Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Tám 2017
T2T3T4T5T6T7CN
  1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31      
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 14
 Lượt truy cập: 8725980

 
Văn hóa - Giải trí 24.08.2017 01:57
CSVN hận thù bất tận, ca khúc bị cấm dầu ''''''''không có vấn đề về tư tưởng, chính trị''''''''
21.03.2017 09:19

Trong những ngày qua, dư luận nóng lên với việc 5 ca khúc sáng tác trước năm 1975 đã được cấp phép lưu hành bỗng nhiên bị Cục Nghệ thuật biểu diễn (NTBD - Bộ VH-TT&DL) dừng lưu hành.

Các ca khúc bị tạm dừng phổ biến dù đã được cấp phép trước đó bao gồm: "Cánh thiệp đầu xuân" của Lê Dinh - Minh Kỳ; "Rừng xưa" của Lam Phương; "Chuyện buồn ngày xuân" của Lam Phương; "Đừng gọi anh bằng chú" của Diên An; "Con đường xưa em đi" của Châu Kỳ - Hồ Đình Phương.

5 ca khuc bi cam 'khong co van de ve tu tuong, chinh tri' - Anh 1

Tác phẩm "Con đường xưa em đi" của Châu Kỳ - Hồ Đình Phương bị dừng lưu hành

Lý giải về việc tạm dừng các ca khúc này, ông Nguyễn Đăng Chương, Cục trưởng Cục NTBD cho biết, trước năm 2013, các bài hát sáng tác trước năm 1975 do Sở VH-TT&DL các tỉnh, thành phố và Cục NTBD cấp phép.

Sau khi có Nghị định số 79 năm 2012 của Chính phủ, việc này được giao cho Cục NTBD cấp phép trên toàn quốc. Ngày 16/12/2016, Sở VH-TT TP.HCM đã có công văn số 7274 đề nghị Cục NTBD xem lại nội dung một số bài hát sáng tác trước năm 1975 đã được cấp phép phổ biến.

Trước tình hình trên, Cục NTBD đã thành lập Hội đồng nghệ thuật thẩm định và nhận thấy 5 bài hát được cấp phép trước đây vi phạm quyền tác giả và quyền liên quan. Cụ thể, những bài hát đã bị thay đổi lời là: “Cánh thiệp đầu xuân”, “Rừng xưa”, “Chuyện buồn ngày xuân”, “Con đường xưa em đi”. Một bài hát sai tên tác giả là tác phẩm: “Đừng gọi anh bằng chú”.

Cục NTBD đã có văn bản gửi Sở VH-TT TP.HCM yêu cầu tạm dừng lưu hành 5 bài hát đã cấp phép phổ biến để hướng dẫn các tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về quyền tác giả và quyền liên quan.

Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, sau 5 ngày khi thông tin về việc dừng lưu hành 5 ca khúc này được công bố, qua khảo sát của chúng tôi, trên các trang mạng, các ca khúc này vẫn đang được lưu hành.

Ông Nguyễn Đăng Chương cũng khẳng định 5 ca khúc bị dừng lưu hành nêu trên “không có vấn đề về tư tưởng, chính trị” mà chỉ vì có sự chưa đồng nhất về mặt ca từ, không rõ về tên tác giả và có nhiều dị bản khác nhau, thậm chí nhiều bài được cho là phần lời không đúng với nguyên gốc. Đơn cử như ca khúc “Đừng gọi anh là chú” thường được chú thích là của nhạc sĩ Diên An nhưng trên thực tế đây lại là tác phẩm do nhạc sĩ khác sáng tác.

“Cục Nghệ thuật Biểu diễn đã gửi văn bản đến các trang mạng nghe nhạc trực tuyến, hãng băng đĩa... để tạm thời dừng lưu hành 5 ca khúc này. Bởi nếu tiếp tục lưu hành việc sai lời, sai tác giả… sẽ còn ảnh hưởng đến quyền tác giả và các quyền liên quan”, ông Chương cho hay.

Theo thông tin từ Cục NTBD, sau hơn 40 năm đất nước thống nhất, hơn 2.500 bài hát của các tác giả sáng tác trước năm 1975 và của người Việt Nam định cư tại nước ngoài đã được cấp phép phổ biến.

Tuy nhiên, nhiều bài hát do thất lạc bản nhạc gốc, các đơn vị đề nghị xin cấp phép sử dụng đều ký âm lại và cam kết tính chính xác của tác phẩm, việc làm này dẫn đến nhiều tên tác giả/bút danh và ca từ có sự khác nhau trên cùng một tác phẩm âm nhạc. Quyết định này với mục đích đảm bảo chất lượng nội dung bài hát trong việc ghi âm, ghi hình và biểu diễn.

Trong thời gian tới, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục tiến hành thẩm định, rà soát, so sánh, đối chiếu những bài hát đã cấp phép sử dụng với những bản nhạc gốc do các đơn vị, cá nhân cung cấp và nguồn dữ liệu từ việc thu thập, sưu tầm nhằm quản lý chặt chẽ chất lượng nội dung các bài hát, việc hoạt động sản xuất chương trình bản ghi âm, ghi hình và tổ chức các chương trình biểu diễn nghệ thuật.

Đặc biệt, trong thời gian tới không ngoại trừ khả năng nhiều ca khúc khác từng được Cục NTBD cấp phép cũng sẽ phải tạm dừng lưu hành để đơn vị này đối chiếu, thẩm định lại về vấn đề ca từ cũng như tên tác giả

Cấm 5 ca khúc trước 1975: ‘không cấm được người ta hát

Vũ Ðình Trọng/Người Việt

Bài nhạc “Con đường xưa em đi” - Châu Kỳ & Hồ Ðình Phương.

VIỆT NAM (NV) – Theo tin từ báo Tuổi Trẻ ngày 11 Tháng Ba, 2017, Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn thuộc Bộ Văn Hóa Thể Thao-Du Lịch CSVN (VH-TT&DL) vừa quyết định “tạm thời dừng lưu hành năm ca khúc sáng tác trước năm 1975.”

