trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ môi giới, kinh doanh, các công ty chứng khoán mua, bán chứng khoán giúp các khách hàng, hoặc kết nối các khách hàng với nhau qua việc thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán trên tài khoản của mình.

 

5. Nguyên tắc tập trung:

 

Các giao dịch chứng khoán chỉ diễn ra trên sở giao dịch và trên thị trường OTC dưới sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tự quản.

 

Các thành phần tham gia TTCK:

 

1. Nhà phát hành:

 

Là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK dưới hình thức phát hành các chứng khoán.

 

2. Nhà đầu tư:

 

Là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK. Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại:

- Nhà đầu tư cá nhân: là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua bán trên TTCK với mục đích kiếm lời.

- Nhà đầu tư có tổ chức: là các định chế đầu tư thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường.

Các định chế này có thể tồn tại dưới các hình thức sau: công ty đầu tư, công ty bảo hiểm, Quỹ lương hưu, công ty tài chính, ngân hàng thương mại và các công ty chứng khoán.

 

3. Các công ty chứng khoán:

 

Là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là môi giới, quản lý quỹ đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán và tự doanh.

 

4. Các tổ chức có liên quan đến TTCK:

 

- Uỷ ban chứng khoán Nhà nước: là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với TTCK ở Việt nam.

- Sở giao dịch chứng khoán: là cơ quan thực hiện vận hành thị trường và ban hành những quyết định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên Sở phù hợp với các quy định của luật pháp và UBCK.

- Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán: là tổ chức phụ trợ, phục vụ các giao dịch chứng khoán.

- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm: là công ty chuyên cung cấp dịch vụ đánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và theo những điều khoản đã cam kết của công ty phát hành đối với một đợt phát hành cụ thể.

  

Chiến lược đầu tư cổ phiếu

Khi đã quyết định đầu tư vào cổ phiếu, nhà đầu tư cần phải xác định xem mình là nhà đầu tư dài hạn hay ngắn hạn, mục tiêu đầu tư và mức độ rủi ro có thể chấp nhận để xây dựng một chiến lược đầu tư cho phù hợp.

 

Chiến lược có thể rất đơn giản, và có thể không hơn gì một quan điểm đầu tư thông thường. Thế nhưng căn cứ vào một số cơ sở logic nào đó sẽ tốt hơn chọn lựa theo kiểu hú hoạ. Sau đây là một số chiến lược đầu tư chính:

 

1.Mua rồi giữ luôn

 

Mua cổ phiếu của những công ty làm ăn phát đạt rồi giữ luôn để hưởng cổ tức và lãi vốn. Đây là chiến lược đầu tư lâu dài, có thể đem lại lợi nhuận và không đòi hỏi nhà đầu tư phải quan tâm theo dõi các tin tức tài chính hàng ngày. Chiến lược này xuất phát từ những kết luận cho rằng, trong quá khứ giá chứng khoán luôn tăng một cách đều đặn và giá trị của khoản đầu tư sẽ tăng lên. Thêm vào đó, nhà đầu tư còn nhận được cổ tức hàng năm và cổ phiếu có thể được phân tách. Tuy không có gì đảm bảo cho việc phân tách sẽ đem lại lợi ích cho nhà đầu tư nhưng thực tế thì giá trị của các khoản đầu tư thường tăng lên nhờ nghiệp vụ này.

 

Nhưng lưu ý rằng, mua rồi giữ luôn là một chiến lược đúng nhưng đừng thực hiện điều đó một cách mù quáng. Cổ phiếu thường tăng giá qua thời gian nhưng điều đó không phải luôn đúng với mọi cổ phiếu. Không một cổ phiếu nào luôn tăng giá trong một thời gian dài. Bởi vậy, thỉnh thoảng nhà đầu tư cũng phải xem xét lại tình hình hoạt động của công ty để có quyết định thích hợp.

 

Và luôn nhớ rằng không được mua cổ phiếu với giá quá cao, dù đó là cổ phiếu tốt. Bởi lẽ, khi nó mất giá thì có thể phải mất nhiều năm mới thu lại được khoản tiền đã đầu tư. Do vậy, hãy quan tâm đến việc định giá cổ phiếu trước khi mua. Kiểm tra xem cổ phiếu đó có đắt không bằng cách so sánh tỷ số P/E của nó với các công ty trong cùng lĩnh vực hoạt động và mức bình quân của ngành. Một số cổ phiếu tốt sẽ có giá đắt hơn nhưng có thể là một cổ phiếu đáng đầu tư nếu mức tăng trưởng lợi nhuận, doanh thu dự kiến là khả quan.

 

2.Mua khi giá hạ

 

Khi nhìn thấy giá trị đầu tư của mình giảm xuống, cũng là lúc nhà đầu tư phải mua thêm nhiều cổ phiếu giống như vậy. Điều này nghe giống như ném tiền qua cửa sổ. Tuy nhiên, loại cổ phiếu sẽ đầu tư là loại cổ phiếu có giá thay đổi rất nhiều trong một thời gian dài và giá tăng trở lại mỗi khi giá sụt xuống mức thấp nhất, và mức giá cao nhất và thấp nhất cách nhau từng nhiều năm. Như vậy, dù cho cổ phiếu đang biến chuyển bất lợi như thế nào đi nữa, chúng ta cũng có thể trông đợi giá sẽ tăng trở lại như nó vẫn luôn như vậy và chính điều này sẽ đem lại lợi nhuận cho các nhà đầu tư trong một tương lai không quá xa.

 

Nhiều nhà đầu tư thực hiện chiến lược này theo cách khi giá giảm (tăng) cực điểm và tăng lên (giảm xuống) một mức X nào đó thì mua vào (bán ra). Chiến lược này có thể giúp cho nhà đầu tư tránh được những rủi ro phát sinh do việc mua vào khi giá cao và bán ra khi giá thấp. Sự thua lỗ chỉ có thể xảy ra khi nhà đầu tư bán ra ở mức giá dưới mức bình quân. Ngược lại, khi bán ra ở mức giá trên mức bình quân thì nhà đầu tư sẽ có lãi.

 

Tuy nhiên, nắm giữ cổ phiếu trong trường hợp giá liên tục rớt sẽ đem lại nguy cơ thua lỗ nghiêm trọng. Do đó, nên bán khi giá của chúng đã giảm tới 8% hoặc hơn và chuyển sang đầu tư vào một loại cổ phiếu khác.

 

3.Mua dựa

 

Mua bán cổ phiếu chủ yếu dựa trên quy luật số đông. Nhà đầu tư theo chiến lược này cho rằng thị trường không thể có phản ứng kịp thời với những dữ liệu thống kê và tình hình kinh tế một cách chính xác. Theo họ, nếu có một nhóm người (vừa đủ) lạc quan về thị trường họ sẽ mua cổ phiếu cho đến khi giá lên cao một cách phi lý. Ngược lại, khi họ bắt đầu bi quan thì họ sẽ bán ra, bất chấp những điều kiện cơ bản lúc đó thế nào. Lúc đó, họ có thể làm cho giá xuống một cách phi lý.

 

Hành động mua cổ phiếu theo nhóm người này có thể mang lại lợi ích và sự an toàn. Tuy nhiên, nhiều người thực hiện chiến lược này một cách cứng nhắc đã phải mua với giá cao và bán với giá thấp. Lời khuyên được đưa ra: “Đừng mua khi số người mua nhiều hơn số người bán, nếu không cẩn thận thì có thể phải chi số tiền nhiều hơn cần thiết. Đừng bán khi số người bán nhiều hơn số người mua, nếu cứ bán thì chỉ có thể kiếm được vài xu lời mà thôi”.

 

4.Mua cổ phiếu của những công ty nhỏ

 

Tiềm năng tăng giá là sự hấp dẫn các nhà đầu tư áp dụng chiến lược này. Những công ty nhỏ có xu hướng đạt được mức lợi nhuận cao hơn công ty lớn, nhất là trong thời kỳ lạm phát kéo dài và nằm ở mức cao. Tuy nhiên, cổ phiếu của các công ty nhỏ có xu hướng mất giá nhiều hơn so với cổ phiếu của các công ty lớn trong giai đoạn này. Ngoài ra, giá cổ phiếu các công ty nhỏ biến động nhiều hơn và thường không theo kịp chỉ số giá trung bình của thị trường trong dài hạn. Do đó, cổ phiếu của những công ty nhỏ không phải để mua và giữ dài hạn.

 

Cổ phiếu của những công ty nhỏ có thể bất ngờ tăng giá dữ dội hay hạ giá dữ dội. Tuy nhiên, nó tăng giảm theo ngành nghề. Nếu một ngành đang tăng lên, hãy mua một vài cổ phiếu của các công ty nhỏ tốt nhất trong đó. Một trong các ngành đang đầu tư đi xuống, hãy bán hết cổ phiếu của các công ty nhỏ trong ngành đó. Do đó, khi áp dụng chiến lược đầu tư này, nhà đầu tư phải theo dõi thật sát sự phát triển của nó để đảm bảo rằng nó vẫn luôn luôn đáp ứng đủ các tiêu chuẩn. Đó là làm ăn có lãi, tỉ lệ gia tăng cổ tức trên 10% trong vòng 5 năm, tỉ lệ nợ trên vốn cổ phần thấp, lưu lượng tiền mặt tự do cao và tỉ lệ P/E thấp. Nếu P/E cao thì tỷ lệ gia tăng lợi nhuận cũng phải cao.

 

Với kỹ năng, kinh nghiệm và sự kiên nhẫn, cổ phiếu của các công ty nhỏ sẽ mang lại cho nhà đầu tư nhiều phần thưởng.

 

5.Mua cổ phiếu tăng trưởng

 

Cổ phiếu tăng trưởng là cổ phiếu của những công ty có doanh số, thu nhập và thị phần đang tăng với tốc độ nhanh hơn bình quân trong vài năm qua và người ta mong rằng nó còn tiếp tục chứng tỏ mức tăng trưởng lợi nhuận cao. Các công ty này thường quan tâm đến việc mở rộng nghiên cứu và phát triển cho nên phần lớn lợi nhuận được giữ lại để tái đầu tư. Do vậy, cổ tức thường thấp. Tuy nhiên, tìm ra và chọn được một cổ phiếu tăng trưởng không phi là việc ai cũng làm được. Nó đòi hỏi thời gian, sự kiên nhẫn và khả năng phân tích thị trường.

 

Các công ty tăng trưởng thường là những công ty có sản phẩm hoặc dịch vụ tân tiến, có khả năng nắm bắt và đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu và mới mẻ của xã hội (lĩnh vực tiêu dùng, công nghệ cao và sinh học…).

