Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Mười 2017
T2T3T4T5T6T7CN
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30 31          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 12
 Lượt truy cập: 9108918

 
Khoa học kỹ thuật 17.10.2017 04:36
Lý do gây thù hận tôn giáo ở Miến Điện
16.09.2017 22:57

Trong tất cả những giáo huấn đạo đức đạo Phật được thấm nhuần trong các nhà sư, thì việc tránh sát sinh được nhắc tới đầu tiên, và nguyên tắc bất bạo động được cho là nằm ở vị trí trung tâm, quan trọng hơn nhiều đối với đạo Phật so với bất kỳ tôn giáo lớn nào khác.

Vậy tại sạo các vị sư lại có những bài diễn thuyết đầy thù hận chống lại người Hồi giáo và cùng hòa vào những đám đông giận dữ vốn đã khiến hàng chục người thiệt mạng?

Đây là điều đang diễn ra tại hai quốc gia nằm cách nhau cả ngàn dặm trên Ấn Độ Dương - Miến Điện và Sri Lanka.

Vấn đề là cả hai nước này đều đang không hề phải đối diện với mối đe dọa từ các tay súng Hồi giáo cực đoan.

Người Hồi giáo ở cả hai nơi đều là những cộng đồng nhỏ, sống hiền hòa.

Tại Sri Lanka, giết mổ gia súc theo nghi thức Hồi giáo (halal) là một vấn đề. Được các nhà sư dẫn đầu, các thành viên Bodu Bala Sena, Lữ đoàn Phật tử, đã có các cuộc tuần hành kêu gọi có hành động trực tiếp, tẩy chay các cơ sở kinh doanh của người Hồi giáo, và đặt các rào chặn bao quanh các gia đình Hồi giáo.

Ở Sri Lanka, không có người Hồi giáo nào bị giết chết. Nhưng tình hình tại Miến Điện nghiêm trọng hơn nhiều.

Tại đây, sự thù hận được lan ra từ nhóm 969, là nhóm do một nhà sư dẫn đầu. Sư Ashin Wirathu đã từng bị tù hồi năm 2003 với tội danh kích động hận thù tôn giáo.

Được thả năm 2012, ông tự gọi mình một cách kỳ cục là "Bin Laden Miến Điện".

Hồi tháng Ba, đã xảy ra làn sóng bạo lực trực tiếp nhắm vào cộng đồng người Hồi giáo ở thị trấn Meiktila thuộc miền trung Miến Điện, khiến ít nhất 40 người chết.

Image captionCác ngôi làng của người Hồi giáo ở Meiktila đã bị thiêu trụi hồi tháng Ba

Nguồn cơn bắt đầu từ một cửa hàng vàng. Các phong trào ở cả hai nước đều khai thác tâm trạng bất mãn về kinh tế, một nhóm tôn giáo thiểu số bị dùng làm vật thế mạng cho sự bực tức của nhóm người đa số.

Hôm thứ Ba, các Phật tử hung hăng đã tấn công các thánh đường Hồi giáo và phóng hỏa đốt hơn 70 ngôi nhà ở Oakkan, nằm phía bắc Rangoon, sau khi một cô gái Hồi giáo đi xe đạp đâm phải một nhà sư.

Một người thiệt mạng và chín người bị thương.

Nhưng phải chăng các nhà sư Phật giáo không phải là những người tốt có đức tin?

Tất cả những ai theo đạo Phật đều được dạy rằng cách suy nghĩ hung hãn là chuyện xấu.

Phật giáo thậm chí còn được dạy cách thức cụ thể để hóa giải tâm trạng này. Nhờ thiền, sự khác biệt giữa cảm giác của mình và của những người khác sẽ được xoa dịu, trong lúc bạn sẽ mong muốn cho vạn vật đều được sinh sôi nảy nở.

Tất nhiên, Thiên chúa giáo cũng có lời răn dạy yêu thương. "Hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi con," là lời dạy của Chúa Jesus.

Nhưng bất kể mỗi tôn giáo được khởi đầu ra sao, thì sớm muộn nó cũng đi vào một liên minh với quyền lực nhà nước.

Các nhà sư Phật giáo trông chờ vào sự ủng hộ, ban phước và quyền lực mà chỉ các vị vua mới có thể đem lại. Các vị vua thì trông vào các nhà sư nhằm lấy được sự chính danh mà chỉ những người đức cao vọng trọng mới có thể đưa ra.

Những người tham gia thập tự chinh, các tay súng Hồi giáo cực đoan, hay các lãnh đạo của "các quốc gia yêu tự do", đều biện hộ cho việc cần có hành vi bạo lực bằng việc nhân danh một lý do cao cả hơn.

Các nhà cầm quyền theo Phật giáo và các nhà sư cũng không nằm ngoài ngoại lệ này.

Xét về mặt lịch sử mà nói, thì Phật giáo cũng không phải là một tôn giáo hiền hòa hơn Thiên chúa giáo.

Một trong những vị vua nổi tiếng nhất trong lịch sử Sri Lanka là Dutugamanu, người đã thống nhất hòn đảo hồi thế kỷ thứ hai trước Công nguyên.

Ông được cho là đã đặt một thánh tích Phật giáo vào trong chiếc thương của mình và đưa 500 vị sư đi cùng trong cuộc chiến chống lại một vị vua không theo Phật giáo.

Ông đã hủy diệt đối phương. Sau cuộc tắm máu, một số người đã tán dương ông: "Giết chúng như giết thú vật; Ngài sẽ khiến đức tin Phật giáo tỏa sáng."

Những người cầm quyền Miến Điện biện hộ cho các cuộc chiến nhân danh điều mà họ gọi là học thuyết Phật giáo thực sự.

Tại Nhật Bản, nhiều võ sĩ đạo samurai là những người theo Thiền của đạo Phật và đưa ra nhiều lý lẽ biện hộ. Chẳng hạn, giết một kẻ phạm tội khủng khiếp chính là một hành động trắc ẩn.

Lý lẽ này cũng được nhắc lại khi Nhật Bản huy động sức mạnh để tham gia Đại chiến Thế giới thứ hai.

Đạo Phật đã giữ vai trò dẫn dắt các phong trào theo chủ nghĩa dân tộc trong lúc Miến Điện và Sri Lanka muốn lật đổ sự thống trị của Đế chế Anh.

Đôi lúc đã nổ ra tình trạng bạo lực. Hồi thập niên 1930, ở Rangoon các nhà sư đã dùng dao đâm chết bốn người châu Âu.

Quan trọng hơn, nhiều người cảm thấy đạo Phật chính là một phần trong tính cách dân tộc của mình, và việc có những nhóm người nhỏ khác trong quốc gia vừa mới giành được độc lập này là điều khiến họ khó chịu.

Năm 1983, căng thẳng sắc tộc ở Sri Lanka đã bùng nổ thành cuộc nội chiến. Theo sau các cuộc tàn sát bài người Tamil, các nhóm Tamil đòi ly khai ở miền bắc và miền đông hòn đảo này đã tìm cách tách khỏi chính phủ của người Sinhale chiếm đa số.

Image captionLàn sóng bạo lực mới đây khiến nhiều người Hồi giáo ở Miến Điện bị mất nhà cửa

Trong cuộc chiến, cuộc bạo động tồi tệ nhất chống lại người Hồi giáo ở Sri Lanka đã xảy ra do các phiến quân Tamil. Nhưng sau khi cuộc giao tranh chấm dứt một cách đẫm máu với sự thất bại của các phiến quân hồi 2009, dường như sự giận dữ của cộng đồng chiếm đa số đã tìm được mục tiêu mới, cộng đồng Hồi giáo thiểu số.

Ở Miến Điện, các vị sư nắm giữ sức mạnh tinh thần trong việc thách thức chính quyền quân sự nhằm đòi dân chủ trong cuộc cách mạng 2007. Các cuộc biểu tình hòa bình là vũ khí chính khi đó, và các nhà sư đã phải trả giá bằng chính mạng sống của mình.

Nay một số nhà sư đang dùng sức mạnh tinh thần của mình để phục vụ cho một cái đích hoàn toàn khác.

Chỉ là một nhóm nhỏ, nhưng với 500 ngàn người nếu tính cả những đứa trẻ được gửi vào các tu viện nhằm trốn cảnh đói nghèo hay mồ côi, thì các nhà sư rõ ràng chiếm một lượng đáng kể trong số giới trẻ giận dữ.

Hiện người ta vẫn chưa nắm được bản chất thực sự của mối quan hệ giữa những đối tượng Phật giáo cực đoan và các đảng cầm quyền ở cả hai quốc gia.

Bộ trưởng Quốc phòng đầy quyền lực của Sri Lanka, Gotabhaya Rajapaksa, là khách danh dự trong lễ khai trương trường huấn luyện Lữ đoàn Phật tử, và ông đã nhắc tới các nhà sư như là những người "bảo vệ đất nước, tôn giáo và chủng tộc của chúng ta".

Nhưng thông điệp bài Hồi giáo dường như đã chạm được vào các bộ phận dân chúng.

Tuy không chiếm đa số ở cả hai quốc gia, nhưng nhiều người theo đạo Phật chia sẻ rằng đất nước họ phải được thống nhất, và rằng tôn giáo của họ đang bị đe dọa.

Người ta tin rằng Hồi giáo cực đoan là tâm điểm của nhiều cuộc xung đột bạo lực nhất trên thế giới. Họ cảm thấy rằng họ đang họ đang bị đấy tới hướng phải cải đạo bởi những niềm tin tôn giáo cực đoan hơn. Và họ cảm thấy rằng nếu như các tôn giáo khác đang ngày càng trở nên cứng rắn hơn, thì họ cũng phải nên như vậy.

Alan Strathern là một nhà nghiên cứu về lịch sử tại trường Brasenose College, thuộc Đại học Oxford và là tác giả cuốn sách "Kingship and Conversion in Sixteenth-Century Sri Lanka: Portuguese Imperialism in a Buddhist Land" (tạm dịch "Vương triều và Cải đạo trong Thế kỷ 16 tại Sri Lanka: Chủ nghĩa Đế quốc Bồ Đào Nha ở miền đất Phật giáo").



CHỦ NGHĨA DÂN TỘC PHẬT GIÁO Ở MIẾN ĐIỆN 
Nguyên tác: Buddhist Nationalism in Burma by Maung Zarni (*)

dr_zarniHệ thống hóa sự kỳ thị chủng tộc chống người Hồi giáo Rohingya đã dẫn Miến Điện tới con đường diệt chủng. ( Institutionalized racism against the Rohingya Muslims led Burma to genocide) (Hình bên; tác gỉa)

Ở bên ngoài Miến Điện, hình ảnh những nhà sư Theravada Miến qua cuộc “Cách Mạng Áo Vàng” (Saffron Revolution) năm 2007, vẫn còn tươi màu. Với sự hỗ trợ của nhân dân Phật tử sùng tín, từng đoàn sư áo vàng miệng râm rang tụng niệm những lời từ bi xen lẫn thính âm của tình yêu thương trên khắp đường phố Rangoon, Mandalay, và Pakhokeku, kêu gọi sự cải thiện đời sống cho công chúng trước tình cảnh kinh tế khốn đốn gây khổ cho người dân Phật tử. Những vị sư chân trần can trường chống đối sự cai trị quân phiệt, là hình ảnh tuyệt vời của Phật Giáo dấn thân, âm vang một phó bản Tinh thần phương Đông cổ đại của Phật Giáo hành động, làm biến dạng hình ảnh của những người Phật tử thường có là sự khả ái, nụ cười, lòng mến khách đang dẫn đạo một cuộc sống đầy ý nghĩa, cho một phần thế giới không-Phật-Giáo thấy con đường mà Phật Giáo ấp ủ cho hòa bình. 

Thế mà trong năm ngoáithế giới sững sờ trước hình ảnh những nhà sư cũng chiếc áo vàng ngày trước, biểu tình chống đối các nước Hồi Giáo phân phối thực phẩm cứu trợ cho dân đói vùng Rohingya, phải di cư đến những trại tị nạn ngay trên quê hương của họ, sau khi bị những người Phật Giáo Rakhine tấn công. Một cuộc diệt chủng của người Phật Giáo kỳ thị chủng tộc chống lại dân Hồi Rohingya, một cộng đồng thiểu số non một triệu người ở phía tây tỉnh Rakhine (còn có tên gọi khác là Arakan) Miến Điện, là một tai biến cho công tác cứu trợ nhân đạo quốc tế. Nhà nước quân-phiệt-trị không ngừng toan tính xóa bỏ dấu vết chủng tộc Rohingya, một thành phần thiểu số đã từng được chế độ dân chủ U Nu nhìn nhận năm 1954. Thực vậy, trong vài tháng bạo động vừa qua, bắt đầu từ tháng Sáu 2012, dân Rohingya đã bị thiệt hại đến 90 phần trăm gồm số người thiệt mạng và nhà cửa bị phá hủy, có làng và vài vùng phụ cận bị tàn phá hoàn toàn. Đàng sau làn sóng bạo động ở Rohingya, là một loạt những vụ giết người, đốt nhà, và những cơn giận dữ cuồng điên đã đổ lên đầu dân Rohingya, được hỗ trợ ngầm bởi lực lượng an ninh Miến Điện. 

Diễn biến trong vài năm vừa qua là sự căng thẳng và cuồng nộ của kỳ thị chủng tộc, nổi lên từ những người Phật Giáo Tiểu Thừa Miến –những kẻ đã tham dự vào cuộc tàn phá cùng với chủ trương tống xuất dân Hồi Giáo Rohingya. Những điều hung ác ấy được nhân danh chủ nghĩa dân tộc Phật Giáo Miến Điện, vốn không thể nào kết nối được với lý tưởng của từ-bi-tâm (tiếng Pali: metta). Người Phật tửRakhine đã ném những đứa bé Rohingya vào trong những đám lửa cháy ngay chính căn nhà của chúng trước mắt những người thân trong gia đình. Vào ngày 3 tháng Sáu, 10 người Hồi giáo ở ngoài địa phận tới hành hương, đã bị kéo lôi ra khỏi xe bus ở phố Rakhine, Taunggoke, chừng 200 dặm về phía tây Rangoon (thủ đô cũ), và họ bị đánh đập cho tới chết bởi một nhóm hơn 100 thanh niên Phật tửTội ácxảy ra giữa thanh thiên bạch nhật, trước mắt của công chúng và nhân viên cảnh sát địa phương. 

Một trong những cảnh tượng đáng kinh ngạc là sự kỳ thị chủng tộc chống dân Rohingya đặc biệt xảy ra ngay vùng trung tâm, tràn ngập người Miến đa số, không hề thấy một bóng dáng người Rohingya nào –họ vốn cư ngụ ở vùng Rakhine phía tây Miến Điện, giáp ranh với Bangladesh.

Diện mạo bề ngoài –ngoại trừ ngôn ngữtôn giáogiai cấp xã hội, là chỉ dấu để nhận diện người cùng cộng đồng dân tộc. Màu da đóng vai trò quan trọng để người ta quan sátgiám định sự kỳ thị ở Á Châu. Rohingya là một chủng tộc có mà da nâu hơn –đôi khi họ còn bị gọi chế nhạo là bọn “Bengali kalar” (có ý miệt thị). Thực vậy, người Phật Giáo có màu da sáng hơn, thường không bị nỗi sợ hãi như người dân có màu da nâu sậm, mà lại còn được ưu áikính trọng, và được bảo vệ

Sự áp chế và thù ghét dữ dội nhắm vào người Hồi Giáo còn mở rộng đến những người Phật Giáo nào đi giúp đỡ dân Hồi. Tháng Mười 2012, một số thanh niên Phật Giáo Rakhine bị nêu đích danh, rồi họ bị hạ nhục, bắt đi diễu hành khắp các đường phố, treo trên người một tấm bảng viết tay, “Tôi là kẻ phản bội.” Tội phạm của họ là gì vậy? –Tội đã bán phẩm vật cho một người Hồi giáo Rohingya. 

Tinh thần Đông phương về Phật Giáo đã được tô-hồng quá đậm đối với người phương Tây, làm cho họ sẽ vô cùng kinh ngạc khi nghe nói sự tàn ác xuất phát từ một quần chúng Phật Giáo võ trang, hay một chế độ chính trị nào đó hỗ trợ hay xúi khiển Phật Giáo như là công cụ ý thức hệ.

Hình ảnh phổ biến của Phật Giáo là hòa bình, thuyết lý tôn giáo đầy nhân-bản-tính trái ngược với một chiều dài lịch sử những đế quốc Phật Giáo đầy bạo động –từ Hoàng đế Ashoka trên bán lục địa Ấn Độcổ đại đến các chế độ quân chủ tiền-thực-dân Sri Lanka, Siam (Thái Lan), và các vương quốc Khờ-me hay Miến Điện –vài nơi đã phát động chiến tranh phải cậy nhờ vào phật-pháp (dharma). Sự đàn áp dưới chế độ của Tổng thống Miến Thein Sein và kẻ đồng lân ở Sri Lanka –Tổng thống Rajapaksa, chỉ là vài thí dụ mới nhất trong chiều dài các chế độ Phật Giáo hung bạo. 

