Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Mười 2017
T2T3T4T5T6T7CN
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30 31          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 12
 Lượt truy cập: 9155384

 
Góc thư giãn 23.10.2017 10:21
Xin bạn đọc góp tay giúp từ thiện đông bào khốn khó tại Campuchia
23.03.2017 14:14

ViDan Foundation (VDF) - Nhờ sự bảo trợ của bà Kim Bintcliff, ViDan Foundation đã có cơ hội giúp cho ba lớp học nổi của khoảng 200 học sinh ở huyện Kangdien có được 45 bộ bàn ghế mới, và sửa chữa lại một nhà bè thành lớp học khang trang, giải quyết được tình trạng các em phải ngồi dưới sàn nhà để học.

VDF giúp bàn ghế cho học sinh gốc Việt ở tỉnh Pursat (Cambodia)

http://hoamai.us/.//news-media/activity-news-archive/293-293


Vidan_Pursat_SchoolSupply.jpg

45 bộ bàn ghế đang được chuyển đến bến tàu Kampong Leoung để chở đến các trường Việt ngữ nghèo ở huyện Kang Dien, tỉnh Pursat.

Đây là chương trình trợ giúp từ thiện thứ hai của bà Kim Bintcliff (sau chuyến phát 6 tấn gạo cho người nghèo ăn Tết vào tháng 01/2017) được thực hiện với sự hợp tác của hội Minority Rights Organization ở Cambodia.

Pursat là một tỉnh ở mạn Đông Biển Hồ Cambodia, nơi có nhiều người gốc Việt tạm cư. Phần lớn đồng bào ở đây phải sống vất vả bằng nghề bắt tôm cá theo các cách thức đơn giản. Do không được cấp giấy khai sinh, đa số trẻ gốc Việt tại đây (giống như trẻ Việt ở những tỉnh khác ở Cambodia) không được chính thức vào học ở các trường công lập bản xứ. Và do vậy, hầu hết trẻ Việt sinh trưởng từ vùng này đều thiếu các điều kiện giáo dục, giải trí và phát triển bình thường.

Trong ý hướng mở rộng chương trình trợ giúp giáo dục cho trẻ em gốc Việt ở Cambodia, ViDan Foundation đã xúc tiến việc trợ giúp cho học sinh nghèo ở tỉnh Pursat vào tháng 10/2015, bên cạnh chương trình bảo trợ cho hơn 200 em ở tỉnh Prey Veng, và hơn 100 em ở tỉnh Kampong Chhnang. Khởi đầu là ngân khoản trang bị bàn ghế cho lớp học ở chùa Long Hải, sửa chữa trường học làng nổi Kor-Kek. (xem tin)

Do số lượng học sinh tăng nhanh là ngôi trường hiện thời không đủ sức chứa, đến nỗi những em đến sau phải ngồi bẹp xuống sàn để học, Hiệp Hội đã vận động sự ủng hộ của đồng hương hảo tâm để sửa chữa thêm ngôi nhà bè (vốn là nơi sinh hoạt cộng đồng) thành một lớp học thứ hai ở đây, giải quyết tình trạng quá tải của lớp học hiện có.

Với sự yểm trợ của bà Kim Bintcliff, ViDan Foundation đã trang bị thêm 45 bộ bàn ghế mới cho 2 lớp học ở Kor K'ek, và cho 1 trường nổi khác cách xa 60 phút đường thủy. Việc sửa chữa và trang bị bàn ghế mới đã hoàn thành vào tháng 03/2017.

Pursat-Class1BeforeAfter2017.jpg

KorKekSchool2Repairingp0.jpg

KorKekSchool2BeforeAfter2017.JPG

Là một tổ chức bất vụ lợi nhỏ với khả năng nhân sự là những thiện nguyện viên (hoạt động không nhận lương), ViDan Foundation cố gắng vận động bà con đồng hương chung sức ủng hộ tài chánh để giúp cho những trẻ Việt sinh ra ở xứ người trong cảnh trạng kém may mắn có được điều kiện học hành tương đối đầy đủ hơn.

Số trẻ được ViDan Foundation trợ giúp (trung bình khoảng 500 em) là một tỷ lệ rất nhỏ so với số lượng trẻ cần được quan tâm chia sẻ. Cho nên, anh chị em VDF hy vọng là trong những ngày tháng tới, tình trạng bi đát của đồng bào Việt Nam đang lưu lạc ở xứ Chùa Tháp nói chung, và đặc biệt là của đám trẻ bất hạnh sinh ra ở đây, sẽ được nhiều đồng bào, tổ chức thiện nguyện tìm hiểu và có thêm chương trình giúp đỡ thiết thực.

ViDan Foundation chân thành cảm ơn bà Kim Bintcliff, quý Tu sĩ, thân hữu ủng hộ viên, và đặc biệt là những vị đã gửi chi phiếu hay ủng hộ qua PayPal hằng tháng.

Những gì ViDan Foundation làm được trong thời gian qua ở Việt Nam và Cambodia là nhờ vào sự tiếp trợ bằng tài chánh, công sức và ý kiến của Quý Vị. Nhân bài viết này, chúng tôi xin được kính gửi lời tri ân của hàng trăm đồng bào có con cháu được ViDan Foundation yểm trợ giáo dục, hay đã nhận được những bao gạo từ thiện đầy tình nghĩa trong thời gian qua.

Xin tiếp tục góp một bàn tay nhân ái an ủi những đồng bào, trẻ thơ kém may mắn đang lưu thân lạc xứ ở quê người.

Vidan Foundation


ViDan Foundation (tức Hiệp Hội Thiện Nguyện Vì Dân) là một tổ chức có giấy phép hoạt động thiện nguyện theo quy chế 501(c)3 của cơ quan IRS Hoa Kỳ.

Kể từ năm 2006, qua tên Câu lạc bộ Hoa-Mai, với sự phối hợp của Chùa Liên Trì ở Việt Nam và Hội Việt Nam Compassion ở Pháp, ViDan Foundation đã liên tục trợ giúp nhân đạo cho hàng ngàn dân oan, nạn nhân thiên tai bão lụt, Thương Phế binh VNCH và trẻ em bị bệnh ung bướu đang điều trị tại bệnh viện Ung Bướu Sài-Gòn. Kể từ năm 2013, ViDan Foundation đã mở chương trình trợ giúp giáo dục ở các tỉnh Siem Reap, Kampong Chhnang, Prey Veng và Pursat, giúp cho hơn 500 trẻ em Việt Nam thất học được đi học chữ.

Một nỗ lực ý nghĩa khác trong quá trình 10 năm hoạt động của ViDan Foundation là liên tục yểm trợ chương trình gây quỹ trùng tu mộ phần của hơn 2.000 thuyền nhân xấu số ở các trại tỵ nạn cũ tại Mã Lai, Nam Dương và Phi Luật Tân do Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam thực hiện.

Ngân quỹ hoạt động mỗi năm của ViDan Foundation vào khoảng $50.000 mỹ kim, tùy thuộc hoàn toàn vào sự yểm trợ nhiệt tình và đều đặn của những người Việt có lòng ở khắp nơi, nhiều nhất là từ Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi và Gia Nã Đại. Quý đồng hương muốn góp sức yểm trợ các chương trình trợ giúp nhân đạo của Hiệp Hội xin gửi chi phiếu yểm trợ đến:

ViDan Foundation: P.O. Box 842064, Houston, TX 77284-2064 (USA)

hoặc chuyển ngân bằng hệ thống PayPal qua địa chỉ: paypal@vidan.us; hoặc liên lạc cô Anh Trinh ở số điện thoại 1-713-391-9843 để biết thêm chi tiết. Mọi sự đóng góp đều được cấp biên nhận khấu trừ thuế Liên bang.

Mặt khác, Hiệp Hội rất mong quý Đồng hương sẽ ủng hộ thêm cho ngân quỹ bằng cách chọn “ViDan Foundation Inc” là “charity organization” khi mua hàng hoá o­nline ở hãng AmazonSmile . Xin lưu ý: Quý Đồng hương sẽ không trả thêm phí khoản nào song Hội sẽ được tặng 0.5% trên tổng số của hoá đơn.

Thông tin chi tiết về chương trình hoạt động của Hiệp hội Thiện nguyện Vì Dân được phổ biến ở địa chỉ mạng: www.hoamai.usvà www.vidan.us


Hưởng ứng đóng góp: 


Thi sĩ Tân Văn, Montréal, Canada:  100$C


Image result for người việt tại campuchia


Image result for người việt tại campuchia


Cuộc sống người Việt ở Campuchia

Thanh Trúc, phóng viên RFA

2017-03-23


ất nước có nhiều người Việt sang lập cư từ trước và sau chiến tranh, ba bốn thế hệ nối tiếp nhau sinh  ra và lớn lên nhưng không giấy tờ tùy thân và cũng không bao giờ được công nhận là người bản xứ.

Lênh đênh vô định

Ông Butmao Sourn, giám đốc MIRO, một tổ chức thiện nguyện nước ngoài ở Campuchia, chuyên giúp đỡ những di dân không có giấy tờ và không có được nơi định cư bền vững, cho biết:

Cuộc sống của người Việt tại Campuchia phần lớn chưa có dấu hiệu ổn định, dễ gặp nguy  hiểm. Vì không có giấy tờ hợp pháp nên họ khó hội nhập. Có người sống lâu năm ở đây khi về Việt Nam cũng không được chính quyền bên ấy công nhận.

Một  người Việt sống trên vùng Biển Hồ ven tỉnh Pursat kể lại hoàn cảnh bấp bênh, gạo chợ  nước sông của người Việt  nơi đây:

Tôi Huỳnh Văn Đàn, ở tỉnh Pursat lâu rồi, bà con ở đây làm nghề cá không, giăng lưới giăng câu, giăng được thì đủ ăn, có bữa không đủ ăn. Ở dưới biển chứ có đất có cát gì đâu mà trồng trọt, chỉ giăng lưới giăng câu vậy thôi, coi như nghèo hết 90% rồi. Con thì cũng có một số đi học một số không bởi vì quá nghèo không xuống không ghe không đi học được. Trường đó là trường ở dưới nước, kêu bằng trường nổi, học sinh bơi xuồng lại đó học.

Vì không có giấy tờ hợp pháp nên họ khó hội nhập. Có người sống lâu năm ở đây khi về Việt Nam cũng không được chính quyền bên ấy công nhận. 
- Ông Butmao Sourn

Phải ở trên bờ còn có tương lai, ở dưới nước thì đâu có tương lai. Ở bờ thì thường có đoàn lại giúp, các nhà hảo tâm, các nhà từ thiện có nhiều, còn ở dưới nước ít đoàn lại lắm.

Cơ cực  như vậy nên nhiều người cũng rất muốn về dưới, tức là về Việt Nam theo cách nói của họ. Ngặt nỗi không có giấy tờ tiền bạc để về, ở lại thì phải chịu cảnh o ép của chính quyền địa phương:

Cũng muốn về dưới ở mà không đất không cát, không giấy tờ hợp lệ, không tiền mua đất thì cũng khổ lắm. Đây chắc không có tương lai đâu, sống ở ngoài Biển Hồ thấy cái nhà nó càng ngày càng hư thêm, quan quyền nó gò bó . Tới nay xóm này ra làm nghề bị bắt bỏ tù hết mấy chục người. Nhà nước bây giờ nó bó buộc dân mình, đuổi thì không đuổi mà gò bó như là muốn đuổi khéo.

Ông Ngô Văn Ly, sinh ra và lớn lên ở tỉnh Pursat, từng chạy về Việt Nam những năm sau 1975 để lánh nạn, đến 1981 thì trở qua Campuchia vì không có đường làm ăn ở quê nhà, nói rằng người Việt ở Biển Hồ đôi khi gần như cô lập bởi con nước lớn hay con nước cạn:

Việt Nam tại tỉnh Pursat này là 1.700 hộ, nhưng mà tính theo vùng biển  thì cở 3.000 hộ lận. Bà con chỉ sống dưới mặt biển chứ không có bờ đâu. Mùa này thì cứ theo mực nước mà đi ra giăng lưới giăng câu để kiếm sống. Mần được ngày nào thì mua gạo ngày nấy, còn muốn đi chợ thì chạy máy hai tiếng đồng hồ mới tới bến chợ. Anh em giăng lưới giăng câu ngày hên thì mua đủ năm ba ký gạo, mần được nhiêu mua nhiêu, còn thất thì lỗ tiến xăng đi về luôn.

Nhà nước Campuchia giờ mình không hiểu cái luật của ảnh, giờ tới mùa lưới ảnh  xuống anh dẹp. Xóm của tôi bị bắt  hết 13 người mà  không có tiền để chuộc ra. . Đôi lúc đột xuất quá, sợ bị bắt bị buộc  thì cũng có người trốn về dưới bảy tám chục gia đình rời.

Đi không xong ở cũng không xong

Vì không có giấy tờ hợp lệ, trẻ con người Việt ở Biển Hồ  không được đi học. Là người trông coi một lớp dạy chữ Việt và chữ Khmer cho con em người Việt mà khởi  đầu do người Việt Nam ở nước ngoài tài trợ, ông Ly cho biết thêm:

Chỗ tôi ở rặt Việt Nam không, Campuchia chỉ có ba bốn gia đình, có phái đoàn của Anh, của Mỷ và Canada  cho được cái trường bề ngang 6 thước, bề dài 12 thước, dạy được vài chục đứa thôi, nhưng bây giờ số học sinh lên 130 đứa rồi.

Ngôi trường này ở Biển Hồ bây giờ đang được Hiệp Hội Thiện Nguyện Vì Dân, tổ chức bất vụ lợi ở Mỹ thường xuyên giúp đỡ. Từ  Campuchia trở về Mỹ sau chuyến thăm và cứu trợ đồng bào Việt nghèo khó ở Biển Hồ, ông Nguyễn Công Bằng thổ lộ việc giúp đỡ đồng bào nghèo ở Campuchia thường cũng không mấy dễ dàng:

Hiệp Hội Thiện Nguyện Vì Dân bắt đầu làm việc ở Campuchia từ năm 2013, đầu tiên là một chương trình dạy học cho 45 em ở Seam Reap, sau đó qua Kampong Chnang và Prey Veng và gần đây nhất là mở rộng chương trình đến tỉnh Pursat. Hiện tại chúng tôi đang bảo trợ nói chung hơn 500 trẻ em gốc Việt Nam ở Campuchia có điều kiện đi học Việt ngữ và tiếng Khmer.

ViDan_Pursat-Class-3-400.jpg
Một lớp học nổi (trên thuyền). Hình do Vì Dân Foundation cung cấp.

Chương trình giáo dục đầu tiên ở tỉnh Seam Reap hồi năm 2013 là trường Tín Nhân Quốc Tế chuyên dạy Việt Ngữ, Khmer ngữ và Anh ngữ vỡ lòng cho trẻ Việt đủ mọi lừa tuổi ở Seam Reap. Trường được hình thành bằng sự giúp đỡ của một viên chức chính phủ, một số luật sư ở vùng Battambang cùng với sự yểm trợ tinh thần lẫn vật chất của ông Nguyễn Công Bằng và Hiệp Hội Thiện Nguyện Vì Dân ở Hoa Kỳ:

Sau này, vì những lý do khá tế nhị, Hiệp Hội Thiện Nguyện Vì Dân chuyển sang 3 tỉnh khác dọc Biển Hồ là Kampong Chnang, Prey Veng và Pursat với các xóm chài người Việt nổi trôi trên Biển Hồ.

Người Việt ở Campuchia là một tập thể đồng bào bất hạnh nhất. Dù rằng họ sống rất gần đất nước Việt Nam nhưng họ không được xem là người Việt Nam, cũng  không được xem là người Campuchia, họ cũng không được điều kiện đi ra nước ngoài.

Theo sự hiểu biết của chúng tôi trong thời gian sinh hoạt bên đó thì các hiệp hội quốc tế gọi đồng bào mình ở đó là những thành phần stateless những người không quốc gia. Tại vì từ thế hệ thứ hai  trở đi họ sinh ra mà không có khai sinh, không có căn cước, không có quốc tịch Campuchia. Và tất nhiên sinh ra ở Campuchia thì họ hoàn toàn không có giấy tờ Việt Nam. Lớn lên họ không được đi học và bây giờ thì con cháu của họ cũng vậy.

Được đi làm trong các hãng xưởng là ước mơ cao nhất của những đứa trẻ Việt lớn lên trong các xóm chài trôi nổi trên Biển Hồ này. Chính vì thế, ngoài cái ăn thì việc mang lại chữ nghĩa và kiến thức cho con em Việt ở Campuchia là điều vô cùng quan trọng:

Ngoại trừ một số gia đình may mắn, những đứa trẻ bên đó không có điều kiện để lên trung học, cũng không có điều kiện đi làm các hãng xưởng lớn. Không có điều kiện tiến thân, không có giấy tờ di trú hợp pháp nên nói chung họ không được hưởng phúc lợi công cộng như người bản xứ hay ngay cả người ngoại quốc mà có giấy tờ hợp lệ bên đó. Vì không được đi học nên họ bị những người thiểu số khác ở Campuchia coi thường chứ đừng nói chi đến người Campuchia.

Người Việt Nam mình ở đó quơ cào làm bất cứ điều gì có thể làm được để kiếm sống qua ngày. Những đứa trẻ sống trong các nhà nổi như chiếc bè trên Biển Hồ đa số cũng theo cha mẹ đi đánh cá, rất nhiều đưa trẻ mới năm bảy tuổi, chín mười tuổi cũng theo cha mẹ đi giăng lưới, đi giăng câu, đi bắt cá vì không có điều kiện nào khác hơn.

Ngoài Seam Reap, tại Kampong Chnang, Prey Veng và Pursat người ta cũng dễ dàng nhận ra những đứa trẻ Việt theo cha mẹ lên bờ đi làm thuê làm mướn:

Đi lượm ve chai hầu hết là trẻ em Việt Nam chúng ta. Có đứa đi bán bong bóng, đứa lớn hơn đi làm phụ hồ, khiêng gạch khiêng đá, nói chung là quơ cào làm những nghề mà người bản xứ chê không làm. Nếu không có gì thay đổi thì thế hệ kế tiếp, con của những đứa trẻ mà chúng ta gặp ngày hôm nay, cũng sẽ nối tiếp đi làm mướn làm công, cũng đi ăn xin đi lượm ve chai. Đó là lý do tại sao chúng tôi cố gắng mở những lớp học cho các em. Dù rằng một ít chữ Việt  hay một ít  chữ Khmer cũng chưa hẳn có thể kiếm việc nhưng ít nhất có thể cho em niềm tin và hy vọng có thể đi học nghề, thoát mặc cảm dốt chữ đi làm công làm mướn.

Hội đoàn giúp đỡ

ViDan_Pursat-Class-400.jpg
Học sinh Việt tại tỉnh Pursat trên Biển Hồ. Hình do Vì Dân Foundation cung cấp.

