Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Mười hai 2017
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 11
 Lượt truy cập: 9529799

 
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca 13.12.2017 22:19
Tổng Thống Dương Văn Minh Bị Bắt Hay Đầu Hàng Việt Cộng - Cụm tình báo CSBV trong dinh Độc Lập
05.12.2017 19:23

Ngày 30-4-1975 Tại Dinh Độc Lập (Sài Gòn),Bởi Mường Giang
Từ năm 1967 về sau, chiến tranh càng lúc thêm ác liệt lan rộng tới tận miền Bắc. Theo Võ Nguyên Giáp viết trong ‘Tổng Hành Dinh Trong Mùa Xuân Toàn Thắng‘, thì ngay từ tháng 4-1973 sau khi cùng Mỹ “ký kết hiệp ước ngưng bắn tại Paris ngày 27/1/1973“ Hà Nội đã lập một tổ đặc biệt gồm Lê Trọng Tấn, Vũ Lăng, Võ Quang Hồ và Lê Hữu Ðức “nghiên cứu kế hoạch tổng tấn công cưởng chiềm VNCH“. 

Bản dự thảo đầu tiên ra đời ngày 5-6-1973 và sau đó qua bảy lần xét duyệt, cuối cùng vào ngày 30-9-1974 mới được Bộ Chính Trị nghị quyết ‘Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức tổng tấn công miền Nam‘.
Image result for vc tấn công 30-4-75

Ngày 18-12-1974 tới 8-1-1975, Hội Nghị Bộ Chính Trị mở rộng, để quyết định lần cuối cùng kế hoạch trên. Sau khi chiếm được Thường Ðức (Quảng Nam) và Phước Long, mà không thấy phản ứng nào từ Mỹ, nên ngày 9-1-1975, Quân Ủy Trung Ương họp với quyết định mở chiến dịch 275, tấn chiếm Ban Mê Thuột do Văn Tiến Dũng , từ Bắc vào Nam chỉ huy trực tiếp trận địa.

Sau khi Cao Nguyên và Quân Đoàn 1 của VNCH thất thủ, tại Hà Nội vào ngày 31-3-1975 Cộng Sản Bắc Việt quyết định lập Bộ Chỉ Huy và Ðảng Ủy Sài Gòn do Lê Ðức Thọ, Phạm Hùng và Văn Tiến Dũng chỉ huy. Ngày 7-4-1975, Võ Nguyên Giáp ban lệnh bằng mọi cách phải đánh chiếm cho được miền Nam. Ngày 14-4-1975, mở chiến dịch HCM. Ngày 25-4-1975, Quân Ðoàn 1 Cọng sản từ Bắc Việt vào và đúng 17 giờ ngày 26-4-1975, mở đầu cuộc tấn công vào Sài Gòn bằng 5 cánh quân. Ngày 28-4-1975, Ðại Tướng Dương văn Minh thay Trần Văn Hương làm tổng thống, để trưa ngày 30-4-1975,ra lệnh toàn dân, toàn quân VNCH buông súng đầu hàng Cộng Sản Đệ Tam Quốc tế.

Trong lúc đó miền Nam VN đã bị Hoa Kỳ và thế giới tự do bỏ rơi tức tưởi, phải một mình đơn độc tiếp tục cuộc chiến chống xâm lăng trước mặt. Ðồng lúc lại phải hứng chịu những đòn thù thê thảm, của bọn con buôn chính trị, cứ tàn nhẩn đạp bừa trên xác lính, để múa rối bỉ ổi trên sân khấu đời. Dữ dằn nhất vẫn là bọn trí thức khoa bảng,tư xưng là thành phần thứ ba, đã đi đêm với Bắc Việt từ lâu gồm có Hồ Ngọc Nhuận, Vũ Văn Mẫu, Lý Quý Chung, Lý Chánh Trung, Hồ Văn Minh, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Xuân Oánh.. Tháng 3-1975, tình hình VNCH trở nên nguy ngập sau khi Ban Mê Thuột thất thủ. Ngô Công Ðức, dân biểu Quốc Hội VNCH phản bội đất nước sống lưu vong tại Pháp, đã vội vã sang Mỹ đòi chấm dứt viện trợ, thay ngựa bằng lá bài Dương Văn Minh để chuẩn bị đầu hàng. Ðó là lý do truất phế Trần Văn Hương sau 5 ngày làm tổng thống, kế vị TT. Nguyễn Văn Thiệu từ chức ngày 21-4-1975.

Ngày 27-4-1975 đúng 17 giờ 5 phút trong phòng khánh tiết của Dinh Ðộc Lập, đang diễn ra buổi lễ bàn giao chức vụ tổng thống VNCH, giữa Trần Văn Hương và Dương Văn Minh. Ðây là lần bàn giao tổng thống lần thứ hai xảy ra chưa đầy 10 ngày, trong chính quyền Nam VN, giữa lúc đất nước đã mất hơn hai phần ba lãnh thổ và nguy ngập nhất là nửa triệu quân Bắc Việt đã ập sát Sài Gòn.. Theo phóng viên Ðài Phát Thanh Sài Gòn mô tả hôm đó, thấy có sự hiện diện của ba Phó Thủ Tướng Trần Văn Ðôn, Nguyễn Văn Hảo, Dương Kích Ngưỡng, Quốc Vụ Khanh Nguyễn Xuân Phong, thêm Chủ Tich Thượng Viện Trần Văn Lắm và nhiều nghị sĩ, dân biểu như Tôn Thất Ðính, Nguyễn Văn Ân, Trần Cao Ðể, Mã Sái, Hồ Ngọc Cứ, Ðinh Văn Ðệ, Huỳnh Văn Cao, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu.. và cả Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Trần Văn Tiết. Ngoài ra còn có hơn 100 phóng viên và nhiếp ảnh tham dự, làm cho quang cảnh buổi lễ bàn giao thật sôi nổi. Vậy mà Tân Tổng Thống chỉ mới giữ chức chưa đủ hai ngày, thì đã vội vã đầu hàng giặc, khiến cho đất nước và đồng bào suốt ba mươi bảy năm qua, sống kiếp nô lệ mới cay đắng ngậm ngùi, dưới ách thống trị siêu phong kiến của bọn đầu sỏ Cộng Sản Bắc Việt, tham tàn độc ác. Vì thế có thể nói rằng chưa có đời nào trong giòng sử Việt, cả nước phải chịu nhiều đau khổ như hiện tại.

Là người của một giai đoạn lịch sử cận đại, Tướng Dương Văn Minh chỉ trong vòng 12 năm ngắn ngủi, đã là nhân vật chủ chốt “hai biến cố trọng đại của cận sử VN”. Ngày 1-11-1963 làm sụp đổ nền Ðệ Nhất Cộng Hòa Miền Nam, ra lệnh hạ sát anh em Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Ngày 30-4-1975, lợi dụng chức vụ tổng thống và quyền tổng tư lệnh quân đội, bắt cả nước đầu hàng đế quốc đệ tam Cộng Sản. Nay ngồi đọc lại lời phát biểu của TT Trần văn Hương, trong buổi lễ bàn giao hôm đó, mới thấy thương xót tận cùng cho người lính chiến VNCH

“Một trang sử mới được mở ra, do Ðại Tướng Dương Văn Minh viết. Ông Minh nhậm chức lúc này, không những chỉ vì thiện chí, mà còn là CAN ÐẢM TỪ BỎ GIẢI PHÁP QUÂN SỰ, vì đã chọn con đường Hòa Giải, Hòa Hợp để có Hòa Bình..”.

Ðúng lúc lễ bàn giao bắt đầu thì trên bầu trời, phản tặc Nguyễn Thành Trung lái và hướng dẫn 5 phản lực A37 của VNCH bỏ lại, oanh tạc phi trường Tân Sơn Nhất. Đồng thời đặc công Bắc Việt cũng lội vào bờ chiếm kho tiếp liệu của Usaid bỏ lại, sát chân cầu Sài Gòn. Nhiều người lúc đó cho là Ðại Tướng Văn Minh bị bệnh tâm thần, nên mới tin tưởng là cọng sản Hà Nội sẽ ngưng bắn, trong khi chúng sắp chiếm được miền Nam. Ngây thơ hơn hết là việc TT Minh, đêm 27-1-1975 đã mời Ngô Công Ðức lúc đó đang lưu vong bên Pháp, về làm Bộ trưởng thi hành Hiệp định Ba Lê 1973 (?!).

Ngoài ra khi Ðại Tướng Dương Văn Minh lên nắm quyền tổng thống nước VNCH vào chiều ngày 28-4-1975, thì đất nước đang ở vào giờ thứ 25 hấp hối. Vậy chúng ta có điều kiện gì để mà bắt Cộng Sản chịu ngưng bắn, để hòa hợp có hòa bình? Nham nhở nhất là từ sáng ngày 29-4-1975, đài VC lên tiếng phủ nhận luôn chính phủ Dương Văn Minh mới lên tối hôm qua, đồng thời ra lệnh đánh chiếm Gia Ðịnh-Sài Gòn.

Sau này Trần Văn Hương có tiết lộ với tác giả ‘L’Adieu à Sài Gòn‘ cũng là sử gia người Pháp Jean Larteguy, rằng sự thật Dương Văn Minh cũng giống như ông, chẳng có liên lạc được ai bên phía Bắc Việt để mà hòa hợp hòa giải. Còn Ðại Tướng Minh cho biết là mình đã tin vào lời của Vũ Văn Mẫu. Rốt cục tất cả đều là những người mù rờ voi, sau đó ảo tưởng đẻ ra kế hoạch vĩ đại đề cứu nước cứu dân, trong khi mặt thật là chẳng nắm được gì hết, ngoài bên cạnh có một đám quân sư xôi thịt xúi bậy làm càn.

Nhân ngày kỷ niệm 17 năm quốc hận vào năm 1992, tờ nguyệt san Phụ Nữ Diễn Ðàn của người Việt Hải Ngoại, số đặc biệt có đăng những bài bút chiến của Bùi Tín, Bùi văn Tùng, Nguyễn Trần Thiết, Bùi Biên Thuỳ... quanh hai chủ đề: ‘Ai là người đầu tiên vào Dinh Ðộc Lập và Ai là người có thực quyến lúc đó nhận sự đầu hàng của TT và Nội Các Dương Văn Minh ?’

Mượn lại danh từ của những người Cộng Sản trong cuộc đấu võ mồm vô duyên trên, là họ đã biếm xưng lịch sử. Vì thật ra cả bọn chẳng có ai là người đầu tiên bước vào Dinh Ðộc Lập. Mà từ xa lắc xa lơ, nơi này đã có hằng tá điệp viên cao cấp Bắc Việt như Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Phạm Ngọc Thảo, Trần Ngọc Hiển, Lê Ðình Ẩn, Ðinh văn Ðệ đã bước chân vào rồi..

Riêng việc đầu hàng Cộng Sản của TT Dương Văn Minh, thì cũng chẳng có gì là lạ, vì đại tướng là thủ lãnh của Lực Lượng Thứ Ba, có chủ trương Phản Gián qua lớp võ Hòa Giải, để đầu hàng giặc từ lúc chưa được lên ngôi Tổng Thống vào những ngày cuối tháng 4-1975. Có khác chăng là phải đóng kịch đầu hàng như thế nào, để sau này trước Tòa Án Lương Tâm và trên trang lịch sử, Tổng Thống Dương Văn Minh được trắng án và tiếng thơm là người yêu nước, vì đã dám hy sinh ở lại giữa chốn ba quân, trong lúc giặc xâm lăng đã ập sát biên thành.

Vì vậy từ lúc nhận lời đuổi Mỹ, tới khi lên đài ra lệnh cho quân đội buông súng rã ngủ, thời gian từ trưa 29-4-1975 cho tới trưa 30-4-1975, tổng thống không hề chợp mắt. Ðây là thời gian dài nhất trong đời làm chính trị của một vị nguyên thủ cuối cùng của VNCH, tuy ngắn ngủi nhưng lại bị tai tiếng nhất trong dòng Việt Sử cận đại.

Nhân ngày kỹ niệm 30 năm (4/1975 - 4/2005), cả nước VN được sống trong thiên đàng xã nghĩa. Dịp này, trên các báo Khoa Học Phổ Thông (18) và Thế Giới Mới (631-632), xuất bản tại thành Hồ, có Phùng Bá Ðạm lớn tiếng về cái gọi ‘ Bắt Tổng thống Dương Văn Minh và Nội Các Chính Quyền Sài Gòn’ vào trưa ngày 30-4-1975 tại Dinh Ðộc Lập. Ðặc biệt trong những bài viết trên không hề nhắc tới nhân vật Bùi Tín,một thời qua tập sách ‘ Sài Gòn Trong Ánh Chớp Chói Lọi Của Lịch Sử ‘, lúc nào cũng to tiếng nhận là mình cho Dương Văn Minh đầu hàng.

Vậy đâu là sự thật vì Tổng Thống Dương Văn Minh giờ đã mất, còn đồng bào cả nước từ ấy đến nay sống dưới thiên đàng xã nghĩa, sau hàng rào kẽm gai, lưởi lê, họng súng, nên chỉ dám nói viết những lời đảng dạy, để mà giữ lấy cái mạng cùi rất mong manh. Vì vậy làm sao, có ai dám nói hết lời cho dù rất muốn nói , ngoại trừ những kẽ cò mồi được đảng dựng lên làm đối lập.

1- TỔNG THỐNG DƯƠNG VĂN MINH ÐI TÌM HÒA BÌNH Ở CUỐI ÐƯỜNG HẦM :

Bốn mươi ba năm qua, kể từ ngày Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh cho QLVNCH buông súng rả ngủ, giúp cho cọng sản Bắc Việt , có cơ hội kết thúc sớm cuộc chiến xâm lăng Miền Nam. Cũng kể từ đó, đã có nhiều tài liệu của mọi phía liên hệ tới lịch sử, bật mí vén màn bí mật những uẩn khúc một thời, mà nguời Việt đọc tới, cứ tưởng như đang trong mộng, vì tất cả ều do bàn tay lông lá của ngoại bang dàn dựng.



Image result for vc tấn công 30-4-75

Riêng về sự nghiệp của tổng thống cuối cùng VNCH là Dương Văn Minh, cũng có rất nhiều nhưng chỉ có các bài viết của ký giả Pierre Denicron, ‘ SaiGon et Moi ‘ của cựu đại sứ Pháp là J.M.Mérilon và ‘ Decent Interval ‘ của Frank Sneep.. là viết rõ ràng nhất.

Theo ‘ Những Ngày Cuối Cùng VNCH ‘ của Nguyễn Khắc Ngử xuất bản sau năm 1975 tại Canada, thì ngay khi Bắc Việt vừa chiếm được Cao Nguyên Trung Phần (QDII) ngày 24-3-1975. Nhận thấy thời cơ đả tới, Phạm Văn Ðồng lúc đó là Thủ tướng Bắc Việt, đã ra lệnh cho bọn phản tặc ăn cơm Quốc Gia thờ ma Hồ, là Lực Lượng Thứ Ba (LLTB) ở Sài Gòn, công khai ra mặt chống đối Chính Phủ VNCH, để lập chính phủ mới trung lập mới có đủ tư cách nói chuyện thương thuyết với Hà Nội. Ðó chính là lý do mà Ðại sứ Pháp tại Sài Gòn, J.M.Mérillon tiếp xúc với LLTB, áp lực Mỹ thay ngựa hết TT. Thiệu tới TT.Hương và tìm đủ mọi cách đưa Đại tướng Dương Văn Minh lên ghế Tổng Thống VNCH.

A-NHỮNG NGÀY CHUẨN BỊ :

Người Pháp hết bị Nhật rồi tới VN đánh đuổi ra khỏi Ðông Dương một cách nhục nhã và thảm bại vào năm 1955, nhưng De Gaule và thực dân lúc nào cũng hằng nuôi ảo vọng trở lại làm trùm miền đất này. Bởi vậy không lúc nào chúng bỏ quên mọi cơ hội, rình rập và chợp thời cơ để trục lợi. Ðó cũng lý do Hòa đàm Paris được tổ chức trên đất Pháp . Đây cũng là nơi dung thân của các chính khưa lưu vong, sào huyệt của phong trào trí thức sinh viên tôn giáo thân Cộng Sản. Vì vậy suốt cuộc chiến, Hà Nội đã lập ra 4 Tổ Tuyên truyền, thuộc thành phần MTGPMN, Phòng Thông tin Bắc Việt và Hội Việt kiều yêu nước XHCN.nhưng tất cả , đều đặt dưới sự chỉ đạo của Trung ương cục miền Nam, một tổ chức nối dài của Ðảng Cộng Sản .

Ý đồ lưu manh trên đã được Mérillon nói một cách công khai và hãnh diện, trong tác phẩm của mình. Ðó chính là những ngày cuối tháng 4-1975, giữa lúc VNCH đang hấp hối vì Hoa Kỳ phản bội, đại bàng bỏ trốn, Việt gian đâm sau lưng, tạo dịp tốt ngàn năm một thuở cho Pháp nhảy vào ăn ké hột hụi chót, được hay thua cũng không bị lỗ vốn.

Cũng theo lời kể của vị cựu đại sứ Pháp, kể từ ngày 18-4-1975, Hoa Kỳ coi như đã dứt khoát bỏ VN, qua vai trò của đại sứ Martin. Noí chung người Mỹ nhờ Pháp thay thế, lo giùm hậu sự cho cái xác của VNCH, đang hấp hối chờ chôn. Bởi vậy Mérilon đã liên hệ khắp nơi, kể cả phái đòan của Bắc Việt trá hình là VC do Phan Hiền cầm đầu, được Mỹ bảo vệ và cho ở làm gián điệp nơi trại David nằm trong phi trường Tân Sơn Nhất, để xúc tiến thành lập một chính phủ MA mới tại VNCH, gồm ba thành phần Quốc Gia, Cọng sản và Trung Lập, như lệnh của Phạm Văn Ðồng.

Ðể Miền Nam mau chết, Hoa Kỳ đã quyết định cắt đứt hết mọi quân viện, khiến Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng cắt đứt luôn sự liên hệ với Tòa Ðại Sứ. Bởi vậy, trong đêm 20-4-1975, thân hành đại sứ Martin phải vào Dinh Ðộc Lập, áp lưc TT phải từ chúc tức khắc bằng tối hậu thư của CS Bắc Việt gửi Mỹ.

Theo luật pháp quốc gia, cũng như Hiến Pháp và Quốc Hội qui định, nên Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay thế chức vụ TT. Nhưng cụ Trần Văn Hương, từ trước tới nay vốn nổi tiếng Diều Hâu, điếc không sợ sấm dù là sấm Chúa hay Phật, một nhân vật chống Cộng cực đoan, tuổi tuy già nhưng đầu óc tỉnh táo và cương quyết. Cho nên ông đâu phải là nhân vật tuyển của thực dân Pháp và giặc xâm lăng Bắc Việt. Bởi vậy Dương Văn Minh được mời ra cứu nước, đó cũng là bài bản tuồng tích đã được sắp xếp, đâu có gì lạ.

Ðể áp lực với tổng thống Hương nhường ngôi cho Dương văn Minh, tối 24-4-1975 cọng sản lại ra thông cáo :

1- Trần văn Hương bù nhìn của Nguyễn Văn Thiệu, phải ra đi.

2-Mỹ phải rút khỏi VN.

3-Không chấp nhận các cơ cấu của VNCH hiện tại.