Thành kiến bao giờ cũng tăng trưởng trong những cộng đồng có sự khác biệt về tín ngưỡnggiai cấp và chủng tộc cùng nhau chung sống. Song, diệt chủng không phải là điều không thể tránh được; bảo vệphải xuất phát từ định chế hữu cơ, với những tổ chức có quyền lực được ban hành bởi luật pháp của chế độ. Đoàn thể chính trị và cư sĩ Miến Điện –trong khi được thế giới biết đến với những lý tưởng của nhân quyền và dân chủ xuyên qua các tổ chức xã hội thiên tả có bằng chứng thất bại với thử thách điều mà Aung San Suu Kyi vang danh gọi là, “cuộc cách mạng tinh thần”. Thay vào đó, họ đã chọn theo đuổimột chủ nghĩa dân tộc phá sản đóng rễ trong nỗi lo sợ mất nhà cửa, đất đai, sự thuần tính về tôn giáo và chủng tộc

Chế độ Miến Điện đã vận động tình thần thù ghét Hồi Giáo xuyên qua các cơ cấu tổ chức, bao gồm hệ thống truyền thông chính phủ, các mạng Net xã hội, kể cả Facebook của văn phòng tổng thống.. Các mạng Net xã hội tiếng Miến trong nổ lực thoát ra khỏi tầm quan sát của truyền thông quốc tế, thường văng ra thứ ngôn ngữ thù hận thô tụcPhổ biến những bức hình nạn nhân của Hồi Giáo, kể cả Rohingya trên trang Facbook –chắc là dễ dàng cho các mạng lưới truyền thông xã hội của một nước Miến Điện mở cửa đổi mới –chắc sẽ được chào đón với sự đồng lòng của các công dân mạng Phật Giáo trong và ngoài nước. Rất ít người Miến, các nhà hoạt động cho nhân quyền nước ngoài, các ký giả còn dám lên tiếng chống lại làn sóng kỳ thị chủng tộc, phát xít trong xã hội Phật Giáo đang bành trướng với những lời chửi rũa, đe dọa và thù ghét. Các ký giả đã mất hết tinh thần với khối lượng điện thư đầy những lời lẽ thù hận hung dữ họ nhận được từ những công dân Miến sau một vài bài báo kết án những hành vi bạo động vừa mới xảy ra cho lên báo. 

Trong một tài liệu vừa được hãng Al Jazeera phát hình vào ngày 9/12/2012, Giáo sư William Achabas, một trong những chuyên gia hàng đầu về vấn nạn diệt chủngmới đây từng là chủ tịch Hội Các Học GiảQuốc Tế về Diệt Chủng, đã xếp loại việc bạo hành chống dân Rohingya thuộc vào loại diệt chủng. “Chúng tôi đi đến một vùng mà ở đấy chỉ có thể dùng từ ngữ diệt chủng để mô tả,” Schabas nói, “Khi ta thấy tầm mức ngăn chận sự sinh sản, nổ lực xóa sạch căn cước của một chủng tộc, mong cho nó… sẽ không còn hiện hữu, chối bỏ lịch sử, phủ nhận quyền chính đáng được sống và sống ở nơi đâu của một nhóm người, thì đấy là những dấu hiệu cảnh báo rằng nó không phải là chuyện nhỏ để nói thẳng bằng danh từ diệt chủng.” 

Hội Nghị Quốc Tế về Phòng Vệ và Trừng Phạt Tội Ác Diệt Chủng đã được ban hành từ ngày 12 tháng 1, 1951, đã phán quyết rằng: “Với Hội Nghị này, diệt chủng có nghĩa là bất cứ một trong những hành động theo sau có mục đích hủy hoại, toàn thể hay từng phần, quốc tịch, chủng tộc, dòng giống và thành phầntôn giáo, chẳng hạn như:

(a) Giết hại các thành viên của một nhóm đồng chủng;

(b) Gây thương tích thể xác hay tinh thần đến thành viên của nhóm;

(c) Chủ tâm gây thương tổn đến điều kiện sống với mưu toan mang đến sự hủy hoại thể chất hoàn toànhay từng phần;

(d) Ép buộc có chủ đích ngăn chận sự sinh sản;

(e) Dùng sức mạnh để chuyển đổi trẻ em từ một nhóm người này sang một nhóm khác. 

Các nhà lãnh đạo Miến Điện, các tổ chức xã hội lẫn chế độ chính trị Phật Giáo, đã can dự vào 4 điều vi phạm trước, mặc dù họ đã phủ nhận sự sai trái của các lực lượng an ninhtrong suốt 6 tháng bạo độngnăm 2012, để lại 167 dân Hồi Giáo Rohingya chết và 110 ngàn người khác phải tị nạn.

Theo tinh thần đoạn văn (e) thì sự thiếu ăn của các trẻ em Rohingya, hay chúng không hề được chăm sóc về học hành, hẳn không thể gọi là bị “áp lực chuyển dời nơi cư trú”, ngược lại các trẻ em Rohingya lại bị giết hại –bằng đâm chém, nhận chìm dưới nước, thiêu sống –bởi những người Phật GiáoRakhine. 

Trong buổi diễn thuyết với công chúng ở Brunei, Đông Nam Á châu, vào ngày 2 tháng 12, 2012, Giáo sư Ekmeleddin Ihsanoglu, Tổng thư ký của Tổ chức Tác hợp Hồi giáo (OIC), được một sinh viên hỏi –vì sao với 57 đại biểu thành viên quốc gia, về lý thuyếttối thiểu có 1.5 tỷ người Hồi Giáo –lại không biết gởi thông điệp về nạn khủng bố thiểu số người Hồi giáo cho khắp thế giới biết đến. Để trả lời, Ishanoglu cho rằng thần tượng dân chủ Miến Điện là người được giải Nô-ben Hòa bình Aung Suu Kyi vừa là một nhà hoạt động nhân quyền cho Phật Giáo Miến Điện. Ông nói, Suu Kyi, “chỉ quan tâm đến nhân quyền cho người Phật Giáo, bởi vì họ là con người, còn Hồi Giáo thì không.” Sự xúc động đàng sau câu tuyên bốtrên là điều có thể hiểu được; thật ra đó là tính toán chính trị. Aung San Suu Kyi sẽ chẳng được gì, nếu như công khai tuyên bố chống lại sự đối xử với người Hồi giáo Rohingya. Bà không còn là một nhà đối kháng chính trị nữa, nay bà là một chính trị gia, và bà đang nhắm tới mục tiêu trước mắt: thắng cuộc bầu cử 2015 với lá phiếu của Phật Giáo đa số

Trước buổi diễn thuyết ở Brunei, Giáo sư Ihsanoglu đã gửi một lá thư cho bà Suu Kyi nhân danh Tổ chức OIC, trong đó ông nhấn mạnh với người lãnh đạo tổ chức Liên Minh Dân tộc cho Dân chủ cần phảibiết dùng uy thế lớn lao, tầm ảnh hưởng xã hội của bà, đẩy lùi làn sóng kỳ thị chủng tộc người Hồi giáoở Rohingya nói riêng, và dân chúng Hồi giáo nói chung. Nhưng ông chỉ nhận được sự im lặng. Đã thất bại trong việc làm giảm thiểu sự vi phạm nhân quyền chống người Rohingya, nhà lãnh đạo thần tượng của Miến Điện –người mà một số Phật tử Miến coi như một “vị Phật” –coi như thất bại luôn trong bước diễn hành với chủ nghĩa nhân đạo Phật giáo

Ngày 4 tháng Giêng, 2012, nhân dịp kỷ niệm 65 năm ngày độc lập của Miến Điện thoát khỏi sự cai trị của Anh quốc, Suu Kyi nói trong bài diễn văn tại trung tâm Liên minh Tác hợp Dân Chủ rằng, người dân Miến Điến phải biết dựa vào chính mình, nếu muốn biến giấc mộng một quốc gia tự do và phú cường trở thành hiện thực. “Đừng bao giờ mong đợi một vị cứu tinh,” bà cảnh báo. Thế nhưng, theo tạp chí Irrawaddy, trong một bài bình luận mới đây, viết rằng “Suu Kyi nói đúng, Miến Điện không cần một vị cứu tinh; song Miến Điện cần một nhà lãnh đạo.” 

Nhà lãnh đạo với 25 năm của phong trào nhân quyền Miến Điện, giờ đây nói bằng ngôn ngữ của an ninhquốc gia, chủ quyền tuyệt đối, và nhân quyền có điều kiện, vang vọng thứ ngôn ngữ và ý tưởng của những kẻ từng bắt giam bà –bọn quân phiệt. Liên minh NLD và sự đối kháng dân chủ đã thất bại với sự mâu thuẫn bởi chính cá nhân và ý hệ của riêng nó. Họ ôm ấp thứ nhân quyền có điều kiện và chủ quyền tuyệt đối là chỉ dẫn cho thấy họ cũng đã nói thứ ngôn ngữ của Phật Giáo, với tâm yêu thương phổ biếnnhưng lại trật bước chân. Nhiều lãnh đạo sinh viên và hoạt động nhân quyền từng đứng dậy trong năm 1988 đã dành nửa cuộc đời của họ trước vành móng ngựa và bên các song sắt của nhà tù Insein, nổi danh là “những tù nhân của lương tâm” đã không chịu sẵn sàng nối tiếp cho lý tưởng nhân quyền của những người Hồi giáo Rohingya, một chủng dân mà Ủy Hội Quốc Tế đã xác nhận là một trong những thành phần thiểu số bị đàn áp nặng nề nhất trên thế giới

Phật Giáo, là một hệ thống triết lý và tôn giáotuyệt đối không hề có sự tương thích nào với những tổ chức văn hóa, kinh tế và chính trị mà người ta thường gọi là ‘quốc-chế’ (nation states). Phật Giáo không phải như người ta thường tưởng tượng tới một cộng đồng dân tộc dựa vào sự đối xứng xã hội, mà phải là sự sử dụng trí năng con người để nhìn xuyên suốt cốt lõi thực tính phi hiện hữu của bản thân nó. Vả lại, ở Miến Điện thứ triết học nhân đạo này, đã xác nhận nó không đủ tư thế để bảo vệ chống lại cái vòm định kiến xã hội và những kẻ xướng xuất tinh thần dân tộc cực đoan, những người Miến ồn ào vốn tự nhận mình bám rễ vào tín ngưỡng Phật giáothực hành đúng mọi nghi lễ và là kẻ đỡ đầu cho các tổ chức Phật giáo, và rồi họ cứ tiến lên can dự vào các hành động tàn ác không diễn tả nỗi chống lại bất cứ ai, mà họ nghĩ là kẻ thù của Phật giáo, chế độ chính trị Phật giáo, sự giàu sang của Phật giáophụ nữPhật giáo, đất đai của Phật giáo. Thay vì truyền hướng các nguyên tắc của lòng khoan dung tôn giáotrong xã hộibất phân biệt, và hiệp thông xã hội giữa những người thế tục mộ đạo, thì các vị tu sĩ Phật giáo đầy ảnh hưởng, thẳng thừng phê phán và biểu tình chống lại người Hồi giáo Rohingya, biến thànhmột đe dọa nguy hiểm nhất cho tất cả mọi người

Xuyên qua sự cai trị của ngoại nhân Anh từ 1824 đến 1948, nền Phật Giáo của một Miến Điện thuộc địa đã góp phần tạo dựng một căn cước dân tộc chung, giữa mọi giai tầng xã hội và các cộng đồng Phật giáo khác biệt chủng loại mâu thuẫn về quyền lợi chính trị, đều cùng có chung những nổ lực phối hợpchống-đế-quốc. Trong khi đó, sự bùng phát chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc hiện nay chính là kết quả trực tiếp từ nửa thế kỷ của chế độ quân phiệt bạo ngược. Xây dựng chu đáo một chuồng sắt –bằng những tảng đá nguyên khối quý giá, một thứ đặc tính chủng tộc –giam hãm và tự nhiên hóa nhãn quan một hình thái văn hóa dân tộc Miến Điện. Một chủng dân cố duy trì tiềm lực ưu thế, biến Phật Giáo trở thành cốt lõinhằm nhận diện căn cước một người Miến đích thực. 

Đối với những người Phật giáo Miến thiểu số, sự kết hợp chủ nghĩa dân tộc Phật giáo với tinh thần cực kỳ phân biệt chủng tộc đã phục vụ cho sự hợp lực ban đầu kêu gào chống lại chế độ Raj bù nhìn đế quốc Anh, giờ đây bị rẻ rúng như là chuyện của quá khứ. Thế nhưng đối với nhiều người Phật giáo Miến khác, chủ nghĩa dân tộc đồng-chủng đồng-tín-ngưỡng trước đây từng phục vụ cho phong trào độc lậpdân tộc đã ban phát môi trường cho sự kỳ thị chủng tộc nở hoa. 

Những lực lượng xã hội ảnh hưởng tinh thần Phật giáo, đã chứng tỏ như một con dao hai lưỡi trong nhiều năm qua. Trong thời kỳ hậu-thế chiến II đến cuối thập niên 1940, cuộc cách mạng dân tộc ảnh hưởng tinh thần Mác-xít được lãnh đạo bởi Aung San (thân phụ của Aung San Suu Kyi) đã tiến dẫn tới một chủ nghĩa quốc gia dân sự, thế tục và đa văn hóa. Năm 1948, sau khi Aung San bị ám sát bởi một đối thủ chính trị (chừng 90 ngày sau khi đạt nền độc lập), Miến Điện bị rơi vào một chuỗi nổi loạn vũ trang chống lại chính quyền trung ương. Những người thừa kế Aung San đã từng bước từ khước chủ nghĩa quốc gia thế tục song hành với các cơ cấu xã hội dân sự để thoát khỏi chủ trương tạo dựng căn cước dân tộc bằng tinh thần tín ngưỡng -và- địa phương tính sắt máu. 

Để chống lại bối cảnh đó, tinh thần phân biệt chủng tộc phổ cập của Phật giáo đa sốbiểu thị bằng một tiềm lực xã hội chiếm ngự bởi bộ phận công an chế độ Miến Điện, thống hợp để cùng chống các công dân Miến Hồi giáoQuyền lực chính trị Miến Điện bao gồm, những tướng lãnh và cựu tướng lãnh đầy ưu thế, cùng với những chủ nhân đầy lòng khoan dung trong các hoạt động Phật giáo như bố thíxây dựngchùa chiền, tự viện. Những kẻ lãnh đạo quân phiệt này sẽ tiếp tục nuôi dưỡng cơn nghiện ‘ma túy’ của đám đông quần chúng –như một yêu cầu chính đáng của Phật giáo, với hiệu quả của nó là bình thườnghóa sự khổ đau cho quần chúngchừng nào mà người Phật tử còn tin tưởng chính lòng sùng đạo, chứ không phải là yếu tố kinh tế chính trị, là một hứa hẹn sự tái sinh đời sau sẽ tốt đẹp hơn. Như một viên chức chế độ đã nói với tôi rằng, “Mấu chốt của vấn đề là, chúng tôi không muốn có thêm “bọn Hồi” (‘Mus’) trong đất nước này, nhưng chúng tôi không thể giết hết bọn họ.” Thế là như một giải pháp, các nhà lãnh tụ cải cách đã chuyển giao công tác diệt chủng nơi vùng Đất Vàng (Golden Land) này qua những bàn tay của Phật giáo Rakhine. 

(*) Dr. Maung Zarni là một nhà hoạt động nhân quyền Miến Điện, một học giả. Hiện nay, ông là một ‘visiting fellow’ tại Trường Kinh tế Luân Đôn; là người sáng lập tổ chức Liên minh Tự do Miến Điện.

(Maung Zarni is a Burmese activist and scholarHe is a visiting fellow at the London School of Economics and the founder of the Free Burma Coalition.) 

Chuyển ngữ: Nguyễn Văn Hóa

Source link: http://www.tricycle.com/feature/buddhist-nationalism-burma

Time: “bộ mặt khủng bố Phật giáo” Miến Điện


Arnaud Dubus (RFI) đăng ngày 05/07/2013

Thanh Hà dịch

Tuần báo Time của Mỹ trong ấn bản đề ngày 01/07/2013 trên trang bìa đã đăng ảnh nhà sư Wirathu, một trong những người lãnh đạo của phong trào. Bên dưới là hàng tựa « Bộ mặt khủng bố của Phật giáo »

Từ khoảng một năm nay, báo chí Miến Điện thường xuyên đề cập tới phong trào Phật giáo cực đoan chống lại đạo Hồi. Phong trào mang tên 969 ngày càng có ảnh hưởng lớn tại một quốc gia với 90 % dân số theo đạo Phật. 969 đã giành được cảm tình của chính quyền. 

khung bo Phat giao mien dien 1

(Hình bên trái: Biểu tình phản bác báo Time của Mỹ. Ảnh chụp ngày 30/06/2013 Reuters)

Tuần báo Time của Mỹ trong ấn bản đề ngày 01/07/2013 trên trang bìa đã đăng ảnh nhà sư Wirathu, một trong những người lãnh đạo của phong trào. Bên dưới là hàng tựa « Bộ mặt khủng bố của Phật giáo ».

969 bị coi là một phong trào kích động bạo lực, chống lại người Hồi giáo gây nên các cuộc xung đột tôn giáo hồi năm ngoái ở miền Tây Miến Điện giữa cộng đồng nguời theo đạo Phật và thiểu số Rohingya theo đạo Hồi. Gần đây hơn, thành phố Meiktila ở miền Trung Miến Điện đã được đặt trong tình trạng khẩn cấp cũng vì lý do tương tự. Thông tín viên đài RFI tại khu vực Đông Nam Á, Arnaud Dubus cho biết thêm về nguồn gốc của phong trào Phật giáo cực đoan Miến Điện 969. 

Arnaud Dubus : Thực ra phong trào đã được hình thành từ năm 2001. Một nhà sư theo xu hướng dân tộc cực đoan tại Mandalay, tu sĩ U Wirathu là người khởi xướng. Phong trào này đã nảy sinh sau khi quân Hồi giáo Taliban tàn phá những pho tượng Phật cổ ở Bamiyan, Afghanistan và nhất là sau hai vụ khủng bố tấn công ở New York 11 tháng 9 năm đó.