Các ca khúc bị tạm dừng phổ biến dù đã được cấp phép trước đó bao gồm: Cánh Thiệp Ðầu Xuân (Lê Dinh-Minh Kỳ), Rừng Xưa (Lam Phương), Chuyện Buồn Ngày Xuân (Lam Phương), Ðừng Gọi Anh Bằng Chú (Diên An), Con Ðường Xưa Em Ði (Châu Kỳ-Hồ Ðình Phương).

Theo báo VNExpress, quyết định cấm dựa trên đề nghị của Sở Văn Hóa-Thể Thao thành phố Sài Gòn.

Ngày 16 Tháng Mười Hai 2016, đơn vị này đã gửi công văn lên Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn (NTBD) về việc xem xét lại nội dung một số ca khúc sáng tác trước 1975.

Theo ông Nguyễn Thu Ðông – Trưởng Phòng Quản Lý Băng Ðĩa, Cục NTBD – cho báo VNExpress biết, cục phát hiện năm sáng tác trên có nhiều dị bản, tên tác giả, ca từ chưa chính xác.

Cấm 5 ca khúc trước 1975: 'không cấm được người ta hát'
Công văn 120 của Sở Văn Hóa Thể Thao & Du Lịch Tiền Giang. (Hình: Facebooker Loi Nguyen)

Ông đưa ra ví dụ bài hát “Ðừng Gọi Anh Bằng Chú” thường được chú thích là sáng tác của Diên An. Tuy nhiên, đây thực ra là tác phẩm của nhạc sĩ khác.

Vì thế, “Cục sẽ tiến hành so sánh, đối chiếu phiên bản ca khúc từng được cấp phép sử dụng với những bản nhạc gốc do các đơn vị, cá nhân cung cấp. Ðại diện Cục NTBD cho biết hành động này nhằm đảm bảo chất lượng nội dung các bài hát trong các hoạt động âm nhạc như biểu diễn, ghi âm,” vẫn theo VNExpress.

Ông cũng khẳng định năm ca khúc bị bị tạm dừng lưu hành không gặp vấn đề nghiêm trọng về nội dung (chính trị). Sau khi quá trình thẩm định kết thúc, Cục NTBD sẽ cấp phép trở lại.

Không cấm được người ta hát

Dù được các quan chức kiểm duyệt khẳng định “năm ca khúc bị bị tạm dừng lưu hành không gặp vấn đề nghiêm trọng về nội dung (chính trị),” nhưng một số trang mạng xã hội bắt đầu đi tìm nội dung năm ca khúc trên để tìm hiểu.

Cấm 5 ca khúc trước 1975: 'không cấm được người ta hát'
Bài nhạc “Con đường xưa em đi” – Châu Kỳ & Hồ Ðình Phương.

Trên trang facebook, nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên (Sài Gòn) viết:

“Cục NTBD đã sai khi viết bài ‘Ðừng Gọi Anh Bằng Chú’ là của Diên An, đúng ra đó là bài hát của Nhạc sĩ Anh Thy! Có gì đằng sau việc ‘nhỏ như con tho’ này để một hội đồng nghệ thuật lao tâm khổ tứ đi soi mói các bài hát mà nhiều người đã biết từ mấy chục năm nay để rồi phải ra quyết định dừng lưu hành?’

“’Tạm dừng’ chỉ là cách nói để mọi người phải hiểu là cấm, không lẽ sau này lại ra quyết định dừng hẳn hoặc là được phép xài tiếp? Trong luật học, người ta gọi việc này là hồi tố. Vậy là Cục NTBD tự cho rằng trước đây mình làm ẩu vì thấy các bài hát này vô hại nên đã cấp phép, bây giờ phải sửa sai? Chuyện tức cười giống như chuyện con nít!

“Tôi thật sự nghi ngờ khả năng thẩm định của những quan chức này; họ có đủ thẩm quyền và hiểu biết để nói về 20 năm âm nhạc của miền Nam trước đây không?”

Facebooker Bổn Ðình Nguyễn, viết:

“Con đường xưa em đi. Cấm càng tốt! Chuyện ca khúc ‘Con Ðường Xưa Em Ði’ của Hồ Ðình Phương, Châu Kỳ bị ‘cấm’ theo tôi cũng chẳng ăn nhằm gì. Ca khúc bolero thuộc hàng tiêu biểu của dòng nhạc VNCH này ai nghe cũng thấy lời rất đẹp, như một bài thơ được gieo vần hoàn chỉnh, và đặc biệt đoạn cuối:

‘Ghi một đêm trăng thanh
Quán bên đường vắng tanh
Chỉ còn em với anh!’

“Lời ca ngay lập tức vẽ lên một khung cảnh nên thơ, êm đềm mà rất hình tượng, như thể ta thấy màu trăng bàng bạc trên một con đường khuya đã vắng, một quán nhỏ bên đường, chỉ còn lại 2 người (ai trong thế hệ chúng ta mà không từng như vậy?). Nó gợi lên trong ký ức về những mối tình đã quá vãng một cách đầy thổn thức!

Cho nên chỉ vài từ như “phiên gác, chiến trường” mà cấm thì thật mắc cười, nhưng cấm mấy đi nữa cũng không làm mất đi vẻ đẹp, tính nhân bản của các ca khúc thời VNCH. Cấm, thì chỉ ảnh hưởng giới biểu diễn hiện nay, nên theo tôi cấm càng tốt!” (ngưng trích)

Và cũng không ít người cười cho cái “quyết định con nít” của Cục NTBD qua việc “trại” lời ca khúc “Con Ðường Xưa Em Ði”:

“Con đường xưa em đi, nhiều năm đã đi rồi, bỗng chiều nay cấm đi.
Biết rằng không cho đi, khách qua đường cứ đi, sợ gì không dám đi?
Nhưng đường không cho đi, người ta vẫn đi hoài, cấm, càng thêm khoái đi.
Có đường không cho đi, cấm đi người vẫn đi, hỏi tại sao cấm đi?”