Tại Kampong Chnang có khoảng 280 gia đình người Việt thì hơn 100 trẻ Việt Nam được sự trợ giúp về mặt giáo dục của Hiệp Hội Thiện Nguyện Vì Dân:

Kampong Chnang có một trường do cộng đồng người Việt ở Úc xây dựng và tặng lại cho địa phương ở đó. Khi chúng tôi đến đó thì chúng tôi được hội MIRO mà chúng tôi cộng tác cho mượn trường đó để dạy các em từ Lớp Một tới Lớp Ba.

Nhưng bắt đầu từ năm ngoái khi chính quyền Campuchia di dời nguyên cái làng nổi của người Việt Nam lên năm sáu cây số ở phía trên một vùng hẻo lánh thì một số em không còn đi học nữa vì quá xa, đi bằng xuồng bằng ghe thì không có ai đưa đón nên một số nhỏ đến trường được mà thôi còn một số lớn thì chờ ở địa điểm mới chúng tôi có thể mở một ngôi trường mới.

Ở Prey Veng chúng tôi có điều kiện lo cho gần 300 em ở 4 địa điểm khác nhau tại vùng mà Việt Nam mình gọi là Hố Lương thuộc tỉnh Prey Veng đó.

Riêng tại vùng Pursat ở phía Tây Biển Hồ thì gần 200 em được đi học ở hai địa điểm khác nhau:

Đây là vùng xa xôi hẻo lánh, đi từ Kampong Leung là một bến đò mà đến làng đầu tiên phải mất gần 2 tiếng đồng hồ chạy xuyên qua mặt Biển Hồ. Đó là vùng gần như cách biệt với thế giới bên ngoài cho nên các em ở đó sống cô lập không tiếp xúc  với văn minh bên ngoài, nhiều em chưa bao giờ bước ra xã hội bên ngoài, cho nên điều kiện phát triển gần như không có.

Sau này chúng tôi tập trung phát gạo bên đó, mở trường, sửa trường. Có những lớp mà các em ngồi dưới sàn của nhà nổi để học nên vừa rồi chúng tôi mua 45 bộ bàn ghế, sửa lại một trường nổi đã suy sụp và sắp chìm để các em có chỗ học. Ở đó tất cả mọi sinh hoạt đều trên nhà nổi \ hết.

Tại Pursat  tùy theo hoàn cảnh có nơi chúng tôi bảo trợ hoàn toàn cả tiền thầy giáo, tiền ăn học, tiền sách vở, có nơi phải sắm bàn sắm ghế, có nơi phải sửa trường học. Tùy theo nhu cầu của từng địa phương mà chúng tôi có chương trình trợ giúp khác nhau nhưng đa số tập trung vào mặt giáo dục là chính.

Người Việt ở Campuchia là một tập thể đồng bào bất hạnh nhất...họ không được xem là người Việt Nam, cũng  không được xem là người Campuchia.
- Ông Nguyễn Công Bằng 

Cuối năm 2016 vừa qua, Hiệp Hội Thiện Nguyện Vì Dân, với sự trợ giúp của một số mạnh thường quân ở Hoa Kỳ, đã mua và phát một tấn rưỡi gạo cho bà con người Việt ở tỉnh Kampong Chnang.

Bước sang tháng Giêng 2017, thêm 6 tấn gạo được phát ra cho bà con ở vùng nghèo nhất là Pursat phía Tây Biển Hồ. Ông Nguyễn Công Bằng:

Cộng đồng gốc Việt ở Campuchia trên dưới bảy tám trăm ngàn, trong đó hơn một phần tư là người nghèo khổ nhất. Với khả năng của một hội thiện nguyện nhỏ bé như chúng tôi mỗi năm chỉ  năm bảy chục ngàn thì không giúp được bao nhiêu đâu. Chúng tôi qua đó chỉ gặp một hai hội của người Việt Nam, trong đó có một hội Công giáo, một hai nhóm Tin Lành và những hội khác nếu có sang cũng chỉ phát gạo mà thôi.

Khi sang Campuchia nhìn thấy các em thiếu thốn đủ thứ mà cái thiếu lớn nhất là thiếu chữ. Tiếc rằng đến giờ phút này khả năng của hội chỉ chăm lo được trên dưới 500 em là con số rất nhỏ so với sỉ số các em đang cần được học chữ. Nhưng mà chúng tôi vẫn cố làm.

MIRO, chữ viết tắt của một tổ chức ở Châu Âu chuyên giúp đỡ những di dân không có giấy tờ hợp lệ tại một đất nước mà họ chạy đến. MIRO đã giúp được cho người Việt như thế nào? Nhà báo Danh Hồng, một người Việt gốc Khmer Krom ở Phnom Penh:

MIRO có hẳn một quĩ để giúp đỡ những người không có quốc gia nhưng MIRO chỉ làm một số công việc là đi giáo dục những người không quốc gia về cái lợi ích khi nhập quốc tịch nhưng họ không có hành động gì, họ chỉ tuyên truyền thôi.

Thí dụ tôi là người Việt muốn vào quốc tịch Campuchia nhưng thủ tục từ A đến Z và ai làm thì MIRO không có, MIRO chỉ lại tuyên truyền thôi. Công việc của MIRO chỉ vậy thôi. Nói chung làm cho người Việt hội nhập có quốc tịch có giấy tờ hợp pháp thì cần có sự hỗ trợ pháp lý mới được.

Và cũng rất thực tế là chỉ chính phủ bản địa mới có quyền hỗ trợ pháp lý nhằm hợp thức hóa người Việt  bất hợp pháp trên đất nước của họ. Thiết tưởng đây cũng là một gánh nặng đối với Phnom Penh, trong lúc Hà Nội, đặc biệt đại sứ quán Việt Nam ở Phnom Penh, không có động thái nào đáng kể.

Liên lạc góp ý với Thanh Trúc: nguyent@rfa.org


y  cùng nhau góp tay cứu giúp những đồng bào ruột thịt sống trong cảnh tận cùng nghèo khổ tại Campuchia đang chờ đợi chúng ta 



Người bán hàng rong Việt Nam bị Campuchia trục xuất

4 người Việt Nam làm nghề bán hàng rong đã bị cảnh sát Campuchia bắt giữ và trục xuất do không có visa hợp lệ.

4 người Việt Nam làm nghề bán hàng rong đã bị cảnh sát Campuchia bắt giữ và trục xuất do không có visa hợp lệ.

Khmer Times đưa tin, cảnh sát tỉnh Kampong Speu hôm 12/9 đã bắt giữ 4 người đàn ông Việt Nam làm nghề bán hàng rong với cáo buộc nhập cư bất hợp pháp.

Theo cơ quan quản lý nhập cư Campuchia, những người này chỉ có visa du lịch trong khi nếu muốn bán hàng, phải được cấp loại visa khác phù hợp.

Người bán hàng rong Việt Nam bị Campuchia trục xuất
4 người đàn ông Việt bán hàng rong bị cảnh sát Campuchia bắt giữ và trục xuất về nước. Ảnh: Khmer Times

Sam Samoun, phó cảnh sát trưởng tỉnh Kampong Speu cho biết 4 người bị bắt khi đang bán hàng ở 2 khu chợ thuộc tỉnh lỵ Chbar Mon.

"Họ bán giày, thắt lưng và kính mắt. Họ cùng thuộc một nhóm với nhau", ông Samoun nói.

4 người đàn ông sang Campuchia qua cửa khẩu Xa Mát, tỉnh Tây Ninh. Theo mô tả của Khmer Times, họ mang dép cao su mà báo này gọi là "dép Khmer Đỏ".

"Việc buôn bán của họ không phạm pháp, vì không phải là ma túy. Họ bị bắt vì không có giấy tờ chứng minh họ được phép đến đây bán hàng", ông Samoun giải thích.

Vị này cũng cho hay sau khi thẩm vấn, những người bị bắt được đưa tới cơ quan quản lý nhập cư thuộc Bộ Nội vụ ở Phnom Penh, sau đó đã được đưa về Việt Nam.

Campuchia đang siết chặt quản lý nhập cư. Từ đầu năm đến giữa tháng 8, nước này đã trục xuất hơn 2.500 người đến từ 21 quốc gia, trong đó có 1.069 người Việt.

CSVN bất lực trong nhiệm vụ bảo vệ kiều bào tại Campuchia, để họ bị trục xuất.

Viet kieu tu Campuchia ve Binh Phuoc va Tay Ninh: Bon be kho khan, nhung khong de dan doi - Anh 1

Vào tháng 9.2016, một nhóm các nhà từ thiện đã mang lương thực hỗ trợ hàng trăm hộ Việt kiều hồi hương ở Bình Phước và Tây Ninh.

Hàng ngàn người dân sống lay lắt ven những lòng hồ

Điển hình là ven bờ lòng hồ thủy lợi Dầu Tiếng, thuộc địa giới tỉnh Tây Ninh, với hơn 1.600 người đang sinh sống. Hầu hết những người dân này đều trở về từ Biển Hồ (Campuchia). Họ hình thành nên 2 làng chài di động, chuyên sống bằng nghề lưới cá trên lòng hồ Dầu Tiếng, thuộc địa bàn 2 huyện Tân Châu và Dương Minh Châu (tỉnh Tây Ninh). Bất kỳ ai đến 2 làng chài Phước An (huyện Dương Minh Châu) và Tà Dơ (huyện Tân Châu), đều thấy rõ những khó khăn hiển hiện từng ngày, từng giờ, nơi cuộc sống của hơn 1.600 người Việt kiều hồi hương.

Anh Nguyễn Văn Danh (làng chài Tà Dơ) cho hay: “Mỗi ngày, tôi lên ghe ra hồ lưới cá. Trừ hết các chi phí sau khi bán cá, tiền thu được độ 70 – 100 ngàn đồng. Vừa đủ mua gạo, muối mắm cho bữa ăn gia đình. Đó là với điều kiện rau, cá không phải mua, do thu lượm từ cá hồ và vườn hoang quanh hồ. Ngày nào không đi lưới cá được, thì coi như cả nhà thiếu ăn”. Trong số hơn 1.600 Việt kiều hồi hương đó, không phải tất cả đều đổ về hồ Dầu Tiếng gần đây, mà có không ít gia đình đã hồi hương từ cách đây… 3 năm. Song, rộ lên là từ đầu năm 2016, khi chính phủ Campuchia siết chặt kiểm tra hộ tịch ở Biển Hồ; đồng thời, đời sống ở xứ Chùa Tháp ngày càng trở nên khó khăn hơn. Tất cả những người này, hiện sống trong những túp lều tạm ọp ẹp ven lòng hồ Dầu Tiếng. Họ không có bất kỳ giấy tùy thân nào và con cái đều trong tình trạng thất học...

Tương tự, có không ít hộ Việt kiều hồi hương về sinh sống ven lòng hồ thủy điện Thác Mơ, lòng hồ thủy điện Cần Đơn (huyện Bù Gia Mập) và khu vực thượng nguồn sông Sài Gòn (xã Minh Tâm, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước). Chưa một thống kê cụ thể nào ở tỉnh Bình Phước được công bố rằng, có bao nhiêu Việt kiều hồi hương từ  Campuchia về sinh sống ở tỉnh này. Tuy nhiên, rải rác có những con số liệt kê từ các xã cho thấy số lượng Việt kiều hồi hương về sinh sống ở Bình Phước cũng không nhỏ. Tại làng vạn chài ven lòng hồ thủy điện Thác Mơ, thuộc thôn Bình Đức 1, xã Đức Hạnh, huyện Bù Gia Mập, có tới 76 hộ, với khoảng 200 người dân là Việt kiều hồi hương từ Campuchia.

Anh Đinh Văn Dương cho biết: “Chúng tôi là những người Việt, mà từ đời ông bà ngoại, ông bà nội sống bằng nghề chài cá ở Biển Hồ... Chúng tôi trở về VN, tiếp tục sinh sống bằng nghề lưới cá ở lòng hồ Thác Mơ từ năm 2013 đến nay. Chúng tôi không có hộ khẩu, không đăng ký quốc tịch gì hết trọi, cũng không có chứng minh nhân dân… Ai mà không muốn có quốc tịch, có các loại giấy tờ tùy thân… ? Nhưng thủ tục đòi hỏi rắc rối quá, trong khi từ Campuchia về, chúng tôi chẳng có giấy tờ tùy thân nào chứng minh gốc gác, nên đành thôi, sống không quốc tịch, không hộ khẩu vậy”.

Vợ anh Dương tiếc nuối: “Vợ chồng tôi thì cam chịu, nhưng thiệt thòi cho 4 đứa con, không thể đến trường được vì không có hộ khẩu. Vả lại, cuộc sống còn nghèo khổ, nhà còn không có, phải sống trên ghe, thì tiền đâu mà ăn học ?”.

Viet kieu tu Campuchia ve Binh Phuoc va Tay Ninh: Bon be kho khan, nhung khong de dan doi - Anh 2

Một hộ Việt kiều hồi hương từ Campuchia sống tại khu vực lòng hồ thủy điện Thác Mơ, tỉnh Bình Phước.

Vào tháng 7.2016 vừa qua, huyện Bù Gia Mập mới có số liệu thống kê số Việt kiều hồi hương từ Campuchia về sinh sống là 102 hộ, với 482 nhân khẩu. Trong đó, có hơn 160 người từ 18 tuổi trở lên không có giấy tờ tùy thân. Hầu hết những người dân di cư tự do này sinh sống trên mặt nước tại lòng hồ thủy điện Thác Mơ và thủy điện Cần Đơn, tại 2 xã Phước Minh và Đức Hạnh. Họ chủ yếu làm nghề nuôi cá, đánh bắt cá tại các lòng hồ hoặc làm thuê, mướn trên địa bàn huyện, thường xuyên di chuyển, không ổn định chỗ ở.

Tại xã Minh Tâm, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, cũng có 21 hộ, với 112 nhân khẩu thuộc diện Việt kiều hồi hương từ Campuchia. Cộng đồng người dân này sinh sống xung quanh khu vực chân cầu Sài Gòn 1, gần khu vực Cty TNHH nông sản Việt Phước, thuộc thượng lưu sông Sài Gòn. Tính đến tháng 6.2016, toàn tỉnh Bình Phước có 345 hộ với 1.472 khẩu là dân di cư tự do từ Campuchia về nước sinh sống tại tỉnh và chưa nhập quốc tịch, chưa đăng ký hộ khẩu.

Ổn định cuộc sống cho cả ngàn người dân, không dễ chút nào

Năm 2015, tỉnh Tây Ninh từng cấp đất, đầu tư một khu dân cư để hỗ trợ cho những hộ dân thuộc diện Việt kiều hồi hương từ Campuchia, vốn sinh sống nhiều năm ở làng chài Phước An, huyện Dương Minh Châu. Trong khi đang giải quyết chỗ ở cho làng chài Phước An chưa xong, lại tiếp tục phát sinh làng chài Tà Dơ (huyện Tân Châu) trong năm năm 2016, với hàng trăm người dân mới đổ về từ Biển Hồ.

Ông Trần Quang Ghi – Chủ tịch UBND xã Tân Thành, huyện Tân Châu – cho biết: “Việc cấp đất, xây nhà, hỗ trợ cuộc sống cho gần cả ngàn con người từ lòng hồ lên cạn ở không phải dễ, không phải một sớm một chiều lo được đâu. Nó còn phụ thuộc vào quỹ đất, tài chính, kế hoạch đầu tư xây dựng khu dân cư.v.v… Trong khi ngân sách địa phương thì có hạn, còn bao nhiêu thứ phải lo. Tuy nhiên, trên tinh thần không để dân đói, địa phương hết sức quan tâm đến việc ổn định đời sống cho người dân hồi hương từ Campuchia, đặc biệt là kể từ sau chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ”.

Viet kieu tu Campuchia ve Binh Phuoc va Tay Ninh: Bon be kho khan, nhung khong de dan doi - Anh 3

Có gia đình không có chòi ở, phải sống luôn trên chiếc ghe đánh cá nằm bờ.

Ông Nguyễn Thanh Ngọc – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh – đã trực tiếp xuống huyện Tân Châu, chỉ đạo địa phương khẩn trương thống kế số lượng người dân hồi hương; sớm triển khai các thủ tục cấp giấy tờ tùy thân, hộ khẩu, hộ tịch… cho những người dân đủ điều kiện được cấp các loại giấy tờ hộ tịch trên. Gần đây, đầu tháng 9.2016, tỉnh Tây Ninh đã nỗ lực vận động được gần 600 trẻ em của 2 làng chài Phước An và Tà Dơ đến trường học chữ.v.v…

Tại tỉnh Bình Phước, một cách căn cơ hơn, Bình Phước đang triển khai thực hiện “Đề án tổng thể đối với người dân di cư tự do từ Campuchia về Việt Nam”, theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, UBND tỉnh Bình Phước đã ban hành kế hoạch bảo đảm an sinh xã hội, ổn định đời sống, sản xuất cho người dân di cư tự do từ Campuchia về tỉnh giai đoạn 2016-2020. Với mục tiêu cụ thể là trợ giúp cho người dân tự do từ Campuchia về tỉnh Bình Phước không bị đói, có nơi ở và bảo đảm các nhu cầu, điều kiện sống tối thiểu; đồng thời, hỗ trợ các điều kiện cần thiết về đất ở, vốn sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm để người dân tham gia phát triển sản xuất ổn định đời sống, hỗ trợ đảm bảo các điều kiện về y tế và giáo dục.

Giai đoạn 2016-2020, tỉnh Bình Phước thực hiện các nội dung, giải pháp hỗ trợ nhà ở, đất ở, giải quyết việc làm, học nghề, giáo dục cho các hộ dân di cư tự do từ Campuchia về nước gặp khó khăn, với tổng kinh phí thực hiện trên 14,5 tỷ đồng. Đặc biệt, tỉnh chú trọng hỗ trợ chi phí học tập, giảm học phí cho trẻ em mẫu giáo, học sinh, sinh viên là người Việt Nam di cư tự do từ Campuchia về tỉnh mà chưa nhập quốc tịch, chưa đăng ký hộ khẩu nhưng sinh sống tại địa phương thuộc địa bàn tỉnh quản lý. Tỉnh cũng dự kiến sẽ hỗ trợ 1.047 người Việt Nam di cư tự do từ Campuchia về nước gặp khó khăn mà chưa nhập quốc tịch, chưa đăng ký hộ khẩu nhưng sinh sống tại tỉnh được mua bảo hiểm y tế.

Bà Nguyễn Thị Cúc - Chủ tịch UBND xã Minh Tâm, huyện Hớn Quản - cho biết: “Đời sống của những Việt kiều hồi hương khó khăn thế nào, chúng tôi biết rất rõ. Thời gian qua, chúng tôi vẫn từng bước hỗ trợ họ hết mức có thể như: cấp sổ hộ nghèo để họ được hưởng tất cả các chính sách hỗ trợ của nhà nước, như hỗ trợ mỗi hộ 30 ngàn đồng tiền điện/tháng. Hàng tháng, UBND xã vẫn hỗ trợ gạo, lương thực, chăn màn, quần áo cho họ. Vận động trẻ em đến trường dù không có hộ khẩu. Mở lớp xóa mù chữ ngay trong xóm cho trẻ em…”.

