Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Mười một 2017
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30      
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 17
 Lượt truy cập: 9358762

 
Góc thư giãn 21.11.2017 04:06
Chính quyền tỉnh bang Quebec thông qua dự luật 62 cấm phụ nữ Hồi Giáo che mặt sử dụng dịch vu công cộng
25.10.2017 09:32

Montreal- Trong hôm thứ tư ngày 18 tháng 10, nghị viện tỉnh bang Quebec đã thông qua dự luật 62, dự luật buộc những người cung cấp và những người nhận những dịch vụ công cộng ở tỉnh bang Quebec, phải cho người ta thấy mặt, không được chùm khăn che kín mít mặt và chỉ chừa có hai đôi mắt.

Vùng Quebec của Canada sẽ cấm trùm mặt đối với những người cung cấp và tiếp nhận các dịch vụ công của chính quyền địa phương theo một đạo luật vừa được thông qua ngày 18/10 và sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7/2018.


Chính quyền tỉnh bang Quebec thông qua dự luật 62


Với Đạo luật 62, phụ nữ Hồi giáo tại Quebec sẽ gặp khó khăn khi sử dụng các dịch vụ công.
BBC cho hay đạo luật cấm đeo mạng che mặt được gọi là Đạo luật 62 và được Hội đồng Nhà nước bang Quebec thông qua với 66 phiếu thuận, 51 phiếu chống.
Luật này do những nghị sĩ đảng Tự Do Canada cầm quyền đề xuất. Họ nắm quyền chi phối cơ quan lập pháp bang Quebec từ năm 2014 thay thế cho đảng cánh hữu Parti Quebecois.
Đạo luật 62 quy định nhân viên chính quyền, sĩ quan cảnh sát, giáo viên, tài xế xe buýt, cũng như bác sĩ, nữ hộ sinh và nha sĩ làm việc trong các bệnh viện và trung tâm chăm sóc sức khỏe công, đều phải bỏ mảng che mặt.
Luật này cũng mở rộng áp dụng với cả những người tham gia vào các dịch vụ vận tải đô thị và công cộng.
Toàn bộ nội dung của Đạo luật 62 không đề cập đặc biệt đến đức tin Hồi giáo.
Giới chức bang Quebec cũng nói rằng đạo luật này bao gồm tất cả các hình thức che mặt khác nhau và không nhắm chủ đích vào những người theo Hồi giáo.
Tuy nhiên, luật mới này sẽ có ảnh hưởng lớn nhất đến các phụ nữ Hồi giáo, những người theo đức tin của họ phải đeo mạng che mặt ở nơi công cộng. Với Đạo luật 62 này, phụ nữ Hồi giáo sẽ gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ công, kể cả việc đi xe buýt, tới thư viện hoặc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục.
Phụ nữ đeo mạng burqa (kín mặt) và niqab (hở mắt) bây giờ sẽ phải mở mạng che mặt khi nhận các dịch vụ công.

 Những người phê bình luật này nói rằng Đạo luật 62 sẽ đẩy phụ nữ Hồi giáo ra rìa xã hội khi giới hạn họ tiếp cận các công việc và dịch vụ công.
Luật mới này cũng cho phép người dân được yêu cầu miễn trừ thực thi. Một phụ nữ đeo mạng che mặt có thể được yêu câu khai báo “nơi cư trú” để nhận dịch vụ công mà không cần hở mặt.

Tuy nhiên, yêu cầu miễn trừ có thể bị nhà chức trách từ chối trong trường hợp “cần đảm bảo an ninh hoặc các lý do về xác minh danh tính hoặc yêu cầu về mức độ thông tin”.
Các chuyên gia pháp lý cho biết họ mong đợi Đạo luật 62 sẽ bị tòa án chặn lại.
Theo BBC, hiện tại ở Quebec chưa có số liệu thống kê chính xác có bao nhiêu phụ nữ đeo mạng che mặt vì lý do tôn giáo. Một cuộc khảo sát của Environics năm 2016 chỉ ra rằng trên toàn đất nước Canada có 3% phụ nữ Hồi giáo đeo chador (khăn choàng hở mặt) và 3% đeo niqab (che mặt chỉ hở mắt).
Trước khi Đạo luật 62 được chính thức thông qua lần này, một dự luật tương tự đã từng được đề xuất hai lần tại Quebec nằm trong nỗ lực của chính quyền bang nhằm áp đặt chủ nghĩa thế tục tại đây.
Trước khi để thua trong cuộc bầu cử cơ quan lập pháp bang Quebec năm 2014, đảng Parti Quebecois đã đề xuất dự luật Hiến chương các Giá trị – cấm tất cả công chức đeo các biểu tượng hoặc mặc quần áo đặc trưng tôn giáo, bao gồm cả khăn choàng đầu của Hồi giáo (turban) và mũ của Do Thái giáo (yarmulke).

Một số nước Châu Âu cũng đã thông qua luật cấm mạng che mặt Hồi giáo, trong đó Pháp và Bỉ đã ban hành luật này từ năm 2011.
Đạo luật này không nêu cụ thể loại che mặt nào bị cấm những các cuộc tranh cãi nổ ra chủ yếu tập trung vào khăn “niqab” mà một số phụ nữ Hồi giáo thường trùm để che toàn bộ đầu và mặt, chỉ trừ đôi mắt.

Những người bị ảnh hưởng bởi đạo luật này bao gồm các công nhân, viên chức nhà nước như là giáo viên, sỹ quan cảnh sát, người lao động tại các bệnh viện hay trung tâm chăm sóc sức khỏe.

Luật được ban hành trong bối cảnh những vụ việc có yếu tố “nỗi sợ Hồi giáo” (Islamophobia) đã gia tăng đáng kể ở Quebec trong những năm gần đây. Hồi tháng 1/2017, 6 người đã thiệt mạng trong một xả súng ở nhà thờ Hồi giáo thành phố Quebec và nghi phạm duy nhất bị buộc tội là một sinh viên đại học người Canada gốc Pháp.
Cũng như ở Pháp, nơi đã thông qua lệnh cấm mạng che mặt, thánh giá và các biểu tượng tôn giáo khác tại các trường học từ năm 2004, chính quyền Quebec đã nỗ lực dung hòa bản sắc thế tục của vùng này với thực tế là cộng đồng người Hồi giáo đang ngày càng đông đảo, trong đó có rất nhiều người gốc Bắc Phi.
“Chúng tôi chỉ muốn nói rằng vì những lý do liên quan đến giao tiếp, nhận dạng và an ninh nên các dịch vụ công cần phải được cung cấp cũng như được tiếp nhận từ những gương mặt rõ ràng”, Thủ hiến vùng Quebec Philippe Couillard chia sẻ với báo giới. “Chúng ta sống trong một xã hội tự do và dân chủ. Bạn nói với tôi thì tôi cần phải được thấy mặt của bạn và bạn cũng thế. Chuyện chỉ đơn giản vậy thôi”.

Hội đồng Quốc gia người Hồi giáo ở Canada đã bày tỏ quan ngại sâu sắc về thông điệp mà đạo luật này truyền tải và đang xem xét các phương án pháp lý để đảo ngược nó.
“Đạo luật này là một sự vi phạm phi lý đối với quyền tự do tôn giáo”, giám đốc điều hành Hội đồng Quốc gia người Hồi giáo ở Canada Ihsaan Gardee cho biết.
Thực tế, đạo luật trên chấp nhận ngoại lệ ở một số trường hợp nhưng không nêu chi tiết. Hiện vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thực thi đạo luật này.

Thủ tướng Justin Trudeau, khi được hỏi liệu chính phủ liên bang có xem xét lại đạo luật này không, đã nói rằng, ông sẽ tiếp tục đảm bảo tất cả người dân Canada được đảm bảo quyền tự do “trong khi vẫn tôn trọng lựa chọn mà các hội đồng lập pháp khác nhau có thể đưa ra”.
Pháp, Bỉ, Hà Lan, Bulgaria và bang Bavaria của Đức đã áp đặt lệnh cấm mạng che mặt ở nơi công cộng trong khi Đan Mạch đang trong tiến trình thông qua biện pháp nàyLuật số  62 còn được gọi là luật “trung lập về tôn giáo”  cũng gây nhiều bàn cãi. Có dư luận chống đối cho là đạo luật này kỳ thị tôn giáo, nhắm vào những người phụ nữ Hồi giáo đeo niqab hay mặc áo chùng  burka  chùm kín từ chân lên đầu chỉ hở có đôi mắt.
Theo lời tuyên bố của ông  Phillipe Couillard, thủ hiến tỉnh bang Quebec thì đạo luật này  dựa trên những nguyên tắc chính là phần lớn những người Canadians và những người Quebecers đã ủng hộ.

Thủ hiến Couillard cũng nói thêm là chúng ta đang ở trong một xã hội tự do và dân chủ: khi anh nói chuyện với tôi, thì tôi muốn thấy mặt anh và tôi cũng phải chường cái mặt tôi ra.

Theo chính quyền Quebec, luật này sẽ “tăng cường việc tuân thủ thái độ trung lập về tôn giáo” và trở thành quy định cấm liên quan đến tục lệ tôn giáo đầu tiên được thông qua ở lục địa Bắc Mỹ. Lệnh cấm sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7/2018, chỉ miễn trừ cho các trường hợp cần phải che mặt do “điều kiện công việc hoặc yêu cầu liên quan tới nhiệm vụ” bắt buộc. Đồng nghĩa, bác sĩ, y tá, bệnh viện, giáo sư đại học, sinh viên, nhân viên lái xe buýt và hành khách cùng nhiều đối tượng khác đều nằm trong lệnh cấm. Ban đầu, luật này chỉ được áp dụng cho các dịch vụ của bang nhưng gần đây đã được sửa đổi mở rộng ra các dịch vụ của thành phố.

Vốn đã gây tranh cãi từ khi xem xét dự thảo nên khi lệnh cấm này được thông qua, các cộng đồng người Hồi giáo tại Canada vô cùng tức giận và bức xúc. Cộng đồng người Hồi giáo Canada đã lập tức lên tiếng chỉ trích: “Chính quyền bang Quebec đang tiến hành một chương trình nghị sự về chính trị vô cùng nguy hiểm đối với các dân tộc thiểu số vì chính sách này kích động chủ nghĩa dân túy cực đoan thay vì quản trị một cách có nguyên tắc”.

Luật 62 buộc những người cung ứng dịch vụ như bác sĩ, giáo viên, những nhân viên làm việc trong các trung tâm giữ trẻ cũng như những người thụ hưởng, không được che mặt khi sử dụng hay cung ứng các dịch vụ công cộng.

Quebec đã trở thành khu vực đầu tiên tại Bắc Mỹ cấm dùng khăn bịt mặt với cả các công chức lẫn người dân trong khi sử dụng các dịch vụ công.

    Quebec cấm dùng khăn che mặt khi sử dụng dịch vụ công - Ảnh 1.

    Bà Stéphanie Vallée, người đứng đầu cơ quan tư pháp tỉnh bang Quebec, Canada - Ảnh: THE CANADIAN PRESS

    Theo kênh tin tức Vice News, sau rất nhiều năm bị bác bỏ, dự luật cấm dùng khăn che mặt tại các khu dịch vụ công ở Quebec (Canada) đã được phê chuẩn ngày 18-10.

    Dự luật này ban đầu chỉ định áp dụng với các dịch vụ công cấp tỉnh bang Quebec, như tại các trường đại học và những cơ sở chăm sóc y tế, tuy nhiên những chỉnh sửa gần đây đã mở rộng lệnh cấm sang các dịch vụ công khác như trên phương tiện đi lại công cộng.

    Điều này có nghĩa phụ nữ sẽ không được phép mang niqab (mạng che toàn bộ đầu và khuôn mặt, chỉ có một khe hở nhỏ để lộ đôi mắt) và burqa (loại áo dài có phần vải để trùm lên đầu, phía trước có một tấm lưới dày che mặt) khi đang đi trên xe bus hay tàu điện ngầm ở Quebec.

    Giới lãnh đạo tỉnh bang cho rằng lệnh cấm này nhằm vào tất cả những trường hợp dùng khăn che mặt và không có ý kỳ thị với một nhóm tôn giáo cụ thể nào.

    Tuy nhiên các cuộc tranh luận xung quanh lệnh cấm hầu hết vẫn chỉ tập trung vào nhóm phụ nữ Hồi giáo luôn sử dụng cách ăn vận này.

    Bà Stéphanie Vallée, người đứng đầu cơ quan tư pháp tỉnh bang Quebec, cho biết mọi phụ nữ được yêu cầu để ngỏ gương mặt của họ trong suốt thời gian tiếp nhận dịch vụ công.

    Điều luật chưa nói rõ các nhân viên chính phủ cần phản ứng như thế nào khi ai đó yêu cầu được phục vụ trong tình trạng vẫn che kín mặt, và cũng không nói rõ luật sẽ có những biện pháp thực thi ra sao.

    Theo cơ quan tư pháp tỉnh bang Quebec, dự kiến sẽ có một ủy ban tìm hiểu về các tình huống khác nhau và đưa ra những khuyến nghị liên quan.

    Luật này cũng áp dụng ở cấp thị chính, trong những hệ thống chuyên chở công cộng trong tỉnh bang: những người đi xe bus sẽ phải bỏ khăn che mặt khi lên xe.
    Canada : Thảm sát trong một đền thờ Hồi giáo tại Quebec
    Image result for killing in muslim mosque Quebec
    Sáu người chết, tám người bị thương, hai nghi can bị bắt. Trên đây là kết quả một vụ nổ súng trong Trung tâm Văn hóa Hồi giáo tại Québec, Canada, vào tối Chủ nhật 29/01/2017. Theo các nhân chứng, hai kẻ bịt mặt nổ súng vào khoảng 50 tín đồ đang cầu nguyện, cả hai nghi can đã bị bắt.
    Theo AFP, vụ tấn công xảy ra vào lúc 19 giờ 30 chủ nhật vào lúc buổi cầu nguyện cuối cùng trong ngày kết thúc. Các nhân chứng kể lại, một trong hai kẻ bịt mặt, có giọng nói người Quebec.

