Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Tám 2017
T2T3T4T5T6T7CN
  1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31      
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 9
 Lượt truy cập: 8708355

 
Vietnam News in English 21.08.2017 16:41
Người Việt thích ‘kỳ thị’ người Việt
08.08.2017 09:07

WESTMINSTER, California (NV) –Cách đây 12 năm, trong đầu tui bắt đầu có câu hỏi “Tại sao người Việt ‘kỳ thị’ người Việt?” khi tình cờ nghe được cuộc trò chuyện của hai người liên quan đến việc thi lấy bằng lái xe: “Vô thi mà trúng nhằm ông/bà giám khảo người Việt là coi như ‘xong,’ khó lòng mà đậu. Gặp giám khảo ‘Mễ’ hay ‘Mỹ đen’ dễ đậu hơn.”

Bao giờ người Việt hết ‘kỳ thị’ người Việt?

Ngọc Lan/Người Việt

Các em học sinh trường trung học Westminster tham gia diễn hành Tết (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Sổ tay phóng viên


“Tại sao lại như vậy? Đúng ra người Việt phải nâng đỡ người Việt chứ?” Tui đã tự hỏi mình như thế.Nỗi lo lắng tương tự cũng được “truyền tai” với những người chuẩn bị đi thi lấy bằng “nails” khi đó: “Trong số giám khảo thi nails có một ‘bà’ Việt Nam, gặp bả coi như mình xui đi, vì bả cho mình rớt như chơi.”

Tuy nhiên, chưa kịp có câu trả lời thì cuộc sống đã cuốn đi, vật vã với việc học, việc làm, với tiền nhà, tiền xe, tiền bảo hiểm, tui không còn thì giờ để ý xem có người Việt nào “kỳ thị” mình nữa hay không.

Cho đến gần đây, qua một số lời bình luận của độc giả ngay dưới những bài viết của phóng viên Người Việt, câu hỏi đó lại xuất hiện trong đầu tui.

Trong bài “Homeless ‘làm ăn’ khấm khá ở Little Saigon nhờ người Việt ‘dễ dãi’” của phóng viên Đằng Giao, độc giả tên Hayden Quoc Nguyen đã viết: “Dân Mỹ trắng xin tiền thì tôi cho, dân Việt Nam thì không bao giờ.”

Tại sao? Thì đây là lý do mà độc giả trên nêu ra: “Vì họ sướng và may mắn hơn hàng tỷ tỷ người trên thế giới này được vào Mỹ sinh sống hợp pháp mà không biết hưởng, sa đà vào những thú vui ngu xuẩn như bài bạc, hút xách nên mới trở thành homeless, nên tôi không cho.”

Một độc giả ghi tên Ao Dai cũng đồng ý với lý do trên: “Chính xác, Việt homeless tôi không cho.’

Khi có người đặt câu hỏi tại sao lại hành xử như thế, độc giả Hayden Quoc Nguyen khẳng định “chắc nịch”: “Chỉ cần nhìn cái điệu bộ của họ là biết tốt nghiệp đại học Bay101 và Matrix8 rồi (2 sòng bài ở San Jose, California) vừa thảm lại vừa ngu. Tôi không bao giờ cho homeless Việt Nam. Còn người Mỹ trắng thì khác, họ cùng đường rồi…”

Có lẽ không chỉ tui, mà nhiều người nữa cũng phải “sửng sốt” với cách giải thích như đinh đóng cột này.

Tui nhớ trong bài “Sổ tay phóng viên: ‘người Việt làm xấu mặt cộng đồng’” tui viết lần trước, độc giả Chris Nguyễn có kể lại câu chuyện mà anh chứng kiến trong thời gian làm việc ở một “cơ quan an sinh xã hội”: “Có ba bà người Việt Nam làm việc ở đó luôn bực tức nạt nộ, đối đãi xấu thậm tệ với người đồng hương tới đó xin trợ cấp! Trong khi đó thì người Mỹ đen/trắng, người Mễ, người Hoa,… ai ai cũng vui cười vui vẻ giúp dân tộc của họ hết lòng, mà không có một thái độ nào ghen ghét, ác cảm, khinh hiếp người Việt Nam như ba bà này vậy!”

Trong bài “Little Saigon: Phó Thị Trưởng Tyler Diệp tuyên bố tranh cử dân biểu California,” độc giả Elysium thẳng thắn nói, “I never vote for Vietnamese nor Hispanic candidates” (Tôi không bao giờ bỏ phiếu cho ứng cử viên người Việt hay người Mễ Tây Cơ.)

Tại sao lại như vậy nhỉ?

Người Việt kỳ thị người Việt nhưng lại tỏ ra nhúng nhường, ca ngợi người “nước ngoài” hết mức cần thiết. Có lẽ không ai trong chúng ta chưa từng nghe câu, đại loại, “Chị chuẩn bị sửa nhà hả? Mướn ai vậy? Tin tưởng được không? – Ồ, tôi mướn tụi Mỹ, không mướn Việt Nam, yên tâm đi” hay “Vụ đó tôi mướn Mỹ làm mà còn không xong thì đừng nói chi đến mướn Việt Nam.”

Nhiều người thì cho rằng, ngay khi vào nhà hàng quán ăn, khách không phải là người Việt Nam cũng được tiếp đón khác hơn, niềm nở hơn là đồng hương của mình.

Thậm chí, có người còn hãnh diện khi mở nhà hàng mà “chỉ thuê người phục vụ là Mỹ thôi nha, không ‘chơi’ Việt Nam.”

Điều đó cũng được bắt gặp đây đó trong các ngôi chợ Việt, khi nhiều người tính tiền không buồn ngó đến “bản mặt” của khách Việt, nhưng lại rất chi là sẵn sàng cười rạng rỡ khi thấy có “ông Tây bà Mỹ” nào đó xuất hiện nơi quầy tính tiền.

Dĩ nhiên, như ông bà mình nói “không có lửa làm sao có khói,” người Việt mình đã làm gì để chính người cùng màu da mái tóc không thể tin tưởng lẫn nhau, không thể cư xử tốt với nhau?

Người Việt mình đã làm gì, để bây giờ người ta sẵn sàng cười khẩy vào câu “đồng hương giúp đỡ đồng hương”?

Người Việt mình đã làm gì, để người ta sẵn sàng tuôn ra câu “đồng hương ‘sát phạt’ đồng hương”?

Dĩ nhiên, trong số “người Việt mình” đó có bạn, có tui, có tất cả chúng ta. Vậy thì bạn và tui có góp phần trong việc làm cho chúng ta “kỳ thị” chính chúng ta không?

Đến bao giờ và bằng cách nào thì bạn, tui và chúng ta hết ‘kỳ thị’ lẫn nhau?



Khi người Việt kỳ thị… người Việt


Điều đáng buồn là khi sự kỳ thị Nam - Bắc từ lâu dường như đã sạch bóng trên chính quê hương, thì nó vẫn còn hiện diện cụ thể trong cộng đồng người Việt ở Australia - một quốc gia đề cao sự tự do và chống phân biệt đối xử vào bậc nhất trên thế giới… 

Rầu lòng

Ý tưởng và tư liệu về đề tài nhạy cảm này bắt đầu được tôi cóp nhặt khi thực hiện cuộc điều tra nhằm so sánh điều kiện lao động của công nhân người Việt giữa một doanh nghiệp do người Việt điều hành và một doanh nghiệp do người Australia điều hành tại Melbourne - thủ phủ tiểu bang Victoria, một trong hai cái nôi lớn nhất của cộng đồng người Việt tại Australia. Trong quá trình làm việc tại một hãng gà nằm ở phía tây Melbourne, những gì đã phải trải qua khiến tôi không khỏi tự đặt câu hỏi: Phải chăng người gốc Bắc và nói giọng Bắc đang phải chịu một sự kỳ thị ngấm ngầm nhưng dễ nhận biết, đặc biệt từ phía những chủ xưởng hay chủ cửa hàng gốc Nam?

Khi bắt đầu bước vào làm, tất cả các công việc của tôi được đặt dưới sự giám sát nghiêm ngặt, thậm chí xét nét của bà chủ khó tính và luôn mồm chửi mắng nhân viên. Đã từng làm công ở chỗ khác nên tôi thấu hiểu nguyên tắc làm việc: Chủ trả công theo giờ nên phải luôn đúng giờ, tay chân luôn phải hoạt động, hết việc này phải tự kiếm việc khác mà làm và tuyệt đối phục tùng sự chỉ đạo. Nhưng chỉ qua 3 ngày làm việc, tôi buộc phải chấp nhận một sự thật khác: Những người gốc Bắc và nói giọng Bắc như tôi luôn phải chịu đựng sự khủng bố về tinh thần nhiều hơn những người khác: Mắng chửi, rỉa rói, cạnh khóe… Chấp nhận tất cả, tôi chỉ biết cắm cúi làm việc, không dám cãi lại một lời, như lời khuyên của một người làm cùng cũng là người Bắc: “Làm đúng yêu cầu, không nghe không thấy vì… ở đây là vậy!”.