Theo Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước Nguyễn Văn Trăm, để kế hoạch hỗ trợ được triển khai có hiệu quả, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành liên quan và UBND các huyện, thị xã thực hiện điều tra, rà soát, phân loại đối tượng, lập kế hoạch trợ giúp cụ thể. Bên cạnh đó, triển khai mô hình hỗ trợ hòa nhập cộng đồng cho người di cư tự do từ Campuchia về Việt Nam. Các ngành, các cấp tăng cường tuyên truyền, vận động để người dân di cư tự do hiểu đúng chính sách, pháp luật của Việt Nam nhằm hạn chế và giảm dần tình trạng di cư tự do, góp phần giữ vững ổn định xã hội. Thế nhưng, làm gì để hơn 1.000 con người ấy có được giấy tờ tùy thân một cách sớm nhất để họ có thể xin việc làm, đi học, di chuyển đó đây mà không bị làm khó?

Ông Văn Tiến Mùi – cán bộ tư pháp thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước nói: “Biết rằng không có giấy tờ tùy thân, người dân gặp khó. Nhưng việc quản lý nhà nước, có những cái vượt quyền hạn, địa phương không thể giải quyết ngay được”. Một trong những cái khó là chuyện nhập quốc tịch cho những người dân nói trên. Luật quy định, một người không có quốc tịch, phải có thời gian sinh sống tại VN từ 20 năm trở lên… Và, việc nhập tịch, phải có sự chuẩn y của Chủ tịch Nước. Vì vậy, việc nhập tịch cho hàng ngàn Việt kiều mới hồi hương từ Campuchia là không phải một sớm một chiều thực hiện được ngay.

Đông Anh 

Xóm Việt kiều không có tương lai ở Tây Ninh...

Trở về quê hương với hai bàn tay trắng, không giấy tờ, tài sản, quên gốc gác nơi mình sinh ra, những người làm cha, mẹ ở ấp Tà Dơ đã khiến cuộc sống của trẻ nhỏ liên lụy, khổ sở.
Xom Viet kieu khong co tuong lai o Tay Ninh - Anh 1Xóm Việt kiều Campuchia thuộc ấp Tà Dơ, xã Tân Thành, huyện Tân Châu, Tây Ninh. Xóm được thành lập khoảng năm 2012, lúc đầu có 4 - 5 hộ. Đến nay đã có trên 200 hộ với 1.000 nhân khẩu, tất cả đều từ Campuchia (Biển Hồ) về sinh sống.
Xom Viet kieu khong co tuong lai o Tay Ninh - Anh 2
Họ sống ở Campuchia nhiều năm, mưu sinh bằng nghề chài lưới, buôn bán nhỏ trên ghe. Vì cuộc sống trên con nước ở Biển Hồ quá khắc nghiệt, họ cảm thấy không an toàn nên đã tìm đường quay về Việt Nam. Trở về quê hương với hai bàn tay trắng, không giấy tờ, không tài sản, không nhớ được gốc gác nơi mình sinh ra. Người làm nghề đi giỏ (chài lưới), người mới về chưa có giỏ thì đi bạn (đi đánh cá chung) hoặc cạo chả cá thuê.
Xom Viet kieu khong co tuong lai o Tay Ninh - Anh 3
Ba mẹ không quốc tịch, không hộ tịch nên những đứa trẻ cũng chung số phận. Họ sống lay lắt qua ngày bằng số cá bắt được. Cuộc sống thiếu thốn đủ thứ, không điện, không tiện nghi, không nhà vệ sinh. Nhờ sự giúp đỡ từ các mạnh thường quân, thời gian gần đây họ được dùng nước sạch với giá 10.000 một hộ/tháng.
Xom Viet kieu khong co tuong lai o Tay Ninh - Anh 4
Những chiếc lán khoảng 9 m2 được dựng lên bằng những thân cây tạm bợ đang mọc lên tại khu đất ven hồ Dầu Tiếng được họ gọi là nhà. Đây là nơi sinh hoạt của 3 gia đình với 20 con người.
Xom Viet kieu khong co tuong lai o Tay Ninh - Anh 5
Gia đình nào cũng có từ 2 đến 5 con. Những đứa trẻ hầu hết được sinh ra tại Campuchia rồi theo ba mẹ về Việt Nam nên các em không có giấy khai sinh hay bất cứ giấy tờ nhân thân nào. Do đó các em đều không được đến trường đi học. Những em lớn đi bán vé số, chài lưới hoặc đi quét lá cao su với mức thu nhập từ 10.000 - 50.000 đồng/ngày.
Xom Viet kieu khong co tuong lai o Tay Ninh - Anh 6
Nhung (13 tuổi) là chị của 2 đứa em nhỏ. Ngày nào mẹ đi làm thì Nhung ở nhà trông em gái 2 tuổi. Ngày nào có thể gửi bé cho bà ngoại, Nhung lại đi làm thuê. Chỉ vài hôm nữa, ngôi nhà Nhung đang ở sẽ bị chủ lấy lại. Gia đình sẽ phải xin ở một cái lán khác. Em cũng đang chờ được gọi đi lột vỏ cây keo ở Đắk Lắk.
Xom Viet kieu khong co tuong lai o Tay Ninh - Anh 7
Những đứa trẻ ở đây, phần đông đều không rõ mình bao nhiêu tuổi. Các em cũng chẳng bao giờ được biết đến bộ quần áo mới. Quần áo của các em mặc hàng ngày chủ yếu là đồ cũ được cho.
Xom Viet kieu khong co tuong lai o Tay Ninh - Anh 8
Bữa ăn hàng ngày của những gia đình nơi đây hầu hết chỉ có cơm trắng và cá. Cá đi chài về được kho, chiên, nấu chua hoặc muối, phơi khô để ăn dần. Bé Lụa hồn nhiên kể về những bữa cơm của mình: “Em thích thịt heo có cục mỡ lắm mà lâu rồi không được ăn. Nhà em không có tiền mua, toàn ăn cá không à”.
Xom Viet kieu khong co tuong lai o Tay Ninh - Anh 9
Dù cuộc sống khó khăn nhưng những đứa trẻ vẫn hồn nhiên lớn lên, không lo nghĩ đến tương lai. Cuộc sống thường ngày của các em là rong ruổi, nô đùa khắp đồng cỏ.
Xom Viet kieu khong co tuong lai o Tay Ninh - Anh 10
Khi hỏi về ước mơ có những em không biết ước mơ nghĩa là gì. Chúng chỉ mong được ăn no, được có một ngôi nhà có tường để ở. Có những em ước mơ được đi học để biết chữ sau này kiếm được nhiều tiền phụ giúp ba mẹ nuôi các em.
Xom Viet kieu khong co tuong lai o Tay Ninh - Anh 11
Những đứa trẻ nơi đây, cứ thế lớn lên trong cuộc sống thiếu thốn, không biết đọc, không biết viết. Chúng chỉ biết hôm nay chứ chẳng rõ ngày mai như thế nào.
Xom Viet kieu khong co tuong lai o Tay Ninh - Anh 12
Dù không được đi học nhưng một số em vẫn được học chữ tại lớp của một cô giáo ở cách xóm 2-3 km, với giá mỗi buổi học 3.000 đồng. Bé Hồng chia sẻ: “Ngày nào đi học mẹ cho con 5.000 đồng, 3.000 đóng tiền học cho cô, 2.000 con mua đá bào của cô giáo”.
Xom Viet kieu khong co tuong lai o Tay Ninh - Anh 13
Những ngày mưa, là những ngày ngôi nhà xập xệ ướt sũng nước. Vì những tấm bạt, tấm ván chẳng thể che chắn gió, mưa tạt vào nhà.
Xom Viet kieu khong co tuong lai o Tay Ninh - Anh 14
Các em phụ ba mẹ mang những thân cây về đóng lán.
Xom Viet kieu khong co tuong lai o Tay Ninh - Anh 15
Chiều đến, các em kéo nhau ra hồ Dầu Tiếng tắm rửa. Được tắm mát, vui đùa với nước là khoảng thời gian vui nhất trong ngày của các em.
Xom Viet kieu khong co tuong lai o Tay Ninh - Anh 16
Sinh ra và lớn lên trên những dòng sông, cuộc đời của các em cũng lênh đênh không rõ bến bờ.
Xom Viet kieu khong co tuong lai o Tay Ninh - Anh 17
Đi giỏ từ 5h sáng, những người đàn ông trở về vào cuối buổi chiều. Cuộc sống của họ phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, thời tiết. Anh Minh vừa đi giỏ về chia sẻ: “Mấy nay mưa quá chỉ đủ cá cho bữa cơm chiều và bán kiếm ít tiền mua rau, gạo”.
Xom Viet kieu khong co tuong lai o Tay Ninh - Anh 18
Chỉ mới 12 tuổi nhưng Mến đã đi giỏ chung với chú ruột, làn da của em sạm đen vì nắng gió.
Xom Viet kieu khong co tuong lai o Tay Ninh - Anh 19
Những xe hàng mang theo thịt, trứng vào xóm nhưng người dân trong xóm Việt kiều này chủ yếu mua rau.
Khải Trần

Cuộc sống của người Việt ở Campuchia

Anh Vũ, thông tín viên RFA

Hồi đầu tháng 10 năm 2015, gần 1.500 nhà bè, nhà nổi của người Việt tại tỉnh Kampong Chhnang đã di dời khỏi nơi neo đậu sang vị trí mới.
Hồi đầu tháng 10 năm 2015, gần 1.500 nhà bè, nhà nổi của người Việt tại tỉnh Kampong Chhnang đã di dời khỏi nơi neo đậu sang vị trí mới.

Cộng đồng người Campuchia gốc Việt là dân tộc thiểu số đông đảo nhất ở Campuchia. Cuộc sống của họ hiện nay ra sao và gặp phải những khó khăn gì?

Gặp nhiều khó khăn

Theo báo cáo “Tiềm năng và phân bố của người Việt ở nước ngoài” do Học viện Ngoại giao công bố, hiện tại cộng đồng người Campuchia gốc Việt có khoảng 156 ngàn người, chủ yếu sinh sống ở các tỉnh phía Đông giáp với VN, tại thủ đô PhnomPenh và tỉnh SiamReap. Đây là cộng đồng người thiểu số lớn nhất ở Campuchia.

Chị Huệ, một Việt kiều là chủ nhân của một Văn phòng du lịch, tại khu vực Sisowath Quay, thủ đô Phnompenh cho chúng tôi biết về cuộc sống của chị hiện nay:

“Bây giờ cuộc sống ở bên này khó khăn lắm, không như ngày trước đâu, thu nhập tiền lương cũng không cao. Hiện nay người dân ở đây họ không thích mình, vì cuộc sống của họ rất là khó. Với tôi, tôi chỉ muốn qua đây được sinh sống hợp lệ, hòa đồng với mọi người, đừng để mọi người ghét hoặc xa lánh. Nói thật, cũng có nhiều người VN qua đây làm những điều không tốt, nên tôi không muốn như thế.”

Bây giờ cuộc sống ở bên này khó khăn lắm, không như ngày trước đâu, thu nhập tiền lương cũng không cao. Hiện nay người dân ở đây họ không thích mình, vì cuộc sống của họ rất là khó. 
-Chị Huệ

Trong hoàn cảnh khó khăn, nhưng cộng đồng Việt kiều tại Campuchia vẫn luôn gắn bó và giúp đỡ lẫn nhau. Tại chợ Oxay, nơi tập trung đông đảo người Việt, chị Liên một người nội trợ lấy chồng người Campuchia chia sẻ:

“Bọn tôi sống ở Campuchia, nhưng người VN mình ở đây thương yêu nhau lắm, cũng bởi vì người VN ở đây không thương nhau thì ai thương?”

Theo chị Huệ cho biết, gần đây trước tình trạng những người VN sang đây tìm việc làm quá đông, nên người dân Campuchia tỏ ra không thích người Việt, vì họ cho rằng những người này đã giành công việc kiếm sống của họ. Vì thế những Việt kiều ở đây cũng bị kỳ thị. Chị Huệ bày tỏ:

“Trước đây 20 năm thì thấy người dân họ sống hòa đồng với mình lắm, nhưng 2-3 năm trở lại đây thì họ không thích mình nữa nhưng không biết vì lý do gì? Do không thích mình, nên đi đến đâu họ cũng không hòa đồng với mình lắm. Vì vậy tôi hạn chế đi ra đường và cố gắng nói tiếng Campuchia để họ khỏi kỳ thị mình. Nhưng chỉ nhìn cái mặt mình là họ biết ngay mình là người VN. Khổ như vậy đó.”

Chị Trâm, một người bán hàng tạp hóa ở chợ Oxay xác nhận với chúng tôi:

“Bây giờ thì sự kỳ thị hơi bị rõ ràng, có một số người Campuchia khuyên tôi không nên nhận là người VN.”

Theo VnExpress ngày 18/3/2016 cho biết, theo báo cáo của Cảnh sát quốc gia Campuchia, từ đầu năm đến nay nước này đã trục xuất 1.069 người Việt trong số gần 1.400 người nước ngoài, trong nỗ lực siết chặt quản lý người nhập cư.

Chị Huệ cho rằng, tâm lý bài Việt đã có từ rất lâu ở Campuchia, nhưng gần đây người dân Campuchia tỏ ra bất bình, vì người VN sang Campuchia làm ăn không có giấy tờ, nhưng họ được tự do làm ăn và đi lại quá thoải mái. Đó chính là lý do khiến nhà chức trách Campuchia đã phải thay đổi chính sách và siết chặt quản lý. Điều đó có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của Việt kiều: Chị nói:

“Trước đây thì không sao, nhưng 2-3 năm trở lại đây họ thì thay đổi chính sách, họ bắt buộc những người VN không có giấy tờ phải đóng tiền visa cho Campuchia 290 USD/năm, còn những người không có passport thì họ bắt và đưa về nước. Vì thế tôi ở bên đây từ năm 1993, xin đổi lại cái Chứng minh thư ND mới, nhưng họ không cho.”

Đại sứ Quán VN tại Campuchia không quan tâm?

Theo trang tin tức của Giáo hội Công giáo Á châu cho biết, những người gốc Việt ở Campuchia không có giấy tờ nên không thể tiếp cận việc làm, học hành và các nguồn lực quốc gia. Điều đó đã khiến cho cộng đồng này bị cô lập và hết sức nghèo khổ qua nhiều thế hệ. Vì không có giấy tờ, nên họ không có quyền sở hữu đất, nên không được bồi thường khi bị thu hồi đất.

000_Hkg9538047
Một phụ nữ Việt Nam trên chiếc ghe ở làng nổi tỉnh Kampong Chhnang, khoảng 90 km về phía Đông Bắc của Phnom Penh năm 2013. AFP photo

Trả lời thông tín viên Quốc Việt của RFA, ông Châu Văn Chi, Chủ tịch Hội người Campuchia gốc Việt nhận định:

“Đối với bà con người Việt đang sinh sống hợp pháp tại Campuchia, đa số họ có nơi sanh đẻ tại Campuchia lâu đời. Tính tới thời điểm này, bà con đó đều được chính quyền địa phương thừa nhận. Nếu mà nói không hợp pháp thì làm sao bà con sinh sống ở đây được. Trong việc cấp giấy tờ, thì còn một số họ chưa được cấp quốc tịch. Nhưng vẫn có giấy xác nhận để bà con sống hợp pháp.”

Nói về sự quan tâm của Đại sứ Quán VN tại Campuchia, chị Huệ bày tỏ:

“Mình đến đó (ĐSQ) nhiều khi không còn việc gì nữa thì người ta mới hỏi mình vài ba câu thôi, còn những gì khó khăn khúc mắc thì mình đi đến đó họ không tiếp mình. Có nhiều người nói với tôi, khi đến Đại Sứ Quán, các ông ngồi trong, mình ngồi ngoài nhưng họ không tiếp mình.”

Chúng tôi đã nhiều lần liên lạc tới tham tán Nguyễn Mạnh Cường, phụ trách công tác cộng đồng thuộc Đại sứ quán VN tại Campuchia nhưng không nhận được sự trả lời.

Việc học hành của con em Việt kiều cũng hết sức khó khăn, đa phần các em chỉ được học trong những ngôi trường VN. Chị Huệ nói:

“Con tôi vì bố cháu là người Campuchia nên cháu được đi học ở trường Campuchia. Còn đối với người Việt khác thì con em họ chỉ được học ở trường Việt nam từ lớp 1đến lớp 5 thôi. Có người bảo tôi rằng, nếu muốn học tiếp thì phải về VN.”

Điều đáng mừng là con em của Việt kiều ở Campuchia đa phần vẫn nói được tiếng Việt, chị Liên cho biết:

“Các con tôi học ở trường của Campuchia và về nhà cũng nói thì nói tiếng Campuchia. Nhưng vì nghĩ mình là người VN nên chúng tôi cũng cố dạy cho các cháu nói tiếng Việt để giữ gốc Việt. Hồi cháu mới biết nói tiếng Việt là cháu nói được câu ‘tôi yêu VN’.”

Cũng như về mặt giáo dục, chị Huệ cho biết Việt kiều ở Campuchia không được nhà nước đảm bảo về mặt y tế cũng như vấn đề chữa trị bệnh. Chị nói:

“Không có bảo hiểm hay cái gì hết, bệnh viện bên này chúng tôi không đi, vì đến đó họ không tiếp mình. Ở đấy họ đối xử với người dân nước họ còn không ra gì, huống chi mình là người VN? Vì thế mỗi khi có đau ốm, bệnh hoạn gì thì chúng tôi đi về VN để chữa bệnh.”

Theo chị Huệ thì các sinh hoạt văn hóa truyền thống, như lễ tết và tôn giáo trong cộng đồng người Việt ở Campuchia được vẫn duy trì thường xuyên, tại đây có nhiều nhà thờ và các chùa chiền của người Việt. Nói về các nguyện vọng của mình, chị Huệ bày tỏ:

“Vì tôi có gia đình ở bên này nên chỉ mong nhà nước VN công tâm, cấp cho giấy tờ để tôi có thể sống với gia đình và con cái, để khi có chuyện gì xảy ra thì chúng tôi có giấy tờ để có thể được người ta giúp đỡ.”

Đến nay vẫn chưa có số lượng chính thức người Việt sinh sống và làm ăn tại Campuchia cụ thể là bao nhiêu người. Nhưng theo thông tin chính thức từ chính phủ của ông Hun Sen người Việt ở Campuchia chỉ có khoảng 95.000 người. Còn đảng đối lập và các tổ chức dân sự độc lập ở Campuchia cho biết con số người Việt ở Campuchia có thể lên đến 4 triệu người, theo họ phần lớn những người Việt ở Campuchia là những người nhập cư bất hợp pháp và không có giấy tờ rõ ràng. (RFA)


TÌM HIỂU ÂN OÁN VIỆT NAM vs CAMPODIA

Cách đây lâu rồi, tôi có hân hạnh được đọc bản thảo cuốn “When broken glass floats” của Chanrithy Him trước khi nó được xuất bản và trở thành một cuốn sách bán chạy khắp thế giới. Tôi đọc say mê, tím tái cả thân thể bởi câu chuyện rùng rợn của một đứa trẻ sống dưới chế độ Khơ-me Đỏ. Chỉ đến khi đọc tới câu cuối cùng, tôi mới như bị dội một xô nước lạnh vào mặt. Chanrithy nói rằng, cô “…thoát chết trong gang tấc, và trái tim cô gái nhỏ thắt lại, bởi cùng với nỗi khổ hạnh đã qua, cô nhìn thấy đất nước Campuchia đang chuẩn bị chìm trong bóng tối cuộc xâm lược từ một kẻ thù truyền kiếp: Việt Nam”.