 

Thông thường, các công ty tăng trưởng có tỷ số P/E cao; vốn cổ phần lớn hơn hoặc bằng tổng nợ; tăng trưởng đều đặn, không ngừng trong thu nhập tính theo đầu cổ phiếu ít nhất là 10%/năm.

 

Một số nghiên cứu cho thấy, những công ty đã từng đạt mức thu nhập thực tế cao hơn mức thu nhập dự đoán thì có nhiều khả năng sẽ lặp lại được thành tích đó trong tương lai.

 

Phần thưởng dành cho các nhà đầu tư cổ phiếu tăng trưởng rất hấp dẫn. Nhiều người đã làm giàu nhờ biết lưu giữ những cổ phiếu tăng trưởng đích thực trong một thời gian dài.

 

Một nguy hiểm lớn cho những người đầu tư cổ phiếu tăng trưởng là chạy theo cái mốt nhất thời. Khi công ty có một sản phẩm hay dịch vụ mới, họ cho rằng nó có khả năng tăng trưởng mạnh và cứ hỏi mua cổ phiếu đó với giá cao. Tuy đó là những cổ phiếu tốt nhưng được đánh giá quá cao sẽ có phản tác dụng và trong trường hợp đó nhà đầu tư không kịp thanh toán sẽ bị lỗ nặng. Do đó, cần phân biệt tăng trưởng dài hạn với bộc phát tức thời. Các nhà đầu tư cổ phiếu tăng trưởng phải biết cách nhìn vượt lên trên các biến chuyển giá cả trong ngắn hạn của chứng khoán, từ chối dứt khoát việc trả giá quá cao cho sự tăng trưởng. Mức giá hợp lý để mua cổ phiếu tăng trưởng là khi PEG nhỏ hơn 1 (P/E chia cho tốc độ tăng trưởng dự đoán G).

 

Mục tiêu của cổ phiếu tăng trưởng nên được xem xét đánh giá hàng năm, hàng quý, thậm chí là hàng tháng. Tuy nhiên, khi đánh giá hàng tháng, nhà đầu tư cần tránh phản ứng quá nhạy cảm và bán cổ phiếu ra quá sớm khi nhận thấy sự sút giảm mức độ tăng trưởng.

 

6.Đầu tư giá trị

 

Đầu tư giá trị là việc tìm kiếm các cổ phiếu có giá thị trường thấp hơn giá trị của nó và có triển vọng trong tương lai. Tuy nhiên, nhà đầu tư có thể không đồng ý được với nhau thế nào là một cổ phiếu bị đánh giá thấp hơn giá trị thực của nó. Theo Graham và Dodd thì chúng phải đáp ứng được những tiêu chuẩn sau:

 

- Giá trị kế toán của một cổ phần thấp hơn giá thị trường của nó.

 

- Giá cổ phần bằng hoặc thấp hơn 50 lần thu nhập đầu cổ phần chia cho lãi suất của trái phiếu công ty loaại AAA tính theo số nguyên.

 

- Giá cổ phần bằng hoặc thấp hơn 150 lần tỷ lệ lợi tức cổ phần chia cho lãi suất của trái phiếu công ty loại AAA.

 

Tuy nhiên, không phải nhà đầu tư nào cũng áp dụng cứng nhắc theo những tiêu chuẩn này. Việc tìm ra các cổ phiếu đang bị thị trường đánh giá thấp là một công việc hết sức khó khăn, tốn nhiều thời gian nghiên cứu. Trong một số giai đoạn nào đó của chu kỳ thị trường, các cổ phiếu “giá trị” gần như không ai được biết đến. Thay và đó, người ta chỉ chú ý đến những công ty tăng nhanh lợi nhuận, hoặc những công ty có công nghệ mới, hoặc những công ty tỏ ra năng động hơn.

 

Cũng giống như đầu tư vào cổ phiếu tăng trưởng, đầu tư giá trị cũng phải rất kiên nhẫn. Nhà đầu tư giá trị phải chờ thị trường thừa nhận là đã đánh giá thấp cổ phiếu của họ và sẽ trả giá cao hơn cho những cổ phần đó.

 

Một số nguyên tắc khi thực hiện chiến lược này:

 

- Không nhằm vào những cổ phiếu được ưa chuộng và không đưa ra những phán đoán mạo hiểm về tốc độ tăng trưởng của công ty trong tương lai.

 

- Tỷ số giá cả/giá trị sổ sách nhỏ hơn 2,5.

 

- Lợi suất cổ tức cao và nhất quán.

 

- Tỷ số P/E thấp.

 

- Tốc độ tăng trưởng trung bình 7% (bởi cổ phiếu của các công ty có tốc độ tăng trưởng cao sẽ giảm giá rất mạnh khi có sự giảm sút về lợi nhuận).

 

- Mức vốn hoá của công ty thấp.

 

- Công ty có khối lượng tiền mặt dồi dào và đang gia tăng.

 

- Hệ số thanh toán hiện tại bằng 2.

 

- Bán dần lượng cổ phiếu nắm giữ khi nó đã đem lại 70% lợi nhuận mong đợi trong khoảng 3 năm trở lại kể từ lúc mua.

 

- Bán khi thị trường tăng giá, và mua khi thị trường giảm giá. Nghĩa là mua khi các nhà đầu tư khác ghét bỏ và bán khi hầu hết các nhà đầu tư bắt đầu trở lên yêu thích cổ phiếu đó.

 

7.Mua cổ phiếu của những công ty quen thuộc, lĩnh vực quen thuộc

 

Đó là cổ phiếu của các công ty thường xuyên được tiếp xúc, được quan sát hay đơn giản là sản phẩm của công ty đó được nhà đầu tư thường xuyên mua. Cũng có khi chỉ vì thích sản phẩm của công ty đó hoặc do ảnh hưởng bởi danh tiếng hay mối quan hệ quen biết mà họ quyết định đầu tư vào công ty đó. Đây có thể là một sự khởi đầu tốt nhưng cần phải biết kỹ hơn về công ty dự định sẽ đầu tư.

 

Điểm hạn chế của chiến lược này là sự chủ quan, chỉ nhắm vào các khía cạnh phiến diện về công cuộc kinh doanh của công ty mà thôi. Và nó hạn chế nhà đầu tư vào một hoặc hai ngành nghề. Đầu tư theo chiến lược này đòi hỏi sự nhạy bén trước các sự kiện mới mẻ. Nhiều công ty có vẻ xa lạ nhưng nếu chịu khó tìm hiểu thì có thể thấy đó thực sự là một cổ phiếu tốt đáng để khai thác. Qua việc nghiên cứu, cảm nhận riêng về một loại cổ phiếu có thể được xác nhận hay bị bác bỏ. Điều này sẽ giúp cho các nhà đầu tư tiết kiệm được rất nhiều.

 

8.Mua cổ phiếu thượng đẳng

 

Cổ phiếu thượng đẳng là cổ phiếu của các công ty lớn có tiếng tăm, tiềm lực tài chính mạnh, thành tích kinh doanh vững chắc, lợi nhuận ổn định. Việc nắm giữ cổ phiếu này sẽ giảm thiểu yếu tố rủi ro, ngay cả trong thời kỳ suy thoái hay khủng hoảng kinh tế, nhưng thành tích của nó hiếm khi nổi bật. Chiến lược này phù hợp với những nhà đầu tư ngại rủi ro và muốn có thu nhập đều đặn.

 

Bùi Trí Dũng

Liên tục, liên tục 24 giờ mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần, thị trường xáo động không ngừng: thu thập thông tin, đánh giá phân tích, tổng hợp, hình thành nên những xung đột diễn biến bất tận... Dù là thị trường vốn, thị trường nợ, thị trường hàng hoá hay thị trường tiền tệ, luôn luôn phải có kẻ thua người thắng.

Với thị trường chứng khoán càng có nhiều những xung đột hơn đâu khác. Ở đó không có quy định, hạn ngạch, không có những chỉ định trước cho ai thắng hoặc thua bao nhiêu. Thị trường không cần biết đến người thuộc đẳng cấp, chủng tộc hay màu da nào và càng không biết "dung tha" cho bất cứ ai. Đã bước chân vào là phải có chiến thuật, chiến lược để hạ gục "đối phương", giống như các tướng lĩnh cầm quân nơi chiến trường.

Trên thị trường đầu tư, mỗi nhà đầu tư có cho mình một phong cách, chiến lược và cách áp dụng riêng phù hợp nhất với họ, do vậy thành công hay thất bại - tất cả đều xuất phát từ việc đánh giá tình hình trên bình diện chiến lược đó.

Với những nhà đầu tư khi mới tham gia vào thị trường, việc tìm hiểu thông tin ban đầu là điều quan trọng nhất. Bài viết sau đây sẽ góp phần giúp nhà đầu tư trong quá trình nhận định chiến lược đầu tư.

Thông thường, một chiến lược tổng hợp bao gồm 3 bước cơ bản sau:

Thu thập thông tin

Ban đầu bất cứ ai cũng bỏ ngỏ khi bước chân vào thị trường chứng khoán, do vậy việc đầu tiên là chúng ta phải tìm thông tin từ nhiều cách: đọc sách, ấn phẩm về kinh doanh, các trang tin trên báo đài hoặc qua các webside của các công ty đó.

Sau khi tìm được các ấn phẩm và các sản phẩm bạn ưa thích, chúng ta có thể lưu chúng lại để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn. Ngoài ra chúng ta có thể bàn bạc với các chuyên gia của công ty chứng khoán hoặc với các nhà đầu tư khác trên thị trường để có nhiều thông tin hơn.

Bước đầu tiên khi chúng ta xác định lựa chọn cổ phiếu mà mình ưa thích, sau đó tìm hiểu thông tin về công ty đó... Việc tìm hiểu đề ra một quyết định đúng đắn thật không dễ dàng đối với các nhà đầu tư còn non trẻ, do vậy chúng ta hãy nghiên cứu các loại báo cáo của công ty như báo cáo thường niên, báo cáo quý, thêm vào đó hãy đọc cả các bản báo cáo tài chính và thu nhập của công ty mà mình đang định mua và các báo cáo của các đối thủ cạnh tranh của công ty trong cùng ngành đó, bởi nó sẽ giúp cho chúng ta trong việc so sánh kết quả kinh doanh, tình hình lợi nhuận của các công ty đó với nhau.

Các bản báo cáo của công ty này chúng ta có thể tìm ở đâu? Chúng ta có thể tìm thông qua các trang web của công ty hoặc qua các cơ quan quan hệ đầu tư. Chúng ta có thể vào trang web của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (www.ssc.gov.vn) và các Trung tâm Giao dịch Chứng khoán như: Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (www.hastc.org.vn), hay Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM (www.vse.org.vn) hoặc các dịch vụ dữ liệu đi kèm.