Nhưng sự việc đã đi đến cùng giới hạn khi đến một hôm bà chủ giơ bàn tay trỏ sát vào mặt tôi quát: “Nói cái gì cũng “dạ” cũng “vâng”! Ở ngoài đời hay ở Việt Nam có là cái gì thì vào đây nói cái gì cũng phải nghe, rõ chưa?”. Việc tôi có thể làm sau đó chỉ có thể là xin nghỉ việc. Mãi về sau, khi biết rõ chuyện, một nhóm “anh em xã hội” cũng thuộc dạng không ngại va chạm ở Melbourne long sòng sọc lên đòi tôi phải dẫn tới nơi làm để xem tận mặt bà chủ kia để xem là ai mà quá đáng đến như vậy. Tránh những chuyện phiền hà không đáng có, buổi “xem mặt” ấy không bao giờ diễn ra, nhưng rất nhiều câu chuyện “ấm ức bấy lâu nay” đã được mọi người dần trải lòng…

Screen%20Shot%202013-04-12%20at%202.13.18%20PM
Đã từng rất khó để người gốc Bắc có thể kiếm được việc 
làm tại khu phố người Việt đông đúc ở Footscay, hoặc 
chợ Sài Gòn ở Footsray

“Khó đấy. Liệu có quá sức không?” - Helen Vatsikopoulos (phóng viên nữ của chương trình truyền hình Foreign Correspondent danh giá của Hãng ABC) tỏ ra phân vân khi chúng tôi trình bày đề tài sẽ làm về tình trạng phân biệt đối xử trong cộng đồng người Việt trên đất Australia vào thời điểm năm 2010. Sự lo lắng của nữ phóng viên xinh đẹp nhưng dày dạn hiểm nguy qua những phóng sự điều tra truyền hình thực hiện trên khắp thế giới, đặc biệt là về những vụ bạo loạn đẫm máu tại Hy Lạp, không phải là không có cơ sở. Đụng chạm đến một vấn đề nhạy cảm trong lòng một cộng đồng dân cư tại Australia đòi hỏi người thực hiện phải cẩn thận kiếm tìm thông tin và nhân vật từ cả 2 chiều thông tin, tránh quy kết. Không những thế, đây cũng là mảng đề tài khó chọn được người sẵn lòng trả lời phỏng vấn vì ngại phiền hà. 

Có một tâm lý chung là những người đối diện và chịu đựng tình trạng này đều coi như… chuyện phiền ngoài đường. Họ không muốn nhắc lại, nhưng hầu hết đều nhớ như in. Điều đó cũng dễ hiểu bởi đó là câu chuyện buồn pha lẫn sự ấm ức. C - một du học sinh người Hà Nội, học tại Đại học Công nghệ Sydney, làm thêm cho một hãng nghiên cứu thị trường - kể lại một lần trải nghiệm: “Công việc của tôi là gọi điện thoại đến nhà khách hàng để khảo sát thị trường. Khi tôi gọi đến nhà một khách hàng, một phụ nữ nhấc máy. Khi nghe thấy giọng Bắc của tôi, bà ấy chửi thậm tệ qua điện thoại, rồi gác máy”.

Không chỉ nam giới mà đến nữ giới cũng phải chịu cảnh phân biệt như thế. T - một nữ lưu học sinh người Việt tại Đại học Melbourne - kể lại: “Tại một bữa tiệc, một anh chàng buôn chuyện với tôi khá lâu. Khi đã biết được rằng đều là người Việt, chúng tôi chuyển sang nói tiếng Việt. Nhưng ngay khi anh ấy nghe thấy giọng Bắc của tôi, anh ta quay ngoắt đi sang nói chuyện với những người Nam khác và không quay lại nói chuyện với tôi nữa”. 

Lý giải về điều này, một trí thức người Việt tại Sydney xin ẩn danh cho biết, những người còn đặt nặng sự phân biệt đối xử Nam - Bắc chủ yếu tập trung ở lứa người lớn tuổi. “Họ đã từng mất sạch mọi thứ trong một thời gian cực ngắn. Nhiều người mất gia sản. Nhiều người thậm chí mất cả gia đình, vợ con… trên con đường tha hương đầy máu và nước mắt để đến được Australia. Nguyên nhân của nỗi đau ấy được quy chiếu về một phía. Họ nghĩ rằng những sinh viên đến từ phía Bắc đang học ở Australia là con cháu của phía đã gây ra nỗi đau cho họ. Và họ có thái độ thù địch như vậy. Cá nhân tôi không đồng tình với những hành vi như vậy. Thực ra họ không có quyền phân biệt đối xử với những sinh viên ấy trên đất Australia. Họ vẫn nói rằng phải rời khỏi quê hương vì một sự phân biệt đối xử, vậy thì hà cớ gì lại tạo thêm một sự phân biệt đối xử khác?” - ông nói.

Screen%20Shot%202013-04-12%20at%202.13.26%20PM
Chợ Sài Gòn ở Footsray.

Để tìm hiểu sâu hơn và cũng là để khách quan hơn, chúng tôi đã quyết định phỏng vấn ông Võ Trí Dũng - lúc bấy giờ đang giữ chức Chủ tịch Cộng đồng Việt Nam tại Australia tại tiểu bang New South Wales. Sau khi bàn bạc, với tình hình thực tế đã trải nghiệm, nhóm thực hiện phóng sự quyết định để đảm bảo tính khách quan của buổi phỏng vấn, cũng là để tránh những chuyện không hay xảy ra, tôi sẽ ngồi ngoài quán café ở Cabramatta chờ, Peta và Daniel sẽ thực hiện cuộc phỏng vấn trong văn phòng của ông Võ Trí Dũng. Tại cuộc phỏng vấn, ông Võ Trí Dũng đã thừa nhận là sự phân biệt đối xử đối với sinh viên gốc Bắc, đặc biệt là những sinh viên nhận được học bổng từ Chính phủ Australia, là có thi thoảng xảy ra. 

Nhưng những sinh viên nhận được học bổng từ phía Chính phủ Australia chỉ là một thiểu số rất nhỏ. Vậy thì còn những sinh viên gốc Bắc tự đi bằng nhiều con đường khác thì sao? Câu trả lời thỏa đáng là như thế nào khi họ đã và vẫn phải chịu đựng sự kỳ thị? B - hiện đã định cư và trở thành công dân Australia - kể lại: “Tình trạng người Bắc bị kỳ thị hiện giờ còn đỡ đi nhiều, chứ cách đây 5-7 năm thì còn dữ dội hơn”. Hồi đó, ngày đầu tiên đặt chân tới đất Melbourne để nhập học tại Đại học Swinburne, B đi mua hàng tại cửa hàng của người Việt. Người bán hàng đã làm ngơ xem như không hiểu câu hỏi giá bằng tiếng Việt với giọng Bắc của B. Khi bị hỏi thêm lần nữa, người bán hàng bèn trả lời bằng tiếng Anh. Trong khi đó, chỉ vài phút trước, họ vẫn nói tiếng Việt với khách hàng là người Nam.

“Hồi đó kiếm được việc làm ở chỗ chủ người Nam rất khó. Họ luôn trả lời rằng không có việc, dù tôi biết rõ rằng họ đang kiếm người. Nếu có được nhận vào làm thì lương luôn thấp hơn hẳn so với người Nam. Nhưng điều đáng kinh khủng hơn là khi nhận lương thì luôn được “khuyến mãi” thêm vài câu bóng gió miệt thị - B nhớ lại - Bây giờ thì đã đỡ hơn, nhưng chưa hẳn đã hết. Bạn cứ thử kiếm một chỗ có chủ người Nam rồi thử xin việc thì sẽ rõ”.

Nhóm chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm ngay trước màn hình máy quay. Một sinh viên người Nam được mời đến ngồi cùng tôi. Một mục quảng cáo tìm việc bất kỳ được lựa chọn trên những tờ báo tiếng Việt tại Australia. Trên tay chúng tôi là mẩu quảng cáo tìm người hái xoài tại Darwin. Sinh viên người Nam gọi điện trước. Người chủ tuyển người trả lời rất nhẹ nhàng. Khi sinh viên này kết thúc cuộc gọi và cảm ơn, bà chủ cũng rất lịch sự nói “không có gì”. Đến lượt tôi nói giọng Bắc. Cũng vẫn những thông tin như vậy, nhưng khi tôi nói cảm ơn để kết thúc cuộc gọi, bà chủ dập máy cái rụp. Từng khuôn hình kiên nhẫn đưa tiếng gác máy khô khốc vào trong băng.

Khi tương lai đẩy dần bóng quá khứ

“Nhưng thế hệ người Việt thứ hai và thứ ba tại Australia có vẻ không quan tâm lắm đến chuyện trong quá khứ, cho dù đôi khi gia đình của họ vẫn cố gắng dựng lên một rào cản nhất định, chí ít là về mặt tâm lý” - B tâm sự khi đưa tôi vào Bubbles - sàn nhảy nổi tiếng và cũng là nơi tụ hội của giới trẻ Việt tại Melbourne mỗi tối thứ sáu, đêm mà các DJ chỉ đánh nhạc Trance phục vụ riêng cho người Châu Á (nay đã phải đóng cửa vì xảy ra nhiều vụ đánh lộn). Theo chỉ dẫn của B, sàn Bubbles dường như được ý nhị chia thành 2 khu - một cho người Bắc và một cho người Nam. Nhưng cái ranh giới mơ hồ ấy thường xuyên bị phá vỡ, khi một vài nhóm bên này sang bên kia chào hỏi nhau, làm một ly tequila rồi lại trở về phía bên mình. Nhưng đó chỉ là khu để ngồi. Còn khi đứng lên nhảy, tất cả đều hòa làm một.

Paige Nguyễn - cô bạn cùng lớp người Australia gốc Việt hiện đang sống tại Sydney - thì lại rất hồ hởi tự nhiên ra làm quen khi biết tôi là người Việt. Khác hẳn với những “Việt kiều” mới sang có mấy năm mà đã giả bộ lơ lớ quên tiếng Việt hoặc oh ah mắt tròn xoe khi nói về Việt Nam, Paige Nguyễn thực sự không nói được tiếng Việt, nhưng lại say sưa kể về gia đình nội ngoại: “Bố mẹ tôi là người Cần Thơ. Gia đình tôi tới Adelaide 25 năm trước. Tôi thực sự không nắm rõ lắm những gì đã xảy ra trong quá khứ. Cuộc sống của tôi là ở đây. Và ở đây thì ai cũng có thể là bạn của nhau!”.