Những cuộc biểu tình phản đối Việt Nam, những cuộc đụng độ và bài trừ dân Việt ở Campuchia đã diễn ra từ tháng 7 năm ngoái khi chính quyền thân Việt của Hun Sen thắng cử với nhiều cáo buộc gian lận. Đỉnh điểm vào ngày 6-6, Tham tán ĐSQ Việt Nam Trần Văn Thông tuyên bố rằng miền Nam VN đã chính thức thuộc về VN từ rất lâu, trước cả khi Pháp chiếm đóng. Bắt đầu từ tuyên bố này, cờ Việt bị đốt, người Việt bị thanh trừng, lãnh đạo đảng đối lập liên tục gọi thiểu số Việt là “yuon” (savage/man rợ [*]). Trên face của tôi, bạn bè quốc tế liên tục inbox hỏi thăm, bàn bè làm ăn ở Cam cũng cập nhật tình hình lo ngại, báo chí quốc tế hối hả bình luận. Nhưng đương nhiên, cả trăm triệu dân Việt ở ngay sát nách Campuchia phần lớn vẫn nằm duỗi chân ăn mừng quốc khánh của dải đất hình chữ S. Tại sao báo chí VN không đưa tin?

“Nước mày hình chữ C thì có, “Cờ” … kứt ý!” – một bình luận viên gõ như vậy trên một facebook cá nhân mà tôi quen. Hẳn nhiên, comment vô văn hóa này không thể khiến tôi ngồi yên. Căm ghét kẻ dám xúc phạm quê hương là một chuyện, nhưng tôi cũng thấy mình có trách nhiệm phải đi tìm bằng được những lý giải cho nỗi căm ghét đó. Lịch sử ngày bé tôi học chỉ thấy nói người Cam biết ơn người Việt, đâu có nói đến sự căm hận đến mức như vậy?

Vương quốc Khmer nằm kẹp giữa hai láng giềng lớn Việt Thái dần dần mất đất từ nhiều lý do khác nhau. Người Campuchia có câu: “cây thốt nốt mọc đến đâu, đất (xưa) của người Cam trải dài đến đó”. Sách sử Việt Nam có một cách gọi khác, hào hùng hơn: “mang gươm đi mở nước”. Hẳn nhiên, đây là một đường đi phát triển tất yếu của xã hội loài người “cá lớn - cá bé” ở đâu cũng vậy. Đường biên của các bộ lạc, thành phố tự trị, lãnh thổ chư hầu, đế chế và nay là quốc gia đã luôn luôn đổi thay dựa vào thế mạnh yếu của từng xã hội. Lịch sử mà VN gọi là “mang gươm đi mở nước” thực chất là một quá trình lâu dài và phức tạp của nhiều yếu tố chứ không chỉ là thanh gươm: di dân, đồng hóa, áp đặt, thỏa hiệp, và cả đánh chiếm từ Bắc xuống Nam (đề nghị xem thêm các tài liệu tham khảo đã liệt kê ở dưới).

Chính vì vậy, bất kỳ một quốc gia nào cũng nuôi ít nhiều hằn thù với các nước láng giềng bởi những hiềm khích không thể tránh khỏi trong quá trình xác định biên giới bờ cõi. Đối với người Cam, đế chế KHmer rộng lớn khi xưa bị mất hẳn là một lịch sử tơi bời, và điều này có thể khiến chúng ta hiểu tại sao Campuchia chưa bao giờ hết xích mích với người Thái và chưa bao giờ tin tưởng vào người Việt. Khi Việt Nam với tham vọng thành lập một liên mính chống Pháp trên toàn Đông Dương, trực tiếp giúp thành lập Đảng dân tộc cách mạng Campuchia (tiền thân của Đảng Cộng sản Campuchia, tức Khmer Đỏ), thì hai bên trở thành đồng minh thân thiết. Tuy nhiên, đằng sau vỏ đồng minh là niềm uất hận mất nước không bao giờ nguôi ngoai, thậm chí biến thành dã tâm tiêu diệt 50 triệu người Việt đến kẻ cuối cùng. Khmer Đỏ cho rằng Việt Nam âm mưu thành lập Khối Đông Dương (Indochina Federation) và dắt mũi các nước khác trong đó có Campuchia. Với hai lý do này, Khmer Đỏ yêu cầu Việt Nam trả lại đất tổ tiên (đề nghị xem thêm các tài liệu tham khảo đã liệt kê ở dưới)

Với quân số nhỏ hơn nhiều lần, nhưng Khmer Đỏ liên tục thực hiện các cuộc tàn sát đẫm máu dọc biên giới Việt – Cam làm hơn 300.000 người thiệt mạng. Ngày 17-4-1977, chính quyền VN vẫn còn gửi thông điệp chúc mừng chính quyền Khmer Đỏ sau 2 năm thành lập. Đáp lại lời chúc này, 2 tuần sau, đúng dịp 30-4, quân Khmer bất ngờ tấn công thẳng vào An Giang và Châu Đốc, giết hại hàng trăm dân thường. VN đáp trả. Cuối cùng, chịu không nổi những cuộc đụng độ và tàn sát dã man, cộng với lý do cho là Campuchia cấu kết với Trung Quốc, Việt Nam quyết định chính thức kết thúc mối quan hệ đồng minh lúc đó chỉ còn trên danh nghĩa và lật đổ chính quyền Khmer Đỏ bằng vũ lực. Lấy cớ Khmer phạm tội diệt chủng, quân VN tiến vào “giải phóng” Campuchia, lật đổ chính quyền của kẻ từng là đồng minh.

Tuy nhiên, VN không ĐÁNH rồi RÚT, mà dựng lên chính quyền bù nhìn thân Việt và bắt đầu thời kỳ hơn 10 năm đóng quân và ảnh hưởng. Lý do thì có nhiều, trong đó có việc VN muốn diệt hoàn toàn tàn quân Khmer Đỏ. Lưu ý rằng đến tận năm 92, khi các hiệp định quan trọng đã được ký kết thì Khmer Đỏ vẫn tiếp tục tìm giết người Cam gốc Việt với hy vọng họ sẽ không thể bỏ phiếu. Trong khi người Việt gọi đây là cuộc giải phóng nước láng giềng anh em và giúp bạn xây dựng đất nước, chính bản thân người Cam và hầu hết các tư liệu lịch sử ngoài biên giới VN lại cho rằng đây là cuộc xâm lược - (invasion). Khi tôi đến nhà tù S21 nơi trưng bày hàng trăm cái đầu lâu của dân Cam bị giết, giấy trắng mực đen ở đây vẫn tuyên bố VIệt Nam xâm lược Campuchia. Tại sao người Cam coi VN là quân xâm lược? Một lý giải cho cách hiểu này là do VN không bó hẹp các hoạt động của mình tại Cam trong phạm vi quân sự để tiêu diệt tàn quân Khmer, mà nhúng tay quá sâu vào chính trường, áp đặt ảnh hưởng của mình lên chính trường Campuchia, hoặc có những chính sách thiếu khôn khéo khiến nhiều người Cam cho rằng VN không chỉ kết thúc chế độ diệt chủng mà còn đang lũng đoạn hệ thống chính trị Cam. Cần phải phân biệt rõ ràng hai chuyện này với nhau, vì đây là hai thái độ tình cảm riêng biệt. Họ mang ơn vì một chuyện (Khmer Đỏ), nhưng mang oán vì một chuyện hoàn toàn khác (thao túng chính trị). Tuy nhiên, Trung Quốc coi việc VN dựng lên chính quyền bù nhìn thân Việt là một hành động qua mặt “láo xược” của đàn em nên đã khơi nguồn cuộc chiến tranh biên giới 79 để chia lửa với Khmer Đỏ, và để dằn mặt, nhằm bắt Việt Nam dời quân từ phía Nam lên phía Bắc, tạo điều kiện cho Khmer Đỏ lấy lại sức mạnh (xem trích nguồn bên dưới **).

Trong thời kỳ trụ lại Campuchia, Việt Nam bị dư luận thế giới lên án mạnh mẽ với lý do đã dùng vũ lực chiếm đóng nước khác. Nhiều tư liệu cho rằng các quyết định của chính quyền Campuchia trong thời kỳ này đều phải qua sự kiểm duyệt cuối cùng của VN. Mỗi bộ trưởng Cam đều đi kèm một cố vấn người Việt, chưa kể các cố vấn cho thứ trưởng. 80 nước trên thế giới và Liên Hiệp Quốc công nhận chính quyền Khmer Đỏ là chính quyền duy nhất đại diện cho Campuchia, phủ nhận chính quyền bù nhìn do VN lập nên. Nhiều quốc gia dù CÔNG NHẬN CÔNG TRẠNG của VN trong việc xóa bỏ chế độ man rợ của Khmer Đỏ, nhưng lại không tin rằng ý đồ nguyên thủy của VN là thực sự muốn kết thúc chế độ diệt chủng Khmer. Nhiều nước coi việc VN đánh đổ Khmer chỉ là hệ quả phụ của một ván bài chính trị sau khi Khmer tấn công dân thường VN và không còn là đồng minh của chính quyền VN. Thaí Lan không những cưu mang những thành viên thất trận của Khmer Đỏ mà còn cùng khối ASEAN yêu cầu VN lập tức rút quân để người Cam có thể thực hiện một cuộc bỏ phiếu mà không bị ảnh hưởng của thế lực nước ngoài. Một số nghiên cứu thậm chí cáo buộc VN vi phạm nhân quyền khi phong tỏa lương thực các vùng do tàn quân Khmer Đỏ chiếm giữ, khiến hệ quả phụ là hơn 600.000 dân Campuchia chết đói (xem trích dẫn nguồn ở dưới**).

Người Việt lâu nay vốn hay coi thường người Cam, cộng thêm sự kiêu hãnh/ thậm chí thành kể cả ngạo mạn của kẻ tự cho mình là quân giải phóng cứu dân Cam khỏi họa diệt chủng, sự mù mờ dối trá của môn lịch sử đang giảng dạy tại nhà trường (mà thực chất là môn chính trị học, sàng lọc sự kiện)… là những lý do khiến Việt Nam thiếu sự đề phòng với đất nước láng giềng vẫn còn như con thú bị thương này. Bạn tôi nói một bộ phận người Cam nhìn người Việt còn nhiều nghi ngờ sâu sắc hơn cả người Việt nhìn người Trung Quốc. Những người biểu tình chống VN hiện nay ở Cam không đòi lại đất ngày xưa mà chỉ yêu cầu người phát ngôn của VN rút lại lời tuyên bố hồi tháng 6 về thực trạng chủ quyền một phần miền Nam VN trước khi Pháp đô hộ. Những kẻ cực đoan và bị kích động thì yêu cầu đuổi người Cam gốc Việt về nước.

Sẽ còn mất nhiều thời gian để chúng ta hiểu rằng tại sao 15.000 chiến sĩ hy sinh xương máu ở Campuchia với 30.000 người bị thương mà một bộ phận dân Campuchia lại nhanh chóng chuyển từ biết ơn sang oán thán? Tại sao 5% thiểu số người Việt phần lớn là dân nghèo làm nghề chài lưới hiện ở Cam bị một số người bản xứ nhìn nhận như kẻ thù hơn là những người nhập cư đến làm ăn sinh sống? Bản thân tôi sẽ phải tự đi tìm câu trả lời tại sao gia đình của chính mình phải chịu cảnh chia cắt khi đất nước đã thống nhất mà người đàn ông (ba tôi) vẫn phải tiếp tục lên đường cầm súng ở một chiến trường khác ? Tại sao Khmer Đỏ gọi Việt Nam là “cá sấu”? Cuốn sách đen (The Black book) của Khmer ám chỉ rằng chẳng ai tin con cá sấu, kể cả khi nó rơi nước mắt.

Vậy tại sao tôi viết post này? Lý do thứ nhất đơn giản vì báo chí VN không đưa tin, hoặc đưa tin nhỏ giọt. Bất kể một người dân bình thường nào cũng có quyền được biết nếu quốc kỳ của họ bị đốt ở một xứ ngoại bang. Họ có quyền được biết, và có quyền được hiểu tại sao lại nên cơ sự. Có bạn bảo là tôi đổ dầu vào lửa. Ơ hay, ở Cam mới có lửa chứ ở VN thì đã làm gì có dầu mà đòi châm lửa. Nhiều người Việt không hề biết cờ Tổ Quốc bị đốt, rằng người láng giềng ghét mình như mẻ, thì tôi dựng cột khói báo tín hiệu cho hay. Nghe tin dữ yếu tim không chịu được thì mắng người đưa tin là sao? Lại nữa, có bạn kêu vừa đi Cam về xong, chả thấy gì? Đương nhiên là bạn không thấy gì rồi. Bạn muốn trước khi người ta đốt cờ VN sẽ gửi email thông báo đến tất cả mấy chục triệu người ở khắp Campuchia để họ và bạn chuẩn bị mang máy ảnh đến chứng kiến chắc? Hay là bạn muốn bản thân mình ngồi trong quán cà phê mà thấy được tất cả những gì diễn ra ở mọi xó xỉnh trên đời? Ai mà cũng như Phật Bà ngàn mắt ngàn tay thấy được mọi thứ như thế thì cần cóc gì đến báo chí? Trong cuốn Con Đường Hồi giáo tôi vừa xuất bản, có hẳn một chương tôi ở Syria cả tháng trời giữa lúc đất nước nội chiến mà chẳng thấy một giọt máu. Bạn không -thấy-gì không có nghĩa là không-có-gì xảy ra.

Thứ hai, tôi cho rằng sách sử Việt Nam không đưa ra cái nhìn khách quan chân thực. Hẳn nhiên, chúng ta sẽ không-bao-giờ có được cái nhìn khách quan tuyệt đối, nhưng với sự va chạm của những nguồn tư liệu khác nhau không bị kiểm duyệt, chúng ta có thể cố gắng chạm vào gần hơn đến Sự Thật.

Lý do thứ ba, tôi muốn hiểu tại sao người Cam chưa bao giờ ghét người Trung Quốc như ghét người Việt, dù TQ từng chống lưng Khmer Đỏ, thậm chí từ trước khi TQ đầu tư hàng tỷ đô la vào đây và viện trợ đầy phóng khoáng cho Cam? Tại sao Campuchia bỏ phiếu phản lại nỗ lực của khối ASEAN bảo vệ chủ quyền biển Đông chống Trung Quốc tại hội thảo ASEAN 2 năm trước?
Tại sao bên cạnh rất nhiều những người Cam yêu VN lại có những người Cam ghét người Việt đến thế? Tại sao cờ Tổ Quốc tôi bị đốt cháy? Tại sao người Việt ở Cam đang ngày đêm lo sợ?
Tại sao xương máu của bao người Việt ngã xuống mà vẫn không thể đổi lại được lòng tin và tình bằng hữu của nước láng giềng? Tại sao VN tốn kém sức người sức của đến thế mà đổi lại chỉ là một sự nghi ngờ từ phía dân chúng? Nếu ván bài chính trị này tính sai, VN được gì ngoài sự ngã xuống của hàng vạn thanh niên để đổi lại một gia tài oán hận? Khi Hun Sen không còn nắm quyền, VN sẽ xử lý ra sao với một Campuchia thân TQ, xử lý ra sao với tình trạng cả phía Nam lẫn phía Bắc bị bủa vây bởi những láng giềng không hữu hảo?
Ai thực sự biết ơn VN, người Cam hay Hoàng gia Cam? Có phải họ tuy biết ơn VN đã cứu thoát khỏi họa diệt chủng nhưng không thể nguôi đi nỗi thù mất nước từ xa xưa? Có phải họ chịu ơn cứu mạng của VN nhưng lại nhanh chóng bị mất lòng tin khi thấy quân VN sau khi đánh đổ chế độ diệt chủng thì không rút đi mà tiếp tục ở lại, thành lập rồi giật dây chính quyền bù nhìn Heng Samrin? 
Có phải những hận thù này đang được cố tình đổ dầu vào lửa, được các đảng phái chính trị đối lập với độc tài Hun Sen ở Cam lợi dụng cho những ván bài chính trị mới, kích động một bộ phận dân chúng tuy nhỏ nhưng hung hăng để tạo phản ứng dây chuyền, và kẻ chịu nạn là những người Cam gốc Việt vô tội?

Hận thù với láng giềng thì hầu như nước nào cũng có. Và tôi tin rằng hận thù nào cũng có thể hóa giải. Trân trọng quá khứ và cởi mở với nhau là điều kiện tiên quyết để tạo nên các mối giao hảo vững bền. Hơn bao giờ hết, quyền lợi của các quốc gia đang được thắt chặt vào nhau.

Hãy nhìn châu Âu mà xem, giết nhau hàng bao nhiêu thế kỷ mà giờ đường biên thênh thang không có cả lính gác. Tạo sao? Bởi châu Âu cũng như rất nhiều nước ngoài châu Âu không ngần ngại phán xét lịch sử của chính mình, phân tích chi ly cái gì đúng cài gì sai, chửi rủa những lỗi lầm của chính mình, liên tục nhắc thế hệ đi sau về những sai phạm của thế hệ đi trước. Có bạn tên @Phạm Trang comment ở dưới nói rằng có đất nước nào bôi xấu lịch sử của mình đâu. Sai! Lịch sử VN thì đương nhiên là ta làm cái gì cũng đúng. Nhưng nếu bạn bước ra thế giới sẽ thấy nhiều nước văn minh không dùng lịch sử như một thứ đồ trang điểm cho đẹp hay công cụ tuyên truyền mà là một KHOA HỌC, tức là có đúng có sai, có phản biện và tranh luận. Cứ cách vài chục bước chân ở trung tâm Berlin bạn sẽ thấy những tấm biển lớn, chữ hai thứ tiếng Anh-Đức thông báo về những sự kiện lịch sử đen tối của Quốc Xã đã từng diễn ra ở địa điểm hay tòa nhà này trong quá khứ. Trẻ con Hà Lan được học về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc dã man ở Nam Phi mà chính cha ông họ dựng lên, thậm chí bài quốc ca của họ vẫn còn nguyên trạng lời hát: "chúng ta nguyện trung thành với hoàng đế Tây Ban Nha”. Người Pháp và Anh thẳng thắn nhìn nhận hậu quả của những năm dài đô hộ thế giới, lập ra hàng trăm quỹ cứu trợ để hòng chuộc lại một phần lỗi lầm. Người Mỹ không che giấu sự thật về những vụ tàn sát người da đỏ. Thậm chí cả những nước có chủ nghĩa dân tộc cao như Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã bắt đầu công nhận cuộc diệt chủng người Armenia. Thế giới vừa kỷ niệm 100 năm chiến tranh thế giới thứ nhất, hàng triệu bông hoa được cài lên áo cho TẤT CẢ những chiến sĩ ngã xuống ở cả hai phe, bất phân ta-địch.