Tên gọi của phong trào là 969. Đó là một chuỗi số tương ứng với Tam bảo của đạo Phật. Đó là Phật – Pháp -Tăng. Người Miến Điện rất mê số học, tu sĩ Wirathu xem chuỗi số này là biểu tượng đoàn kết của những người theo đạo Phật để đối kháng với cộng đồng người theo đạo Hồi. 

khung bo Phat giao mien dien 2

(Hình nhà sư thủ lãnh Wirathu)

Vào năm 2001, nhà sư Wirathu đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình ở Mandalay và nhiều người đã là nạn nhân của những đợt biểu dương lực lượng đó. Nhà sư này đã bị chính quyền quân sự Miến Điện thời bấy giờ bắt giam và bị kết án 25 năm tù. Năm 2011 tu sĩ Wirathu được trả tự do trong khuôn khổ tiến trình cải tổ chính trị do tổng thống dân sự Thein Sein khởi xướng. Thế là U Wirathu lại tiếp tục huy động các phật tử biểu tình chống lại người theo đạo Hồi. Xung đột tôn giáo đẫm máu vào mùa hè năm ngoái ở miền Tây Miến Điện đã xảy ra giữa người Rakhine theo đạo Phật và người Hồi giáo Rohingya lại càng tạo thêm uy tín cho phong trào 969.

Đến mùa xuân năm nay, các cuộc bạo động ở Meiktila hồi tháng Tư rồi ở Lashio vào tháng Năm khiến hàng chục người Hồi giáo bị các nhóm người theo đạo Phật do các nhà sư được cho là thân cận với tu sĩ Wirathu dẫn đầu sát hại. Trong số các nạn nhân có cả nhiều trẻ em.

Cùng lúc, phong trào Phật giáo cực đoan 969 cũng đã mở ra cả một chiến dịch vận động, kêu gọi tẩy chay các cửa hàng của người Hồi giáo, kêu gọi cộng đồng theo đạo Phật chỉ lui tới những cửa hàng có logo 969 vì chắc chắn đó là những cơ sở của người Phật giáo. Cũng tương tự như vậy các tu sĩ Phật giáo cực đoan còn kêu gọi tẩy chay các tài xế xe taxi hay lái xe buýt theo đạo Hồi. Thống kê của Miến Điện không chính xác lắm, nhưng có khoảng từ 4 đến 6 % dân số Miến Điện theo đạo Hồi. 

RFI : Vậy chính quyền cũng như là đảng đối lập do bàn Aung San Suu Kyi có thái độ như thế nào đối với phong trào P hật giáo theo xu hướng dân tộc cực đoan này ?

Arnaud Dubus : « Không có bằng chứng nào cho thấy là chính quyền Miến Điện tích cực ủng hộ phong trào 969. Nhưng rõ ràng là Naypidaw nhìn phong trào Phật giáo cực đoan này với nhiều thiện cảm. Từ ở cấp quốc gia đến cấp địa phương, đâu đâu, các nhà sư Miến Điện cũng được tự do hội họp hay các mở chiến dịch kêu gọi chống lại người Hồi giáo.

Thậm chí có những trường hợp người Hồi giáo bị bắt giam khi họ tìm cách tháo gỡ logo 969 của phong trào Phật giáo này. Phủ tổng thống Miến Điện và văn phòng bộ trưởng đặc trách về các vấn đề Tôn giáo đã chính thức lên tiếng ghi nhận những hành vi của phong trào 969 và của nhà sư U Wirathu là tích cực và nhằm đem lại một sự hài hòa trong xã hội. 

Một trong những nhân vật đã có ảnh hưởng lớn đối với tu sĩ Wirathu là nhà sư KyawLwin. Nhân vật này, ngay sau cuộc đàn áp đẫm máu nhắm vào phong trào dân chủ năm 1988, đã từng là người đầu tiên được chính quyền quân sự Miến Điện chỉ định để đứng đầu một cơ quan quảng bá cho Phật giáo. 

Vào thời điểm đó các tướng lĩnh cầm quyền ở Miến Điện đã tìm cách tranh thủ cảm tình của các tu sĩ Phật giáo. Như vậy có thể nói chính quyền quân sự Miến Điện đã tạo cơ sở cho phong trào Phật giáo cực đoan chống lại người theo đạo Hồi phát triển. 

phong trao 969

(Hình logo của phong trào 969)

Về phần đảng của bà Aung San Suu Kyi, Liên Đoàn Quốc Gia vì Dân chủ, tình hình tương đối phức tạp hơn. Phong trào 969 thỉnh thoảng chỉ trích đảng đối lập là đã để cho người Hồi giáo chiếm vị trí áp đảo trong cơ quan điều hành Liên Đoàn. Bản thân bà Aung San Suu Kyi bị chỉ trích là đã không dứt khoát đứng về phía cộng đồng Phật giáo trong các cuộc xung đột xảy ra ở miền Tây Miến Điện vào năm ngoái.

Tuy nhiên, bà Aung San Suu Kyi cũng đã tỏ thái độ thận trọng đối với cộng đồng người Rohinga theo đạo Hồi. Bà không đưa ra lập trường rõ ràng về các cuộc bạo động tôn giáo trên quê hương mình. Dường như, vì những tính toán chính trị lãnh đạo đối lập Miến Điện cố tình giữ thế trung lập.

Thế nhưng gần đây, bà Aung San Suu Kyi đã lên tiếng chống lại chính sách giới hạn sinh đẻ đối với các gia đình theo đạo Hồi. Nhà nước Miến Điện muốn quy định, mỗi gia đình Hồi giáo chỉ được quyền có 2 con là tối đa. Theo giải Nobel Hòa bình Miến Điện, chính sách giới hạn sinh đẻ nói trên vi phạm quyền cơ bản của con người. 

RFI : Vậy thì trong thời gian gần đây nhất phong trào phật giáo cực đoan 969 của Miến Điện này đã có những hoạt động nào ?  

Arnaud Dubus : « Tôi thấy là rất đáng quan ngại khi vào tuần trước, hàng trăm tu sĩ Phật giáo đã mở một cuộc họp tại Rangoon. Đây là một trong những cuộc tập hợp quan trọng nhất của giới tăng ni Miến Điện từ nhiều năm qua. Chiến dịch bài Hồi giáo do tu sĩ U Wirathu và phong trào 969 chủ xướng đã được rất nhiều thành phần tham dự hưởng ứng và tán đồng.

Nhà sư U Wirathu cách nay vài tuần từng đề nghị cấm phụ nữ theo đạo Phật lập gia đình với tín đồ Hồi giáo. Theo đề nghị của nhà tu hành này, để được kết hôn với một người theo đạo Hồi, cô dâu tương lai chẳng những phải được cha mẹ đồng ý mà còn phải xin phép cả chính quyền địa phương.

Một lần nữa đề xướng này của phong trào 969 đi ngược lại với các quyền tự do cá nhân. Ấy thế mà các chức sắc trong giáo hội Phật giáo Miến Điện đã tán đồng đề xuất của nhà sư Wirathu. Đương nhiên đề nghị này còn phải được trình lên Quốc hội trong nay mai.

Tình hình trở nên hết sức nghiêm trọng. Một trong những nghịch lý đáng nói là chính sách cởi trói của chính quyền dân sự Miến Điện đã mở đường cho các phong trào dân tộc chủ nghĩa cực đoan phát triển. Quyền tự do của người Hồi giáo cũng như là của những cô gái theo đạo Phật muốn lập gia đình với người ngoại đạo thì đang bị thu hẹp lại đến một mức đáng báo động.

Vài nét về phong trào Phật giáo mang tên 969 và cuộc xung đột sắc tộc – tôn giáo ở Myanmar hiện nay
Các nhà sư Myanmar phản đối những bài báo lên án các cuộc bạo loạn tôn giáo ở nước này.Ảnh: Reuters

Trong những năm gần đây báo chí nước ngoài nói nhiều tới xung đột tôn giáo – sắc tộc giữa những người theo Phật giáo chiếm đa số với cộng đồng người Rohingya thiểu số theo Islam giáo ở Myanmar.

Phần thua thiệt trong các cuộc xung đột này bao giờ cũng thuộc về những người Islam giáo thiểu số. Hơn thế nữa, nhóm dân tộc thiểu số này còn không được Chính phủ Myanmar coi là những công dân chính thức của nước này và chỉ coi họ là những người nhập cư trái phép từ nước láng giềng Bangladesh. Về phía Bangladesh, người Rohingya thiểu số cũng bị chính quyền từ chối tư cách công dân chính thức của nước này, thậm chí còn không trao cho họ tư cách người tị nạn.

Theo con số của Báo Độc lập – Tôn giáo xuất bản tại nước Nga ngày 3 tháng 7 năm 2013 (NGR),  riêng trong năm 2012, các cuộc xung đột tôn giáo - sắc tộc đã làm cho khoảng 200 tín đồ Islam giáo ở Myanmar bị thiệt mạng và 150.000 người khác chạy lánh nạn sang nước láng giềng Bangladesh. Riêng trong cuộc xung đột tôn giáo – sắc tộc mùa xuân năm 2013 đã làm khoảng 50 người bị chết([1]). Đây là cuộc xung đột tôn giáo - sắc tộc tồi tệ nhất trong những năm gần đây ở Myanmar.  Cũng theo báo này, tham gia các cuộc xung đột với tín đồ Islam giáo ở nước này là đông đảo các tín đồ Phật giáo, trong đó các nhà sư là các thành viên tích cực. Mới đây nhất, như Trang thông tin điện tử của Ban Tôn giáo Chính phú đã đưa tin, “ít nhất một nhà thờ Islam giáo và một số cửa hàng đã bị đốt cháy khi bạo lực bùng phát tại thị trấn Lashio. Hàng trăm Phật tử đi trên xe máy, tay cầm các ​​thanh sắt và cọc tre đã diễu qua các đường phố tại thị trấn Lashio, phía đông bắcMyanmarhôm 29/5. Trước đó, ngày 28/5, một nhà thờ Islam giáo giáo và một trại trẻ mồ côi Islam giáo đã bị đốt cháy khi làn sóng bạo lực mới bùng phát nhắm vào mục tiêu là các tôn giáo dân tộc thiểu số ở Myanmar”([2]).

Khoảng một năm trở lại đây, báo chí Myanma thường xuyên đề cập tới một phong trào Phật giáo có tên gọi là “Phong trào 969”, một phong trào ngày càng có ảnh hưởng lớn tại đất nước có tới 90% dân số theo Phật giáo. Một trong những người khởi xướng và lãnh đạo phong trào này là nhà sư Ashin Wirathu, 44 tuổi, trụ trì tại tự viện Masseyin ở thành phố Mandalay. Phong trào 969 được hình thành từ năm 2001, sau khi phiến quân Taliban tàn phá những pho tượng Phật cổ tại Bamiyan ở Afghanistan và nhất là sau khi những phần tử Islam giáo cực đoan thực hiện vụ khủng bố kinh hoàng ở New York, Mỹ ngày 11 tháng 9 năm 2001. Theo các nhà nghiên cứu, người Myanmar rất mê số học. Con số 969 tương ứng với Tam Bảo của Phật giáo, đó là Phật – Pháp – Tăng. Số 9 ở đầu thể hiện 9 phẩm chất cao quý của Đức Phật, số 6 ở giữa thể hiện 6 phẩm chất cao quý của giáo lý của Ngài (Pháp) và số 9 ở cuối thể hiện 9 phẩm chất cao quý của Tăng đoàn (cộng đồng Phật giáo)([3]). Hiện nay, chúng ta có thể nhìn thấy ở khắp mọi nơi trên đất nước Myanmar dòng chữ số 969 trên lá cờ màu vàng của Phật giáo. Nhà sư Ashin Wirathu coi con số này là biểu tượng đoàn kết của các tín đồ Phật giáo để đối kháng lại với con số 786 trên biểu tượng của cộng đồng tín đồ Islam giáo thiểu số ở nước này. Số 786 bao gồm các chữ cái đầu của cụm từ “Nhân danh Đức Allah khoan dung và nhân từ” bằng tiếng Arập (phiên âm theo chữ cái latinh: bismillah-ir-rahman-ir-rahim).

Được biết, do Phong trào 969 trong năm 2001 dưới sự lãnh đạo của nhà sư Ashin Wirathu tổ chức nhiều cuộc biểu tình ở thành phố Mandalay gây mất ổn định xã hội và tổn thất về người và của, nên nhà sư này đã bị chính quyền quân sự Myanmar bắt giam và bị kết án 25 năm tù giam. Trong những năm 2003 – 2011, Ashin Wirathu thụ án trong tù. Đến năm 2011, trong khuôn khổ tiến trình cải tổ chính trị ở Myanma do Tổng thống Thein Sein khởi xướng, Ashin Wirathu đã được trả tự do. Ra tù, nhà sư này tiếp tục các hoạt động lôi kéo tín đồ Phật giáo chống lại người Islam giáo ở Myanmar. Ông tổ chức nhiều buổi thuyết pháp thu hút rất đông người nghe. Các bài thuyết pháp của ông sau đó được đưa lên mạng internet và sao chép ra đĩa DVD. Trong các bài thuyết pháp của mình, Ashin Wirathu đã kịch liệt lên án người Islam giáo và buộc tội họ phải “chịu trách nhiệm cho tất cả những hoạt động tội phạm ở Myanmar như: buôn bán thuốc phiện, trộm cắp, hiếp dâm”([4]). Ashin Wirathu kêu gọi tẩy chay các cơ sở thương mại của người Islam giáo ở nước này. Trong một bài thuyết pháp vào tháng 2 năm 2013, ông nói: “Nếu bạn mua tại cửa hàng của người Islam giáo, thì tiền của bạn…được sử dụng để tiêu diệt chủng tộc của bạn và tôn giáo của bạn”([5]). Sau bài thuyết pháp này, Phong trào 969 đã phát động một chiến dịch rộng khắp trên toàn lãnh thổ Myanmar kêu gọi các tín đồ Phật giáo tẩy chay các cửa hàng của người Islam giáo và chỉ mua hàng ở những cửa hàng có gắn biển hiệu 969 của người Phật giáo. Thậm chí họ còn kêu gọi tẩy chay cả các phương tiện giao thông công cộng như xe buýt và taxi do người Islam giáo điều khiển.

 Báo chí Phương Tây cáo buộc Phong trào 969 của Phật giáo Myanmar là một phong trào Phật giáo cực đoan, kích động bạo lực chống lại người Islam giáo, gây ra các cuộc xung đột tôn giáo ở Myanmar và gọi người lãnh đạo phong trào này là tên khủng bố([6]). Ngày 1 tháng 7 năm 2013, trên trang bìa của tuần báo Mỹ Time Magazine đã cho đăng ảnh của nhà sư Ashin Wirathu, với dòng tít: “Bộ mặt của khủng bố Phật giáo” (The Face of Buddhist Terror). Đây cũng là nhan đề của một bài báo đăng trên tuần báo này. Chính quyền Myanmar đã ra lệnh cấm quảng bá số báo này tại đất nước của họ. Theo một tuyên bố chính thức của chính quyền Myanmar, việc cấm này “nhằm mục đích ngăn chặn sự tái phát tình trạng bạo loạn chủng tộc và tôn giáo”([7]) ở Myanma.

Đây không phải là lần đầu tiên Ashin Wirathu bị báo chí nước ngoài gọi là kẻ khủng bố. Trước đó nhà sư này đã được báo chí Phương Tây gọi là “Bin Laden Phật giáo” hay “Hitler Phật giáo”, thí dụ, trong tạp chí Der Spiegel số ra ngày 23 tháng 4 năm 2013. Cũng trên tạp chí Der Spiegel số tháng 4 này, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên tòa soạn, ông Maung Zarni, nhà hoạt động nhân quyền người Myanmar đã tuyên bố: “Wirathu cùng các thành viên của Phong trào 969 của ông, chắc chắn đã tham gia vào các cuộc bạo loạn dùng bạo lực chống lại người Islam giáo”([8]).

Tuy nhiên, sau khi những bài báo này được đăng tải, các nhà sư Myanmar đã xuống đường tuần hành phản đối việc báo chí Phương Tây lên án các vụ xung đột tôn giáo – sắc tộc ở nước này.

Bạo lực tôn giáo – sắc tộc ở Myanmar đã làm cho cộng đồng quốc tế ngày càng lo ngại. Liên Hợp Quốc cho rằng tình trạng bạo lực ngày một gia tăng ở Myanmar có thể hủy hoại tiến trình cải cách của nước này vốn đang được dư luận quốc tế hoan nghênh. Hoa Kỳ, sau nhiều năm cấm vận Myanmar nay đã dỡ bỏ nhiều biện pháp trừng phạt đối với nước này do quan hệ giữa hai nước đang có những cải thiện đáng kể. Đây là kết quả bước đầu của những cải cách chính trị do chính phủ dân sự của Tổng thống Thein Sein thực hiện. Tuy vậy, Washington vẫn tỏ ra hết sức quan tâm về những gì đang diễn ra trong quan hệ căng thẳng ngày một gia tăng giữa cộng đồng Phật giáo chiếm đa số với thiểu số người Rohingya theo Islam giáo ở nước này và kêu gọi các bên chấm dứt ngay các vụ tấn công lẫn nhau. Còn theo ông Surin Pitsuwan, Tổng thư ký ASEAN,đây không chỉ là vấn đề xung đột sắc tộc – tôn giáo giữa hai cộng đồng Phật giáo và Islam giáo, mà còn là vấn đề thuộc về cấu trúc của Hiến pháp Myanmar, vấn đề dân chủ và nhân quyền, vấn đề hòa giải dân tộc([9]). Các vấn này nếu không được giải quyết tốt, chúng không chỉ ảnh hưởng tới sự ổn định và phát triển của Myanmar, mà còn ảnh hưởng cả tới quá trình hiện thực hóa Cộng đồng ASEAN vào năm 2015. Đặc biệt, các quốc gia có đông tín đồ Islam giáo như Indonesia, Ai Cập, Ảrập Xêut, Pakistan, Malaysia, v.v… đã chỉ trích mạnh mẽ việc Chính phủ Myanmar đã không hành động để bảo vệ người Rohingya thiểu số theo Islam giáo ở nước họ.

 Có thể nói vấn đề người Rohingya thiểu số theo Islam giáo và xung đột tôn giáo - sắc tộc đang là một thách thức lớn đối với tiến trình cải cách chính trị và kinh tế mới chỉ vừa được chính quyền dân sự bắt đầu ở Myanmar sau nhiều thập kỷ giới quân sự nắm quyền.