Không chỉ thụ động trông chờ vào thời gian, một bộ phận lớn cộng đồng người Việt cũng đang tự chủ động đấu tranh để đầy lùi sự phân biệt đối xử mang tính áp đặt đó. D - một “thổ dân” tại Melbourne - cho biết, cũng với sự mở rộng và phát triển của số lượng người Bắc trong cộng đồng người Việt, đã từng xảy ra những trận ẩu đả vì lý do phân biệt vùng miền và những người có tư tưởng phân biệt đã chùn bớt tay, không dám thể hiện một cách quá thô lỗ hay quá khích nữa. Nhưng cách thức tiêu cực này đã không còn phổ biến nữa. “Điều quan trọng là ngày càng có nhiều người Bắc làm ăn phát đạt, mở rộng sản xuất và trở thành ông chủ. Kinh tế mạnh thì mới có uy được! Vị thế của người gốc Bắc càng ngày càng được củng cố, thế nên tình trạng coi thường người từ miền Bắc đến Australia cũng hạn chế hẳn đi” - D cho biết.
Khơi lên nỗi đau của chính cộng đồng người Việt mình không phải là chuyện vui vẻ gì, nhưng điều đó là cần thiết, để mọi người biết rằng, vết thương của bao năm chiến tranh vẫn đang dai dẳng hằn sâu trong một bộ phận đồng bào. Khơi lên cũng là để phản ánh một sự thật là những sinh viên và người Việt gốc Bắc sang Australia để học tập và làm việc đã, đang phải chịu đựng một sự phân biệt đối xử khá phi lý. Khơi lên điều mà nhiều người tránh muốn đề cập đến, nhưng là sự thực, âu cũng là một sự sòng phẳng. Nếu không đối diện, sẽ không thể nào xóa sạch.

http://laodong.com.vn/The-gioi/Khi-n...iet/111219.bld
https://www.chuyennghenail.com/nguoi-viet-ki-thi-nguoi-viet-o-nuoc-ngoai-su-that-dau-long/

VIỆT NAM: MÃI NGHÈO VÌ TÂM LÝ KỲ THỊ NGƯỜI GIÀU?

Thứ sáu - 16/01/2015 09:43

(NCTG) “Hãy loại bỏ ngay tư tưởng kỳ thị hay căm ghét người giàu để Việt Nam có thể vĩnh viễn thoát khỏi vị thế của quốc gia nghèo!”.

 
Chớ kỳ thị người giàu khi họ tiêu tiền - Ảnh chỉ mang tính minh họa 

Ai cũng biết rằng Việt Nam luôn là một nước nghèo, không chỉ so với thế giới mà ngay cả với các nước láng giềng. Chúng ta thường quy cho chiến tranh, cho phương thức sản xuất lạc hậu… nhưng phải chăng nguyên nhân sâu xa vì người giàu chưa bao giờ được coi trọng ở Việt Nam? 

Nhìn lại nền văn hóa truyền thống của ta, ca dao tục ngữ đầy những câu như “tham thì thâm”, “nén bạc đâm toạc tờ giấy”, chuyện cổ tích thì người giàu luôn ở vai phản diện trong khi thực tế cho thấy, người giàu (cả ở Việt Nam và nước ngoài) không nhất thiết phải xấu và người nghèo không nhất thiết là người tốt! 

Tâm lý kỳ thị người giàu ở Việt Nam càng nặng nề trong suốt thời bao cấp, cho đến thời mở cửa, doanh nhân được chính thức công nhận là một nghề thì người ta mới dám công khai mơ ước về sự giàu có. Tuy nhiên, làm giàu không dễ và tâm lý kỳ thị người giàu ăn sâu bén rễ, rất khó triệt tiêu nhanh chóng! 

Mới đây, tình cờ tôi được đọc một bài trên mạng xã hội Facebook với tiêu đề “Những kẻ có tài, có tiền nhưng không có liêm sỉ”. Tác giả liệt kê tên một loạt ca sĩ, nghệ sĩ, người mẫu nổi tiếng và nhận xét: “Khoe khoang biệt thự triệu đô, xe hơi hàng chục tỷ đồng, túi xách hàng tỷ đồng, quần áo hàng trăm triệu, những cuộc du hý nước ngoài, những đám cưới vung vãi tiền bạc, khoe thân thể, khoe người yêu, khoe con cái... 

Đó là những thứ khoe khoang của những ca sĩ, diễn viên, chân dài, người nổi tiếng... Thật đau lòng khi nó tràn ngập trên các phương tiện thông tin đại chúng cùng với những tin tức trẻ em nghèo không có phương tiện đến trường, các cụ già còm cõi bán vé số, những người bệnh chờ chết vì không có tiền chữa bệnh, những ngôi nhà như những cái lều ổ chuột của bao người dân... Và cả người mẹ nghèo tự tuẫn để lấy tiền phúng đóng tiền học phí cho con...
”. 

Tác giả bài viết có vẻ là người nhiệt huyết, quan tâm đến xã hội và có cách viết dễ đi vào lòng người, nhưng bài này thì mình không thể đồng tình. Khó có thể tưởng tượng đến thế kỷ 21, thời kinh tế thị trường còn có người suy nghĩ như thế và đáng ngại hơn nữa là trong vòng một ngày có rất nhiều người tỏ ý thích (like), chia sẻ (share) bài viết, cùng hàng trăm bình luận (comment) hầu hết đều sặc mùi kỳ thị người giầu. Hiếm người nhận ra sự hẹp hòi, vi phạm luật pháp và vi phạm cả quyền con người trong bài viết này. 

Đặt giả thiết những người mà tác giả chê bai không làm gì vi phạm luật pháp thì việc kiếm tiền và chi tiêu hợp pháp của họ không ai có quyền can thiệp. Hơn nữa, tác giả rất sai lầm khi quy kết những thông tin trên báo lá cải, vốn truyền thông điệp theo kiểu giật tít câu view, với thực tế đời sống của họ. 

Mà kể cả họ có chi tiêu như vậy thì đó cũng là việc riêng của họ vì có người mua người lao động mới có công ăn việc làm, thoát khỏi đói nghèo. Nghệ sĩ là một nghề có tính đặc thù, rất vất vả và tuổi nghề không cao nên không thể đem chuẩn mực của người thường để so sánh với họ. Họ sống bằng danh tiếng nên cần có nhu cầu quảng bá khác với những nghề khác - nhận xét của tác giả chứng tỏ sự kém hiểu biết và hẹp hòi. 

Một sai lầm lớn khác của tác giả là buộc tội người giàu chi tiêu xa xỉ trong khi đất nước còn quá nhiều người nghèo. Nhưng nếu người giàu không chi tiêu, người nghèo có bớt nghèo không hay sẽ nghèo hơn vì hàng hóa không bán được nên bị thất nghiệp? Nếu người giàu đem số tiền mình có chia cho người nghèo có làm xã hội bình đẳng và thịnh vượng hơn không? 

Thực tế phát triển xã hội đã cho thấy, của cải nhận được nhờ từ thiện chỉ tốt để giải quyết những khó khăn ngắn hạn như ốm đau, thiếu tiền học… còn cái giàu bền vững chỉ có được nhờ lao động của bản thân. Thực ra người nghèo mới nên xấu hổ vì trừ những người không may, lỡ vận hoặc sức khỏe kém, quá nhiều người nghèo là do lười biếng, kém cỏi. 

Vì sao người giàu khoe khoang thì bị chê bai, xói móc, còn người nghèo kêu ca lại không? Phải chăng vì những người chê đang ghen tị với sự giàu có của số người kia? Và liệu có ai tìm hiểu, những người giàu mà họ đang chê bai thù hận kia với những người tỏ ra đạo đức này, ai đang thực sự đóng góp từ thiện, tạo công ăn việc làm nuôi người nghèo? 

Suốt thời thơ ấu, mình đã chứng kiến đất nước trong cảnh bần hàn, cơm không có ăn, áo không đủ mặc, từ thành thị đến nông thôn cảnh quan đều nhếch nhác, tiêu điều, khách du lịch đến không có gì để thăm quan trừ mấy di tích chiến tranh. Mình vốn tưởng Việt Nam chỉ có vậy cho đến khi được đọc sách thời Tự lực Văn đoàn, nghe gia đình kể lại mới biết Hà Nội, Sài Gòn đều từng là đất kinh kỳ nổi tiếng thanh lịch, Hòn ngọc Viễn Đông, v.v... 

Sự thể thế này, một phần do chiến tranh nhưng phần lớn là bởi suy nghĩ ấu trĩ, căm ghét người giàu của một bộ phận người ít học, được dịp lợi dụng các cuộc cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản... để thỏa chí dập vùi người hữu sản. Họ không hề nghĩ giàu hay nghèo đều không phải là tội ác, hầu hết người giàu đều do họ hay cha ông tự tay làm nên. 

Sự tiêu pha của người giàu sẽ giúp người nghèo có công ăn việc làm, qua đó phát triển kinh tế. Và chính những công trình như nhà cửa, lăng tẩm, trang sức... của người giàu giúp cho những người thợ có cơ hội phát triển tay nghề, để lại di sản cho ngành du lịch sau này. Học thuyết kinh tế hiện đại đã cho thấy, chính sự tiêu dùng chứ không phải tiết kiệm mới là động lực cho kinh tế phát triển. 