Tên của các công ty đối thủ cạnh tranh có thể tìm được thông qua các dịch vụ nghiên cứu chứng khoán, hay trang web của các bộ - ngành. Ngoài ra, còn vô số các trang web cung cấp các thông tin liên quan về dịch vụ đầu tư, kiến thức cơ bản về chứng khoán.

Để hiểu thêm về cơ cấu thông tin giúp cho việc nghiên cứu chứng khoán tốt hơn, bạn có thể tham khảo qua trang web của Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (www.vafi.org.vn), hay trang web của Công ty Chứng khoán Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (www.vcbs.com.vn). Các trang web này cũng giới thiệu cả các phần mềm máy tính có khả năng rà soát giá cổ phiếu và đánh giá về chỉ số giá so sách, ROE, ROA, Ebit... của các loạt cổ phiếu.

Đánh giá thông tin

Đây là một bước vô cùng quan trọng cho các nhà đầu tư, bởi vì việc xác định chất lượng của một cổ phiếu giống như chúng ta lựa chọn một nhà hàng để ăn uống. Chúng ta có thể đoán là nhà hàng đó không thể hoàn hảo tới mức 100% nhưng ta luôn mong muốn nó đạt được chất lượng tối ưu, do vậy trước khi mua cổ phiếu, bạn nên đặt ra các tiêu chuẩn lựa chọn cho riêng mình.

Để kiểm tra các thông tin của cổ phiếu mà mình lựa chọn thì thứ nhất phải bắt tay vào việc tìm hiểu các công ty và ban quản lý của công ty đó về các vấn đề như: công việc kinh doanh của họ có dễ hiểu không? mục tiêu kinh doanh của họ là gì? công việc kinh doanh đó có những gì rủi ro? các báo cáo về công việc quản lý công ty đưa ra cho các cổ đông có thật không?...

Chúng ta nên đọc các nhận xét của ban quản lý về mục tiêu kinh doanh, doanh số, lãi và các con số hoạt động khác của công ty trong các bản báo cáo 5 năm gần nhất hoặc có thể là nhiều hơn. Sau đó so sánh các nhận xét này với kết quả hoạt động thực tế của công ty, để chúng ta có một đánh giá chính xác hơn về tình hình hoạt động, về đội ngũ quản lý có năng động? chuyên nghiệp và say mê?

Thứ hai là chúng ta hãy nghiên cứu kỹ cách quản lý, chính sách và sản phẩm của công ty; Liệu công ty có đội ngũ quản lý mạnh không? Liệu công ty có giữ uy tín với khách hàng? Sản phẩm có duy trì được sự trung thành với khách hàng?

Những câu hỏi đặt ra như trên về chất lượng quản lý của công ty có vẻ hơi chủ quan. Tuy nhiên nếu bạn có chiến lược mua bán cổ phiếu của một công ty nhất định bạn nên tìm hiểu thông tin về ban lãnh đạo của công ty càng nhiều càng tốt. Một số nhà đầu tư nổi tiếng thường cho rằng "nên mua cổ phiếu như thể anh có thể trở thành đối tác làm ăn với công ty đó".

Thứ ba là xem xét các con số tài chính của công ty; Ta phải tìm hiểu xem công ty có lịch sử lâu dài về việc tăng doanh số và lãi với mức tăng trưởng cao hay không? mức nọ của công ty có hợp lý? Công ty có lịch sử trả lãi cổ đông đều đặn hay không?.. hãy so sánh công ty với các đối thủ cạnh tranh về các con số tài chính, chất lượng quản lý, sản phẩm và dịch vụ.

Thứ tư là đánh giá xem xét giá cổ phiếu của công ty có hấp dẫn các nhà đầu tư trên thị trường hay không? Để trả lời câu hỏi này bạn có thể hỏi các trung tâm dịch vụ chứng khoán, tham khảo nguồn thông tin trên thị trường hoặc tính toán các hệ số tài chính thông qua các báo cáo tài chính của công ty.

Tất cả các nghiên cứu đánh giá thông tin này đòi hỏi rất nhiều nỗ lực của chúng ta. Hiện nay với sự trợ giúp của Internet, thông qua các webside của các công ty việc tìm kiếm các câu trả lời để đưa đến các quyết định đầu tư không còn là khó.

Ra quyết định đầu tư

Trước khi ra quyết định, chúng ta hãy đánh giá cả rủi ro



Xếp hạng loại hình đầu tư chứng khoán

Vnbourse - Việc phân loại kết quả giao dịch của một chứng khoán được dựa trên tổng lợi nhuận của cổ đông trong vòng 4 năm tính cho tới thời điểm hiện tại và dựa trên triển vọng thu lợi nhuận tương lai của chứng khoán đó theo số lượng giao dịch, thu nhập ròng, xu hướng thu lợi và các nhân tố kinh tế.

A - Rất tốt: Đây là chứng khoán của công ty có mức tăng trưởng ấn tượng vì nó ít rủi ro nhất và đang được giao dịch với mức giá phản ánh giá trị tích cực so với triển vọng thu lợi nhuận của công ty. Vì diễn biến giá trong quá khứ chỉ là một chỉ dẫn chứ không phải là một sự bảo đảm cho tương lai nên có thể thấy rằng đó là một trong những chứng khoán có nhiều khả năng mang lại lợi nhuận cao trong tương lai. Không nên hiểu từ "rất tốt" là mua vào càng nhiều càng tốt vì thậm chí những chứng khoán tốt nhất đều có thể giảm giá nếu thị trường có dấu hiệu suy giảm.

B - Tốt: Đây là chứng khoán của một công ty có mức tăng trưởng khá vì đã tạo được một sự cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận. Khi mức tăng trưởng của bất kỳ một cổ phiếu nào được điều chỉnh theo rủi ro dễ bị thay đổi, chứng khoán đó có giá trị tốt với những triển vọng tốt trên thị trường. Tuy nhiên, "tốt" ở đây, cũng như "rất tốt" ở trên, không có nghĩa là mua vào càng nhiều càng tốt. Lý do vì sao ư? Cũng giống như trên, một chứng khoán tốt vẫn có thể bị giảm giá trên thị trường đang đi xuống.

C - Khá: Khi đề cập đến mối tương quan giữa lợi nhuận và rủi ro, những triển vọng cho chứng khoán của công ty thường là trên mức trung bình dựa trên mức tăng trưởng trong quá khứ của nó và giá trị hiện tại. Vì vậy, chứng khoán có thể là một loại hình đầu tư hoặc tốt hơn hoặc kém hiệu quả hơn rất nhiều so với hầu hết các chứng khoán thường khác. Tóm lại, không có lợi ích đặc biệt nào khi bạn đầu tư vào loại chứng khoán này trừ khi bạn tin rằng rủi ro trong tương lai của nó hay mức lợi nhuận dự kiến sẽ thay đổi.

D - Yếu: Chứng khoán của một công ty có tình hình kinh doanh kém hiệu quả so với các chứng khoán thông thường khác với cùng mức rủi ro. Khi mức lãi điều chỉnh theo rủi ro thay đổi, điều này có nghĩa rằng chứng khoán đó là một loại hình đầu tư ít sinh lời dựa trên giá trị hiện tại và tình hình tài chính hiện hành của công ty đó. Tương tự, không nên hiểu "yếu" có nghĩa là nên bán hết ra vì một chứng khoán yếu có thể tăng giá trên thị trường đang có triển vọng.

E - Rất yếu: Triển vọng cho chứng khoán loại này không mấy "sáng sủa" do có nhiều rủi ro giảm giá ảnh hưởng tới mọi tiềm năng tăng trưởng. Chứng khoán loại này được đánh giá dựa trên cơ sở điều kiện tài chính hiện thời của công ty kết hợp với diễn biến giá theo rủi ro trong quá khứ và giá trị hiện tại của cổ phiếu đó. Khi quá trình giao dịch được điều chỉnh theo rủi ro của một cổ phiếu thay đổi, đấy là một chứng khoán có độ rủi ro cao. Nhưng điều này cũng không đồng nghĩa với dấu hiệu kêu gọi bạn bán ra vì tất cả sẽ phụ thuộc phần lớn vào thị trường.

F - Phá sản: Công ty phát hành chứng khoán đang trong tình trạng phá sản. Thông thường, các cổ đông của một công ty bị phá sản sẽ mất toàn bộ tiền đầu tư của mình khi công ty phải cải tổ lại hay thanh lý tài sản. Vì vậy, đây là loại chứng khoán có độ rủi ro rất cao cho các nhà đầu tư và hầu như không có tiềm năng tăng trưởng.
Mỹ Hạnh theo Weiss Ratings (CKVN)

Lời khuyên bằng vàng (phần 1)

Lựa chọn nhà môi giới

Trước khi quyết định đầu tư chứng khoán, bạn phải quyết định xem công ty môi giới nào hay người đại diện nào thích hợp với bạn. Trước khi đưa ra quyết định lựa chọn, bạn nên:

1- Suy nghĩ kỹ về mục tiêu tài chính của mình và chuẩn bị một bộ hồ sơ cá nhân về tình hình tài chính của mình.

2- Thảo luận với các nhà môi giới khác nhau. Nếu có thể, hãy gặp họ trực tiếp tại văn phòng. Tốt hơn hết là hãy hỏi từng người về kinh nghiệm đầu tư, kiến thức chuyên môn và học vấn của họ.

3- Tìm hiểu về tiểu sử của công ty môi giới hay của người môi giới. Hãy chắc chắn rằng công ty hay người môi giới của bạn được cấp giấy phép hoạt động trong lĩnh vực này.

4- Tìm hiểu chi phí cho các nhà môi giới. Hãy hỏi xin công ty một bảng phí hoa hồng. Thông thường các công ty môi giới trả lương cho nhân viên dựa trên số tiền mà khách hàng của họ đầu tư và số lượng giao dịch được thực hiện trong tài khoản của họ. Bạn cũng nên hỏi xem mình sẽ phải trả bao nhiêu phí khi mở tài khoản hay khi duy trì và xoá bỏ.

5- Xác định liệu bạn có cần các dịch vụ của một hãng môi giới cung cấp dịch vụ đầy đủ hay giảm giá cho khách hàng hay không. Một công ty môi giới dịch vụ đầy đủ thường cung cấp các dịch vụ thực hiện lệnh, giới thiệu, tư vấn và hỗ trợ nghiên cứu. Nhà môi giới giảm giá thường cung cấp dịch vụ thực hiện lệnh nhưng không có dịch vụ tư vấn đối với những chứng khoán bạn nên bán hay mua. Các khoản chi phí bạn phải bỏ ra có thể không giống nhau tuỳ theo các dịch vụ mà công ty môi giới cung cấp.