Được biết, tín đồ Islam giáo chiếm khoảng 4% trong tổng số 60 triệu dân Myanmar. Sau một nửa thế kỷ cầm quyền của quân đội, năm 2011, một chính phủ dân sự đã được bầu ra do Tổng thống Thein Sein lãnh đạo. Nhưng cho đến nay chính phủ của ông luôn bị chỉ trích nặng nề vì không hành động quyết liệt để bảo vệ người Islam giáo. Trong chuyến công du Mỹ vừa qua, Tổng thống Thein Sein đã tuyên bố rằng, tất cả các thủ phạm gây nên tình trạng bạo lực tôn giáo - sắc tộc ở Myanmar sẽ được đưa ra trước công lý. Tuy nhiên, theo các nhà quan sát, cần phải lưu ý rằng, mặt trái của những cải cách chính trị do chính phủ của Tổng thống Thein Sein lãnh đạo, ở một mức độ nào đó, đang tạo cơ hội cho các phong trào dân tộc chủ nghĩa cực đoan phát triển ở Myanmar mà Phong trào 969 là một ví dụ điển hình.

TS. Nguyễn Văn Dũng


Miến Điện và chủ nghĩa dân tộc Phật giáo


Người Rohingya ra đi trong tuyệt vọng

Theo số liệu mới nhất của Liên Hiệp Quốc công bố ngày 13.9.2017, có đến 370.000 người Rohingya đã chạy qua lánh nạn ở Bangladesh từ cuối tháng 8. Cao Ủy Nhân Quyền LHQ đã nói đến «một cuộc thanh lọc chủng tộc quy mô».

Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc bắt đầu họp về tình trạng người Rohingya kể từ ngày 13.9.2017. Ông Charbonneau nói tổ chức Human Rights Watch của ông muốn Hội Đồng Bảo An đe dọa trừng phạt, phong tỏa tài sản, cấm đi lại, cấm vận vũ khí… Nhưng Hội Đồng đã quyết định họp kín, gây bất bình không ít đối với các tổ chức phi chính phủ. Theo ông Charbonneau, các nhà ngoại giao như vậy đã gởi đi một thông điệp không khác gì một «giấy phép sát nhân».

Bà Yanghee Lee, Đặc sứ LHQ về nhân quyền ở Myanmar, đã phát biểu trong một cuộc điều tra chung của BBC Newsnight và BBC Our World: “Tôi cho rằng đây là tội ác chống nhân loại. Chắc chắn là tội ác chống nhân loại… do người Miến điện, quân đội Myanmar, lính biên phòng hay cảnh sát và các lực lượng an ninh gây ra.”

Đây là một vấn đề rất nghiêm trọng đã được các tổ chức bảo vệ nhân quyền và báo chí quốc tế nói đến rất nhiều kể từ 2012 đến nay. Tại sao có biến cố này? Các cường quốc, nhất là Hoa Kỳ luôn to tiếng về nhân quyền, sẽ làm gì để giải thoát cho các nạn nhân? Tuy nhiên, trước hết chúng tôi xin nói qua về người Rohingya.

TÌNH TRẠNG NGƯỜI ROHINGYA

Người Rohingya là những người dân tộc Ấn-Arya theo Hồi giáo, đã sinh sống lâu đời ở bang Rakhine, một bang của Myanmar, người Việt thường gọi là Miến Điện.

Thông tín viên Arnaud Dubus tại Bangkok, một người rất thông thạo về tình hình Myanmar, cho biết như sau: Bang Rakhine trước đây có tên là Nhà nước Arakan, và chỉ mới được sáp nhập vào Miến Điện vào năm 1785. Trong khoảng thời gian từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVII, Arakan là một vương quốc Hồi giáo, được các vị vua mang tước hiệu Hồi giáo Shah cai trị. Đa số người Rohingya đã sống trong Nhà nước Arakan từ trước khi lãnh thổ này được sáp nhập vào Miến Điện. Chỉ có một thiểu số đến từ Bangladesh trong hai mươi năm gần đây. Cư dân vương quốc này gồm cả người theo đạo Hồi lẫn đạo Phật và họ chung sống với nhau một cách tương đối hài hòa.

Vào thời Đệ nhị Thế chiến, nhiều người Hồi giáo gốc ở vùng Arakan – hiện nay được gọi là Rohingya – theo người Anh, trong khi những người Miến Điện theo đạo Phật, do Aung San, cha của bà Aung San Suu Kyi lãnh đạo, lại liên minh với Nhật Bản. Tính đến năm 2013, có khoảng 1,23 triệu người Rohingya sống ở Myanmar. Họ cư trú chủ yếu ở các thị trấn Rakhine phía Bắc, nơi họ chiếm 80-98% dân số.

Sau khi Myanmar được độc lập và đặc biệt là sau khi quân đội lên nắm quyền vào năm 1962, người Rohingya đã bị kỳ thị. Nhiều đạo luật đã được ban hành buộc người Rohingya phải chứng minh được rằng họ sống trên đất Miến Điện kể từ trước 1824 nếu muốn có quốc tịch Miến Điện. Lẽ dĩ nhiên, rất ít người có thể trình ra loại bằng chứng này, và như vậy họ không được coi là công dân Miến Điện. Vì thế, họ không có quyền tự do đi lại, và phải chịu nhiều uất ức trong quan hệ với các viên chức Miến Điện về các vấn đề như hôn nhân, sở hữu đất đai v.v…

Miến Ðiện có 135 sắc dân thiểu số được chính thức thừa nhận theo đạo luật về quyền công dân năm 1982, nhưng khối người Rohingya bị loại trừ. Người Rohingya đã lâm vào tình huống của những người vô tổ quốc mà chính phủ Miến Điện áp đặt cho họ. Điểm mấu chốt của cuộc xung đột hiện nay là việc từ chối cấp cho họ quyền công dân Miến Điện, bất kể thời gian họ sống trên đất Miến Điện là bao lâu. Lý do họ bị tước bỏ quốc tịch là sự khác biệt về tôn giáo.

CHỦ NGHĨA DÂN TỘC PHẬT GIÁO

Tài liệu thống kê cho biết Miến Điện có dân số khoảng 50 triệu, theo nhiều tôn giáo khác nhau, trong đó Phật giáo chiếm 89,3% dân số, Thiên Chúa giáo 5,6%, Hồi giáo 3,8%, đạo Hindu 0,5%; và các tôn giáo khác khoảng 0,8%. Phật Giáo được phát triển ở Miến Điện từ thế kỷ thứ 5 và đến thế kỷ thứ 7, cả hai hệ phái Tiểu Thừa và Đại Thừa cùng có mặt. Nhưng đến thế kỷ 11 vua Anwrahta tuyên bố chỉ chấp nhận Tiểu Thừa nên hệ phái Đại Thừa biến mất.

Trong bài “Why are Buddhist monks attacking Muslims?” (Tại sao các nhà sư Phật Giáo tấn công người Hồi Giáo?) đăng trên BBC ngày 2.5.2013, Giáo sư Alan Strathern của Oxford University đã đặt câu hỏi:

“Trong tất cả những giáo huấn đạo đức đạo Phật được thấm nhuần trong các nhà sư, việc tránh sát sinh được nhắc tới đầu tiên, và nguyên tắc bất bạo động được cho là nằm ở vị trí trung tâm, quan trọng hơn nhiều đối với đạo Phật so với bất kỳ tôn giáo lớn nào khác. Vậy tại sạo các vị sư lại có những bài diễn thuyết đầy thù hận chống lại người Hồi giáo và cùng hòa vào những đám đông giận dữ vốn đã khiến hàng chục người thiệt mạng?”

Thông tín viên Arnaud Dubus của RFI tại Bangkok đã nhận định:

“Ở Miến Điện cũng như ở Cam Bốt và ở Thái Lan, có một sự đồng hóa chặt chẽ giữa Phật giáo với dân tộc đa số của đất nước như người Miến, người Khmer hay người Thái. Nếu sinh ra là người Miến Điện thì phải là người theo đạo Phật. Một người Miến Điện Hồi giáo hay Thiên chúa giáo bị coi là một điều quái đản.”

Hàng ngàn nhà sư giận dữ biểu tình đòi trục xuất người Rohingya

Trên tạp chí Tricycle, trong bài “Buddhist Nationalism in Burma” (Chủ nghĩa Dân Tộc Phật Giáo ở Miến Điện), Tiến sĩ Maung Zarni, người sáng lập tổ chức Liên minh Tự do Miến Điện, đã nhận định rằng “hệ thống hóa sự kỳ thị chủng tộc chống người Hồi giáo Rohingya đã dẫn Miến Điện tới con đường diệt chủng”. Ông viết:

“Những điều hung ác ấy được nhân danh Chủ nghĩa Dân tộc Phật Giáo Miến Điện, vốn không thể nào kết nối được với lý tưởng của tâm-từ-bi (tiếng Pali: metta). Người Phật tử Rakhine đã ném những đứa bé Rohingya vào trong những đám lửa cháy ngay chính căn nhà của chúng trước mắt những người thân trong gia đình. Vào ngày 3 tháng Sáu, 10 người Hồi giáo ở ngoài địa phận tới hành hương, đã bị kéo lôi ra khỏi xe bus ở phố Rakhine, Taunggoke, chừng 200 dặm về phía tây Rangoon (thủ đô cũ), và họ bị đánh đập cho tới chết bởi một nhóm hơn 100 thanh niên Phật tử. Tội ác xảy ra giữa thanh thiên bạch nhật, trước mắt của công chúng và nhân viên cảnh sát địa phương…

“Tinh thần Đông phương về Phật Giáo đã được tô-hồng quá đậm đối với người phương Tây, làm cho họ sẽ vô cùng kinh ngạc khi nghe nói sự tàn ác xuất phát từ một quần chúng Phật Giáo võ trang, hay một chế độ chính trị nào đó hỗ trợ hay xui khiển Phật Giáo như là công cụ ý thức hệ…”

Trong thực tế, những điều hung ác ấy cũng đã từng xảy ra ở Nam Việt Nam từ 1963 đến 1968 khi một số nhà sư cực đoan muốn cướp chính quyền để thành lập môt chính phủ Phật Giáo tại Miền Nam. Trong Tết Mậu Thân, khi hai tên Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Thị Đoan Trinh thuộc Đoàn Sinh Viên Phật Tử Huế từ chiến khu trở về, đã đi ngay đến khu nhà thờ Phủ Cam, lùng tìm các thanh niên công giáo, công chức và quân nhân VNCH và bắn ngay tại chỗ. “Chủ nghĩa Phận Giáo Dân Tộc” (Buddhist Nationalism) sau này được Lê Mạnh Thát hệ thống hóa và được Giáo Hội Ấn Quang đưa vào Thông Điệp Hướng về Thế Kỷ XXI ngày 21.2.2001. Cả Hoa Kỳ lẫn Đảng CSVN nhận ra điều đó nên tìm cách dẹp tan để trừ hậu họa (xem bài “Mục tiêu và chiến thuật đã bị bại lộ”, Lữ Giang, ngày 23.2.2010).

THỰC HIỆN CUỘC DIỆT CHỦNG

Cả nước Miến Điện có hàng vạn đền, chùa, tháp, nằm rải rác trên khắp nơi. Riêng ở thành phố Bagan đã có hơn 4000 đền, chùa, tháp lớn nhỏ trên một diện tích chỉ khoảng 40km2. Tu sĩ Miến Điện có khoảng 500.000 người, đều theo truyền thống Nguyên Thủy (Theravadin), được gọi là bhikkhu, có nghĩa là tăng sĩ hành khất. Chủ nghĩa Phật Giáo Dân Tộc do đám tăng sĩ này đẻ ra và sau đây là các diễn biến đau thương đang xảy ra do chủ nghĩa này:

1.- Không cho phép Hồi giáo…

Trong bài “’No Muslims allowed” … (Không cho phép Hồi giáo…) đăng trên tờ The Guardian ngày 22.5.2016, phóng viên Poppy McPherson ghi lại:

Trước cổng làng Thaungtan, một tấm bảng đã được dựng lên. Bảng này có nội dung “Cấm người Hồi giáo ở lại qua đêm. Cấm người Hồi giáo thuê nhà. Cấm không được kết hôn với người Hồi giáo”. Tấm bảng được người dân tại đây, vốn là những người theo đạo Phật, đề xuất. Họ đều đã ký tên đồng ý thực hiện theo những điều ghi trên tấm bảng này.

Về sau, nhiều làng trên khắp Myanmar đã bắt chước theo làng Thaungtan, dựng những tấm bảng như vậy và tạo nên những “ngôi làng chỉ của người theo đạo Phật”. Không chỉ ác ý, những tấm bảng này còn đang thể hiện một sự căng thẳng tôn giáo có thể đe dọa đến nhà nước non trẻ của bà Aung San Suu Kyi.

Ông Matthew Walton, giáo sư chính trị học của Đại học George Washington, cho biết trong khối người Phật giáo chiếm đa số ở Miến Điện không mấy ai lên tiếng phản đối những quan điểm cực đoan của một số các nhà lãnh đạo tôn giáo.

2.- Phong trào 969 và vọng ngữ

Tờ L’Express của Pháp đã dành bốn trang báo viết về nhà sư cực đoan bài Hồi giáo là Ashin Wirathu, với tựa đề «Người ta gọi ông là Hitler của Miến Điện».

Trong những năm qua, Wirathu luôn tố cáo người Hồi giáo là «đạo quân thứ năm» cần phải diệt trừ. Năm 2015, phóng viên L’Express đã có dịp nghe ông giảng đạo tại Meiktila. Trước hàng trăm tín đồ, nhà sư hỏi: «Nên lấy một kẻ bụi đời hay một người Hồi giáo?» Thính giả đồng thanh: «Bụi đời». «Lấy chó hay lấy người Hồi giáo?»… Theo nhà sư, «chó không bao giờ buộc người khác phải cải đạo như Hồi giáo». Tại ngôi làng này, khoảng năm chục người đạo Hồi đã bị thảm sát hai năm trước đó.

Phong trào 969 đã được hình thành từ năm 2001, sau khi phiến quân Taliban tàn phá những pho tượng Phật cổ tại Bamiyan ở Afghanistan. Lãnh đạo phong trào là là Wiratu, 44 tuổi. có trụ sở tại Mandalay. Wiratu cũng đã dùng VỌNG NGỮ để kích động long hận thù tôn giáo và bạo loan, gióng các nhà sư cực đoan Việt Nam trước 1975.

Witatu giải thích rằng ba con số 969 là Tam Bảo (Tiratana) trong Phật giáo gồm 24 thuộc, con số 9 đầu là PHẬT, con số 6 ở giữa là PHÁP, con số 9 ở sau là TĂNG (9 Buddha, 6 Dhamma, 9 Sangha), tổng cộng là 24. Còn ba con số 786 được dùng trong truyền thống của Hồi Giáo Nam Á, được mô tả là biểu hiệu cho con số 21 (7+8+6=21), có nghĩa là Hồi Giáo sẽ thống trị thế giới trong thế kỷ 21.

Nhưng các nhà bình luận Tây phương lật tẩy ngay, họ nói đó là VỌNG NGỮ được dùng để kích động lòng hận thù tôn giáo. Con số 786 chỉ là con số câu kinh thứ 786 của Kinh Koran, thường được người Hồi Giáo ghi trước cửa nhà của họ. Lời kinh đó là: “Nhân danh Đấng Allah, Rất Nhân Từ, Hằng Thương Xót” (In the name of Allah, the Most Gracious, the Ever Merciful).

Nhưng hiện nay, chúng ta có thể nhìn thấy ở khắp mọi nơi trên đất nước Myanmar dòng chữ số 969 trên lá cờ màu vàng của Phật giáo. Con số này được coi là biểu tượng đoàn kết của các tín đồ Phật giáo để đối kháng lại với con số 786 trên biểu tượng của cộng đồng tín đồ Islam thiểu số ở nước này!

Ngày 1.7.2013, trên trang bìa của tuần báo Mỹ Time Magazine đã cho đăng ảnh của nhà sư Ashin Wirathu, với dòng tít: “Bộ mặt của khủng bố Phật giáo” (The Face of Buddhist Terror). Đây cũng là nhan đề của một bài báo đăng trên tuần báo này. Chính quyền Myanmar đã ra lệnh cấm phổ biến số báo đó tại Miến Điện.

SỐ PHẬN CỦA NGƯỜI ROHINGYA

Bản tin VOA ngày 9.9.2017 cho biết các cơ quan của Liên Hiệp Quốc cho hay trong hai tuần qua, khoảng 270.000 người Hồi giáo Rohingya đã chạy sang Bangladesh để tìm nơi nương thân, trốn bạo lực và đàn áp ở Myanmar. Các bản tin chưa được kiểm chứng nói hơn 1.000 người đã bị quân đội Miến Điện giết chết từ ngày 25/8 khi xảy ra bạo lực ở bang Rakhine, miền bắc Myanmar.

Ông Duniya Aslam Khan, phát ngôn viên của Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc, nói rằng các trại tị nạn đang quá tải và không thể tiếp nhận thêm bất kỳ người nào khác. Ông nói: “Họ đang ở trong tình cảnh tuyệt vọng, một tình huống nhân đạo hoàn toàn tuyệt vọng, không có đủ lương thực mà ăn… Họ nói họ đang sống ngoài trời, không có nơi trú ẩn để tránh cái nóng của mặt trời ở vùng nhiệt đới, không có nơi để trú mưa, trong khi con cái của họ không gì để ăn…”

Vấn đề được đặt ra là Liên Hiệp Quốc và các cường quốc, nhất là Mỹ, sẽ giải quyết vấn đề người Rohingya đang bị đàn áp như thế nào?