Thực tế ở Việt Nam đã cho thấy sự cướp bóc của người giàu qua các cuộc cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản để chia cho người nghèo đã không khiến dân nghèo giàu lên vì người nghèo không biết cách làm đồng tiền sinh lời, mà còn triệt tiêu động lực phát triển của các cá nhân, tàn phá kinh tế, cảnh quan đất nước. 

Khi ra nước ngoài, ngắm nhìn các công trình cổ kính của vua chúa, quý tộc của họ, ta có bao giờ tự hỏi: “Vì sao Việt Nam không còn mấy di sản để tự hào với khách thăm quan? Phải chăng chính vì tính hẹp hòi, ghen ăn tức ở của chúng ta, đời sau luôn có xu hướng phá hết di sản của những triều đại trước?”. Để lại một đất nước mãi nghèo nàn, lạc hậu cả về kinh tế, văn hóa và sự bao dung. 

Không ai ủng hộ cách tiêu tiền quá lố của nhiều người nhưng đó là quy luật của nhà giàu mới nổi. Tục ngữ xưa có câu: “Học chữ chỉ cần một đời, học ăn phải hai đời, còn học chơi phải ba đời” - với lịch sử hơn hai ngàn năm là một nước nghèo, lại sai lầm là kỳ thị người giàu suốt hơn nửa thế kỷ thì người giàu mới nổi chưa biết tiêu tiền cho đẹp là đương nhiên. 

Tuy nhiên, GIÀU và LỐ đều không phải tội lỗi, có thể bị chê cười nhưng không đáng bị căm ghét. 

Một quốc gia chỉ có thể giàu mạnh khi những người dân giàu có. Nhưng không ai muốn/dám làm giàu khi bị xã hội xoi mói, kỳ thị, thậm chí thù hận. Mong truyền thông và xã hội hãy góp phần nâng cao nhận thức cho công chúng về cách chi tiêu đẹp nhưng hãy loại bỏ ngay tư tưởng kỳ thị hay căm ghét người giàu để Việt Nam có thể vĩnh viễn thoát khỏi vị thế của quốc gia nghèo! 

(*) Bài viết đã trích đăng trên báo điện tử “Vietnamnet” với tiêu đề “Khoe biệt thự, xe hơi, túi hiệu... là không thể tha thứ?”. Bản trên NCTG là bản gốc của tác giả với sự chỉnh lý, biên tập của NCTG. 

Nguyễn Hoàng Anh, từ Hà Nội


Bắc Kỳ Nam Kỳ – Điều gì sẽ xóa bỏ hận thù

[Bắc Kỳ Nam Kỳ – Điều gì sẽ xóa bỏ hận thù ] Tôi sẽ bắt đầu với một điều không bí mật. Đó chính là dân Nam Kỳ rất không thích dân Bắc Kỳ, và dân Bắc Kỳ cũng không thích dân Nam Kỳ. Giờ cả hai bên đều ghét nhau. Tôi sẽ không nói về hận thù nữa, nhưng tôi sẽ nói về điều gì sẽ làm tan biến hận thù Bắc Kỳ Nam Kỳ này.

< iframe width="750" height="90" frameborder="0" marginwidth="0" marginheight="0" vspace="0" hspace="0" allowtransparency="true" scrolling="no" allowfullscreen="true" id="aswift_0" name="aswift_0" style="margin: 0px; padding: 0px; border-width: 0px; border-style: initial; font-style: inherit; font-variant: inherit; font-weight: inherit; font-stretch: inherit; font-size: inherit; line-height: inherit; font-family: inherit; vertical-align: baseline; max-width: 100%; left: 0px; position: absolute; top: 0px; width: 750px; height: 90px;">< /iframe>

Ngày xưa tôi rất ghét dân Bắc Kỳ. Ghét, ghét và rất ghét. Ghét cỡ nào hả? Ghét tới mức thế này này:

  1. Đầu đường nhà tôi có tiệm tạp hóa của con mẹ Bắc Kỳ, tôi ghét tôi không mua. Đi bộ tầm 200m tới tiệm tạm hóa của cái cô Nam Kỳ kia.
  2. Nhà tôi bán đất, có ông Bắc Kỳ tới mua, nhà tôi ghét, nhất quyết không bán.
  3. Nhà cho thuê phòng trọ, có vài người Bắc Kỳ tới hỏi thuê, ghét không cho thuê, nói hết phòng.
  4. Tôi đi du học, trong giảng đường có vài đứa Bắc Kỳ ngồi sồn sồn xì xì, tôi ghét đi ra chỗ khác ngồi.
  5. Trong lớp khi làm việc nhóm, có vài đứa Bắc Kỳ kia, tôi ghét không làm chung với tụi nó.
  6. Tôi chơi Facebook, thấy ai kết bạn là là Bắc Kỳ thì ghét, nhất quyết không nhận lời.
  7. Tôi tham gia diễn đàn, thấy nhiều Bắc Kỳ quá, ghét không tham gia nữa.
  8. Ba tôi hay nói: “Mày cưới ai cũng được, làm ơn tránh xa đám Bắc Kỳ ra.”
  9. Tôi hay nói với mấy cô bạn gái của tôi: “Em cặp với thằng nào thì cặp, đừng cặp với tụi Bắc Kỳ.”
  10. Tôi làm ăn kinh doanh, mọi người trong gia đình đều phán: “Làm ăn làm ơn tránh xa đám Bắc Kỳ ra.”

Vân vân, vân vân và vân vân. Ghét cỡ đó đó. Nhưng rồi tôi ra ngoài đời trải nghiệm. Học tập với vài bạn Bắc Kỳ, rồi làm việc với vài người Bắc Kỳ. Rồi ra đời nữa thì làm ăn, giao tiếp và buôn bán với người Bắc Kỳ. Và tôi cảm thấy họ là những người bình thường. Đừng hiểu sai, đa số người Bắc Kỳ vẫn còn xấu tình, nhưng không phải ai cũng vậy.

< iframe width="750" height="90" frameborder="0" marginwidth="0" marginheight="0" vspace="0" hspace="0" allowtransparency="true" scrolling="no" allowfullscreen="true" id="aswift_1" name="aswift_1" style="margin: 0px; padding: 0px; border-width: 0px; border-style: initial; font-style: inherit; font-variant: inherit; font-weight: inherit; font-stretch: inherit; font-size: inherit; line-height: inherit; font-family: inherit; vertical-align: baseline; max-width: 100%; left: 0px; position: absolute; top: 0px; width: 750px; height: 90px;">< /iframe>

Từ khi tôi tham gia diễn đàn và gõ bàn phím thì hay nói chuyện với các bạn Bắc Kỳ. Học sinh có, người đi làm có, du học sinh có và những người mất dạy có. Quan niệm tôi thay đổi từ đó. Tôi không còn ghét Bắc Kỳ nữa, tôi ghét những thằng những con nào bố láo mất dạy. Nhưng khổ cái là đa số những thằng những con bố láo đó là Bắc Kỳ.

Nhưng tôi không để điều đó ảnh hưởng đến mối giao tiếp của tôi. Trắng ra trắng, đen ra đen. Vì vậy, điều tôi muốn nói là gì? Sự tử tế sẽ xóa bỏ định kiến vùng miền và hận thù. Sự tử tế sẽ xóa bỏ khoảng cách Bắc Kỳ Nam Kỳ.

Riêng tôi thì tôi rất thích các bạn gái Bắc Kỳ. Các bạn ấy có giọng nói rất ngọt ngào. Tôi thích. Xin đừng hiểu sai tôi. Tôi vẫn còn định kiến cá nhân về cùng miền nhưng sự tử tế của từng cá nhân sẽ quyết định tôi ghét hay không ghét người đó. Cho nên thay vì sồn sồn lên chửi mỗi lần ai đó nói “Bắc Kỳ, Nam Kỳ” thì hãy tử tế. Vì sự tử tế đó là đòn bẩy lợi hại nhất để phản bác. Chứ đừng có ngồi đó phàn nàn kêu ca người ta kỳ thị hay phân biệt. Hay ngồi đó giận hờn vu vơ. Điều đó rất nhảm. Hãy tử tế, đó là giải pháp tốt nhất.

Ku Búa @ Cafe Ku Búa

Người châu Á yêu, ghét nhau tới mức nào?

Khi Nhật Bản trải qua một đợt động đất mạnh vào tuần qua, một số người Trung Quốc đã tổ chức ‘ăn mừng’.

Hàng chục người thiệt mạng, 200.000 người mất nhà cửa sau nhiều trận động đất hôm 16/4 vừa qua tại Nhật Bản. Phản ứng trước mất mát này, hai công ty của Trung Quốc đã tranh thủ giảm giá, ưu đãi cho khách hàng nhân thảm họa tại Nhật.

người châu Á, quan hệ Trung Nhật, tranh chấp, oán giận, lịch sử
Sau trận động đất tại Nhật tuần qua, nhà hàng Trung Quốc treo băng rôn ghi: "Nhiệt liệt chúc mừng động đất Nhật Bản, buổi tối đến dùng bữa tại nhà hàng được tặng 1 thùng bia".

Một nhà hàng Trung Quốc còn treo băng rôn: “Nhiệt liệt chúc mừng động đất tại Nhật Bản. Tối nay, ai ghé cửa hàng sẽ được một thùng bia miễn phí”. Mức độ ưu đãi dành cho khách hàng tăng theo cường độ động đất tại Nhật.

Nhiều người cho rằng, tâm lý chống Nhật từ Thế chiến II, cùng với chủ nghĩa dân tộc cực đoan, đã tạo nên làn sóng căm ghét người Nhật trong một số người Trung Quốc hiện nay.