Như vậy việc Dương văn Minh lên làm tổng thống, theo thông cáo trên, là do ý của cọng sản Hà Nội, chứ không phải do Hiến Pháp VNCH quyết định. Ý đồ cướp nước của giặc đã công khai rõ ràng như ban ngày, vậy mà Tướng Minh và phe nhóm vẫn mù tịt. Khôi hài nhất là việc ông đại sứ Pháp cứ liên tục thúc hối Tổng thống Trần Văn Hương mau từ chức, để Dương Văn Minh kịp cứu dân cứu nước ?

Nhưng cụ Hương tuy tuổi già chứ không lẫm cẩm, hơn nữa lại là thầy của Dương Văn Minh, nên đâu có lạ gì tánh tình và nhân phẩm của người học trò mình. Theo ‘ Saigon et Moi’, chính cụ Hương đã trả lời thẳng với Mérilon như sau ‘ Nước Pháp luôn hái nho trái mùa, tưởng chọn ai, chứ Dương văn Minh không phải là hạng người dùng được, trong lúc dầu sôi lửa bỏng’.

Do các lý do trên, TT Hương không muốn trở thành một tội nhân thiên cổ đối với lịch sử, nên đã khôn khéo trao quyền quyết định cho Quốc Hội và Tối Cao Pháp Viện. Cuối cùng Tướng Minh được chỉ định làm Tổng Thống thứ tư của VNCH, vào lúc 20 giờ 45’ đêm 27-4-1975, với tỷ số 132/02. Rồi lễ bàn giao được diễn ra tại Phòng khánh tiết, Dinh Ðộc Lập lúc 17 giờ 01 phút, chiều ngày 28-4-1975. Lần nửa Việt Sử cận đại lại được lật sang trang nhưng vô cùng ngắn ngủi, vì tổng thống Dương Văn Minh, chỉ nắm quyền chưa tới 48 giờ thì mất nước.

B/ 30-4-1975, NGÀY DÀI NHẤT CỦA TỔNG THỐNG DƯƠNG VĂN MINH :

Theo các tác phẩm dẫn thượng, thì suốt 40 giờ tham chính, TT Minh và Nội Các của ông, hoàn toàn làm việc tại Dinh Hoa Lan và dưới sự chỉ đạo kiểm soát của Ðại sứ Pháp gần như 24/24. Jean Larteguy, tác giả ‘ L’adieu à Saigon ‘, có viết rằng cụ Hương trước khi mất, cho tác giả biết, cả ông, Dương văn Minh lẫn Vũ Văn Mẫu, đều chẳng liên lạc được gì với cọng sản Bắc Việt.

Ðiều này cho thấy ông Dương văn Minh cùng phe nhóm, chẳng có một kế hoạch nào để giải quyết cuộc chiến, mà mặt thật chỉ là những người bị cọng sản Bắc Việt lừa bịp, phỉnh gạt mà thôi. Bởi vậy khi Dương Văn Minh vừa đăng quang xong lúc 17 giờ ngày 28-4-1975, lập tức VC cho Nguyễn Thành Trung oanh tạc phi trường, đồng thời trở mặt tức khắc.

Trong trại David vào đêm 28-4-1975, Võ Ðông Giang bảo thẳng với phái đoàn thương thuyết của Dương Văn Minh, gồm Chân Tín, Châu Tâm Luân và Trần Ngọc Liễng ‘giờ tấn công đã sẵn sàng, nên Dương văn Minh chỉ có hai điều kiện : Ðầu hàng hay không Ðầu hàng ‘.Cả ba sứ giả bị giữ lại làm con tin. Sáng sớm ngày 29-4-1975, Hà Nội lập tức ra thông cáo, đòi tổng thống Minh cùng nội các từ chức, giao Miền Nam cho chúng, ban lệnh đuổi Mỹ, ngưng bắn và đầu hàng vô điều kiện.

Trong lúc ngoài vòng đai thủ đô, các đại đơn vị còn lại của QLVNCH đang tử chiến, để ngăn giặc khắp năm cửa ô, thi Sài Gòn đã hỗn loạn vì sự trốn chạy của Mỹ bằng trực thăng trên mái nhà. Các đại bàng lớn nhỏ lần lượt chắp cánh tung trời , từ TT Thiệu, Thủ Tướng Khiêm, Ðại Tướng Viên, Quang rồi Ðồng văn Khuyên, Vĩnh Lộc, Nguyễn văn Chức, Nguyễn văn Toàn.. đều ra đi.

Tóm lại giặc đang còn tận Biên Hòa, Bến Cát, Long Thành, Củ Chi và Long An.. thì Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư Lệnh KQ,HQ, BTL QDIII và Biệt Khu Thủ Ðô đã tan hàng, khiến Tổng Thống Minh như cua gãy càng, đành gọi bọn sâu bọ Nguyễn Hửu Có, Nguyễn Hữu Hạnh, Phạm Quốc Mạnh vào dinh cho mang lon trở lại, để giúp ngài có đủ can đảm đầu hàng giặc. Tổng thống đã thức trọn đêm cho tới sáng 30-4-1975, để quyết định một sự kiện lịch sử, mà thật ra khả năng của ông, vốn không bao giờ có thể vói tới được.

C- NGUYỄN ÐÌNH ÐẨU LÀM SỨ GIẢ HÒA BÌNH :

Vào ngày 30-4-2005 tại Sài Gòn, VC có đưa bốn nhân vật liên quan tới những giờ phút cuối cùng của VNCH vào tháng 4-1975 lên TV phỏng vấn : Ðó là Nguyễn Hửu Có, Nguyễn Hửu Hạnh, Phạm Quốc Mạnh và Nguyễn Ðình Ðẩu. Trong 4 người, Có, Hạnh và Mạnh là sĩ quan cao cấp của QLVNCH. Riêng Ðẩu là một nhà nghiên cứu địa bạ rất nổi tiếng, qua các sách đã xuất bản.

Trong một hồi ký đăng trên ‘ Thế Giới Mới số 385 ‘, xuất bản tại thành Hồ vào năm 2000 cho biết mình là một trong 4 sứ giả hòa bình, vào những ngày cuối tháng 4-1975, được Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền, mời vào phái đoàn, đến trại David là nơi đóng quân của Phái đoàn Bắc Việt trong phi trường Tân Sơn Nhất, để thương thuyết ngưng bắn. Ðẩu viết :

Ngày 29-4-1975 : Lúc 6 giờ 30 sáng, Ðẩu đi tìm Nguyễn Văn Huyền mới được TT Minh phong chức ‘ Phó Tổng thống đặc trách hòa đàm ‘.Theo Ðẩu, lúc đó chính phủ Dương Văn Minh chưa có ai liên lạc hay tiếp xúc với phía bên kia. Do đó Ðẩu xung phong, cùng với Nguyễn Văn Diệp (Tổng trưởng kinh tế thương mại vừa mới phong), Nguyễn Văn Hạnh (Nhà thầu), Tô Văn Cang (kỹ sư). Lúc 11 giờ 15 cả bọn vào trại David bằng công xa của Bộ trưởng Diệp, có cận vệ, nhưng trống không vì phái đoàn VC đã rút đi hết. Lúc 13 giờ 30, theo lệnh Nguyễn Văn Huyền, Ðẩu viết lời tuyên bố của Chính phủ VNCH, chấp nhận điều kiện của VC đòi hỏi ngày 25-4-1975, sau đó được đọc trên đài phát thanh Sài Gòn vào lúc 14 giờ 30’.

Lúc 19 giờ cùng ngày, Ðẩu cùng Nguyễn Văn Huyền vào Dinh Hoa Lan gặp Tổng Thống Minh và cho biết ‘ Giải pháp chính trị chấm dứt chiến tranh ‘ đã không thể thực hiện được, vì Bắc Việt không chấp nhận trong lúc đang thắng thế quân sự.. Ngày 30-4-1975, lúc 7 giờ 30 sáng, Ðẩu lại theo Nguyễn Văn Huyền, đi trên công xa của Tổng thống, tới họp tại Văn phòng Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, ở số 7 đường Thống Nhất. Theo Ðẩu, ngay trên xe lúc đó, Huyền nói với đượng sự bằng tiếng Pháp ‘ Phải đầu hàng ‘.

Tại Phủ Thủ tướng lúc 8 giờ 30 sáng, bộ ba Minh, Huyền, Mẫu hợp kín. Lúc 9 giờ 15, cũng tại đây, TT Minh dùng điện thoại, đọc lệnh ngưng bắn đơn phương trên Ðài Phát thanh Sài Gòn, Quân Ðội. Lúc 9 giờ 30 cùng ngày, bộ ba Minh-Huyền-Mẫu và nhiều người trong nội các, dùng công xa kéo về Dinh Ðộc Lập, chờ Cộng Sản Bắc Việt tới giao quyền hành. Dịp này Ðẩu cũng tháp tùng nhưng lại bỏ về nhà, nên cho biết không chứng kiến những gì đã xảy ra tại Dinh Ðộc Lập, vào lúc 11 giờ 30 khi xe tăng Bắc Việt có mặt ở đây.

2-NGÀY 30-4-1975 TẠI DINH ÐỘC LẬP, TT DƯƠNG VĂN MINH BỊ BẮT HAY ĐẦU HÀNG VC ? ::

Theo Nguyễn Khắc Ngữ, thì sau khi cuộc di tản của người Mỹ trên mái nhà chấm dứt vào 7 giờ sáng. Lúc đó Tổng thống Dương Văn Minh cũng chưa biết là mình phải làm gì trước giờ thứ 25 của VNCH. Tuy nhiên xung quanh lại có nhiều thành phần trở cờ, thân hay là VC nằm vùng xúi giục, nhất là Vũ Văn Mẫu, Lý Quý Chung, Nguyễn Hữu Thái, Nguyễn Hữu Hạnh, Phạm Quốc Mạnh.. bởi vậy đã ra TUYÊN CÁO ÐẦU HÀNG, thâu băng ở Dinh Thủ rtướng và được Ðài phát thanh Sài Gòn, phát lúc 9 giờ sáng, với nội dung :

“ Ðường lối chủ trương của chúng tôi là Hòa Giải và Hòa Hợp Dân Tộc, để cứu vãn sinh mệnh của đồng bào. Chúng tôi tin tưởng sâu-xa vào sự hòa giải của người VN với nhau, để phải khỏi phí phạm xương máu của người VN chúng ta . Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ VNCH hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó . Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Lâm thời miền Nam VN hãy ngưng nổ súng. Chúng tôi đang ở đây chờ gặp Ðại diện Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam VN, để cùng nhau thảo luận, về việc bàn giao chính quyền, trong vòng trật tự và tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào .”

Sau đó Nguyễn Hữu Hạnh, mới được TT.Dương Văn Minh gắn lon Chuẩn tướng và phong chức Phụ tá Tổng Tham mưu mưởng QLVNCH , thế Trung tướng Vĩnh Lộc vừa ra đi , để đọc NHẬT LỆNH , bắt QLVNCH phải tức khắc tuân lệnh TT. Dương Văn Minh, buông súng đầu hàng Cộng Sản Bắc Việt, làm tan rã ngay QLVNCH, một Quân đội hào hùng, dũng liệt, lúc đó dù đã bị Hoa Kỳ bán đứng và bỏ rơi nhưng vẫn can trường tiếp tục chiến đấu với kẻ thù xâm lăng phương Bắc. Những tướng lãnh Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Lê Minh Ðảo, Lý Tòng Bá, Trần Quang Khôi, Lê Văn Thân, Ðổ Kế Giai.. người quyên sinh chết, kẽ vào tù khổ sai tại các trại giam ở tận biên giới Việt Bắc. Riêng đồng bào cả nước cũng cùng người linh, chịu chung số phận hẳm hiu, lầm than.suốt ba mưoi bảy năm qua, dưới chế độ tham tàn bạo ngược, mà Tổng thống Dương văn Minh và phe nhóm, đã vô tình hay cố ý, lót đường, trải thảm , rước giặc vào tàn sát đồng đội, đồng bào.qua danh từ hoa mỹ “ Hòa hợp, hòa giải dân tộc “.

Ðầu hàng để bom đạn khỏi tàn phá Sài Gòn và tránh bớt đổ máu cho đồng bào, vào những ngày cuối tháng tư quốc hận. Nhưng Sài Gòn và cả nước vẫn bì tàn phá hũy diệt, đồng bào cả nước vẫn đổ máu gục ngả, ngay sau khi Cộng Sản Bắc Việt chiếm được cả nước sau ngày 1-5-175. Chết nào cũng chết, tàn phá nào cũng là hũy diệt. Vậy tại sao không để cho QLVNCH và đồng bào chết một cách oanh liệt khi đối mặt với giặc thù, mà lại bắt họ và đất nước phải chết đau hận nhục. dưới gót giầy xâm lược của Ðế quốc Ðệ tam Cộng Sản ?

Có một sự kiện lịch sử cần phải viết nhớ, là lúc TT Dương văn Minh cùng phe nhóm vừa từ Dinh Thủ tướng về Dinh Ðộc lập, đã thấy trong sân cỏ có rất nhiều Chiến xa M48 của VNCH nhưng đã bị Tổng thống ra lệnh trở về đơn vị, để chờ đầu hàng. Cũng vì vậy mà Tăng 54 của Bắc Việt mới phách lối ủi xập được cửa sắt của Dinh Ðộc lập và những trận giặc miệng trên báo chí trong và ngoài nước, của Bùi Tín, Bùi văn Tùng, Bùi Biên Thùy và mới đây thêm Nguyễn Ðình Ðẩu, Phùng Bá Ðạm, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Khang Thái.. về cái gọi là ‘ Bắt Dương Văn Minh tại Dinh Ðộc Lập ‘.

Ngày nay đọc ba quyển hồi ký của Võ Nguyên Giáp và Bộ Chung Một Bóng Cờ của Tập đoàn Giải Phóng Miền Nam gồm Nguyễn Hửu Thọ,, Trần Nam Trung, Trần Bạch Ðằng, NguyễnThị Bình.. viết chung, do Nhà xuất bản Chính trị của Ðảng độc quyền phát hành , qua những tiết lộ về các bí mật hậu trường chính trị miền Nam trước năm 1975. Nhờ đó ta mới biết chân tướng của Nguyễn Xuân Oánh, Phó Thủ tướng ‘ Tôi cảm thấy sống rất thoải mái và phấn chấn, vì trong mấy chục năm qua nằm vùng trong Chính quyền miền Nam, tôi cũng đã giúp Ðảng ta nhiều công lớn ‘.Còn Nguyễn Hửu Có, nguyên Tổng trưởng Quốc phòng thì nói ‘ Ðảng ta mau tuyên truyền ra hải ngoại, để Việt kiều biết tìm cơ hội cống hiến yêu nước XHCN ‘.Nhưng nhức nhối hơn cả vẫn là Nguyễn Khánh, trong lúc Miền Nam đã nguy ngập vào tháng 3-1975, chẳng những không tìm cách giúp đở, mà còn đâm sau lưng chiến sĩ , bằng cách đòi hỏi Mỹ phải chấm dứt ngay quân viện cho VNCH. Ngày 17-4-1975 khi Cộng Sản đang vây khổn Sài Gòn, thì Khánh viết ‘ The Peace must be Vietnamized - Phải VN hóa hòa bình ‘ , đăng trên tờ New York Times. Cuối cùng, khi được tin Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, Khánh lại liên lạc với MTGPMN hỏi là ‘ Mình phải tiếp tục làm gì ? ‘


Image result for vc tấn công 30-4-75

Còn Ðại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống hai ngày cũng là tổng thống chót của VNCH, ngoài việc dùng quyền hành vua nước và tổng tư lệnh quân đội, bắt QLVNCH buông đầu hàng rã ngủ. Sau ngày 1-5-1975, còn Họp báo công bố ‘ Chính Sách Khoan Hồng Của Cách Mạng ‘ và nói ‘ Riêng cá nhân tôi rất hân hoan, vì cho tới năm 60 tuổi , tôi mới được trở thành công dân của một nước VN độc lập, tự do ‘.

Về chuyện gì đã xảy ra trong Dinh Ðộc Lập, vào trưa ngày 30-4-1975, hiện đã có rất nhiều tài liệu của cả hai phía, cũng như ngoại quốc ghi nhận. Nói chung tất cả sự kiện gần giống nhau, chỉ có khác biệt là ai cũng dành công, việc bắt TT Dương Văn Minh và Nội các VNCH, là của mình.

+ NGUYỄN KHẮC NGỮ :

Viết trong ‘ Những ngày cuối cùng của VNCH ‘ cho biết vào lúc 12 giờ 30 ngày 30-4-1975, lúc quân Bắc Việt do Bùi văn Tùng chỉ huy, đã vào được bên trong Dinh Ðộc Lập. Về phía VNCH tại phòng Khánh Tiết , hầu như có đủ các nhân vật thuộc phe nhóm DVM và nội các của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, tất cả đang ngồi trên ba hàng ghế chờ. Chính TT.Minh đã ra đón cán binh Bắc Việt tận cửa Phòng Khánh Tiết và nói về việc ban giao. Nhưng chúng nhất định không chịu, đòi Dương Văn Minh phải đầu hàng VÔ ÐIỀU KIỆN và cho biết TUYÊN CÁO phía VNCH do Minh và Hạnh vừa đọc, không có giá trị. Sau cùng Lê Văn Minh nói thẳng là Dương Văn Minh đã bị bắt, thì còn gì để bàn giao.

Biết mình đã lở dại, nên TT Minh, Thủ tướng Mẫu đành để cho giặc áp giải tới Ðài phát thanh, ra lệnh cho QLVNCH buông súng đầu hàng vô điều kiện, đồng thời tuyên bố giải tán Chính quyền VNCH, từ trung ướng trở xuống địa phương. Còn Vũ văn Mẫu thì nhân danh Thủ tướng chính phủ, kêu gọi đồng bào hoan hĩ đón giặc vào.

+ BÙI TÍN CÓ BẮT ÐƯỢC DƯƠNG VĂN MINH ?

Ðây là bài viết của Bùi Văn Tùng, trả lời Thành Tín tức Bùi Tín qua ‘ Sài Gòn trong ánh chớp chói lọi của lịch sử ‘, được VC in và phát hành năm 1978. Trong bài viết của Thành Tín, cho biết Bùi Văn Tùng, Chính Ủy Lữ Ðoàn Thiết giáp 203, đã áp giải TT Minh và Thủ tướng Mẫu từ Dinh Ðộc Lập tới Ðài phát thanh Sài Gòn, rồi tự Tùng và Thệ viết ‘ Bản Tuyên bố đầu hàng ‘ đưa cho Tổng thống đọc nhưng Minh không muốn dùng chức vụ ‘ Tổng thống ‘, mà chi muốn xưng danh hiệu ‘ Ðại tướng ‘.Cuối cùng trước mũi súng, Tổng thống kiêm Ðại tướng Dương Văn Minh, đã phải tuân hành theo mọi mệnh lệnh.

Năm 1992, Bùi văn Tùng có viết một bài liên quan tới các sự kiện trưa ngày 30-4-1975 tại Dinh Ðộc Lập, Sài Gòn. Trong bài viết, Tùng cho biết sau năm 1975, Bùi Tín có làm một Bộ phim về chiến tranh VN nhưng Tùng đã tố Tín, cố tình đạo diễn để cho mọi ngưởi tưởng lầm, chính Tín đã bắt và buộc Dương Văn Minh đầu hàng. Cuối cùng Bùi văn Tùng xác nhận Bùi Tín đã có mặt tại Dinh Ðộc Lập vào chiều ngày 30-4-1975, qua tư cách một nhà báo phóng viên. Nhưng theo Tùng, thì việc bắt Tổng Thống Minh đầu hàng vào lúc 13 giờ 15 ‘ tại Ðài phát thanh Sài Gòn, chứ không phải Dinh Ðộc Lập.