Người chết luôn luôn được tôn trọng, nhưng những nguyên nhân và hệ quả của chiến tranh, những quyết định của KẺ LÀM LÃNH ĐẠO thì phải được nhìn nhận rõ ràng đúng sai. Phán xét lịch sử KHÔNG ĐỒNG NGHĨA với phán xét hành động hy sinh xương máu của các chiến sĩ mà là phán xét quyết định của người làm lãnh đạo, gửi quân ra chiến trường. Nói một cách khác, phải phán xét đúng sai để có thể tiết kiệm và tránh được đổ máu cho những người lính của hiện tại và tương lai. Như vậy, cái chết của họ mới không thành những con số vô nghĩa. Tại sao những quốc gia này làm thế? Bởi lịch sử sẽ trở nên vô dụng nếu ai cũng chăm chăm cho rằng mình làm gì cũng đúng, nếu sai thì thì có những lý do này nọ để thông cảm được. Chỉ có tôn trọng lịch sử, nhìn nhận và phán xét đúng sai rõ ràng thì những mối thâm thù mới có thể hóa giải, mới thấy cái chết là không cần thiết, những người từng giết nhau mới có thể nắm tay nhau trở thành bạn làm ăn.

Mối quan hệ Việt Cam may mắn chưa đến mức thảm sát nghiêm trọng như những ví dụ tôi nêu ra ở trên, nhưng cũng lại phức tạp hơn vì trắng đen không rõ ràng, người Cam vừa mang ơn vừa mang oán. Các làn sóng nghi ngờ, thậm chí thù hằn đối với người Việt là có thật. Tôi tin rằng hai nước Việt Cam hoàn toàn có thể để quá khứ sang một bên, hóa giải ân oán như chúng ta đã từng làm với Nhật, Pháp, Mỹ. Nếu chúng ta có thể tha thứ được cho kẻ thù, tại sao không thể lắng nghe tâm tư của kẻ mình từng cứu nạn? Và để hóa giải thì buộc phải có sự chân thành, phải có thành ý thực sự muốn tìm hiểu tại sao người hàng xóm lại ghét và nghi ngờ tấm chân tình của mình đến thế dù được mình cứu sống. Trước khi mắng họ vô ơn, hãy kiềm chế cơn giận và lắng nghe họ giãi bày.

Đường biên giới Việt Cam có thể sẽ không bao giờ thay đổi nữa. Cũng như những đường biên giới khác trên thế giới này sẽ không bao giờ thay đổi nữa. Tôi cũng như hàng triệu người Việt khác sẽ luôn ôm vào lòng hình ảnh đất nước hình chữ S. Nhưng tôi cũng sẽ phải hiểu rằng, cùng với hình ảnh lá cờ Tổ Quốc bị đốt cháy, lịch sử không bao giờ khép lại hay sang trang. Người ta chỉ cố tình hay vô ý quên nó đi trong chốc lát mà thôi.


(*) Nhiều người Cam gọi Việt là “youn”, nhưng một số không hiểu nghĩa. Một cách lý giải khác cho từ này là do chiết xuất từ chữ Yueh theo cách người Tàu gọi người Việt.

(**) Con số người Cam chết được trích từ tư liệu của cuốn “Cambodia’s Curse: The Modern History of a Troubled Land” (Lời nguyền của Campuchia: Lịch sử hiện đại của một mảnh đất đầy trắc trở), tác giả Joel Brinkley

(***) Sách tham khảo thì rất rất nhiều. Tuy nhiên đây là hai cuốn tôi cho là có khá nhiều thông tin cho những ai muốn tìm một ý kiến ngoài cuộc về lịch sử của mối quan hệ Việt Cam. Không nhất thiết phải đồng ý, nhưng đọc để tham khảo và biết các nhà sử học quốc tế nhìn nhận chúng ta như thế nào: 
- “Why Vietnam Invaded Cambodia: Political Culture and the Causes of War” (Tại sao Việt Nam xâm lược Campuchia - Văn hóa chính trị và nguyên nhân của cuộc chiến), tác giả Stephen J. Morris 
- Genocide by Proxy: Cambodian Pawn o­n a Superpower Chessboard (Con tốt đen Campuchia trong ván cờ của các nước lớn), của tác giả Micheal Haas.

1. Bạn gọi quá trình VN mở rộng xuống phía Nam là gì tùy bạn. Ở post này, tôi chỉ đưa ra hai cách nhìn, một là của lịch sử VN (mở nước). Hai là của người Cam (mất nước). Bản thân tôi chấp nhận cả hai. Quan điểm của tôi là luôn nhìn lịch sử thông qua những mất mát cũng như vinh quang của cả hai phe.

2. Người Cam đương nhiên biết ơn người Việt, Hun Sen lại càng biết ơn tợn. Thế nên ông ấy mới lên tiếng đính chính là “người Việt không xâm lược Campuchia mà là revive (cứu sống) Campuchia. Không có người Việt, dân Cam chắc không chỉ dừng lại ở con số hơn 2 triệu người chết dưới bàn tay diệt chủng man rợ của Khmer Đỏ.

3. Tuy nhiên, cùng với sự biết ơn đó là sự oán ghét CHƯA thể nguôi ngoai. Tâm lý người Cam vì vậy rất nhạy cảm, vì họ vừa biết ơn lại mang oán. Thế nên mới có chuyện trong khi chúng ta tưởng họ mang ơn mình thì họ đốt cờ VN. Mối thù này tuy không bùng phát ra ngoài, không phải ai ai cũng mang trong đầu, chỉ một số nhỏ dân chúng bị kích động, nhưng nó là mối thù có thật, và nó được các đảng đối lập lợi dụng triệt để để thu hút phiếu bầu. Post này để cho bạn biết cái gì đang diễn ra, và cá nhân tôi đang cố gắng tìm hiểu tại sao nó lại diễn ra như thế. Đừng có đặt chữ vào mồm tôi, cho là tôi ủng hộ các đường biên quốc gia trên thế giới có thể vẽ lại. Vẽ lại thế quái nào được. Ai mà cũng đòi trả lại đất đai từ xa xưa thì thành Israel-Palestine hết à? Mệt lắm các nhà suy diễn ạ! Đừng có hồ đồ kết luận tôi phản động, vô ơn, về phe nọ phe kia, không tôn trọng xương máu người ngã xuống. Bạn nào mắc lỗi này tôi xin block thẳng luôn. Đơn giản vì bạn đã vi phạm một trong những nguyên tắc tối thiểu của tranh luận văn minh: chỉ thảo luận về ý kiến chứ không xúc phạm cá nhân người nêu ý kiến.

4. Vì vậy post này là hành trình cá nhân tôi đi tìm câu hỏi tại sao người Cam mang ơn mà trả oán. Nhiều bạn cứ thích xoáy vào những dẫn chứng lịch sử, không chịu mở lòng đặt mình vào vị thế của người Cam để có thể hiểu được nỗi lòng của họ. Thậm chí có bạn còn ngang nhiên nói rằng bản chất của người Cam là như thế: VÔ ƠN. Nói thế thì có khác gì những người Trung Quốc mắng VN vô ơn, được TQ giúp cho bao nhiêu đạn dược để đánh nhau mà lại phản bội lại công hàm Phạm Văn Đồng? Có bao nhiêu người TQ có thể ngồi xuống bình tĩnh lắng nghe người Việt giải thích ngọn ngành? Nếu mình không thể làm được thế với Campuchia thì đừng đòi hỏi TQ phải hiểu tại sao VN nổi giận.

5. Một số bạn bảo sao lại nói ra chuyện này, không có lợi. Tôi cho rằng nhiều người Việt không hể biết một bộ phận dân Cam lại có thể ghét mình đến mức này. Phải lựa chọn giữa hai trường hợp: (1) Sống cạnh một người hàng xóm ghét mình nhưng mình BIẾT TẠI SAO nó ghét mình, và (2) Sống cạnh một người hàng xóm ghét mình nhưng minh KHÔNG HỀ BIẾT, lại cứ tưởng nó MANG ƠN mình nhiều lắm. Bạn chọn cách nào?

6. Đừng có đòi tôi phải đưa ra giải pháp. Tôi là dân đen giống như bạn, thấy chuyện thì tri hô lên, cùng lắm là tốn công mày mò thêm để hiểu "tại sao”. Chúng ta trả thuế cho nhà nước làm cái việc “tìm ra giải pháp”. Tôi không phải là nhà nước.

7. Tuy nhiên, nếu bạn hỏi tôi sẽ làm gì với tư cách cá nhân, thì tôi xin thưa là sẽ gửi tất cả những người bạn Campuchia mình quen biết một lá thư, nói rằng mày biết không, có một ông nhà thơ ở nước tao tên Nguyen Duy nói rằng: “bên nào thắng thì nhân dân cũng bại”. Tao hiểu tại sao mày cáu, tao hiểu tại sao mày ghét người Việt. Tao hứa sẽ tìm hiểu thêm về lịch sử. Chuyện của chính quyền với nhau, xin mày đừng lẫn lộn với chuyện của dân đen.

Các bài báo về vấn đề này đây nhé! Tôi chọn 4 link, để tạo sự khách quan, một link của Cam, link của Việt (hai thứ tiếng của báo Thanh Niên và Dân Trí), hai link còn lại của phương Tây, và Al-jazeera được tôi coi như hãng thông tấn có vai trò làm cân bằng cán cân với phương Tây.

Báo chính thống của Campuchia
http://www.cambodiadaily.com/news/khmer-krom-protesters-burn-vietnamese-flag-66356/

Báo nhà mình
http://dantri.com.vn/kieu-bao/mot-nguoi-viet-tai-campuchia-bi-danh-hoi-dong-den-chet-839801.htm
http://www.thanhniennews.com/politics/vietnam-pm-asks-cambodia-to-discourage-antivietnamese-nationalism-30108.html

Hãng thông tấn Al-jazeera
http://www.aljazeera.com/indepth/features/2014/01/cambodia-protests-unmask-anti-vietnam-views-2014122101345786547.html

Hãng thông tấn Reuter
http://www.reuters.com/article/2014/04/29/us-cambodia-racism-idUSBREA3R1CN20140429

Nguyễn Phương Mai

Tình cảnh của 750.000 người Việt sống ngoài vòng pháp luật tại Campuchia

Do nhiều lý do, 3/4 triệu người Việt tại Campuchia hiện đang không có quốc tịch tại nước này.

Theo tính toán có tới 750.000 người Việt được cho là sống ở Campuchia, khoảng 5% dân số của nước này, nhưng không ai chắc chắn về con số này. Đa số họ đều không có quốc tịch, chỉ một số ít là công dân Campuchia.

Người Việt không thể mua đất xây nhà tại Campuchia vì họ không có giấy tờ hợp lệ, đa số đã chọn cách định cư trên các làng nổi dọc theo các con sông lớn của Campuchia, nơi họ đánh cá và bán cho các tiểu thương địa phương.

Trần Anh Tuấn, là một ngư dân 51 tuổi sống tại làng Phoum Kandal, một ngôi làng có gần 1.000 hộ gia đình trên hồ Tonle Sap (Biển Hồ). Gia đình ông Tuấn đã sống và làm việc ở đây nhiều thập kỷ. Theo ông Tuấn, bà ngoại của ông đã tới đây từ trước chiến tranh thế giới lần 2.

Ông Tuấn kể rằng ông chưa bao giờ rời khỏi nơi sinh sống, kể cả khi Khmer Đỏ nhắm đến cộng đồng người Việt trong những năm 1970. "Họ chết rất nhiều ở đó, trên núi" ông Tuấn kể lại quá khứ kinh hoàng của người gốc Việt dưới thời Khmer Đỏ.

Nhưng ông Tuấn không có quốc tịch Campuchia, với lý do chính chủ yếu là vì ông là người Việt. "Tôi không thể là một công dân. Thậm chí nếu bạn từng ở Việt Nam 5 hoặc 6 năm, bạn sẽ không bao giờ được cấp thẻ công dân ở đây" ông Tuấn nói và nhấn mạnh thêm là khi người Việt yêu cầu được nhập quốc tịch Campuchia họ sẽ bị làm lơ.

Luật Quốc tịch Campuchia quy định rằng người nước ngoài sinh sống hợp pháp tại nước này có thể xin cấp quốc tịch, nhưng khó có thể chứng minh tính hợp pháp của mình mà không có một công việc thích hợp và phải có giấy tờ hợp pháp.

"Chìa khóa ở đây là "hợp pháp" người gốc Việt luôn bị mặc định là bất hợp pháp", ông Sourn Butmao, giám đốc của tổ chức Quyền của người Thiểu số (Miro), một tổ chức phi chính phủ địa phương nói.

"Có sự phân biệt đối xử trong mọi thứ vì không có giấy tờ hợp pháp mọi người không thể tìm việc và con cái của họ không được đi đến trường", ông Butmao nói.

Tóm lại, vì không có quốc tịch, khoảng 750.000 người gốc Việt đang sinh sống tại Campuchia bị đặt ra khỏi vòng pháp luật nước này. Bị kỳ thị, không có cơ hội phát triển tương lai, sống trong tình trạng bấp bênh vì thiếu học vấn.

Vì là "người nước ngoài" người Việt không được phép bỏ phiếu, tiếp cận y tế là điều gần như không thể vì họ quá nghèo. "Tôi từng tới bệnh viện chỉ một lần, giờ đây tôi không thể đến đó vì không có tiền", một phụ nữ ở làng Phoum Kandal kể lại, trên cơ thể cô người ta có thể thấy dấu hiệu của những căn bệnh về da.

Câu cá trên sông chỉ có thể cung cấp đủ chi phí cho cuộc sống của một gia đình cơ bản, gần như không đủ để mọi người ở Phoum Kandal sử dụng các tiện ích khác. Thậm chí, gần làng có một ngôi trường nổi, chịu tiếp nhận các học sinh từ làng với chi phí không thể rẻ hơn là 1.500 đồng cho 2 giờ học nhưng người dân ở đây vẫn không thể cho con mình theo học.

Chương trình học tại ngôi trường nổi đó là chương trình từ Việt Nam đưa sang, với cô giáo là người bản xứ vì người Việt tại Campuchia chỉ biết tiếng Việt và không thể nói tiếng Khmer.

Có một sự lựa chọn khác cho người gốc Việt đó là cho con em mình đến học tại một ngôi trường được xây dựng vào năm 2012 do Miro tài trợ, dưới sự điều hành của chính phủ Campuchia. Ngôi trường này chấp nhận tất cả các học sinh mà không cần có giấy tờ hợp pháp.

Nhưng vấn đề khác lại nổi lên khi làng Phoum Kandal phải dời đi cách xa ngôi trường do Miro tài trợ. Kết quả là việc nhập học trở nên quá đắt đỏ và số học sinh tại đây đã giảm từ 133 em xuống còn 101 em, nhưng ông Butmao vẫn còn lạc quan về tương lai.

"Thông qua nhận thức tốt hơn, tình hình có thể thay đổi. Nhưng phải mất một thời gian dài, có thể là 10 năm hoặc 20 năm", ông Butmao nói.

Đặt vấn đề pháp lý qua một bên, vấn đề là lịch sử giữa hai nước Việt và Campuchia vẫn có nhiều vấn đề khó giải quyết. Người Campuchia nói chung không thích người Việt cũng là một vấn đề khiến những người Việt tại Campuchia phải sống ngoài vòng pháp luật.

Trong những năm 1970, người Việt bị đàn áp trong cả hai chế độ Lon Nol và Khmer Đỏ, hoặc bị ép phải quay về Việt Nam sinh sống. Trong sách "Tương lai quan hệ từ quá khứ: Campuchia" của sử gia Bien Kiernan cho biết dưới thời Khmer Đỏ khoảng "150.000 người Việt đã bị trục xuất khỏi Campuchia, 10.000 người bị giết chết. Đây là một sự diệt chủng có hệ thống nếu so với số người Trung Quốc và Hồi giáo thiểu số bị đàn áp".