Khi vấn đề quá khứ chưa được giải quyết triệt để, tranh chấp chủ quyền trên biển Hoa Đông giữa Bắc Kinh và Tokyo càng khiến cho quan hệ ngoại giao song phương và cách người dân nhìn nhận về đối phương xấu đi trầm trọng.

Thực tế trên, cùng với nhiều sự việc khác đang diễn tiến, một lần nữa cho thấy giữa nhiều quốc gia châu Á vẫn tồn tại nhiều khúc mắc lịch sử không thể giải quyết. Và đây là một điểm rất khác biệt giữa châu Á và châu Âu trong cách ứng xử với quá khứ.

Trong khi nhiều quốc gia ở châu Âu có thể khép lại chuỗi lịch sử đẫm máu để cùng hướng tới phát triển thành một khối thống nhất, thì quan hệ của nhiều nước châu Á vẫn chỉ dừng lại ở mức ‘bằng mặt, không bằng lòng’.

Trong một tiểu luận, tờ tạp chí Economist có đề cập một thực tế là, tại châu Á, những nỗi oán hận rất khó nguôi ngoai.

người châu Á, quan hệ Trung Nhật, tranh chấp, oán giận, lịch sử
Nghiên cứu của hãng Pew về mức độ yêu/ghét giữa các nước châu Á. (Ảnh: Economist)

Tạp chí Nghiên cứu Pew về cảm tưởng của người dân ở các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương cũng xác nhận nhận định này.

Những mối hận thù trong lịch sử đã tô điểm cho các cách nhìn tại Đông Á, đặc biệt (ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) là về các quốc gia khác.

Bảy mươi năm sau khi Nhật Bản đầu hàng trong Thế chiến II và chấm dứt thời kỳ chiếm đóng phần lớn Trung Quốc, rất ít người Trung Quốc nhìn Nhật Bản theo hướng thiện chí.

Tương tự, do Trung Quốc ngày càng cứng trong tranh chấp lãnh thổ với Nhật Bản tại quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư, số người Nhật có cái nhìn tích cực với Trung Quốc cũng giảm xuống mức tương đương.

Chiến tranh thế giới thứ 2 chấm dứt, đồng thời kết thúc thời kỳ Nhật thống trị Hàn Quốc. Rất nhiều người Hàn Quốc, cũng như người Trung Quốc, vẫn tin rằng Nhật không xin lỗi tương xứng với quá khứ đô hộ và quân phiệt của họ.

Ngày nay, chỉ có 25% người Hàn Quốc nhìn về Nhật Bản một cách thiện chí.

Ở những nơi khác, dù nhiều quốc gia từng bị Nhật đô hộ, nhưng họ vẫn có cái nhìn tích cực về Nhật. Chẳng hạn như ở Malaysia, cũng từng bị Nhật chiếm đóng trong chiến tranh, 84% số người được hỏi có thiện cảm với Nhật.

Tương tự như Đông Nam Á, cả Ấn Độ và Pakistan đều thiện chí với Nhật (trong khi Ấn Độ và Pakistan vẫn đầy hiềm khích với nhau).

Trong khi đó, Trung Quốc vẫn rất được lòng người ở quốc gia ‘bạn bè trong mọi hoàn cảnh’ là Pakistan. Nhưng ở những quốc gia khác, đặc biệt là có chung biên giới trên biển Đông, lại cảm thấy lo ngại về Trung Quốc.

Họ cảm thấy hoảng hốt trước những hoạt động xây dựng của Trung Quốc ngoài biển Đông, biến các bãi cạn và đá thành đảo nhân tạo, có thể phục vụ cho mục đích quân sự. Khi được hỏi về các tuyên bố chủ quyền chồng lấn của Trung Quốc ở biển Đông, đa số người dân ở Philippines và Việt Nam đều ‘cảm thấy rất lo ngại’.

Phần đông người dân Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc – những nước có bất đồng với Trung Quốc về chủ quyền – cũng cảm thấy lo lắng như vậy.

Trong nghiên cứu của hãng Pew cũng cho thấy, quốc gia có cảm tình với Ấn Độ nhất là Việt Nam (66%), Hàn Quốc (64%), Nhật Bản (63%), Australia (58%), Indonesia (51%), Philippines (48%), Malaysia (45%), Trung Quốc (24%) và Pakistan (16%).

Về phía Trung Quốc, quốc gia có cảm tình nhất với Bắc Kinh là Pakistan (82%), Malaysia (78%), Indonesia (63%), Hàn Quốc (61%), Australia (57%), Philippines (54%); mức độ thiện cảm giảm dần ở Ấn Độ (41%), Việt Nam (19%) và Nhật Bản (9%).

Lê Thu

Xu thế ‘ghét người Hoa’

(Hình minh họa: Guang Niu/Getty Images)

Tạp ghi Huy Phương

Hình như từ khi có người Việt thì đã có người Hoa rồi.

Chẳng lấy làm lạ, không ở đâu là vắng bóng người Hoa, đến đỗi người ta nói: “Ở đâu có khói, thì ở đó có người Hoa!” Và ở đâu, họ cũng làm nghề buôn bán, từ lớn như một cửa hàng tạp hóa hay vải vóc, đến một xe mì gõ, một gánh chè “lục tào xá,” gánh ve chai hay một bình lạc rang. Thời thơ ấu, ở một tỉnh nhỏ miền Trung, tôi vẫn thường nghe cha mẹ nói đến việc người Hoa buôn bán ngay thẳng, không gian lận, giả dối, biết giữ chữ tín.

Người Việt Nam, tuy vì hoàn cảnh xã hội, phải sống chung với các sắc dân khác, nhưng không bỏ dược tinh thần kỳ thị, có khi mình không hơn ai nhưng vẫn tỏ ra lòng khinh rẻ người khác. Tây Mỹ hay dân tộc thiểu số đều được gọi bằng “thằng,” thằng Tây, thằng Mỹ, thằng Mọi “cà lơ.” Đen thì ví là “cột nhà cháy,” trắng thì gọi là “bạch quỷ,” mũi người ta cao hơn mình thì gọi là “thằng mũi lõ.”

Đối với người Hoa, dù đã sống đời trên đất Việt từ lâu, vẫn bị gọi là Chú Chệt, Ba Tàu. Cứ nhìn qua các thành ngữ hay văn chương bình dân, chúng ta thấy người Việt ít có lòng tôn trọng đối với người Hoa. Nói bậy thì gọi là “nói Tiều nói Quảng,” tử tế, đàng hoàng thì bị chê là “quân tử Tàu,” nói loanh quanh thì bị cho là “vòng vo Tam Quốc,” trước sau bất nhất thì bị coi là “đầu Ngô, mình Sở,” mỉa mai hơn nữa là thành ngữ “dáo Tàu đâm Chệt…”

Tuy vậy, gần cả thế kỷ nay, lớn lên tôi chưa nghe ai nói đến chuyện ghét Trung Quốc.

Cách đây một thế kỷ, người Hoa ở Việt Nam còn nói tiếng Hoa, giữ phong tục của họ như tục phụ nữ bó chân, đàn ông đuôi sam. Tuy có buôn bán sinh hoạt với người Việt nhưng người Hoa có hệ thống sinh hoạt cộng đồng riêng biệt chặt chẽ, như bang, hội, có trường học, rạp hát, đình chùa mang bản sắc Trung Hoa, các bảng hiệu, tiệm buôn mang đầy chữ Hán.

Ở trên cùng một đất nước, chịu bao nhiêu nghịch cảnh chiến tranh, bom đạn, chia lìa, tôi thấy chẳng bao giờ ghét người Hoa.

Bản sắc người Hoa ở Việt Nam phai nhạt dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, khi chỉ một tháng sau ngày nền Cộng Hòa được thành lập, thủ tướng đã ban hành Dụ số 10, tiếp theo sau đó là Dụ số 48 quy định về Bộ Luật Quốc Tịch Việt Nam. Trong đó, điều 12 ghi rõ: “Tất cả những ai gốc Hoa sinh ra ở Việt Nam đều bắt buộc phải nhập Việt tịch, để được có quyền lợi và nghĩa vụ của công dân Việt Nam, hoặc nếu không chịu nhập tịch thì có thể xin hồi hương (về Đài Loan) trước ngày 31 Tháng Tám, 1957.” Điều này có nghĩa là từ đây, người Hoa cũng phải đóng góp xương máu để bảo vệ miền Nam.

Người Hoa phải Việt hóa tên họ, kể cả bí danh, trong những văn kiện chính thức. Tên hiệu các cơ sở thương mại, văn hóa, phải được viết bằng Việt ngữ.

Dụ 53 chỉ định chín nghề huyết mạch của nền kinh tế, mà ngoại kiều, hay các hội xã, công ty ngoại quốc không được hoạt động.

Phản ứng lại, các thế lực Trung Hoa trong và ngoài nước tẩy chay sản phẩm Việt Nam, và cả hàng hóa Mỹ ở Việt Nam, người Hoa ồ ạt rút hết tiền ký thác trong các ngân hàng, đồng tiền Việt Nam bị mất giá thị trường chứng khoán Hồng Kông, Hồng Kông từ chối nhận 40,000 tấn gạo mặc dù đã ký hợp đồng từ trước.

Không phải riêng Việt Nam, tại các nước Đông Nam Á, người Hoa ở đâu cũng dùng sức mạnh đồng tiền để thao túng thị trường, chuyên hối lộ và khuynh đảo các viên chức hành chánh tham nhũng, đóng thuế cho cả hai bên để thủ lợi và được yên thân.

Đến cuối năm 1974, người Hoa ở miền Nam Việt Nam kiểm soát hầu hết các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện… và gần như độc quyền thương mại, xuất nhập cảng.