(Trích từ facebook Trần Lê Duyên)

Tuy nhiên, cũng có ý kiến nhìn từ góc độ khác. Trả lời phóng viên Người Việt trên facebook, nhà báo Trần Tiến Dũng (Sài Gòn) viết:

“Nhìn sâu hơn có thể đoán rằng, nội dung 5 bài hát bị tái cấm, dư luận cho rằng: Bị cấm không phải vì có nội dung chống đối chế độ gì, đơn giản chỉ là do ganh ghét của một nhóm quyền lực trong lĩnh vực âm nhạc nào đó. Bọn nhạc sĩ bồi bút, đảng viên văn nghệ do đố kỵ, ganh ghét vì thấy sức phổ biến của 5 bái hát trên và các bài hát khác của các nhạc sĩ chân chính phổ biến trước biến cố 1975 (yếu tố giành tiền tác quyền cũng được bọn chúng tính đến).”

Ông cũng cho rằng đây là cú thăm dò dư luận của chính quyền, sau đó sẽ cấm dần những ca khúc trước năm 1975 dù đã được cấp phép trước đó, nhằm “giành lại sân khấu biểu diễn cho thứ nhạc đỏ cũ và mới.”

< iframe id="vzvd-9543568" class="video-player" title="video player" src="http://view.nguoi-viet.com/9543568/player?autoplay=false" name="vzvd-9543568" width="1280" height="720" frameborder="0" allowfullscreen="allowfullscreen" style="box-sizing: border-box; width: 696px; position: absolute; top: 0px; left: 0px; height: 421.5px;">< /iframe>

Mời độc giả xem Điểm tin buổi sáng Thứ Hai, ngày 13 tháng 3 năm 2017

Dù sao chăng nữa, người yêu nhạc sáng tác trước 1975, kể cả giới trẻ hiện nay, vẫn không quan tâm nhiều đến chuyện “cấm lưu hành,” vì “dù cho có cấm đi nữa thì nó vẫn tồn tại, vẫn hát và vẫn nghe.” (facebooker Tran Dang Long).

Hiện nay, ngoài chuyện cấm lưu hành 5 ca khúc trên, chính quyền các tỉnh thành cũng đang tiến hành kiểm tra lại các ca khúc được phổ biến trong hệ thống karaoke.

Công văn số 120 của Sở Văn Hóa Thể Thao & Du Lịch Tiền Giang cho biết, trong Tháng Giêng vừa qua, khi kiểm tra các quán karaoke, họ mới phát hiện ra hệ thống karaoke được cài đặt hơn 500 bài hát “chưa được phép phê duyệt nội dung và cho phép lưu hành,” trong đó, có những bài về người lính VNCH như: Giã Từ Vũ Khí, Kẻ Ở Miền Xa, Xin Tròn Tuổi Loạn, Một Mai Giã Từ Vũ Khí, Trên Bốn Vùng Chiến Thuật, Viết Từ KBC, Bạc Màu Áo Trận, Anh Không Chết Ðâu Anh, Anh Tiền Tuyến-Em Hậu Phương,…

Ðược biết, việc cài đặt các bài hát này vào hệ thống karaoke đã có từ mười mấy năm nay, và công ty nào sản xuất hệ thống karaoke cũng cài đặt các bài hát này theo yêu cầu khách hàng.(V.Ð.T)

Thân phận văn nghệ Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản

Văn Lang- NV

Sách báo, truyền thông và cả văn nghệ giải trí ở Việt Nam bị kiểm duyệt và kiểm soát gắt gao từ nhà cầm quyền. (Hình: Getty Images)

Lịch sử đang qua đi, bốn quốc gia cuối cùng theo thể chế Cộng Sản cũng đang bước vào buổi “hoàng hôn” của triều đại. Nhưng nhìn lại quá khứ cũng vẫn là bổn phận của người cầm bút, để khi lịch sử sang trang, nhờ cái nhìn dự phóng mà mọi người có thể cùng mạnh bước hướng tới tương lai.

*Những thân phận trái chiều

Sau 1975, Nguyễn Khải sống và viết tại Sài Gòn. Ðược một bộ phận độc giả của Sài Gòn đọc và coi như một “tay VC Bắc Việt,” duy nhất có cái để mà đọc.Nguyễn Khải là một nhà văn quân đội, thuộc Tổng Cục Chính Trị của Hà Nội.

Xuất thân của Nguyễn Khải cũng khá “ly kỳ.” Là con của người vợ lẽ (vợ bé) của một ông quan huyện. Sau này người cha di cư vô Nam, Nguyễn Khải lấy họ mẹ.

Theo Việt Minh kháng Pháp, Nguyễn Khải vừa làm y tá, vừa tập tành viết báo.

Theo lời kể, thời ở chiến khu, được tin quân Pháp sắp nhảy dù để truy bắt các cơ quan kháng chiến của Việt Minh. Ðơn vị của Nguyễn Khải được lệnh di chuyển, rút sâu hơn nữa vô rừng. Lúc đó Nguyễn Khải đang lên cơn sốt rét nặng, nằm mê man trong lán. Ðơn vị rút đi, bỏ lại cho Nguyễn Khải một ít gạo và muối.

Tỉnh dậy giữa lán trại trống hoác trong rừng, không rõ thời gian đã qua bao lâu. Chỉ thấy bụi mọt của lán rơi quanh chỗ nằm thành một hình nhân. Nguyễn Khải bò ra suối uống nước, khi phần nào hồi tỉnh Nguyễn Khải nấu cơm, ăn rồi nhắm hướng băng rừng tìm theo đơn vị cũ…

Sau vụ Nhân Văn-Giai Phẩm, Trần Dần bị Tổng Cục Chính Trị gọi về kiểm điểm.

Theo lời kể, tại nhà khách của tổng cục, Trần Dần cứ nằm trên giường, mắt nhìn lên trần nhà và liên tục đốt thuốc. Tất cả những tàn thuốc mà Trần Dần quăng xuống nền nhà đều được Nguyễn Khải thu dọn sạch sẽ.