    Thủ tướng Canada Justin Trudeau lên án « hành động khủng bố chống tín đồ đạo Hồi tại một nơi thờ phượng và tịnh tâm ».Đây là lần đầu tiên xảy ra một vụ tấn công đẫm máu nhắm vào một đền thờ Hồi giáo ở Canada mà số tín đồ được thẩm định hơn một triệu người.

    Mùa hè vừa qua, Trung tâm Văn hóa Hồi giáo Québec từng là nạn nhân của một hành động khiêu khích thù oán. Vào đúng mùa chay Ramadan, một đầu heo được ném vào cửa của Trung tâm trong khi nhiều truyền đơn « bình luận về vụ việc » được phân phát trong thành phố.

    Thị trưởng Québec, Régis Labeaume, trong xúc động, kêu gọi tinh thần liên đới của người dân Québec như là phản ứng « hiệu quả nhất trước thảm nạn không thể hiểu được như thế này tại thành phố yên bình » của Canada.

    Khủng bố Hồi giáo đang đe dọa Việt Nam

    (Kiến Thức) - Cho đến gần đây, có lẽ nên trả lời “không” cho câu hỏi: Khủng bố Hồi giáo đang đe dọa Việt Nam, theo nhà phân tích Piotr Tsvetov của đài Sputnik.

    Thế nhưng, nhà phân tích Piotr Tsvetov cũng cho rằng “đã đến lúc để suy nghĩ nghiêm túc về việc chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo đang trở thành mối đe dọa đối với Việt Nam và người dân của nước này”.
    Khung bo Hoi giao dang de doa Viet Nam?
    Nhóm khủng bố Abu Sayyaf không chỉ đe dọa miền nam Philippines. Ảnh: Philippines Lifestyle News 
    Nhà phân tích Piotr Tsvetov viết tiếp: “Ai cũng biết rằng ở các nước láng giềng với Việt Nam, các nhóm Hồi giáo cực đoan thực hiện những hành vi khủng bố. Hãy nhớ lại các vụ đánh bom ở Bali và Jakarta đã cướp đi sinh mạng của hàng chục dân thường, các cuộc đụng độ đẫm máu tại các tỉnh phía Nam của Thái Lan, ở bang Rakhine của Myanmar, nơi sinh sống tập trung của người Hồi giáo nhóm dân tộc thiểu số. Các phần tử Hồi giáo cực đoan đã chiếm đóng thành phố Marawi trên đảo Mindanao của Philippines, quân đội chính phủ trong hơn một tháng cố gắng giải phóng thành phố này. Trong bối cảnh đó, Việt Nam hiện giống như một ốc đảo hòa bình và an ninh, trong khi toàn thế giới đang phải đối mặt với nguy cơ khủng bố Hồi giáo”.
    “Nhưng, mới đây có tin rằng, những kẻ khủng bố Hồi giáo đã gây ra thiệt hại cho dân tộc Việt Nam. Tháng 11 năm ngoái, nhóm phiến quân Abu Sayyaf đã bắt cóc 22 ngư dân ở Biển Đông, trong đó có tám người Việt. Mới đây có tin rằng, hai người Việt bị Abu Sayyaf sát hại dã man”.
    “Tôi nghĩ rằng đã đến lúc để suy nghĩ nghiêm túc về việc chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo đang trở thành mối đe dọa đối với Việt Nam và người dân của nước này. Có rất nhiều cơ hội tiềm năng làm gia tăng mối đe dọa này. Thứ nhất, Việt Nam là một thành viên của Cộng đồng ASEAN, mà những công dân trong Cộng đồng ngày càng đơn giản hơn đi qua những đường biên giới của các quốc gia. Công dân của bất kỳ quốc gia ASEAN ngày càng dễ dàng hơn di chuyển trong không gian chung của ASEAN. Do đó, mối nguy cơ những phần tử vũ trang xâm nhập vào lãnh thổ của Việt Nam là rất thực tế”.
    “Thứ hai, ở Việt Nam có khoảng 70.000 công dân là người Hồi giáo. Chắc là các nhóm Hồi giáo cực đoan xem xét những người này như các đối tượng ảnh hưởng. Tổ chức Hồi giáo cực đoan IS mất dần vị trí của mình dưới đòn tấn công của các lực lượng quốc tế ở Trung Đông, vì thế IS đang tăng cường hoạt động ở Đông Nam Á. Trong mọi trường hợp, các chuyên gia đã phát hiện ra rằng, những kẻ tuyển mộ của IS đang hoạt động ở Indonesia, Malaysia và Philippines”.
    “Tôi tin chắc rằng, các cơ quan công lực của Việt Nam thường xuyên áp dụng các biện pháp cần thiết để các tín đồ Hồi giáo không bị các thế lực thù địch lợi dụng nhằm phá hoạt sự thống nhất và đoàn kết của các dân tộc Việt Nam. Nhưng, chúng ta không được quên rằng, ngày nay, khác với 20-30 năm trước, hành vi của các phần tử Hồi giáo cực đoan ngày càng trở nên hung hăng, dùng thủ đoạn xảo quyệt”.
    “Và thứ ba, số người Việt ra nước ngoài đang tăng mạnh. Dù họ đi đến Nga hay Pháp, Mỹ hay Anh, bất cứ ai cũng có thể tình cờ trở thành những nạn nhân của hành động khủng bố. Hồi giáo cực đoan, chủ yếu là IS, đang tiến hành cuộc chiến tranh chống lại toàn thế giới, có sử dụng các phương pháp khủng bố nhằm phá vỡ trật tự thế giới và sự ổn định, theo đuổi việc thành lập một Vương quốc Hồi giáo (Caliphate) theo tinh thần thánh chiến”.
    “Khủng bố Hồi giáo là mối đe dọa đối với tất cả các quốc gia. Để giáng trả nguy cơ này, tất cả các nước và các dân tộc, tất cả những người yêu hòa bình, ổn định và dân chủ cần phải thống nhất nỗ lực để đấu tranh chống nguy cơ này…
    Hiện trạng Hồi giáo tại Việt Nam
    một thánh đường Hồi giáo Chăm Banicủa người Chăm ở Ninh Thuận

    Sau năm 1975 với cuộc chiến Việt Nam kết thúc, một bộ phận trong số 55.000 tín đồ đạo Hồi người Chăm tại Việt Nam đã trốn sang Malaysia. Ở Yemen cũng có 1.750 người tỵ nạn Việt Nam gốc Chăm, hầu hết định cư ở Ta'izz. Tuy nhiên, hầu hết các tín đồ ở lại Việt Nam vẫn được phép sinh hoạt tôn giáo như bình thường cho dù những thánh đường Hồi giáo bị đóng cửa, cũng như các cơ sở giáo dục của người Hồi giáo bị trưng dụng bởi chính quyền mới.[8] So với các tôn giáo khác, tín đồ Hồi giáo tại Việt Nam chiếm tỷ lệ rất thấp cũng như không có những va chạm với chính quyền, vì vậy chính quyền ít kỳ thị và kiểm soát chặt chẽ tín đồ. Vào năm 1981, khách nước ngoài đến Việt Nam vẫn được tự do nói và cầu nguyện bằng tiếng bản xứ của họ. Vào năm 1985, các thánh đường Hồi giáo tại miền Nam được cho phép mở cửa lại, thậm chí, chính quyền còn cho phép thành lập tổ chức Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1992. Ước tính, ngoài những tín đồ người Chăm, cũng có những tín đồ người IndonesiaMã LaiPakistanYemenOman, và người Nam Phi; với khoảng 10000 người vào thời điểm đó.[3]. Năm 2004, một Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo khác cũng được thành lập ở An Giang.

    Hiện nay, những người theo đạo Hồi ở Việt Nam được xem là cô lập với thế giới Hồi giáo. Mệnh lệnh từ Ả Rập không đến được với những người đứng đầu cộng đồng Hồi giáo tại Việt Nam. Thậm chí, một số tài liệu còn công bố rằng: một vài tín đồ Hồi giáo Việt Nam cầu nguyện đến Ali và nghĩ ông là "con của Chúa"[8][9] (tức là giống dòng Hồi giáo Shi'ite). Chủ yếu, các liên hệ với thế giới Hồi giáo Ả Rập của các tín đồ Việt Nam chủ yếu thông qua Malaysia hoặc Indonesia. Sự thiếu liên hệ trực tiếp với thế giới Hồi giáo Ả Rập, cùng với việc thiếu các cơ sở giáo dục Hồi giáo, khiến cho đạo Hồi ở Việt Nam trở nên kém phát triển [cần dẫn nguồn]. Người Hồi giáo Việt Nam hiện nay có thể tìm hiểu ý nghĩa của Kinh Qur'an bằng tiếng Việt qua bản dịch Việt ngữ do học giả Hassan Bin Abdul Karim (Từ Công Thu) chuyển ngữ. Cuốn "Thiên kinh Qur’an – Ý nghĩa và nội dung" đã được nhà xuất bản Tôn giáo ấn hành lần đầu vào năm 2001 và tái bản lần thứ hai.

    Tháng 1 năm 2006, Thánh đường Hồi giáo tại xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộctỉnh Đồng Nai, được xây dựng lại trên nên giáo đường cũ đã được mở cửa, dựa trên sự đóng góp một phần từ Ả Rập Saudi[10][11]. Đây được xem là một trong những sự liên hệ trực tiếp trở lại của tín đồ Hồi giáo tại Việt Nam với thế giới Hồi giáo Ả Rập. Tiếp sau đó, Thánh đường Hồi giáo lớn nhất Việt Nam (tính đến hết năm 2009) đã được xây dựng tại ấp Đồng Ki, xã Quốc Thái, huyện An Phú, tỉnh An Giang, khởi công vào ngày 7 tháng 4 năm 2008 và khánh thành ngày 3 tháng 12 năm 2009, với tổng kinh phí thực hiện 5,8 tỷ đồng, trong đó có một phần kinh phí do Hội Trăng lưỡi liềm đỏ (Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất) ủng hộ[12].

    Các tổ chức Hồi giáo ở Việt Nam

    Đối với Chăm Islam, trước năm 1975, ở miền Nam, Hồi giáo có hai tổ chức chính thức là: "Hiệp hội Chàm Hồi giáo Việt Nam" và "Hội đồng giáo cả Islam Việt Nam". Hiệp hội Chàm Hồi giáo Việt Nam hoạt động dưới sự điều hành của Ban Quản trị Hiệp hội Trung ương và Đại hội đồng cơ sở. Nhằm mục đích: không hoạt động chính trị mà duy trì những tinh hoa đạo đức trong sinh hoạt tôn giáo; thực thi các tập tục truyền thống và đời sống đạo đã được kinh Qur'an giáo huấn. Tuy nhiên, cả hai tổ chức này nhất là Hiệp hội Chàm Hồi giáo Việt Nam bị chính quyền Mỹ và Sài Gòn lợi dụng, sử dụng làm công cụ chống Cộng. Do đó, nó cùng tồn tại đến ngày 30 tháng 4năm 1975 thì tự giải tán theo sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn


    Mặt khác, trong cộng đồng Chăm Bàni ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, trước năm 1975 đều có tổ chức "Hội đồng giáo cả" tuy chưa được pháp luật thừa nhận nhưng trên thực tế vẫn hoạt động và tồn tại cho đến nay.

    Từ sau năm 1975 đến trước khi có chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác đối với Hồi giáo, ở Việt Nam mới có một tổ chức là Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo TP. Hồ Chí Minh được thành lập tháng 7 năm 1992. Từ năm 2003 (thực hiện chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác Hồi giáo), Ban Tôn giáo Chính phủ phối hợp với Uỷ ban nhân dân các tỉnhthành phố có Hồi giáo đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo về mặt tổ chức cho tín đồ. Đến nay, đối với Chăm Islam, có thêm hai tổ chức Hồi giáo cấp tỉnh ở tỉnh An Giang và Tây Ninh; đối với Chăm Bàni, có Hội đồng sư cả Hồi giáo Bàni tỉnh Ninh Thuận.

    Thánh đường Hồi giáo nổi tiếng tại Việt Nam


    Hiện nay ở Việt Nam có hơn 40 Thánh đường Islam (Masjid) và 25 surao (nơi cầu nguyện nhỏ hơn thánh đường)[13]. Do tín đồ Hồi giáo Islam tại Việt Nam (khoảng 25.000 tín đồ, chiếm khoảng 42% tín đồ Hồi giáo) tập trung chủ yếu ở Thành phố Hồ Chí Minh và An Giang, nên hầu hết các thánh đường lớn đều tập trung ở đây.

    • Thánh đường Mubarak ở xã Châu Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, là nơi có cho phép du khách vào tham quan. Đây là thánh đường Hồi giáo đầu tiên ở tỉnh An Giang, ra đời vào năm 1750. Đây cũng là một trong những thánh đường Hồi giáo có lối thảm cho nữ giới vào thánh đường. Ngoài ra ở đây có làng Chăm Châu Giang nổi tiếng với nghề dệt thổ cẩm.
    Thánh đường Hồi giáo Mas Jid Khoy Ri Yah ở xã Nhơn Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
    • Thánh đường Al Rahman ở 45 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Thánh đường này chủ yếu dành cho người Maylaysia và người Indonesia.
    • Thánh đường Jamia Al Noor ở 12 Hàng Lược, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đây là thánh đường Hồi giáo duy nhất ở miền Bắc Việt Nam.
    • Thánh đường Jamia Al Muslim ở 66 Đông Du, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Thánh đường này được xây dựng vào năm 1935, được xem thánh đường Hồi giáo lớn nhất tại thành phố Hồ Chí Minh.
    • Thánh đường Jamiyah Islamic ở 52 Nguyễn Văn Trỗi, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là một thánh đường của người Chăm và cũng là Văn phòng Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Thánh đường Jamiul Muslimin ở ấp Đồng Ki, xã Quốc Thái, huyện An Phú, tỉnh An Giang. Đây là thánh đường Hồi giáo lớn nhất Việt Nam tính đến năm 2014.