Tuy vậy, cuối cùng người Hoa cũng thúc thủ, dần dần đồng hóa với người Việt, nhiều người gốc Hoa, nhưng không nói nổi một câu tiếng Tiều, tiếng Quảng.

Người Hoa tại Việt Nam trở thành công dân Việt, được gọi là “người Việt gốc Hoa” từ đó cũng làm bổn phận công dân, đóng thuế, đi lính. Trong cuộc chiến chống Cộng Sản họ bị động viên ra chiến trường, tuy người Hoa có nhiều “lính ma, lính kiểng,” nhưng cũng cùng hoàn cảnh, không thấy ai ghét người họ.

Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, khi Việt Cộng chiếm miền Nam, Chợ Lớn là nơi tập trung nhiều người Hoa, một sớm một chiều, họ giương cờ đỏ Trung Quốc rợp trời, thời VNCH họ là người Hoa Đài Loan, thời Cộng Sản vào miền Nam, họ người Hoa Đại Lục, thì phải treo cờ Trung Quốc, hy vọng sẽ được chính quyền Bắc Kinh bao bọc.

Sợ lòng dạ Trung Quốc, và lực lượng người Hoa ở Chợ Lớn, coi như đạo quân thứ năm, và những người trong ruột con ngựa thành Troie, cuối cùng, cờ Trung Quốc phải được dẹp bỏ, người Hoa, nhất là tại Chợ Lớn, phải chịu chiến dịch trưng dụng tước đoạt tài sản của người giàu có, bắt bớ, cầm tù họ, mệnh danh là công cuộc “cải tạo công thương nghiệp” của những người thắng cuộc. Người Hoa cũng như người Việt ở miền Nam đã chịu ba lần đổi tiền tàn độc, vơ vét hết tài sản, trở thành trắng tay. Việt Cộng cũng dẹp hết tổ chức bang, hội của người Hoa. Cho đến năm 1978, khoảng 30,000 doanh nghiệp lớn nhỏ của người Hoa bị quốc hữu hóa, 250,000 ngàn người Hoa chạy sang Trung Quốc, năm 1979, qua biên giới phía Bắc, chúng ta gọi sự kiện này là nạn kiều. Người Hoa bị ép buộc trở về Trung Quốc, mặc dù cha ông họ qua Việt Nam đã nhiều đời, sinh đẻ ở đây, không còn liên lạc với dòng họ bên Trung Quốc, không biết tiếng Hoa, làm sao để trở về được, nhiều người thất vọng, tự sát.

Trước năm 1975, chúng ta có phiền hà chuyện người Hoa thao túng kinh tế miền Nam và mua chuộc nhiều quan chức trong chính phủ, nhưng thực tế không ai thù ghét họ, và sau năm 1975, họ cùng người Việt ở miền Nam là nạn nhân của Cộng Sản Bắc Việt. Họ cùng bị tù đày, phân biệt đối xử, cùng nhau xuống tàu vượt biển, nên cũng chẳng ai ghét người Hoa. Ở trong nhà tù Cộng Sản, chúng tôi gặp nhiều người gốc Hoa thuộc diện “phục quốc,” cũng không thiếu anh em người Hoa trong quân đội, đảng phái phải chịu cảnh tù đày.

Nhưng 40 năm qua, tình hình thay đổi rất nhiều, Trung Quốc, một kẻ đàn anh từng ra ơn cho Việt Cộng, từ xe tăng, súng đạn đến đôi dép râu, bánh lương khô, không thể nào để cho đất nước này thoát khỏi vòng tay của chúng, thường xách mé, miệt thị Việt Nam Cộng Sản là kẻ vô ơn, cần cho một bài học. Đảng Cộng Sản ngày nay không đủ sức mạnh, không có sự liên kết nào có thể đương đầu, không có trí tuệ, tỏ ra hèn nhát, quỵ lụy, để mất đảo, cho thuê đất thuê rừng với giá rẻ như cho không. Đảng Cộng Sản Việt Nam bị Trung Quốc lấn lướt, ngư dân bị đốt tàu, làm nhục, giới quân sự cũng bị đe dọa tránh xa vùng đất Trung Quốc chiếm cứ. Ngay cả trong hải phận của Việt Nam, người Hoa vẫn chủ động lấn lướt coi như đó là sân sau của chúng, coi dân Việt như như đứa con hư, một loại “nghịch tử” đòi phải “hồi đầu!”

Mặt khác, hàng hóa, thực phẩm Trung Quốc đầu độc cả thế giới, và nông dân Trung Quốc có tiền, thời mở cửa, đã gây ra một làn sóng du lịch vô văn hóa, từ cái ăn, đến cái ỉa, làm cho thế giới khinh miệt, coi rẻ. Người Việt trong nước và cả hải ngoại, trước tình thế này không làm sao tránh khỏi xu thế “ghét Hoa.”

Bản chất của mỗi con người từ lúc sinh ra không phải xấu, như nước từ nguồn hay nước sông biển. Xấu là vì nước đó nằm trong chai Trung Quốc hay lọ Việt Nam. Vì sao ngày nay, người ta ghét người Hoa và xem thường người Việt, câu trả lời rất đơn giản.

Ghét hay thương là chuyện của con tim và cả lý trí, nhưng hèn đến đỗi một tướng cầm quân mà “so vai rụt cổ” cho rằng: “Xu thế ghét Trung Quốc nguy hiểm cho dân tộc,” thì dân tộc này chắc chắn thuộc loại hèn hạ, chẳng ra gì!

Người Hoa, dưới sự phán xét của bạn, họ có đáng ghét không?

Nhà báo Trung Quốc lý giải tại sao người Việt yêu mến Nhật Bản hơn

HỒNG THỦY

(GDVN) - Sự tồn tại của nhân tố Trung Quốc vừa đóng vai trò thúc đẩy quan hệ Việt - Nhật phát triển gần gũi, đồng thời cũng tạo ra giới hạn cho quan hệ này.

Thời báo Hoa Hạ (chinatimes.cc), một tờ báo có tiếng trong làng báo chí Trung Quốc, số lượng phát hành đứng đầu trong các báo chuyên về tài chính - kinh tế Trung Quốc ngày 1/3 đăng bài viết của nhà báo Triệu Linh Mẫn với tựa đề:

"Quan hệ Nhật - Việt 'phi điển hình' sau chuyến thăm Việt Nam của Nhà vua và Hoàng hậu Nhật Bản".

Thông điệp chính từ bài viết của bà Triệu Linh Mẫn được Thời báo Hoa Hạ trích dẫn (chapeau hay sa-pô) viết:

"Tháng 4/2015, Trung tâm Nghiên cứu Pew, Hoa Kỳ công bố kết quả một cuộc điều tra cho thấy, có tới 82% người Việt Nam được hỏi có tình cảm tốt đẹp với Nhật Bản.

Con số này cao hơn rất nhiều số người có thiện cảm với Trung Quốc 'vừa là đồng chí, vừa là anh em', nhưng có tranh chấp chủ quyền, với tỉ lệ chỉ đạt 19%".

Nhận thấy bài viết này thể hiện góc nhìn của một nhà báo, nhà quan sát có tiếng tăm trong làng báo Trung Quốc về quan hệ Việt - Nhật, Việt - Trung cũng như vấn đề Biển Đông, xin dịch lại dưới đây và đưa ra mấy lời nhận xét, ngõ hầu giúp bạn đọc có thêm thông tin tham khảo.

Hoạt động thăm viếng cấp cao Việt Nam - Nhật Bản diễn ra liên tục

Ngày 28/2 Nhà vua Nhật Bản Akihito và Hoàng hậu bắt đầu thăm chính thức Việt Nam cùng Thái Lan 7 ngày 6 đêm (thực tế Nhà vua và Hoàng hậu thăm chính thức Việt Nam 6 ngày, trên đường về qua Thái Lan viếng cố Quốc vương mới băng hà).

Đây là lần đầu tiên Nhà vua Nhật Bản thăm chính thức thăm Việt Nam.

Nhà vua Nhật Bản Akihito và Hoàng hậu thăm chính thức Việt Nam, ảnh: Thời báo Hoa Hạ (chinatimes.cc).

Lịch trình cụ thể bao gồm các cuộc hội kiến với Chủ tịch nước Trần Đại Quang, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, gặp mặt một số quả phụ và hậu duệ binh lính Nhật trong chiến tranh.

Trên đường trở về Nhật Bản, Nhà vua và Hoàng hậu sẽ qua Bangkok viếng cố Quốc vương Bhumibol Adulyadej mới băng hà, và hội kiến với tân Quốc vương Vajiralongkorn.

Trước đó hơn một tháng, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe vừa mới thăm chính thức Việt Nam. Trong chuyến thăm này, ông Shinzo Abe cam kết sẽ cung cấp vốn vay phát triển và 6 tàu tuần tra cho Việt Nam, tiếp tục giúp Việt Nam tăng cường năng lực "bảo đảm an ninh trên biển".

Trong chuyến thăm này, ông Shinzo Abe liên tục nhắc đến Biển Đông. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc khi đó đã tỏ ý trách móc cách làm này của Nhật Bản là "động cơ không trong sáng, thiếu lành mạnh".

Trên thực tế kể từ khi ông Shinzo Abe trở lại ghế Thủ tướng Nhật Bản lần thứ 2 vào năm 2012, hoạt động thăm viếng lẫn nhau giữa lãnh đạo cấp cao Việt Nam và Nhật Bản vô cùng mật thiết.

Tháng 1/2013 Thủ tướng Shinzo Abe chọn Việt Nam làm quốc gia đầu tiên ông đi thăm.