+ NGUYỄN TRẦN THIẾT :

Thiết là một nhà báo Bắc Việt, cho biết vào lúc 12 giờ 12 ‘, Ðại tá CS Nam Long lúc đó đang có mặt Trong Dinh Ðộc Lập, đã tiếp phái đoàn báo chí phe mình, trong đó có Bùi Tín. Thiết cho biết mình vào Dinh DL, với nhiệm vu phỏng vấn TÙ BINH VNCH có mặt tại chỗ lúc đó, gồm TT kiêm Ðại tướng Dương Văn Minh , Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu.. Theo Thiết, vì chỉ trong mấy ngày, mà VNCH đã thay đổi ba lần nội các , qua các Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Bá Cẩn, cuối cùng là Vũ Văn Mẫu, nên quá nhiều ông lớn, nên chẳng biết đâu mà mò.

Trong bài của Thiết, có nhắc tới việc Bùi Tín chửi Dương Văn Minh khi Tổng thống đòi bàn giao Chính quyền với MTGPMN ‘ Nhưng ông đâu có chính quyền để bàn giao ? Người ta không thể giao cái gì không có trong tay. Ngụy quyền cũ từ dưới lên trên đã sụp đổ hoàn toàn ‘.Nhưng Minh vẫn có cãi ‘ Các ông có thấy Sài Gòn không đổ máu ? đó là mơ ước của tôi ‘.Và đã được Bùi Tín trả lời ‘ Ðúng, Sài Gòn gần như không đổ máu, không bi tàn phá. Ðó là do sức áp đảo và khí thế thần tốc của cách mạng ‘.

Mai mĩa nhất là Nguyễn văn Hảo lúc đó đòi được bắt tay với bộ đội Bắc Việt và khoe chính mình đã ngăn cản không cho bất cứ kẻ nào phá hoại nguồn lợi kinh tế của nước ta. Kho bạc còn, vàng dự trữ còn. Công lao của tụi này đấy..

Tóm lại, tại Dinh Ðộc Lập ngày 30-4-1975, theo Nguyễn Trần Thiết thì chính Sáu Hoàng Cao Minh Chiếm, mới là người Ðại diện chính thức của Bắc Việt, chấp nhận sự đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh và nội các.

Riêng Nguyễn Hửu Hạnh nhờ năm vùng, nên sau tháng 5-1975 được Cộng Sản thưởng công làm Ủy viên Ủy Ban Mặt Trận GPMN, thành phó Sài Gòn-Gia Ðịnh rồi lên Ủy viên Ủy Ban Trung Ương Mặt trận Tổ Quốc VN.

+ PHÙNG BÁ ÐẠM:

Tháng 4-2005, trên báo Khoa học phổ thông số 18 xuất bản tại Thành Hồ, có đăng bài ‘ Gặp lại một nhân chứng lịch sử ‘ của Nguyễn Khang Thái ‘.Bài viết ghi lại lời kể của Phùng Bá Ðạm, tự nhận thuộc Trung đoàn 66, Sư đoàn 304, Quân đoan 2, là đơn vị đã vào Dinh Ðộc Lập đầu tiên ngày 30-4-1975. Theo Ðạm kể, khi xe tăng Bắc Việt còn cách Dinh Ðộc Lập khoảng 300m, thì Tô Văn Thành,thuộc Ðại đội 3, Tiểu đoàn 7, ngồi trên xe tăng trúng đạn chết. Vì vậy khi tới gần Dinh DL, xe tăng VC đã mở hết tốc lực ủi sập cổng và tiến vào sân cỏ trước dinh.

Nhờ các nhà báo hướng dẫn, Phạm Xuân Thệ, Phùng Bá Ðạm, Ðào Ngọc Vân.. với lá cờ của MTGPMN chạy lên lầu và gặp Nguyễn Hửu Hạnh ở tầng 2, đón đưa vào phòng khánh tiết, lúc đó đã có TT Minh và nội các đang ngồi chờ đầu hàng. Do Ðài phát thanh Sài Gòn lúc đó đã ngưng hoạt động, nên Thệ, Ðạm áp giải TT Minh và Vũ Văn Mẫu, tới nơi để lên đài, mặc dù Ðại tướng cố từ chối.

Trên đường tới Ðài phát thanh, ngồi trên xe Jeep do Ðào Ngọc Vân lái. Ở băng trước TT Minh ngồi với Phạm Xuân Thệ. Còn Vũ văn Mẫu, Phùng Bá Ðạm, Ðinh Thái Quang cùng 2 bộ đội, ngồi phía sau.

Ðài phát thanh Sài Gòn lúc đó đã bị Tiểu đoàn 8 Bắc Việt chiếm. Chính bản văn ‘ Tuyên bố đầu hàng ‘, mà TT Dương Văn Minh đọc trên đài, là do Phạm Xuân Thệ, Ðinh Thái Quang, Trịnh Ngọc Ước và Phùng Bá Ðạm đạo diễn. Lúc này Trung tá Bùi văn Tùng, Chính Ủy Lữ đoàn 203 Thiết giáp cũng vừa tới. Theo Ðạm kể, vì lúc đó trong bọn, Bùi văn Tùng có cấp bậc cao nhất, nên thay mặt quân Bắc Việt, chấp nhận lời đầu hàng của TT Dương Văn Minh, vào lúc đồng hồ chỉ 11 giờ 30 ‘, ngày 30-4-1975.

Kể từ giờ phút đó Sài Gòn tan hoang và thê thảm nhất là tại Tòa Ðại sứ Mỹ, nằm trên đường Thống Nhất-Mạc Ðỉnh Chi. Phủ Thủ tướng Mẫu, cả con dấu cũng lăn lóc dưới sàn gạch. Trong Bộ Quốc Phòng, Tổng Nha Cảnh Sát, Bộ Tổng Tham Mưu.. đâu đâu cũng ngổn ngang xe Jeep, súng ngắn.. mà người xưa đã đi đâu mất.

Từ đó người VN chịu cảnh đổi đời. Tất cả đều bị Rợ Hồ gọi là Nguỵ, lính tráng là Ngụy quân, công chức là Ngụy quyền và đồng bào Miền Nam cũng thành Ngụy Dân. Nhờ Tổng Thống Minh kịp thời đầu hàng, tránh cho Sài Gòn còn nguyên vẹn, kể cả 16 tấn vàng của Ngân hàng quốc gia do Nguyễn văn Hảo giữ, giúp cho Bắc bộ Phủ, thâu tóm trọn vẹn tài sản của dân chúng và công khố nhà nước một cách đầy đủ. Tóm lại, nhờ “ công cách mạng giải phóng “, nên người Việt từ bắc vào nam, chịu chung cảnh người thành vượn, đói rách thảm thê, không có bút mực nào diễn tả cho trọn vẹn..

Người ta trách ông Minh ham sống sợ chết, không biết hành xử xứng đáng với cương vị và thân phận của mình. Ðường đường là một Ðại tướng, Lãnh tụ phe thứ ba và trên hết là Tổng thống của một nước nhưng ông Dương Văn Minh, đã cố tình làm ngơ, các gương trung liệt nghĩa khí của người xưa, gương anh hùng bất khuất của thuộc hạ trước mắt ‘ Chết để giữ tròn khí tiết, chết vinh hơn sống nhục ‘.

Trưa 30-4-1975, khi TT Minh ra lệnh QLVNCH buông súng đầu hàng. Nhiều binh sĩ đang chiến đấu tại mặt trận đã tự tử chết, vì họ không muốn đối mặt với kẻ thù tàn ác dã man. Các tướng lãnh Phạm Văn Phú (Tư Lệnh QD2), NguyễnKhoa Nam (Tư lệnh QD4), Lê văn Hưng (Tư Lệnh Phó QD4), Lê Nguyên Vỹ (Tư lệnh SD5BB), Trần Văn Hai (Tư Lệnh SD7BB).. kẻ trước người sau, quyên sinh để bảo toàn khí tiết cho quân đội Miền Nam nói chung và danh dự của một cấp chỉ huy, lúc sa cơ thất thế.

Trái lại Ðại Tướng cũng là Tổng thống Dương Văn Minh, khúm núm ra trình diện trước các tên cán binh tép riu của Bắc Việt như Bùi Quang Thận, Ðại Ðội Trưởng, DD Chiến Xa, để rồi bị tên chủ nhiệm chính tri của đoàn xe tăng mang số 203, tên Lê Văn Minh nạt nộ :’ các anh đã bị bắt, không có bàn giao gì cả ‘.

Thanh niên nam nữ, miền Nam VN, thế hệ sinh từ 1900 về sau, thường mượn tư tưởng làm trai của Nguyễn Công Trứ, để làm hành trang xử thế khi vào đời :

‘ Ðã mang tiếng đứng trong trời đất
phải có danh gì với núi sông ‘

Còn ông Dương văn Minh lại là một nhân vật lớn của lịch sử, tại sao không vì lịch sử, mà lưu lại cho hậu thế cái khí tiết ‘ Nhất Tướng Công Thành, Vạn Cốt Khô ?’

Image result for vc tấn công 30-4-75

Thì ra con người cũng có năm bảy hạng người.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

- Những ngày cuối cùng của VNCH (Nguyễn Khắc Ngử)
- VN. Niên Biểu Nhân vật Chí của Chánh Ðạo
- Nam Kỳ Lục Tỉnh (IV) của Hứa Hoành
-Ðôi dòng ghi nhớ của Phạm bá Hoa
-QLVNCH trong giờ cuối


Sài Gòn hấp hối (hay là Ngày Buồn Nhất)

Bảo Định

Sài Gòn, ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Sàigòn thật sự đã lọt vào tay quân CSBV lúc 11 giờ 30 trưa ngày 30.4.1975, khi tên lính xe tăng chạy lên nóc sân thượng Dinh Độc Lập hạ lá Cờ vàng và treo lá Cờ Máu. Từ lúc 9 giờ sáng, Tổng thống Dương Văn Minh và Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng BTTM/QLVNCH, đã liên tục kêu gọi tất cả Binh sĩ QLVNCH ngưng chiến đấu, buông súng, ai ở vị trí nào thì ở đó, chuẩn bị bàn giao chính quyền cho “Người anh em phía bên kia”.

Người thiếu phụ trẻ với vẻ mặt hoảng hốt, rảo buớc đôi chân từ đầu đường Nguyễn Thông nối dài, dừng lại trước nhà Hùng, nói vọng vào :

– Ông Thiếu tá. Ông hãy mau thay đồ xi-vin và tránh đi. Bộ đội VC đã về đầy đường Lê Văn Duyệt, chúng sắp đi qua Biệt Khu Thủ Đô.

– Thế chiếc xe Jeep của tôi đâu ?

– Chúng đuổi tài xế và lấy đi rồi.

(Hùng là Đại đội trưởng ĐĐ3 của Tiểu đoàn, bị thương tại trận đánh cuối cùng ở Xuân Lộc, được chuyển về Bệnh viện Trần Ngọc Minh để điều trị. Khi có lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh, bị xuất viện, đang tìm phương tiện trở về nhà, thì gặp tôi vừa đến Sân Cộng Hòa. Nhà Hùng nằm sâu trong đường Nguyễn Thông nối dài, xe hơi không vào được. Tôi phải cho xe đậu lại trước một quán tạp hóa của một thiếu phụ, có tài xế trông chừng.)

Lúc đó trời gần trưa. Tôi vừa mới từ đầu cầu Phan Thanh Giản ở Dakao, định ra Thủ Đức để gặp Tiểu đoàn. Nhưng đơn vị Địa Phương Quân giữ cầu ngăn lại. Tôi gặp một vị Đại tá, có lẽ thuộc BKTĐ, nói lý do cần phải ra Thủ Đức, thì được cho biết rằng quân CSBV đã qua Thủ Đức, đến hãng xi-măng Hà Tiên, sắp qua cầu xa lộ. Không biết số phận của Tiểu đoàn tôi như thế nào ? Lòng lo lắng và bồn chồn. Thôi đành chịu. Vừa lúc quay đầu xe thì gặp vị Trung úy Tùy viên của Đại tá Tư lệnh phó Sư đoàn Nguyễn Văn Mai, chuyển lệnh là tất cả Sư đoàn về tập trung tại sân Cộng Hòa. Tôi cho xe chạy về sân Cộng Hòa.

Ngày 29.4.1975

Trận chiến ác liệt kéo dài nhiều ngày tại Trảng Bom. Kể từ khi Sư đoàn 18BB triệt thoái khỏi mặt trận Xuân Lộc, về lập tuyến phòng ngự tại đây. Lữ đoàn 3/XK của Tướng Trần Quang Khôi đã lui về phòng thủ thành phố Biên Hòa. Nếu lực lượng xe pháo hùng hậu của Tướng Khôi, cùng các đơn vị của Sư đoàn 18BB cùng chung lập tuyến phòng ngự, thì quân CSBV đã không thể nào vượt qua được Trảng Bom. Sau ngày 20.4.75, Trảng Bom đã là tuyến phòng ngự cuối cùng của QLVNCH chống quân CSBV phương Bắc xâm lăng. Thật đáng tiếc là những chi đoàn M.48 tối tân đã bị chôn chặt trong một vùng đất nhỏ hẹp là thành phố Biên Hòa, thay vì được vẫy vùng trong một không gian rộng mỡ là Trảng Bom để thi thố tài năng. Được biết những chiếc xe tăng T.54 hay PT.76 của quân CSBV không thể nào đương đầu nỗi với những chiến xa M.48 tối tân của ta.

Đến sáng ngày 29.4, áp lực quân CSBV với nhiều xe tăng và đại pháo, đã đè nặng lên những chiến binh QLVNCH. Vã lại, những chiến binh Sư đoàn 18BB đã quá mệt mỏi sau trận chiến kéo dài suốt 12 ngày đêm tại Xuân Lộc. Họ đã không có thời gian nghỉ ngơi, lại đã lao vào một trận chiến mới. Họ đã không có thời gian và phương tiện để lập tuyến phòng ngự kiên cố, ngoài những chiếc xẻng cá nhân, để đào vội vã những hố chiến đấu cá nhân. Cuối cùng quân bạn bị đè bẹp truớc một đối phương áp đảo về quân số, xe tăng và pháo.

Phòng tuyến vỡ, Đại úy Trần Văn Thân, Trưởng Ban 3 Tiểu đoàn 1/43 tử thương, vị Tiểu đoàn trưởng bị giặc bắt. Khi vị TĐT bị dẫn đến gặp tên Thủ trưởng E (tức Trung đoàn trưởng), tên này nói : “May mà anh bị chúng tôi bắt, nếu anh gặp đơn vị kia (ý hắn muốn ám chỉ đến Sư 341/CSBV), thì anh đã bị chúng giết tại chỗ !). Câu nói này của tên cán binh CSBV làm cho ta liên tưởng đến sự thiệt hại nặng nề của Sư 341 tại Xuân Lộc).

Tại Sàigòn, Dinh Độc Lập đã có chủ mới. Đại tướng Dương Văn Minh trở thành vị Tổng thống thứ ba của nền Đệ Nhị Cộng hòa. Ngày 21.4.1975, khi tôi cùng đơn vị đang băng rừng vượt suối từ Long Giao hướng ra Long Thành thì Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã từ chức, trao quyền lại cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương. Nhưng do áp lực từ mọi phía, Tổng thống Hương buộc phải trao quyền lại cho Dương Văn Minh vào lúc 5 giờ chiều ngày 28.4.75 tại Dinh Độc Lập. Thoạt đầu cụ Hương chỉ có ý định mời DVM làm Thủ tướng toàn quyền, vì bản thân cụ Hương cũng như dư luận đinh ninh rằng DVM (thủ lãnh thành phần thứ ba), có thể điều đình với CSBV. Nhưng DVM nhất quyết cụ Hương phải trao quyền Tổng thống cho ông ta: “Thưa thầy, suốt cuộc đời thầy đã hy sanh cho dân cho nước, thì bây giờ thầy hy sanh một lần nữa cũng chẵng sao. Thầy giao cái chức Tổng thống lại cho tôi. Thầy đã thương thì thương cho trót !” (Ngày xưa DVM là học trò của thầy giáo Hương). Nghe vậy, cụ Hương trả lời : “Xin lỗi Đại tướng, cái chức Tổng thống là do dân bầu ra chớ không phải là chiếc khăn Mouchoir đâu mà tôi muốn trao ai thì trao !” Nhưng rồi vì áp lực, cụ cũng đành trao lại quyền Tổng thống cho DVM, để chỉ 24 tiếng đồng hồ sau đó thì giao lại Chính quyền cho CSBV.

Trích bài diễn văn trao quyền của cụ Hương :

“Khi Tổng thống tiền nhiệm trao nhiệm vụ cho tôi, tôi vẫn biết sức già, dầu muốn dầu không, tuổi đời đã cao, sức lực đã mòn, tức nhiên là không thể đảm trách được một nhiệm vụ lớn lao trong khi mà nước nhà đã trải qua một buổi khó khăn vô cùng không thể tưởng tượng được. Bởi vậy cho nên trong lòng tôi vẫn mong mỏi rằng dầu thế nào cũng phải có được một người ra lãnh cái trách nhiệm này để lo cho việc nước. Gọi là cú vét phần nào, cái gì gọi là quyền lợi, cái gì gọi là danh dự của nước Việt Nam Cộng Hòa chúng ta.”

“Khi tôi đến trao đổi ý kiến với Đại tướng Dương Văn Minh, điểm làm tôi thắc mắc là điểm pháp lý, bởi vì nếu tự nhiên tôi đem cái quyền của tôi trao lại cho Đại tướng thì như vậy về phuơng diện pháp lý không hợp lý chút nào. Điểm đó tôi cùng Đại tướng đã có thảo luận. Sau khi ra ngoài lưỡng viện, tôi cũng có trình bày, và lưỡng viện sau khi thảo luận hai ngày thì tìm ra được giải pháp mà đây tôi tin là giải pháp đáp lại với chỗ mong mỏi của mọi người.”

“Thưa quý vị, điểm thắc mắc về pháp lý hết rồi, thì về mặc đó chúng ta không còn băn khoăn chi nữa, thì dầu muốn dầu không cái chuyện lớn lao hiện giờ không còn là chuyện pháp lý nữa, thì việc làm sao cho nước Việt Nam Cộng Hòa dẫu tình hình có khó khăn đến đâu đi nữa, thì cũng phải giữ phần nào để bảo tồn được. Nếu không toàn vẹn hết thì cũng là phần nào cái danh dự của tổ tiên chúng ta.”

“Thưa Đại tướng, dù muốn dù không, một chương lịch sử đã dở qua rồi, những chương sẽ viết tới đây sẽ do nơi tay của Đại tướng…”

Trích bài đáp từ của tân TT DVM :

“Kính thưa Thầy !

Qua những lời của thầy làm cho tôi rất cảm kích. Thầy đã ghi nhận tình thế Quân sự cũng như mọi mặt bi đát, làm cho tôi phần nào yên tâm vì cái sự khó khăn mà tôi gặp phải. Những lời khuyên dạy của thầy hôm nay tôi sẽ ghi mãi trong lòng và thầy hãy yên tâm. Chúng tôi đã lâu nay thấy không còn giải quyết vấn đề của chúng ta bằng võ lực không, mà không có kèm theo một giải pháp chính trị nào thì không thành công. Vì đó anh em chúng tôi đã mấy năm nay, thảo luận tìm được giải pháp chúng tôi đã lựa chọn, giải pháp hòa giải Dân tộc.”