    Ảnh hưởng của Hồi giáo đối với cộng đồng Chăm ở Việt Nam


    Về mặt tôn giáo, người Chăm có ba cộng đồng tôn giáo khác nhau như Chăm Bàlamôn (ở Ninh Thuận, Bình Thuận), Chăm Bàni (ở Ninh Thuận, Bình Thuận), Chăm Islam (ở An Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Binh Dương, Bình Phước, Đồng Nai và một số làng Chăm ở Ninh Thuận).

    Theo kết quả điều tra dân số tháng 4/1999, trong tổng số trên 130.000 người Chăm, có 63.147 người theo Hồi giáo. Đến năm 2001, theo số liệu khảo sát của Ban Tôn giáo chính phủ, số người Chăm theo Hồi giáo là 64.957 người, trong đó 39.288 người Chăm Bàni và 25.669 Chăm Islam.


    Mặc dù Chăm Islam và Chăm Bàni có cùng một nguồn gốc nên có nhiều nét giống nhau về phong tục và giáo lý cơ bản, song giữa hai cộng đồng tôn giáo này có nhiều điểm khác biệt.

    Chăm Islam ở Việt Nam là cộng đồng Chăm Hồi giáo thuộc dòng Sunni. Cộng đồng Chăm Bàni là kết quả của sự hỗn dung giữa Hồi giáo nguyên thủy với nhiều yếu tố tín ngưỡng dân gian. Khác với người Chăm Islam, trong tâm thức tôn giáo của người Chăm Bàni, những tập tục, lễ nghi của Hồi giáo gốc đã bị phai nhạt đi khá nhiều bởi nhiều lý do, trong đó phải kể đến sự tác động của tín ngưỡng bản địa dân tộc Chăm và của đạo Bàlamôn. Bởi vậy, có thể nói Chăm Bàni là một tôn giáo đặc thù mang đậm tín ngưỡng bản địa. Trong khi đó, người Chăm Islam luôn giữ gìn nghiêm ngặt giáo lý, giáo luật của Hồi giáo nguyên thủy, thể hiện qua việc thực hiện nghiêm chỉnh 5 cốt đạo của Hồi giáo. Nếu như người Chăm Islam tuyên xưng niềm tin tuyệt đối vào Thánh Alla và tiên tri Mohamet thì đối với người Chăm Bàni, niềm tin của họ còn dành cho rất nhiều thần linh khác như Nữ thần sáng tạo ra dân tộc Chăm, những vị anh hùng dân tộc Chăm và ông bà tổ tiên.

    Một đặc điểm khác biệt rõ nét giữa người Chăm Islam và người Chăm Bàni là vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội. Trong khi người phụ nữ Chăm Islam phải chịu nhiều ràng buộc nghiêm ngặt trong các quan hệ gia đình và xã hội cũng như trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, thì phụ nữ Chăm Bàni không chỉ được bình đẳng, được khuyến khích vươn lên khẳng định vị trí của mình mà còn có nhiều ưu thế hơn so với nam giới do ảnh hưởng chế độ mẫu hệ đã đi sâu vào tiềm thức của họ. Tóm lại, bên cạnh những điểm giống nhau cơ bản giữa Hồi giáo mới – Chăm Islam và Hồi giáo cũ – Chăm Bàni vẫn có những nét khác biệt nhất định, tạo ra một bức tranh tôn giáo rất phong phú, đa dạng ở Việt Nam.

    Về cơ sở thờ tự: Thánh đường của người Chăm Islam có dáng dấp như các Thánh đường Hồi giáo trên thế giới bởi nó tôn trọng những quy định về kiến trúc xây dựng thánh đường và cách bài trí bên trong. Có hai loại: Đại thánh đường và tiểu thánh đường. Đại thánh đường được xây dựng theo hướng Đông – Tây để khi quỳ lạy, tín đồ hướng về Thánh địa Mecca. Bên trong đại thánh đường vừa có hậu tẩm là nơi vị Imâm đứng hướng dẫn tín đồ hành lễ, vừa có Minbar là nơi thầy Khotip giảng giáo lý. Tiểu Thánh đường còn gọi là nhà nguyện, là nơi cầu nguyện và hội họp. Theo thống kê, hiện nay Việt Nam có 41đại thánh đường và 14 tiểu thánh đường Islam, tập trung nhiều nhất ở An Giang (16 đại thánh đường và 8 tiểu thánh đường).

    Số lượng chùa Bàni là 17 chùa, có ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Chùa Bàni được xây dựng khá đơn giản, hình thức bên ngoài cũng như cách xếp đặt bên trong đều có một sắc thái riêng biệt mang tính địa phương, không giống các thánh đường Hồi giáo trên thế giới. Chùa Bàni chỉ được mở cửa vào tháng Ramưwan(Ramadan tiếng Ả Rập: رمضان, Ramadān là tên gọi tháng thứ 9 của âm lịch Ả Rập. ) – tháng vào chùa của các chức sắc Bàni. Đây không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo của người Chăm Bàni mà còn là nơi các chức sắc trao đổi kinh nghiệm sản xuất với cộng đồng tín đồ, tuyên truyền các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.

    Chức sắc Hồi giáo



    • Chức sắc Chăm Bàni: Tổng số trong cả nước là 407 người. Các tu sĩ, chức sắc Bàni cũng như các tu sĩ Islam, họ không được khuyến khích sống độc thân. Trong đời sống hàng ngày, họ là những người rất am hiểu và có kinh nghiệm về những lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Do đó, chức sắc Bàni là những người có uy tín cả bên đạo lẫn bên đời. Họ tham gia vào tất cả những nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo như cưới hỏi, tang chế,… của các gia đình Bàni và của cộng đồng. Các chức sắc Bàni đều biết kiêng kỵ những thức ăn như trong giáo lý quy định. Hiện nay chức sắc Bàni được phân thành bốn cấp. Cấp thấp nhất là thầy Chang. Cấp thứ hai là Khotip hay Tip. Cấp thứ ba là Mun, là người điều khiển các buổi lễ tại chùa Bà ni. Cấp cao nhất là Sư Cả (thầy Gru) - người quyết định hầu hết mọi vấn đề về đời sống tôn giáo của người Chăm Bàni. Chức sắc Bàni được duy trì theo chế độ cha truyền con nối. Ngoài ra, mỗi chùa của làng có một ban cai quản có nhiệm vụ truyền đạt và hướng dẫn thực hiện các quyết định về đạo của thầy Gru, đồng thời thực hiện các lễ nghi tôn giáo và giải quyết các vụ tranh chấp, kiện tụng trong làng. Họ là cầu nối giữa chính quyền và tín đồ, đưa các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với quần chúng tín đồ.
    • Chức sắc Chăm Islam: Người đứng đầu là vị Hakim (Giáo cả). Phụ tá cho Hakim là Naep (phó Giáo cả). Ahly là người giúp việc cho Hakim. Tuân là thầy dạy giáo lý cho tín đồ.

    Tổ chức tôn giáo của người Chăm Hồi giáo


    Người Chăm Islam thành lập các Ban Quản trị Thánh đường theo từng khu vực cư trú. Đứng đầu ban quản trị là vị Hakim, sau đó là một số chức sắc như: Naib, Ahly, thư ký, thủ quỹ.

    Đối với Chăm Bàni, mỗi làng có một chùa Bàni. Chức sắc Bàni tiêu biểu thành lập ban cai quản chùa với người đứng đầu là Sư cả, giúp việc cho sư Cả là các thầy: Mun, Tip, Chang.

    Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1992, UBND Thành phố ra quyết định cho phép thành lập "Ban đại diện cộng đồng Hồi giáo Thành phố Hồ Chí Minh" trụ sở tại số nhà 15 đường Nguyễn Văn trỗi, phường 15, quận Phú Nhuận. Ngoài ra còn có ban cố vấn, bộ phận văn phòng và Ban quản trị của 14 khu vực. Ban đại diện là cầu nối giữa cộng đồng tín đồ Hồi giáo tại Thành phố và chính quyền để chăm lo lợi ích chính đáng của tín đồ, vận động tín đồ thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân, phát huy tình đoàn kết trong tín đồ.

    Các nghi lễ tôn giáo cộng đồng[sửa | sửa mã nguồn]

    Người Chăm theo Hồi giáo đều phải đến thánh đường làm lễ. Có khi một số người còn mang theo thực phẩm đến và chia đều cho mọi người có mặt. Người Chăm tin rằng, những lễ vật này chính là phúc lộc mà Thượng đế ban tặng cho họ.

    Trong tháng chay Ramadan, diễn ra vào tháng 9 lịch Hồi giáo, người Chăm luôn phải giữ mình trong sạch, phải chịu thử thách. Người Chăm phải nhịn mọi thứ vào ban ngày và chỉ được phép ăn uống vào ban đêm. Vào mồng 1 tháng 10 lịch Hồi giáo, nghi lễ được người Chăm tổ chức trọng thể để mừng cho mình và cộng đồng đã qua cuộc thử thách trong suốt tháng Ramadan.

    Hàng năm, cứ đến ngày 12 tháng Rabiul Awal (tháng 3 lịch Hồi giáo), cộng đồng theo Hồi giáo tổ chức lễ kỷ niệm ngày sinh của Đức Mohamet. Đây cũng là một trong những ngày hội quan trọng của người Chăm ở Nam Bộ. Sau buổi lễ, người Chăm cùng nhau sức dầu thơm như để thụ hưởng phúc lộc của Thượng đế.

    Nghi lễ Tolakbala được tổ chức vào tuần thứ tư ngày cuối tháng Safar (tháng 2 lịch Hồi giáo) hàng năm. Người Chăm tin rằng vào thời gian này, Thượng đế giáng những tai họa xuống trần gian, nên họ phải cầu xin Thượng đế ban cho họ sự bình an.

    Trên đây là một số nghi lễ tôn giáo ở cộng đồng. Đối vời người Chăm, Hồi giáo còn có ảnh hưởng rất lớn trong các nghi lễ vòng đời và tập quán sinh hoạt thường nhật.

    • Nghi lễ đặt tên, cắt tóc cho trẻ sơ sinh: Khi đứa trẻ sinh ra được 7 hoặc 14 ngày, cha mẹ đứa bé làm lễ cắt tóc và đặt tên. Trong buổi lễ, người ta đọc kinh Coran cầu Thượng đế ban cho đứa trẻ được bình an. Sau đó, cha mẹ đứa trẻ đặt tên cho con mình. Đối với bé trai thì có chữ nối là "bin", bé gái có chữ nối là "binti". Ví dụ: Osama bin Laden, Sarigah binti Hosen.
    • Nghi lễ thành niên: Nghi lễ này nhằm chứng nhận một người đến tuổi thành niên. Cả con trai và con gái đều quy định là 15 tuổi. Họ phải chịu tiểu phẫu ở bộ phận sinh dục.
    • Hôn nhân: Nhà trai nhờ người đến nhà gái để dạm hỏi, sau khi nhà gái đồng ý thì nhà trai chuẩn bị lễ hỏi. Lễ hỏi bao gồm các lễ vật như vải vóc, hoa tai, dây chuyền,… Lễ cưới thực hiện theo đúng nghi thức Rukun Nikah: Thứ nhất, phải có người đại diện phía nhà gái làm chủ hôn gọi là Wali. Thứ hai, phải có hai người làm chứng gọi là Saksi. Thứ ba, lễ Kabon tiến hành giữa ông Wali và chú rể. Ông Wali tuyên bố việc gả người con gái và chú rể chấp nhận việc cưới cô dâu. Thứ tư, phải có cô dâu. Thứ năm, phải có chú rể. Buổi lễ chính thức được diễn ra trước sự chứng kiến của nhiều người. Sau lễ cưới ba ngày, chú rể phải đưa cô dâu về thăm cha mẹ mình và phải mang sang nhà gái các vật dụng sinh hoạt như nồi, niêu, xoong, chảo, gạo, muối,… Cha mẹ chú rể sẽ đưa vợ chồng mới cưới đi thăm người thân. Chú rể có thể đưa vợ về ở nhà mình hoặc đến sống chung cùng với gia đình bên vợ.
    • Tang chế: Cũng giống như người Kitô giáo, người Chăm quan niệm cuộc sống hiện tại chỉ là tạm bợ. Vì thế, khi có người mất thì những người trong gia đình không ai được than khóc, để tang hoặc lập bàn thờ vì coi đó là sự đã an bài. Sau khi tẩm liệm, người chết được phủ trên mình một tấm khăn lớn có thêu những đoạn Kinh Coran và được đưa vào thánh đường để làm lễ cầu nguyện trước khi đem chôn. Khi đưa xuống huyệt, người chết sẽ được lật nghiêng hướng về phía tây, và cho đất lấp lại. Sau khi chôn cất xong, người ta cầu nguyện liên tục trong suất ba đêm, rồi ngưng cho đến ngày thứ 7, thứ 40 và thứ 100 sẽ cầu nguyện lại, sau đó là ngưng hẳn không còn bất kỳ hình thức lễ nào cho người quá cố nữa. Đối với ông bà tổ tiên, người Chăm thường xuyên tưởng nhớ và tổ chức thăm viếng vào những ngày cuối tháng Ramadan.
    • Người Chăm Islam có rất nhiều kiêng cữ trong cuộc sống. Trong nhà, họ không treo hình tượng của người hoặc loài vật kể cả di ảnh của người thân đã qua đời vì sợ sẽ làm sao lãng đức tin. Trong các bữa ăn thường ngày, người Chăm Islam không ăn thịt heo vì cho rằng đó là thức ăn dơ bẩn, không ăn thịt các động vật tự nhiên chết, không uống rượu bia,…
    • Trang phục: Trang phục của người Chăm ở Nam Bộ là sự tổng hợp của nhiều yếu tố. Phụ nữ chăm Islam khi tiếp xúc với khách hoặc khi ra đường đều đội khăn trên đầu để che kín tóc chứ không phải mang mạng như người Hồi giáo ở các nước Arập.
    • Hoạt động nghệ thuật: Do bị hạn chế bởi tín ngưỡng Islam nên những hoạt động nghệ thuật như ca, múa, kịch,… chỉ được cộng đồng Chăm Islam ủng hộ trong những ngày Raya kết thúc tháng Ramadan, sinh nhật Mohamet, hoặc nhân dịp cưới hỏi… cộng đồng.