Sau 1975, Nguyễn Khải được đeo lon đại tá và được bầu vào Quốc Hội.

Nguyễn Khải nói với mọi người: “Mình được vào Quốc Hội vì người ta biết tỏng là mình.. hèn.”

Sau Ðại Hội VI, đổi mới của Cộng Sản, Nguyễn Khải được bầu là phó tổng thư ký thường trực Hội Nhà Văn Việt Nam. Hết nhiệm kỳ, Nguyễn Khải được gọi ra Hà Nội để bỏ phiếu “hợp thức hóa” bộ sậu mới của Hội Nhà Văn đã được chỉ định từ trước. Nguyễn Khải từ chối không ra Hà Nội, để phản đối cái “dân chủ giả cầy” của triều đình. Và có lẽ đó là hành động “phản kháng” duy nhất của một nhà văn mang lon đại tá, lâu nay vẫn được Tổng Cục Chính Trị và chế độ tin dùng.

Nhưng hãy đọc Nguyễn Khải, người đã đem đời mình dâng cho Cộng Sản, viết trong di cảo. Ðại ý: “Sống như một con gián, làm người còn chưa xong, sao có thể làm nhà văn?”

*Ra đi và trở về

Thời tiền chiến, đã nảy sinh một tình bạn qua mối “lương duyên” âm nhạc của hai cây đại thụ nền tân nhạc là Phạm Duy và Văn Cao.

Văn Cao với những: “Buồn Tàn Thu,” “Suối Mơ,” “Thiên Thai”… là người dáng phần nho nhã, nhưng Văn Cao cũng yêu nghề “kiếm cung.” Từng là trưởng ban ám sát của Việt Minh ở Hải Phòng.

Văn Cao cũng là tác giả của bài Tiến Quân Ca, sau bài này trở thành quốc ca của nước Việt Nam (cộng sản).

Sau vụ Nhân Văn-Giai Phẩm, Văn Cao không được chính thức xuất hiện ở bất kỳ đâu, chỉ viết nhạc không lời. Cho tới năm 1976, mới viết bài “Mùa Xuân Ðầu Tiên” như một niềm hy vọng len lén, nhưng cũng không được cho hát ở trong nước (mãi cho tới sau này).

Văn Cao sống trong lặng lẽ cho tới khi ông qua đời. Niềm day dứt của ông, có lẽ được gởi gắm trong chùm thơ “Năm buổi sáng không có trong sự thật,” đăng trên tạp chí Sông Hương, có lẽ là số Xuân 1986 (hoặc sau đó 1-2 số).

Phạm Duy có nhiều sáng tác nổi tiếng trong kháng chiến. Nhưng sau đó ông bỏ về thành, rồi vô Nam. Sau 1975, ông định cư tại Hoa Kỳ.

Âm nhạc của Phạm Duy có đầy đủ, từ đạo ca, tình ca, tục ca, tới… ”thương mại ca.” Vì ông cũng cần phải sống và nuôi gia đình.

Cuộc đời cũng như sự nghiệp âm nhạc của Phạm Duy đầy đủ những cung bậc hỉ-nộ-ái-ố của thế cuộc thăng trầm.

Khi Phạm Duy “dinh tê” Cộng Sản coi Phạm Duy là kẻ phản bội. Ðến nỗi, khi viết lịch sử tân nhạc họ không muốn nhắc tới Phạm Duy.

Còn khi Phạm Duy về nước. Người Việt hải ngoại coi Phạm Duy như một kẻ phản bội lý tưởng quốc gia.

Sự thật, khi đã bỏ Cộng Sản ra đi, Phạm Duy chỉ trở về với dân, với nước, với người yêu âm nhạc của ông. Vì nếu còn cộng sản, như cái thời chuyên chính, thì Phạm Duy không thể trở về.

Người đi theo Cộng Sản tới mút mùa kháng chiến phải kể tới nhà văn Vũ Hạnh. Trước 1975, Vũ Hạnh từng nổi tiếng với tập “Bút Máu,” “Người Việt Cao Quý”…

Sau 1975, trong lòng độc giả, nhà văn Vũ Hạnh đã chết, chỉ còn con người cán bộ hiện hữu như một xác sống thích di hành.

Cuối cùng, khi tác giả nằm xuống, những eo xèo yêu ghét quanh họ cũng dần lặng thinh. Là tác phẩm lên tiếng, nếu là tiếng nói chân thực thì tác phẩm đó sẽ bền bỉ với thời gian. Chống lại mọi sự lãng quên, sự phỉ báng, sự hư vô hóa và thách thức mọi thể chế chính trị đã từng mưu toan cầm tù nó.



Nhà nước không dân và nền nghệ thuật không con người

Phạm Đình Trọng (Danlambao) - Những người lên báo giấy, báo hình cãi chày cãi cối về vụ cấm đoán nhạc phẩm Con Đường Xưa Em Đi mấy ngày qua cũng chỉ là những dư luận viên đó mà thôi. Những người được coi là nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ mà biến mình thành dư luận viên thì tự họ đã hạ thấp tư cách văn hóa, hạ thấp tư cách nghệ sĩ của họ rồi, họ đã tự bác bỏ tư cách con người trung thực, con người lương thiện của họ rồi.

1. Kiên trì theo đuổi một học thuyết sai trái, phản dân tộc, phản tiến bộ, nhà nước cộng sản Việt Nam không thu hút, không tập hợp được người có tài năng và nhân cách. Chốn quan trường ngày càng thưa vắng người tử tế, nhường chỗ cho những kẻ bất tài, thiếu nhân cách. Đó là những con ông cháu cha nòi cộng sản và những kẻ vô lại chạy chức chạy quyền mà thành quan. 