“Nói như thế để thầy yên tâm. Nếu có hận thù thì không thể lấy hận thù ra mà trả đối với tất cả mọi ai. Chúng ta đã chủ trương hòa giải với đối phương, không lý do nào chúng tôi không hòa giải được với anh em một nhà. Thầy cứ yên tâm. Tôi xin hứa với thầy…”

Hai ngày sau, DVM kêu gọi :

“Đường lối chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp Dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hãy bình tĩnh, không nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng. Chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ CMLTCHMNVN để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự và tránh đổ máu vô ích của đồng bào.”

Nhưng CSBV không cho ông Minh “bàn giao”, mà họ bắt ông “đầu hàng vô điều kiện”.

Khác hẳn với cựu Tổng thống Thiệu, cụ Hương đã ở lại với đồng bào và Chiến sĩ, nhất quyết không chịu xuất ngoại.

Ngày 29.4, Đại sứ Hoa Kỳ Martin cùng với Tham vụ Sứ quán biết nói tiếng Pháp, tìm cách gặp cụ Hương tại tư dinh trên đường Công Lý : “Thưa Tổng thống, tình trạng hiện nay rất nguy hiểm. Nhân danh chính phủ Hoa Kỳ, chúng tôi đến mời Tổng thống rời khỏi nước, đi đến bất cứ xứ nào, ngày giờ nào, với phương tiện nào mà Tổng thống muốn. Chính phủ chúng tôi cam kết bảo đảm cho Ngài một đời sống xứng đáng với cương vị Tổng thống cho tới ngày Tổng thống trăm tuổi.”

Cụ Hương trả lời : “Thưa ngài Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đổi như vậy HK cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông Đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ, và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng Cộng sản vào được Sàigòn, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng Miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia xẻ với họ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cảm ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi.”

Khi nghe câu “Les État Unis o­nt aussi leur part de resposibilités”, Đại sứ Martin giật mình nhìn trân cụ Hương. Năm 1980, ông thuật lại với tôi (Giáo sư Nguyễn Ngọc An): “Dứt câu chuyện, o­n ne sépare sans même se serer la main”.
Quyển sách có nhiều tranh cải với tựa đề “Sàigòn et Moi” Đại sứ Pháp Mérillon cho biết, trước ngày 28.4.75, ông ta có chuyển lời mời cụ Hương sang sinh sống ở Pháp sau khi giao quyền cho DVM, thì cụ đã trả lời: “Ông Đại sứ à, tôi đâu có ngán VC. Nó muốn đánh, tôi sẽ đánh tới cùng. Tôi chỉ sợ mất nước, sống lưu đày ở xứ nguời ta. Nếu trời hại nước tôi, nước tôi mất, tôi thề sẽ ở lại đây, và mất theo nước mình.”

Vào những ngày cuối của cuộc chiến, Tổng thống Mỹ Gerald Ford cho thi hành một chiến dịch di tản 3,000 trẻ mồ côi, con lai bị bỏ rơi, đưa sang định cư tại các nước tư bản Mỹ, Pháp, Úc, Canada,…làm con nuôi. Kinh phí lên trên 2 triệu USD, thuộc quỹ hỗ trợ đặc biệt trẻ em. Chiến dịch chính thức bắt đầu từ ngày 3.4.75 – 26.4.75. Chiếc C5-Galaxy chở 180 người bị tai nạn tại ngoại ô Sàigòn, khiến 155 người thiệt mạng, trong đó có 76 trẻ em.

Được một người bạn là Pilot F-5 thuộc Sư đoàn 3 Không quân cho biết : kể từ ngày 21.4. KQ đã có kế hoạch di tản thân nhân qua Utapao (Thái Lan). Một người bạn Hải quân thì cho biết, từ ngày 29, Hải quân đã có kế hoạch ra khơi.

Sứ quán Mỹ tại Sàigòn thì đã có kế hoạch di tản cho nhân viên sứ quán và những người Việt từng cộng tác chặt chẻ. Dự trù ban đầu là vài chục ngàn người.

Những đơn vị di tản từ Miền Trung vào, từ Cao Nguyên xuống, khi ghé lại Bình Tuy hay Bà Rịa, có những cấp chỉ huy không về Sàigòn trình diện, đã nấn ná ở đó rồi tìm cách ra khơi.

Hạm đội 7 Hoa Kỳ đậu ngoài khơi Vũng Tàu cách 12 hải lý, không phải để giúp QLVNCH chống trả quân CSBV đang áp át Sàigòn, mà là để đón nhận làn sóng người di tản.

Những tin tức như vậy đã lan truyền rộng rãi ra ngoài dân chúng, đã ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của những người cầm súng.

Nếu người bạn đồng minh Hoa Kỳ thực hiện lời hứa rằng sẽ trả đũa CSBV như Tổng thống Nixon hứa với Tổng thống Thiệu, thì phải nói như thế này : “Cho kẹo quân Bắc Việt cũng không dám tiến công Sàigòn !”

Buổi chiều ngày 29.4, Cộng quân pháo kích dữ dội vào kho đạn Long Bình, làm nổ kho đạn. Đạn nổ liên hồi, khói đen cuồn cuộn bốc lên che phủ cả một góc trời.

Tiểu đoàn 2/43, sau khi rời mặt trận Xuân Lộc, là đơn vị rút ra sau cùng, về đến Long Bình, được giao nhiệm vụ bảo vệ Bộ Tư Lệnh Sư đoàn. Nhưng tôi vẫn đặt BCH/TĐ bên ngoài căn cứ, tại Tiền trạm của TĐ, ngay trước cổng BTL. Khi cộng quân bắt đầu pháo kích Long Bình, tôi đưa BCH/TĐ vào bên trong. Tình cờ gặp viên Trung úy ĐĐT Quân Cảnh, anh này khẩn khoản mời tôi đặt BCH/TĐ tại văn phòng Đại đội của anh.

Lối 6 giờ chiều, tôi được gọi lên gặp Tướng Tư lệnh.

Sáng nay vào lúc giữa trưa, Tướng Tư lệnh Quân đoàn Nguyễn Văn Toàn bay trực thăng đến gặp các vị tư lệnh trực thuộc. Nhưng chỉ có Tướng Đảo và Tướng Khôi. Tướng Lê Nguyên Vỹ (TL/SĐ5BB) đang bận rộn ở Lai Khê; Tướng Lý Tòng Bá (TL/SĐ25BB) đã bị địch bắt ở Củ Chi; Tướng Phan Đình Niệm (TL/SĐ22BB), vừa được tái phối trí ở Bến Lức, không thấy về. Tướng Toàn cho chỉ thị: Sư đoàn 18BB phòng thủ căn cứ Long Bình, kiểm soát xa lộ Biên Hòa; Lực lượng Xung kích Quân đoàn III phòng thủ bảo vệ Thành phố Biên Hòa. Theo Tướng Khôi viết trong “Chiến Đấu Đến Cùng”, Tiểu khu trưởng và Tiểu khu phố Biên Hòa đã bỏ đi từ mấy ngày trước !

Sau khi ban lệnh xong, Tướng Toàn nói : “Hai anh cố gắng, tôi sẽ bay về Bộ TTM xin yểm trợ cho hai anh.”

Tướng Đảo cho biết, đúng 12 giờ khuya đêm nay, BTL/SĐ sẽ di chuyển về Thủ Đức, và chỉ thị tôi phải bảo vệ căn cứ Long Bình. Nếu giữ được Long Bình thì Long Bình là của mình. Theo Tướng Đảo, một phái đoàn của chính phủ đi gặp đối phương để bàn chuyện ngưng bắn da beo. Ông cũng cho biết tất cả những cây cầu bắt qua sông Đồng Nai đều đã được đặt mìn. Hiện giờ quân Dù có một đại đội giữ cầu Đồng Nai, và có một toán Công binh lo nhiệm vụ phá cầu khi có lệnh. Quân của Tướng Khôi bảo vệ thị xã Biên Hòa.

Sau khi gặp hai vị Tư lệnh thuộc quyền, Tướng Toàn bay về nhà Gò Vấp, rồi tiếp tục bay ra Hạm đội 7 ở ngoài khơi Vũng Tàu.

Theo “Những Sự Thật Chiến Tranh Việt Nam 1954 – 1975”: “Chiều ngày 29.4.1975, Tướng Toàn tìm mọi cách liên lạc với giới chức có thẩm quyền để được xác nhận việc đổ bộ của hai Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, nhưng không gặp được ai. Tướng Toàn đã dùng trực thăng bay ra chiến hạm Blue Ridge, soái hạm của Tư Lệnh Đệ Thất Hạm Đội 7 để yêu cầu xác nhận. Tuy nhiên Hoa Kỳ cho biết không có kế hoạch này.”

Theo Tướng Khôi, khi trực thăng của Tướng Toàn bay ra tới Vũng Tàu, đã thấy các Tướng Hoàng Xuân Lãm và Phan Hòa Hiệp đang chờ ở đó.

Được một Sĩ quan tham mưu cho biết, buổi chiều ngày 29.4, Tướng Đảo đã triệu tập một cuộc họp tại BTL. Ông đã nghẹn ngào khi tâm sự cùng các chiến hữu :

– “Tôi sẽ ở lại chiến đấu với các anh em. Vợ con tôi vẫn ở lại Sàigòn, không đi đâu cả. Tôi có trực thăng, nhưng tôi sẽ không bỏ anh em để bay ra Hạm đội”.

Trong khi đó, ngay từ ngày 22.4.75, tức là khi Xuân Lộc mới bị bỏ ngõ, Tướng Khôi đã viết thư cho Trung tướng Charles Timmes, Phụ tá của Đại sứ Martin : “…Tình hình gần như tuyệt vọng…Tôi chỉ xin Trung tướng giúp cho gia đình tôi được di tản đến một nơi an toàn…” (Trần Quang Khôi/Chiến Đấu Đến Cùng)

Khi ở văn phòng TL/SĐ ra về thì tôi lại nhận lệnh đi gặp Đại tá Trung đoàn trưởng. Vị Đại tá nói, chỉ thị của TL/SĐ cho anh là “Kế hoạch Alpha”. Nếu tôi bảo thi hành kế hoạch Bravo là anh đưa TĐ qua bên kia sông Đồng Nai lập tuyến phòng thủ.

Đúng 12 giờ khuya, tôi nghe tiếng động cơ trực thăng cất cánh, và xe pháo của SĐ chuyển bánh. Tôi biết Tướng Đảo đã rời Long Bình và SĐ bắt đầu di chuyển. Tôi cứ đinh ninh Tướng Đảo dùng trực thăng bay về Thủ Đức. Nhưng không, một lần nữa, ông đã đi đường bộ cùng với Quân sĩ. Ông đã trả trực thăng về cho SĐ3/KQ.

Theo Tướng Khôi, lúc 22 giờ 10, Trung tướng Nguyễn Hữu Có, từ Dinh Độc Lập, điện thoại hỏi Tướng Khôi về tình hình Biên Hòa, sau đó nói tiếp : “Đại tướng (tức TT/DVM) hỏi anh có thể giữ được Biên Hòa đến 8 giờ sáng mai ? Lệnh của Đại tướng cho anh : Chỉ huy phòng thủ Biên Hòa đến 8 giờ sáng ngày 30.4.1975…”

Lối 1 giờ sáng, tôi nhận lệnh thi hành “Kế hoạch Bravo”. Sau này được biết, tối ngày 29.4.75, Trung tướng Vĩnh Lộc, Tân TTMT/Bộ TTM/QLVNCH đã điện thoại cho Tướng Đảo, ra lệnh đưa Sư đoàn 18BB về lập phòng tuyến bên kia sông Đồng Nai.

Tôi định dẫn TĐ qua ngã cầu Đồng Nai rồi bố trí quân theo bờ Nam của con sông. Nhưng đơn vị canh giữ cầu không cho qua cầu, tôi đành phải cho lệnh đổi hướng về Cầu Ghềnh. Lúc trời đã sáng rõ thì cũng là lúc đơn vị đã qua sông. Tiểu đoàn đi qua Tân Vạn, hướng ra xa lộ, gần Nghĩa Trang Quân đội. Khi còn cách xa lộ vài trăm mét, thì đoàn cơ giới của quân CSBV đã qua cầu, đang chạy về hướng Sài Gòn. Tôi cho lệnh dừng lại, tiến chiếm ngay ngôi biệt thự bên trái đường. Chung quanh ngôi biệt thự có hàng rào kẽm gai và bờ đất đắp cao, là vị trí bố phòng tốt. Một cuộc tao ngộ chiến xảy ra. Hỏa lực bộ binh chống hỏa lực xe tăng! Hai bên bắn qua bắn lại một lúc thì đoàn cơ giới của cộng quân tiếp tục chạy. Hình như bọn chúng không có ý định đối đầu với đơn vị tôi. Xa lộ Biên Hòa, từ cầu Đồng Nai đến Nghĩa Trang Quân đội đầy VC. Tôi cho lệnh TĐ đổi hướng ra QL1. Tôi định di chuyển nhanh để đến nhà máy lọc nước Thủ Đức bố trí quân. Từ chiều ngày hôm qua, tôi đã cho chuyển tiền trạm TĐ về đây trước. Tại QL1 là một rừng người và xe cộ đủ loại. Tất cả các đường đổ ra QL1 dẫn về Sài Gòn, người người và xe cộ chen chúc nhau. Người đi bộ tràn xuống đường, chen với xe đò, xe vận tải, xe trâu, xe bò và xe ngựa. Tất cả đều hối hả, tranh nhau đi. Tốc độc của người đi bộ còn nhanh hơn cả xe.

Tiểu đoàn di chuyển theo đội hình hàng dọc. Đoàn quân đi giữa dòng người di tản và xe cộ đủ loại một cách chậm chạp. Có lúc không nhích lên được bước nào ! Tôi nóng lòng về Thủ Đức, nơi đặt tiền trạm để xem kho tàng lương thực và đạn dược, đồng thời khảo sát địa thế bố trí quân. Khi đơn vị qua khỏi núi Châu Thới, không có Tiểu đoàn phó, tôi gọi Đại úy Võ Văn Mười (K.25 Võ bị ĐL), ĐĐT/ĐĐ2/2, giao trách nhiệm dẫn TĐ. Tôi và vài Sĩ quan tham mưu thân cận ngồi trên xe Jeep, trôi theo giòng người di tản. Cần nói thêm, sau khi đơn vị thoát được vòng vây giặc về đến Long Bình, Tướng Tư lệnh cho phép 50% Tiểu đoàn đi phép 24 tiếng về thăm gia đình. Quá 24 tiếng, một số vẫn chưa trở lại đơn vị, trong đó có vị Tiểu đoàn phó của tôi.

Xe đến ngã ba chợ Thủ Đức, tôi bảo tài xế lái xe hướng ra xa lộ. Đoàn người chạy loạn từ hướng ngã tư xa lộ vào, tràn xuống cả đường, xe phải lách, luồn, khó khăn lắm xe mới nhích được đến Đường Sơn Quán. Trong đoàn người chạy loạn có cả lính. Rất nhiều người chận đầu xe tôi không cho chạy :

“VC về đầy Nghĩa trang Quân đội, xe tăng và bộ đội đang hướng về Sài Gòn, Thiếu tá không thể đi, phải quay đầu lại !”
Mỗi lúc đoàn người lại đông thêm. Không còn cách nào khác, tôi đành cho xe quay lại. Đoàn nguời chạy loạn từ Biên Hòa, ào ào như một giòng nước chảy xiết. Chiếc xe của tôi lọt vào giữa giòng người di tản. Tôi không liên lạc được với đơn vị. Tôi nghĩ có lẽ về Sài Gòn rồi tìm cách ra nhà máy nước Thủ Đức. Tại Cầu Sơn, tôi thấy một đơn vị pháo của Sư đoàn 18. Đại tá Ngô Kỳ Dũng, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 52 đang cho lệnh pháo hướng nòng về ngã tư xa lộ.

Đường lên cầu đã bị những con ngựa kẽm gai chắn lối với nhiều lính gác, không thể đi qua được. Một Thiếu tá chỉ huy đi lui đi tới, ra lệnh không cho bất cứ ai qua cầu. Có lúc vị chỉ huy và lính gác phải nổ súng chỉ thiên để ngăn cản một số người cố vượt qua. Nhưng đoàn người di tản mỗi lúc lại đông thêm, đã giành nhau với lính gác những con ngựa kẽm gai. Một bên cố giữ lại, một bên cố xô dạt ra lấy lối đi. Cho đến một lúc sau thì “tức nước vỡ bờ !” Đoàn người di tản như giòng thác lũ đã cuốn phăng những con ngựa kẽm gai, cuồn cuộn chảy về Sài Gòn.

Đối với người dân, Sài Gòn là thủ đô, là nơi không thể mất, là nơi an toàn để lánh nạn. Kinh nghiệm hồi Tết Mậu Thân 1968, dù có đánh nhau, vài nơi bị Cộng quân chiếm, như Chợ Lớn, đồng Ông Cộ Gia Định, thậm chí cả Tòa Đại sứ Mỹ, nhưng cuối cùng Cộng quân cũng bị đánh bật ra khỏi thành phố. Nhưng lần này thì khác. Tình thế đã đổi thay. Cộng quân cứ để cho người dân chạy về Sài Gòn, càng đông càng tốt, để gây sự hỗn loạn. Sài Gòn bây giờ như một cái “nơm đơm cá”.

Trước sự hỗn loạn của dân chúng, truớc sự đe đọa của cộng quân rằng sẽ san bằng bình địa Sài Gòn với hằng trăm khẩu đại pháo. Tổng thống 48 giờ Dương Văn Minh và chính phủ hèn nhác của ông đã hoảng sợ thực sự! Mặc dù trong những ngày cuối cùng đó, một cựu tướng lãnh Pháp là Vanuxem đã nhiều lần ra vào Dinh Độc Lập, khuyến dụ Dương Văn Minh hãy ra lệnh cho Quân đội tiếp tục chiến đấu. Chỉ trong vòng 48 tiếng, quân CSBV sẽ nới lỏng vòng vây, vì quân Tàu cộng sẽ tràn qua biên giới phía Bắc, buộc CSBV phải ngừng cuộc tấn công VNCH, để lo giữ đất ở phía Bắc ! Nhưng DVM đã không có cái nhìn xa, sợ rằng sẽ mang tiếng “Cõng rắn cắn gà nhà” như Lê Chiêu Thống ngày xưa. (Nhưng nếu ngày đó DVM nghe lời cố vấn của Tướng Vanuxem, vẫn ra lệnh cho Quân đội tiếp tục chiến đấu, quân Tàu cộng vượt biên giới phía Bắc, chiếm một vài tỉnh như chúng sẽ làm trong cuộc chiến năm 1979, quân CSBV buộc phải ngưng cuộc tấn công VNCH, rút một phần chủ lực về Bắc để chống Tàu cộng. Cũng nên biết, vào những ngày cuối tháng Ba và đầu tháng Tư, để chuẩn bị cho việc đánh chiếm VNCH, CSBV đã chuyển toàn bộ Quân lực vốn có, chỉ chừa lại một Sư đoàn để bảo vệ Thủ đô Hà nội. Do đó, miền Bắc đã bị bỏ ngỏ, quân Tàu cộng sẽ dễ dàng tiến chiếm các tỉnh dọc theo biên giới. Giả dụ nếu Tàu cộng chiếm trọn miền Bắc, VNCH sẽ phát động cuộc chiến chống kẻ thù phương Bắc để đuổi chúng ra khỏi bờ cõi. Một cuộc chiến tranh như vậy sẽ dễ dàng huy động toàn dân toàn quân đoàn kết một lòng chống kẻ thù, đánh bại quân xâm lược, như ta đã thấy trong lịch sử thời nhà Trần chống quân Nguyên Mông, nhà Lê chống giặc Minh, hay nhà Tây Sơn đánh bại quân nhà Thanh tại gò Đống Đa (Hà nội).