Thiên Hà (theo Asia Sentinel)


Tình cảnh người Việt tại Campuchia nửa thế kỷ qua

Những diễn biến chính trị tại Campuchia kể từ thập niên 1950 và ảnh hưởng của chúng lên người Việt chỉ ra rằng, nhận thức của giới “tinh hoa” Campuchia về người Việt, với tư cách một nhà nước đã tác động đến thái độ và việc hoạch định chính sách liên quan đã ảnh hưởng tiêu cực đến Việt kiều trong thời gian hơn nửa thế kỷ qua. Các chính sách phân biệt đối xử do nhà cầm quyền Campuchia thực hiện và các vụ tấn công do các chính sách này khuyến khích đã dẫn đến việc xóa bỏ chính thức cộng đồng người Việt vào những năm 1970, thời điểm khoảng 420.000 người Việt bị trục xuất hoặc phải chạy trốn về Việt Nam. Thập niên 1980, người Việt có xu hướng quay trở lại Campuchia. Các vụ tấn công vì động cơ chính trị nhằm vào người Việt được tiến hành nhiều lần vào thập niên 1990 và chúng đặt ra một mối đe dọa thực sự cho cộng đồng người Việt.
* Người Việt tại Campuchia từ thời điểm độc lập năm 1953
Thời kỳ Sihanouk: 1953 đến 1970
Sau khi Campuchia giành được độc lập từ tay Pháp vào năm 1953, nhà cầm quyền Campuchia nỗ lực điều chỉnh hoạt động của các cộng đồng nhập cư trong nước, trong đó có người Việt. Campuchia buộc đa số họ phải nhập tịch Campuchia. Quan hệ của Campuchia với hai chính quyền Việt Nam trở thành vấn đề ngày càng gây quan ngại khi chiến tranh Việt Nam leo thang vào thập niên 1960, kéo theo sự gia tăng quan điểm chống người Việt. Khó có thể xác định chắc chắn quy mô của cộng đồng người Việt do những tiêu chuẩn được áp dụng để phân loại các nhóm sắc tộc là khác nhau. Theo các cuộc điều tra dân số chính thức dùng quốc tịch làm cơ sở phân loại chẳng hạn thì có 217.774 người Việt vào năm 1962. Ước tính đáng tin cậy nhất thể hiện số người Việt tại Campuchia là khoảng 450.000 vào cuối những năm 1960, trên tổng dân số khoảng 7.300.000 người (Migozzi, 1973).
Cộng hòa Khmer: 1970 đến 1975
Sau một cuộc khủng hoảng chính trị ngày càng sâu sắc, Hoàng thân Norodom Sihanouk bị phế truất khỏi vị trí Nguyên thủ Quốc gia vào tháng 3 năm 1970 và Cộng hòa Khmer được thành lập. Việc phế truất được tiến hành khi một chiến dịch tuyên truyền chống người Việt đang diễn ra. Trên thực tế, chỉ trích đối với Sihanouk phần lớn tập trung vào lập trường được cho là ủng hộ người Việt của ông. Chiến dịch tuyên truyền chống lại cộng đồng người Việt sớm chuyển thành các cuộc bạo động và tấn công khắp đất nước Campuchia. Nhà cửa, thuyền bè, tài sản và các đền thờ tôn giáo của người Việt bị tấn công. Văn phòng và nơi ở tại Phnom Penh của các đại diện ngoại giao từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Việt Nam DCCH) (miền Bắc) và Chính phủ Cách mạng Lâm thời hình thành bên trong Việt Nam Cộng hòa (Việt Nam CH) (miền Nam), bị cướp phá. Bạo lực chống lại người Việt leo thang khi các phần tử thuộc lực lượng vũ trang và cảnh sát tham gia vào các vụ tấn công và tàn sát. Đây là nguyên nhân gây nên cái chết của hàng ngàn người Việt.
Thay vì bảo vệ người Việt, nhà cầm quyền mới của Campuchia đề xuất nhiều biện pháp phân biệt đối xử. Người Việt chỉ được phép đi lại từ 7 đến 11 giờ sáng, họ không thể đến trường và đi làm. Ngư dân người Việt bị thu hồi giấy phép đánh bắt. Các tổ chức công và tư cũng như những người sống trong nhà ở thuộc sở hữu nhà nước bị cấm thuê mướn lao động người Việt. Ngoài ra, nhà cầm quyền khuyến cáo không được dùng tiếng Việt nơi công cộng.
Nhà cầm quyền Việt Nam CH đã can thiệp một cách chính thức. Nhà cầm quyền Campuchia dần nhận thức được hậu quả quốc tế tiêu cực của các vụ tấn công nhằm vào người Việt và điều này đã kéo theo một sự thay đổi về quan điểm. Nhà cầm quyền Campuchia kêu gọi người dân tích cực bảo vệ người Việt trên tinh thần duy trì mối liên hệ mật thiết giữa nhân dân hai nước. Việt Nam CH và chính quyền Campuchia đã đạt được một thỏa thuận về vấn đề người Việt ở Campuchia vào ngày 27 tháng 5 năm 1970.
Bất chấp những tín hiệu mới, người Việt tiếp tục trốn chạy khỏi nơi ở của mình và tìm chốn nương náu trong 18 trại tị nạn vốn được thành lập tại một số thành phố Campuchia – chủ yếu là ở Phnom Penh – nhằm đương đầu với dòng người tị nạn trong nước. Tháng 5 năm 1970, lượng người trong các trại tị nạn lên đến con số đỉnh điểm 90.000. Từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1970, số người tị nạn này được trả về Việt Nam CH. Ngày 13 tháng 8, trại tị nạn cuối cùng bị đóng cửa tại Phnom Penh. Tuy nhiên, cuộc di cư của người Việt từ Campuchia vẫn tiếp tục và tới cuối tháng 9 năm 1970, tổng cộng 197.378 người Việt đã chính thức trở về Việt Nam CH. Theo nhà cầm quyền Việt Nam CH, 28% số người hồi hương tuyên bố họ là công dân Campuchia. Trên thực tế, nhà cầm quyền Việt Nam CH ước tính 300.000 người Việt sống ở Campuchia trước cuộc di tản đã mang quốc tịch Campuchia. Tháng 3 năm 1971, Việt Nam CH chính thức ước tính khoảng 250.000 người Việt từ Campuchia đã được hồi hương (Pouvatchy, 1976).
Campuchia Dân chủ: 1975 đến 1979
Sau cuộc chiến tranh lâu dài và gian khổ, Chính phủ Hoàng gia của Liên minh Quốc gia Campuchia do Đảng Cộng sản Campuchia (ĐCS Campuchia) dẫn dắt đã chiếm được thủ đô Phnom Penh vào ngày 17 tháng 4 năm 1975 và đánh bại Cộng hòa Khmer. ĐCS Campuchia dần kiểm soát toàn bộ quyền lực chính trị trong nước. Đất nước được đổi tên thành Campuchia Dân chủ. Người Việt tiếp tục phải di tản khi có khoảng 170.000 người bị trục xuất khỏi Campuchia vào năm 1975. Ước tính có khoảng 200.000 người Việt vào giữa thập niên 1970, như vậy chỉ còn khoảng 30.000 người còn lưu lại Campuchia và đa số chết vì đói khát, bệnh tật hoặc bị hành hình trong khoảng thời gian từ 1975 đến 1978. Điều này có nghĩa là người Việt hầu như hoàn toàn biến mất khỏi Campuchia.6 ĐCS Campuchia duy trì quyền lực cho đến khi bị lật đổ thông qua một cuộc can thiệp quân sự do Việt Nam khởi xướng vào ngày 25 tháng 12 năm 1978.
Cộng hòa Nhân dân Campuchia/Nhà nước Campuchia: 1979 đến 1992
Sau khi Phnom Penh sụp đổ vào đầu tháng 1 năm 1979, một chính quyền Campuchia mới được thành lập và sau đó đổi tên nước thành Cộng hòa Nhân dân Campuchia (CHND Campuchia). Thời kỳ của CHND Campuchia/Nhà nước Campuchia7 kéo dài trên thực tế cho đến khi thành lập Chính quyền Quá độ của Liên Hiệp Quốc tại Campuchia vào tháng 3 năm 1992. Chính quyền gặp phải kháng cự vũ trang từ ba nhóm – lực lượng Campuchia Dân chủ bị lật đổ còn được biết đến là Đảng Campuchia Dân chủ, tức Khmer Đỏ; Mặt trận Giải phóng Dân tộc Nhân dân Khmer; và Đảng Bảo hoàng FUNCINPEC. Họ thành lập Chính phủ Liên hiệp Campuchia Dân chủ vào ngày 22 tháng 6 năm 1982.
Trật tự mới thiết lập tại Campuchia vào đầu năm 1979 diễn ra với sự hỗ trợ lớn của Việt Nam và những người từng tị nạn ở Việt Nam thời kỳ 1975-1978 đã quay trở lại Campuchia. Tiến trình này không chỉ bao gồm người Khmer mà cả người Việt, dẫn đến sự tái xuất hiện của một bộ phận thiểu số người Việt ở Campuchia. Sự quay lại của người Việt đã gây ra lo ngại quốc tế khi người Việt được xem là một phần trong quá trình “Việt Nam hóa” đất nước này. Dù người Việt là những người từng bị buộc rời khỏi Campuchia suốt thập niên 1970 hay những người di cư mới, họ đều bị xem là một phần của kế hoạch lớn hơn của Việt Nam nhằm gây ảnh hưởng và thậm chí biến Campuchia thành thuộc địa.
Người Việt định cư tại Campuchia trở thành một trong những vấn đề chính trong luận điệu của các nhóm Campuchia chống lại CHND Campuchia/Nhà nước Campuchia cũng như ảnh hưởng của Việt Nam lên đất nước này. Đại sứ tại Liên Hiệp Quốc của Campuchia Dân chủ9 đã đưa ra những ước tính về số người định cư Việt Nam vào năm 1979 là 300.000 và vào năm 1981 là 500.000. Năm 1984, Chủ tịch Chính phủ Liên hiệp Campuchia Dân chủ, Hoàng thân Norodom Sihanouk, đưa ra con số 600.000. Năm 1986, ông cho rằng có 700.000 người Việt đã định cư tại Campuchia. Năm 1988, Son Sann, Thủ tướng Chính phủ Liên hiệp Campuchia Dân chủ, tuyên bố con số nằm trong khoảng 800.000 tới 1 triệu. Năm 1989, ông ta cho rằng có 1 triệu người Việt định cư ở Campuchia.
Năm 1983, các chính sách chính thức của CHND Campuchia đối với cư dân Việt Nam được phác họa trong một ấn phẩm của Bộ Ngoại giao (“Chính sách của Cộng hòa Nhân dân Campuchia”, 1983). CHND Campuchia ước tính tới giữa năm 1983, có khoảng 56.000 cư dân Việt Nam tại Campuchia và họ đã quay lại sau khi CHND Campuchia cho phép (“Chính sách của Cộng hòa Nhân dân Campuchia”, 1983, trang 7). Chính sách chính thức của CHND Campuchia đối với người Việt là nhằm quản lý chứ không phải ngăn chặn vấn đề di cư của người Việt sang Campuchia.
Có một sự chênh lệch đáng kể giữa tuyên bố của CHND Campuchia về 56.000 người Việt năm 1983 và xác nhận của Chính phủ Liên hiệp Campuchia Dân chủ về 600.000 người định cư năm 1984. Cần lưu ý rằng năm 1984, tổng dân số Campuchia được ước tính vào khoảng 7,2 triệu người, tức là xấp xỉ ngang bằng với thời điểm cuối những năm 1960.
Văn liệu khoa học không đưa ra bất kỳ đánh giá rõ ràng nào về các số liệu hay quy mô thực tế của cộng đồng người Việt ở Campuchia. Một vài nhà nghiên cứu chỉ đơn giản trích dẫn những tuyên bố của Chính phủ Liên hiệp Campuchia Dân chủ hoặc tìm cách chứng minh những tuyên bố này (Martin, 1984; Pouvatchy, 1984; “The Vietnamisation of Kampuchea”, 1984). Các nhà nghiên cứu khác đã đưa ra những ước tính khiêm tốn hơn so với Chính phủ Liên hiệp Campuchia Dân chủ nhưng lại cao hơn số liệu của CHND Campuchia năm 1983. Theo những ước tính này, số người Việt dao động trong phạm vi từ 300.000 đến 450.000, tức là có quy mô thấp hơn hoặc ngang bằng thời điểm trước khi diễn ra hai cuộc di tản vào thập niên 1970 (Chandler, 1993; Tarr, 1992; Vickery, 1986).
Chiến dịch Gìn giữ Hòa bình của Liên Hiệp Quốc: 1992 và 1993
Sau một tiến trình hòa bình vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990 vốn đưa đến việc ký các Hiệp định Paris về Campuchia vào tháng 10 năm 1991, một chiến dịch gìn giữ hòa bình được tiến hành bởi Liên Hiệp Quốc tại Campuchia kể từ tháng 3 năm 1992, tức là khi Chính quyền Quá độ của Liên Hiệp Quốc tại Campuchia (UNTAC) chính thức được thành lập, cho đến tháng 9 năm 1993 khi sứ mệnh của UNTAC kết thúc sau khi một hiến pháp mới của Campuchia được Hội đồng Lập hiến thông qua.
Từ cuối tháng 6 năm 1992, quan điểm chống người Việt dường như gia tăng với tiếng nói áp đảo nhất từ các đại diện của Đảng Campuchia Dân chủ. Tuy nhiên, đại diện của Mặt trận Giải phóng Dân tộc Nhân dân Khmer cũng thể hiện quan điểm tương tự. Có vẻ như mục đích là nhằm tạo áp lực thúc giục UNTAC hành động và giải quyết những vấn đề mà họ nhận thức là vấn đề người Việt. Đầu tháng 7, Đảng Campuchia Dân chủ bắt đầu đem sự hiện diện của người Việt tại Campuchia vào lời chỉ trích của mình đối với Liên Hiệp Quốc, cho rằng UNTAC đang thờ ơ trước một đợt nhập cư được xem là ồ ạt và bất hợp pháp của người Việt. Đảng Campuchia Dân chủ cho rằng 700.000 người Việt đã có thẻ căn cước Campuchia. Tư tưởng chống người Việt dường như được củng cố hơn khi một dòng người Việt đổ vào Campuchia do bị lôi cuốn bởi sự tự do hóa kinh tế và sự hiện diện của hàng ngàn viên chức UNTAC cũng như người nước ngoài có thu nhập cao.
Các bên trước đây của Chính phủ Liên hiệp Campuchia Dân chủ (sau đổi thành Chính phủ Quốc gia Campuchia) cố gắng hạn chế số người Việt có khả năng tham gia vào các cuộc tổng tuyển cử theo kế hoạch. Điều này thể hiện rõ nhất trong cuộc thảo luận diễn ra trước khi Luật Bầu cử được thông qua vào năm 1992. Vấn đề những ai được phép bỏ phiếu trong các cuộc tổng tuyển cử của Campuchia đã khiến cho bốn bên Campuchia có mặt trong Hội đồng Quốc gia Tối cao phải bận tâm. 11 Ngày 5 tháng 8 năm 1992, Hội đồng Quốc gia Tối cao thông qua luật bầu cử do UNTAC soạn thảo. Luật bầu cử trao quyền bỏ phiếu cho mọi cá nhân 18 tuổi sinh ở Campuchia, có bố hoặc mẹ sinh tại đất nước này, hoặc trường hợp những người sinh ra ở nước ngoài thì phải có bố hoặc mẹ sinh ở Campuchia và ông hoặc bà cũng phải được sinh ra ở nước này. Điều này đã tạo nên một sửa đổi đối với các quy định của Hiệp định Paris về Campuchia, nêu rõ mọi cá nhân 18 tuổi sinh ở Campuchia hoặc là con của một người sinh ở Campuchia sẽ có đủ tư cách bỏ phiếu. Đảng Campuchia Dân chủ phản đối luật bầu cử chủ yếu vì luật này cho phép người Việt ở Campuchia được bỏ phiếu. Mục đích của luật là nhằm tước quyền bầu cử của những người Việt mới định cư, không phải người Việt sống tại đất nước này thời kỳ trước năm 1970.
Dòng quan điểm chính trị không phải là ví dụ duy nhất cho các hoạt động chống người Việt ở Campuchia. Tháng 4 và tháng 5 năm 1992, hai vụ tấn công vũ trang nhằm vào người Việt ở tỉnh Kompong Chhnang đã khiến bảy người chết. Vụ tấn công khác diễn ra vào ngày 21 tháng 7 tại tỉnh Kampot gây ra cái chết của tám người Việt. Vào tháng 10, các vụ tấn công vũ trang nhằm vào người Việt ở tỉnh Koh Kong đã dẫn đến thương vong nhiều hơn nữa. Ba vụ tấn công khác nhằm vào người Việt cũng diễn ra vào tháng 10 và tháng 11 tại Sihanoukville. Hai vụ tấn công được đưa tin vào tháng 12, ngày 16 tại tỉnh Stung Treng và ngày 27 tại tỉnh Kompong Chhnang. Sau một thời gian không có vụ tấn công nào diễn ra vào tháng 1 và tháng 2, các đợt tấn công tăng lên đột ngột vào tháng 3 sau một tuyên bố của UNTAC vào ngày 1 tháng 3 rằng họ phát hiện ba người Việt từng phục vụ cho lực lượng Việt Nam tại Campuchia và là những người UNTAC xem là lực lượng nước ngoài. UNTAC yêu cầu Việt Nam đưa ba người này trở về với tư cách công dân Việt Nam. Trong suốt tháng 3, nhiều vụ tấn công được tiến hành nhằm vào người Việt ở Campuchia. Ngày 10 tháng 3, tại một ngôi làng ở tỉnh Siem Reap, một vụ tấn công đã khiến 33 người Việt thiệt mạng và 24 người bị thương. Hai vụ tấn công nữa nhằm vào người Việt được UNTAC báo cáo trong tháng 3. Lần thứ nhất vào ngày 24 tháng 3 tại tỉnh Kompong Chhnang. Lần thứ hai vào ngày 29 tháng 3, ít nhất bốn khu vực tại Phnom Penh mà những người nói tiếng Việt hay lui tới bị tấn công. Các vụ tấn công này khiến cho đông đảo người Việt bỏ chạy khỏi Campuchia từ cuối tháng 3, và tới ngày 28 tháng 4, tổng cộng 21.659 người đã vào Việt Nam thông qua các trạm kiểm soát của UNTAC. Các vụ tấn công vũ trang nhằm vào người Việt tiếp tục diễn ra vào tháng 4 và tháng 5. Thậm chí sau cuộc tuyển cử vào cuối tháng 5, các đợt tấn công vẫn được báo cáo vào tháng 6.12
Sau cuộc tuyển cử vào cuối tháng 5, các đảng chính trị đại diện trong Hội đồng Lập hiến đã thành lập Chính quyền Lâm thời chung – Chính phủ Quốc gia Campuchia Lâm thời – để điều hành đất nước cho đến khi một Hiến pháp mới được thông qua và Hội đồng Lập hiến được chuyển thành một hội đồng lập pháp. Ngày 1 tháng 7, Hội đồng Lập hiến bỏ phiếu tín nhiệm Chính phủ Lâm thời.
Diễn biến sau Chiến dịch Gìn giữ Hòa bình
Các diễn tiến chính trị không khiến cho các vụ tấn công làm người Việt thiệt mạng chấm dứt mà tấn công vẫn tiếp tục diễn ra vào các ngày 6, 8 và 10 tháng 7, đồng thời một vụ tấn công còn diễn ra vào tháng 8. Các vụ tấn công này đã dẫn đến những phản đối chính thức từ Việt Nam.
Trong suốt quá trình rút lui của UNTAC từ tháng 8 đến tháng 12 năm 1993, Hiến pháp mới của Campuchia đã được thông qua. Xem xét kỹ hơn Hiến pháp cho thấy nó không chứa đựng bất kỳ điều khoản nào quy định vấn đề bảo vệ nhân quyền hay bất kỳ nghĩa vụ và đặc quyền nào dành cho kiều dân nước ngoài sống ở Campuchia. Hiến pháp quy định các quyền và nghĩa vụ của công dân Campuchia mà không nhắc đến thành phần dân tộc của các công dân này.13 Vì vậy, bản thân Hiến pháp không loại trừ bất cứ nhóm sắc tộc nào ra khỏi tư cách công dân Campuchia. Tuy nhiên, vào cuối tháng 9 năm 1993, có báo cáo cho thấy trong các tranh luận tại Quốc hội về vấn đề ai được xem là người Campuchia, các thành viên Quốc hội mở rộng khái niệm nhằm bao gồm người Chăm và người Hoa nhưng loại trừ người Việt. Vì vậy, địa vị cũng như quyền lợi của người Việt ở Campuchia tiếp tục là một vấn đề gây tranh cãi.
Từ tháng 9 năm 1993 đến tháng 3 năm 1994, không có vụ tấn công vũ trang nào nhằm vào người Việt để dẫn tới phản đối chính thức từ Việt Nam. Sau đó, đầu tháng 4, các vụ tấn công lại tiếp tục. Cũng vào tháng 4 năm 1994, một thông cáo chung Campuchia-Việt Nam được đưa ra khi chuyến thăm Campuchia của Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt kết thúc. Thông cáo tuyên bố rằng một tổ công tác sẽ được thành lập nhằm thảo luận và giải quyết vấn đề người Việt ở Campuchia theo pháp luật Campuchia và pháp luật quốc tế. Thông cáo cũng cho biết người Việt sẽ được đối xử như các kiều dân khác (BBC, 1994).
Suốt quãng thời gian còn lại của năm 1994, quan hệ giữa hai chính phủ tập trung vào vấn đề người Việt ở Campuchia, trước hết là liên quan đến các vụ tấn công nhằm vào người Việt kèm theo sự phản đối của Việt Nam trước các cuộc tàn sát người Việt, sau đó là liên quan đến Luật Di trú do Quốc hội Campuchia thông qua vào ngày 26 tháng 8.14 Việc ban hành luật này làm gia tăng lo ngại từ phía Việt Nam rằng luật sẽ được áp dụng để chống lại người Việt.
Vụ tấn công đầu tiên của giai đoạn này diễn ra vào tháng 5 tại tỉnh Kompong Chhnang. Vụ tấn công thứ hai cũng xảy ra tại tỉnh này vào ngày 3 tháng 7. Vụ tấn công thứ ba xảy ra ngày 15 tháng 7 tại tỉnh Pursat. Vụ tấn công thứ tư diễn ra ngày 26 tháng 7 tại tỉnh Kampot. Một vụ tấn công khác xảy ra ngày 5 tháng 9 tại tỉnh Kandal. Vụ tấn công gây chết người tiếp theo xảy ra ngày 20 tháng 10 tại tỉnh Kompong Chhnang. Vụ tấn công gây chết người cuối cùng của năm 1994 diễn ra ngày 7 tháng 12 tại tỉnh Kandal.
Chuyến thăm của Thủ tướng thứ nhất Campuchia, Hoàng thân Norodom Ranariddh, tới Việt Nam vào tháng 1 năm 1995 đã đem lại cho hai nước cơ hội thảo luận về vấn đề người Việt ở cấp độ chính trị cao nhất. Họ đồng ý tổ chức một cuộc họp các chuyên gia để thảo luận về vấn đề. Campuchia cam kết rằng Luật Di trú sẽ không nhằm mục đích hạn chế hay trục xuất các kiều dân Việt Nam. Campuchia cũng tuyên bố sẽ cố gắng hết sức, tuân theo các quy định của Campuchia và trong khả năng cho phép, đảm bảo an toàn cho người Việt tại Campuchia (BBC, 1995a, 1995b).
Cuộc họp đầu tiên của tổ công tác cấp chuyên gia về vấn đề người Việt ở Campuchia được tổ chức tại Phnom Penh vào ngày 29 và 30 tháng 3. Báo cáo cho hay hai bên đã có “những thảo luận thẳng thắn, thân tình” và đạt được “một số kết quả” (BBC, 1995c). Cuộc họp thứ hai được tổ chức ở Hà Nội vào ngày 28 và 29 tháng 7 đồng thời đi đến một thỏa thuận về các biện pháp ổn định cuộc sống cho số người Việt tị nạn tại Chrey Thom thuộc tỉnh Kandal. Hai bên cũng đồng ý tiếp tục thảo luận về các vấn đề khác. Sau đó vào ngày 28 tháng 10, Campuchia tuyên bố người Việt tạm cư ở Chrey Thom sẽ được gửi trả về các tỉnh thành của họ trong lãnh thổ Campuchia.
Đầu tháng 4 năm 1996, Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt thăm chính thức Campuchia. Trong thông cáo báo chí được đưa ra trong chuyến thăm, các vấn đề về kiều dân Việt Nam tại Campuchia là chủ đề gây chú ý và hai bên nhất trí các tổ chuyên gia sẽ tổ chức cuộc họp thứ ba tại Phnom Penh càng sớm càng tốt. Nếu rốt cục được tổ chức thì cuộc họp đã không được công khai.
Tháng 5 năm 1996, các vụ tấn công nhằm vào người Việt lại tái diễn và Việt Nam đã phản đối vụ giết hại 14 người Việt tại tỉnh Pursat. Sau đó vào đầu tháng 8, Việt Nam tuyên bố 50 kiều dân Việt Nam sống ở Campuchia đã quay về Việt Nam sau cuộc thảm sát 25 người Việt của Đảng Campuchia Dân chủ. Ngày 10 tháng 10, Đại sứ quán Việt Nam tại Phnom Penh phản đối vụ giết hại hai kiều dân Việt Nam tại tỉnh Kompong Chhnang.
Ngày 9 tháng 10 năm 1996, Luật Quốc tịch Campuchia được ban hành. Luật định rõ các tiêu chuẩn để mang quốc tịch Campuchia cũng như các yêu cầu mà người nước ngoài phải đáp ứng nhằm có được quốc tịch Campuchia, nghĩa là được nhập tịch.15 Việt Nam không chính thức công khai bất kỳ quan ngại nào về cách thức luật sẽ được áp dụng đối với người Việt tại Campuchia.
Năm tháng cuối năm 1996 và bước sang năm 1997, quan hệ giữa hai nước đã cải thiện thông qua các chuyến viếng thăm lẫn nhau. Tháng 11 năm 1996, báo cáo cho hay Campuchia có các bước đi nhằm cấp giấy phép tạm cư cho người Việt đã có mặt tại đất nước này trước năm 1993. Trong giai đoạn này, chuyến viếng thăm quan trọng nhất diễn ra vào cuối tháng 2 năm 1997, khi Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm đến thăm Campuchia. Hai bên nhất trí rằng các cuộc đàm phán nhằm tìm ra giải pháp phù hợp để giải quyết các vấn đề liên quan đến kiều dân Việt Nam tại Campuchia sẽ được tiếp tục.