6- Tìm hiểu xem công ty môi giới có phải là thành viên của Hiệp hội Các nhà Đầu tư Tài chính Việt Nam (VAFI) hay không. Đây là đơn vị có chức năng bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam ở một mức độ nhất định trong trường hợp các công ty môi giới không có khả năng thanh toán. Bạn cũng cần phải biết liệu công ty môi giới đó có các chức năng bảo hiểm khác để có thể đảm bảo cho nhà đầu tư khi trách nhiệm của công ty môi giới vượt mức do VAFI quy định. Tuy nhiên, nên nhớ rằng VAFI KHÔNG bảo đảm cho những mất mát của nhà đầu tư do giá thị trường của cổ phiếu sụt giảm.

7- Ghi nhớ rằng một phần của việc ra quyết định đầu tư đúng đắn là phải tìm được một nhà môi giới có thể đáp ứng tốt nhất các nhu cầu tài chính cá nhân của bạn. Không nên vội vã. Hãy nghiên cứu kỹ lưỡng về cả công ty môi giới và người đại diện. Không nên lựa chọn nhà môi giới nào thúc giục bạn mở ngay tài khoản ở công ty họ.

Thông thường, công ty môi giới sẽ yêu cầu khách hàng ký vào một bản thoả thuận mở tài khoản mới. Bạn nên xem xét cẩn thận các thông tin trong văn bản này vì nó có thể ảnh hưởng đến quyền hợp pháp của bạn đối với tài khoản của chính mình.

Bạn nên yêu cầu được xem bất kỳ tài liệu nào về tài khoản mà người đại diện chuẩn bị cho bạn. Không nên ký vào bản thoả thuận nói trên trừ khi bạn hiểu rõ mọi điều khoản trong đó và đồng ý với các điều khoản áp dụng với bạn. Không nên tin tưởng vào những lời giải thích hay hứa hẹn của người môi giới mà không được ghi rõ trong bản thoả thuận.

Người đại diện sẽ hỏi bạn các thông tin về mục tiêu đầu tư của bạn và tình hình tài chính cá nhân như thu nhập, tài sản ròng cá nhân và kinh nghiệm đầu tư. Lời khuyên của chúng tôi là bạn nên thành thật. Người môi giới sẽ dựa trên những thông tin bạn cung cấp để có thể cho bạn những lời khuyên hợp lý.

Việc ký vào bản thoả thuận mở tài khoản mới đòi hỏi bạn phải quyết định ba việc quan trọng:

1. Ai sẽ là người kiểm soát việc ra quyết định đối với tài khoản của bạn?

Bạn sẽ là người kiểm soát các quyết định đầu tư của mình trừ khi bạn quyết định trao lại quyền đó cho người đại diện của mình. "Quyền tự quyết" cho phép nhà môi giới ra quyết định dựa trên những gì mà họ cho là tốt nhất mà không cần hỏi ý kiến bạn về giá cả, lại chứng khoán hay số lượng và thời điểm mua hay bán. Không nên trao quyền tự quyết đó cho nhà môi giới mà không xem xét cẩn thận liệu việc đó có phù hợp với bạn hay không.

2. Bạn sẽ chi trả cho khoản đầu tư của mình như thế nào?

Hầu hết các nhà đầu tư thường giữ một tài khoản tiền mặt để thanh toán đầy đủ cho từng đợt mua chứng khoán. Có một loại hình tài khoản khác nữa là tài khoản ký quỹ. Mua chứng khoán bằng tài khoản này có nghĩa là bạn có thể mượn tiền từ nhà môi giới để mua chứng khoán và điều này buộc bạn phải trả lãi suất cho khoản vay đó. Bạn sẽ phải ký vào một bản thoả thuận mở tài khoản ký quỹ thừa nhận điều khoản thanh toán số lãi nói trên. Nếu bạn mua chứng khoán bằng tài khoản này, công ty môi giới có quyền bán ngay lập tức bất kỳ một chứng khoán nào trong tài khoản của bạn mà không thông báo cho bạn biết để trang trải những thiếu hụt do giá chứng khoán giảm gây ra. Nếu giá trị của tài khoản nhỏ hơn số nợ đọng, nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm đối với số thiếu hụt đó. Khoản thiếu hụt này có thể là lượng tiền sau khi bạn bán ra chứng khoán của mình. Bản thoả thuận mở tài khoản ký quỹ này thường đồng nghĩa với việc chứng khoán trong tài khoản của bạn có thể sẽ bị công ty môi giới mang đi cho vay bất cứ lúc nào mà không cần phải thông báo hay đền bù cho bạn.

3. Bạn sẽ phải chịu mức rủi ro như thế nào?

Trong một bản thoả thuận mở tài khoản mới, bạn sẽ phải xác định rõ mục tiêu đầu tư tổng thể của mình xét dưới góc độ rủi ro. Các loại rủi ro có thể có những cái "mác" như là "thu nhập", "tăng trưởng", hay "tăng trưởng mạnh". Hãy đảm bảo là bạn hiểu rõ sự khác biệt giữa những thuật ngữ trên và chắc chắn rằng mức rủi ro bạn chọn phải thực sự phản ánh chính xác được những mục tiêu đầu tư của bạn. Hãy chắc rằng các sản phẩm đầu tư mà nhà môi giới tư vấn cho bạn phản ánh đúng loại hình rủi ro mà bạn đã lựa chọn.

Khi mở một tài khoản mới, các công ty môi giới có thể sẽ yêu cầu bạn ký vào một hợp đồng ràng buộc về mặt pháp lý để giải quyết bất kỳ tranh cãi nào xảy ra trong tương lai giữa bạn và công ty hay với người môi giới. Đây cũng có thể là một phần trong một văn bản khác như là thoả thuận mở tài khoản ký quỹ. Sau này bạn có thể chọn trọng tài để giải quyết các tranh cãi về tổn thất của mình cho dù nếu bạn không ký vào bản thoả thuận đó. Ký vào bản thoả thuận như vậy đồng nghĩa với việc bạn sẽ phải từ bỏ quyền được kiện người môi giới của mình và công ty của anh ta ra toà.

Chứng khoán của bạn có thể được đăng ký dưới tên bạn hay tên của công ty môi giới. Hãy hỏi rõ người môi giới về những lợi ích và bất lợi tương đối của từng trường hợp nói trên. Nếu bạn có kế hoạch kinh doanh chứng khoán lâu dài và thường xuyên, bạn nên đăng ký chứng khoán dưới tên công ty chứng khoán để làm cho việc chuyển đổi, thanh thoán và trả cổ tức dễ dàng hơn.

Đừng bao giờ đầu tư vào một chứng khoán mà bạn không thực sự hiểu đầy đủ về nó. Hãy tham khảo các nguồn thông tin từ các ấn phẩm trong lĩnh vực kinh doanh và tài chính. Bạn có thể tìm thấy các thông tin liên quan đến các kiến thức cơ bản về việc đầu tư và các thuật ngữ kinh tế tại thư viện hay các trang web chuyên về chứng khoán.

Quyết định đầu tư vào chứng khoán

Hãy yêu cầu nhà môi giới của bạn cung cấp bản cáo bạch hay các báo cáo thường niên mới nhất và "bản công bố thông tin về quyền chọn" nếu bạn đang đầu tư vào hợp đồng quyền chọn. Đọc các văn bản đó thật kỹ. Nếu thắc mắc về điều gì, bạn hãy hỏi nhà môi giới trước khi đầu tư.

Bạn cũng có thể muốn kiểm tra lại với một công ty môi giới khác, một kế toán viên hay một nhà tư vấn kinh doanh đáng tin cậy để có ý kiến của người thứ hai về một vụ đầu tư cụ thể mà bạn đang quan tâm.

Hãy ghi lại thật cẩn thận những thông tin bạn thu nhận được, copy lại những giấy tờ bạn ký và ghi lại những cuộc đàm thoại của bạn với người môi giới.

Không ai muốn đầu tư để rồi thua lỗ. Tuy nhiên, đầu tư luôn đồng nghĩa với một độ rủi ro nhất định nào đó. Hãy chú ý:

1. Bạn càng hy vọng thu được lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn. Thành công của bạn sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường, do vậy, bạn có thể chỉ mất một ít trong khoản tiền đầu tư của mình nhưng cũng có thể mất rất nhiều.

2. Một số loại hình đầu tư không dễ dàng giao dịch hay chuyển sang tiền mặt. Hãy kiểm tra liệu có khoản phạt hay chi phí nào không nếu bạn phải bán chúng nhanh chóng hay trước ngày đáo hạn của nó.

3. Đầu tư vào chứng khoán do một công ty nhỏ hay không có thông tin công bố phát hành sẽ có rủi ro lớn hơn.

4. Đầu tư chứng khoán, bao gồm quỹ tương hỗ, không được bảo hiểm nếu giá thị trường sụt giảm.

5. Công ty phát hành chứng khoán bạn nắm giữ có thể là đối tượng được mang ra đấu giá, sáp nhập, tái cơ cấu hay chịu ảnh hưởng của một bên thứ ba có thể tác động đến giá trị của lợi tức do phần sở hữu của bạn mang lại. Hãy đặc biệt chú ý đến những thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và các thông tin về các giao dịch đó. Nó đòi hỏi phải đưa ra những quyết định đầu tư phức tạp. Bạn phải chắc chắn rằng mình đã hiểu "tường tận" các điều khoản của bất kỳ lời đề nghị giao dịch hay bán chứng khoán của bạn trước khi bạn đưa ra quyết định.

6. Những thành công mới nhất của một khoản đầu tư nào đó không bao giờ đảm bảo cho bạn một thành công tiếp theo trong tương lai.

Cổ phiếu có mức giao dịch cao đôi khi cũng đồng nghĩa với những rắc rối. Hãy tự đặt câu hỏi cho mình nếu một ai đó nói với bạn rằng: "Hãy đầu tư nhanh lên, nếu không bạn sẽ bỏ lỡ cơ hội có một không hai trong đời đấy!!!". Đối với các nhà đầu tư, việc tự bảo vệ là một điều cực kỳ quan trọng. Dưới đây là những lời khuyên rất bổ ích để giúp các nhà đầu tư tự bảo vệ quyền lợi của mình.

Nên nhớ rằng:

• Đừng bao giờ gửi tiền để đầu tư vào một chứng khoán khi chỉ dựa trên số lượng giao dịch qua điện thoại.
• Đừng bao giờ trả tiền cho người đại diện mua bán (người môi giới).
• Đừng bao giờ gửi séc tới một địa chỉ khác với địa chỉ giao dịch của công ty môi giới hay địa chỉ in trong bản cáo bạch.

Nếu người môi giới yêu cầu bạn thực hiện bất cứ điều gì kể trên, bạn hãy liên lạc ngay với người quản lý chi nhánh hay văn phòng dịch vụ khách hàng của công ty môi giới.