    Bảy Cuộc Chiến Tranh Chống Hồi Giáo Của Những Đoàn Quân Chữ Thập

    Tiếng La-tinh CRUX có nghĩa là Thánh Giá hoặc Chữ Thập, biểu tượng của đạo Ki-tô. Từ chữ Crux phát sinh ra danh từ CRUSADE, có nghĩa là cuộc viễn chinh của đoàn quân Công giáo từ Âu Châu kéo qua các nước lân cận để tấn công những người Hồi giáo trong thời Trung cổ. Những người lính trong đoàn quân viễn chinh Công giaó này đều mang huy hiệu chữ thập ở phía trước ngựcvà phía sau lưng nên được gọi là Thập Tự Quân (Crusaders). Suốt trong hai thế kỷ 11 và 13 (1096- 1291) những đoàn quân Thập tự này đã gieo rắc biết bao kinh hoàng tang tóc cho những người Hồi giáo Ả-rập. Hình ảnh tàn bạo mang rợ của đoàn quân Công giáo Âu châu đã in sâu vào tim óc của thế giới Hồi giáo nói chung và của những người Hồi giáo Ả-rập nói riêng. Đến nỗi ngaỳ nay, người Hồi giáo đã đồng hóa Công giáo với chủ nghĩa thực dân đế quốc. Mỗi khi lên án hành động bành trướng bá quyền củaTây phương họ thường tố cáo hành vi đó là “Tân chiến tranh Thập tự” (Néo-Crusade).

    Cổ nhân thường nói “ôn cố tri tân”, chúng ta hãy coi lại lịch sử của hai thế kỷ chiến tranh đẩm máu do những đoàn quân chữ Thập Công giáo La-mã phát động chống những người Hồi giáo ở Trung đông trong hai thế kỳ 11 và 13. Những bài học lịch sử sẽ soi sáng cho chúng ta trong nhiều vấn đề thời cuộc hôm nay và cũng để hiểu thêm thực chất của một tôn giáo thường hay vỗ ngực tự xưng là đạo của “Công bằng Bác ái”!. Để trình bày về đề tài này, chúng tôi tham khảo các tài liệu sau đây:

    1. The Crusades, by Brenda Staleup, Green haven Press xuất bản 2000.

    2. The Oxford Illustrated History of Medieval Europe, by George Holmes, Oxford University press 1986.

    3. The Cross and the Crescent, by Malcoms Billing Sterling Publication 1988.

    Nguyên Nhân Chiến Tranh.

    Có hai nguyên nhân dẫn đến chiến tranh thảm khốc giữa hai tôn giáo anh em (fraternal faiths) kéo dài 195 năm và sự tranh chấp lãnh thổ giữa hai tôn giáo (nhưng thực chất cả hai đều là đế quốc).

    I. Sự Xung Đột Về Giáo Lý

    Mặc dầu kinh Koran là kinh thánh của đạo Hồi (Koran: The Muslim Gospel) công nhận Jesus là vị tiên tri đứng hàng thứ hai sau Muhammad, nhưng Koran phủ nhận tính cách thiêng liêng của Jesus. Koran gọi các phép lạ của Jesus là những trò học mót ở Babylon (magic and such things as come down at babylon) – Koran 2:102). Kinh Koran hoàn toàn phủ nhận tội tổ tông , hoàn toàn phủ nhận cái chết của Jesus trên thập giá. Koran khẳng định người Do thái không giết và không đóng đinh Jesus (The Jews killed him not, nor cruxified him – Koran 4:157).

    Muhammad thù ghét Công giáo vì đạo này thờ ảnh tượng, vi phạm điều răng thứ hai của Maisen. Một điều nữa mà Muhammad ghét cay ghét đắng là thuyết Thiên Chúa ba ngôi của đạo Ki-tô. Đối với Muhammad, Ki-tô là đạo Đa thần giáo, đi ngược là chủ thuyết độc thần của tổ phụ Abraham. Hồi giáo và Do thái giáo là hai đạo độc thần đúng nghĩa vì chỉ thờ một Thiên Chúa Duy Nhất (Monotheist Religion = o­nly-One-God Religion). Công giáo La-mã thờ ảnh tượng, thờ ba Thiên Chúa, quá tôn sùng bà Maria và các thánh do họ tự phong... do đó Công giáo là một tà đạo đa thần chứ không phải là đạo Thiên Chúa đúng nghĩa.

    Muhammad cũng ghét đạo Do thái vì Do thái gọi Thiên Chúa bằng số nhiều Elohim (số nhiều của El), đạo Hồi gọi Thiên Chúa bằng số ít. Danh từ El trong tiếng Ả-rập là Il. Đi liền với Il có chữ “ah” là một mạo tự (article) trong ngôn ngữ Ả-rập. Vì thế Il thành Il-ah. Khi chuyển sang Anh ngữ, các chữ I thành A, vì thế Il-ah thành ALLAH (cũng như Ibrahim trong tiếng Ả-rập đổi thành Abraham trong tiếng Anh).

    Muhammad gọi chung những người thao đạo Do thái và Ki-tô giáo là “những tín đồ của các sách Thánh kinh” (The people/ the followers of the Books) hoặc gọi chung là “những kẻ không tin Thiên Chúa Allah” (The unbelievers). Riêng với các tín đồ Công giáo, Muhammad gọi là “những kẻ thời thần tượng” (The idolers).

    Trong kinh Koran, Muhammad công khai kêu gọi các tín đồ Hồi giáo phải chiến đấu chống lại những kẻ theo đạo Do thái, đạo Ki-tô và tất cả những ai không tin theo đạo Hồi. Trong vùng kiểm soát của Hồi giáo, bất cứ một ai ngoại đạo phải nạp thuế thân và phải chấp nhận một địa vị thấp kém trong xã hội (Fight those who do not believe God and His Messenger, those who among the People of the Books, fight them until they personally pay tax o­n non-Muslims ackowledging their inferiority – Koran, Sura 9).

    Những người Công giáo thờ ảnh tượng bị coi là hạng người dơ bẩn và bị cấm vào các đền thờ Hồi giáo (The idolers are nothing but unclean, so they shall not approach the sacred mosque – Koran 9:28). Các người Do thái và Ki-tô bị cấm không được xây nhà thờ mới hay sửa chữa nhà thờ cũ, cấm đeo thánh giá trước ngực, không được đọc kinh to tiếng và cấm ngặt rước kiệu trên đường phố. Người Ki-tô giáo bị coi là đa thần giáo có thể bị sát hại bất cứ lúc nào. Kinh Koran chương 9 câu 5 đã quy định: “Khi những tháng thánh qua đi, các ngươi hãy giết những kẻ đa thần bất cứ nơi nào bắt gặp chúng, hãy phục kích để bắt chúng” (When the sacred month have passed away then kill the polytheists wherever you saw them, take them captives and wait for them in every ambush – Koran Sura 9: verse 5).

    Người Tây phương gọi những câu thơ nói trên là “những câu thơ của đao binh” (The verse of the swords). Trong thực tế, những câu thơ của kinh Koran đã tạo nên sự dũng mãnh của những đoàn quân Hồi giáo trong công cuộc mở mang nước Chúa Allah (The Kingdom of Allah). Chỉ trong một thế kỷ, đoàn quân Hồi giáo đã chiếm hết Bắc Phi, Trung Đông, một phần Âu Châu và tràn tới Trung Á, tới tận biên giới Trung Quốc. Nhưng đồng thời những câu thơ nói trên cũng đã gây hận thù sâu sắt giữa các tôn giáo anh em và cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến các cuộc thánh chiến.

    II. Sự Tranh Chấp Lãnh Thổ Giữa Hai Tôn Giáo

    Từ thế kỷ thứ nhất cho đến thế kỷ thứ 6, toàn vùng Bắc Phi và Trung Đông thuộc về lãnh thổ của các giáo phái Ki-tô. Nhưng đến đầu thế kỷ thứ 7, đạo Hồi xuất hiện với sự bành trướng với tốc độ vũ bão chưa từng thấy khiến cả thế giới phải ngạc nhiên.

    Chỉ trong 10 năm kể từ khi Muhammad qua đời, quân Hồi chiếm trọn bán đảo Ả-rập bao la (bằng 4 lần tiểu bang Texas hoặc 8 lần Việt Nam) chiếm các nước Iraq, Syria, Palestine, Ai-cập và phía tây của nước Iran. Hai năm sau, quân Hồi chiếm Bắc Phi, Carthage và Hy-lạp.

    Qua đầu thế kỷ thứ 8 (711-716) quân Hồi dám đánh chiếm một nước Âu châu nổi tiếng sùng đạo Công giáo, đó là nước Tây-ban-nha. Trong thời gian đó, kỵ binh Hồi giáo chiếm trọn Ba-tư (Iran) và từ đây xuất quân chiếm trọn các nước Trung Á ở phía nam nước Nga, chiếm trọn vùng Bắc Ấn (tức Pakistan va Afghanistan ngày nay) đánh qua biên giới Trung Quốc và đụng trận với quân nhà Đường trên sông Talas năm 751.

    Ki-tô giáo bị mất rất nhiều đất và đồng thời cũng mất rất nhiều tín đồ. Tuy nhiên, trong thời gian đó đế quốc La-mã và Ki-tô giáo bị lâm vào tình trạng chia rẽ và suy yếu nên không dám thực hiện một hành vi trả đũa nào cả!

    Qua đầu thế kỷ 11, Ki-tô giáo chia thành hai giáo phái vời hai giáo đô thù nghịch nhau. Đó là Công giáo La-mã (Roman Catholic) đóng đô tại Vatican và Giáo hội Chính thống giáo (The Eastern Orthodox Church) đóng đô tại Byzantine, còn được gọi là Constantinople tức Istambul, thủ đô của Thổ-nhĩ-kỳ ngày nay.

    Năm 1091, quân Hồi tấn công Byzantine. Hoàng đế Alexius Comnenus đứng đầu giáo hội Chính thống giáo tuy không ưa Công giáo nhưng cũng đành phải văn thư chính thức yêu cầu Giáo hoàng La-mã đem quân đến cứu giúp. Vatican lúc đó muốn giúp Vatican thì ít nhưng điều quan tâm hàng đầu là tái chiếm thánh địa Jerusalem để giáo dân toàn Âu Châu được tự do đến đó hành hương. Mối thù lớn nhất của dân Công giáo Âu Châu đối với đạo Hồi là trong thời gian chiếm đóng Jerusalem, quân Hồi đã triệt phá Nhà thờ Kính Mộ Chúa (Church of the Holy Sepulchure). Tội triệt phá nhà thờ Kính Mộ Chúa đã trở thành lý do chính cho cuộc thánh chiến trả thù của Công giáo. Lý do thứ hai được nêu lên là vụ người Hồi giáo hành hạ những người Công giáo Âu châu đi hành hương ở Jerusalem năm 1076. Những người di hành hương sống sót trở về Âu châu đã kể nhiều chuyện về sự ngược đãi của người Hồi khiến cho dân Âu châu rất phẩn nộ.

    Tu sĩ Peter Hermit là người hết sức cuồng nhiệt vận động quần chúng tín đồ Công giáo ở các nước Âu châu tham gia cuộc thánh chiến chống Hồi giáo. Các giáo dân Âu châu đa số thời đó đa số là những nông dân thất học và cuồng tín nhất là giới thanh thiếu niên, trong số đó có rất nhiều trẻ vị thành niên đã mù quáng ghi tên tham gia vào đoàn quân chữ thập. Lịch sử Âu châu đã gọi đoàn quân chữ thập này là “Đoàn quân nông dân” hoặc “Đoàn quân con nít” (Popular Crusade – The Children’s Crusade). Vào thời kỳ đó, Âu châu đang ở trong bóng tối tinh thần (The Dark Age) nên từ vua tới dân, từ tu sĩ đến các bổn đạo, tất cả đều không có một sự hiểu biết nào về Hồi giáo, không có một chút kiến thức nào về tình hình chính trị xã hội và địa thế của các nước phương Đông. Sự thiển cận về kiến thức và tinh thần cuồng tín tôn giáo đã mau chóng biến việc tái chiếm Jerusalem khỏi tay quân Hồi thành một khát vọng thiêng liêng vô cùng cuồng nhiệt. Chẳng mấy chốc đã có hàng trăm ngàn nông dân ghi tên, trong số đó có ít nhất là 60.000 trẻ vị thành niên !

    Cuộc Thập Tự Chiến Thứ Nhất (1096-1099)

    Như trên đã trình bày, sự vận động cho cuộc viễn chinh đầu tiên của đoàn quân Thập tự khởi đầu từ những năm 1091 do sự cầu viện của hoàng đế Byzantine, nhưng mãi tới năm 1096, tức 5 năm sau mới thực hiện được.

    Đoàn quân Thập tự gồm hàng trăm ngàn người được điều khiển bởi các hiệp sĩ chuyên nghiệp, xuất phát từ hai nước Ý và Pháp. Đoàng quân của Pháp chia làm hai nhánh: nhánh quân ở miền Bắc tập trung tại Normandie, nhánh quân ở miền Nam tập trung tại Toulouse. Cả hai nhánh này tiến quân thẳng tới Constantinople.

    Trên đường hành quân, khi đi ngang qua đồng bằng sông Rhin, đoàn quân Thập tự của Pháp đã lùng bắt những người Do thái rồi đưa họ ra bãi hoang chém giết tập thể. Hiện nay tại những vùng đồng bằng sông Rhin thuộc nước Đức có nhiều nơi vẫn còn ghi dấu bằng những bia đá ghi tên những người Do thái bị sát hại trong dịp này.