Tình hình người Việt tại Campuchia vẫn khó giải quyết và đến cuối tháng 5 năm 1997, Đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia chính thức phản đối nhà cầm quyền Campuchia về các vụ tấn công của Đảng Campuchia Dân chủ nhằm vào người Việt. Bốn vụ tấn công đầu tiên diễn ra ngày 22 tháng 4. Vụ tấn công thứ hai và thứ ba diễn ra ngày 27 tháng 4 tại tỉnh Ratanakiri. Vụ tấn công thứ tư cũng diễn ra tại tỉnh Ratanakiri vào tháng 5. Thêm nữa, bằng chứng cho tư tưởng chống người Việt là một vụ đánh bom nhằm vào đài tưởng niệm Quân Tình nguyện Việt Nam tại Sihanoukville.
Việc Thủ tướng thứ nhất, Hoàng thân Norodom Ranariddh, bị phế truất vào tháng 7 năm 1997 và việc bầu Ung Huot vào vị trí này đã đưa đến một giai đoạn quan hệ song phương được cải thiện. Nửa sau năm 1997 và quý đầu của năm 1998, không còn phản ứng nào từ Việt Nam trước các vụ tấn công nhằm vào người Việt ở Campuchia.
Sau đó vào tháng 4, Đảng Campuchia Dân chủ xác nhận đã giết hại 45 người và làm bị thương nhiều người Việt tại tỉnh Kompong Chhnang. Bằng chứng xa hơn về tình trạng bấp bênh của người Việt đó là tuyên bố chống người Việt của phe đối lập trong cuộc vận động bầu cử diễn ra trước cuộc tổng tuyển cử được tổ chức vào ngày 26 tháng 7 năm 1998. Căng thẳng chính trị giữa các đảng Campuchia dẫn đầu sau tuyển cử và quy trình khó khăn trong việc thành lập một chính phủ liên hiệp được biểu thị bằng những hành động chống lại người Việt. Đầu tiên là vụ tấn công Tượng đài Hữu nghị Việt Nam – Campuchia tại Phnom Penh vào cuối tháng 8. Tiếp theo là hai sự cố vào ngày 3 và 4 tháng 9 khiến ba người Việt thiệt mạng, năm người bị thương và 10 người bị bắt cóc tại Phnom Penh.
Việc thành lập một chính phủ liên hiệp mới tại Campuchia vào ngày 25 tháng 11 đã mở ra một thời kỳ mà ở đó tình hình chính trị ổn định hơn và các hành động nhằm vào người Việt cũng suy giảm. Đáng chú ý là bài diễn văn của Thủ tướng Hun Sen trước Quốc hội Campuchia về cương lĩnh của chính phủ liên hiệp mới vào ngày 30 tháng 11 năm 1998 có đoạn nêu rằng Chính phủ “tuyệt đối ngăn cấm tình trạng phân biệt chủng tộc, một hành động vi phạm pháp luật và nhân quyền” (BBC, 1998).
Giai đoạn từ tháng 12 năm 1998 đến tháng 7 năm 1999 diễn ra nhiều cuộc gặp cấp cao và vấn đề người Việt được đề cập trong các cuộc gặp này. Bất chấp các cuộc gặp cấp cao cũng như mối quan tâm của các cuộc gặp này về vấn đề người Việt ở Campuchia, các vụ tấn công nhằm vào người Việt vẫn diễn ra vào tháng 2 và tháng 3 năm 1999 tại khu vực Phnom Penh.
Đầu năm 2000, các quan điểm chống người Việt tại Campuchia lại có biểu hiện phục hồi với ba cuộc biểu tình do sinh viên Campuchia tiến hành vào tháng 1 năm 2000. Hai cuộc biểu tình diễn ra nhằm phản đối các thỏa thuận biên giới giữa Campuchia và Việt Nam được ký vào thập niên 1980, trong khi cuộc biểu tình thứ ba bên ngoài Đại sứ quán Việt Nam lại yêu cầu Đại sứ quán đưa các kiều dân Việt Nam ở Campuchia hồi hương. Vào tháng 3, các tăng ni và sinh viên tổ chức các cuộc biểu tình trước chùa Chak Angre Leu và trước Đại sứ quán Việt Nam tại Phnom Penh, thúc giục chính phủ Campuchia trục xuất những người Việt Nam sống ở khu vực chùa.
Các vụ tấn công chấm dứt thời kỳ thập niên 2000
Sau các sự kiện này, các vụ tấn công nhằm vào người Việt ở Campuchia giảm xuống. Trên thực tế, không còn những phản ứng công khai từ Việt Nam liên quan đến các mặt tiêu cực trong tình hình người Việt ở Campuchia, ngoại trừ một vụ hỏa hoạn đã phá hủy nhà cửa và ảnh hưởng đến bộ phận người Việt tại thủ đô Campuchia vào cuối năm 2001 (Amer, 2006).
Báo cáo từ các cuộc gặp cấp cao giữa Campuchia và Việt Nam chỉ nhắc đến chung chung hoặc không nhắc đến vấn đề người Việt kể từ những năm đầu thập niên 2000. Điều này cũng có thể nhận thấy trong các báo cáo từ các cuộc gặp cấp cao gần đây. Cụ thể, trong chuyến thăm Việt Nam của Quốc vương Campuchia Norodom Sihamoni vào tháng 9 năm 2012, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng khi tiếp kiến Quốc vương “đã đề nghị Campuchia… tạo điều kiện thuận lợi để người Việt có được một cuộc sống ổn định tại Campuchia” (Bộ Ngoại giao Việt Nam, 2012b, đoạn 12). Còn trong chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Quốc hội Campuchia Heng Samrin vào tháng 7 năm 2012, Thủ tướng Việt Nam đề nghị Quốc hội Campuchia “tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho kiều dân Việt Nam sinh sống và làm việc tại Campuchia” (Bộ Ngoại giao Việt Nam, 2012a, đoạn 11). Tuyên bố chung đưa ra trong chuyến thăm Campuchia vào tháng 12 năm 2011 của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng có đoạn nêu rằng “hai bên quyết định tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi và đối xử bình đẳng với cư dân của nhau như các công dân nước ngoài khác” (Bộ Ngoại giao Việt Nam, 2011b, đoạn 9). Ngoài ra, tuyên bố chung còn có đoạn: “Phía Việt Nam đánh giá cao cũng như biết ơn Chính phủ và nhân dân Campuchia vì đã tạo điều kiện pháp lý cho kiều dân Việt Nam sinh sống tại Campuchia” (Bộ Ngoại giao Việt Nam, 2011b, đoạn 10). Các hoạt động của người Việt tại Campuchia cũng được Việt Nam nêu bật. Cụ thể, năm 2011, báo cáo cho hay đại hội đầu tiên của Hội Việt kiều Campuchia (HVKC) nhiệm kỳ 2011-2015 đã được tổ chức tại Phnom Penh vào đầu tháng 3 (Bộ Ngoại giao Việt Nam, 2011a). Một trong những báo cáo nhiều thông tin nhất của Việt Nam đã được đưa ra trong chuyến thăm Campuchia của Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam kiêm Chủ tịch Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài Nguyễn Thanh Sơn diễn ra vào tháng 3 năm 2009. Trong cuộc gặp với Bộ trưởng Bộ Nội vụ Campuchia Prum Sokha, vị Bộ trưởng được cho là đã “cam kết rằng Chính phủ Campuchia sẽ xem xét và đẩy nhanh tiến trình trao địa vị pháp lý cho kiều dân Việt Nam” (Bộ Ngoại giao Việt Nam, 2009, đoạn 4). Ngoài ra, ông còn được trích lời nói rằng: “Chính phủ Campuchia đã linh hoạt áp dụng Luật Di trú 1994 và Luật Quốc tịch 1996 đối với người Việt ở Campuchia, nhờ đó đem lại điều kiện sống tốt hơn cho họ” (Bộ Ngoại giao Việt Nam, 2009, đoạn 4).
Cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 7 năm 2003 dường như không được đánh dấu bằng luận điệu chống người Việt từ các đảng đối lập như các cuộc bầu cử trước đây mặc dù luận điệu này vẫn còn rõ ràng. Các hoạt động chống người Việt vẫn tồn tại ở đất nước này nhưng không còn những vụ tấn công gây chết người. Xu hướng này có vẻ nổi trội sau bầu cử bất chấp những mối bất hòa sâu sắc giữa các đảng chính trị chủ chốt của Campuchia trước khi đảng Nhân dân Campuchia CPP và đảng Bảo hoàng FUNCINPEC đồng ý thành lập một chính phủ liên hiệp mới vào mùa hè năm 2004. Cuộc bầu cử quốc gia năm 2008 – mà kết quả là đảng CPP củng cố thêm vị trí áp đảo của mình bằng cách giành 90 ghế trong tổng số 123 ghế Quốc hội, tăng so với 73 ghế năm 2003 – có vẻ như ít có luận điệu bài người Việt so với các cuộc bầu cử trước đây.17 Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là những định kiến dành cho người Việt biến mất trong xã hội Campuchia hay tất cả thành viên trong cộng đồng người Việt đều nhận thức rằng tình trạng phân biệt đối xử dành cho họ đã chấm dứt.
* Phân tích quan điểm của Campuchia và các chính sách đối với người Việt
Không thể nghiên cứu tình hình người Việt ở Campuchia đơn thuần chỉ trong bối cảnh trong nước hoàn toàn. Vì vậy, những quan sát được đưa ra trong phân tích sau đây sẽ cố gắng nắm bắt mối tương tác giữa bối cảnh trong nước và bối cảnh liên nhà nước, nghĩa là quan hệ với Việt Nam, nhằm thể hiện tính phức tạp vốn định hình nên thái độ và chính sách của Campuchia đối với người Việt.
Các vụ tấn công có vũ trang nhằm vào người Việt thời kỳ thập niên 1990 thường được quy cho Đảng Campuchia Dân chủ (tức Khmer Đỏ - NHĐ), những kẻ đề ra hình thức tuyên truyền chống người Việt mang tính cực đoan nhất, kèm theo các vụ tấn công vũ trang đối với người Việt ở Campuchia, cho đến khi nhóm này dần chia rẽ và rốt cuộc tan rã vào cuối những năm 1990. Một số đảng chính trị cũng thể hiện quan điểm chống người Việt trong suốt các chiến dịch vận động bầu cử vào các năm 1993, 1998 và 2003, chẳng hạn như đảng FUNCINPEC trong cả ba cuộc tuyển cử và đảng Sam Rainsy (SRP) trong hai cuộc tuyển cử sau. Điều này nhìn chung đã góp phần kích động quan điểm bài Việt trong người dân nói chung. Luận điệu gắn liền với từ ‘yuon’, một từ có ý nghĩa miệt thị dành cho tất cả người Việt, được cho là nguồn gốc của hầu hết các vấn đề cũng như hạn chế tại Campuchia, trở nên rõ ràng trong các cuộc vận động trước cuộc tổng tuyển cử vào năm 199820 và tái xuất hiện vào năm 2003.21
Tranh luận về địa vị và quyền lợi của người Việt trong xã hội Campuchia ngày nay về cơ bản có thể được quy cho là bắt nguồn từ tình cảm chống người Việt của các chính trị gia Campuchia. Đây không phải là những đặc điểm mới trong nền chính trị quốc gia Campuchia. Kể từ thời điểm độc lập năm 1953, các chính sách đối với người Việt đã mang tính phân biệt đối xử dù nhiều (Cộng hòa Khmer và Campuchia Dân chủ 1970-1978) hay ít (thời kỳ Sihanouk 1953-1970). Chỉ có thời kỳ CHND Campuchia/Nhà nước Campuchia mới được đặc trưng bởi các chính sách không phân biệt đối xử.
Các chính sách cực đoan được thực thi suốt thời kỳ Cộng hòa Khmer và Campuchia Dân chủ đã dẫn đến những cuộc thảm sát người Việt và khoảng 420.000 người phải di cư sang Việt Nam, dẫn đến việc xóa bỏ không chính thức cộng đồng người Việt ở Campuchia. Nếu xét tới các tác động bi thảm từ chính sách chống người Việt thời kỳ thập niên 1970, các vụ tấn công vũ trang lặp đi lặp lại nhằm vào người Việt trong suốt thập niên 1990 – mà hầu hết do Đảng Campuchia Dân chủ gây ra – thể hiện mối đe dọa thực tế và rõ rệt đối với cộng đồng người Việt nói chung. Điều này không có nghĩa là tất cả người Việt đều trở thành mục tiêu trực tiếp trong một hay nhiều vụ tấn công. Tuy nhiên, với con số thương vong của người Việt lên đến hàng trăm và các vụ tấn công diễn ra cả ở khu vực nông thôn và thành thị, mối đe dọa là có thật. Hơn nữa, không có dấu hiệu cho thấy sự phân biệt giữa người Việt mới đến và người Việt đã sống tại Campuchia trong một thời gian dài.
Lập trường chống người Việt do các thế hệ chính trị gia Campuchia thể hiện dường như vượt quá những bất đồng về ý thức hệ vì những người bảo hoàng, những nhà bảo thủ, những người theo chủ nghĩa tự do và những người cộng sản đều đã từng hoặc hiện tại đang thể hiện quan điểm chống người Việt.
Một lối hành xử đáng báo động xuất hiện trong lòng xã hội Campuchia. Trước hết, giới chức Campuchia chính thức bộc lộ những bất mãn của mình về quan hệ với Việt Nam, và sau đó quan điểm chống người Việt phổ biến được thể hiện dưới hình thức các cuộc biểu tình và/hoặc các cuộc tấn công người Việt. Dường như có một mối liên hệ giữa sự xuất hiện các hành động chống người Việt với tình trạng căng thẳng chính trị nảy sinh giữa các đảng chính trị Campuchia với nhau trong thời gian trước và sau tổng tuyển cử, ví dụ như ở cả hai năm 1993 và 1998. Cuộc bầu cử năm 2003 cũng được đặc trưng bởi luận điệu chống người Việt và các hoạt động nhằm vào người Việt mặc dù không có vụ tấn công chết người nào diễn ra.
Ngoài ra, người Việt thường bị cáo buộc là khước từ hòa nhập vào xã hội Campuchia. Về truyền thống, có nhiều cuộc hôn nhân khác tộc Hoa-Khmer hơn là Việt-Khmer (Migozzi, 1973). Từ quan điểm của người Campuchia, đây là bằng chứng cho thấy người Việt từ chối hòa nhập hoàn toàn vào xã hội Campuchia. Tuy nhiên, nếu xét những tư tưởng bài Việt rộng khắp ở Campuchia, ắt hẳn người Khmer cũng miễn cưỡng không muốn kết hôn với người Việt, điều này đến lượt nó lại làm gia tăng tình trạng không hòa nhập của người Việt.
Một nguyên nhân khác của quan điểm tiêu cực chống người Việt là cuộc di cư của người Việt đến Campuchia trong những giai đoạn chịu sự ảnh hưởng mạnh từ nước ngoài, chẳng hạn thời kỳ CHND Campuchia/Nhà nước Campuchia với ảnh hưởng rộng khắp từ Việt Nam. Thậm chí trong thời kỳ gìn giữ hòa bình, các cuộc di cư cũng được cho là đã diễn ra khi Campuchia đang chịu ảnh hưởng mạnh từ “nước ngoài”. Điều này góp phần củng cố thêm nhận thức về người Việt như thể họ là đại diện cho điều gì đó xa lạ đồng thời củng cố tình trạng đồng nhất cộng đồng người Việt với các lợi ích cũng như thế lực nước ngoài tại Campuchia. Mối liên hệ giữa ảnh hưởng từ nước ngoài và việc di cư của người Việt đã thu hút sự chú ý của những kẻ phản đối sự hiện diện của người Việt và điều này đem lại một nhân tố bổ sung được dùng trong luận điệu bài Việt.
Quan điểm chống người Việt trở nên phổ biến trong các thành viên của  giới tinh hoa Campuchia như có thể thấy trong các tranh luận chính trị và truyền thông. Nhưng có vẻ quan điểm ấy không bị giới hạn ở tầng lớp xã hội này, thể hiện qua các vụ tấn công của thường dân đối với người Việt tại nhiều khu vực trên cả nước vào năm 1970. Tuy nhiên, không nên xem các tuyên bố bài Việt của các nhà cầm quyền và các chính trị gia Campuchia là nhằm đáp lại sức ép từ tầng lớp dưới, vì các sự kiện năm 1970 được kích động bởi chính luận điệu bài Việt của nhà cầm quyền.
Nhiều nghiên cứu gợi ra rằng tình cảm bài Việt ở thành thị thường nặng nề hơn khu vực nông thôn (Comte, 1976; Goldblum, 1974; Tarr, 1992). Đương nhiên khó có thể đưa ra các khái quát hóa như vậy nhưng phát hiện này cần được xem xét nghiêm túc. Một giải thích cho những khác biệt giữa thành thị và nông thôn có thể là vì việc truyền bá quan điểm chống người Việt ở khu vực thành thị diễn ra sâu rộng hơn.
Quan hệ giữa Campuchia và Việt Nam gắn kết chặt chẽ với tình hình người Việt ở Campuchia. Quan hệ song phương căng thẳng có thể đem lại những hậu quả rất tiêu cực cho người Việt, như đã được minh chứng trong lịch sử gần đây. Quả thực, thậm chí trong những giai đoạn quan hệ ở vào tình trạng khá tốt đẹp và khi các nỗ lực được thực hiện nhằm giải quyết các mối bất hòa còn tồn đọng, thì dường như vẫn có chỗ cho những tuyên bố kích động từ những người Campuchia có địa vị cao, điều vốn có thể châm ngòi cho những cuộc biểu tình chống người Việt trong công chúng. Điều này được minh chứng bằng những cáo buộc của Quốc vương Norodom Sihanouk đối với Việt Nam năm 1994 và cuộc biểu tình chống người Việt xảy ra sau đó tại Phnom Penh cũng như sự gia tăng các vụ tấn công nhằm vào người Việt sau những cáo buộc của Thủ tướng thứ nhất lúc đó là Hoàng thân Norodom Ranariddh đối với Việt Nam trong giai đoạn nửa đầu năm 1996. Vì thế có thể kết luận rằng, vì lợi ích của người Việt ở Campuchia, quan hệ giữa hai nước cần phải ở trong tình trạng thật tốt đẹp. Quan hệ song phương chưa đạt đến mức độ đó nhưng những nỗ lực thường xuyên ở cấp độ quốc hội và chính phủ đã dẫn tới quan hệ song phương nhìn chung đúng đắn. Tuy nhiên, vấn đề tranh chấp cốt lõi như đường biên giới giữa hai nước vẫn chưa được giải quyết. Một tiến triển tích cực liên quan đến biên giới đất liền là một Hiệp định Bổ sung ký ngày 10 tháng 10 năm 2005. Quan hệ song phương chính thức nhìn chung duy trì ổn định suố thập niên 2000.
Người Việt ở Campuchia là một đề tài trong chương trình nghị sự tại các cuộc gặp cấp cao giữa hai nước. Nguyện vọng của Việt Nam là đảm bảo người Việt không bị phân biệt đối xử tại Campuchia và phía Campuchia đã đưa ra những đảm bảo cho điều đó. Tuy nhiên, đem lại an ninh và sự bảo vệ hoàn toàn cho người Việt là điều bất khả thi, vì nhà cầm quyền Campuchia không thể tuyệt đối đảm bảo an toàn cho dân chúng nói chung. Với sự hiểu biết lẫn nhau liên quan đến việc không phân biệt đối xử chống lại người Việt ở Campuchia, ít nhất hai quốc gia vẫn có thể hợp tác đầy đủ trong vấn đề kiểm soát di cư bất hợp pháp qua biên giới.
Thú vị thay, trong cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Campuchia thời kỳ hậu UNTAC, cả hai bên nhất trí với quan điểm rằng người Việt ở Campuchia sẽ được xem là công dân Việt Nam. Ví dụ, Việt Nam đã gọi người Việt tại Campuchia là công dân Việt Nam, người Việt Nam, cư dân Việt Nam và người Việt Nam ở nước ngoài, cả bốn thuật ngữ đều để chỉ những người là công dân Việt Nam. Nhận thức song phương này không giải quyết đầy đủ mọi mặt của vấn đề. Trước hết, các đảng chính trị đối lập với CHND Campuchia/Nhà nước Campuchia cho rằng một số lượng lớn người Việt đã được trao giấy căn cước Campuchia và vì vậy đã nhập tịch Campuchia. Nhận thức giữa hai chính phủ cho thấy quy trình này đã bị đảo ngược để xem nhóm người kể trên là công dân Việt Nam trở lại. Hay liệu có khả năng là những cáo buộc của Chính phủ Liên hiệp Campuchia Dân chủ không có căn cứ và rằng quá trình nhập tịch chỉ liên quan đến một số người rất ít? Thứ hai, số người Việt sống ở Campuchia trước thập niên 1970, một con số đáng kể nhưng không được tiết lộ chính xác, lại là công dân Campuchia. Nhận thức hiện thời giữa hai nước giả định không có hoặc chỉ một số ít người trở về Campuchia. Mặt khác, nếu phần đông trong số họ trở về, hai nước sẽ phải giải quyết vấn đề làm cách nào xử lý địa vị và tư cách công dân Campuchia của họ.
Trong bối cảnh này, lập luận cần dựa trên quan điểm cho rằng những người Việt nào có thể tuyên bố một cách hợp pháp mình là công dân Campuchia đều cần được công nhận như vậy. Không nên hiểu là chỉ có người Việt từ trước thập niên 1970 mới có thể tuyên bố hợp pháp mình là công dân Campuchia.
Kết luận
Mối đe dọa trực tiếp đối với người Việt từng thể hiện rất rõ rệt trong thập niên 1990 dường như đã thu hẹp trong thập niên 2000. Điều này có thể xuất phát từ những chính sách của chính phủ liên hiệp Campuchia được thành lập sau cuộc tuyển cử năm 1998 cùng với quyết tâm đấu tranh chống phân biệt chủng tộc trong xã hội Campuchia do chính phủ tuyên bố. Điều này thể hiện một cách tiếp cận tích cực hơn từ phía chính phủ Campuchia nhằm bảo vệ các tộc người thiểu số; và vì người Việt là mục tiêu của nhiều vụ tấn công, họ sẽ được quan tâm nhiều nhất. Những chính sách này có tác động khả quan đối với tình hình người Việt ở Campuchia. Chúng cũng có thể đã đóng góp tích cực vào việc giảm bớt những cơn bùng phát tình cảm bài Việt trong dân chúng. Lập trường chống phân biệt chủng tộc được tuyên bố còn có thể được xem như là sự ủng hộ của chính phủ Campuchia đối với quan điểm coi mọi tộc người thiểu số là một phần của xã hội Campuchia. Tuy nhiên, việc chính phủ liên hiệp Campuchia đấu tranh chống phân biệt chủng tộc vẫn chưa đủ; quan trọng là sự kiềm chế của các đảng đối lập trong việc sử dụng luận điệu bài người Việt tại đất nước này. Có những dấu hiệu cho thấy cuộc vận động bầu cử năm 2003 ít mang tính bài Việt hơn, nhưng như đã kể trên, các đảng đối lập đã vận dụng luận điệu bài Việt và vẫn tồn tại các hoạt động chống người Việt (Albritton, 2004). Đáng chú ý là vào năm 2003, lãnh đạo đảng SRP Sam Rainsy đã mạnh mẽ bác bỏ các cáo buộc cho rằng ông là người bài Việt.28 Điều cơ bản là khi chỉ trích Việt Nam, cả chính phủ và phe đối lập không liên hệ cộng đồng người Việt thiểu số với nhà nước Việt Nam, đặc biệt là khi quan hệ giữa hai nước trở nên căng thẳng.
Vì nhu cầu phát triển tổng thể của Campuchia, mọi khu vực dân số phải được huy động trong một nỗ lực mang tính phối hợp. Luận điệu chống người Việt sẽ tạo ra tác động đối nghịch, khiến người Khmer chống lại người Việt, làm xã hội Campuchia bị chia rẽ. Trong bối cảnh này, giới tinh hoa Campuchia đóng vai trò trung tâm và then chốt trong việc tuyên truyền có lợi cho tinh thần hòa hợp dân tộc cũng như chống phân biệt chủng tộc. Khuynh hướng kể từ cuối những năm 1990 – được thể hiện trong lập trường của chính phủ Campuchia, trong phản ứng của phe đối lập trước các vụ tấn công bằng lựu đạn nhằm vào người Việt đầu năm 1999 cũng như trong lập trường công khai không chống đối người Việt của Sam Rainsy – là dấu hiệu cho thấy giới tinh hoa chính trị Campuchia có thể lựa chọn lập trường phản đối các vụ tấn công nhằm vào người Việt. Đây là một tiến triển quan trọng, khơi dậy hy vọng cho một tinh thần hòa hợp dân tộc ngày càng tăng tại Campuchia, cũng như một môi trường an ninh tốt hơn cho người Việt trong xã hội Campuchia. Thách thức đặt ra sẽ là phải củng cố các chính sách cũng như quan điểm này và thực hiện trên thực tế đến một mức độ mà ở đó tình trạng phân biệt đối xử đối với người Việt không còn được cho phép về mặt chính trị và sẽ giảm đáng kể trong xã hội Campuchia. Ngoài ra, các chính sách hướng đến việc hòa nhập sâu rộng hơn cộng đồng người Việt sẽ là một bước đi cần thiết khác, và một giải pháp phù hợp về vấn đề quốc tịch cũng là một điều quan trọng.