Thực tế thì như thế nào ? DVM đã để cho CSBV nuốt trọn Miền Nam, để rồi chúng dâng toàn bộ lãnh thổ từ Nam Quan đến Mũi Cà Mâu và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Tàu cộng. Chúng đã lén lút ký mật ước Thành Đô, biến Việt Nam thành xứ tự trị năm 2020, xứ thuộc trị năm 2060, và năm 2080, Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh của Tàu cộng.

Vì hoảng sợ, DVM ngây thơ đã vội tìm cách điều đình với “người anh em phía bên kia”. Thật ra, chỉ là “người anh em phía bên kia” của DVM mà thôi ! DVM có người em ruột là Trung tá bộ đội CSBV tên là Dương văn Nhựt. Có lẽ qua tên Nhựt này mà DVM đã mất hết dũng khí của con nhà Tướng. Được biết chiều ngày 29.4.1975, một phái đoàn chính phủ do Giáo sư Bùi Tường Huân, cựu Viện trưởng Đại học Huế, cựu Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục, đương kim Bộ trưởng Quốc Phòng, cầm đầu ra xa lộ Đại Hàn để thương thuyết, điều đình với VC, nhưng đã bị giữ lại làm con tin cho đến khi chúng chiếm được Sài Gòn. Đồng thời một phái đoàn khác cũng được gửi vào Tân Sơn Nhất, đến trại David, gặp Phái đoàn VC trong Ban Liên hợp Hai bên, để điều đình ! Nhưng cũng bị giữ lại làm con tin cho đến khi Sài Gòn thất thủ.

Tôi cho xe chạy giữa lòng phố Sàigòn hỗn loạn ! Sàigòn, Hòn ngọc Viễn đông ! Sàigòn, Petit Paris. Sàigòn hoa lệ, Sàigòn thân thương và yêu quí của tôi. Sàigòn của hơn 3 triệu dân cư, với diện tích hơn 97 cây số vuông. “Sàigòn đẹp lắm ! Sàigòn ơi ! Sàigòn ơi !” Sàigòn nghiêng mình soi bóng trên giòng sông Bến Nghé, cuồn cuộn xuôi giòng chảy ra Biển Đông. Sàigòn có những đại lộ thênh thang, những con phố hoa lệ. Sàigòn tấp nập xe cộ, và người đi lại như mắc cửi. Sàigòn có những cây dài bóng mát, có những tà áo dài bay lượn trong nắng sớm chiều hôm. Sàigòn có những công viên ghế đá, nơi hẹn hò của những cặp tình nhân. Sàigòn, Thủ đô của VNCH. Sàigòn, biểu tượng của Tự Do, Dân Chủ, biểu tượng của Hạnh Phúc và Ấm No.

Nhưng Sàigòn sắp không còn nữa. Sàigòn sắp bị thay tên bằng tên của con cáo già đã chết, tên Hồ Chí Minh, tên một xác người đang nằm thối rữa tại Ba Đình, Hà Nội ! Sàigòn đang hấp hối, đang trút hơi thở cuối cùng !

Và Sàigòn đã chết thật rồi khi từ hướng Đại lộ Thống Nhất, thấp thoáng xe tăng CSBV hung hăng tiến vào cửa Dinh Độc Lập đã được mở sẵn theo lệnh của Đại tá Chiêm (chánh Võ phòng), nhận chỉ thị của DVM cho mở cổng dinh để chờ đón “Người anh em phía bên kia” đến nhận bàn giao chính quyền. Đó là hai chiếc tăng mang số hiệu 840 và 390 của quân CSBV. Khi đến cổng dinh, một tên bộ đội ngồi trên xe tăng ra lệnh cho người lính gác khép cổng lại. Người lính gác chần chờ, quay vô hỏi lệnh Sĩ quan trực. Phóng viên tập san ANAI của cựu chiến binh Pháp, thuật lại cảnh tên bộ đội Phạm Xuân Thệ nhảy xuống khóa chặt cổng chánh, rồi cho xe tăng của mình húc đổ. (ANAI : Association national des anciens Amis de l’Indochine, số tháng 5.1977). Một chiếc T-54 khác do tên Đại đội trưởng Lê Văn Thận lái, chạy vào cổng phụ và bị kẹt. Hắn liền nhảy xuống xe, cầm lá cờ nửa xanh nửa đỏ, có ngôi sao vàng ở giữa, của cái gọi là “Chính phủ Lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam” chạy lên sân thượng, hạ lá Cờ Vàng, thay vào lá Cờ Máu kéo lên. Lúc đó là 11 giờ 30 trưa ngày 30.4.1975. Đó là hai chiếc tăng mang số hiệu 840 và 390 của quân CSBV.

Khi lệnh ngưng bắn của DVM ban ra, các đơn vị của QLVNCH trên khắp lãnh thổ VNCH đều tuân theo – chỉ trừ một vài đơn vị bất tuân, đã chống cự lại, nhưng rồi cũng buông súng, trút bỏ bộ Quân phục, rồi trở về nhà.

QLVNCH là một Quân đội có kỷ luật, nên dù muốn dù không, phải thi hành lệnh. Do đó bộ đội CSBV tiến vào Sàigòn hầu như đã không gặp một sức kháng cự nào. Chúng đã thoải mái tiến vào Sàigòn, như vào chỗ không người !

Người dân Sàigòn không hề hoan nghênh đoàn quân xâm lược. Hầu hết họ đóng cửa, nhìn qua cửa sổ xem đoàn quân dép râu nón cối, như “Đàn bò vào thành phố”. Chỉ có những tên nằm vùng, một số phần tử hoạt đầu, những kẻ “cách mạng 30”, hay những nguời vì sợ, đã ra đường hoan hô “cách mạng”. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, một kẻ hèn nhác, trốn lính, làm nhạc phản chiến, như là cái cớ cho việc trốn lính của mình, đã “hồ hởi” lên đài phát thanh Sàigòn, cùng với cây đàn Guitar, hát bài “Nối Vòng Tay Lớn”, và kêu gọi thanh niên, sinh viên, học sinh và giới văn nghệ sĩ, hãy hợp tác với chính quyền Cách mạng !

Tại chân bức tượng Thủy Quân Lục Chiến, trước Quốc Hội, Trung tá cảnh sát Nguyễn Văn Long đã dùng khẩu súng ngắn bắn vào đầu tự sát trước sự chứng kiến của một ký giả ngoại quốc, sau khi nói : “C’est fini !” và hô lớn câu : “VIỆT NAM CỘNG HÒA MUÔN NĂM !”

Theo lời kể lại của một vài người chứng kiến giây phút bi hùng này của Trung tá Long như sau : Lối 10 giờ 30 sáng ngày 30.4.75, sau khi nghe lệnh buông súng đầu hàng của DVM, Trung tá Long xuất hiện tại công trường Lam Sơn với cảnh phục chỉnh tề. Ông ngồi trên ghế đá, trầm ngâm hút thuốc. Đó là điếu thuốc lá cuối cùng của đời ông ! Hai tay ông ôm lấy đầu, suy tư. Bất chợt ông đứng dậy, tiến đến gần chân Tượng đài TQLC. Ông nghiêm chỉnh giơ tay chào, xong nằm xuống ngay ngắn, tay phải rút khẩu súng ngắn đang đeo bên hông, kê nòng súng vào thái dương và bóp cò. Thi hài của ông được đưa vào bệnh viện Grall (có lẽ do người phóng viên Pháp). Hai tuần lễ sau, bà Long ở Đà Nẵng nhận được hung tin từ Bệnh viện, yêu cầu vào nhận xác chồng. Ông được mai táng ở Nghĩa trang Giáo xứ Công giáo Bà Quẹo. Vài năm sau, gia đình cải táng và hỏa thiêu. Tro cốt của ông được gửi vào Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn.

Tại khu vực ngã tư Hàng Xanh, trên đường Bạch Đằng, sau khi lệnh buông súng được ban ra, một người lính trẻ QLVNCH, tay cầm cây súng M.16, thất thểu đi trên lề đường, đi về một nơi bất định, thì một chiếc xe Lambretta chở đầy bọn “Cách mạng 30” đi qua dừng lại. Trên xe phát ra một tiếng quát lớn :

– “Anh kia, bỏ súng xuống, cởi đồ lính ra.”

Người lính trẻ ngơ ngác, khốn khổ của chúng ta, như một cái máy, tuân hành lệnh mà không suy nghĩ. Nhưng khi chiếc xe nổ máy chạy, người lính trẻ chợt tỉnh thức, nhanh chóng mặc lại bộ Quân phục, vội cầm khẩu súng lên, mở khóa an toàn, nhắm ngay chiếc xe bóp cò. Mộ tràng đạn nổ dòn, tuôn ra khỏi nòng súng. Chiếc xe loạn quạn rồi lật nhào bên đường. Bọn “Cách mạng 30” lớp chết, lớp bị thương. Người lính trẻ đưa nòng súng nhắm vào đầu mình, với vài viên đạn còn sót lại, bóp cò.

Tại Vũng tàu, các Chiến sĩ TQLC, Nhãy Dù quay quần trên một bàn nhậu trong một Khách sạn, một người lính trong bọn nói lớn như ra lệnh : “Lấy lựu đạn ra, mở chốt an toàn” rồi tất cả cùng hô to : “VIỆT NAM CỘNG HÒA MUÔN NĂM ! VIỆT NAM CộNG HÒA MUÔN NĂM !”

Cũng tại Vũng Tàu, Trường Thiếu Sinh Quân, nơi đào tạo những mầm non Quân đội, vừa học văn hóa vừa học Quân sự, đã noi gương vị thiếu niên anh hùng Trần Quốc Toản, dù tuổi đời còn non trẻ, chưa một lần có kinh nghiệm chiến đấu, trước khi buông súng đầu hàng giặc Cộng, đã đánh nhau với chúng một trận để đời. Trận đánh không cân sức đã kéo dài cho đến lúc hết đạn vào chiều ngày 30.4.1975. Những chú lính “tí hon” này chỉ tan hàng sau khi trịnh trọng tổ chức buổi lễ hạ cờ một cách bi hùng ! (Theo Bác sĩ Trần Đại Sỹ).

Một anh hùng xuất thân từ Thiếu Sinh Quân là Đại tá Hồ Ngọc Cẩn. Ông là Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Chương Thiện. Ngày 30.4.1975, Dương văn Minh ra lệnh buông súng ngưng chiến đấu, nhưng Đại tá Cẩn vẫn tử thủ, chiến đấu đến cùng, cho đến ngày 1.5.1975. Do một Quân nhân thuộc phòng An ninh Quân đội phản thùng, ông bị bắt. Ngày 14.8.1975, chúng đưa ông ra xử tại sân vận động Cần Thơ, và dĩ nhiên là ông bị nhận bản án tử hình. Chúng bịt mắt, bịt miệng ông trước khi xử bắn. Tại sao phải bịt miệng, vì chúng sợ ông chửi. Ông nói không cần bịt mắt, chúng vẫn bịt mắt. Thi hài ông được chôn sau Trung tâm Nhập ngũ Cần Thơ. Năm sau, nơi chôn ông bị giải tỏa, thân nhân hỏa táng và đưa về Rạch Giá.

Trước khi bị bắn vào buổi sáng ngày 14.8.1975, đúng 105 ngày CSBV cưỡng chiếm MN, ông đã nói được lời cuối :
“Trong suốt cuộc đời chiến đấu, bao nhiêu viên đạn tôi chỉ dành bắn VC, nên hôm nay không còn viên đạn cuối cùng để tự sát. Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm !”

Tại bệnh viện Grall, còn có tên Bệnh viện Đồn Đất, Thiếu tướng PhạmVăn Phú, Tư lệnh Quân đoàn II kiêm Quân khu 2, trút hơi thở cuối cùng. Buổi sáng ngày 29.4.1975, tại nhà riêng trên đường Gia Long, chờ khi vợ con rời nhà đi trường đua Phú Thọ tìm cách di tản, ông uống liều thuốc mạnh tự tử, được một Bác sĩ người Pháp láng giềng đưa vào Bệnh viện cấp cứu. Được cấp báo, cả nhà quay trở về. Trưa ngày 30.4.1975, khi tỉnh dậy, thều thào gọi người vợ hỏi :

– Tình hình đến đâu rồi ?

– Tuớng Dương Văn Minh ra lệnh Quân đội bỏ súng đầu hàng, và Cộng sản đã vào tới Sài Gòn. Bà Phú đáp.

Nghe xong, Tướng Phú nhắm mắt lại và “ra đi”.

Tại Lai Khê (Bình Dương), nơi đặt đại bản doanh của BTL/SĐ5BB, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, TL/SĐ vào phòng riêng, thay bộ Quân phục thẳng nếp, ngực gắn đầy huy chương, nằm lên giường, rút súng ngắn bắn vào đầu tự sát. Viên đạn đi từ dưới cằm, trổ lên đầu.

Vào những ngày cuối tháng 4.75, SĐ5BB của Tướng Vỹ đã sẵn sàng tử thủ tại Lai Khê, đã chờ đợi một cuộc tấn công quy mô như tại Xuân Lộc. BTL/SĐ5BB được chia làm 3, một do Đại tá TLP Trần Văn Thoàn chỉ huy, sẽ di chuyển về căn cứ Phú Lợi ngày 29.4; một do Trung tá Văn, TMP sẽ di chuyển về Tân Uyên; và lực lượng còn lại, do chính Tướng TL và Đại tá TMT Từ Vấn chỉ huy, sẽ bỏ Lai Khê, rút về tăng cường bảo vệ thị xã Bình Dương trong ngày 30.4.

Sáng ngày 30.4.1975, sau khi nghe lời kêu gọi của Dương Văn Minh qua đài phát thanh Sài Gòn, rằng anh em binh sĩ hãy bình tĩnh, không nổ súng, ai ở đâu thì ở vị trí đó để chuẩn bị bàn giao chính quyền cho “người anh em của phía bên kia”. Ngoài ra không có một lệnh nào chính thức từ Bộ TTM/QLVNCH hay từ Dinh Độc Lập. Tướng Vỹ cho mời họp Bộ Tham Mưu, ban lệnh di chuyển BTL/SĐ về căn cứ Phú Lợi. Sau đó ông dùng bửa cơm cuối cùng với các Sĩ quan tham mưu. Ông tâm sự :

“Lệnh trên đã ban ra, không thể không thi hành. Hơn nữa con em người ta giao cho mình, không lẽ đem nướng vào giờ thứ 25 sao ? Vì tôi là Tướng mặt trận, tôi phải chọn lấy con đường đi riêng cho tôi. Đối với các anh em thì tùy nghi quyết định.”

Ăn xong, ông trở về Trailer dùng làm phòng ngủ cho Tư lệnh. Một lúc sau thì nghe 2 tiếng súng nổ. Một số Sĩ quan chạy đến, thấy Tướng Vỹ nằm trên vũng máu, đã chết, một chân rơi xuống đất. Thi hài của ông đã được Đại tá Từ Vấn khâm liệm và chôn cất vội vàng trong rừng cao su trước sân cờ BTL.

Nghe nói viên chỉ huy cao cấp của đơn vị quân CSBV khi vào tiếp thu căn cứ Lai Khê, đã nghiêng mình kính phục khí tiết của Tướng Vỹ và nói :

– “Đây mới xứng đáng là con nhà Tướng !”

Năm 1987 thi hài ông được thân nhân cải táng về Hạnh Thông Tây (Gò Vấp). Rồi bà cụ thân mẫu từ ngoài Bắc vào Nam hỏa thiêu, đem tro cốt về thờ ở từ đường họ Lê tại nguyên quán Sơn Tây (Bắc Việt). Dân làng nơi nguyên quán của ông xem ông như một vị thần. Đúng là “Sinh vi Tướng, tử vi Thần !”

Tại căn cứ Đồng Tâm (Mỹ Tho), sau khi nghe lệnh Tổng thống Dương Văn Minh, buông súng ngưng chiến đấu, chờ “phía bên kia” đến bàn giao, Chuẩn tướng Trần Văn Hai, sinh năm 1929 tại Cần Thơ, tốt nghiệp khóa 7 Sĩ quan hiện dịch, Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh, đã triệu tập cuộc họp cuối cùng tại câu lạc bộ sĩ quan sư đoàn. Ông nói: “Là quân nhân, chúng ta phải tuyệt đối chấp hành lệnh thượng cấp.” Rồi ông ôn tồn khuyên bảo Sĩ quan và chiến binh thuộc cấp về với gia đình. Trở về phòng, ông gọi Sĩ quan tùy viên vào, và trao một gói đồ được bao bằng giấy báo, ông nói : “Đây là gói quà nhờ anh trao cho bà xã tôi, và bảo rằng đừng lo gì cho tôi cả.” Sau này được biết, trong gói quà ấy là 70.000 đồng, cùng một số vật dụng cá nhân thường ngày. Lối 6 giờ chiều, Tướng Hai ngồi gục đầu, mê man trên bàn làm việc. Một ly rượu lớn đã cạn còn để ở trên bàn…Ông được đưa xuống Bệnh xá Sư đoàn cứu cấp. Nhưng vì độc dược ngấm lâu vào máu. Ông đã lìa trần.

Ngày 1.5.75, thi hài của ông được Mẹ từ Sàigòn xuống căn cứ Đồng Tâm đưa về an táng.

Tại Cần Thơ, Thủ phủ của Vùng 4 Chiến thuật, quân và dân vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn chiến đấu cho đến ngày 1.5.1975.

Khoảng 6 giờ 30 chiều ngày 30.4, Tướng Nam đi thăm thương bệnh binh tại Quân Y Viện Phan Thanh Giản. Sáng ngày 1.5, Tướng Nam đi một vòng quanh doanh trại, thấy một vài nơi lính canh đã bỏ ngõ, ông trở lại sân cờ, rồi vào phòng riêng. Ông thay bộ quân phục trắng đại lễ, có ngù vai, đeo giây biểu chương và mang huy chương, nghiêm chỉnh ngồi trên chiếc ghế sau bàn làm việc. Sau đó ông đến bàn thờ Phật đốt nhang, xá xá và gõ ba tiếng chuông, xong lại xá ba xá. Ông đến ngồi trên sofa rồi rút khẩu colt 45 tự sát. Viên đạn xuyên qua màng tang từ phải sang trái, đầu hơi lệch về phía sau và hơi nghiêng về bên trái, mắt vẫn ngước nhìn trên trần nhà. Lúc đó là 7 giờ 30 sáng 1.5.1975. Thi hài của Tướng Nam được an táng trong Nghĩa trang Quân đội Cần Thơ.

Năm 1994, thân nhân bốc mộ, hỏa thiêu và mang tro cốt về thờ tại Chùa Già Lam ở Gò Vấp (Gia Định).

Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, TLP/QĐ, trong bộ quân phục tác chiến, ông nói lời vĩnh biệt với vợ con, và từ biệt các chiến hữu :

– “Tôi không bỏ các anh để đưa vợ con ra ngoại quốc. Nhưng tôi cũng không chịu nhục đầu hàng. Các anh đã từng cộng tác với tôi, những lúc các anh làm lỗi, tôi có rầy la. Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm nếu có.”

Tướng Hưng vào phòng riêng, có tiếng súng nổ. Bà Hưng và các chiến hữu xông vào. Ông nằm nửa trên và dưới trên giường, hai cánh tay dang ra. Đạn bắn vào tim. Máu từ tim thấm đẫm mảng áo trước ngực, và loang ra đỏ thắm tấm drap trắng. Lúc đó là 8 giờ 45 tối ngày 30.4.75.

Hai vị Tướng Tư lệnh đã lần lượt tuẫn tiết vì không giữ được thành – hay là không được phép giữ thành ! Thành mất, Tướng chết theo thành, họ đã noi gương Võ Tánh và Phan Thanh Giản ngày trước.

Trong lúc đó tại Sàigòn, vào những ngày cuối tháng Tư, Tướng Kỳ chạy đôn chạy đáo, tìm cách chiêu dụ người tham gia làm đảo chánh. Nhóm người của ông đã gây rối loạn hậu phương. Ông còn tổ chức họp báo, tổ chức meeting hô hào đồng bào và Chiến sĩ hãy kiên quyết chiến đấu chống Cộng sản xâm lược. Ông gọi những kẻ nhanh chân bỏ nước ra đi là Việt gian. Ông còn nói tếu rằng qua Mỹ không có mắm tôm để ăn ! Ông tuyên bố sẽ ở lại cùng đồng bào và Chiến sĩ chiến đấu đến cùng ! (N.C.K. trong cuộc meeting chiều ngày 28.4.1975 tại Nhà Thờ Tân Sa Châu, quận Tân Bình).

Theo hồi ký “Buddha’s Child”, Tướng Kỳ viết cùng Marvin J. Wolf, lối 8 giờ sáng ngày 29.4.1975, ông dùng chiếc Huey bay vào Bộ Tư lệnh Không Quân, thấy vị Tư lệnh và lối 10 Sĩ quan cao cấp trong văn phòng Tư lệnh, đang chờ đợi để ra đi. Sau đó ông bay qua BTTM/QLVNCH. Ông vào văn phòng TTMT, vị TTMT đã ra đi, chỉ gặp một vị Tướng còn lại. Ông hỏi tình hình như thế nào thì được trả lời : “Hết rồi” (It’s the end). Ông nhờ vị Tướng gọi Tư lệnh Hải quân, nhưng không có ai trả lời. Ông gọi TL/TQLC, cũng không ai trả lời. Ông gọi vị TL/KQ, người ông vừa nói chuyện chưa đầy một tiếng trước đây, một Trung sĩ trả lời máy : “Ông Tướng đã đi rồi…”

Tôi ngồi xuống bàn, cố liên lạc bất kỳ ai mà tôi biết, để xem có ai vẫn tiếp tục chiến đấu. Lối 2 gời chiều, một tùy viên nói :

– “Thưa Thiếu tướng, mọi người đã ra đi. Giặc đã vào đây.” Trong một lúc, tôi nghe có nhiều tiếng súng nổ khắp nơi. Chung quanh tôi chỉ còn vài Sĩ quan tham mưu và cận vệ. Một người nói : “Thiếu tướng có thể làm được gì bây giờ ?” Tôi nghĩ rằng anh ta nói đúng. Không có lý gì để ở lại, tiếp tục chiến đấu là vô phương.

Khi ông trở lại trực thăng thì gặp Trung tướng Ngô Quang Trưởng. Ông đã cho Tướng Trưởng quá giang bay ra biển Đông, hạ cánh trên chiếc Midway của Hạm đội 7. Nhưng theo một nguồn tin khác, Tướng Kỳ đã rủ Tướng Trưởng đi về Vùng 4 bàn chuyện cứu nuớc. Tướng Trưởng nghe theo, leo lên trực thăng, nhưng Tướng Kỳ đã trực chỉ biển Đông.
Ngày 28.4.1975, Đại tướng Dương Văn Minh làm lễ nhậm chức Tổng thống, cử Luật sư Nguyễn Văn Huyền làm Phó Tổng thống và Luật sư Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng.

Sáng ngày 29.4.1975, Tổng thống Dương Văn Minh bổ nhiệm các chức vụ quan trọng về an ninh và quốc phòng : Giáo sư Bùi Tường Huân (chưa một ngày đi lính, không biết gì về quân sự) giữ chức Bộ trưởng Quốc Phòng. Luật sư Triệu Quốc Mạnh (thuộc thành phần thứ ba, thân Cộng) làm Giám đốc Nha Cảnh sát Đô thành. Trung tướng Vĩnh Lộc làm Tổng Tham Mưu Trưởng Bộ TTM/QLVNCH. Nguyễn Hữu Hạnh, một Chuẩn tướng giải ngũ (vì lý do kỷ luật hay là có liên hệ với VC ?) đang ở dưới Miền tây, được gọi khẩn cấp về Sàigòn giao cho chức Phụ tá Tổng tham trưởng. Chính nhờ chức vụ Phụ tá này, khi Tướng Vĩnh Lộc đào nhiệm, Nguyễn Hữu Hạnh, nhảy lên làm quyền, rồi theo chỉ thị của DVM, hạ lệnh cho Quân đội ngưng chiến đấu, đâu ở đó, nhất là cho lệnh không được đánh sập những cây cầu bắc qua sông Đồng Nai (để xe tăng và bộ đội CSBV thuận lợi tiến về Sàigòn).

Ngay sau khi nhận chức TTMT, Tướng Vĩnh Lộc liền ra Nhật lệnh kêu gọi quân sĩ các cấp hãy sát cánh cùng nhau tử thủ đến cùng. Ông còn chê bai những kẻ bỏ nước ra đi là hèn nhát, là lũ chuột nhắt ! Nhưng rồi chưa tròn 24 tiếng ngồi ở chức vụ, ông cũng làm chuột nhắt. Sáng sớm ngày 30.4.75, ông đã chạy xuống bến Bạch Đằng tìm tàu Hải quân để di tản. Nghe nói Trung tướng Trần Văn Trung, Tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh Chính trị, cũng ra đi trong giờ phút cuối này. May mà hai vị Tướng đã kịp thời ra đi, nếu không sẽ có chung số phận như mấy chục Tướng bị kẹt, phải ra trình diện, để rồi bị đọa đày trong các trại tù cải tạo. Thà hèn nhát như lũ chuột nhắc còn hơn là làm người tù Cộng sản !

Vào những ngày cuối, khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ nhiệm ra đi, Đại tướng TTMT Cao Văn Viên cũng đệ đơn từ chức lên tân Tổng thống Trần Văn Hương để ra đi, Trung tướng Đồng Văn Khuyên làm Quyền TTMT, nhưng rồi Trung tướng Khuyên cũng được Sĩ quan tùy viên, Thiếu tá Nguyễn Hữu Tấn đưa vào DAO để bay ra khỏi nước. BTTM vắng chủ.

Ngày 29.4.75, DVM ra lệnh cho Triệu Quốc Mạnh thả tù. Trong số đó có tù chính trị là Huỳnh Tấn Mẫm. Vũ Văn Mẫu gửi công văn yêu cầu Đại sứ Hoa Kỳ Martin cho cơ quan viện trợ Mỹ (DAO) rời khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ để giải quyết hoà bình ở VN. Vào khoảng 3 giờ chiều, một phái đoàn do Luật sư Trần Ngọc Liễng cầm đầu, có Linh mục Chân Tín, Giáo sư Châu Tâm Luân vào trại David gặp Phái đoàn VC để thông báo cho Võ Đông Giang về chủ trương không chống cự của DVM. Theo Luật sư Liễng, DVM đã chấp nhận đầu hàng từ buổi chiều ngày hôm đó (29.4.75). Sàigòn coi như đã bỏ ngõ ! Nhưng buổi tối ngày hôm đó, trước khi ra bến Bạch Đằng để tìm phương tiện di tản, Tướng Lộc đã điện thoại cho Tướng Đảo cho đưa Sư đoàn 18BB qua bên này sông Đồng Nai lập tuyến phòng thủ.

Lúc này quanh DVM là thành phần thứ ba chủ hòa, và VC nằm vùng. Nhưng tác động mạnh nhất là Thượng tọa Thích Trí Quang. Chính Trí Quang nói chuyện trực tiếp với DVM: “còn chờ gì nữa mà không đầu hàng”. Trong thâm tâm, DVM chỉ muốn điều đình với VC để thành lập một chính phủ ba thành phần (Quốc gia, Trung lập, tức thành phần thứ ba của DVM, và VC). DVM hy vọng một cuộc ngừng bắn da beo. Do đó khi nghe Trí Quang khuyên đầu hàng, DVM đã than : “Thầy hại con rồi !”

Ngày 30.4.1975, lúc 6 giờ sáng, Tướng Vĩnh Lộc đã ra đi, Tướng Hạnh trở thành Quyền TTMT, cùng Tướng Nguyễn Hữu Có (Tư lệnh Biệt Khu Thủ đô) đến báo cáo với DVM về tình hình Quân sự. Sau đó DVM, cùng Hạnh và Có đến Phủ Thủ tướng, họp cùng P.TT Nguyễn Văn Huyền, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, bàn thảo và đi đến quyết định không nổ súng và giao chính quyền cho VC. T.Tướng Mẫu soạn thảo bản tuyên bố. Lúc 9 giờ, DVM đọc vào máy ghi âm.

Vào lúc 9 giờ 30 sáng, Đài phát thanh Sàigòn cho phát đi lời tuyên bố của DVM : “Đường lối của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc”; “Yêu cầu tất cả anh em Chiến sĩ Cộng hòa ngưng nổ súng, và ở đâu thì ở đó”; “Chúng tôi chờ gặp Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam để thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào”.

Sau khi đọc lời tuyên bố, tất cả trở lại Dinh Độc Lập để ngồi chờ bàn giao chính quyền.

Lúc 11 giờ 30, xe tăng CSBV tiến vào Dinh Độc lập. DVM và VVM bị chúng đưa đến đài phát thanh để đọc tuyên bố đầu hàng !

Đoàn quân chiến thắng vào Sàigòn như “Đàn bò vào thành phố”. Chúng không gặp những trở ngại nào đáng kể. Chúng như lũ Mán về thành. Chúng ngơ ngơ ngác ngác, hết nhìn cái này đến cái khác, cái gì cũng lạ cả, và không ngớt thầm thán phục. Nhưng ngoài miệng thì cái gì cũng chê, cũng cho là thua kém không bằng Hànội. Có người thắc mắc, hỏi Hànội có TV và máy lạnh không thì chúng liền trả lời nhanh : “Ôi ! thiếu gì. TV chạy đầy đường, máy lạnh gắn đầy công viên !” Nhưng có một bộ đội gái, bị tuyên truyền, bị nhồi sọ, quyết chí vượt Trường Sơn vào Nam giải phóng đồng bào khỏi bị Mỹ Ngụy kềm kẹp, phải sống cuộc đời cơ cực đói kém. Người bộ đội gái này khi đặt chân lên đất Sàigòn, nhìn thấy thực tế, đã thốt câu :

– “Chế độ man rợ và dối trá đã thắng nền Văn minh !”

Buổi chiều ngày 30.4.1975, tôi về nhà ở Hóc Môn với thân xác rã rời, đầu óc trống rỗng. Bầu trời như sụp đổ. Tôi không còn thấy phố thấy nhà, chỉ thấy đâu đâu cũng là cờ đỏ.

“Tôi bước ra, không thấy phố, thấy nhà,
Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ”
(Trần Dần/Nhân Văn Giai Phẩm)

Tôi có ý định đi tìm cái chết. Ở ngoài mặt trận, cái chết đến rất dễ dàng. Tôi đã bốn lần bị thương trận, nhưng viên đạn vô tình đã không kết liễu được đời tôi. Sau mỗi lần bị thương, được đưa về Tổng Y Viện Cộng Hòa điều trị, xuất viện, lại trở ra đơn vị tiếp tục chiến đấu.

Tôi bàn với bà xã rằng sẽ nấu một nồi cháo, bỏ thuốc chuột vào, cả nhà cùng ăn, cùng chết. Đứa con gái đầu lòng 5 tuổi, tình cờ nghe được, đã la lên : “Con sẽ không ăn, con sẽ phun ra hết”. Nhìn nét mặt ngây thơ hồn nhiên của đàn con, lòng tôi chùng lại. Ở ngoài chiến trường, tôi đã xem cái chết “nhẹ tựa hồng mao”. Có lẽ “Tổ Quốc, Danh Dự và Trách Nhiệm” đã làm cho tôi trở thành một chiến binh dũng cảm. Nhưng bây giờ, trước mặt là đàn con dại, với người vợ trẻ đang bụng mang dạ chửa, tôi đã không đành, không đủ can đảm để quyên sinh.

Ngày 30.4.1975, ngày buồn nhất trong đời tôi !
Michigan, Ngày Quốc Hận lần thứ 40.
Bảo Định



Một tư liệu lịch sử: 30/4/1975 Biên Hòa đã không thất thủ

Chuẩn tướng Trần Quang Khôi - Tư lệnh Lữ đoàn 3 Kỵ binh.

Chuẩn tướng Trần Quang Khôi – Tư lệnh Lữ đoàn 3 Kỵ binh.

Một tư liệu quý qua cuộc phỏng vấn Chuẩn tướng (1) Quân lực VNCH Trần Quang Khôi – chỉ huy Lữ đoàn 3 Kỵ binh có nhiệm vụ phòng thủ thành phố Biên Hòa vào những ngày cuối cuộc chiến 1975:

“Có không ít bài viết lờ mờ hoặc viết sai về một số sự kiện trong cuộc chiến. Đặc biệt khi viết về Biên Hòa thì không có bên nào nói đúng. Ai cũng biết Biên Hòa là vị trí chiến lược số 1 của Miền Nam Việt Nam, phi trường Biên Hòa còn là nơi đặt bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân đoàn III và Vùng III Chiến Thuật, đầu não của bộ máy quân sự miền Đông. Biên Hòa là cửa ngõ quan trọng bậc nhất ở phía Bắc thủ đô Sài Gòn. Để mất Biên Hòa là mất Sài Gòn, mất miền Nam VN.


Nhưng cho đến bây giờ, tôi chưa thấy một tài liệu nào nói rõ về Biên Hòa trong những ngày cuối cùng của chiến tranh VN. Thế mà tôi vẫn giữ im lặng cho đến ngày hôm nay, vì nghĩ rằng cuối cùng rồi sự thật lịch sử cũng được phơi bày…” 

(Theo “Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi : 5 Ngày Cuối Cùng Của Cuộc Chiến Tranh Việt Nam “ )

***

” Đã sang ngày 28 tháng 4, như Bộ chỉ huy chiến dịch thông báo, hầu hết các hướng phát triển thuận lợi, các binh đoàn chủ lực đã tới trước cửa ngõ Sài Gòn, Còn ở hướng đông, Quân đoàn 4 chúng tôi vẫn gặp phải khó khăn trong nhiệm vụ phát triển về hướng Biên Hoà, vì địch lập tại đây một tuyến phòng thủ và cũng tại đây “lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh Đông Dương, địch cấu trúc các tuyến hào chống tăng  để chặn đối phương.

1510790_699727460048838_291856589_n

Ngoài hầm hào, rào kẽm gai bãi mìn chống bộ binh ở các căn cứ, đồn bót sẵn có từ trước, địch đã thiết kế những trận địa mới, đào hào, rải mìn chống tăng, đưa các xe tăng M.41, M.48 nằm sâu dưới các ụ đất, các hầm hào có bao cát bao quanh, chĩa nòng pháo về các con đường tiến của xe tăng ta. Ngoài ra địch còn biến các dãy phố, nhà dân, công sở, nhà thờ, trường học, bệnh viện thành trận địa. Chúng chất lên đó những bao cát thành lô cốt, hoả điểm, thành những ổ đề kháng lợi hại. Chúng đặt súng M.72 hoả tiễn chống tăng, súng máy 12,7 ly, ĐKZ 57 trên những tháp chuông, cửa sổ nhà tầng, sẵn sàng nhả đạn, chặn đường tiến của ta. ” ( trích Hồi ký Hoàng Cầm ).

02_M113

***

Lữ đoàn 3 cùng Liên đoàn 33 Biệt động quân, Trung đoàn 8 Bộ binh – thuộc sư đoàn 5, cũng như Địa phương quân và Nghĩa quân Biên Hòa đã  chặn đứng cuộc tấn công vào Biên Hòa của quân đội Bắc Việt – Sư đoàn 341  do Thượng tướng Hoàng Cầm chỉ huy.  Họ đã đứng vững, bảo vệ thành công thành phố Biên Hòa đến ngày 30/04/1975.

04_M113

arvntqk3

Đến rạng sáng ngày 30/04/1975 quân đội  Bắc Việt rút lui bỏ Biên Hòa, đi đường vòng qua Biên Hòa để hợp quân đánh vào Sài Gòn. Chuẩn tướng Trần Quang Khôi đã quyết định chia Lực Lượng Xung Kích Quân đoàn 3 thành ba cánh quân trong vòng trật tự, quân phục chỉnh tề, tác phong nghiêm chỉnh, không hề nao núng rời thành phố Biên Hòa về giải cứu thủ đô Sài Gòn. Trên đường hành quân thì nghe lời kêu gọi ngưng chiến đấu của Tổng thống Dương Văn Minh.

09_TGQLVNCH1975

Chiến Xa M-41 và Thiết Vận Xa M-113.

Chiến Xa M-41 và Thiết Vận Xa M-113.

***

Theo Wikipedia tiếng Việt thì:

Ngày 29/4/1975 vào khoảng 18 giờ,địch quân bắt đầu xâm nhập vào vị trí từ Mạn Bắc và Ðông Bắc đụng phải Chiến Ðoàn 322 và 315 và bị đẩy lui. Tình hình sau đó trở nên khá yên tĩnh.Khoảng 23:45 giờ khuya: địch quân lại bắt đầu pháo kích dữ dội vào thành Phố Biên Hòa và đồng thời tập trung một lực lượng gồm bộ binh và chiến xa tấn công vào hướng Bộ Tư Lệnh QÐIII. Chiến Ðoàn 315 xông ra chặn địch và Cộng quân phải rút lui.Lúc 03:00 giờ sáng: địch lại pháo kích dữ dội và chính xác hơn vào TP Biên Hòa. Ðoàn chiến xa của địch vừa xuất hiện đã bị bắn hạ và chúng tháo chạy ngược ra xa lộ Biên Hòa. Kể từ đó, TP Biên Hòa lại trở lại yên tĩnh.

***

Trước đó, cuộc lui binh rối loạn ở Vùng I Chiến Thuật miền Trung đã ảnh hưởng rất nhiều đến tinh thần chiến đấu của binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa.

Ngoài ra, những tin tức về sự thất thủ chưa xác thực với tình hình chiến sự ở các thành phố lớn như Nha Trang, Đà Lạt…  của các đài nước ngoài như BBC cũng gây ảnh hưởng hoang mang không ít.