Con ông cháu cha nòi khoa bảng, học được chữ thánh hiền, biết giữ đạo làm người, biết bổn phận làm quan, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, dân còn được nhờ. Con ông cháu cha nòi cộng sản chỉ biết kiên trì học thuyết sắt máu chuyên chính vô sản, coi lẽ sống là làm cách mạng và chiến tranh giết dân lành, li tán dân tộc, tàn phá tan hoang đất nước như lời thơ của ông nhà thơ cộng sản lão làng Tố Hữu: “Giết! Giết nữa! Bàn tay không ngơi nghỉ / Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong / Cho Đảng bền lâu / Cùng rập bước chung lòng / Thờ Mao Chủ tịch, thờ Xít-ta-lin bất diệt!”. Chỉ có giết, giết dân nữa đảng mới bền lâu. Loại con ông cháu cha nòi đảng đó là di họa nặng căn của dân tộc vốn tồn tại bằng thương yêu, đùm bọc: Nhiễu điều phủ lấy giá gương / Người trong một nước phải thương nhau cùng.

Trong kỷ nguyên dân chủ, ngày nay thể chế dân chủ đã có ở hầu hết các nước trên thế giới. Ở đó, người dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, làm chủ nhà nước. Bằng lá phiếu thực sự tự do, người dân dựng lên nhà nước và người dân cũng phế truất khi nhà nước có những việc làm khuất tất, trái ý dân. Người dân phát hiện, người dân tiến cử, người dân bỏ phiếu đưa người hiền trong dân vào bộ máy nhà nước và người dân sở hữu nhà nước như sở hữu quyền công dân của mình. Đó là nhà nước của dân, nhà nước có dân.

Ít ỏi nhà nước độc tài đảng trị còn sót lại trong kỷ nguyên dân chủ thì ngược lại, người dân không có bóng dáng trong nhà nước, không có vai trò, không có quyền lực gì với nhà nước. Nhà nước độc tài đảng trị chiếm đoạt quyền lực của dân, tự tung tự tác chia nhau quyền lực của dân. Đó là nhà nước của đảng chứ không phải nhà nước của dân. Nhà nước không dân, mảnh đất màu mỡ cho hạng giá áo túi cơm, những kẻ bất tài, thiếu nhân cách vinh thân phì gia. 

2. Hai biểu hiện của đám quan chức bất tài và thiếu nhân cách đó là:

Một. Có quyền lực trong tay, họ cố kết với nhau thành những nhóm lợi ích đầy sức mạnh, biến nhà nước thành những tổ chức mafia hắc ám chuyên đàn áp, ức hiếp, cướp bóc dân lành và vơ vét, bòn rút của cải, tiền bạc ngân khố quốc gia, tài nguyên đất nước.

Quan chức nắm sức mạnh quyền lực nhà nước cấu kết với những kẻ có sức mạnh đồng tiền tạo ra những liên minh ma quỉ rồi liên minh ma quỉ đó hối hả vẽ ra những dự án mang danh đô thị hóa lộng lẫy nhưng thực chất là mưu đồ bẩn thỉu cướp đất riêng của dân, cướp đất công của nước kinh doanh kiếm lợi riêng. Những dự án bẩn thỉu, những cuộc thôn tính đất vàng đất bạc diễn ra ngang nhiên, tràn lan, ngạo ngược, tàn bạo trên khắp đất nước, suốt mấy chục năm nay, càng ngày càng ồ ạt, trắng trợn.

Quĩ đất dự trữ để mở rộng sân bay của nhà nước thành sân golf, thành nhà hàng, biệt thự kinh doanh của tập đoàn kinh tế tư nhân. Đẩy sân bay vào tình cảnh khốn quẫn, bế tắc, không lối thoát, thường xuyên diễn ra nỗi đau lòng, máy bay đến, không có bãi đáp phải bay lòng vòng trên trời chờ đợi, gây thiệt hại về kinh tế, gây khiếp đảm kinh hoàng cho người đi máy bay, xua đuổi các hãng hàng không quốc tế phải rời bỏ Việt Nam, chặn đứng sự phát triển của ngành hàng không, một ngành kinh tế thời thượng của thời hội nhập quốc tế.

Thế lực mafia cướp đất mạnh và xảo trá đến nỗi quyền lực Chính phủ cũng phải lắc đầu chịu thua không thể đòi lại được hàng trăm hecta đất của chính mình bị cướp. Thế lực mafia cướp đất mạnh và thâm độc đến nỗi điều được hàng ngàn cảnh sát dã chiến trang bị công cụ đàn áp hiện đại đến tận răng dàn trận giáp chiến với dân lành đầu trần, tay không, đánh hộc máu nhà báo đến đưa tin, đánh đuổi dân đòi đất phải tan tác, giữ được đất cho kẻ cướp đất.

Những nhóm lợi ích Vinashine của Phạm Thanh Bình, Vinalines của Dương Chí Dũng, PVC, Tổng công ty xây lắp dầu khí của Trịnh Xuân Thanh đã phù phép biến hàng ngàn tỉ tiền ngân sách quốc gia nghèo, hàng ngàn tỉ tiền thuế mồ hôi nước mắt của người dân đầu tắt mặt tối thành tiền riêng trong túi của họ. 

Hai. Dùng danh nghĩa, quyền lực nhà nước để tư lợi, để vơ vét cho riêng họ thì họ thừa mưu mẹo, thừa ranh ma, láu cá, lưu manh. Nhưng làm việc cho dân cho nước thì họ lòi ngay ra sự dốt nát, không biết việc, không đủ tầm.

Chỉ điểm hai việc vừa làm của cơ quan văn hóa nhà nước cộng sản Việt Nam cũng thấy rõ điều đó

Việc thứ nhất. Bộ phim Kông - Đảo Đầu Lâu, dù là phim được dàn dựng ở Việt Nam, có thiên nhiên kỳ thú Việt Nam, dù là phim ăn khách, hốt bạc của Hollywood ở thời điểm hiện nay và chỉ ở thời điểm hiện nay mà thôi, phải chỉ rõ như vậy vì mỗi thời điểm Hollywood lại có một bộ phim gây sửng sốt cho cả người thờ ơ nhất với điện ảnh, lôi cả người thờ ơ đó cũng phài đến rạp cinéma nộp tiền cho Hollywood. Dù vậy Kông vẫn chỉ là phim giải trí của tư duy Mỹ, của tâm hồn Mỹ. 