    Vào mùa thu năm 1096, một đạo quân thứ ba của Pháp tập trung tại Clairmont đi thẳng đến Rome để kết hợp với 50.000 quân Ý. Sau đó liên quân Pháp-Ý cũng kéo đến Constantinople. Vua và triều đình Byzantine vô cùng ngạc nhiên khi thấy đoàn quân Thập tự chỉ là một đám nông dân rách rưới bẩn thỉu và có quá nhiều trẻ vị thành niên ngơ ngác. Vua Byzantine lập tức ra lệnh cho quân đội ngăn chận không cho đoàn quân ô hợp này vào thành phố. Tuy nhiên, nhà vua cung cấp cho đoàn quân này số lương thực, lương thực và cho quân đội áp tống đám Thập tự quân này đến Boporus thuộc miền Nam Thổ-nhĩ-kỳ.

    http://home.earthlink.net/~charlienguyen/Pict/crusade_chretien_decap_R.jpgTrong lúc đoàn quân này trú đóng tại Boporus thì bị quân Hồi giáo Thổ-nhĩ-kỳ bất thần tấn công giết chết rất nhiều. Đoàn quân còn laị thì tiếp tục đi tới Anatolia, một thành phố thuộc phần đất Á châu của Thổ-nhĩ-kỳ rồi đến bao vây thành phố Hồi giáo Antioch ở phía cực nam nước Thổ. Trong lúc đang bao vây thành Antioch, đoàn Thập tự quân bất ngờ bị quân Hồi giáo Iraq kéo đến bao vây vòng ngoài từ ngày 21-10-1097 đến ngày 3-6-1098. Đoàn Thập tự quân bị kẹt ở giữa vì thành Antioch quá kiên cố không thể xâm nhập, trong khi đó đoàn quân Iraq lại quá hùng hậu nên Thập tự quân không thể phá được vòng vây. Sau hơn 5 tháng bị vây hãm quá chặt, Thập tự quân bị cạn hết lương thực nên bị chết đói rất nhiều. Cuối cùng, ngày 3-6-1098, đoàn quân Thập tự buộc lòng phải chấp nhận một trận quyết tử để mở đường máu phá vỡ vòng vây của quân Hồi giáo Iraq.

    Đoàn quân chữ Thập tiếp tục lên đường trong hơn một năm mới tới được Jerusalem. tại thành phố thánh địa này lúc đó có rất ít quân Hồi phòng thủ nên đoàn quân Thập tự quân đã chiếm thành phố thánh địa một cách dễ dàng vào ngày 15-7-1099. Sau khi chiếm Jerusalem, Thập tự quân ra lệnh cấm người Hồi giáo không được leo lên tháp cao ở đền thờ để kêu gọi mọi người đọc kinh, không được ăn chay trong thánh Ramadan, không được xây đền thờ mới và cấm sửa chữa đền thờ cũ. Tất cả những tín đồ Công giáo cải sang đạo Hồi đều bị tử hình.

    Chỉ trong vòng vài tuần lễ đầu chiếm đóng Jerusalem, đoàn Thập tự quân tàn sát những đàn ông Do thái và ngưởi Hồi giáo Ả-rập tổng cộng lên đến 30.000 người. Thánh địa của cả ba tôn giáo lớn biến thành một nhà xác khổng lồ. Lý do là số người chết nhiều hơn số quân số của Thập tự quân tại Jerusalem, và không có ai lo chuyện chôn người chết cả. Cho tới 5 tháng sau, các cống rãnh và các thung lũng ở jerusalem vẫn còn sặc mùi hôi thối của các xác chết.

    Cuộc chiến tranh thứ nhất của Thập tự quân Công giáo La-mã (The First Crusade) là một ấn tượng ghê tởm nhất đối với người Hồi giáo và Do thái giáo, và là một bài học kinh nghiệm nhớ đời cho toàn thế giới Hồi giáo về sự man rợ khủng khiếp của bọn tín đồ Công giáo cuồng tín.

    Tuy nhiên, cũng do cuộc chiến tranh này mà người Âu châu đã có cơ hội hiểu biết về thế giới Ả-rập và Hồi giáo. Họ không ngờ thế giới Hồi giáo quá rộng lớn, bao trùm một vùng lãnh thổ từ Bắc Phi qua Âu châu tới tận Viễn Đông. Họ không ngờ Hồi giáo cũng là một nền văn minh, trong đó có nhiều bộ môn khoa học, toán học, triết học tiến bộ vượt xa Âu châu. Cũng từ đó, người Âu châu đã dần dần tự giác ngộ để tự giải thoát ra khỏi Thời đại Đen tối (The Dark Age).

    Về thành tích giết người tàn bạo của Thập tự quân tại jerusalem trong những ngày đầu của cuộc thánh chiến hiện nay vẫn còn một chứng tích lịch sử độc đáo. Đó là bức thư của vị tướng tổng chỉ huy Thập tự quân gửi từ Jerusalem về Vatican để báo cáo các tin mừng chiến thắng lên Giáo hoàng Urban II. Bức thư này hiện được lưu trữ tại Văn khố của Tòa thánh. Trong thư có đoạn viết như sau: “Đức thánh cha có biết chúng con đã đối xử với kẻ thù của chúng ta ở Jerusalem ra sao không? Tại cổng thành Solomon và trong Đền thánh, đoàn kỵ binh của chúng con phải đi qua những cũng máu dơ bẩn của quân Hồi giáo Saracenes ngập cao đến đầu gối của những con ngựa”. (‘Deceptions and Myths of the Bible’, by Lloyd Graham, trang 462).

    Kết quả lớn nhất của cuộc viễn chinh đầu tiên của đoàn quân chữ thập là sự hình thành một vương quốc trực thuộc Vatican. Vương quốc này trải dài 800km dọc theo bờ biển Địa Trung Hải mang tên “Vương quốc La-tinh Jerusalem” (Latin Kingdom of Jerusalem) bao gồm: Hai tỉnh Antioch và Edessa ở phía đông nam Thổ-nhĩ-kỳ, nước Syria, nước Liban, xứ Judea và xứ Gallilee, trong đó có thành phố thánh địa Jerusalem.

    Tòa thánh Vatican trực tiếp cai trị bằng cách phong vương cho người đứng đầu vương quốc này. Nhưng thay vì gọi là “vua” của vương quôc, toà thánh gọi là “Người bảo vệ Mộ Chúa” (Protector of the Holy Sepulchere). Vương quốc La-tinh Jerusalem tồn tại được 88 năm (từ 1099 đến 1187) qua 7 đời vua do Vatican chọn lựa và tấn phong. Trong 88 năm cai trị vương quốc Jerusalem, quân Thập tự đã tàn sát rất nhiều người Hồi giáo và Do thái giáo, bất kể họ là người già, phụ nữ hay trẻ em. Quân Thập tự cũng xây cất rất nhiều phaó đài và lâu đài phòng thủ kiên cố để bảo vệ vương quốc, đến nay vẫn còn những di tích lịch sử để lại tại các nước Trung Đông dọc theo bờ biển Địa Trung Hải.

    Cuộc Thập Tự Chinh Thứ Hai (1147-1149)

    Nguyên nhân dẫn đến cuộc Thập tự chinh thứ hai (The Second Crusade) là do biến cố quân Hồi giáo thuộc giáo phái Sunni từ các nước Ả-rập và Thổ-nhĩ-kỳ tấn công tái chiếm tỉnh Edessa thuộc Vương quốc La-tinh Jerusalem. Để thực hiện quyết tâm phục thù, Vatican ra lệnh cho vua Pháp là Louis VII và vua Ý là Conrad III phối hợp với nhau tổ chức cuộc Thập tự chinh thứ hai. Năm 1147, Liên quân Pháp-Ý trong đoàn quân chữ thập lên đướng đến Thổ-nhĩ-kỳ để chiếm lại Edessa nhưng đã hoàn toàn bị đánh bại. Tàn quân rút chạy về phía nam thuộc lãnh thổ Liban và Syria. Đến năm 1149, toàn bộ đám tàn quân này bị quân Hồi tiêu diệt tại Damacus (thủ đô Syria ngày nay).

    Cuộc Thập Tự Chinh Thứ Ba (1190-1192)

    Đối với Do thái giáo và Ki-tô giáo thì Jerusalem là thánh địa duy nhất củahọ. Đối với người Hồi giáo thì thánh địa quan trọng nhất là Mecca (thủ đô của nước Ả-rập Saudi). Thánh địa thứ hai là Medina, một thành phố cách thủ đô Mecca 250 dặm về phía bắc. Và Jerusalem là thánh địa thứ ba của Hồi giáo vì tương truyền rằng Muhammad đã lên trời từ thành phố này.

    Quân Thập tự của Vatican chiếm Jerusalem năm 1096 là một kỷ niệm ô nhục và đau đớn cho thế giới Hồi giáo. Người Hồi giáo đã phải nuốt hận chịu đựng trong gần một thế kỷ mới có cơ hội phục thù. Cái nhân của cơ hội phục thù là sự xuất hiện của một nhân vật lừng danh thế giới, đó là vị tướng bách chiến bách thắng Saladin (1137-1193) gốc người Kurd theo giáo phái Sunni. Ông được dân Ai-cập và Syria tôn lên làm vua (Sultan). Nhân vật Saladin trở nên một nhân vật huyền thoại trong nhiều tác phẩm văn chương của các nước Âu châu thời đó. Quả thật, Saladin đã thu phục được nhân tâm của nhiều dân tộc theo đạo Hồi. Dưới sự lãnh đạo của ông, quân Hồi đã tái chiếm Jerusalem và nhiều phần đất khác của vương quốc La-tinh vào năm 1187. Toàn thế giới Hồi giáo Ả-rập vui mừng vì thánh địa thứ ba đã được tái chiếm và danh dự của Hồi giáo đã được phục hồi.

    Nỗi vui mừng chiến thắng của Hồi giáo càng lớn bao nhiêu thì nỗi đau của Vatcian và Giáo hội Công giáo cáng thấm thía và ê chề bấy nhiêu. Do rút tỉa của những kinh nghiệm thất bại trước đây, lần này Vatican chuẩn bị chu đáo hơn với sự hội ý của ba ông vua đầy quyền lực tại Âu châu là vua Pháp, vua Đức và đặc biệt là vua Anh Richard I – người được mệnh danh là “Richard Trái tim Sư tử” (Richard The Lion-Hearted). Cũng xin nói thêm đây là Giáo hội Công giáo Anh tách rời khỏi giáo quyền Vatican do vua Henri VIII chủ xướng vào năm 1534. Trước đó, các vua Anh đều thần phục giáo quyền Vatican như hầu hết các vua khác ở Âu châu.

    Cuộc Thập tự chinh thứ ba có tới 3 hoàng đế Âu châu điều khiển nên các sử gia thường gọi cuộc Thập tự chinh này là “Cuộc Thập tự chinh của các vua” (The Crusade of the Kings). Vua Anh đích thân điều khiển cuộc viễn chinh từ 1190 cho đến khi chiến dịch kết thúc vào năm 1191. Trong hai năm chinh chiến, đoàn quân chữ thập tái chiếm hầu hết lãnh thổ của Vương quốc La-tinh Jerusalem. Nhưng thành phố quan trọng nhất là thánh địa Jerusalem thì lại không chiếm được. Quân Hồi chận đứng đoàn quân chữ thập của Richard I tại thành phố Acre ở phía bắc Jerusalem. Trong thời gian trú đóng tại Acre (1191-1192) vua Anh Richard ‘The Lion-Hearted’ đã ra lệnh chém đầu tập thể trên 3000 người Hồi giáo Ả-rập. Vụ này đã đi vào lịch sử Hồi giáo như một bằng chứng về tội ác diệt chủng của Giáo hội Công giáo La-mã (The Cross and the Crescent, by Malcom Billing, trang 116). Hiện nay, tại thư viện Quốc gia của Pháp có lưu trữ một bức họa thời Trung Cổ vẽ cảnh vua Richard I ngồi trên khán đài chứng kiến đoàn quân thập tự chém đầu tập thể những người Hồi giáo.

    Cuộc Thập Tự Chinh Thứ Tư (1201-1204)

    Giáo hội Công giáo La-mã rất thù ghét Giáo hội Chính thống giáo là một giáo hội Ki-tô tách rời khỏi giáo quyền Vatican vào giữa thế kỷ 11. Trong thời gian thập tự quân chiếm đóng Jerusalem, các tín đồ đạo Chính thống ở Âu châu bị cấm không được hành hương đến thánh địa. Các giáo dân và tu sĩ đạo Chính thống tại Jerusalem đều bị ngược đãi tàn tệ. Đó chính là những lý do khiến cho hoàng đế Byzantine và Giáo hội Chính thống không thể ngồi yên trước sự lộng hành của Vatican. Để tránh bị lâm vào thế “lưỡng đầu thọ địch”, hoàng đế Byzantine và Giáo hội Chính thống thương thuyết với vua Hồi giáo Thổ-nhĩ-kỳ, kết quả hai bên đạt tới việc ký kết hòa ước cam kết không gây chiến tranh xâm chiếm lẫn nhau.

    Hòa ước Byzantine – Thổ-nhĩ-kỳ làm cho mối bất hòa giữa Vatican và Chính thống giáo càng trở nên sâu sắc. Bọn diều hâu ở Âu châu lúc đó là các hiệp sĩ (Knights) trong những nước Công giáo cuồng tín đã lập những kiến nghị yêu cầu tòa thánh Vatican phát động cuộc Thập tự chinh thứ tư để tiêu diệt đế quốc Byzantine và Chính thông giáo. Cuộc viễn chinh lần này được Vatican uỷ nhiệm cho các thủ lãnh hiệp sĩ Ý và Đức thực hiện.

    Trên danh nghĩa, cuộc Thập tự chinh thứ tư nhằm trừng phạt Byzantine và Chính thống giáo nhưng mục tiêu chính là để tiêu diệt một đồng minh tương lai của Hồi giáo. Cuộc chiến kéo dài trong 3 năm từ 1201 đến 1204, đoàn quân thập tự chiếm trọn lãnh thổ đế quốc Byzantine. Vatican đặt tên cho lãnh thổ này là “Đế quốc La-tinh Constantinople”. Vatican chia đế quốc này thành nhiều thái ấp (feuds) và phong chức lãnh chúa cho các hiệp sĩ có công để cai trị các thái ấp đó. Vatican đã biến toàn vùng đế quốc Byzantine xưa thành một xã hội phong kiến. Các lãnh chúa thu thuế của dân và trích ra một phần để nộp cho Vatican. Đế quốc La-tinh Constantinople tồn tại được 57 năm (1204-1261).