Đến khi Chuẩn tướng Trần Quang Khôi được tỵ nạn chính trị sang Hoa Kỳ sau 17 năm tù đày trong trại cải tạo CS, tướng lĩnh Mỹ mới biết sự thật rằng Biên Hòa không hề thất thủ.

Trong khi Liên Xô và Trung Quốc tăng cường viện trợ thêm nhiều khí tài tối tân cho đồng minh Cộng Sản của mình là quân đội Bắc Việt cho cuộc chiến Việt Nam, thì chính phủ Hoa Kỳ đã cắt giảm rất lớn và đột ngột viện trợ cho quân lực VNCH – sau khi đã rút hết quân đội Mỹ ra khỏi VN. Quân viện VNCH đã bị hạn chế đáng kể : ” Hồi đó mỗi khẩu pháo 105 ly bắn 1000 trái hoặc không hạn chế. Sau đó chỉ được bắn 6 trái một ngày… “

Theo lời kể của Chuẩn tướng VNCH Trần Quang Khôi: Sau cuộc chiến 75, trong hồi ký “ Đại thắng mùa Xuân “ của Đại tướng Bắc Việt Văn Tiến Dũng đã không nhắc đến trận Biên Hòa. Ngay cả Thượng tướng Hoàng Cầm – người chỉ huy trực tiếp đánh chiếm Biên Hòa không thành công, cũng đã im lặng. Mãi đến năm 1995, khi Chuẩn tướng Trần Quang Khôi công khai nhắc đến trận chiến này, Thượng tướng Hoàng Cầm mới cải biên trong Hồi ký của ông về sự thật này.

Trong hồi ký ” Chặng đường mười nghìn ngày  “( in lần thứ hai  ) của Thượng tướng Hoàng Cầm khi tấn công Hố Nai – Biên Hòa có đoạn:

„ Ngoài hầm hào, rào kẽm gai bãi mìn chống bộ binh ở các căn cứ, đồn bót sẵn có từ trước, địch đã thiết kế những trận địa mới, đào hào, rải mìn chống tăng, đưa các xe tăng M.41, M.48 nằm sâu dưới các ụ đất, các hầm hào có bao cát bao quanh, chĩa nòng pháo về các con đường tiến của xe tăng ta. Ngoài ra địch còn biến các dãy phố, nhà dân, công sở, nhà thờ, trường học, bệnh viện thành trận địa. Chúng chất lên đó những bao cát thành lô cốt, hoả điểm, thành những ổ đề kháng lợi hại. Chúng đặt súng M.72 hoả tiễn chống tăng, súng máy 12,7 ly, ĐKZ 57 trên những tháp chuông, cửa sổ nhà tầng, sẵn sàng nhả đạn, chặn đường tiến của ta.

Về vấn đề Sư đoàn 341 của Thượng tướng Hoàng Cầm bỏ Biên Hòa, đi đường vòng hợp quân tấn công Sài Gòn được viết một cách khéo léo như sau:

” Nhưng địch ở đây – căn cứ Biên Hoà – khu vực phòng thủ mạnh nhất của địch trước cửa ngõ Sài Gòn vẫn tiếp tục chống trả, kể cả những tên đang lẩn lút. Các đơn vị Quân đoàn chưa vượt sang tây sông Đồng Nai. Bốn giờ sáng, phân đội đi đầu của Sư đoàn 7 tiến đến cầu sắt xe lửa Biên Hoà nhưng tăng không qua được vì cầu này yếu, trọng tải chỉ đảm bảo xe 12 tấn. Cầu Mới bị địch phá.

Sau khi Bộ tư lệnh Quân đoàn thống nhất quyết tâm bằng bất cứ giá nào phải đánh chiếm cho được Biên Hoà trước 0 giờ ngày 30 tháng 4, tôi lệnh cho các đơn vị:

– Sư đoàn 6 bỏ các vị trí, các căn cứ còn lại ở Hố Nai, tiến theo bên trái đường số 1, đánh chiếm sở chỉ huy quân đoàn 3 và cầu Ghềnh, thọc sang bờ tây sông đánh chiếm đầu cầu, giữ bàn đạp.

– Sư đoàn 341 vòng qua phía bắc, đánh chiếm sân bay Biên Hoà.

– Sư đoàn 7 đột phá từ Hố Nai, đập vỡ lá chắn địch ở ngã ba Tam Hiệp, cố gắng đưa đội hình sang tây sông Đồng Nai trong đêm.

Khi được tin sở chỉ huy nhẹ của quân đoàn 3 chuyển về Gò Vấp tối 29 tháng 4, qua đài kỹ thuật Lê Minh Đảo cầu cứu Bộ Tổng Tham mưu nguỵ rút quân sang bờ tây sông Đồng Nai, trong khi các lực lượng ta vẫn còn bị địch chặn ở ngã ba Hố Nai đi Biên Hoà… Sau khi điện xin ý kiến và được Bộ chỉ huy chiến dịch chấp thuận về trường hợp Sư đoàn 7 không theo kế hoạch cũ, tôi ra lệnh, lúc ấy là 6 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975. “

***

Bài viết của Chuẩn tướng Trần Quang Khôi cũng có đoạn:

„ Bây giờ là 8 giờ 30 ngày 30-4-75, tôi kết luận buổi họp: “Biên Hòa không còn là mục tiêu tấn công của địch nữa. Tôi nghĩ rằng giờ này các lực lượng chủ lực cộng sản BV đang tập trung tấn công Sài Gòn. Rõ ràng chúng bỏ Biên Hòa, dồn lực lượng đánh vào Thủ Ðô. Chúng ta mất liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu. Bây giờ tôi quyết định kéo toàn bộ Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III về tiếp cứu Sài Gòn.

Quân lính Nam Việt Nam và nhóm phóng viên truyền hình Phương Tây tìm chỗ trú ẩn trước đạn pháo của người Bắc Việt ở cầu Tân Cảng, Sài Gòn, 28 tháng Tư 1975. Hình AP Photo Hoanh.

Quân lính Nam Việt Nam và nhóm phóng viên truyền hình Phương Tây tìm chỗ trú ẩn trước đạn pháo của quân Bắc Việt ở cầu Tân Cảng, Sài Gòn, 28 tháng Tư 1975. Hình AP Photo Hoanh.

Dưới đây là trích đoạn bài viết ( đã bị xóa ) của tờ báo „Quân Đội Nhân Dân„ viết về Chuẩn tướng Trần Quang Khôi:

„ Khoảng 5 ngày trước khi chế độ Sài Gòn sụp đổ, Trần Quang Khôi vẫn “thể hiện” với quân lính và cấp trên sự “can trường” của mình. Sáng 30-4-1975, khi thấy Biên Hòa đã không còn là mục tiêu bị tấn công bởi Quân Giải phóng đang tập trung tiến về Sài Gòn, trong “canh bạc” cuối, Trần Quang Khôi đã họp bàn với chỉ huy các đơn vị thuộc lực lượng xung kích Quân đoàn 3 để đi đến quyết định: Kéo toàn bộ lực lượng về tiếp cứu Sài Gòn. 

Huỳnh Minh Tú– tham khảo và biên tập từ nhiều nguồn:

Cụm Tình Báo VC A.22 Trong Dinh Độc Lập.

(Trúc Giang)

Gián điệp kiểu này thì làm sao mà không mất nước được!

 

Cụm Tình Báo VC A.22 Trong Dinh Độc Lập.

1-ĐỊNH NGHĨA:

Tình báo, gián điệp là người hoạt động bí mật của phe địch để dọ thám lấy tin tức về tình hình quân sự, chính trị, kinh tế hoặc tác động, phá hoại.

2- GIÁN ĐIỆP CỘNG SẢN TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Trong chiến tranh, ở miền Nam, ngoài những tên VC nằm vùng, còn có những điệp viên thuộc tình báo chiến lược như Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thuý và Phạm Ngọc Thảo.

2.1. VŨ NGỌC NHẠ

Vũ Ngọc Nhạ là nhân vật then chốt trong vụ án Cụm Tình Báo A.22 làm rung động chính quyền miền Nam năm 1969.

Tên thật là Vũ Xuân Nhã, sinh ngày 30-3-1928 tại tỉnh Thái Bình. Được kết nạp vào đảng CSVN năm 1947. Vũ Ngọc Nhạ còn nhiều cái tên khác nữa như Pière Vũ Ngọc Nhạ (tên Thánh), Vũ Đình Long (Hai Long) bí danh Lê Quang Kép, Thầy Bốn, “Ông Cố Vấn”.

2.1.1. Hoạt động

Năm 1955. Xuống tàu di cư vào Nam.

Vũ Ngọc Nhạ cùng 1 số điệp viên khác trà trộn vào đoàn người di cư vào Nam. Nhạ cùng vợ và con gái xuống tàu Hải Quân Pháp cùng hàng triệu người Công giáo di cư vào Nam.

– Làm thư ký đánh máy ở Bộ Công Chánh. Chinh phục được cảm tình của Linh mục Hoàng Quỳnh và trở thành “Người giúp việc” của Giám mục Lê Hữu Từ.

Năm 1958 Tháng 12 năm 1958, Nhạ bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung của Nguyễn Tư Thái, tự Thái Đen, bắt giữ và giam tại trại Tòa Khâm (Huế) để chờ điều tra xác minh. Linh mục Hoàng Quỳnh can thiệp cho nên Nhạ không bị buộc tội.

2.1.2 .Người Giúp Việc của Đức Cha Lê Hữu Từ

Một khuyết điểm lớn của Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung là giam giữ những nghi can gián điệp chung với nhau tại trại Tòa Khâm. Chính ở đó, Vũ Ngọc Nhạ đã móc nối với các “cơ sở” (những cá nhân) tình báo khác, đặc biệt là trùm tình báo VC Mười Hương.

Tạo dựng niềm tin đối với Ngô Đình Cẩn.

Năm 1959– Vũ Ngọc Nhạ làm tờ trình “Bốn Nguy Cơ Đe Doạ Chế Độ” được sự chú ý của Ngô Đình Cẩn và sau đó, của ông Nhu, ông Diệm. Do sự dự đoán chính xác về cuộc đảo chánh 11-11-1960 của tướng Nguyễn Chánh Thi, anh em ông Diệm đã chú ý đến Vũ Ngọc Nhạ.

Nhờ danh nghĩa “Người Giúp Việc” của Đức Cha Lê Hữu Từ mà Nhạ được xử dụng như là Người Liên Lạc giữa anh em Họ Ngô và giới Công Giáo di cư. Nhờ đó, Nhạ thu thập được nhiều tin tức tình báo có giá trị. Từ đó, Nhạ có biệt danh là “Ông Cố Vấn”.

2.1.3. Xây dựng Cụm Tình Báo Chiến Lược A.22

Sau đảo chánh 1-11-1963, thế lực Công giáo phát triển mạnh dưới tay của Linh mục Hoàng Quỳnh.

Cuối năm 1965, sự tranh giành quyền lực trong “nhóm tướng trẻ”, do sự giới thiệu của LM Hoàng Quỳnh, Tướng Nguyễn Văn Thiệu đã xử dụng Vũ Ngọc Nhạ trong vai trò liên lạc giữa tướng Thiệu và Khối Công giáo. Nhạ đã khéo léo lợi dụng vai trò đó để tạo ảnh hưởng đến các chính trị gia dân sự và quân sự.

Năm 1967 Sau khi tướng Nguyễn Văn Thiệu đắc cử Tổng thống, cấp trên nhận thấy cần thiết phải mở rộng mạng lưới tình báo, thành lập Cụm A.22. (A.22 là mật danh của Vũ Ngọc Nhạ) Cụm do Nguyễn Văn Lê làm cụm trưởng, Nhạ làm Cụm Phó trực tiếp phụ trách mạng lưới. Toàn bộ Cụm A.22 được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nguyễn Đức Trí, chỉ huy phó Tình Báo Quân Sự ở miền Nam.

Bắt đầu, Cụm A.22 “phát triển” thêm Nguyễn Xuân Hoè, Vũ Hữu Ruật đều là những điệp viên mà Nhạ đã bắt liên lạc trong khi bị giam chung tại Tòa Khâm. Sau đó, thu nhận thêm Nguyễn Xuân Đồng và quan trọng nhất là vào đầu năm 1967, bổ sung thêm Lê Hữu Thuý (hay Thắng) mật danh là A.25.

Các điệp viên nầy được giao nhiệm vụ “Chui sâu, leo cao” nắm lấy những chức vụ quan trọng để thu thập thông tin và để tác động vào chính quyền.

Thành công của Cụm A.22 là cài được 1 điệp viên dưới quyền của Lê Hữu Thuý là Huỳnh Văn Trọng làm “Cố Vấn” cho tổng thống Thiệu.

Chính Huỳnh Văn Trọng đã cầm đầu một phái đoàn VNCH sang HK, tiếp xúc, gặp gỡ hàng loạt các tổ chức, các cá nhân trong chính phủ và chính giới HK, để thăm dò thái độ của chính phủ Johnson đối với cuộc chiến ở VN. Huỳnh Văn Trọng thu thập được nhiều tin tức tình báo chiến lược.

 2.1.4. Vụ án Huỳnh Văn Trọng và 42 điệp báo

CIA nhanh chóng phát hiện điều bất thường là sự tập hợp của các cá nhân là những bị can đã bị bắt giam ở Tòa Khâm.

Giữa năm 1968 Hồ sơ các cựu tù nhân ở Tòa Khâm được mở lại. Do tính phức tạp trong ngành điệp báo, CIA phải mất 1 năm mới hoàn tất hồ sơ và chuyển giao cho Tổng Nha Cảnh Sát QG VNCH.

Vào trung tuần tháng 7 năm 1969, một đơn vị đặc biệt có mật danh là S2/B được thành lập để tiến hành bắt giữ hầu hết những người của Cụm A.22.

Toàn bộ điệp viên Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thuý, Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Xuân Hoè, Nguyễn Xuân Đồng, Huỳnh Văn Trọng, và hầu hết những gián điệp khác, kể cả giao liên là bà Cả Nhiễm cũng bị bắt.

Riêng cụm trưởng Nguyễn Văn Lê kịp thời trốn thoát.

Cụm tình báo A.22 bị phá vở hoàn toàn.

Chính quyền Saigon rung động vì 42 gián điệp từ cơ quan đầu nảo là Phủ tổng thống cho đến các cơ quan khác, nhất là 1 “Cố vấn” của tổng thống đã bị bắt.

2.1.5. Biến vụ án gián điệp thành vụ án chính trị

Đây là vụ án gián điệp lớn nhất lịch sử. Các bị can đều khai, nhất cử nhất động của họ đều là thi hành chỉ thị, là do sự uỷ thác, do lịnh của tổng thống, của các tổng trưởng, nghị sĩ, dân biểu và cả CIA nữa.

Tòa án Quân Sự Mặt Trận Lưu Động Vùng 3 CT bối rối vì không có thể gởi trác đòi những nhân chứng như tổng thống ra hầu tòa để đối chất.

Do không có đủ yếu tố để buộc tội tử hình, cho nên tòa tuyên án:

– Chung thân khổ sai: Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thuý, Huỳnh Văn Trọng, Nguyễn Xuân Hoè.

– Án từ 5 năm đến 20 năm tù khổ sai cho những bị can còn lại.

Khi quân cảnh dẫn các tù nhân ra xe bít bùng, thì Vũ Ngọc Nhạ quay sang nhóm ký giả ngoại quốc và thân nhân, nói lớn “Tôi gởi lời thăm ông Thiệu”.

2.1.6. Cho rằng CIA dàn cảnh

Một bất ngờ của vụ án là TT Thiệu không tin đó là sự thật mà cho là CIA đã dàn cảnh. Do đó, thời gian Vũ Ngọc Nhạ bị đày ở Côn Đảo thì TT Thiệu đã triệu hồi viên tỉnh trưởng Côn Sơn về Saigon và thay thế vào đó một người thân tín của mình để có điều kiện chăm sóc cho Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng như là những thượng khách. Vì thế, Vũ Ngọc Nhạ đã đánh giá:”Đó là một cuộc dạo chơi trên Thiên Đàng”.

2.1.7. Tiếp tục hoạt động

Đầu năm 1973 Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng được đưa về khám Chí Hòa, Saigon. Trong thời gian ở Chí Hòa, nhờ sự giúp đở của LM Hoàng Quỳnh, Vũ Ngọc Nhạ móc nối, bắt bắt liên lạc với nhóm “Thành Phần Thứ 3” của Dương Văn Minh.

Ngày 23-7-1973 Chính quyền VNCH trao trả Vũ Ngọc Nhạ cho Mặt Trận DTGP/MNVN với danh xưng là “Linh mục Giải Phóng”.

Năm 1974– Vũ Ngọc Nhạ được CSBV phong Trung tá QĐNDVN. Tháng 4, 1974, Vũ Ngọc Nhạ trở về Củ Chi, hoạt động bí mật mục đích xây dựng lại Cụm Tình báo chiến lược, móc nối với Thành phần thứ 3 và khối Công giáo .

Ngày 30-4-1975 Vũ Ngọc Nhạ có mặt tại Dinh Độc Lập bên cạnh tướng Dương Văn Minh.

2.1.8. Bị thất sủng và được tôn vinh

Ngày 30-4-1975 thân phận của Vũ Ngọc Nhạ vẫn chưa được xác nhận.

Năm 1976 Vũ Ngọc Nhạ được điều về Cục 2 Bộ Quốc Phòng với quân hàm Thượng tá.

Năm 1981 Được thăng Đại tá nhưng vẫn còn ngồi chơi xơi nước. Hàng ngày đọc các tin tức báo cáo, tổng hợp lại rồi trình lên thượng cấp, Phạm Văn Đồng, Mai Chí Thọ, Nguyễn Văn Linh.

Năm 1987 Tác giả Hữu Mai xuất bản cuốn tiểu thuyết “Ông Cố Vấn, Hồ Sơ Một Điệp Viên” ca ngợi thành tích tình báo của Vũ Ngọc Nhạ. Công chúng đã biết đến và Nhạ được phong Thiếu Tướng.

Vũ Ngọc Nhạ mất ngày 7-8-2002 tại Saigon, 75 tuổi. Phần mộ của Nhạ nằm chung với các phần mộ của các điệp viên khác như Phạm Xuân Ẩn, Đặng Trần Đức và Phạm Ngọc Thảo.

2.2. PHẠM XUÂN ẨN

* Thân thế Và Hoạt động

Phạm Xuân Ẩn sinh ngày 12-9-1927 tại xã Bình Trước, Biên Hòa, là một thiếu tướng tình báo của QĐNDVN.

Từng là nhà báo. Phóng viên cho Reuters, tạp chí Time, New York Herald Tribune, The Christian Science Monitor.

Theo học trường Collège de Can Tho.

Năm 1948 Tham gia Thanh Niên Tiền Phong và sau đó, làm thơ ký cho hãng dầu lửa Caltex.

Năm 1950 Làm nhân viên Sở Quan Thuế Saigon để thi hành nhiệm vụ là tìm hiểu tình hình vận chuyển hàng hóa, khí tài quân sự từ Pháp sang VN. Đây là lần đầu tiên làm nhiệm vụ tình báo cùng với 14 ngàn gián điệp được cài cắm vào hoạt động.

Năm 1952 Phạm Xuân Ẩn ra Chiến Khu D và đã được bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Ủu viên Uỷ Ban Hành Chánh Nam Bộ giao cho nhiệm vụ làm tình báo chiến lược.