Để kết thúc, bài viết lập luận rằng mọi tiến triển đã có sẽ được thử thách xa hơn trong những giai đoạn xảy ra đua tranh cũng như căng thẳng chính trị trong nước, chẳng hạn như các cuộc tuyển cử trong tương lai và cả trường hợp quan hệ giữa Campuchia và Việt Nam tái diễn căng thẳng. Ngoài ra, vấn đề quốc tịch của người Việt cần phải được giải quyết. Tình trạng không có quốc tịch trên thực tế đẩy người Việt tại Campuchia vào hoàn cảnh dễ bị tổn thương, đồng thời làm họ mất đi các quyền và nghĩa vụ gắn liền với tư cách công dân.

Mua dâm Tây đen gia 15$ Người Việt sống khốn khó ở Campuchia ...

https://www.youtube.com/playlist?list...
Translate this page
Aug 19, 2016 - Mua dam tay den gia 15$ Người Việt sống khốn khó ở Campuchia đến nỗi phải bán cả con mình vậy sao? vippro; 24 videos; 7 views; Last ...

Nạn mại dâm trẻ em Việt ở Campuchia - YouTube

https://www.youtube.com/watch?v=HhzxF5_wbkU
Mar 31, 2016 - Uploaded by Trâm Lê
Người Việt sống khốn khó ở Campuchia đến nỗi phải bán cả con mình vậy sao?

Người Việt ở Campuchia chật vật mưu sinh mùa nước cạn | Thời sự ...

video.thanhnien.vn › Thời sự
Jun 3, 2016
Năm nay nước từ thượng nguồn đổ về ít nên các hoạt động mưu sinh của người Việt lẫn người Campuchia tại đây hết sức khốn khó.

Quan Chức CSVN Những Kẻ Khốn Nạn - ÐÁP LỜI SÔNG NÚI -30-07 ...

https://www.youtube.com/watch?v=lU5sbIMy7IU
Jul 30, 2015 - Uploaded by radiodlsn
Quan Chức CSVN Những Kẻ Khốn Nạn - ÐÁP LỜI SÔNG NÚI ... Đồng thời để vinh danh ôngVõ Ngọc Cư, một người Việt yêu ...

Cuộc sống khốn khó của hơn nghìn Việt Kiều hồi hương - YouTube

https://www.youtube.com/watch?v=-fea3coNcJM
Aug 11, 2016 - Uploaded by VIDEO SHARE 247
Sau nhiều năm ở Campuchia, hơn một nghìn Việt kiều Campuchia về ấp Tà Dơ ... Cuộc sống khốn khó của hơn nghìn Việt ...

Kẻ Bạo Hành Bé 2 Tuổi Ở Campuchia Thành Thạo Nhiều Ngoại Ngữ ...

https://www.youtube.com/watch?v=A-oA9Mu63Nc
Dec 10, 2016 - Uploaded by Live News TV
Dũng là người xuất hiện trong các clip hành hạ dã man bé Sor Sao (3 tuổi) ở ... Anh Nguyễn Việt Chiến (27 tuổi, gọi nghi ...

Đã bắt được nghi phạm người Việt Nam tham gia bạo hành trẻ em ở ...

https://www.youtube.com/watch?v=ZxM-BwYbT24
Dec 7, 2016 - Uploaded by Dinhchautuan
Các đoạn video cho thấy một người nói tiếng Việt dùng roi điện chích ... Nghi can Nguyễn Thành Dũng, người bị cảnh sát ...



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Mỹ cho VC chiến hạm [26.05.2017 19:14]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Kỹ thuật xây dựng XHCN Hà Tĩnh: Sập cầu dân sinh, hơn 150 hộ dân bị chia cắt [NEW]
Người Việt hãy đến mở tiệm ngay: Thành phố Montreal đầu tư 50,000,000$C để chỉnh trang đường S-Hubert trong khu phố VN Montreal [NEW]
Không Quân Mỹ cần nhiều phi công, cơ hội cho thanh niên VN tại Mỹ sau nầy lên tướng
Phó Văn phòng Quốc hội Thân Đức Nam (gốc Hoa) chiếm đoạt hàng nghìn tỷ, tại sao vẫn chưa bị đưa vào lò?
Cậu bé mồ côi 15 tuổi bị bà chủ trọ cuồng dâm 57 tuổi thành Hồ dụ đi nhà nghỉ để cưỡng hiếp khiến em nhiễm trùng vùng kín
Dựa thế chồng, vợ cán bộ xã đứng ra làm chủ hụi cướp tiền đân, tuyên bố vỡ hụi, 66 người dân lo mất 6 tỷ đồng
Thành tích CSVN: Biến Sài Gòn thành HCM: Từ "Hòn ngọc Viễn Đông" đến đô thị nguy hiểm nhất thế giới!
Kẻ đã ra lệnh giết tổng thống Ngô Đình Diệm?
Lấy Tây vì tiền: Gái Việt vỡ mộng sau khi lấy chồng Tây
Việt Nam thất bại ‘lãnh đạo UNESCO’: Hậu quả từ ‘bắt cóc Trịnh Xuân Thanh’?
Giáo sư gốc Việt đưa robot Mỹ vào không gian
VN thiên đường XHCN: Quê hương tôi qua những bức ảnh biết nói
Dân Việt lại mắc lừa - Trung cộng đảo chính Đà Nẵng!
Hậu quả trung thành với TQ: Nhà máy thép liên doanh với Trung Quốc thua lỗ ngàn tỷ do vay lãi cao, chậm tiến độ
Tàu chiến Mỹ tiến gần quần đảo Hoàng Sa, TQ mang tàu ra đuổi

     Đọc nhiều nhất 
Ngày 2 tháng 9: Quốc khánh hay Quốc hận? Phong trào Bảng Đỏ = bỏ đảng CSVN: Giáo sư Tương Lai từ bỏ Đảng CS vĩnh viễn [Đã đọc: 58041 lần]
Su-35 Nga ra đòn tấn công chính xác, bộ trưởng bộ Chiến Tranh Iraq tan xác- Irma chưa qua, đón bão Katia và Jose [Đã đọc: 41997 lần]
Chỉ có đảng CS mới được phá tan quê hương miễn trừng phạt: Thêm một quan chức hạ cánh an toàn sau khi gây tội ác [Đã đọc: 41217 lần]
Chống Tàu cứu nước: Hoa Kỳ huấn luyện cho Cảnh sát Biển Việt Nam [Đã đọc: 35221 lần]
Tấn công khủng bố bằng dao liên tiếp ở Anh, Bỉ [Đã đọc: 34237 lần]
Bán bảo hiểm theo kiểu XHCN: Nữ đại lý phải ái ân với đại gia cách mạng để được ký hợp đồng, làm đột qụy thân chủ phải ra toa! [Đã đọc: 33647 lần]
Lý do gây thù hận tôn giáo ở Miến Điện [Đã đọc: 32379 lần]
Nghệ sĩ Hồng Vân đi Nhật về bị tuyên giáo gắn mác “phản động” - VN: thiên đường giả dối thời CS [Đã đọc: 29829 lần]
Khinh thường CSVN, các tàu nước ngoài thi nhau giết ngư dân: Cảnh sát Biển Philippines bắn tàu cá 2 ngư dân Việt tử vong [Đã đọc: 27688 lần]
CSVN trên đường học hỏi luât pháp quốc tế: Vụ Trịnh Vĩnh Bình ''''''''là một bài học cho chính phủ VN [Đã đọc: 27348 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.