    Cuộc Thập Tự Chinh Thứ Năm (1217-1221)

    Cuộc Thập tự chinh thứ năm không có một nguyên nhân chính trị hay tôn giáo nào mà hoàn toàn do sự bốc đồng của vua Andrew nước Hungary. Hungary chì là một nước nhỏ nằm ở giữa châu Âu. Vua Andrew là người cuồng tín cà có quá nhiều ảo vọng quyền lực. Ông ta đã không lượng trước sức của mình, tự ý thành lập một đạo quân thập tự rồi kéo quân đến tấn công một nước xa xôi là Ai-cập. ông ta may mắn thành công trong việc chiếm thành phố Dannietta của Ai-cập. Người Ai-cập nhân danh Hồi giáo thương thuyết với Andrew là nếu nhà vua chịu trả lại thành phố Dannietta cho Ai-cập thì Hồi giáo sẽ trả lại Jerusalem cho Giáo hội Công giáo. Vua Andrew đã kiêu hãnh bác bỏ đề nghị này và kéo quân tiến đánh thủ đô Cairo của Ai-cập. Quân Hồi giáo Ai-cập hết sức phẩn nộ đã mãnh liệt phản công tiêu diệt hoàn toàn quân xâm lược của Andrew vào năm 1221.

    http://home.earthlink.net/~charlienguyen/Pict/crusade_acres.jpgCuộc Thập Tự Chinh Thứ Sáu (1228-1229)

    Cuộc Thập tự chinh lần này do Vatican giao cho vua Đức Frederic II thực hiện để trả thù cho Andrew. vatican đã cấp cho vua Frederic một ngân khoản rất lớn để võ trang thật hùng hậu cho đoàn quân thập tự. Tuy nhiên, vua Frederic là một nhà quân sự bất tài, đã phạm phải những lỗi lầm nghiêm trọng về chiến thuật nên toàn bộ đoàn quân chữ thập mới đặt chân lên đất Ai-cập đã bị tiêu diệt. Riêng bản thân vua Frederic II bị quân Hồi giáo Ai-cập bắt sống. Vatican đã phải trả một số tiền rất lớn để chuộc mạng cho Frederic, y được quân Hồi phóng thích cho về nước an toàn.

    Cuộc Thập Tự Chinh Cuối Cùng (1248-1254)

    Lý do dẫn đến cuộc Thập tự chinh thứ 7 là vụ quân Hồi định chiếm thánh địa Jerusalem vào năm 1244. Vatican trao nhiệm vụ tổ chức cuộc thánh chiến cho vua Pháp Louis IX. Nhà vua tuân lệnh và nhận tiền của Vatican chuẩn bị tổ chức cuộc viễn chinh thập tự lần thứ 7 trong vòng 4 năm.

    Năm 1248, vua Louis IX đích thân chỉ huy cuộc viễn chinh , kéo quân qua các nước Syria, Liban, Palestine... đi tới đâu đều bị quân Hồi phục kích tấn công đến đó. Cuộc chiến dai dẳng không phân thắng bại, khiến binh sĩ vô cùng chán nản. Sáu năm sau, đoàn quân thập tự vẫn không tời được Jerusalem. Đến năm 1254, quân Hồi tổng phản công khắp nơi khiến cho đoàn quân thập tự của Louis IX phải bỏ chạy, những kẻ sống sót tìm đường trở lại Âu châu.

    Đến năm 1291, quân Hồi chiếm lại tất cả những phần đất đã mất về tay đoàn quân chữ thập trước đây, chấm dứt hoàn toàn Vương quốc La-tinh Jerusalem sau 195 năm tồn tại. Cũng xin nói thêm ở đây là trong lịch sử các cuộc viễn chinh thập tự có hai vua Pháp tên Louis tham dự. Vua Louis VII bị thất bại nhục nhã trong cuộc thập tự chinh lần thứ hai (1147-1149) và vua Louis IX bị thất bại trong cuộc thập tự chinh cuối cùng (1248-1254). Tuy nhiên, Louis IX đã được lòng Vatican nên ông này đã được Vatican phong thánh. Vì thế, người Pháp không còn gọi Louis IX là vua nữa mà gọi là Saint Louis. Tên của ông đã được dùng để đặt tên cho một thành phố lớn tại Hoa Kỳ vì thành phố này có nhiều người Mỹ gốc Pháp.

    Những Điều Đáng Ghi Nhớ Về Các Cuộc Thập Tự Chinh

    1. Vấn đề có bao nhiêu cuộc Thập tự chinh?

    Khi nghiên cứu về những cuộc viễn chinh của đoàn quân chữ thập thời Trung cổ, chúng ta sẽ gặp nhiều tài liệu sử học đưa ra những con số khác nhau về những cuộc chiến tranh của thập tự quân. Có tài liệu nói là 6 trận, có tài liệu nói 7, 8 hoặc nhiều hơn. Lý do chính yếu làm cho các sử gia bối rối không thể nêu lên con số chính xác về cuộc chiến của thập tự quân kéo dài gần 2 thế kỷ (195 năm). Trong thời gian dài dằng dặc đó đã xảy ra nhiều cuộc chuyển quân của thập tự quân giả dạng làm những đoàn người đi hành hương hoặc đoàn người đi buôn bán... nhưng sau đó vẫn có thể thực hiện được những cuộc tấn công vào quân Hồi giáo. Một điều phức tạp hơn nữa là sau thế kỷ II, nhiều giáo hội Công giáo Âu châu tách rời khỏi giáo quyền Vatican như Chính thống, Anh giáo và Tin Lành. Vatican tổ chức những đoàn quân cũng mang danh là Thập tự quân đi đàn áp những kẻ ly khai đó. Trường hợp rõ nét nhất là cuộc Thập tự chinh lần thứ tư (1201-1204) Vatican đánh chiếm hoàn toàn lãnh thổ đế quốc Byzantine của Chính thống giáo. vậy có nên coi cuộc Thập tự chinh này là một trong những cuộc thập tự chinh chống Hồi giáo hay không ? Nhiều sử gia trả lời là có vì mục tiêu chính của Vatican là triệt hạ một đồng minh mới của Hồi giáo.

    2. Nhiều con cháu của Thập tự quân trở thành Hồi giáo

    Những thập tự quân Âu châu đến Jerusalem trong cuộc viễn chinh đầu tiên năm 1096, sau mấy chục năm định cư tại đây họ dần dần hiểu được thực tại và tĩnh ngộ chứ không còn cuồng tín như trước. Vì tại Jerusalem không có phụ nữ Âu châu nên lính thập tự đều lấy vợ Ả-rập Hồi giáo. Từ thế hậ thứ hai, thứ ba trở đi, hầu hết con cháu của thập tự quân đều thành người Hồi giáo. Do đó, khi xảy ra cuộc thập tự chinh lần thứ hai (1147 tức 51 năm) và thập tự chinh lần thứ ba (1190, tức sau lần thứ nhất gần một thế kỷ) những con cháu của thập tự quân đợt đầu đã trở thành những người Âu lai Ả-rập Hồi giáo rất thù ghét những người Âu đến sau. Họ là những chiến sĩ Hồi giáo chống đối mãnh liệt nhất những đợt thập tự chinh 2 và 3.

    3. Nạn buôn nô lệ

    Các cuộc chiến tranh của thập tự quân tại Trung Đông đã làm cho tệ nạn buôn bán nộ lệ trở thành một kỹ nghệ phát đạt. cả hai phe Hồi giáo cũng như thập tự quân đều chú tâm bắt sống tù binh và bắt thường dân ở các vùng chiếm đóng để đem bán tại các chợ ở khắp miền Trung Đông. Các thiếu nữ đẹp luôn luôn là món hàng đắt giá nhất được các nhà giàu hoặc các quan quyền mua về làm tì thiếp hay nô lệ tình dục.

    4. Giá máu quá đắt cho một chuyện hoang đường

    Trong suốt năm 1095, Giáo hoàng Urban II đi khắp các nước Công giáo Âu châu kích động quần chúng tín đồ đầu quân tham gia đoàn quân thập tự hoặc đóng góp tiền bạc để tài trợ cho cuộc chiến thần thánh nhằm bảo vệ ngôi mộ của Chúa. Những “ngôi mộ của Chúa” chỉ là chuyện hão huyền vì nó chẳng bao giờ có. Nếu Chúa đã sống lại và lên trời thì làm gì có mộ của Chúa? Còn nếu Chúa đã bị quân La-mã đóng đinh trên thập giá thì theo luật của La-mã là mọi tử tội đã chết trên thấp giá phải bị vứt xác ra bãi hoang cho kên kên và chó hoang ăn thịt. Trong lịch sử La-mã tuyệt đối không có chuyện xác tử tội được trao cho người nhà đem về chôn cất tử tế ở trong mồ. Jesus bị quân La-mã xếp vào loại tử tội nguy hiểm chẳng lẽ lại được La-mã dành cho một đặc ân ngoại lệ duy nhất là trao cho người nhà đem về chôn trong mồ hay sao? Chuyện ngôi mộ của Jesus là một chuyện hão huyền của bọn đại bịp. Nhưng câu chuyện hão huyền ấy đã làm đổ máu của ba triệu người, trong số đó có ít nhất là 60 ngàn trẻ em.

    Sử gia Lloyd M. Graham đã viết về vấn đề này như sau: “Chúng ta hãy quan tâm đến những cuộc chiến tranh của thập tự quân, đó là những cuộc chiến tranh khủng khiếp nhằm bảo vệ “ngôi mộ thánh của Chúa” mà nó chẳng bao giờ có, thế mà ba triệu người đã bị giết một cách vô ích, trong số đó có sáu mươi ngàn trẻ em” (‘Deceptions and Myths of the Bible’, trang 350).

    Ba triệu sinh mạng là giá máu quá đắt mà nhân loại đã phải trả cho một chuyện hoang đường của tà đạo đa thần Công giáo La-mã. Ba triệu người đã tức tưởi chui xuống những nấm mồ có thật chỉ vì một nấm mồ không có thật của một người được mệnh danh là Chúa Cứu Thế !

    Charlie Nguyễn

    Thu 2002





    Sự trỗi dậy của làn sóng chống Hồi giáo

    Nguồn: Jame Piscatori, “Islamophobia in the era of Islamic State”, East Asia Forum, 05/04/2015.

    Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

    Trong hàng thập kỷ qua, và nhất là kể từ sự kiện 11/9/2001, nhiều học giả, nhà hoạch định chính sách và nhà hoạt động đã đấu tranh chống lại những gì họ cho là những cuộc công kích không thể chấp nhận vào các tín đồ Hồi giáo và vào chính đạo Hồi. Hơn một thập kỷ trước khi Tổng thống Obama sử dụng cùng những lời tương tự, Tổng thống Bush đã nói về Cuộc chiến Chống Khủng bố rằng “Cuộc chiến của chúng ta … không phải là một cuộc chiến chống lại đạo Hồi”. Giờ đây, rất bình thường khi phân biệt giữa đạo Hồi với các tín đồ cực đoan của nó như cả hai Tổng thống đã làm, và cũng bình thường khi nghi vấn các ý kiến như “gốc rễ của cơn thịnh nộ Hồi giáo” hay “sự va chạm giữa các nền văn minh” như những lời giải thích về nguyên nhân của bạo lực.

    Nhưng trong sáu tháng qua, khi phải đối mặt với các cuộc tấn công trực diện vào tự do ngôn luận tại Paris và Copenhagen, các đoạn video khủng khiếp từ Nhà nước Hồi giáo (IS), và các vụ bắt cóc và giết người hàng loạt của tổ chức Boku Haram, sự phân biệt đó dường như đã bốc hơi. Sự trỗi dậy của PEGIDA (Patriotische Europäer gegen die Islamisierung des Abendlandes) ở Đức, một nhóm chống lại những gì họ cho là “Hồi giáo hóa” châu Âu, và các cuộc tấn công cố ý phóng hỏa nhiều nhà thờ Hồi giáo ở Thụy Điển, vốn là nơi nổi tiếng khoan dung, cho thấy làn sóng chống Hồi giáo (Islamophobia) đã trở lại.

    Mặc dù “ngành công nghiệp chống Hồi giáo” (Islamophobia industry) – tên gọi mỉa mai mà các nhà phê bình đã đặt cho nó – đã thay đổi thái độ chính thức tại châu Âu, Bắc Mỹ và Úc, nhưng làn sóng chống Hồi giáo chưa bao giờ biến mất. Sự phân biệt về mặt ngữ nghĩa giữa đức tin, điều xứng đáng được tôn trọng, và các tín đồ của đức tin, là những kẻ gây ra bạo lực nhân danh đức tin đó và cần phải bị ngăn chặn, đã biến mất trong cái mà các nhà khoa học xã hội gọi là sự “an ninh hóa Hồi giáo” (the securitisation of Islam).

    Lý giải mang tính chính trị về mối đe dọa của “Chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan” đã gây ra những hậu quả ngoài ý muốn trong nhận thức về Hồi giáo, mà điều thường gặp là sự mơ hồ giữa hai thuật ngữ này trong thực tế. Mối đe dọa này đã trở nên bám rễ sâu sắc, và nỗi sợ trước khủng bố Hồi giáo đã lan rộng đến nỗi đã đem lại một kiểu chấp nhận ngầm cho phép những kẻ hoài nghi luôn nhìn thấy những “đạo quân thứ năm”[1] ở những nơi không có, và khiến cho các chính phủ buộc tội các kẻ thù trong nước là các chiến binh thánh chiến.

    Chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan và nỗi sợ hãi nó chắc chắn là sự thật hiển nhiên. Sự lo lắng xuất hiện ngay cả ở những nơi mà người Hồi giáo chiếm đa số. Dữ liệu thăm dò vào năm 2014 cho thấy rằng 66% người dân Bangladesh và 42% người dân Pakistan không ủng hộ al-Qaeda. Ở Đông Nam Á, sự trung thành với Nhà nước Hồi giáo của các nhóm như Jemaah Islamiyah đã nhận được sự chú ý đáng kể, nhưng thái độ của công chúng nói chung thì chưa được tìm hiểu đầy đủ. Dữ liệu khảo sát cho thấy 56% người Indonesia không ủng hộ al-Qaeda, và ở Malaysia, chỉ có 18% người dân ủng hộ họ.