Đừng bao giờ cho phép người đại diện giao dịch nhận các xác nhận giao dịch và các thông tin về tài khoản của bạn thay cho bạn. Những văn bản này thường ghi lại thời gian, ngày tháng, số lượng và giá cả của từng chứng khoán được mua hay bán. Hãy xác định rõ liệu thông tin trong các bản thông báo đó là chính xác hay không.

Một số mục nhất định trong bản thông báo đó có thể chỉ ra các vấn đề trong việc quản lý tài khoản của bạn và có thể cho thấy việc vi phạm pháp luật về chứng khoán do nhà nước ban hành.

Cần phải thận trọng khi:

1- nhà môi giới tư vấn cho bạn dựa trên các thông tin "nội bộ" hay " tin mật", dựa trên một "bản tường trình sắp được công bố", một "triển vọng mua lại hay sáp nhập" các công ty, hay công bố một "sản phẩm mới có nhiều tiềm năng"…;

2- nhà môi giới vẽ ra trước mắt bạn một viễn cảnh tươi sáng của mức tăng trưởng lợi nhuận "ngoạn mục" như: "tiền của bạn sẽ nhân đôi trong vòng sáu tháng". Nên nhớ rằng, khi bạn nghe được một điều gì đấy quá phi thực tế thì nó có rất ít khả năng thực hiện được;

3- nhà môi giới "đảm bảo" rằng bạn sẽ không mất tiền cho một giao dịch chứng khoán nào đặc biệt hay nhà môi giới đồng ý thoả thuận sẽ chia sẻ rủi ro trong tài khoản của bạn;

4- xuất hiện một lượng giao dịch vượt mức trong tài khoản của bạn. Những hiện tượng như vậy sẽ làm tăng phí hoa hồng phụ trội phải trả cho nhà môi giới của bạn, tuy nhiên nhiều khi nó cũng chẳng mang lại cho bạn cơ hội đầu tư tốt hơn;

5- nhà môi giới khuyên bạn nên thay đổi chiến lược đầu tư của bạn, như là chuyển từ đầu tư chứng khoán có hệ số rủi ro thấp sang chứng khoán có tính đầu cơ cao, hay chỉ tập trung vào một sản phẩm duy nhất;

6- chuyển đầu tư của bạn ở một quỹ tương hỗ sang một quỹ khác với những mục tiêu đầu tư tương tự. Nếu như không có một mục đích đầu tư chính đáng, đó có thể chỉ là một nỗ lực của nhà môi giới nhằm tăng khoản phí hoa hồng phụ thêm cho anh ta mà thôi;

7- có áp lực buộc bạn phải giao dịch theo cách thức không phù hợp với mục tiêu đầu tư và rủi ro bạn muốn hay bạn có thể gánh chịu được;

8- nhà môi giới đảm bảo cho bạn rằng sai sót trong tài khoản của bạn chỉ do lỗi máy tính hay do nhầm lẫn trong ghi chép mà thôi. Bạn cần phải yêu cầu người quản lý chi nhánh hay phòng chăm sóc khách hàng của công ty môi giới gửi cho bạn một văn bản giải thích rõ ràng. Bạn nên kiểm tra liệu những lỗi như vậy có được sửa chữa lại trong bản thông báo chi tiết tài khoản tiếp theo của bạn.

Nếu bạn gặp rắc rối:

Nếu có rắc rối gì xảy đến với bạn liên quan đến người môi giới hay tài khoản, hãy liên lạc ngay với nhà quản lý của người môi giới hay văn phòng chăm sóc khách hàng của công ty môi giới. Hãy gửi một bản xác nhận lời than phiền của bạn bằng văn bản. Hãy ghi âm lại các cuộc đàm thoại và yêu cầu những lời giải thích bằng văn bản.

Nếu các vấn đề không được giải quyết như bạn mong muốn, hãy liên lạc ngay với cơ quan quản lý có thẩm quyền. Những thông tin về lời than phiền của nhà đầu tư giúp các cơ quan này phát hiện được những vi phạm pháp luật về chứng khoán. Tuy nhiên, không một cơ quan chức năng nào có đủ thẩm quyền để đứng ra đại diện hợp pháp cho nhà đầu tư cá nhân hay lấy lại tiền cho bạn. Mỹ Hạnh (CKVN)



Diễn giải bảng số liệu Chứng Khoán Việt Nam

Cơ sở thống kê

Với nhiều công ty niêm yết, số liệu kế hoạch năm 2005 được đại hội cổ đông thông qua chủ yếu dựa trên phương án do Hội đồng Quản trị đưa ra trên nguyên tắc “thận trọng” của ban lãnh đạo doanh nghiệp (xét trên tốc độ tăng trưởng bình quân và năng lực sản xuất) hơn là yêu cầu phải theo sát thực trạng thị trường và dự đoán cho thị trường trong tương lai. Ngoài ra, cách ghi nhận các khoản mục quan trọng ảnh hưởng đến lợi nhuận như doanh thu, khấu hao, giá thành sản phẩm... của các doanh nghiệp là rất khác nhau, nên có thể gây ra những đột biến về kết quả kinh doanh của một quý do từ những hoạt động thực sự diễn ra của quý trước đó hay sau đó. Vì thế, kết quả so sánh giữa Quý I/2005 với cùng kỳ năm trước và chỉ tiêu kế hoạch năm 2005 chỉ có tính chính xác tương đối.

Quan điểm đánh giá

Do những yếu tố khách quan và chủ quan trên, người viết bài này không có tham vọng chỉ rõ tất cả những thông tin thực sự lạc quan hay bi quan về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Trong những gợi ý dưới đây, quan điểm được đưa ra trên giả thiết rằng “các cổ đông lớn, những người có thể chi phối giá giao dịch của cổ phiếu đó trên TTCK, hiểu rõ nhất về tình hình thực tế của doanh nghiệp”. Do đó, mục tiêu của bảng số liệu tổng kết là chỉ ra cơ hội hoặc thách thức đối với từng loại chứng khoán có sự thay đổi tương ứng như thế nào qua mức chênh lệch hai chỉ số P/E năm 2004 và P/E trung bình của 4 quý gần nhất.

Ý nghĩa của từng cột số liệu

Bảng số liệu được chia làm nhiều chỉ tiêu tương ứng với 28 loại cổ phiếu niêm yết theo xếp theo trình từ bảng chữ cái. Tính theo hàng từ trên xuống, tên công ty niêm yết được đại diện qua mã chứng khoán, được sắp xếp theo chỉ tiêu ưu tiên “tăng trưởng lợi nhuận so với quý I/2004 - cột (e)”. Những số liệu đáng chú ý tại các cột được in đậm.

Cột (a): các mã chứng khoán được in đậm gồm LAF, REE, BBC, DHA, CAN, SSC, SFC, NKD là chứng chứng khoán đáng được chú ý do đạt được mức tăng trưởng doanh số cao hơn 40% so với cùng kỳ, đã hoàn thành trên 33% kế hoạch lợi nhuận 2005, hoặc “rẻ” đi đáng kể thông qua chỉ số P/E trung bình 4 quý (từ quý II/2004 đến quý I/2005) được “cải thiện” so với chỉ số P/E của cả năm 2004 (với E là lợi nhuận thuần năm 2004/ khối lượng cổ phiếu) với P là thị giá ngày 28/4/2005.

Cụ thể chênh lệnh giữa P/E của các chứng khoán này lần lượt là: LAF giảm từ 2,83 xuống còn 1,8 lần, REE giảm từ 10,83 xuống mức 8,78 lần, BBC giảm từ 9,14 còn 7,9 lần. Đặc biệt, chỉ số P/E của CAN giảm từ 18,72 xuống mức 9,75 lần.

Cột (d) và cột (f): Chỉ tiêu doanh thu Quý I/2005 trong tương quan với doanh thu cùng kỳ năm trước và doanh thu kế hoạch cả năm 2005. Việc xem xét 2 cột số liệu này cũng cần tham khảo trên mối tương quan giữa cột (f) và cột (g) để đánh giá được hiệu quả thực sự trong kế hoạch cân bằng ba mục tiêu là doanh số, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp. Các công ty có kết quả ấn tượng nhất là LAF (doanh số đạt 20% kế hoạch, nhưng lợi nhuận đạt đến 88%), DPC (lợi nhuận tăng gần 3 lần trong khi doanh số giảm 25 %). SSC và SFC đều đạt kế hoạch trên 40% kế hoạch lợi nhuận cả năm trong khi doanh số chỉ đạt tương đối.

Cột (e): Chỉ tiêu “mức tăng trưởng lợi nhuận” so sánh với quý I/2004. chỉ tiêu này cũng chỉ ra mức độ cải thiện trong bài toán quản lý chi phí hoặc cho thấy thị trường tiêu thị thật sự thuận lợi. Tất nhiên, hiệu quả từ công tác đầu tư trong năm 2004 cũng góp phần trong việc cải thiện chỉ tiêu lợi nhuận.

Nếu loại trừ yếu tố chủ quan là một số công ty niêm yết đã gặp những khó khăn về quản lý trong quý I/2004 gây ra kết quả kinh doanh quá kém, nhà đầu tư có quyền đánh giá cao hơn những công ty có tốc độ tăng trưởng lợi nhuận cao hơn 40% như LAF, BBC, DHA TMS …và không hài lòng với biểu hiện xuống sức củaHAP, AGF, BPC, KHA, TRI và BBT.

Cột (h): P/E là chỉ tiêu quan trọng trong khi tham khảo liệu giá của một chứng khoán có còn hợp lý để đầu tư, nắm giữ hay bán đi. Chỉ số P/E cũng cần được xem xét trên cơ sở đã nắm rõ tỷ lệ so sánh với P/E của các doanh nghiệp cùng ngành nghề, cùng quy mô vốn. Do đó, việc các chứng khoán SSC, CAN, BBC, REE cải thiện được chỉ số P/E nhờ kết quả lợi nhuận quý I/2005 là đáng ghi nhận.  (ĐTCK)

Các thuật ngữ chứng khoán

Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các loại chứng khoán khác.

Vốn cổ phần của công ty cổ phần được chia nhỏ thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.

Cổ phiếu (share, stock): là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành xác nhận quyền sở hữu cổ phần của người nắm giữ cổ phiếu trong công ty. Người sở hữu cổ phiếu là cổ đông của công ty cổ phần. Ngày nay trên Sở giao dịch chứng khoán, cổ phiếu còn có hình thức ghi trong máy tính điện tử, gọi là hình thức phi vật chất, rất thuận tiện cho việc giao dịch cổ phiếu một cách nhanh, chính xác, an toàn, tránh được việc nhàm lẫn trong mua bán và làm giả cổ phiếu.

Cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi (common share and priviledged share): Người sở hữu cổ phiếu phổ thông được quyền biểu quyết đổi với các quyết định lớn của công ty tại Đại hội Cổ đông của công ty cổ phần và được hưởng cổ tức (cổ tức này không cố định, có thể có và có thể không có).

Người sở hữu cổ phiếu ưu đãi được hưởng cổ tức cố định ằàng năm mặc dù công ty có lãi hay không có lãi và có thể được hưởng một số quyền biểu quyết nhưng rất hạn chế. Như vậy, cổ phiếu ưu đãi gần giống với trái phiếu.

Cổ tức (dividend) là khoản tiền hằng năm công ty cổ phần phân phối cho cổ đông như là một khoản lãi. Việc chi trả cổ tức do Hội đồng Quản trị quyết định. Nếu trong năm, công ty có lợi nhuận, thì cổ tức được trích ra từ khoản lợi nhuận đó. Trong một số trường hợp công ty không có lợi nhuận trong năm, nhưng công ty vẫn chi trả cổ tức từ khoản vay ngân hàng.

Trái phiếu (bond)là chứng khoán xác nhận nghĩa vụ trả nợ của tổ chức phát hành trái phiếu. Trái phiếu bao gồm trái phiếu công ty và trái phiếu chính phủ. Trái phiếu có thể có bảo đảm hoặc không có bảo đảm.

Trái phiếu có bảo đảm có thể được bảo đảm bằng phương thức sau: Bộ Tài chính hoặc tổ chức tài chính bảo lãnh thanh toán; Bảo đảm bằng tài sản của tổ chức phát hành hoặc một tổ chức thứ ba.

Trái phiếu chuyển đổi (convertible bond) là trái phiếu có kèm theo quyền chuyển đổi quy định rằng đến một thời điểm nào đó (1, 2, 5 năm sau khi phát hành) thì người sở hữu trái phiếu có quyền chuyển đổi trái phiếu để lấy cổ phiếu của công ty phát hành trái phiếu.

Ví dụ: tháng 10 năm 1998, công ty A phát hành trái phiếu C kèm theo quyền chuyển đổi 1 trái phiếu C thành 1 cổ phiếu của công ty A vào tháng 10 năm 2002. Nếu vào tháng 10 năm 2002, giá 1 cổ phiếu là 102.000 đồng và giá trái phiếu C là 90.000 đồng, thì người nắm giữ trái phiếu sẽ chuyển đổi trái phiếu đang nắm giữ sang cổ phiếu. Ưu điểm của việc phát hành trái phiếu chuyển đổi là nó hấp dẫn nhà đầu tư hơn so với trái phiếu thông thường.

Trái phiếu Chính phủ (government bond) do Chính phủ phát hành. Trái phiếu Chính phủ của các nước thường do Ngân hàng Trung ương tổ chức đấu thầu bán buôn, các tổ chức tài chính đứng ra thầu mua và là người tạo dựng thị trường trái phiếu.

Trái phiếu công trình (project bond) là một loại trái phiếu Chính phủ hoặc trái phiếu chính quyền địa phương được Chính phủ cho phép, được phát hành để phục vụ cho việc xây dựng một công trình, theo quy định của Chính phủ hoặc địa phương.

Sử dụng biểu đồ để dự báo giá cổ phiếu

Nhà phân tích kỹ thuật trên thị trường chứng khoán là những người có thể dự đoán giá cổ phiếu trong tương lai bằng việc phát hiện ra xu hướng giá trong quá khứ. Các biểu đồ thị trường của họ biểu diễn các mô hình có tên gọi rất sống động, như mô hình đỉnh đầu vai với một đỉnh lớn cùng hai đỉnh nhỏ thấp hơn ở hai bên, hay mô hình đáy lớn với một loạt các đáy, mỗi đáy sau lại thấp hơn đáy liền trước... Những thông tin giao dịch tuy rất đơn giản từ các biểu đồ này nhưng lại là lộc trời cho đối với những người biết đọc nó.

Từ một thế kỷ trước đây, Charles Dow - nhà sáng lập ra chỉ số Dow Jones hiện nay đã phát minh ra lý thuyết Dow để dự đoán xu hướng giá cổ phiếu. Các biểu đồ được một số nhà đầu tư nổi tiếng thế giới sử dụng như Stanley Druckenmiller - người đang quản lý Quỹ phòng ngừa rủi ro Quantum của George Soros và Jeffrey Vinik - người đã từng quản lý Quỹ tương hỗ Magellan. Các nhà kinh tế nghiên cứu thị trường tài chính vẫn xem phân tích kỹ thuật như một phép thần chú và có nhiều mối quan hệ đối với phân tích cơ bản mang tính kinh tế chính xác như chiêm tinh với thiên văn học.

Những nhà kinh tế phản bác phân tích kỹ thuật cho rằng, trong một thị trường hiệu quả, giá cả phản ánh tất cả các thông tin hiện tại và việc nghiên cứu các mô hình giá trong quá khứ sẽ không mang lại một thông tin bổ ích nào như liệu giá cổ phiếu trong tương lai sẽ tăng hay giảm. Cụ thể, giá cả sẽ chuyển động mà không thể dự đoán được hay thay đổi một cách ngẫu nhiên. Trong thập kỷ vừa qua, một số nhà kinh tế đã kiểm nghiệm lý thuyết thị trường hiệu quả bằng cách tìm ra một số các ví dụ minh họa những chuyển động trong giá cổ phiếu có thể dự đoán được dễ dàng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tranh cãi về việc liệu những chuyển động này có đủ khả năng dự đoán cho các nhà đầu tư thu lợi trên cơ sở những thay đổi giá mong đợi? Câu hỏi này được đề cập một cách chi hết trong cuốn "Thị trường chứng khoán không chuyển động một cách ngẫu nhiên" (nhà xuất bản đại học Princeton, 1999) của Craig MacKinlay thuộc Trường Wharton School và Andrew Lo thuộc Học viện công nghệ Massachusetts.

Ông Andrew Lo và hai đồng tác giả đã đưa ra những luận chứng bảo vệ mô hình phân tích kỹ thuật. Bằng việc sử dụng giá cổ phiếu của Mỹ trong các năm từ 1962 đến 1996, họ kiểm tra khả năng dự báo của 5 cặp mô hình phân tích kỹ thuật đang được sử dụng rộng rãi: đỉnh đầu và vai, đỉnh đầu và vai lộn ngược, đỉnh và đáy rộng, ba đỉnh và đáy, hai đỉnh và đáy. Kết quả cho thấy, các mô hình phân tích kỹ thuật hầu như xảy ra thường xuyên hơn nếu chúng thực sự là các sự kiện ngẫu nhiên.

Nhìn chung, các biểu đồ chứa đựng các thông tin bổ ích về giá cổ phiếu trong tương lai. Tuy nhiên, có một sự khác nhau rất lớn giữa các kết quả tại các thị trường khác nhau. Với những cổ phiếu niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán New York (NYSE) và Sở giao dịch chứng khoán Mỹ (AMEX), chỉ có 7 trong số 10 mô hình phân tích kỹ thuật có đủ khả năng dự báo để thống kê. Đối với cổ phiếu trên thị trường Nasdaq thì cả 10 mô hình đều có ý nghĩa quan trọng về mặt thống kê.

Nghiên cứu không đi sâu vào tìm hiểu điều gì tạo ra các mô hình nhưng có một khả năng là các mô hình phản ánh những thay đổi trong tâm lý nhà đầu tư. Sự ham thích rủi ro của nhà đầu tư có thể thay đổi theo cách có thể dự báo tương ứng với những thay đổi cụ thể trong mức giá. Nhưng hiện vẫn chưa rõ ràng, liệu khả năng dự đoán của các mô hình phân tích kỹ thuật sẽ bị mất đi hay không nếu các nhà đầu tư quá tận dụng chúng để thực hiện giao dịch.

Do các nhà đầu tư đã sử dụng biểu đồ trong dự đoán giá cổ phiếu khoảng 100 năm nay và chúng vẫn chứng tỏ được tính hữu dụng của mình, nên khả năng dự đoán của các mô hình sẽ vẫn còn mãi. Các mô hình truyền thống được sử dụng trong phân tích kỹ thuật vẫn còn khá sơ sài và được xác định bởi những cái có thể nhìn thấy. Vì thế, phân tích kỹ thuật vẫn thường được coi là một nghệ thuật hơn là một môn khoa học.

Năm nguyên tắc đầu tư giá trị

Nét đặc biệt của việc đầu tư giá trị là không nhằm vào những cổ phiếu được ưa chuộng mà không đưa ra những phán đoán mạo hiểm với tốc độ tăng trưởng của một công ty trong tương lai. Thay vào đó là tìm ra những cổ phiếu tốt theo những tiêu chuẩn của riêng trong số các cổ phiếu đang bị thị trường "chê" đây là một công việc hết sức khó khăn do phải tốn nhiều thời gian và công sức để tìm ra được giá trị thực sự của công ty.


Bất chấp những khó khăn trên, John Neff nhà đầu tư nổi danh trên TTCK Mỹ đã thành công khi theo đuổi chiến lược đầu tư giá trị và đã trở thành một trong những nhà đầu tư giá trị hàng đầu trong thời đại của chúng ta. Suốt 31 năm là người lãnh đạo quỹ đầu tư Windsor, ông luôn đánh bại chỉ số S&P 500 nhờ vào việc biết tìm ra những viên ngọc quý trong số những công ty bị thị trường vứt bỏ. 'I'ừ khi trở thành người lãnh đạo qũy đầu tư Windsor vào tháng 6 năm 1964 cho đến khi về hưu vào cuối năm 1995, quỹ đầu tư Windsor luôn đạt được mức lợi nhuận trung bình hàng năm là 13,7% so với mức 10,6% của S&P 500.


Nhờ những thành công trên mà John Neff đã đưa Charles Ellis, nhà quản lý Greenwich Associates, một công ty tư vấn cho các công ty dịch vụ tài chính đặt ở vị trí ngang hàng với nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffet.
Vậy John Neff đã thực hiện chiến lược đầu tư cổ phiếu giá trị như thế nào để đạt được những kết quả trên. Chúng tôi xin giới thiệu với các bạn năm nguyên tắc đầu tư giá trị mà John Neff đã thực hiện.


1. Mua những cổ phiếu có tỷ số P/E thấp.


Neff thường quan tâm đến cổ phiếu có tỷ số P/E thấp hơn mức trung bình của thị trường. Cổ phiếu có tỷ số P/E thấp thường là do có nhưng thông tin xấu về tình hình kinh doanh và triển vọng của công ty hoặc là cổ phiếu của những công ty hiện đang gặp khó khăn. Chính điều này khiến cho mọi nhà đầu tư đều muốn gạt bỏ chúng ra khỏi danh mục đầu tư của mình.
Nhưng một khi các cổ phiếu có mức P/E thấp tăng giá trở lại bạn có thể kiếm được một mức lời đáng kể không chỉ từ khoản lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu tăng mà còn do hầu hết các nhà đầu tư đều sẵn lòng trả giá cao để mua các cổ phiếu bạn đang nắm giữ.