Chỉ là phim ăn khách nhất thời của tư duy Mỹ, tâm hồn Mỹ vậy mà lãnh đạo bộ Văn hóa nhà nước cộng sản Việt Nam lại sốt sắng có ngay công văn đóng dấu quốc huy nhà nước đòi Hà Nội phải dựng tượng Kông, con đười ươi khổng lồ của tư duy Mỹ, của tâm hồn Mỹ ở nơi linh thiêng nhất của kinh kỳ Thăng Long – Hà Nội, nơi “lắng hồn núi sông ngàn năm”, nơi Hồ Gươm lãng đãng sương khói huyền thoại.

Tư duy Mỹ là tư duy lí, tư duy cụ thể, tư duy vật thể. Tâm hồn Mỹ hình tượng hóa sức mạnh thiên nhiên hoang dã bằng những con vật khổng lồ, Kinh Kông, Khủng Long. Kông - Đảo Đầu Lâu, Công Viên Kỉ Jura là sản phẩm của tâm hồn đó.

Tư duy Việt Nam là tư duy tình, tư duy trừu tượng, tư duy huyền thoại, tâm linh. Tâm hồn Việt Nam hình tượng hóa sức mạnh thiên nhiên bằng vị thần Thủy Tinh huyền ảo nhưng cũng rất bình dị, đời thường. Con người huyền thoại của dân gian Việt Nam chỉ phi thường ở hành động. Còn vóc dáng, hình hài vô cùng bình dị. Thánh Gióng phi ngựa sắt phun lửa diệt giặc Ân như đốt cỏ khô cũng chỉ là một đứa trẻ vừa rời nôi mẹ. 

Với tư duy huyền thoại, mỗi dòng sông, mỗi dãy núi, mỗi hồ nước mang trầm tích lịch sử Việt Nam đều có một vị thần linh thiêng gắn liền với truyền thống văn hóa Việt, gắn liền với lịch sử dựng lên nước Việt, gắn liền với tâm linh người Việt. Núi Nghĩa Lĩnh ở đỉnh tam giác châu thổ sông Hồng có vua Hùng của cội nguồn dân tộc. Đỉnh Ba Vì có thần Tản Viên của hồn thiêng đất nước. Hồ Tây có thần Kim Ngưu của nền văn minh lúa nước. Hồ Gươm có thần Kim Quy của trang sử hiển hách chống giặc phương Bắc xâm lược.

Văn hóa của đất nước là sự thăng hoa của tâm hồn dân tộc, là hồn cốt làm nên bản sắc riêng của một dân tộc, giúp dân tộc đó tồn tại bền vững với thời gian, với lịch sử đầy biến cố dữ dội và khắc nghiệt, giúp dân tộc đó không bị đồng hóa bởi những nền văn hóa khác. Đứng đầu cơ quan văn hóa của đất nước có Vua Hùng, có thần Tản Viên, có thần Kim Qui mà lăm le muốn đưa đười ươi King Kông khổng lồ, sản phẩm của tâm hồn Mỹ, văn hóa Mỹ đến đứng sừng sững bên Hồ Gươm bảng lảng sương khói huyền thoại của thần Kim Qui. Đặt quái vật Kinh Kông lừng lững đổ bóng đè sập xuống bức tượng nhỏ bé bậc tiên hiền Lý Thái Tổ khai sinh ra kinh thành Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội rạng rỡ. Ôi, nền tảng tri thức văn hóa và tâm hồn Việt trong những ông quan văn hóa của nhà nước cộng sản Việt Nam đó!

Việc thứ hai. Bài hát khi đã đến với người hát, người nghe, đến với công chúng thì công chúng là người quyết định sự tồn tại của bài hát. Bài hát có sức sống lâu dài với thời gian hay chết yểu đều do công chúng, những người hát và người nghe quyết định. Khi đó sự tồn tại của bài hát không còn phụ thuộc vào người sáng tạo ra nó, lại càng không phụ thuộc vào cơ quan quyền lực cho phép hoặc không cho phép nó tồn tại.

Chất lượng nghệ thuật mới là cái giấy phép quyền uy nhất cho tác phẩm nghệ thuật đi vào cuộc sống. Tác phẩm nghệ thuật của một thời và cái thời của nó đã qua, tác phẩm sẽ bị quên lãng, không cần cấm đoán. Nhưng cái thời của tác phẩm đã qua mà tác phẩm vẫn được những người thời sau chấp nhận là tác phẩm đã vượt được cái thời hạn hẹp của nó để đến với mọi thời. Ca khúc Con Đường Xưa Em Đi của hai nghệ sĩ Châu Kỳ và Hồ Đình Phương là tác phẩm âm nhạc như vậy. 

Giai điệu của ca khúc Con Đường Xưa Em Đi là một giai điệu đẹp, giai điệu dìu dặt của những trái tim đang thổn thức yêu đương nhưng khắc khoải trong xa cách bởi chiến tranh: Chiến trường anh bước đi / Có nàng hoen đôi mi, ngóng theo đường vắng hoe... Giai điệu ngân nga trong trái tim nhiều thế hệ sống ở miền Nam đất nước thời đất nước còn bị lưỡi gươm ý thức hệ chém đôi ở vĩ tuyến 17. 

Chiến tranh đã qua. Đất nước không còn chia cắt. Giai điệu Con Đường Xưa Em Đi không những vượt giới hạn thời gian mà còn vượt giới hạn không gian, vượt vĩ tuyến 17, trở thành giai điệu quen thuộc của nhiều người Việt Nam trên cả nước, vượt biên giới quốc gia đến những nơi có người Việt sinh sống trên khắp thế giới. Dùng quyền uy nhà nước và vay mượn, bịa đặt bất cứ lý do gì để cấm đoán Con Đường Xưa Em Đi đều phơi bày nền tảng văn hóa thấp kém và sự đố kỵ, nhỏ nhen, hẹp hòi của một cơ quan văn hóa cấp nhà nước. Và hiệu ứng tất yếu phải đến là không những không cấm được bài hát lại làm cho bài hát bị cấm nổi tiếng hơn, nhiều người biết đến hơn, giai điệu bài hát bỗng ngân nga trong hồn nhiều người Việt Nam hơn.