    Nhưng mối đe doạ hình thành trong giới hoạch định chính sách, nơi người Hồi giáo chỉ chiếm thiểu số, đã tiếp tay cho hai loại “chống Hồi giáo” – chống Hồi giáo thụ động (reactive Islamophobia) và chống Hồi giáo ở cấp độ nhà nước (state Islamophobia).

    Loại thứ nhất đã xuất hiện ở châu Âu chẳng hạn. Số người Hồi giáo ngày càng tăng đã khiến các chính sách đa văn hóa bị nghi vấn và gây nghi ngờ lẫn nhau giữa các bên, trong đó “làn sóng chống Hồi giáo” mang âm hưởng đáng lo ngại của tâm lý bài Do Thái từng tồn tại trước đây và giờ đang trỗi dậy trở lại. Người Hồi giáo, cũng như người Do Thái, từ lâu đã được cho là có xu hướng chống đồng hóa, phản đối các giá trị chung, và là một mối đe dọa cho an ninh quốc gia. Trong khi tác động về mặt nhân khẩu học có thể còn gây tranh cãi – dân số Hồi giáo của châu Âu dự kiến sẽ tăng từ mức hiện tại 4% lên 8% tổng dân số vào năm 2030 – thì vấn đề chính vẫn luôn là về thái độ của xã hội đối với nhóm thiểu số. Ngay cả ở Hoa Kỳ, nơi có môi trường pháp lý bảo vệ mạnh mẽ, người Hồi giáo là nhóm tôn giáo ít được ưa thích nhất.

    Tại các quốc gia châu Á nơi người Hồi giáo chiếm thiểu số, nhiều mối quan ngại tương tự đang xuất hiện. Tại Nhật Bản, quốc gia đã chịu tổn thương khi hai công dân của họ bị chặt đầu một cách man rợ vào đầu năm 2015, các nhà thờ Hồi giáo, đặc biệt là ở tỉnh Aichi, đã bị đe dọa. Cũng có những cuộc biểu tình cánh hữu kêu gọi kiềm chế việc nhập cư. Số lượng người Hồi giáo Nhật Bản là rất nhỏ – 130.000 người, chiếm 0,1% dân số – nhưng một chính sách tích cực hơn của Nhật trong cuộc chiến chống khủng bố có thể dẫn đến việc (các tổ chức Hồi giáo cực đoan) nhắm mục tiêu vào người Nhật trong khu vực và làm phức tạp thêm quan hệ xã hội trong nước thông qua những phản ứng hầu như không thể tránh khỏi.

    Chống Hồi giáo ở cấp độ nhà nước thì đáng lo ngại hơn. Ví dụ, người Rohingya theo đạo Hồi ở Myanmar đã phải chịu sự đàn áp có hệ thống. Họ đã bị từ chối quyền công dân với lý do rằng họ là những người Bangladesh nhập cư bất hợp pháp. Vào năm 2014, từ “Rohingya” không được thừa nhận như là một thuật ngữ xác định dân tộc trong cuộc điều tra dân số quốc gia. Tổ chức Bác sĩ Không Biên giới (Médecins sans Frontières) đã nói rằng người Rohingya có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất trong số các nhóm thiểu số trên thế giới.

    Ở Trung Quốc, có những cách tiếp cận khác nhau đối với các nhóm dân tộc Hồi giáo khác nhau, nhưng việc nhiều nơi trên toàn thế giới coi Hồi giáo là một vấn đề an ninh hàng đầu đã tăng cường sự kiểm soát của chính phủ Trung Quốc. Tội danh “khủng bố” được áp dụng thường xuyên, đặc biệt là cho những nhà hoạt động ở Tân Cương. Những người có thể đi hành hương đến Mecca, các bài giảng ở nhà thờ Hồi giáo, và việc thực hiện tháng ăn chay Ramadan nhìn chung đã bị hạn chế. Văn hóa đại chúng, chẳng hạn như các chương trình truyền hình, truyện tranh và phim hoạt hình, thường xuyên củng cố các thành kiến tiêu cực này.

    Trong khi những chính sách này có thể được cho là có lợi cho an ninh nội bộ, chúng có thể làm phức tạp chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Công nhân Trung Quốc đã xây dựng Ga tàu diện Mecca (Metro Mecca) được thiết kế cho các cuộc hành hương, và đã tham gia vào nhiều công trình quy mô lớn ở những nơi khác, như Nhà thờ Lớn ở Algiers. Gia tăng thương mại với Trung Đông khoảng 90% từ năm 2005 tới năm 2009, Trung Quốc hiện là nước xuất khẩu lớn nhất đến khu vực này. Nếu chính sách nhà nước của Trung Quốc được xem là tiêu cực đối với các vấn đề Hồi giáo, như thực tế cho thấy, thì nó có nguy cơ trở nên phản tác dụng về mặt kinh tế và chính trị.

    Nhà nước Hồi giáo với ý thức hệ đối đầu, người đứng đầu bí ẩn, cùng chiến thuật tàn bạo, hầu như đã một tay phá hủy các bước tiến tích cực trong thái độ đối với người Hồi giáo và đạo Hồi đạt được kể từ đầu thiên niên kỷ. Phản ứng cứng rắn với Nhà nước Hồi giáo chắc chắn là cần thiết. Nhưng chúng ta sẽ thiếu sót nếu không thừa nhận rằng Cuộc chiến Chống Chủ nghĩa khủng bố, được cho là không nhằm chống lại đạo Hồi, cũng có một ảnh hưởng ngầm, có thể do vô ý, bằng cách tập trung chú ý đặc biệt vào vấn đề an ninh, và qua đó mang lại cái cớ cho những tình cảm và hành động chống các tín đồ Hồi giáo một cách thụ động cũng như trên phạm vi nhà nước.

    James Piscatori là Giáo sư Quan hệ Quốc tế tại Đại học Durham

    Những thánh đường Hồi giáo ở An Giang

    Nằm lặng lẽ bên bờ sông Hậu, làng Châu Giang với các thánh đường trắng như một chốn yên bình bên sự nhộn nhịp của thành phố vùng biên Châu Đốc.

    Những thánh đường Hồi giáo ở An Giang     Làng người chăm Châu Giang thuộc huyện An Phú, là nơi sông Mekong đổ vào đất Việt và chia tách thành hai nhánh sông Tiền, sông Hậu. Đây cũng là nơi tập trung cộng đồng người Chăm lớn nhất ở An Giang. Từ thành phố Châu Đốc, chỉ mất hơn 5 phút đi phà là bạn đã có mặt tại xã Châu Giang." data-was-processed="true" id="vne_slide_image_0" src="https://i-dulich.vnecdn.net/2015/10/15/1-1444873315_680x0.jpg" style="margin: 0px; padding: 0px; box-sizing: border-box; text-rendering: geometricPrecision; border: 0px; line-height: 0; max-width: 100%; width: 680px; cursor: url("https://scdn.vnecdn.net/vnexpress/restruct/j/v46/utils/slideshow/css/slideshow/images/icons/zoom_cursor.png"), auto; float: left !important;">

    Làng người chăm Châu Giang thuộc huyện An Phú, là nơi sông Mekong đổ vào đất Việt và chia tách thành hai nhánh sông Tiền, sông Hậu. Đây cũng là nơi tập trung cộng đồng người Chăm lớn nhất ở An Giang. Từ thành phố Châu Đốc, chỉ mất hơn 5 phút đi phà là bạn đã có mặt tại xã Châu Giang.

    Những thánh đường Hồi giáo ở An Giang

    Với cộng đồng người Chăm theo đạo Hồi lớn, An Giang có rất nhiều thánh đường và tiểu thánh đường; nổi bật nhất trong số đó là thánh đường Mubarak được công nhận là di sản quốc gia. Từ bến phà Châu Giang, bạn rẽ tay trái là có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của công trình này.

    Những thánh đường Hồi giáo ở An Giang     Trên đường, bạn có thể bắt gặp rất nhiều người dân địa phương mặc trang phục truyền thống trong sinh hoạt hàng ngày. Nam giới thường mặc xà rông, nữ giới mặc abaja và quấn khăn hijab." data-was-processed="true" id="vne_slide_image_2" src="https://i-dulich.vnecdn.net/2015/10/15/3-1444873316_680x0.jpg" style="margin: 0px; padding: 0px; box-sizing: border-box; text-rendering: geometricPrecision; border: 0px; line-height: 0; max-width: 100%; width: 680px; cursor: url("https://scdn.vnecdn.net/vnexpress/restruct/j/v46/utils/slideshow/css/slideshow/images/icons/zoom_cursor.png"), auto; float: left !important;">

    Trên đường, bạn có thể bắt gặp rất nhiều người dân địa phương mặc trang phục truyền thống trong sinh hoạt hàng ngày. Nam giới thường mặc xà rông, nữ giới mặc abaja và quấn khăn hijab.

    Những thánh đường Hồi giáo ở An Giang     Phần lớn nhà thờ Hồi giáo được sơn màu xanh và trắng. Huyện An Phú và Châu Giang còn là nơi tập trung của nhiều cơ quan, trung tâm giáo hội, trường học của người theo đạo Hồi." data-was-processed="true" id="vne_slide_image_3" src="https://i-dulich.vnecdn.net/2015/10/15/4-1444873316_680x0.jpg" style="margin: 0px; padding: 0px; box-sizing: border-box; text-rendering: geometricPrecision; border: 0px; line-height: 0; max-width: 100%; width: 680px; cursor: url("https://scdn.vnecdn.net/vnexpress/restruct/j/v46/utils/slideshow/css/slideshow/images/icons/zoom_cursor.png"), auto; float: left !important;">

    Phần lớn nhà thờ Hồi giáo được sơn màu xanh và trắng. Huyện An Phú và Châu Giang còn là nơi tập trung của nhiều cơ quan, trung tâm giáo hội, trường học của người theo đạo Hồi.

    Những thánh đường Hồi giáo ở An Giang     Chiều đến, du khách có thể bắt gặp các hàng rong với món ăn đặc trưng của An Giang. Đó là những thức quà vặt dân dã như bánh tằm, chuối hấp, xôi sắn.. Bạn có thể mua một bọc 3.000 - 5.000 đồng để thưởng thức trên đường khám phá." data-was-processed="true" id="vne_slide_image_4" src="https://i-dulich.vnecdn.net/2015/10/15/6-1444873317_680x0.jpg" style="margin: 0px; padding: 0px; box-sizing: border-box; text-rendering: geometricPrecision; border: 0px; line-height: 0; max-width: 100%; width: 680px; cursor: url("https://scdn.vnecdn.net/vnexpress/restruct/j/v46/utils/slideshow/css/slideshow/images/icons/zoom_cursor.png"), auto; float: left !important;">

    Chiều đến, du khách có thể bắt gặp các hàng rong với món ăn đặc trưng của An Giang. Đó là những thức quà vặt dân dã như bánh tằm, chuối hấp, xôi sắn.. Bạn có thể mua một bọc 3.000 - 5.000 đồng để thưởng thức trên đường khám phá.

    Những thánh đường Hồi giáo ở An Giang     Masjid Jamiul Azhar là một trong những thánh đường lớn nhất tại An Giang, thuộc địa phận xã Châu Phong. Được xây dựng từ năm 1959, thánh đường trải qua nhiều đợt trùng tu và lớn nhất là vào năm 2012. Với mái vòm, biểu tượng trăng lưỡi liềm và các kiến trúc rõ nét Hồi Giáo, công trình này được coi là một trong những thánh đường Hồi giáo đẹp nhất Việt Nam." data-was-processed="true" id="vne_slide_image_5" src="https://i-dulich.vnecdn.net/2015/10/15/7-1444873317_680x0.jpg" style="margin: 0px; padding: 0px; box-sizing: border-box; text-rendering: geometricPrecision; border: 0px; line-height: 0; max-width: 100%; width: 680px; cursor: url("https://scdn.vnecdn.net/vnexpress/restruct/j/v46/utils/slideshow/css/slideshow/images/icons/zoom_cursor.png"), auto; float: left !important;">

    Masjid Jamiul Azhar là một trong những thánh đường lớn nhất tại An Giang, thuộc địa phận xã Châu Phong. Được xây dựng từ năm 1959, thánh đường trải qua nhiều đợt trùng tu và lớn nhất là vào năm 2012. Với mái vòm, biểu tượng trăng lưỡi liềm và các kiến trúc rõ nét Hồi Giáo, công trình này được coi là một trong những thánh đường Hồi giáo đẹp nhất Việt Nam.

    Những thánh đường Hồi giáo ở An Giang     Người đàn ông trong trang phục truyền thống sau buổi lễ chiều. Với người Hồi giáo, một ngày có 5 thời điểm làm lễ: trước khi mặt trời mọc, trước giữa trưa, xế chiều, tối và trước khi đi ngủ." data-was-processed="true" id="vne_slide_image_6" src="https://i-dulich.vnecdn.net/2015/10/15/8-1444873317_680x0.jpg" style="margin: 0px; padding: 0px; box-sizing: border-box; text-rendering: geometricPrecision; border: 0px; line-height: 0; max-width: 100%; width: 680px; cursor: url("https://scdn.vnecdn.net/vnexpress/restruct/j/v46/utils/slideshow/css/slideshow/images/icons/zoom_cursor.png"), auto; float: left !important;">

    Người đàn ông trong trang phục truyền thống sau buổi lễ chiều. Với người Hồi giáo, một ngày có 5 thời điểm làm lễ: trước khi mặt trời mọc, trước giữa trưa, xế chiều, tối và trước khi đi ngủ.