Tháng 3/2014, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm Nhật Bản, quan hệ song phương được nâng cấp thành đối tác chiến lược rộng rãi, cùng nỗ lực vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á.

Tháng 7/2015 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Nhật Bản; tháng 8 cùng năm Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm Nhật Bản; tháng 9 cùng năm, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Nhật Bản.

Tuyên bố chung Việt Nam - Nhật Bản trong chuyến thăm của Tổng bí thư tiếp tục nhấn mạnh, hai bên nỗ lực xây dựng quan hệ đối tác chiến lược rộng rãi, cùng nỗ lực vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á.

Tần suất thăm viếng lẫn nhau dày đặc của lãnh đạo cấp cao hai nước cho thấy, quan hệ Việt Nam - Nhật Bản đã phát triển đến mức độ chưa từng có. Sở dĩ như vậy là vì mấy nguyên nhân chủ yếu dưới đây.

Đầu tiên, Nhật Bản và Việt Nam không có những vấn đề lịch sử dây dưa kéo dài.

Những năm gần đây, quan hệ Nhật - Trung, Nhật - Hàn ngày càng xấu đi, nguyên nhân căn bản là vì những vấn đề lịch sử xâm lược trong Chiến tranh Thế giới II.

Trung Quốc và Hàn Quốc nhận thấy, thái độ nhận tội của Nhật bản không thành khẩn. Trong khi giữa Việt Nam và Nhật Bản không có vấn đề này.

Trong Chiến tranh Thế giới II, mặc dù Nhật Bản cũng đã từng xâm lược các nước Đông Nam Á bao gồm Việt Nam, cũng gây ra những tổn thất về sinh mạng và tài sản, nhưng những quốc gia trong khu vực cơ bản không thù địch Nhật Bản.

Với các vấn đề lịch sử, họ cho rằng chuyện gì đã qua hãy để nó qua đi. 

Trên thực tế, nhà lập quốc Singapore Lý Quang Diệu hay tướng Aung San, cha đẻ của bà Aung San Suu Kyi, được người dân Myanmar tôn làm Quốc phụ trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng đều đã từng hợp tác với Nhật.

Nhưng không vì thế mà người dân hai nước cho rằng "đạo đức của họ có vấn đề", chứ đừng nói tới chuyện họ có thể bị ám toán sau những chuyện này.

Đó là vì thời gian Nhật Bản thống trị các nước này tương đối ngắn, chỉ khoảng 3 năm, tội ác gây ra cũng có hạn.

Tại sao Trung Quốc không kỷ niệm 20 năm ngày giỗ của Đặng Tiểu Bình?

(GDVN) - Truyền thông Trung Quốc thể hiện rõ "lập trường" của họ trong ngày giỗ lần thứ 20 của Đặng Tiểu Bình là "trung lập và không đặc biệt ca ngợi họ Đặng ngày này".

Hơn nữa, các nước này đã trải qua một thời gian dài bị thực dân phương Tây đô hộ, cướp bóc, trong khi Nhật Bản biết cân đối giữa khai thác tài nguyên và phát triển kinh tế ở thuộc địa.

Chính vì thế trong thời gian Chiến tranh Thế giới II, kinh tế thực dân ở các nước Đông Nam Á cũng có những phát triển nhất định.

Hai là, các quốc gia Đông Nam Á phần lớn khi đó đều là thuộc địa của thực dân phương Tây. Tầng lớp tinh hoa trong xã hội phổ biến ác cảm, căm thù chủ nghĩa thực dân phương Tây.

Sự xuất hiện của quân Nhật được các tầng lớp tinh hoa này tận dụng để chống lại thực dân phương Tây.

Sau khi Chiến tranh Thế giới II kết thúc vào tháng 3/1945, Nhật Bản thay thế thực dân Pháp cai trị Đông Dương và tuyên bố Việt Nam, Lào, Campuchia độc lập.

Tất nhiên "độc lập" ấy chỉ là giả hiệu, nhưng quả thực Nhật Bản cũng đã mở rộng phạm vi tham gia chính trị cho tầng lớp tinh hoa bản địa.

Bởi vậy, so với tội ác gây ra với Trung Quốc và Hàn Quốc, hành động xâm lược của Nhật Bản với Đông Nam Á trong đó có Việt Nam là có kiểm soát, có tiết chế. Đồng thời khách quan mà nói, Nhật cũng đã làm được một số việc tốt.

Đây là lý do chủ yếu giải thích tại sao người dân khu vực này không ghét Nhật Bản. 

Tháng 4/2015, Trung tâm Nghiên cứu Pew, Hoa Kỳ công bố kết quả một cuộc điều tra cho thấy, có tới 82% người Việt Nam được hỏi có tình cảm tốt đẹp với Nhật Bản.

Con số này cao hơn rất nhiều số người có thiện cảm với Trung Quốc 'vừa là đồng chí, vừa là anh em', nhưng có tranh chấp chủ quyền, với tỉ lệ chỉ đạt 19%".

Hợp tác cùng có lợi về kinh tế thương mại, lãnh hải

Trong quan hệ kinh tế thương mại, tính tương trợ bổ sung cho nhau giữa Việt Nam và Nhật Bản rất mạnh. 

Việt Nam xem Nhật Bản là đối tác hợp tác kinh tế thương mại có giá trị nhất. Hiện nay, Nhật Bản là nước đầu tư viện trợ lớn thứ 2, đối tác du lịch lớn thứ 3, đối tác thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam.

Năm 1992, Nhật Bản bắt đầu cấp vốn vay phát triển ODA cho Việt Nam. Hiện tại, Việt Nam là nước nhận được ODA lớn nhất từ Nhật Bản, chiếm tới 30% tổng số vốn ODA Việt Nam nhận được.

Theo số liệu từ phía Việt Nam, trong 20 năm qua, Nhật Bản đã cam kết cung cấp cho Việt Nam tới 90 tỉ USD vốn ODA dưới nhiều hình thức, hợp đồng ký kết thực tế đạt được 73,68 tỉ USD, bình quân mỗi năm 3,5 tỉ USD.

Đại đa số các công trình hạ tầng trọng điểm của Việt Nam do Nhật Bản xây dựng.

Năm 2014, hai tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa 2 nước đạt 27,6 tỉ USD, trong đó Việt Nam xuất sang Nhật Bản hàng hóa tổng trị giá 14,7 tỉ USD, tổng trị giá nhập khẩu từ Nhật Bản 12,9 tỉ USD.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe - Ảnh: VGP/Quang Hiếu.

Về mặt chủ quyền lãnh hải, Việt Nam và Nhật Bản không có mâu thuẫn hay xung đột, trong khi đều có tranh chấp với Trung Quốc (Bắc Kinh nhảy vào tranh chấp).

Có thể nói sự thực thi chiến lược xoay trục sang châu Á dưới thời Barack Obama hay những căng thẳng gia tăng trên Biển Đông vài năm gần đây là một chất xúc tác quan trọng làm quan hệ Nhật - Việt phát triển nóng.

Giữa Việt Nam và Trung Quốc có tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, Việt Nam cũng có những tâm tình không thể nói trong một thời gian dài bị Trung Quốc đô hộ suốt thời phong kiến.

Từ khi ông Shinzo Abe trở lại chính trường, vì thái độ "ỡm ờ" với lịch sử nên quan hệ với Trung Quốc ngày càng căng thẳng, lại thêm việc cố ý làm con tốt cho Hoa Kỳ, thay Mỹ bao vây Trung Quốc.

Cứ như thế, hai bên (Việt Nam, Nhật Bản) phố hợp nhịp nhàng, bên này hô hào bên kia hưởng ứng, không nói thành lời mà ngày càng gần gũi.

Năm 2012 Ngoại trưởng Nhật Bản thăm Việt Nam, phía Việt Nam đã đề nghị Nhật Bản giúp mình huấn luyện lực lượng Cảnh sát biển, tăng cường năng lực bảo đảm phòng thủ ven bờ.

Năm 2013 khi Thủ tướng Shinzo Abe thăm Việt nam, ông công khai kêu gọi Việt Nam - Nhật Bản cùng hợp tác, đối phó với các hành động ngày càng leo thang của Trung Quốc trong khu vực.

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng khi đó kêu gọi tăng cường hợp tác với các nước trên Biển Đông, bao gồm Nhật Bản. 

Tại Đối thoại An ninh Shangri-la năm 2014, ông Shinzo Abe tuyên bố, Nhật Bản ủng hộ Việt Nam giải quyết vấn đè Biển Đông thông qua đối thoại, đồng thời cam kết cung cấp tàu tuần tra cho Việt Nam.

Đương nhiên, sự tồn tại của nhân tố Trung Quốc vừa đóng vai trò thúc đẩy quan hệ Việt - Nhật phát triển gần gũi, đồng thời cũng tạo ra giới hạn cho quan hệ này.

Trong quan hệ với Nhật Bản, Việt Nam chủ yếu quan tâm đến việc, một mặt cần phải có Nhật Bản để làm đối trọng trong quan hệ với Trung Quốc, mặt khác vẫn phải dựa vào Trung Quốc về chính trị, kinh tế.

Do đó, Việt Nam vừa phải thúc đẩy quan hệ Việt - Nhật phát triển để cân bằng với Trung Quốc, mặt khác phải giữ cho mọi thứ không đi quá đà.

Nhật Bản cũng như vậy, vừa muốn lôi kéo Việt Nam, thúc đẩy quan hệ Việt - Nhật phát triển, nhưng vẫn tự biết rằng, so với quan hệ Việt - Nhật, quan hệ Trung - Nhật quan trọng hơn.