2. Tìm kiếm các công ty tăng trưởng không quá cao.

John Neff luôn tìm các công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 7%, bởi ông muốn chắc rằng đây không phải là công ty tồi. Nhưng ông lại không thích các công ty có tốc độ tăng trưởng quá cao (trên 20%), bởi khi có sự giảm sút về lợi nhuận thì giá cổ phiếu của các công ty sẽ giảm rất mạnh. Neff cho rằng, cùng tình trạng trên, giá cổ phiếu của các công ty có tỷ số P/E thấp chỉ giảm nhẹ và mức thua lỗ là không đáng kể.


3. Không xem nhẹ cổ tức.


Cổ tức giúp tạo nên sự cân bằng cho giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, đặc biệt là trong thị trường giá xuống. Neff tính được rằng, hơn 50% những khoản lợi nhuận ông đem lại cho Windsor đến từ những khoản cổ tức cao hơn mức trung bình mà ông muốn đạt được. Theo ông, nếu cổ phiếu lựa chọn không tăng giá thì ít ra cũng phải nhận được cổ tức. Khi cả hai mục tiêu trên không đạt được thì tốt nhất nên bán những cổ phiếu đó và đầu tư tiền vào nơi khác.


4. Khi bán cổ phiếu cũng cần phải hết sức cân nhắc như khi mua cổ phiếu.


Không giống như các nhà đầu tư cổ phiếu tăng trưởng, những người cứ ôm khư khư cổ phiếu của mình khi chúng tăng giá và được hầu hết các nhà đầu tư săn lùng, John Neff đi ngược hướng với họ. Ông thường bắt đầu bán dần lượng cổ phiếu đang nắm giữ khi nó đã đem lại cho ông khoảng 70% lợi nhuận mong đợi. Chiến lược này có thể mang lại lợi nhuận chắc chắn hơn và có khi còn cao hơn nếu cứ tiếp tục giữ cổ phiếu. John Neff khuyên bạn rằng, đừng hy vọng sẽ thu được hết mọi khoản lợi nhuận bằng cách cứ nắm giữ chúng, hãy dành một phần khoản lợi nhuận đó cho các nhà đầu tư khác.


5. Không quan tâm đến những gì mà đám đông đang làm


Khi đã theo đuổi chiến lược đầu tư giá trị, cần phải luôn luôn hành động ngược hướng với các nhà đầu tư khác, nghĩa là phải bán cổ phiếu khi thị trường đang gia tăng giá và mua vào khi thị trường giảm giá. Đồng thời, phải hết sức quan tâm đến các cổ phiếu không được thị trường ưa chuộng. Để làm được điều này, người đầu tư phải có cá tính mạnh mẽ, thậm chí là phải là người ương ngạnh.


Ngoài năm nguyên tắc trên, John Neff còn tự xây dựng một tỷ số để chọn ra được những cổ phiếu giá trị. Ông ta gọi là " tỷ số tổng lợi nhuận đầu tư". Tỷ số trên được tính bằng cách lấy tốc độ tăng trưởng lợi nhuận dự đoán công với lợi suất cổ tức đem chia cho tỷ số P/E hiện thời của cổ phiếu. Ông chỉ đầu tư vào các cổ phiếu khi tỷ số " tổng lợi nhuận đầu tư" của nó ít nhất bằng 2 .

Một số phương pháp tính giá trị thực của cổ phiếu niêm yết

Để đơn giản hoá vấn đề, chúng ta sẽ lấy giá cao nhất trong các giá CP tính theo các phương pháp trên làm giá trị thực của CP được phân tích.

Định giá cổ phiếu phổ thông theo phương pháp chiết khấu luồng thu nhập (DCF)
Phương pháp định giá chiết khấu luồng thu nhập (DCF) được dựa trên một nguyên lý cơ bản là "tiền có giá trị theo thời gian”, một đồng tiền của ngày hôm nay luôn có giá trị hơn một đồng tiền của ngày mai, một đồng đầu tư vào trong doanh nghiệp (DN) này có mức sinh lời khác với một đồng đầu tư trong DN khác, do đó, giá trị của ND được xác định bằng các luồng thu nhập dự kiến mà DN đó thu được trong tương lai được quy về giá trị hiện tại bằng cách chiết khấu chúng bằng một mức lãi suất chiết khấu phù hợp với mức độ rủi ro của DN đó.

Do vậy, trong phương pháp DCF có 3 thông số cơ bản nhất cần được xác định, đó là luồng thu nhập công ty sẽ thu về trong tương lai, mức lãi suất chiết khấu luồng thu nhập đó và thời hạn tồn tại dự tính của DN. Phương pháp này được áp dụng phổ biến ở những nước mà TTCK phát triển, nơi thường có đầy đủ thông tin về lịch sử cũng như thông tin hiện tại và dự báo hợp lý về tình hình tài chính và rủi ro của doanh nghiệp. Hiện nay, việc áp dụng công thức này ở Việt Nam cũng được nhiều người chấp nhận bởi giá CP tính theo phương pháp này phản ánh được tương đối đầy đủ mọi mặt bản chất hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty so với các phương pháp khác và đứng trên quan điểm của nhà đầu tư thì, ngoài việc tính toán theo phương pháp này rất đơn giản, nó còn đáp ứng đúng suy nghĩ, nguyện vọng của họ khi đầu tư vào một DN.

Tuy nhiên, tại Việt Nam việc áp dụng công thức này có một số khó khăn làm cho việc ước tính nguồn thu trong tương lai của các công ty khó có thể chính xác như: Tình hình môi trường kinh doanh có nhiều biến động; Các ND Việt Nam trong đó có các công ty đang niêm yết đều chưa quen với việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn, đặc biệt là còn xa lạ với việc dự báo chi tiết luồng tiền dài hạn ra, vào công ty... Do đó, chúng ta sẽ điều chỉnh lại công thức này theo hướng 5 năm và cộng giá trị tài sản ròng được tính vào thời điểm niêm yết.

Công thức được điều chỉnh sẽ là:

P = Po + E1/(1+r) + E2/(1+r)2 + E3/(1+r)3 + E4/(1+r)4 + E5/(1+r)5

Định giá CP phổ thông theo phương pháp hệ số P/E

Đây là phương pháp cũng được áp dụng phổ biến ở các TTCK đã phát triển. Hệ số P/E là hệ số giữa giá CP (thị giá) và thu nhập hàng năm của một CP đem lại cho người nắm giữ. Thông thường, để dự tính giá của một loại CP, người ta thường dùng thu nhập trên mỗi CP của công ty nhân với hệ số P/E trung bình ngành hoặc của một công ty tương tự về qui mô, ngành nghề và đã được giao dịch trên thị trường. Việc áp dụng hệ số P/E để tính giá CP tại Việt nam còn gặp phải nhiều khó khăn do thiếu số liệu và TTCK chưa phát triển.

Tại các thị trường đã phát triển, theo số liệu thống kê về chỉ số P/E, hệ số này từ 8-15 là bình thường, nếu hệ số này lớn hơn 20 thì công ty đang được đánh giá rất tốt và người đầu tư trông đợi trong tương lai, mức thu nhập trên một CP của công ty sẽ tăng nhanh. Trường hợp công ty có hệ số P/E thấp có thể là do thị trường không đánh giá cao công ty đó hoặc chưa hiểu biết nhiều về công ty. Khi tất cả các CP trên thị trường đều có giá quá cao so với giá trị thực của của nó thì phần bong bóng sẽ vượt quá phần thực và nhất định có ngày nổ tung, gây khủng hoảng thị trường như đã từng thấy ở các nước phát triển.

Định giá cổ phiếu dựa trên cơ sở tài sản ròng có điều chỉnh

Quan điểm chung của phương pháp này cho rằng, một công ty có giá trị không kém hơn tổng các giá trị của từng loại tài sản riêng của nó trừ đi các khoản nợ của nó. Tài sản riêng ở đây được hiểu bao gồm cả những giá trị lợi thế của công ty. Giá CP của công ty có thể được tính theo phương pháp tổng quát sau:

Giá CP = (Giá trị TS ròng + Giá trị lợi thế)/Tổng số CP định phát hành

Phương pháp này thường được sử dụng để tính toán giá tham chiếu và so sánh. ở Việt Nam, phương pháp này được áp dụng phổ biến cho các DN Nhà nước thực hiện CPH. Tuy nhiên, giá trị tài sản ròng của công ty dù được định giá chính xác đến đâu cũng chỉ thể hiện giá trị thanh lý của công ty, trong khi đó đối với người đầu tư mua CP thì tương lai của công ty mới là điều đáng quan tâm hơn cả. Trong các DN CPH ở Việt Nam có nhiều loại tài sản mà chúng ta không xác định được giá do không có thị trường cho các loại tài sản này, nhưng có một loại tài sản mà ai cũng thấy rõ là đang góp phần khiến cho các DN Nhà nước CPH được định giá thấp là giá trị quyền sử dụng đất.

Quan sát cho thấy, việc quyền sử dụng đất trong các DN Nhà nước CPH được định giá thấp hơn giá cả trên thị trường nhà đất từ 4 đến 5 lần không phải là hiện tượng cá biệt. Hơn thế nữa, trong nhiều DN, quyền sử dụng đất là một tài sản có giá trị cao nhất, chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản của công ty. Chúng ta sẽ dựa trên một số số liệu về cổ phần hoá, tính những thiếu hụt trong quá trình định giá của các DN Nhà nước cổ phần bằng cách nhân tổng giá trị tài sản ròng của công ty lên 2 lần. Dựa trên các phương pháp được giới thiệu trên và chỉ sử dụng một cách máy móc những con số ghi trên trên báo cáo tài chính năm 1999 và 2000 được công bố của các công ty niêm yết, các bạn có thể tự tính toán được giá trị CP của các công ty theo bảng dưới đây. Tuy nhiên, theo những tính toán nêu trên thì giá CP vẫn chưa thể hiện được hoàn toàn về các giá trị thực của công ty mà nó phản ánh. Để có thể hiểu được một cách rõ nét và toàn diện hơn, chúng ta cần phải đi sâu vào phân tích những yếu tố phi định lượng khác nhưng lại ảnh hưởng rất lớn đến những kết quả tính toán nêu trên.