Quen thói quyền uy cấm đoán thấp kém, nhỏ nhen như vậy, dù danh xưng là cơ quan văn hóa cấp nhà nước nhưng không xứng tầm cơ quan văn hóa của dân tộc Việt Nam mà chỉ là cơ quan văn hóa của mấy người cộng sản cầm quyền vốn nhỏ nhen, đố kỵ, chỉ quen sắt máu hận thù giai cấp, chuyên chính vô sản, nhìn nhận sản phẩm văn hóa, sự thăng hoa của tâm hồn con người bằng ý thức hệ cực đoan méo mó, bằng trận tuyến ta – địch lỗi thời. Chỉ có nhà nước không dân, không cần biết đến dân mới cấm đoán giai điệu ngân nga trong tâm hồn người dân.

Nghệ sĩ đích thực sáng tạo ra giá trị nghệ thuật chung của loài người. Nghệ sĩ Việt Nam sáng tạo ra giá trị nghệ thuật chung của dân tộc Việt Nam. Lưu Hữu Phước là người cộng sản và đang là yếu nhân trong nhà nước cộng sản ở miền Bắc. Vậy mà chính quyền Sài Gòn, một chính thể đối kháng, không đội trời chung với cộng sản vẫn lấy tác phẩm âm nhạc Tiếng Gọi Thanh Niên của Lưu Hữu Phước làm quốc ca của nhà nước Việt Nam Cộng Hòa ở nửa phía Nam đất nước. Một nhà nước như vậy xứng đáng là một nhà nước văn hóa, nhà nước của cả dân tộc Việt Nam.

Thời đất nước chia cắt Bắc – Nam, tác phẩm nghệ thuật dù sáng tạo ở miền Bắc hay miền Nam đều là giá trị Văn hóa của dân tộc Việt Nam, làm nên bộ mặt văn hóa của đất nước Việt Nam, tạo nên giá trị thẩm mỹ của con người Việt Nam. Sau năm 1975, bằng bạo lực súng đạn và nhà tù, nhà nước cộng sản Việt Nam đã giam cầm, tù đày những người dân Việt Nam sống ở miền Nam không cùng ý thức hệ cộng sản, gây nên sự chia rẽ, ly tán sâu sắc dân tộc Việt Nam cho đến nay và còn rất lâu về sau không thể hàn gắn, không thể hòa giải, hòa hợp dân tộc. Hơn 40 năm đất nước không còn chia cắt, cơ quan văn hóa của nhà nước cộng sản Việt Nam vẫn xét nét, cầm tù những tác phẩm nghệ thuật của miền Nam thời đất nước chia cắt, khoét sâu thêm sự chia rẽ, ly tán cả trong nghệ sĩ Việt Nam, cả trong nghệ thuật Việt Nam.

Ngồi ghế cao của nước, hưởng lương hậu của dân để chỉ làm những việc hại dân, hại nước như vậy. Đó là quan chức của nhà nước cộng sản Việt Nam hôm nay.

3. Phần cuối. 

Những người bị pháp luật buộc tội phải nhờ luật sư có tiếng nói biện hộ, cãi cho thoát tội hoặc nhẹ tội. Đang làm nhiều việc sai trái với lịch sử, với nhân dân, bị người dân hôm nay và bị lịch sử ngày mai soi xét, nhà nước cộng sản Việt Nam hôm nay phải tổ chức một lực lượng đông đảo dư luận viên biện hộ cho những việc làm không thuận lòng dân, không xứng với lịch sử vàng son của dân tộc.

Có thể nhận ra lực lượng đông đảo dư luận viên có hai loại.

Dư luận viên cấp thấp, dư luận viên vô danh rải ra như lá rừng, cãi chày cãi cối trên các trang mạng xã hội lề dân. 

Dư luận viên cấp cao, dư luận viên có danh xuất hiện trên báo giấy, báo nói, báo hình lề đảng. Rất buồn là tôi cũng có một ông bạn nhà văn là dư luận viên thường xuyên xuất hiện với vẻ mặt rất mãn nguyện với lời văn rất điệu đàng trên báo giấy của đảng và xuất hiện rất hùng hồn trên truyền hình nhà nước. 

Những người lên báo giấy, báo hình cãi chày cãi cối về vụ cấm đoán nhạc phẩm Con Đường Xưa Em Đi mấy ngày qua cũng chỉ là những dư luận viên đó mà thôi. Những người được coi là nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ mà biến mình thành dư luận viên thì tự họ đã hạ thấp tư cách văn hóa, hạ thấp tư cách nghệ sĩ của họ rồi, họ đã tự bác bỏ tư cách con người trung thực, con người lương thiện của họ rồi. 

Nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ được nhà nước cộng sản Việt Nam xài làm dư luận viên và họ đã trở thành những dư luận viên hăng say, tận tụy, miệt mài thì nền văn học nghệ thuật đó làm sao thoát khỏi thân phận minh họa!

Coi văn hóa, coi nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ chỉ là công cụ, nhà nước đó không coi văn nghệ sĩ là những con người, lại càng không khi nào nhìn nhận con người sáng tạo ở họ. Và nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ lại vô cùng sung sướng, vênh váo, hãnh diện được làm công cụ của quyền lực thì đó là một nền nghệ thuật không có con người đích thực, không có con người tự do, con người sáng tạo! Chỉ có con người công cụ!

Âm nhạc miền Nam và những ngày xưa thân ái

Vũ Đông Hà (Danlambao) - Nếu ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể "giải phóng" được; cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão giải phóng ngược lại tâm hồn khô khốc của người dân miền Bắc lẫn nhiều cán binh cộng sản; cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận; cái gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam Bắc... Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.

Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhung nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết man mác buồn mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà khan gáy ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt bàn lớp học khắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây, biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya... Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.

Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.
*

Tôi lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở: "Tôi muốn mọi người biết thương nhau. Không oán ghét không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau. Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu..." Các bậc đàn anh như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành người, để biết ngước mặt nhìn đời và "cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười..."

Những đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình: "Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng. Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm. Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi. Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời..." Và anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận "Xương sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào, thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà." Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ: "Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên..." Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau "Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới." Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi - tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ!

Nguyễn Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường, Cô Trâm cho cả lớp đồng ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam Việt Nam, Về Với Mẹ Cha... Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi nở buồng phổi vang vang lên: "Từ Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu. Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong lòng..." Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân... Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát "Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người..."

Cô giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của Tổ tiên.

Trong cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày tết Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình và nhân bản của miền Nam để làm nên Những Ngày Xưa Thân Ái của chúng tôi.

Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai 
Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em 
Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù 
Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em...

Các anh, những người anh miền Nam đã khoát áo chinh nhân lên đường đối diện với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm, đã hy sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.

Lần đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. Cô tôi, mồ côi từ nhỏ, một mình quạnh quẻ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà Thầy yêu thích lúc còn sống - "Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo... Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa! Trên cõi đời này, trên cõi đời này. Từ nay mãi mãi không thấy nhau..."

Và tôi say mê Mùa Thu Chết từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng Nhảy Dù vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.

*

Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi. Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh, và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. Giữa những đau thương chia lìa của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần trong lòng chúng tôi. Những"cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh" cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.

Nhìn lại quãng thời gian binh lữa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của một người được "Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời. Đặt tên cho anh, anh là Quốc. Đặt tên cho anh, anh là Nước. Đặt tên cho Người. Đặt tình yêu Nước vào nôi", chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những "Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!" Chúng tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát "Tôi thức từng đêm thơ ấu, mà nghe muối pha trong lòng. Mẹ là mẹ trùng dương, gào than từ bãi trước ghềnh sau. Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội. Mà lòng thì chưa hề yêu ai". Chúng tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi thuộc lòng khúc hát "Toumorong, Dakto, Krek, Snoul. Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu. Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình. Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành." Chúng tôi không biết "Phá" là gì, "Tam Giang" ở đâu, nhà thơ Tô Thùy Yên là ai, nhưng "Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi..." đã thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.

Trong cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những "Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành". Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là "ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm". Giữa những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết "bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà..." Âm nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường, rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi - những người lính VNCH - thì ngời sáng. Và chúng tôi biết yêu thương, khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.

*

Sau ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn. Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi đến với Một thời để yêu - Một thời để chết. Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ tình yêu với những Vũng lầy của chúng ta, Con đường tình ta đi, Bây giờ tháng mấy, Ngày xưa Hoàng Thị, Tình đầu tình cuối, Em hiền như Ma Soeur, Trên đỉnh mùa đông, Trả lại em yêu... Đó là lúc Cô đọc thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên cho chúng tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ "thần sầu" của Trần Thiện Thanh trong lời nhạc "anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ... ôi niềm nhớ........ đến bất tận. Em ơi... em ơi!..." khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn - em ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn về thăm Cô, vừa đàn vừa hát. Những buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn - Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An... Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Bản nhạc ấy có những dòng như sau:

"Nhưng anh bây giờ anh ở đâu 
con ểnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm
tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ 
Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa
nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời."

Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung ấy và "người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này" cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH.

Cô tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách đờn đến trước mộ Cô và hát lại "Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo" để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.

*

Một buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn... nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước 1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu. 

Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại. Sống lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các em chưa bao giờ gặp mặt "Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về...". Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước "giải phóng" của những "Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi..." Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh: "Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến, súng trên vai bước lê qua đường phố;  tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ,  tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ".. Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ: "Như phai nhạt mờ, đường xanh nho nhỏ, hôm nay tình cờ, đi lại đường xưa đường xưa. Cây xưa còn gầy, nằm quay ván đỏ, áo em ngày nọ, phai nhạt mây màu, âm vang thuở nào, bước nhỏ tìm nhau tìm nhau"... 

Đêm ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng: Chỉ cần lắng nghe và hát lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng khiếp của con người miền Nam. Những mất mát không chỉ là một cái nhà, một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân ái ấy đã bị thay thế bởi những "Bác cùng chúng cháu hành quân" và "Tiến về Sài Gòn" thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.

*

Gần 42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản. Dòng suối trong mát ấy cũng cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam dành cho họ.

Gần 42 năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. Nhưng họ không biết rằng, dòng âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép, bán buôn... Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người dân Việt, bất kể Bắc - Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau 1975. Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam ra khỏi con người Việt Nam.

Ai giải phóng ai? Hãy hỏi Con Đường Xưa Em Đi và đốt đuốc đi tìm xem Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân đang nằm trong cống rãnh nào trên những con đường Việt Nam!!!

24.03.2017



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Bị gọi lên đồn công an vì là đảng viên cộng sản! [Đã đọc: 6887 lần]
Lãnh đạo CSVN dọa thanh toán nhau theo kiểu xã hội đen [Đã đọc: 6580 lần]
12.000 người gốc Việt sắp bị trục xuất về sống với CSVN [Đã đọc: 6243 lần]
Phát minh thần sầu của CHXHCNVN: Phát điện bằng nước tiểu [Đã đọc: 6128 lần]
Quốc nạn kỳ thị chủng tộc: Dân Mỹ lại đổ xuống đường vì màu da [Đã đọc: 5591 lần]
Đụng độ leo thang tại biên giới Trung - Ấn [Đã đọc: 5294 lần]
Nhà tù CSVN trộn mảnh thủy tinh vào cơm cho tù nhân lương tâm [Đã đọc: 5270 lần]
Xe lại cán người ở Anh, 6 người bị thương [Đã đọc: 5013 lần]
Thời mạt pháp: Bê bối hòa thượng ở Thái Lan [Đã đọc: 4999 lần]
Gái Việt bị 2 đàn ông da trắng thiêu chết thảm ở Anh [Đã đọc: 4828 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.