    Những thánh đường Hồi giáo ở An Giang     Một trong năm điều răn với người Hồi giáo là phải hành hương tới thánh địa Mecca một lần trong đời. Tuy nhiên, với cộng đồng Hồi giáo tại Việt Nam, nhiều người chọn những chuyến hành hương tới các nhà thờ Hồi giáo lớn tại An Giang." data-was-processed="true" id="vne_slide_image_7" src="https://i-dulich.vnecdn.net/2015/10/15/9-1444873318_680x0.jpg" style="margin: 0px; padding: 0px; box-sizing: border-box; text-rendering: geometricPrecision; border: 0px; line-height: 0; max-width: 100%; width: 680px; cursor: url("https://scdn.vnecdn.net/vnexpress/restruct/j/v46/utils/slideshow/css/slideshow/images/icons/zoom_cursor.png"), auto; float: left !important;">

    Một trong năm điều răn với người Hồi giáo là phải hành hương tới thánh địa Mecca một lần trong đời. Tuy nhiên, với cộng đồng Hồi giáo tại Việt Nam, nhiều người chọn những chuyến hành hương tới các nhà thờ Hồi giáo lớn tại An Giang.

    Những thánh đường Hồi giáo ở An Giang     Điểm độc đáo của thánh đường Jamiul Azhar là trước cửa có một nghĩa trang. Theo người dân địa phương, đây là nơi an táng của nhiều người Hồi giáo trên khắp Việt Nam." data-was-processed="true" id="vne_slide_image_8" src="https://i-dulich.vnecdn.net/2015/10/15/10-1444873318_680x0.jpg" style="margin: 0px; padding: 0px; box-sizing: border-box; text-rendering: geometricPrecision; border: 0px; line-height: 0; max-width: 100%; width: 680px; cursor: url("https://scdn.vnecdn.net/vnexpress/restruct/j/v46/utils/slideshow/css/slideshow/images/icons/zoom_cursor.png"), auto; float: left !important;">

    Điểm độc đáo của thánh đường Jamiul Azhar là trước cửa có một nghĩa trang. Theo người dân địa phương, đây là nơi an táng của nhiều người Hồi giáo trên khắp Việt Nam.


    Chuyện ít biết về cộng đồng Hồi giáo tại Hà Nội

    Với lịch sử hơn 100 năm tồn tại, cộng đồng tín đồ Hồi giáo tại Hà Nội vẫn còn rất nhỏ bé và chưa nhiều người biết đến.

    Ngày thứ 6 linh thiêng

    Thứ 6 hàng tuần, Thánh đường Hồi giáo duy nhất của Hà Nội và miền Bắc Al Noor (số 12 Hàng Lược) luôn chật kín tín đồ từ khắp Thủ đô và vùng lân cận. Gần 300 tín đồ tụ về cầu nguyện tại tòa Thánh đường cổ hơn trăm năm tuổi, trong đó chỉ có 55 người gốc Việt, còn lại là các quan chức, cán bộ từ các đại sứ quán theo đạo Hồi.

    Ngày thứ 6 là ngày lễ chính trong đời sống tâm linh của người Hồi giáo. Vào ngày này, họ mặc trang phục truyền thống với chiếc mũ tròn trên đầu và đến Thánh đường cầu nguyện.

    Hoạt động này không hoàn toàn bắt buộc, song nếu ở trong bán kính dưới 30km từ Thánh đường, các tín đồ nên đến cầu nguyện. Bên cạnh ngày lễ chính thứ 6 hàng tuần, người Hồi giáo còn có 2 ngày lễ đặc biệt quan trọng là ngày kết thúc tháng ăn chay Ramadan và lễ hành hương về Thánh địa Mecca.

    Thánh đường Hồi giáo Al Noor nằm giữa trung tâm Thủ đô

    Ở Việt Nam vẫn phải kiêng thịt lợn

    Tuy sống ở Việt Nam, các tín đồ Hồi Giáo vẫn luôn tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc định cấm kị. Anh Ru Xốt, 43 tuổi, người Chăm Pa, đến từ Ninh Thuận, một trong số 55 người Việt theo đạo Hồi tại Hà Nội, chia sẻ: "Thịt lợn là loại thực phẩm phổ biến nhất ở nước ta, song trong đạo Hồi đây là loại thức ăn cấm kị".

    Ru Xốt cho biết thêm: "Những đồ uống có cồn như bia rượu cũng bị cấm triệt để. Người Hồi giáo được phép ăn thịt bò, nhưng phải do chính người Hồi giáo giết mổ. Tất cả những loài vật ăn thịt loài vật khác như chó, mèo, cá sấu... cùng với tiết động vật cũng thuộc danh sách không bao giờ 'đụng miệng'".

    Tháng 9 âm lịch Ả Rập hàng năm thường được gọi là "tháng ăn chay", hay tên chính xác là "tháng Ramadan". Trong tháng này, tín đồ Hồi giáo ở Hà Nội cũng phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản: không ăn, không uống, không hút thuốc từ khi mặt trời mọc cho đến khi lặn. Ngoại trừ trẻ con còn nhỏ tuổi, phụ nữ có thai và những người lao động quá nặng nhọc, tất cả các tín đồ đều phải thực hiện nghiêm túc.

    Hành lễ cả trong... cuộc họp

    Quản lý và trông coi Thánh đường Al Noor hiện nay là ông Đoàn Hồng Cương, một người Việt gốc Pakistan. Ông đã ngoài 60 và nối nghiệp cha (người Pakistan) trông coi ở đây đã hơn 20 năm. Ông chia sẻ: "Thượng đế là vô hình với những người bình thường, hữu hình với những người có lòng tin. Điều quan trọng với các tín đồ là luôn luôn tin tưởng và đặt lòng tin vào Thượng đế!"

    Người Hồi giáo có quy định hành lễ 5 lần mỗi ngày, dù đang ở bất kỳ nơi nào. Họ không phải đến Thánh đường để hành lễ hàng ngày, mà có thể thực hiện ở bất kỳ đâu, từ quán ăn, sân bay, nhà riêng cho đến ngoài đường, trên ô tô... miễn là phải sạch sẽ.

    Anh Zamal, người gốc Bangladesh, đã có hơn 3 năm sinh sống và làm việc tại Hà Nội, hào hứng kể những tình huống thú vị xung quanh nghi thức hành lễ thường ngày ở nơi đất khách quê người: "Có lần đang trong cuộc họp công ty, đến giờ phải hành lễ, tôi bèn trải thảm ra giữa sàn phòng họp, rồi quỳ xuống và cầu nguyện. Mọi người xôn xao, có đối tác nước ngoài sợ quá chạy vội ra ngoài".

    Ông Đoàn Hồng Cương - quản lý thánh đường Hồi giáo Al Noor

    Phụ nữ không đeo mạng, đàn ông không đa thê

    Quy định đeo mạng che mặt khi ra ngoài và đến Thánh đường là bắt buộc với phụ nữ Hồi giáo ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, tại Việt Nam, quy định này được "nới lỏng" để phù hợp với đời sống sinh hoạt xã hội.

    Phụ nữ Hồi giáo ở Việt Nam không phải đeo mạng, chỉ phải chùm khăn kín đầu khi đi vào Thánh đường. Khăn có thể làm từ bất kỳ chất liệu nào, miễn sao che được kín toàn bộ phần tóc trên đầu.

    Luật Hồi giáo không cho phép phụ nữ làm chủ kinh tế trong gia đình, và khi đi ra đường phải đi cùng một trong ba người: bố đẻ, chồng hoặc con trai cả. Tuy nhiên tại Việt Nam, phụ nữ Hồi giáo vẫn được phép làm kinh tế, ra đường một mình.

    Đạo Hồi cho phép đàn ông được đa thê (lấy nhiều vợ). Tuy nhiên, ở Hà Nội, theo ông Đoàn Hồng Cương: "Đạo Hồi không cấm người đàn ông đa thê. Tuy nhiên chẳng ai dám cũng như đủ khả năng để đa thê!". Theo ông Cương, có hai lý do chính.

    Thứ nhất là do tập quán, thuần phong mỹ tục cũng như luật hôn nhân gia đình Việt Nam quy định chế độ một vợ một chồng. Lý do thứ hai rất đặc biệt, đó là "nếu người vợ thứ nhất đồng ý thì người chồng mới được phép cưới người vợ thứ hai". Trong trường hợp phân chia tài sản, người vợ thứ nhất có tài sản gì thì người vợ thứ hai cũng phải có tài sản tương tự.

    Cầu nguyện trong ngày lễ thứ 6

    Hơn 100 năm phát triển

    Đầu thế kỷ 19, các thương gia từ Ấn Độ và các nước Trung Đông đã đến miền Bắc Việt Nam để mua bán vải vóc và trao đổi tiền tệ. Theo thống kê, những năm 1830, có khoảng 1.000 người Ấn ở khu vực Đông Dương. Họ là nhóm thương gia giàu có và nắm giữ thị phần lụa, vải vóc lớn.

    Tại Hà Nội, nhóm người này sống tập trung ở khu Hàng Đào (Hoàn Kiếm, Hà Nội). Để đáp ứng nhu cầu tôn giáo, năm 1885, nhóm cộng đồng người Ấn từ Bombay (nay là Mumbai, Ấn Độ) đã quyên tiền để dựng Thánh đường Hồi giáo Al Noor.

    Công trình chính thức đưa vào sử dụng từ năm 1890. Nhà thờ khá nhỏ, với diện tích khoảng 700 m2, nhưng những nơi thờ phượng được xây dựng theo phong cách Hồi giáo điển hình, với một mái vòm, cửa cong và tháp nhọn.

    Sau hơn 100 năm, cộng đồng người Hồi giáo tại Hà Nội đã có biến động về số lượng. Năm 1975, chỉ có 16 tín đồ. Sau những cuộc di cư lớn trong quá khứ, đến nay con số này đã tăng lên 55, bao gồm khoảng 26 hộ gia đình.

    Tháng 12/2011, TP Hà Nội đã cho phép thành lập Ban Quản trị (lâm thời) Thánh đường Al Noor Hà Nội - tổ chức đại diện cho những người Hồi giáo sinh sống và làm việc tại Thủ đô. Sự kiện có ý nghĩa rất lớn với các tín đồ tại đây trong việc thiết lập cầu nối với cộng đồng Hồi giáo Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.

    Bài và ảnhNguyễn Dũng - Chiến Giang

    Minh Đức



     Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


    Những nội dung khác:




    Lên đầu trang

         Tìm kiếm 

         Tin mới nhất 
    Đằng sau thế giới mại dâm hợp pháp ở Singapore trung tâm hoạt động quốc tế của gái Việt xuất khẩu [NEW]
    Phi công CS Việt Nam Nguyễn Thành Trung tử nạn trong vụ va chạm máy bay ở Anh
    Mỹ “trượt” nhóm 5 quốc gia danh tiếng nhất thế giới nhường cho Canada
    Chán đảng khô đoàn thành bảng đỏ
    NÉT ‘QUÊ MÙA’ CỦA ĐÀ NẴNG NĂM 1991 – 1992 KHI CHƯA CÓ PHONG TRÀO THỊNH VƯỢNG TV QUA ỐNG KÍNH HANS-PETER GRUMPE
    CSVN chỉ giõi đàn áp đánh giết dân lành, làm kinh tế dở ẹc, hàng Việt thua đứt hàng Thái, Lào, Campuchia
    Đàn ông VN bị bạo lực Vợ dữ thời XHCN: Vợ bạo hành chồng nhiều năm mà không biết dẫn đến tử vong
    Thấy bác xích lô già yếu, cô gái Tây phương mỹ miều gợi cảm sexy xung phong chở bác đi dạo phố Sài Gòn rồi trả tiền công cho luôn!
    Trạm không gian 8,5 tấn của TQ rơi về Trái Đất có thể trúng thủ đô Hà Nội, Việt Nam trong vùng nguy hiểm
    Làm thế nào để trúng số: Người phụ nữ gốc Việt may mắn nhất hành tinh trúng giải $64 triệu của SupperLotto Plus
    Vừa trở về từ châu Á, Tổng thống Trump cảnh báo cứng rắn Triều Tiên
    TS Trần Đình Thiên: “93 triệu người dân phải “nuôi” 2,8 triệu công chức” đảng viên CS, tại sao đất nước không nghèo?
    Xả súng tại trường học California, Mỹ, ít nhất 15 người chết, bị thương: Cuộc sống bất an tại Mỹ
    Việt kiều ồ ạt đổ tiền về VN cho thân nhân đầu tư chứng khoán sau APEC lời nhiều
    Cẩn thận nhóm nữ mỹ nhân thoát y bắt cóc đàn ông

         Đọc nhiều nhất 
    Khinh thường CSVN, các tàu nước ngoài thi nhau giết ngư dân: Cảnh sát Biển Philippines bắn tàu cá 2 ngư dân Việt tử vong [Đã đọc: 35323 lần]
    Những cha me miền Tây khốn khó thời đại HCM: Cha mẹ mua “bùa nghe lời” để ép con gái lấy chồng ngoại hoặc bán trinh, làm đĩ [Đã đọc: 25807 lần]
    Dựa thế chồng, vợ cán bộ xã đứng ra làm chủ hụi cướp tiền đân, tuyên bố vỡ hụi, 66 người dân lo mất 6 tỷ đồng [Đã đọc: 25497 lần]
    Nhục nhã quốc thể: Khinh thường CSVN, Campuchia tước quyền công dân 70.000 người gốc Việt [Đã đọc: 24531 lần]
    Đòi hỏi ‘tách đảng’ đang trở thành xu thế ở Việt Nam [Đã đọc: 23564 lần]
    VN thiên đường XHCN: Quê hương tôi qua những bức ảnh biết nói [Đã đọc: 22534 lần]
    Việt Nam: Tham nhũng số 1, Hiếp dâm số 1, Nhân quyền... áp chót thế giới [Đã đọc: 22308 lần]
    VC ảo thuật: Ông Trần Đại Quang hiện nay là giả [Đã đọc: 21659 lần]
    Thanh trừng nội bộ: Bí thư Đà Nẵng bị cách chức, bị đuổi ra khỏi Trung ương Đảng- Ban bí thư hầu hết người gốc Bắc- Một cán bộ cao cấp bị Nhật bắt ăn trộm siêu thị [Đã đọc: 17802 lần]
    ‘Đảng không làm được cái gì hay cho đất nước - Người cày có ruộng thời VNCH so với nông dân mất đất thời XHCN [Đã đọc: 17251 lần]

    Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

    Bản quyền: Vietnamville
    Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.