Cái nhìn thiên lệch do chính trị hóa các vấn đề lịch sử, pháp lý

Cá nhân người viết cho rằng, những đánh giá, nhìn nhận của nhà báo Triệu Linh Mẫn trong bài viết này cũng phản ánh nhận thức phổ biến của giới nghiên cứu, quan sát Trung Quốc đương đại.

“Gác lại quá khứ chứ không phải khép lại quá khứ”!

(GDVN) - Đánh giá lại cuộc xâm lăng Biên giới Việt Nam 1979-1989 mà Trung Quốc tiến hành, cần đặt nó vào khung pháp lý quốc tế để xác định nguyên nhân, tìm ra bài học.

Góc nhìn của họ bị hạn chế và chi phối không nhỏ bởi "nhãn quan chính trị", "lập trường chính trị" của giai cấp lãnh đạo đương thời, nên ở mức độ nhất định, khó thấy được bản chất vấn đề.

Người viết không bàn tới chuyện tại sao người Việt Nam cũng như Đông Nam Á không thù hận Nhật Bản, cũng như luận giải của tác giả Triệu Linh Mẫn về điều này.

Chỉ xin lưu ý rằng, đổ lỗi và một chiều không phải là cách tiếp cận các vấn đề lịch sử một cách khoa học, khách quan và cầu thị. 

Tác giả Triệu Linh Mẫn cho rằng, xã hội Trung Quốc hay Hàn Quốc thù hận Nhật Bản vì Tokyo "chưa chân thành nhận tội", hay những gì chủ nghĩa quân phiệt Nhật gây ra cho Đông Nam Á và Việt Nam "nhẹ hơn, ít hơn" so với Trung Quốc, Hàn Quốc (bán đảo Triều Tiên).

Có lẽ là do bà thường xuyên được tiếp xúc (hoặc bị tuyên truyền, giáo dục bởi) các tài liệu tuyên truyền chống Nhật trên báo chí, truyền hình, điện ảnh chiếu ra rả trên các phương tiện truyền thông Trung Quốc từ năm này qua năm khác, từ tháng này qua tháng khác.

Không biết vì lý do gì, nhưng tình cảm và tâm lý chống Nhật Bản đã được chính quyền Trung Quốc sử dụng cho các mục đích chính trị. Điển hình là những vụ biểu tình chống Nhật trên khắp Trung Quốc năm 2009, đập phá bất cứ thứ gì liên quan đến Nhật Bản.

Hàn Quốc - Nhật Bản cũng có tranh chấp lãnh thổ, cũng có những vấn đề do lịch sử để lại, nhưng người dân xứ sở kim chi không có những hành động quá khích, đập phá bất cứ thứ gì liên quan đến Nhật Bản như thế.

Đã là chiến tranh, thì chỉ có máu và nước mắt, hận thù là điều khó tránh.

Nhưng trong quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc láng giềng, thời gian chiến tranh có lẽ chỉ chiếm 5%, 95% còn lại là chung sống hòa bình. Liệu hòa bình có thể đơm hoa nếu như thù hận vẫn ngày ngày được tưới tẩm bằng những tác phẩm tuyên truyền có chủ đích?

Khi đòi một dân tộc khác phải "chân thành nhận tội" vì những gì cha ông họ gây ra cho mình trong một cuộc chiến xâm lược, liệu có khi nào bà Triệu Linh Mẫn và các học giả Trung Quốc có nhìn lại cách hành xử của cha ông mình với các nước nhỏ ngày trước, cũng như các hành vi bành trướng hiện nay mà Trung Quốc theo đuổi trên Biển Đông?

Bà Triệu Linh Mẫn nhận định rằng Việt Nam phát triển quan hệ với Nhật Bản để cân bằng với Trung Quốc, vậy có bao giờ bà tự hỏi mình bằng cách đặt ngược vấn đề, tại sao Việt Nam phải làm như vậy?

Ở đời không có lửa làm sao có khói.

Tham vọng bành trướng và hành động leo thang bất chấp luật pháp quốc tế cũng như công luận mà Trung Quốc theo đuổi trên Biển Đông buộc các nước nhỏ phải hợp tác bảo vệ cho được hòa bình, ổn định và trật tự khu vực dựa trên luật lệ.

Bà Triệu Linh Mẫn, ảnh: Sohu.com.

Nhân loại mỗi ngày một văn minh, hợp tác cùng phát triển hòa bình, thịnh vượng, phồn vinh còn chưa làm hết, hơi đâu các nước nhỏ đi làm chuyện "bao đồng", mua dây buộc mình như người ta vẫn tuyên truyền: theo Mỹ chống Trung Quốc.

Chỉ vì ai đó muốn ăn trên ngồi trốc thiên hạ, muốn biến Biển Đông - tuyến hàng hải huyết mạch quốc tế thành ao nhà, muốn biến lãnh thổ hợp pháp của nước khác thành của mình thì toan tính ấy, hành động ấy không thể không chống lại.

Chữ "lãnh hải" hay "tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông" mà tác giả Triệu Linh Mẫn sử dụng trong bài viết cũng phản ánh nhận thức rất hạn chế về luật pháp quốc tế của bản thân bà và giới truyền thông Trung Quốc.

"Lãnh hải" là một khái niệm pháp lý được Công ước Liên Hợp Quốc 1982 quy định cụ thể, và Việt Nam, Nhật Bản không thể có tranh chấp, cũng không thể có "tương đồng, bổ khuyết cho nhau", đơn giản vì khoảng cách địa lý xa xôi.

"Tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông" là cách đánh đồng tất cả những tranh chấp Trung Quốc cố tình tạo ra, trong đó có vấn đề ứng dụng giải thích UNCLOS 1982.

Điển hình là đường lưỡi bò hay cái gọi là "quyền lịch sử" mà Phán quyết Trọng tài 12/7/2016 do Tòa Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII, UNCLOS 1982 đã bác bỏ.

Hay ví dụ như vụ Trung Quốc cắm giàn khoan 981 bất hợp pháp vào vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa hợp pháp và không có tranh chấp của Việt Nam với âm mưu tạo ra tranh chấp năm 2014.

Đó là những "tranh chấp" do Trung Quốc cố tình gây ra ở những khu vực không có tranh chấp, và đó là việc ứng dụng và giải thích UNCLOS 1982 chứ không phải "tranh chấp chủ quyền".

Còn hợp tác kinh tế - thương mại Việt Nam - Nhật Bản sở dĩ phát triển mạnh và đóng vai trò to lớn trong quan hệ song phương, không chỉ đơn giản là vì Nhật Bản là nước cho vay ODA lớn nhất của Việt Nam.

Đặc biệt là trong bối cảnh Trung Quốc khá "rủng rỉnh" tiền mặt sau mấy chục năm bán hàng giá rẻ trên toàn cầu, và đang cổ súy cho ý tưởng "một vành đai, một con đường" với nhiều dự án, siêu dự án xây dựng cơ sở hạ tầng chào hàng với các nước.

Nhưng rất nhiều nước vẫn khát vốn mà không mấy mặn mà với nguồn vốn từ Trung Quốc, bởi lẽ nước này muốn xuất khẩu các công nghệ / doanh nghiệp lạc hậu gây ô nhiễm ra ngoài lãnh thổ thông qua các nguồn vốn giá rẻ đi kèm điều kiện sử dụng công nghệ / nhà thầu / lao động phổ thông của họ.

Trong khi đó, từ lâu không riêng gì Việt Nam, mà dư luận khu vực, thế giới đều đánh giá cao công nghệ và chất lượng sản phẩm Nhật Bản. Điều đó đã làm lên thương hiệu và uy tín cho đất nước Mặt Trời mọc.

Người viết nhận thấy, những bình luận của nhà báo Triệu Linh Mẫn rõ ràng lời lẽ ôn hòa hơn, ít màu sắc cảm xúc, tuyên truyền như vẫn thấy trên một số phương tiện truyền thông và học giả Trung Quốc trước đây.

Nhưng có lẽ tàn dư của tư tưởng cá lớn nuốt cá bé, thói quen chính trị hóa các vấn đề lịch sử và pháp lý dường như vẫn ăn sâu vào tiềm thức, chi phối tư duy và suy nghĩ của không ít học giả Trung Quốc hiện đại, dẫn đến những quan điểm, nhận thức không đúng với thực tế.

Tài liệu tham khảo:

http://www.chinatimes.cc/article/64953.html

Hồng Thủy



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Quý bà VK cẩn thận khi về VN hưởng lạc với trai tơ coi chừng mất mạng [Đã đọc: 8806 lần]
12.000 người gốc Việt sắp bị trục xuất về sống với CSVN [Đã đọc: 6236 lần]
Phát minh thần sầu của CHXHCNVN: Phát điện bằng nước tiểu [Đã đọc: 6123 lần]
Nhà tù CSVN trộn mảnh thủy tinh vào cơm cho tù nhân lương tâm [Đã đọc: 5265 lần]
Xe lại cán người ở Anh, 6 người bị thương [Đã đọc: 5010 lần]
Cựu quân nhân Mỹ 82 tuổi đi Việt Nam tìm ông hiệu trưởng tên Quang ở Quảng Trị vì một bức tranh, ai biết tin xin chỉ giúp [Đã đọc: 4259 lần]
Tận diệt khủng bố Hồi Giáo: Bước đường cùng, lính Anh dìm chết quân IS bằng tay không [Đã đọc: 3888 lần]
Tần suất sinh hoạt tình dục của loạt mỹ nhân Việt [Đã đọc: 3817 lần]
Bị gọi lên đồn công an vì là đảng viên cộng sản! [Đã đọc: 3799 lần]
Triều Tiên chính là con chốt của TQ và Nga để đe dọa Mỹ [Đã đọc: 3790 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.