Chúng ta nhớ lại, tối 8.4.1963, sau khi một trái chất nổ đã phát nổ trước Đài Phát Thanh Huế khiến 8 người bị tử thương, CIA liền ra lệnh cho Trần Quang Thuận và Thích Đức Nghiệp tổ chức thiêu sống Thích Quảng Đức tại ngã tư Lê Văn Duyệt và Phan Đình Phùng Sài Gòn vào ngày 11.6.1963 để kích động dư luận, sau đó ban hành lệnh đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm.

Ngày nay, biến cố Rohingya ở Miến Điện lớn gấp 100.000 lần vụ trước đài phát thanh Huế năm 1963 và tội ác của chính quyền Miến Điện bị coi là “tội ác chống nhân loại”, tội diệt chủng, phải bị truy tố trước Tòa Án Hình Sự Quốc Tế. Báo chí quốc tế gọi người Rohingya là “Những kẻ bị ngược đã nhất trên hành tinh” (The most persecuted people o­n the Earth). Hiện nay có 9 tổ chức Hồi Giáo đang kiện Miến Điện tại Mỹ. Tại sao Hoa Kỳ lại im lặng?
Để lôi kéo Miến Điện xa dần ra khỏi Trung Quốc, tháng 11/2012, khi đến thăm Miến Điện, ngày 19.11.2012 Tổng Thống Obama đã đọc một bài diễn văn tại Đại Học Yangon khá dài, rất xuất sắc và được nhiệt liệt hoan nghênh. Ở phần kết luận, ông có nói: “Hôm nay, tôi nói với các bạn, và tôi nói với tất cả mọi người có thể nghe thấy tiếng nói của tôi – rằng Hoa Kỳ ở với các bạn, kể cả những người đã bị lãng quên, những người bị tước đoạt, những người đang bị tẩy chay, những người nghèo khổ…”

Đó là lời hứa của nước Mỹ, nhưng Donald Trump chẳng quan tâm gì. Ông chỉ lo phục vụ quyền lợi của gia đình và giới đại tư bản Mỹ. Hiện nay ông đang thổi phồng vụ Bắc Hàn lên để gạ Nhật Bản và Nam Hàn mua hỏa tiển THAAD của Mỹ. Điều ông quan tâm nhất là làm sao nới rộng cấm vận cho Nga để Trump Organization có thể quay trở lại Nga xây dựng các Trump Tower. Chuyện số phận của người Rohingya và chuyện nhân quyền ở Việt Nam ông không bao giờ nghĩ tới.

Vả lại, lúc này Hoa Kỳ cũng không muốn đụng đến Việt Nam hay Miến Điện vì sợ hai nước này sẽ nghiêng hẳn về phía Trung Quốc như Thái Lan và Philippines. Chính quyền CSVN cũng như nhà cầm quyền Miến Điện hiểu rõ như thế nên đang mạnh tay đàn áp. Những người đang bị tra tấn, áp bức, tù đày, đói rách hay bị giết chết một cách bất công… đừng trông chờ gì ở Donald Trump cả.

Ngày 30.8.2017, Hội đồng Bảo an LHQ cũng đã triệu tập một cuộc họp kín nhằm thảo luận về tình trạng bạo lực ở bang Rakhine, nhưng không có tuyên bố chính thức nào được công bố!

Ngày 14.9.2017

Lữ Giang

Một ‘ISIS Phật giáo’ từng tồn tại ở Mông Cổ

Câu chuyện bị lãng quên về một Nam tước khát máu người Nga sẽ chỉ ra những điểm mới và cũ về Nhà nước Hồi giáo (IS).

Khi cuộc tranh cãi về mối quan hệ thực sự giữa IS và truyền thống Hồi giáo kéo dài, các nhà sử học nghiên cứu về Mông Cổ của thế kỷ 20 hẳn sẽ phải thắc mắc tại sao không ai đề cập đến Nam tước Roman Fedorovich von Ungern-Sternberg.

Vào đầu thập niên 1920, Ungern-Sternberg lập ra một nhà nước tự xưng lấy cảm hứng từ tôn giáo đóng tại Ulan Bator (Mông Cổ), khủng bố dân chúng của mình bằng những cuộc tàn sát tàn bạo công khai nhằm hiện thực hóa giấc mơ cứu thế của ông về việc khôi phục một đế quốc xa xưa. Câu chuyện về ông là một sự gợi mở cho bất kỳ ai đang cố gắng tìm hiểu những điểm đặc trưng và không đặc trưng của Nhà nước Hồi giáo.

Giống như mọi so sánh sử học khác, sự so sánh ở đây cũng không tuyệt đối: Ungern-Sternberg có một bộ ria mép lớn và rậm rạp, trong khi thủ lĩnh trên danh nghĩa của IS, Abu Bakr al-Baghdadi có một bộ râu xồm. Đồng thời, Ungern-Sternberg là tín độ đạo Phật. Nhưng khi đánh giá về IS ngày nay, cần nhớ rằng cách đây gần một thế kỷ, sự hỗn loạn và bạo lực của cuộc Nội chiến Nga đã giúp thúc đẩy một phiên bản đặc biệt tàn bạo của một tôn giáo mà ngày nay nổi tiếng hòa bình.

Ungern-Sternberg là một sĩ quan trong quân đội Nga và là hậu duệ một dòng dõi quý tộc gốc Đức lâu đời vùng Baltic vốn phục vụ cho Sa Hoàng. Nam tước này chiến đấu cho phe người Nga trong Thế chiến I, rồi tiếp tục chiến đấu bên phía Bạch Vệ chống lại phe Bôn-sê-vích sau cuộc Cách mạng tháng Mười Nga. Năm 1920, khi cuộc xung đột đã lan rộng ra khắp Đế quốc Nga một vài năm, tình thế bắt đầu đổi chiều mạnh mẽ sang hướng có lợi cho phe Bôn-sê-vích. Ungern-Sternberg, vốn đang ở Siberia, đã lập ra một đội quân nhỏ từ tàn quân của Bạch Vệ và quyết định chinh phục Mông Cổ.

Từ lãnh thổ liền kề này, nằm giữa Nga và Trung Quốc, Nam tước và người của mình hy vọng tránh được cái chết dưới tay phe Bôn-sê-vích, trong khi tái huy động một chiến dịch giải phóng Nga khỏi sự kiểm soát của cộng sản. Tuy nhiên, tại Mông Cổ, ông bị kéo vào một cuộc chiến trên hai mặt trận, không chỉ với phe Bôn-sê-vích, mà còn với quân đội Trung Quốc vốn đang kiểm soát quốc gia này. Ở thủ đô Ulan Bator, ông đã tìm cách giành được sự ủng hộ của dân chúng địa phương bằng việc cam kết giải phóng họ khỏi sự cai trị của Trung Quốc. Ông cũng đồng thời dựng lên hậu quả quá khủng khiếp của sự bội phản khiến không ai dám nghĩ tới điều đó.

Đối với trường hợp của IS, những chiến binh Sunni đang ở phía thua cuộc trong nội chiến Iraq đã thành lập ra một nhà nước ở Syria, sau đó quay trở lại Iraq để chiếm lại các thành phố như Mosul từ tay chính phủ Iraq – tương tự như Ungern-Sternberg lên kế hoạch giành lại Nga từ phe Bôn-sê-vích. Cuộc nội chiến đưa đến một bối cảnh mà cả thủ lĩnh IS lẫn Ungern-Sternberg đều phải dựa vào những hành vi tàn bạo có hệ thống và được quảng bá ra bên ngoài để cũng cố sự thống trị của họ, vào thời điểm khi mà sự bạo lực man rợ, vô tổ chức trong nhiều năm đã làm người dân vô cảm [trước bạo lực]. Giống như IS, Ungern-Sternberg đã tận dụng bạo lực để thiết lập một mức độ trật tự nhất định.

Ở Mông Cổ, Ungern-Sternberg tử hình những kẻ đào ngũ và những tân binh không đáp ứng được kỳ vọng của ông. Những câu chuyện về sự khát máu của Nam tước nhan nhản khắp nơi, và tác giả Peter Hopkirk đã tập hợp một vài mẩu chuyện tày trời nhất. Nhiều tù nhân được cho là đã bị chôn sống, bị hỏa thiêu, và bị ném vào nồi hơi tàu hỏa. Một nhân chứng khẳng định rằng ở Ulan Bator, Nam tước này đã kết tội một người học việc thiếu trung thực của một người làm bánh mỳ bằng cách nướng cho đến chết trong chính lò bánh của ông này. Một cáo buộc khác cho rằng vị Nam tước đã treo cổ ba người đàn ông bị buộc tội ăn cắp rượu ngay trên cửa của cửa hàng mà họ lấy trộm…cho đến khi chủ cửa hàng cầu xin ông gỡ bỏ những cái xác đó xuống vì sợ ảnh hưởng công việc kinh doanh.

Các nhà ghi chép tiểu sử đương thời của Ungern-Sternberg phải cố gắng vẽ ra một bức chân dung đáng tin cậy về người đàn ông này giữa những lời đồn và các nguồn thiếu chắc chắn. Nhưng các kết quả hầu như không thể minh oan cho ông. Ví dụ, trong nỗ lực chắt lọc bớt giai thoại khỏi thực tế, nhà sử học James Boyd lập luận rằng trái với một số tin đồn, vị Nam tước không cho phép cướp bóc tràn lan ở Ulan Bator, ông thậm chí ngăn ngừa tình trạng này bằng cách ngay lập tức treo cổ những kẻ cướp phá. Và Sergius Kuzmin đến từ Viện Hàn lâm Khoa học Nga đã đưa ra một đính chính đáng chú ý rằng, “Ungern chặt tay chân bác sĩ Klingenberg không phải vì cái chết của Bayar Gung ở Kyahkhta, mà bởi vì ông đã không cung cấp hỗ trợ y tế cho những người Chakhar [một sắc dân thiểu số ở Mông Cổ] đang bị thương”.

Tính xác thực của câu chuyện mang tính quy kết của một trong những sĩ quan của Ungern Sternberg tên là Dmitri Alisohin cũng gây tranh cãi kịch liệt. Alioshin cáo buộc vị Nam tước đã đánh đập người dân cho đến chết, thiêu sống và vứt cho sói ăn. Nhưng Boyd lập luận rằng hình tượng sói có thể chỉ là một phép tu từ văn học. Một ghi chép lịch sử khác được Kuzmin đưa ra để bào chữa cho vị Nam tước, lột tả một cách sống động nỗi kinh hoàng của thời kỳ đó: hồi ký của Alioshin “mô tả câu chuyện A.F. Klingenberg đầu độc người bị thương tại bệnh viện dã chiến là theo mệnh lệnh của Ungern. Tuy nhiên, hồi ký của Golubev và A.S. Makeev cung cấp những dữ liệu chi tiết và đáng tin cậy hơn: trung tá Laurentz, thay mặt Nam tước, ra lệnh cho nhân viên y tế Logunov đầu độc người bị thương, hành động đã khiến ông này bị xử bắn theo lệnh của Ungern”. Nói cách khác, thậm chí cả các bản báo cáo cẩn trọng nhất cũng chỉ rõ rằng sự tàn bạo của Ungern-Sternberg trên thực tế là có thật.

Khía cạnh tôn giáo trong câu chuyện về ông cũng vậy. Trong một chuyến viếng thăm trước chiến tranh đến Mông Cổ, vị Nam tước đã cải đạo từ Cơ Đốc giáo sang một hình thái lạ lẫm của đạo Phật huyền bí. Thứ đức tin mà ông không bao giờ diễn giải rõ ràng, và đôi khi được ông trộn lẫn đôi chút với thuyết mạt thế của đạo Cơ Đốc, có lẽ cũng kỳ quặc với phần đông Phật tử như chính thứ đạo Hồi của IS đối với các tín đồ Hồi giáo ngày nay. Nhưng khi Ungern-Sternberg tích lũy được quyền lực, người ta có những nguyên nhân chính trị và cá nhân để chấp nhận ước muốn về tính chính danh tôn giáo của ông.

Một trong những bước đi đầu tiên của ông sau khi tấn công Ulan Bator là phóng thích nhà lãnh đạo Phật giáo của Mông Cổ và là vị vua cũ, Bogd Khan (vị Khan thứ tám của Mông Cổ), người đã bị giam lỏng bởi Trung Quốc. Bogd Khan là thành viên cấp cao trong hệ thống Phật giáo Tây Tạng và sở hữu riêng một chương trình nghị sự chính trị cho Mông Cổ, thứ mà ông cảm thấy rằng vị Nam tước có thể giúp ông thúc đẩy. Và vì vậy Bogd Khan đã chính thức ban ân cho vị Nam tước, mang lại một sự công nhận về mặt tôn giáo cho sự cai trị của Ungern-Sternberg. Dựa theo một trong những ghi chép còn gây sốc hơn, ông này còn ban cho vị Nam tước danh hiệu “hiện thân của Thần Chiến tranh và Vua của Mông Cổ được ban ơn”. Nhiều học giả khác gọi danh hiệu này một cách khiêm tốn hơn là “Đại tướng quân anh hùng vĩ đại, người dựng xây Nhà nước”.

Bên ngoài các luận điệu, thật khó để nói chính xác Phật giáo đã định hình sự cai trị của Ungern-Sternberg như thế nào. Trong quá trình xâm chiếm Mông Cổ, vị Nam tước được cho là đã nhận lời khuyên từ các bộ giáp cốt của các nhà tiên tri và một biệt đội cảnh vệ của Đạt Lai Lạt Ma. Tin đồn lan xa rằng ông được hưởng sự phù hộ của thần thánh; rằng ông đã từng giết một sĩ quan Trung Quốc và hai tên lính chỉ với một que tre; và rằng trong một trận chiến khác, 74 viên đạn đã bắn vào áo choàng và yên ngựa của ông nhưng ông vẫn không hề hấn gì.

Ungern-Sternberg cũng đồng thời đấu tranh chống lại chủ nghĩa cộng sản trên khía cạnh tôn giáo rõ rệt, ông cho rằng phe Bôn-sê-vích, những kẻ cố gắng tiêu diệt tôn giáo, cần phải bị kháng cự quyết liệt. Đạo Phật có vẻ đã ảnh hưởng đến tham vọng chính trị cũng như thiên hướng bạo lực của vị Nam tước. Một vài nguồn tin khẳng định rằng Ungern-Sternberg đã mường tượng về “một Nhà nước vĩ đại từ Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương tới bờ sông Volga”, trong đó “Đạo Phật sáng suốt sẽ trải dài sang đến phía bắc và phía tây”. Hoặc ông đã tưởng tượng về một “Đế quốc Mông Cổ trung tâm” dưới trướng Bogd Khan, nơi mà đạo Phật nhận được sự ủng hộ của hãn quốc Mãn Châu được khôi phục ở Bắc Kinh. Về việc bạo lực được tận dụng để hiện thực hóa mơ ước đó, Alisoshin phát biểu rằng các sư phụ Phật giáo của vị Nam tước đã dạy ông ta về thuyết đầu thai chuyển kiếp, và ông kiên định tin tưởng việc giết hại những kẻ yếu đuối là tốt cho họ, vì họ sẽ trở nên mạnh mẽ hơn ở kiếp sau.”

Đến năm 1921, Ungern-Sternberg đã củng cố vững chắc sự cai trị của ông ở Ulan Bator và quyết định trở về giải phóng nước Nga. Bị dẫn dắt bởi một chiến thuật hung hãn, bất cẩn, vị Nam tước đã lên đường đến Siberia. Trước khi xuất quân, ông đưa ra một mệnh lệnh có vẻ như là minh chứng cho sự điên cuồng của mình. “Các chính ủy, đảng viên cộng sản, và người Do Thái phải bị tiêu diệt cùng gia đình của chúng”. Ông được cho là đã tuyên bố: “Ngày nay, chỉ duy nhất một hình phạt được chấp thuận: cái chết ở các cấp độ khác nhau”.

So sánh giữa Ungern-Sternberg và Baghdadi

Tiêu chí so sánh19202014
Lãnh đạoRoman Fedorovich von Ungern-SternbergAbu Bakr al-Baghdadi
Tín ngưỡng tôn giáo về Đấng cứu thế bị lợi dụngPhật giáoHồi giáo
Mục tiêu dài hạn khác thường bị khích động bởi tôn giáoHãn quốc Mông Cổ trải dài từ Thái Bình Dương sang sông VolgaVương quốc Hồi giáo toàn cầu
Quan điểm của phong trào đối với người Do TháiTàn sátTàn sát
Quốc gia có nội chiến làm phát sinh quá trìnhNgaIraq
Quốc gia xảy ra xung đột nội bộ bởi bên thua trận trong cuộc nội chiến nói trênMông CổSyria

Nhưng người Nga đã có sự chuẩn bị. Hồng Quân phục kích lực lượng của Ungern Sternberg không lâu sau khi họ vượt qua biên giới, buộc họ phải rút lui và tập hợp lại. Ở nơi này, có vẻ như đội quân bạc nhược của vị Nam tước đã phản lại ông ta. Có một vài câu chuyện khác nhau về cuộc nổi loạn, nhưng khi lực lượng Xô-viết bắt được ông, vị Nam tước trước đó đã bị người của mình phản bội. Tại một phiên xét xử sau đó của Liên Xô, Ungern-Sternberg đã tỏ ra thách thức. Một báo cáo khẳng định, khi được bảo rằng ông ta có thể thoát tội chết bằng việc hát bài Quốc tế ca, một bài hát của phe Bôn-sê-vích, ông đã không hát mà thay vào đó lại thách các vị thẩm phán hát bài quốc ca cũ của nước Nga. Một bản tường thuật thú vị khác, từ nhà thám hiểm và nhà thơ ngụ ngôn nổi tiếng người Ba Lan Ferdinand Ossendowski, tin rằng vị Nam tước đã bị xử tử đúng vào ngày ông được tiên đoán qua đời bởi một nhà tiên tri Phật giáo.