Những yếu tố mà bạn cần phải tính đến khi phân tích và tính giá CP của một công ty bao gồm:

- Độ tin cậy của số liệu

- Mức độ rủi ro trong hoạt động của công ty bao gồm cả những yếu tố như tình hình thị trường và triển vọng của công ty (điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến thời hạn hoạt động cuả công ty, hệ số chiết khấu trong công thức tính DCF);

- Những yếu tố liên quan đến tài sản vô hình của công ty như trình độ quản lý của ban giám đốc, uy tín sản phẩm, nhãn hiệu thương mại, chất lượng sản phẩm được thể hiện theo các tiêu chuẩn ISO... (ĐTCK)

Những cơ sở căn bản của Phân tích kỹ thuật (phần 1)

(Vnbourse) Nhà phân tích kỹ thuật trên thị trường chứng khoán là những người có thể dự đoán giá cổ phiếu trong tương lai bằng việc phát hiện ra xu hướng giá trong quá khứ. Cùng với mong muốn góp sức để nâng cao tính chuyên nghiệp của thị trường, Vnbourse xin giới thiệu những trang bị căn bản nhất về phân tích kỹ thuật.

1- Biểu đồ phân tích kỹ thuật.

Kỹ thuật dùng biểu đồ phân tích kỹ thuật đã rất phổ biến từ cuối thế kỷ 19, do Charles H. Dow khởi xướng. Sau đó, quan điểm của ông đã trở thành "Lý thuyết Dow" ("Dow Theory"), cho rằng những biến động thị trường với mọi xu hướng đều có thể được dự đoán trước trên cơ sở biến động giá cổ phiếu trên các biểu đồ.

Cơ sở của việc phân tích là tìm cách xác định giá của cổ phiếu trong tương lai bằng việc nhận diện và đo lường giá trị cổ phần. Các lý thuyết về phân tích kỹ thuật cho rằng, các hành vi thị trường trong quá khứ tự nó sẽ xác định giá tương lai.

Biểu đồ phân tích kỹ thuật gồm hai trục biểu thị giá và thời gian. Mỗi một cổ phần, thị trường và chỉ số niêm yết trên bảng giao dịch đều được biểu thị bằng một biểu đồ minh hoạ sự biến động giá chứng khoán qua các thời kỳ; mỗi một đồ thị (đường) là tập hợp các điểm chỉ giá đóng cửa (closing price) ngày giao dịch. Đồng thời, có một sự liên hệ giữa giá mở cửa, giá đóng cửa, giá cao nhất / thấp nhất.

Phân tích biểu đồ có thể được áp dụng cho từng chứng khoán riêng lẻ cũng như một danh mục đầu tư. Các nhà phân tích sử dụng kỹ năng nghiên cứu kỹ thuật các biểu đồ chỉ số để nhận định thị trường đang ở trạng thái "thị trường bò" hay "thị trường gấu". Với các biểu đồ, các nhà đầu tư có thể đưa ra đánh giá tương tự về công ty mà mình lựa chọn.

2- Xu hướng.

Sử dụng biểu đồ để nhận diện xu hướng hiện tại: xu hướng phản ánh tỷ lệ biến đổi trung bình của giá cổ phiếu qua thời gian. Các xu hướng tồn tại trong mọi trạng thái thời gian và mọi thị trường. Các nhà đầu tư hàng ngày có thể xây dựng được xu hướng của cổ phiếu mà họ mua (bán) trong vòng vài phút. Về dài hạn, các nhà đầu tư quan sát các xu hướng tồn tại trong nhiều năm.

Các xu hướng được phân loại: tăng, giảm, hoặc không đổi.

Theo xu hướng tăng, một cổ phiếu hồi phục thường là với một giai đoạn "quá độ" giữa tính ổn định và những biến động giảm. Do vậy, nó sẽ hình thành lên hàng loạt những đỉnh cao hơn và đáy thấp hơn trên biểu đồ cổ phiếu, và người ta dự đoán rằng, khả năng tăng giá cổ phiếu là có thể.

Theo xu hướng giảm, một cổ phiếu suy yếu thường là với một giai đoạn "quá độ" giữa tính ổn định và biến động tăng. Do vậy, nó sẽ hình thành lên hàng loạt những đỉnh thấp hơn và đáy thấp hơn trên biểu đồ cổ phiếu, và người ta dự đoán rằng, khả năng giảm giá cổ phiếu là có thể.

Xu hướng không đổi biểu thị bằng sự dao động lên xuống trong một thời gian dài giữa các giới hạn tăng giảm trực quan. Sự biến động giá trên biểu đồ là không rõ ràng và giá cổ phiếu sẽ không thay đổi (hoặc thay đổi không đáng kể).

Xu hướng có khả năng ổn định theo thời gian. Một cổ phiếu với xu hướng tăng (giảm) (về giá) sẽ tiếp tục tăng (giảm) cho đến khi có biến động về giá trị hoặc các trạng thái xảy ra. Người "đọc" biểu đồ phải định vị được các đỉnh và đáy - những điểm biểu thị sự chấm dứt khả năng hồi phục hay suy yếu. Lựa chọn tại một điểm gần đỉnh hoặc đáy có thể rất có lợi.

Một châm ngôn nói rằng, "xu hướng là bạn của anh". Với các nhà kinh doanh và các nhà đầu tư, tuyên ngôn này có ý nghĩa là, bạn sẽ đạt thành công hơn nếu lựa chọn vị thế cổ phiếu theo xu hướng phổ biến, hơn là đi ngược lại với nó...

Nhà phân tích kỹ thuật trên thị trường chứng khoán là những người có thể dự đoán giá cổ phiếu trong tương lai bằng việc phát hiện ra xu hướng giá trong quá khứ. Cùng với mong muốn góp sức để nâng cao tính chuyên nghiệp của thị trường, Vnbourse xin giới thiệu những trang bị căn bản nhất về phân tích kỹ thuật

Khối lượng.

Khối lượng cổ phiếu giao dịch đánh giá mức độ tham gia của các nhà đầu tư.

Các biểu đồ cổ phiếu cho thấy khối lượng thông qua đồ thị hình cột dưới các ô giá. Thông thường trong các biểu đồ này, các đường màu xanh chỉ các ngày giá lên và những đường màu đỏ là những ngày giá xuống. Các nhà đầu tư và kinh doanh có thể đánh giá được lãi mua và bán bằng việc theo dõi số lần giá lên xuống trong một đường và mức độ biến động của chúng so với những ngày giá biến động theo chiều hướng ngược lại thì như thế nào.

Cổ phiếu mua vào với lãi cao hơn khi bán ra được gọi là đang trong trạng thái “tích luỹ”, và ngược lại, trường hợp lãi khi bán ra cao hơn khi mua vào được gọi là đang trong quá trình “phân phối”. “Tích luỹ” và “phân phối” thường dẫn tới sự biến động của giá cả.



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận



Những nội dung khác:
Bí quyết làm giàu [12.04.2012 18:04]
Đầu tư chứng khoán [09.02.2007 22:48]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Đằng sau thế giới mại dâm hợp pháp ở Singapore trung tâm hoạt động quốc tế của gái Việt xuất khẩu [NEW]
Phi công CS Việt Nam Nguyễn Thành Trung tử nạn trong vụ va chạm máy bay ở Anh [NEW]
Mỹ “trượt” nhóm 5 quốc gia danh tiếng nhất thế giới nhường cho Canada
Chán đảng khô đoàn thành bảng đỏ
NÉT ‘QUÊ MÙA’ CỦA ĐÀ NẴNG NĂM 1991 – 1992 KHI CHƯA CÓ PHONG TRÀO THỊNH VƯỢNG TV QUA ỐNG KÍNH HANS-PETER GRUMPE
CSVN chỉ giõi đàn áp đánh giết dân lành, làm kinh tế dở ẹc, hàng Việt thua đứt hàng Thái, Lào, Campuchia
Đàn ông VN bị bạo lực Vợ dữ thời XHCN: Vợ bạo hành chồng nhiều năm mà không biết dẫn đến tử vong
Thấy bác xích lô già yếu, cô gái Tây phương mỹ miều gợi cảm sexy xung phong chở bác đi dạo phố Sài Gòn rồi trả tiền công cho luôn!
Trạm không gian 8,5 tấn của TQ rơi về Trái Đất có thể trúng thủ đô Hà Nội, Việt Nam trong vùng nguy hiểm
Làm thế nào để trúng số: Người phụ nữ gốc Việt may mắn nhất hành tinh trúng giải $64 triệu của SupperLotto Plus
Vừa trở về từ châu Á, Tổng thống Trump cảnh báo cứng rắn Triều Tiên
TS Trần Đình Thiên: “93 triệu người dân phải “nuôi” 2,8 triệu công chức” đảng viên CS, tại sao đất nước không nghèo?
Xả súng tại trường học California, Mỹ, ít nhất 15 người chết, bị thương: Cuộc sống bất an tại Mỹ
Việt kiều ồ ạt đổ tiền về VN cho thân nhân đầu tư chứng khoán sau APEC lời nhiều
Cẩn thận nhóm nữ mỹ nhân thoát y bắt cóc đàn ông

     Đọc nhiều nhất 
Khinh thường CSVN, các tàu nước ngoài thi nhau giết ngư dân: Cảnh sát Biển Philippines bắn tàu cá 2 ngư dân Việt tử vong [Đã đọc: 35321 lần]
Những cha me miền Tây khốn khó thời đại HCM: Cha mẹ mua “bùa nghe lời” để ép con gái lấy chồng ngoại hoặc bán trinh, làm đĩ [Đã đọc: 25799 lần]
Dựa thế chồng, vợ cán bộ xã đứng ra làm chủ hụi cướp tiền đân, tuyên bố vỡ hụi, 66 người dân lo mất 6 tỷ đồng [Đã đọc: 25220 lần]
Nhục nhã quốc thể: Khinh thường CSVN, Campuchia tước quyền công dân 70.000 người gốc Việt [Đã đọc: 24325 lần]
Đòi hỏi ‘tách đảng’ đang trở thành xu thế ở Việt Nam [Đã đọc: 23268 lần]
VN thiên đường XHCN: Quê hương tôi qua những bức ảnh biết nói [Đã đọc: 22524 lần]
Việt Nam: Tham nhũng số 1, Hiếp dâm số 1, Nhân quyền... áp chót thế giới [Đã đọc: 22300 lần]
VC ảo thuật: Ông Trần Đại Quang hiện nay là giả [Đã đọc: 21458 lần]
Thanh trừng nội bộ: Bí thư Đà Nẵng bị cách chức, bị đuổi ra khỏi Trung ương Đảng- Ban bí thư hầu hết người gốc Bắc- Một cán bộ cao cấp bị Nhật bắt ăn trộm siêu thị [Đã đọc: 17546 lần]
‘Đảng không làm được cái gì hay cho đất nước - Người cày có ruộng thời VNCH so với nông dân mất đất thời XHCN [Đã đọc: 17247 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.