Nếu không dựa vào các lời tiên tri như vậy, thì việc dùng các so sánh lịch sử để phán đoán tương lai quả là một việc làm nguy hiểm. Nhưng có một vài điểm ở đây đáng để xem xét liên quan tới Nhà nước Hồi giáo. Sự tàn bạo và bất thường trong quá trình cai trị của vị Nam tước rốt cuộc đã làm những người ủng hộ xa lánh, và thế giới quan về một đấng cứu thế của ông không nghe có vẻ thuyết phục với những người có tư duy chiến lược. Nhưng nếu những yếu tố đó đã góp phần dẫn đến sự sụp đổ của Ungern-Sternberg thì cũng đáng để nhớ lại rằng, chính chiến thắng của lực lượng Xô-viết và sự thành lập của nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ liên minh với Liên Xô vào năm 1924 sau cùng đã mang đến một hình thái chuyên chế của sự ổn định đến vùng đất này. So với vị Nam tước, sự tàn bạo của Hồng Quân ít rõ ràng hơn và tư duy kiểu đấng cứu thế của họ thế tục hơn. Tuy vậy, phong cách (cai trị) của họ không hẳn là hoàn toàn khác biệt.

Gác những tranh cãi quá mức về bản chất Hồi giáo của nhà nước IS sang một bên sẽ giúp chúng ta dễ dàng nhìn thấy bối cảnh chính trị và cấu trúc của tổ chức này hơn: Cách mà sự tàn bạo của nhà nước Hồi giáo đã được xây dựng dựa trên những di sản của Saddam Hussein, Bashar al-Assad, và các xung đột rộng hơn ở Iraq và Syria. Điều đó cũng đồng thời gợi nên một viễn cảnh ghê rợn: bất kể thế lực nào thay thế cho Nhà nước Hồi giáo– dù là thế tục, Hồi giáo, thậm chí có là Phật giáo đi nữa – thì có lẽ nó cũng chỉ ít xấu xa hơn đôi chút so với những nhà nước đi trước.

Nick Danforth là nghiên cứu sinh tiến sĩ ngành Lịch sử Thổ Nhĩ Kỳ tại Đại học Georgetown.

Hình: Chân dung Roman Fedorovich von Ungern-Sternberg. Nguồn: Wikimedia

CIA Hoa Kỳ đã dùng Phật giáo để chống lại Chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Nam Á như thế nào?

Luật Khoa tạp chí lược dịch từ bài viết When the U.S. government tried to fight Communism with Buddhism của nhà báo tự do Joe Freeman đăng trên Tạp chí Politico ngày 10/9/2017.

***

Phật giáo Myanmar (Miến Điện) một lần nữa trở thành tâm điểm của các trang tin quốc tế khi hàng loạt tin tức về những vụ đàn áp đẫm máu người Hồi giáo thiểu số Rohingya đều đặn được đăng tải trong những ngày vừa qua.

Thế nhưng, chúng ta cần nhớ rằng, yếu tố tôn giáo vốn luôn là một nguyên tố mang nhiều tính biến động trong lịch sử chính trị Đông Nam Á.

Tuy tầm ảnh hưởng của chủ thuyết dân tộc chủ nghĩa Phật giáo (Buddhist nationalism) ở Myanmar đang được cơ cấu thành một hiện tượng gì đó hoàn toàn mới mẻ ngay lúc này, nhưng thực chất, Phật giáo vốn đứng đằng sau rất nhiều sự kiện ở tại những thời điểm càng biến động và hỗn loạn hơn trước đây trong khu vực.

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Đông Nam Á là điểm nóng của sự giao tranh giữa những tư tưởng và tầm nhìn đối nghịch nhau. Mà Phật giáo, đã từng là tâm điểm của tất cả.

Chuyến công du của Richard Nixon năm 1953 và những định hướng của Hoa Kỳ về tôn giáo ở Đông Nam Á

Năm 1953, một vài tháng sau khi Tổng thống Dwight D. Eisenhower nhậm chức, Phó Tổng thống Richard M. Nixon đã cùng vợ, bà Pat, trải qua một chuyến công du đầy bão táp ở Châu Á. Họ đã dừng chân tại Burma (ND: Kể từ năm 1989, Burma mới chính thức đổi tên thành Myanmar.), Cambodia, Laos, và Việt Nam.

Người Pháp đã mang Nixon đến những tuyến đầu của Cuộc chiến Đông Dương lần thứ Nhất (First Indochina war), để tận mắt chứng kiến cuộc đối đầu quật cường của những người Việt Minh.

Tuy rất có ấn tượng với những gì ông ta nhìn thấy, nhưng Nixon vẫn cảm thấy khá lấn cấn. Ông không thích cái kiểu gia trưởng của người Pháp – là đồng minh nhận được sự ủng hộ của người Mỹ trong cuộc chiến này để chống lại quân cộng sản – trong việc họ đối xử với quân đội của Quốc gia Việt Nam, một đồng minh khác của Hoa Kỳ.

Vì người Pháp đã kết luận rằng, người Việt Quốc gia đã thất bại trong việc tìm kiếm một đại tự sự có đủ sức quyến rũ và có thể đáp trả lại ngọn cờ giải phóng dân tộc đang rất được lòng dân của phe bên kia.

Nixon gặp gỡ Quân đội của Quốc gia Việt Nam trong chuyến công du Đông Nam Á 1953. Ảnh: country-data.com

Chuyến công du đó là một kinh nghiệm mang ý nghĩa định hướng đối với Nixon. Một năm sau đó, trong một lá thư gửi đến Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Walter Bedell Smith, Nixon đã viết, “Như ngài đã biết, tôi vẫn luôn mang trong mình một mối quan tâm sâu sắc đến những người dân Đông Nam Á. Vì khác hẳn với giai cấp lãnh đạo, lý tưởng và tâm nguyện của những người dân nơi ấy thật ra rất gần gũi và tương đồng với chúng ta.”

Sự thương cảm của Nixon mang dáng vẻ khá buồn cười vài năm sau đó, khi chính ông ta đã ra lệnh dội bom xuống Cambodia trong cương vị tổng thống Mỹ.

Thế nhưng, những gì Nixon viết vẫn có lý lẽ riêng của nó. Trong cùng một bức thư, Nixon đã có thêm một đoạn về phương pháp giải quyết vấn đề cho thế tiến thoái lưỡng nan của người Pháp ở Đông Nam Á. Ông viết, “Tôi tin rằng đề nghị của mình sẽ giúp ích cho việc tìm kiếm một phương pháp mang đến sự thấu hiểu chung”.

Đề nghị mà Nixon nhắc đến có nguồn gốc từ một nhóm khá bí ẩn với tên gọi Quỹ Hành động Tôn giáo (Foundation for Religious Action – FFRA). FFRA kêu gọi thành lập một “Sự phản công Tín ngưỡng ở Đông Nam Á” (Spiritual Counteroffensive in Southeast Asia).

Kế hoạch này bao gồm việc chính phủ Mỹ sẽ bỏ tiền vào những tu viện Phật giáo với hy vọng rằng, niềm tin tôn giáo sẽ chiến thắng sức mạnh của thế lực thù địch vô thần đến từ Liên Xô, Trung Quốc, cũng như chủ nghĩa cộng sản toàn cầu. Họ – người Mỹ – sẽ dựng nên một Bức màn Cà sa (Saffron Curtain).

Hoa Kỳ nhận thức được sức mạnh của chiếc cà sa tại Đông Nam Á. Ảnh: ferrebeekeeper.wordpress

“Những vị tăng sư của Chiến tranh Lạnh: Phật giáo và Chiến lược bí mật của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á”

Các quan chức Mỹ vốn đã bị Phật giáo hấp dẫn trong nhiều năm. Trong bóng mờ của Cuộc Thế chiến thứ Hai cùng với việc người Pháp bại trận tại Điện Biên Phủ năm 1954, Hoa Kỳ ngộ ra rằng, chỉ dùng vũ lực vốn không đủ thích đáng để chống lại sự lan tỏa của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á. Họ cần thu phục nhân tâm, nói cách khác, họ cần có được sự ủng hộ của đền đài và chùa miếu tại đây.

Đó cũng chính là câu chuyện mà Eugene Ford sẽ kể trong cuốn sách sắp phát hành, Những vị tăng sư của Chiến tranh Lạnh: Phật giáo và Chiến lược bí mật của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á (Cold War Monks: Buddhism and America’s Secret Strategy in Southeast Asia).

Một câu chuyện về nỗi đam mê ngắn ngủi của nước Mỹ đối với Phật giáo như là một thế lực chính trị. Một câu chuyện về những nỗ lực âm thầm của Hoa Kỳ nhằm gia tăng vị thế của các tu viện Phật giáo trong khu vực này, vào một thời điểm mà các tư tưởng và ý thức hệ có thể xoay chuyển hàng triệu con người.

“Tôn giáo là một đòn bẩy mà người Mỹ có thể dùng để tạo ra ảnh hưởng qua việc sử dụng sức mạnh tâm lý và phi quân sự”, Ford đã viết như thế. “Đặc biệt bằng cách nhấn mạnh với các cộng đồng tại đó về một mối đe dọa có thể đến từ những người cộng sản đối với các tu viện tôn giáo.” Và người dân rồi cũng biết, những mối đe dọa đó là có thật.

Người Mỹ tin rằng tôn giáo sẽ giúp chiến thắng chủ nghĩa “vô thần” của người cộng sản

Đắm chìm trong những bộ phim hành động và gián điệp chia rẽ hai cực Đông và Tây, chúng ta thường bỏ quên những lời hùng biện về tôn giáo mang hơi hướm của các cuộc thánh chiến trong thời kỳ đó của người Mỹ.

Năm 1950, Thuợng nghị sĩ Mỹ Edward Martin đã phát biểu rằng, Hoa Kỳ cần phải chiến đấu “với một quả bom nguyên tử trong tay này và một cây thánh giá trong tay kia”. Chủ nghĩa cộng sản là “vô thần”. Tôn giáo, vì thế là một vũ khí mạnh mẽ để chống lại nó. Trong câu chữ của một đại diện cho cơ quan nhà nước Hoa Kỳ, niềm tin tôn giáo là một phương tiện mang tính chủ lực trong Chiến tranh Lạnh.

Thế nên, nỗ lực dùng tôn giáo để chống lại chủ nghĩa cộng sản không chỉ giới hạn trong Phật Giáo. Từ năm 1946, Tổng thống Harry S. Truman đã kêu gọi tất cả các tín ngưỡng hãy cùng nhau hồi sinh niềm tin tôn giáo và tâm linh tại Mỹ.

Hoa Kỳ cũng đồng thời đẩy mạnh niềm tin tôn giáo tại Mỹ bằng việc thêm từ “dưới Thượng đế” vào Lời tuyên thệ Trung thành (Pledge of Allegiance). Ảnh: Google Sites.

Sử gia Dianne Kirby đã ghi nhận rằng, hai từ “dưới Thượng Đế” (under God) được thêm vào Lời Tuyên thệ Trung thành (Pledge of Allegiance) ở Hoa Kỳ vào năm 1954, và “cả một vòng phòng ngự của những tuyên truyền chống chủ nghĩa cộng sản, chống Sô Viết đã thống lĩnh hầu hết tư tưởng của các nhà lãnh đạo tôn giáo Thiên Chúa giáo, cũng như các cộng đồng giáo dân của họ”.

Con số những người tham gia các buổi lễ ở các giáo đường tăng vọt. Chính phủ Truman thiết lập một mối quan hệ thân cận với Tòa thánh Vatican để có thể chia sẻ thông tin tình báo về các hoạt động của người cộng sản tại Châu Âu. Eugene Ford cũng nhắc đến một kế hoạch – tuy không đủ tính thuyết phục – nhưng mang đầy vẻ quyến rũ về một mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và các tổ chức Hồi giáo ở nước ngoài.

Yếu tố thời điểm đã củng cố thêm niềm tin của Hoa Kỳ vào việc sử dụng Phật giáo để tuyên truyền giảng dạy chống lại thuyết cộng sản ở Đông Nam Á

Riêng với Phật Giáo, thì thời kỳ nước Mỹ bắt đầu bị mê hoặc với việc sử dụng tôn giáo làm vũ khí chống lại chủ nghĩa cộng sản trong Chiến tranh Lạnh, cũng ngẫu nhiên trùng khớp với dịp các Phật tử tưng bừng kỷ niệm 2.500 năm ngày mất của Phật tổ và lần hội nghị đầu tiên những đệ tử của Đức Phật tổ chức để cùng tìm hiểu về những lời Phật dạy.

Trong giữa thập niên 1950, một làn sóng mới muốn tìm hiểu về Phật giáo đã diễn ra, và kết quả là Tổ chức Liên hữu Phật giáo Thế giới (World Fellowship of Buddhists – WFB) đã được thành lập. Ngày 25/5/1950, WFB tổ chức hội nghị lần thứ nhất tại Ceylon, nay là Sri Lanka.

Đại hội Kỳ 1 của Tổ chức Liên hữu Phật giáo Thế giới (WFB) tại Sri Lanka năm 1950. Ảnh: mea.gov.in

“Bỏ mặc là tốt hay xấu, thì một tổ chức tôn giáo-chính trị với mạng lưới liên kết toàn cầu với sức ảnh hưởng rộng lớn đến đại bộ phận người dân Đông Nam Á, đã được ra đời.” Một quan chức Hoa Kỳ đã ghi nhận về hội nghị WFB như thế.

Các chính phủ Đông Nam Á cũng hiểu rất rõ sức ảnh hưởng của Phật giáo. Họ cũng lo sợ về việc những giá trị truyền thống Phật giáo sẽ bị băng hoại khi chủ nghĩa cộng sản bắt đầu trở nên được ưa chuộng.

Một bản ký lục của cơ quan tình báo CIA năm 1951 đã xác định xu hướng này tại Burma, cũng như các nơi khác ở Đông Nam Á, khi những lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản bắt đầu được người dân chú ý đến.

“Nếu người cộng sản làm chủ được tình hình Burma, thì đó sẽ là một nước cờ mang tính chiến lược đầy thuận lợi cho Cộng sản Trung Quốc và Liên Xô. Điều này sẽ thọc một mũi chia rẽ giữa hai khu vực, Ấn Độ – Pakistan và Đông Nam Á, giúp cho việc chủ nghĩa Cộng sản tiến sâu vào Đông Dương và những quốc gia khác ở phía Nam và Đông Nam Châu Á. Để họ có thể – bằng một đòn tâm lý chiến – tuyên bố rằng Chủ nghĩa Cộng sản ở Châu Á là chân lý không gì có thể ngăn cản nổi”, bản ký lục này đã nhận định như thế.

Cảnh giác với chiến thắng của Mao Zedong (Mao Trạch Đông) ở Trung Quốc và nhận thấy tình hình có vẻ ngày càng bất lợi khi các đoàn quân Quốc dân đảng (Kuamintang) liên tục trốn chạy qua biên giới, một số các nhà lãnh đạo Đông Nam Á quyết định sẽ tự mình hành động.

Trong thời kỳ đầu của thập niên 1950, các quan chức Thailand đã tuyển mộ các vị sư ở các vùng nông thôn để tiến hành “giảng dạy người dân phải tôn trọng cha mẹ, nhà Vua, và chính phủ, cũng như làm rõ sự khác biệt giữa chủ thuyết cộng sản và Phật giáo”.

Một trong những sự kiện nổi bật là phát biểu năm 1950 của Thủ tướng Burma, U Nu, sau khi nước này dành được độc lập. Ông U Nu, một Phật tử sùng đạo đã nói, tất cả những tư tưởng của Karl Marx “vốn dĩ không bằng một phần mười hạt bụi nằm dưới chân Đức Phật của chúng ta”.

Thủ tướng U Nu tại lễ Phật Đản năm 1961. Ảnh: howlingpixel.com

Và vì thế, yếu tố thời điểm trở nên hết sức thuận lợi cho Hoa Kỳ thâm nhập. Vào lúc mà Nixon gửi lá thư của mình đến Walter Bedell Smith thì các nhân viên tình báo CIA đã rất bận rộn với những hoạt động cùng những nhóm Phật tử khắp cả khu vực.

Hoạt động của CIA ở những nước Đông Nam Á có truyền thống lâu đời với Phật Giáo, bắt đầu từ Burma

Cơ quan CIA đã thu thập tình báo tại những tu viện của các vị tu hành gốc Việt ở Bangkok từ những năm 1948, với mục đích theo dõi những hoạt động của các đường dây ngầm của người cộng sản.

Nhưng CIA không thể hoạt động công khai, và vì thế họ phải sử dụng các tổ chức tư nhân để làm việc cho mình. CIA tiến hành tài trợ phía sau Ủy ban Vì một Châu Á Tự do (Committee for a Free Asia) vừa mới được thành lập – sau năm 1954 họ được biết đến với tên gọi Quỹ Châu Á (Asia Foundation).

CIA đã thông qua Ủy ban Quốc gia Vì một Châu Âu tự do (National Committee for a Free Europe), là tổ chức quản lý Đài Âu Châu Tự do (Radio Free Europe) vào thời điểm đó, để tiến hành.

CIA tiếp tục việc tài trợ ngầm cho đến khi họ chấm dứt các mối quan hệ với Quỹ Châu Á, sau khi các hoạt động của họ và các tổ chức này bắt đầu bị phanh phui trong những năm cuối thập niên 1960.

Báo chí phanh phui quan hệ giữa CIA và Quỹ Châu Á. Ảnh: New York Times.

Người Mỹ bắt đầu xuất hiện tại Burma, nơi mà Eugene Ford đã miêu tả là một phòng thí nghiệm cho những hoạt động ngầm núp bóng Phật giáo của CIA (Thủ tướng U Nu của Burma, như chúng ta thấy ở trên, là một tín đồ Phật giáo hết sức sùng đạo).

Năm 1952, Ủy ban Vì một Châu Á Tự do đến Burma và bắt đầu tài trợ cho Đại hội Phật tử kỳ 1954-1956. Đại hội này được xem là kỳ thứ sáu, kể từ lần đầu tiên được tiến hành vào hai thiên niên kỷ rưỡi trước, ngay sau khi Đức Phật qua đời.

Thủ tướng U Nu đã yêu cầu Hoa Kỳ giúp đỡ để Burma có thể tổ chức đại hội có tên gọi là Synod lần thứ sáu này. Các giai đoạn chuẩn bị cho kỳ đại hội Synod có thể khiến chính phủ Burma phải tiêu tốn sáu triệu Mỹ kim, vì họ cần tái dựng lại khung cảnh của kỳ đại hội đầu tiên bằng việc xây dựng một hang động. Hang động này vẫn còn tồn tại ở Yangon, thủ đô của Burma hiện nay, và là một địa điểm du lịch nổi tiếng ngay bên cạnh một trường đại học Phật giáo.

Hang động Mahapasana Cave (nơi tổ chức Đại hội Synod lần thứ 6 được Hoa Kỳ hỗ trợ tài chính) ngày nay tại thủ đô Yangon, Myanmar. Ảnh: besttourmyanmar.com

Đến năm 1962, Ủy ban Vì một Châu Á Tự do và tổ chức kế nhiệm, Quỹ Châu Á, đã đóng góp hơn 300.000 đô la cho các thiết bị in ấn và trợ giúp về kỹ thuật để giúp cho Nhà in Buddha Sasana của Burma trở thành nhà in Phật giáo “lớn nhất và tối tân nhất” trên toàn thế giới.

Quỹ Châu Á cùng lúc đó đã mở rộng hoạt động của họ đến các nước láng giềng, bao gồm Thailand, Cambodia, và Laos. Điều này đã giúp cho chính quyền Washington có được một diễn đàn trong khu vực và một mạng lưới của riêng mình trong cộng đồng Phật tử toàn thế giới.

Ngoài Burma, Hoa Kỳ cũng sử dụng cùng một phương pháp thầm lặng như thế ở các nước khác trong khu vực, bằng việc trợ cấp cho các chương trình giáo dục Phật giáo và các nhóm phát triển, phát tán các tài liệu tuyên truyền chống chủ nghĩa cộng sản, có mặt tại các hội thảo Phật giáo và tài trợ các chuyến viếng thăm những danh lam thắng cảnh Hoa Kỳ – như tòa nhà Empire State – của các thành viên cao cấp Sangha, các tăng lữ.

Ý đồ của Mỹ, theo cách nói của một quan chức, là làm thế nào để “có thể khiến cho mọi người có được một cái nhìn chung về một nguy cơ trên bình diện rộng, đến từ những bất cập giữa chủ thuyết cộng sản và quyền tự do tôn giáo của mọi tín ngưỡng.”

Các quan chức Hoa Kỳ đương nhiên phải tự cảnh giác, là việc họ làm có thể bị người khác xem là hành vi lợi dụng Phật giáo.

Một bản dự thảo chính sách về tôn giáo năm 1957 đã giải thích rằng, “tất cả những việc chúng ta làm không nên tỏ vẻ với các lãnh đạo Phật giáo đó là một ‘chương trình’ gì đó của chính phủ Mỹ, mà nên là những cử chỉ thân thiện để bày tỏ sự giúp đỡ lẫn nhau giữa người Phật tử và các nhóm tôn giáo Hoa Kỳ”.

Tuy nhiên, các quan chức Hoa Kỳ vẫn nhấn mạnh, tình hình đã rất nguy cấp vì Cộng sản Trung Quốc cũng đang rất bận rộn mở rộng quan hệ với những nhóm tôn giáo, ngay tại các buổi hội thảo và gặp mặt mà người Mỹ đã tham gia.

Năm 1956, các chuyên gia của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ còn đi xa hơn một bước và thành lập “Ủy ban Phật giáo”. Mặt khác, các quan chức Hoa Kỳ cũng bắt đầu học hiểu được rằng, Phật giáo không phải là một tôn giáo nguyên nhất, mà ngược lại, có rất nhiều hệ phái.

Lịch sử của các cuộc phân tranh trong khu vực Đông Nam Á và sự phức tạp của các hệ phái Phật giáo cản trở hoạt động của CIA

Và cho dù là ở những quốc gia láng giềng có cùng tôn giáo và một số tập quán khá tương đồng như Thailand và Burma đi nữa, thì những quốc gia đó cũng có lịch sử và quá khứ mang đầy các sự kiện đầy bi thảm bởi các cuộc chiến giữa họ từ hàng trăm năm trước.

Sự có mặt của các phiến quân ở các vùng biên giới những quốc gia ở Đông Nam Á như Thailand-Burma vốn chưa bao giờ chấm dứt. Ảnh: Burma Times.

Còn đối với Laos, một bản điều tra dân số được thực hiện vào năm 1958 đã cho thấy, chỉ phân nửa dân số Laos là theo Phật giáo. Và như thế, những kế hoạch dùng việc giảng dạy Phật giáo để có thể mang ảnh hưởng đến số đông quần chúng có vẻ là một việc làm vô ích đối với nhiều người.

Nhìn lại những nỗ lực thiết lập quan hệ với các lãnh đạo Phật giáo của Hoa Kỳ, thì chúng có phần mềm mỏng hơn nếu mang so sánh với sự can thiệp quân sự của Mỹ tại Đông Nam Á và các quốc gia khác trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

Hình ảnh của người Mỹ ở đây hoàn toàn không giống với kiểu “người Mỹ xấu xí” chạy loanh quanh ở những nơi mà anh ta không thuộc về, mà cũng chẳng hiểu rõ chúng.

Eugene Ford đã kết luận rằng, “Không hề có âm mưu nham hiểm gì trong thái độ chuyên tâm gia tăng năng lực dân sự, và lòng chân thành cũng như kỹ năng chuyên môn sâu của những người Mỹ thực hiện các chương trình này tại các địa phương, và họ hoàn toàn không mang hình ảnh của những kẻ cao ngạo chuyên đi chỏ mũi vào chuyện người khác”.

Mặc dù là như thế, cuộc tình lãng mạn giữa người Mỹ và Phật giáo lại rất ngắn ngủi và cũng không có kết thúc mỹ mãn.

Cho dù Hoa Kỳ đã hỗ trợ về cả quân sự lẫn mặt trận tôn giáo, các chính thể cộng sản vẫn trở thành kẻ nắm quyền tại Việt Nam, Laos, và Cambodia – nơi mà Khmer Đỏ đã tàn sát hàng loạt các tăng lữ thâm niên và bỏ tù những vị khác ở các trại cải tạo sau đó.

Tranh vẽ về thảm sát Cánh đồng chết ở Cambodia sau khi Khmer Đỏ nắm quyền. Ảnh: The Economist.

Tại Burma, sau khi chế độ quân phiệt truất phế Thủ tướng U Nu năm 1962, quân đội Burma quyết định sẽ chiến đấu với quân cộng sản bằng phương pháp “truyền thống” hơn, đó là bằng súng ống.

Với sự hậu thuẫn ngầm của Hoa Kỳ, chính quyền Thailand tự tổ chức các cuộc đàn áp người cộng sản và phe cánh tả bằng một cách hết sức tàn nhẫn, đủ khiến cho những công việc của Quỹ Châu Á trở nên chẳng quan trọng gì nữa.

Lời kết của tác giả

Tôi mang phần lịch sử này ra kể lại hôm nay, vì muốn nhắc nhở tất cả chúng ta về những góc khác của Phật giáo. Sự cuồng nhiệt của Phương Tây đối với các phẩm chất tinh thần đầy bí ẩn của Phật giáo đã che khuất một phần quá khứ đầy chính trị và đôi khi mang cả một chút bạo lực của tôn giáo này.

Chúng ta vốn không nắm rõ được những gì mà các tăng sĩ Phật giáo Thiền tông của Nhật Bản đã cổ súy, để các hoàng đế của đế quốc này tiến vào Trung Quốc như một cuộc thánh chiến.

Chúng ta cũng không bỏ thêm thời gian để suy nghĩ về những vị sư Sri Lanka, những người đã chúc lành cho các quân nhân trước khi ra mặt trận để chiến đấu với phe phiến quân Hổ Tamil (Tamil Tiger).

Để rồi chúng ta cảm thấy bị bất ngờ trước những gì đang xảy ra ngay hôm nay ở Myanmar, khi các vị tăng sư dùng chủ nghĩa dân tộc để thổi bùng lên những cuộc bạo động tôn giáo và ủng hộ việc tàn sát người Hồi giáo.

Bài học ở đây không phải là Phật giáo có những căn tính bạo lực – Phật giáo vốn không hề có. Thế nhưng, cũng như tất cả các tôn giáo khác, thì ngay cả những tôn giáo ôn hòa nhất cũng có thể bị kẻ khác làm biến dạng để sử dụng cho những mục đích chính trị, mà đôi khi là rất tàn ác.

Liệu có phải chính Chiến tranh Lạnh đã tiếp nhiên liệu cho tính chiến đấu của một số những người Phật tử, như nó đã từng bơm năng lượng cho các quân cảm tử (mujahid) ở Afghanistan hay không?

Đó là một câu hỏi mà Eugene Ford đã để lửng trong câu chuyện của mình, và cũng là câu hỏi mà không ai có thể trả lời được. Thế nhưng, những căng thẳng của thời kỳ Chiến tranh Lạnh chắc chắn đã khiến cho Phật giáo bị chính trị hóa nặng nề hơn.

Một trong những ví dụ về những nhà sư đã bị chính trị hóa mà Eugene Ford kể trong sách của ông là một vị người Thái có tên, Kittivudho.

Kittivudho đã được nhiều người biết đến khi so sánh giết cá với tàn sát người cộng sản:

“Sát sinh loài cá đương nhiên không được kính trọng, nhưng nếu chúng ta bỏ nó vào một cái bát dùng để khất thực của một vị sư, thì việc ta làm lại trở thành vô cùng có đức hạnh”.


HỒI GIÁO ĐANG QUYẾT TÂM TIÊU DIỆT
PHẬT GIÁO TẠI THÁI LAN

 Hỏi: Trước những tin tức dồn dập về việc bọn Hồi giáo cực đoan ở miền Nam Thái Lan đang giết hại Phật tử và Sư tăng, chúng ta phải có thái độ như thế nào là hợp lý nhất?

Đáp:  Ta không cần phải phân biệt nhiều về Hồi giáo và Hồi giáo cực đoan, bởi vì ranh giới đó không rõ ràng. Hồi giáo nào cũng mang sẵn trong người máu cực đoan, chỉ cần vài tên giáo sĩ kêu gọi là chúng trở thành kẻ sát nhân liền.

Việc Hồi giáo nổi dậy giết hại Phật tử và Sư tăng đã được chuẩn bị từ rất lâu. Chúng đã gài người vào trong bộ máy chính quyền ở Bangkok khá nhiều để nắm được nội tình chính phủ, để vô hiệu hóa các hoạt động chống trả của chính phủ, thậm chí còn trở thành người lãnh đạo cao nhất hiện nay.

Các nhà chính trị Thái Lan lo việc cạnh tranh giữa các đảng phái, lo tranh phiếu bầu, nên không tập trung lo việc an ninh chính trị, khiến cho Hồi giáo có nhiều cơ hội xâm nhập vào chính quyền các cấp. Đây cũng là nhược điểm của chế độ đa đảng.

Khi đã nắm được nhiều ưu thế rồi, chúng tiến hành ra mặt khủng bố nhằm đuổi Phật tử Sư tăng ra khỏi miền Nam và chúng chiếm mất lãnh thổ của Nam Thái Lan. Tôn giáo đi trước, xâm lược đi sau. Công thức này không bao giờ cũ, kể cả tại VN ta cũng vậy.

Nhiều Sư tăng Thái Lan chỉ biết sợ hãi, trốn chạy khi nghe đến hai chữ Hồi giáo, chứ không nghĩ đến một phương sách bảo vệ Phật tử và bảo vệ Đạo pháp nào cho có hiệu quả. Một bên hung hãn liều chết, một bên hèn nhát sợ sệt. Như vậy sự thắng thua đã định rõ rồi.

Hỏi: Có thể chư Tăng Thái Lan không phải hèn nhát, mà chỉ là quen đi theo con đường từ bi bất bạo động chăng?

Đáp:  Nếu từ bi bất bạo động mà khiến cho Phật Pháp được phát triển, Hồi giáo phải quy phục thì là đúng; còn nếu sau khi từ bi bất bạo động xong thì Phật pháp biến mất vĩnh viễn thì là sai. Vào thế kỷ thứ 8 đến thứ 13, Hồi giáo cũng tấn công giết hại Phật giáo khắp Ấn độ và Trung Á, chỉ vì chư Tăng từ bi bất bạo động mà cho đến giờ này Phật giáo cũng không hồi sinh được, thậm chí các di tích PG cũng bị bọn chúng bắn súng triệt hạ luôn.

Hỏi: Lẽ nào PG chủ trương dùng đến sức mạnh để bảo vệ Đạo?

Đáp:  Điều này trong kinh Đại thừa đã nói nhiều qua hình ảnh các vị thần Kim Cang, Dạ xoa… mà trong kinh Nguyên Thuỷ cũng không ít. Nhiều khi đức Phật đã cho kẻ bướng bỉnh nhìn thấy vị thần Kim Cang tay cầm búa, và hăm doạ nếu kẻ đó không trả lời chân thật câu hỏi thì sẽ bị thần này đánh bể đầu làm 7 mảnh. Ta phải thấy sự cứng rắn nghiêm khắc tuy ít được sử dụng trong PG, nhưng không phải là không có. Tình thế ít phức tạp thì ít dùng; tình thế hỗn loạn thì phải dùng nhiều hơn. Tình thế cực kỳ nguy hiểm như hiện nay thì phải có cả một chủ trương, một lực lượng chuyên trách sử dụng các biện pháp cứng rắn để đối phó với bọn Hồi giáo tàn bạo đó.

Hỏi: Nghĩa là phải giết người, phải sát sinh? 

Đáp:  Nếu nói thì phải nói cho đầy đủ. Giới sát sinh cần phải được diễn giải như sau:Đệ tử Phật không được giết người, trừ trường hợp phải bảo vệ quê hương và bảo vệ Đạo pháp. Việc các chiến sĩ cầm súng bảo vệ quê hương sẵn sàng tiêu diệt quân thù thì ta đã quen thuộc và xem là chuyện bình thường; còn hình ảnh một đệ tử Phật phải cầm súng tiêu diệt bọn Hồi giáo khủng bố thì ta chưa hình dung được. Nhưng đã đến lúc ta phải ca ngợi hình ảnh đó, vì sao, vì Phật Pháp cũng là một quê hương cao quý như quê hương đất nước của ta vậy. Ai bảo vệ quê hương Phật Pháp cũng là anh hùng như các anh hùng bảo vệ đất nước vậy.

Hỏi: Đúng là mọi người sẽ rất xa lạ với việc PG có thêm hình ảnh chiến sĩ cầm vũ khí. Liệu chỉ vì bảo vệ Đạo pháp mà ta sẽ trở nên giống như kẻ thù của mình không, nghĩa là cũng sẽ trở thành sắt máu tàn bạo?

Đáp:  Ta không xem ai là kẻ thù cả, ngay cả đó là những tên Hồi giáo khủng bố tàn bạo giết dân lành vô tội. Ta chỉ dùng biện pháp cứng rắn khi mà các biện pháp mềm dẻo không có tác dụng cảm hóa, trái lại còn khiến cho kẻ xấu mạnh dạn tiếp tục làm bậy.Nếu ta không thể cảm hóa kẻ xấu thì ít nhất ta phải ngăn chận không cho kẻ xấu làm hại người khác.Lịch sử đã chứng tỏ sự hiền lành của PG đã giúp cho Hồi giáo bành trướng nhanh chóng. Nếu nhà Đường yếu đuối thì HG đã chiếm luôn Trung Hoa mất rồi. Chính vì quân nhà Đường cương quyết chống trả nên HG đã lui bước. Sau này Thành Cát Tư Hãn nổi dậy đánh gảy sức mạnh bạo lực của HG đuợc một thời gian dài khiến cho thế giới tạm yên. Bây giờ thì HG đang trở lại ý đồ xâm chiếm thế giới như trước. Nếu không có một Thành Cát Tư Hãn nào khác thì mỗi quốc gia phải tự biết bảo vệ mình trước âm mưu xâm lược của HG, và PG cũng phải biết đứng lên mạnh mẽ chống lại sức tiến chiếm của HG nếu còn muốn có đất để tu hành giáo hóa.

Ta cũng nên hiểu thêm rằng HG rất khôn ngoan, biết cài người vào trong bộ máy chính quyền trước khi cho tín đồ nổi dậy khủng bố bạo lực. Giống như vài tôn giáo khác gài người vào trong chính quyền trước khi đổ ra biểu tình lật đổ nhà nước vậy.

Hỏi: Theo luật pháp, muốn xử phạt ai, ta phải có xét xử, tuyên án, kháng án, bào chữa… chứ đâu thể nào tự mình làm hết mọi việc một cách độc đoán vậy. Ta không thể tự ý cầm vũ khí giết hại chỉ vì cho rằng người đó là lực lượng khủng bố HG.

Đáp:  Hồi giáo giết người bừa bãi không cần xét xử, nhanh chóng tiêu diệt và chiếm lãnh thổ. Đích thị đó là cuộc xâm lược. Chống lại một cuộc xâm lược như vậy ta không dùng hệ thống Tư Pháp, mà phải dùng đến hệ thống Quân Sự đúng nghĩa. Chiến sĩ ngoài chiến tuyến không thể chờ đợi toà tuyên án ai rồi mới nhắm người đó bóp còi súng, khi mà đạn từ phía bên kia nổ dồn dập về bên đây.

Hồi giáo khủng bố như bóng ma, không ra mặt, nhưng giết người hàng ngày, còn đê tiện hơn cả quân xâm lược dám công khai ra mặt bắn nhau.

Quan điểm của ta làphải tiêu diệt bất cứ ai tấn công bạo lực vào PG. Ta không cho phép lịch sử sai lầm lập lại, cúi đầu nhẫn nhục khiến cho PG bị hủy diệt. Còn ai bôi nhọ PG, bôi nhọ đức Phật, thì ta sẽ đấu tranh ôn hòa bằng lời lẽ và luật pháp trước. Nếu kẻ đó cũng muốn tiêu diệt PG bằng cách lăng mạ PG và đức Phật một cách ngoan cố thì ta cũng xếp vào loại “âm mưu hủy diệt PG” luôn.

Hỏi: Không lẽ tu sĩ PG lại cầm vũ khí để làm hành động “tiêu diệt” à? 

Đáp:  Thường thì PG không trực tiếp làm hành động tiêu diệt kẻ khủng bố HG, mà sẽ yểm trợ, phối hợp, ủng hộ, giúp sức cho các lực lượng an ninh của Nhà nước làm công việc đó. PG khẩn thiết kêu gọi Nhà nước phải hành động quyết liệt để tiêu diệt bọn HG khủng bố này để bảo vệ PG cũng như bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ. PG luôn luôn dồn sức để giúp Nhà nước làm điều đó.

Khi nào ở một quốc gia mà HG đã chi phối chính quyền nên chính quyền không mạnh mẽ tiêu diệt bọn HG khủng bố thì PG sẽ đành phải đứng ra làm lấy.

Dĩ nhiên tổ chức một lực lượng vũ trang để chiến đấu thì không phải dễ, nhất là khi nhà nước đó đã có phần thông đồng với HG sẽ tìm cách ngăn cản buộc tội PG là vi phạm pháp luật khi làm công việc vũ trang. HG khủng bố thì xem là đương nhiên, còn PG vũ trang tự vệ chống trả thì vi phạm pháp luật. Sẽ rất khó khăn, nhưng PG phải dũng cảm chiến đấu, vừa đấu tranh với quan điểm thiếu công bằng của nhà nước đó, vừa đấu tranh với HG khủng bố.

Hỏi: Không sát sinh, luôn hiền lành từ bi, đó là hình ảnh tiêu biểu của PG. Nếu bây giờ ta cầm vũ khí giết người sẽ làm mọi người hiểu về một PG khác hẳn, không còn cao đẹp như ngày xưa.

 Đáp:  Vâng, họ sẽ hiểu về một đạo Phật khác trước, đó là một đạo Phật rất từ bi, nhưng cũng rất nghiêm khắc trước sự tàn bạo mà không thể cảm hóa được. Còn nếu ta từ bi để rồi không còn tồn tại một đạo Phật cho mọi người nhìn thấy nữa thì thật là thảm kịch của nhân loại.

Trước tiên những cư sĩ của PG phải quán triệt quan điểm này, là phải mạnh dạn cầm vũ khí chiến đấu tiêu diệt những kẻ nào tấn công bạo lực vào cộng đồng PG để bảo vệ sự tồn tại muôn đời cho một PG của thế giới. Cư sĩ phải đảm trách việc vũ trang chiến đấu chứ chưa đến phiên Tăng Ni.

Nhưng dĩ nhiên chiến sĩ PG phải biết mình biết người. HG có vũ khí sát thương cao, có nguồn cung cấp vũ khí dồi dào, thành thạo giết người; trong khi hầu hết người của PG chưa biết gì (trừ những ai có tham gia quân đội, an ninh trở về). Vì vậy, chiến sĩ PG phải tự nghiên cứu rèn luyện, luyện tập, kín đáo, tập tuân thủ kỷ luật, biết vâng lời, thích vâng lời, biết phân tích đánh giá tình huống, biết chọn phương án chiến đấu, và mỗi ngày phải biết lễ Phật, tọa thiền đểchiến đấu mà như không chiến đấugì cả.

Phật giáo sẽ biết ơn những ai dám chiến đấu chống lại kẻ ác để bảo vệ Phật Pháp như thế, giống như quê hương luôn ca ngợi ghi ơn các anh hùng đã chiến đấu và chiến thắng để gìn giữ quê hương.

Tuy nhiên, trước khi chiến đấu tiêu diệt bọn khủng bố, ta phải chiến đấu với sự do dự của chính mình, phải chiến thắng sự hoài nghi của nội bộ PG. Ta phải đứng lên với sự dứt khoát can đảm không gì làm lung lay được.

Cầu Chư Phật gia hộ cho những ai dám chiến đấu, và sẽ chiến thắng.                        LY NAM TRIEU


Người Hồi giáo Indonesia "muốn giết các Phật tử"

Jakatar– Một nghi can khủng bố người Indonesia đã tự ra đầu thú và thừa nhận có âm mưu đánh bom tự sát nhằm vào các phật tử ở thủ đô Jakatar để phản đối việc đối xử không công bằng với người Hồi giáo Rohingya của chính phủ Myanmar, cảnh sát cho hay hôm thứ hai, 10-9.

Boy Rafli Amar, phát ngôn nhân của cảnh sát quốc gia cho biết người đàn ông đó tên là Muhammad Toriq đã tự ra đầu thú hôm chủ nhật. Chiến binh nghi phạm này đã lẩn trốn trong nhà của y ở ngoại ô thành phố Jakatar tuần qua sau khi những người láng giềng báo thấy khói bay ra từ ngôi nhà này.

Cảnh sát đã phát lệnh truy nã Toriq sau khi phát hiện tại nhà y những kíp nổ, lưu huỳnh, các hộp đinh và những chất gây nổ khác.

“Chúng tôi khẳng định Toriq đã tự ra đầu thú. Trên cơ sở dữ liệu điều tra ban đầu cho thấy y đã lên kế hoạch tiến hành đánh bom tự sát ngày hôm nay (thứ hai),” phát ngôn nhân của cảnh sát nói với các phóng viên.

Tuy nhiên, hiện vẫn chưa rõ lý do tại sao Toriq quyết định đầu thú.

Amar cho biết mục tiêu đánh bom tự sát mà Toriq muốn nhắm đến là trụ sở cảnh sát tinh nhuệ Brimob, văn phòng đội cảnh sát chống khủng bố 88, một đồn cảnh sát và cộng đồng phật tử… tất cả đều ở Jakatar.

“Vụ việc này có liên quan đến vấn đề người Hồi giáo Rohingya ở Myanmar. Toriq cho rằng Myanmar đã đối xử bất công với người Hồi giáo ở đó,” người phát ngôn của cảnh sát giải thích thêm lý do tại sao Toriq nhắm vào cộng đồng phật tử.

Cuộc bạo động sắc tộc và tôn giáo giữa sắc tộc Rakhine theo Phật giáo và người Hồi giáo địa phương, trong đó có cả sắc tộc Rohingya, xảy ra tại tỉnh Rakhine của Myanmar hồi tháng sáu vừa qua đã cướp đi hàng chục sinh mạng và khiến hàng chục ngàn người sống trong cảnh vô gia cư.

Khoảng 8000 người Rohingya sống ở Myanmar được coi là một trong vài sắc tộc thiểu số bị ngược đãi nhất thế giới.

Hàng trăm người Hồi giáo Indonesia bảo thủ bày tỏ sự bất bình trước tình trạng bất ổn này, đã biểu tình bên ngoài Đại sứ quán Myanmar vào tháng bảy.

Amar cho biết trong thư tuyệt mệnh gửi cho gia đình, Toriq mong tha thứ và "hy vọng sẽ lên Thiên đường, nhận được sự ban phước lành của Thượng đế."

* Ảnh chỉ mang tính minh họa.

Quần Anh(chuyển ngữ)


SỰ CỐ MYANMAR
Minh Mẫn


Thật sự Phật giáo rất xấu hổ khi nghe tin người Phật tử Myanmar tấn công người Hồi giáo tại tiểu bang Rakhine, phía Tây Myanmar với lý do thiếu chính đáng: “người phụ nữ Hồi giáo hạ lá cờ Phật giáo cầm ngang hông”, hay bất cứ lý do nào khác.
Đây là thái độ cuồng tín không thể có trong Đạo Phật. Phật giáo Việt Nam cũng như Phật giáo trên thế giới thường tự hào chưa bao giờ làm đổ giọt máu trên bước đường truyền bá. Với tinh thần bao dung , lòng từ bi đã giúp Phật giáo chung sống hòa bình với các tôn giáo khác. Việt Nam, quá khứ cũng từng được xem là quốc gia Phật giáo, khi Tây Phương đặt gót chân đô hộ Việt Nam, một số cơ sở , chùa viện Phật giáo bị cưỡng chiếm cho tôn giáo bạn, tín đồ Phật giáo bị quyến rũ, mua chuộc cải đạo, nhưng chư Tăng và Giáo hội Phật giáo chưa hề có động thái bất hòa, xích mích lẫn nhau; Myanmar, tuy đạo Phật chiếm trên 80%, nhưng vẫn được xem là quốc gia Phật giáo, và sau Tây Tạng, Phật giáo Myanmar có nền giáo dục truyền thống tu tập chuyên biệt, hiện nay tại Myanmar có nhiều thiền viện nổi tiếng dành cho mọi thiền sinh, hành giả khắp nơi trên thế giới về tham dự như: Trường thiền Mogok, thiền viện Mahasi, thiền viện PandiTarama, thiền viện Kyunpin, trường Đại học Phật giáo International Theravada Buhddhist Missionary Universty..

Người dân Myanmar cũng giống như dân Ấn, không nặng về vật chất, cuộc sống đơn giản đến độ rất nghèo, nhưng tài sản và tâm đạo dành cho ngôi Tam Bảo rất thuần tịnh. Tánh tình hồn hậu, trong sáng, chân thật, chất phác. Dĩ nhiên những yếu tố đó phát sanh từ lòng đạo đức bi mẫn của người con Phật. Một đất nước có chiều sâu tâm linh bởi thấm nhuần đạo Phật, hà cớ xầy ra những manh động bất khoan dung với các tôn giáo bạn cùng một chủng tộc?

Bạo lực giữa người Hồi và Phật tử xầy ra tại tỉnh Araken, miền Đông Miến Điện vào tháng 6 năm 2012, đã lan đến hàng chục thành phố, hàng trăm người bị giết và trên 150.000 người hồi buộc phải rời bỏ nhà cửa của họ.

 Muslims_Buddhists_Riots_Myanmar_06Hồi giáo chiểm 3,8 % dân số chủ yêu tập trung tại bang Rakhine, phía Tây Myanmar. Khu vực nầy vẫn thường xầy ra xung đột giữa các giáo phái . Hồi giáo dòng Rohingya với tín đồ Thiên Chúa giáo và phật giáo.Trên thế giới thường xẩy ra chiến tranh tôn giáo mà lịch sử chưa phai nhạt giữa Thiên Chúa giáo và Hồi giáo suốt nhiều thế kỷ, hai bên có những oán thù sâu sắc mang tính lịch sử, nhưng đối với Đạo Phật, chưa từng có những vết tích ân oán với bất cứ tôn giáo nào, thế mà Thế kỷ thứ 10, Phật giáo Ấn đã bị Hồi giáo triệt tiêu toàn bộ cơ sở vật chất, trong đó, đại học Nalanđa, đại học đầu tiên trên thế giới, xuất hiện trên 300 năm trước công nguyên.10.000 chư Tăng học giả, hành giả đều bị giết hại chôn sống mãi trên 10 thế kỷ sau Phật giáo Ấn vẫn chưa đủ sức phục hồi nếu không có Phật giáo thế giới trở lại chấn hưng. Qua cuộc thảm sát đó, Phật giáo không hề phản ứng, thế thì hà tất, một đất nước bao dung như Myanmar lại ra tay sát phạt người Hồi? Cho dù với sự cuồng tín của một số người Hồi, đối với Phật giáo không cần có những động thái vô minh hơn sự vô minh của họ. Lấy ân báo oán oán mới tiêu tan. Ta còn nhớ năm ngoài sau vụ xung đột tại Miến, sau đó Ấn Độ bị trả thù tại Bodh Gaya bang Bihar, chất nổ đặt tại Tháp Đại giác ở Bồ Đề Đạo Tràng.
Người Phật tử không được phép lấy oán báo oán, rất tiếc một số nhà sư Miến đã có mặt trong các vụ xung đột. Ai đã nhúng tay khích động bạo loạn giữa hai tôn giáo? Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng đã lên tiếng chỉ trích Phật giáo Miến để xẩy ra chuyện đáng tiếc năm ngoái. Chiến tranh tôn giáo là loại chiến tranh không biên giới, không hạn cuộc thời gian, không có trận địa rõ ràng, nó là loại độc trùng tiềm ẩn trong giòng máu hiếu sát của kẻ vô minh thiếu lòng Từ, nó âm ỷ qua nhiều thế hệ. Người Phật tử không thể là con bệnh nan y đó. Các sư Miến phải giáo dục quần chúng theo đúng tinh thần Bi và Trí của nhà Phật, không để bị lôi kéo vào bất cứ cuộc tranh chấp nào của bạo lực vô minh.
Người Phật tử Việt Nam nói riêng và Phật giáo thế giới nói chung rất đau lòng khi nghe những sự cố xẩy ra trên đất Phật Myanmar. Cho dù khởi điểm xầy ra do tôn giáo bạn, nhưng tinh thần bao dung, vị tha, và tuệ giác của nhà Phật không thể để vô minh lôi kéo vào cuộc.

Hy vọng Giáo Hội Phật giáo Myanmar sẽ có những giáo dục đúng đắn để ngăn chận những đáng tiếc tiếp tục xầy ra trong tương lai. Nếu có một lời xin lỗi khiêm tốn phát xuất từ tấm lòng vị tha đối với các nạn nhân Hồi giáo thì cuộc sống cộng đồng đa tôn giáo tại Miến sẽ đem lại hài hòa đúng với một xã hội thuần lương của nhà Phật.

Rất mong Giáo hội Phật Giáo Việt Nam cần có tiếng nói góp ý với Phật giáo Miến Điện trong tinh thần huynh đệ của người con Phật để Phật giáo luôn có gương mặt trong sáng, hòa dịu mà Liên Hiệp Quốc đã vinh danh cho đạo Phật.


MINH MẪN



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Viện sĩ ác ghê [14.07.2017 11:01]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Kẻ đã ra lệnh giết tổng thống Ngô Đình Diệm? [NEW]
Lấy Tây vì tiền: Gái Việt vỡ mộng sau khi lấy chồng Tây
Việt Nam thất bại ‘lãnh đạo UNESCO’: Hậu quả từ ‘bắt cóc Trịnh Xuân Thanh’?
Giáo sư gốc Việt đưa robot Mỹ vào không gian
VN thiên đường XHCN: Quê hương tôi qua những bức ảnh biết nói
Dân Việt lại mắc lừa - Trung cộng đảo chính Đà Nẵng!
Hậu quả trung thành với TQ: Nhà máy thép liên doanh với Trung Quốc thua lỗ ngàn tỷ do vay lãi cao, chậm tiến độ
Tàu chiến Mỹ tiến gần quần đảo Hoàng Sa, TQ mang tàu ra đuổi
Cháy rừng Anaheim Hills, bầu trời Little Saigon ‘như ngày tận thế!’
Người Việt ở Mỹ đấu tranh với nạn cảnh sát nổ súng giết nhiều nạn nhân gốc Việt
Phó chủ tịch HĐND bị bắn chết tại rẫy cà phê
Giảm cân và cholesterol bằng 9 bữa ăn nhỏ mỗi ngày
Những cha me miền Tây khốn khó thời đại HCM: Cha mẹ mua “bùa nghe lời” để ép con gái lấy chồng ngoại hoặc bán trinh, làm đĩ
Thanh trừng nội bộ: Bí thư Đà Nẵng bị cách chức, bị đuổi ra khỏi Trung ương Đảng- Ban bí thư hầu hết người gốc Bắc- Một cán bộ cao cấp bị Nhật bắt ăn trộm siêu thị
Ngoài miệng ủng hộ cấm vận nhưng Nga vẫn lặng lẽ giúp Bắc Hàn- Trump giúp Nga bành trướng ở TĐ

     Đọc nhiều nhất 
Ngày 2 tháng 9: Quốc khánh hay Quốc hận? Phong trào Bảng Đỏ = bỏ đảng CSVN: Giáo sư Tương Lai từ bỏ Đảng CS vĩnh viễn [Đã đọc: 58018 lần]
Lãnh đạo CSVN dọa thanh toán nhau theo kiểu xã hội đen [Đã đọc: 55024 lần]
Quốc nạn kỳ thị chủng tộc: Dân Mỹ lại đổ xuống đường vì màu da [Đã đọc: 45986 lần]
Su-35 Nga ra đòn tấn công chính xác, bộ trưởng bộ Chiến Tranh Iraq tan xác- Irma chưa qua, đón bão Katia và Jose [Đã đọc: 39438 lần]
Chỉ có đảng CS mới được phá tan quê hương miễn trừng phạt: Thêm một quan chức hạ cánh an toàn sau khi gây tội ác [Đã đọc: 36955 lần]
Gái Việt bị 2 đàn ông da trắng thiêu chết thảm ở Anh- Nữ ký giả gốc Hàn bị nam Đan Mạch chặt đầu phanh thây [Đã đọc: 35223 lần]
Chống Tàu cứu nước: Hoa Kỳ huấn luyện cho Cảnh sát Biển Việt Nam [Đã đọc: 35199 lần]
Tấn công khủng bố bằng dao liên tiếp ở Anh, Bỉ [Đã đọc: 34187 lần]
Bán bảo hiểm theo kiểu XHCN: Nữ đại lý phải ái ân với đại gia cách mạng để được ký hợp đồng, làm đột qụy thân chủ phải ra toa! [Đã đọc: 33624 lần]
Lý do gây thù hận tôn giáo ở Miến Điện [Đã đọc: 32356 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.