Năm 1953 Phạm Xuân Ẩn được Lê Đức Thọ kết nạp vào đảng tại rừng U Minh, Cà Mau.

Năm 1954 Phạm Xuân Ẩn bị gọi nhập ngũ và được trưng dụng ngay vào làm thư ký Phòng Chiến Tranh Tâm Lý Bộ Tổng Hành Dinh Liên Hiệp Pháp tại Camps Aux Mares (Thành Ô Ma) Tại đây, Ẩn được quen biết với Đại tá Edward Landsdale, trưởng phái bộ đặc biệt của Mỹ (SMM), trên thực tế, Landsdale là người chỉ huy CIA tại Đông Dương. cũng là trưởng phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ (US.MAAG) tại Saigon.

Năm 1955 Theo đề nghị của Phái Bộ Cố Vấn Quân Sự Mỹ, Phạm Xuân Ẩn tham gia soạn thảo tài liệu tham mưu, tổ chức, tác chiến, huấn luyện, hậu cần cho quân đội. Tham gia thành lập cái khung của 6 sư đoàn đầu tiên của QLVNCH, mà nồng cốt là sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ người Việt trong quân đội Pháp trước đó.

Phạm Xuân Ẩn còn được giao nhiệm vụ hợp tác với Mỹ để chọn lựa những sĩ quan trẻ có triển vọng đưa sang Mỹ đào tạo, trong số đó có Nguyễn Văn Thiệu, sau nầy trở thành tổng thống VNCH.

Năm 1957 Tháng 10 năm 1957, Mai Chí Thọ và Trần Quốc Hương (Mười Hương) chỉ đạo cho Phạm Xuân Ẩn qua Mỹ du học ngành báo chí để có cơ hội đi khắp nơi, tiếp cận với những nhân vật có quyền lực nhất.

Năm 1959 Phạm Xuân Ẩn về nước, nhờ những mối quan hệ, Ẩn được bác sĩ Trần Kim Tuyến, giám đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị Và Văn Hóa Xã Hội (Thực chất là cơ quan mật vụ của Phủ tổng thống), biệt phái sang làm việc tại Việt Tấn Xã, phụ trách những phóng viên ngoại quốc làm việc ở đó.

Năm 1960 Từ năm 1960 đến giữa 1964, Phạm Xuân Ẩn làm việc cho hảng thông tấn Reuters. Từ 65 đến 67, Ẩn là người Việt duy nhất và chính thức làm việc cho tuần báo Time. Ngoài ra, còn cộng tác với báo The Christian Science Monitor…

Từ 1959 đến 1975 Với cái vỏ bọc là phóng viên, nhờ quan hệ rộng với các sĩ quan cao cấp, với các nhân viên tình báo, an ninh quân đội và với cả CIA , Ẩn đã thu thập được nhiều tin tức quan trọng từ quân đội, cảnh sát và các cơ quan tình báo.

Những tin tức tình báo chiến lược của Ẩn đã được gởi ra Hà Nội thông qua Trung Ương Cục Miền Nam. Tài liệu sống động và tĩ mỉ khiến cho Võ Nguyên Giáp đã reo lên “Chúng ta đang ở trong Phòng Hành Quân của Hoa Kỳ”.

Tổng cộng, Ẩn đã gởi về Hà Nội 498 tài liệu gốc được sao chụp.

Giai Đoạn 1973-1975 Hàng trăm bản văn nguyên bản đã phục vụ “Hạ Quyết Tâm Giải Phóng Miền Nam ” của đảng CSVN.

Phạm Xuân Ẩn là nhân vật được chèo kéo của nhiều cơ quan tình báo, kể cả CIA .

Ngày 30-4-1975, Phạm Xuân Ẩn là một trong những nhà báo chứng kiến cảnh xe tăng của VC hút đỗ cổng Dinh Độc Lâp. Từ đó cho đến vài tháng sau, các phóng viên, đồng bào và cả chính quyền mới cũng chưa biết Phạm Xuân Ẩn là một điệp viên Cộng sản.

Vợ con của Phạm Xuân Ẩn đã di tản sang Hoa Kỳ. Ẩn cũng được lịnh của cấp trên sang HK để tiếp tục hoạt động tình báo. Nhưng Ẩn đã xin ngưng công tác vì đã hoàn thành nhiệm vụ.

Do kế hoạch thay đổi, cho nên mãi 1 năm sau, vợ con của Ẩn mới có thể quay về VN bằng đường vòng Paris, Moskva, Hà Nội, Saigon.

* Sau chiến tranh

Ngày 15-1-1976, trung tá “Trần Văn Trung”, tức Phạm Xuân Ẩn, được phong tặng “Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang”.

Tháng 8 năm 1978, Ẩn ra Hà Nội dự khóa học tập chính trị 10 tháng vì Ẩn “sống quá lâu trong lòng địch”.

Theo Larry Berman thì Ẩn bị nghi kỵ và bị quản chế tại gia. Cấm liên lạc với báo chí ngoại quốc và cấm xuất cảnh, do cách suy nghĩ của Ẩn quá “Mỹ” và do Ẩn đã giúp bác sĩ Trần Kim Tuyến ra khỏi VN ngày 30-4-1975 .

Năm 1986 Trong 10 năm, luôn luôn có 1 công an làm nhiệm vụ canh gác trước nhà của Phạm Xuân Ẩn.

Năm 1990 Đại tá Phạm Xuân Ẩn được thăng thiếu tướng.

Năm 1997 Chánh phủ VNCS từ chối không cho Ẩn đi Hoa Kỳ để dự hội nghị tại New York mà Ẩn được mời với tư cách là khách mời đặc biệt.

Năm 2002 Phạm Xuân Ẩn về nghỉ hưu.

Con trai lớn của Ẩn là Phạm Xuân Hoàng Ân, đã du học Mỹ, hiện đang làm việc tại Bộ Ngoại Giao ở Hà Nội. Con gái của Ẩn hiện đang sống ở Hoa Kỳ.

* Thất Vọng

Trong những năm cuối đời, Phạm Xuân Ẩn cảm thấy rất thất vọng vì dân chúng không được viết tự do. Ẩn trối trăn trước khi chết là, “đừng chôn ông gần những người Cộng Sản”.

* Nhận định về Phạm Xuân Ẩn.

Lê Duẩn: Đã biểu dương Phạm Xuân Ẩn coi đó là 1 chiến công có tầm cỡ quốc tế.

Frank Snepp, cựu chuyên viên thẩm vấn CIA , tác giả cuốn sách Decent Interval (Khoảng cách thích đáng) nói:”Phạm Xuân Ẩn đã có được nguồn tin tình báo chiến lược, điều đó rõ ràng, nhựng chưa ai “Dẫn con mèo đi ngược” để thực hiện 1 cuộc xét nghiệm pháp y về các tác hại mà ông đã gây ra, Cơ quan CIA không có gan để làm việc đó.” Hết trích.

Murrray Gart, thông tín viên trưởng của báo Time nói “Thằng chó đẻ ấy, tôi muốn giết nó“.

2.3. PHẠM NGỌC THẢO

2.3.1. Thân thế

Phạm Ngọc Thảo sanh ngày 14-2-1922 tại Sàigon. Cha ông là Phạm Ngọc Thuần, một địa chủ lớn, có quốc tịch Pháp, người Công giáo. Còn có tên là Albert Thảo hoặc 9 Thảo, vì Thảo là con thứ 8 trong gia đình.

Sau khi đậu tú tài, Thảo ra Hà Nội học và tốt nghiệp kỹ sư công chánh.

Thảo tuyên bố bỏ quốc tịch Pháp và tham gia kháng chiến.

2.3.2. Hoạt động VC

Sau khi tốt nghiệp trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn, Thảo về nhận nhiệm vụ giao liên ở Phú Yên. Một lần, Thảo đưa 1 cán bộ về Nam Bô. Đó Là Lê Duẩn, người đã có ảnh hưởng lớn về hoạt động tình báo của Thảo sau nầy.

Được bổ làm Tiểu đoàn trưởng TĐ 410, quân khu 9. (Có tài liệu nói là TĐ 404 hoặc 307). Trong thời gian nầy, Thảo hướng dẫn chiến tranh du kích cho Trần Văn Đôn, Nguyễn Khánh, Lê Văn Kim, những người sau nầy trở thành tướng lãnh của QLVNCH.

Vợ là Phạm Thị Nhậm, em ruột giáo sư Phạm Thiều, nguyên đại sứ tại Tiệp Khắc.

2.3.3. Hoạt động tình báo

Sau Hiệp Định Genève, Lê Duẩn chỉ thị cho Phạm Ngọc Thảo không được tập kết ra Bắc phải ở lại để hình thành Lực lượng thứ 3.

Từ đó, Thảo dạy học ở một số tư thục Saigon.

Phạm Ngọc Thảo đã bị Đại tá Mai Hữu Xuân, Giám Đốc An Ninh Quân Đội, lùng bắt nhiều lần nhưng đều trốn thoát. Sau cùng, Thảo về Vĩnh Long làm nghề dạy học. Tỉnh nầy thuộc địa phận của Giám mục Phêrô Ngô Đình Thục, vốn đã quen biết với gia đình Thảo từ trước. Ngô Đình Thục coi Phạm Ngọc Thảo như con nuôi và bảo lãnh cho vào dạy học ở trường Nguyễn Trường Tộ.

Năm 1956– Phạm Ngọc Thảo được phép đưa vợ con về Saigon và vào làm việc ở Ngân Hàng QG. Rồi được chuyển ngạch sang quân đội với cấp bậc Đại uý “Đồng Hóa”.

Năm 1956 Do sự giới thiệu của Huỳnh Văn Lang, Tổng Giám đốc Viện Hối Đoái, Bí thư Liên Kỳ Bộ của đảng Cần Lao, Phạm Ngọc Thảo được cử đi học khóa Nhân Vị ở Vĩnh Long. Và Thảo đã gia nhập đảng Cần Lao.

2.3.4. Hoạt động trong Quân Lực VNCH

– Chức vụ Tỉnh Đoàn Trưởng Bảo An Vĩnh Long.

– Tuyên Huấn đảng Cần Lao Nhân Vị.

Thảo biết cách khai thác nghề viết báo của mình và về Binh pháp Tôn Tử. Chỉ trong vòng một năm, Thảo đã viết 20 bài báo nói về chiến lược, chiến thuật, nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy, huấn luyện quân sự, phân tích binh pháp Tôn Tử, Trần Hưng Đạo. Những bài báo được giới quân sự chú ý và cả TT Diệm và Ngô Đình Nhu.

Năm 1957 Phạm Ngọc Thảo được chuyển về Phòng Nghiên Cứu Chính Trị Phủ Tổng thống với cấp bậc thiếu tá. Sau đó, giữ chức Tỉnh Đoàn trưởng Bảo An Bình Dương.

Năm 1960 Phạm Ngọc Thảo tham dự khóa Chỉ Huy Tham Mưu ở Đà Lạt. Giữ chức vụ Thanh Tra Khu Trù Mật.

Năm 1961 Phạm Ngọc Thảo được thăng trung tá, giữ chức Tỉnh trưởng Kiến Hòa để trắc nghiệm chương trình bình định. Thời gian nầy, Kiến Hòa (Bến Tre) trở nên ổn định không còn phục kích hay phá hoại nữa.

Tuy nhiên có nhiều tố cáo Thảo là Cộng sản nằm vùng. Thảo bị ngưng chức tỉnh trưởng Kiến Hòa và đi học khóa Chỉ Huy Tham Mưu ở Hoa Kỳ.

Lý do là, Thảo đã thả hơn 2000 tù nhân đã bị giam giữ và liên lạc với bà Nguyễn Thị Định.

2.3.5. Tham gia các cuộc đảo chánh

* Đảo chánh lần thứ nhất, 1963

Tháng 9 năm 1963, bác sĩ Trần Kim Tuyến, nguyên Giám Đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị (Thực chất là trùm mật vụ) và Phạm Ngọc Thảo âm mưu 1 cuộc đảo chánh Ngô Đình Diệm.

Phạm Ngọc Thảo đã kêu gọi được một số đơn vị như Quân Đoàn 3, Quân Đoàn 4, Biệt Động Quân, Bảo An sẵn sàng tham gia. Nhưng âm mưu bị nghi ngờ. Trần Kim Tuyến bị đưa đi làm Tổng Lãnh Sự ở Ai Cập.

Sau ngày đảo chánh 1-11-1963 , Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đỗ. Phạm Ngọc Thảo thăng chức Đại tá làm Tuỳ Viên báo chí trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Một thời gian sau, được cử làm Tuỳ viên Văn hóa tại Tòa đại sứ VNCH ở Hoa Kỳ.

* Đảo chánh lần thứ hai năm 1965

Đầu năm 1965, Phạm Ngọc Thảo bị gọi về nước vì Nguyễn Khánh muốn bắt Thảo. Vì thế, khi về đến phi trường Tân Sơn Nhất, Thảo đào nhiệm, bỏ trốn và bí mật liên lạc với các lực lượng đối lập để tổ chức đảo chánh.

Đảo chánh với lý do rất quan trọng mà Thảo nắm được là Nguyễn Khánh và Hoa Kỳ thỏa thuận sẽ ném bom xuống miền Bắc vào ngày 20-2-1965 . Vì vậy phải đảo chánh lật Nguyễn Khánh vào ngày 19-2-1965 .

Ngày 19-2-1965: Phạm Ngọc Thảo và Tướng Lâm Văn Phát đem quân và xe tăng vào chiếm trại Lê Văn Duyệt, đài phát thanh Saigon, bến Bạch Đằng và phi trường Tân Sơn Nhất. Tướng Nguyễn Khánh đào thoát bằng máy bay ra Vũng Tàu.

Ngày 20-2-1965: Hội Đồng các tướng lãnh họp tại Biên Hòa các tướng cử Nguyễn Chánh Thi làm chỉ huy chống lại đảo chánh. Nguyễn Chánh Thi ra lịnh cho Phạm Ngọc Thảo, Lâm Văn Phát và 13 sĩ quan khác phải ra trình diện trong 24 giờ.

Ngày 21-2-1965:Các tướng tiếp tục họp tại Biên Hòa quyết định giải nhiệm Nguyễn Khánh và cử tướng Trần Văn Minh làm Tổng Tư Lệnh QLVNCH.

Ngày 22-2-1965: Quốc trưởng Phan Khắc Sửu ký sắc lịnh bổ nhiệm tướng Nguyễn Khánh làm Đại sứ lưu động. (Một hình thức trục xuất ra khỏi nước)

Ngày 25-2-1965: Nguyễn Khánh rời Việt Nam. Phạm Ngọc Thảo bỏ trốn.

2.3.6. Bị bắt và qua đời

Ngày 11-6-1965: Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát tuyên bố trả quyền lãnh đạo quốc gia lại cho Quân đội.

Ngày 14-6-1965: Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia được thành lập do tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch.

Phạm Ngọc Thảo phải rút vào hoạt động bí mật. Thảo cho xuất bản tờ báo Việt Tiến mỗi ngày phát hành 50,000 tờ, tuyên truyền tinh thần yêu nước chống Mỹ và Thiệu.

Phạm Ngọc Thảo có 1 hàng rào bảo vệ rộng lớn từ các Xứ Đạo Biên Hòa, Hố Nai, Thủ Đức, Saigon. Có nhiều linh mục giúp đở in ấn và phát hành. Chính quyền Thiệu-Kỳ kết án tử hình và treo giải thưởng 3 triệu đồng cho ai bắt được Thảo.

Võ Văn Kiệt (Sáu Dân) kể lại“Tôi thấy Thảo gặp khó khăn nên đi tìm anh để đưa về chiến khu, nhưng anh bảo vẫn còn khả năng đảo chánh để ngăn chận việc đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam”. (Võ Văn Kiệt)

Lâm Văn Phát ra trình diện và chỉ bị cách chức.

Phạm Ngọc Thảo phải trốn nhiều nơi, cuối cùng bị bắt tại Đan Viện Phước Lý, xã Vĩnh Thanh, quận Nhơn Trạch, Biên Hòa.

Lúc 3 giờ sáng ngày 16-7-1965, Thảo vừa ra khỏi Đan Viện Phước Lý thì bị An ninh Quân Đội phục kích bắt và đưa về 1 con suối nhỏ gần Biên Hòa để thủ tiêu. Tuy nhiên, Thảo không chết, chỉ bị ngất xĩu vì đạn trúng vào càm. Khi tĩnh dậy, Thảo lê lết về một nhà thờ và được Linh mục Cường, Cha Tuyên Uý của Dòng Nữ Tu Đa Minh cứu chữa.

Và Thảo bị phát giác, bị đưa về Cục An Ninh QĐ đường Nguyễn Bĩnh Khiêm. Thảo bị tra tấn cho đến chết vào đêm 17-7-1965. 43 tuổi.

Theo Larry Berman trong cuốnÓi>”Perfect Spy” thì TT Thiệu ra lịnh tra tấn và hành hạ Thảo cho thật đau đớn bằng cách dùng 1 cái thòng lọng bằng da, buộc quanh cổ và 1 cái khác thì siết mạnh nơi tinh hoàn. Cũng có tin nói rằng Đại uý Hùng Sùi bóp dái Thảo cho đến chết.

Phạm Ngọc Thảo có 7 con và vợ Thảo đi dạy hoc. Tất cả hiện đang sinh sống ở Hoa Kỳ. Có người con là bác sĩ ở Quận Cam, Cali.

Phạm Ngọc Thảo là 1 điệp viên đơn tuyến. Không có thượng cấp và thuộc cấp. Không thu thập tin tức mà chỉ tác động vào chính quyền.

Nhà nước CSVN truy tặng Thảo danh hiệu Liệt sĩ và quân hàm Đại tá QĐNDVN.

Cũng có nguồn tin cho rằng Phạm Ngọc Thảo là 1 gián điệp nhị trùng, nghĩa là làm việc cho CIA nữa.

 

Trúc Giang



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Dựa thế chồng, vợ cán bộ xã đứng ra làm chủ hụi cướp tiền đân, tuyên bố vỡ hụi, 66 người dân lo mất 6 tỷ đồng [Đã đọc: 43261 lần]
Làm thế nào để trúng số: Người phụ nữ gốc Việt may mắn nhất hành tinh trúng giải $64 triệu của SupperLotto Plus [Đã đọc: 26357 lần]
Chủ quyền Biển Đông : Donald Trump đề xuất làm trọng tài- VN được gì ở APEC? [Đã đọc: 19469 lần]
Gian thương CS tay sai TQ dán nhãn made in Vietnam trên hàng TQ kem chất lượng để lừa dân Việt và thế giới [Đã đọc: 18141 lần]
Người Việt hãy đến mở tiệm ngay: Thành phố Montreal đầu tư 50,000,000$C để chỉnh trang đường S-Hubert trong khu phố VN Montreal [Đã đọc: 16281 lần]
ĐÀ NẴNG KHOÁC LÊN MÌNH “TẤM ÁO” MỚI SẴN SÀNG CHÀO ĐÓN APEC 2017 [Đã đọc: 15388 lần]
Cậu bé mồ côi 15 tuổi bị bà chủ trọ cuồng dâm 57 tuổi thành Hồ dụ đi nhà nghỉ để cưỡng hiếp khiến em nhiễm trùng vùng kín [Đã đọc: 14509 lần]
Bút tích bác Hồ trong Văn khố Nga [Đã đọc: 14298 lần]
Lấy Tây vì tiền: Gái Việt vỡ mộng sau khi lấy chồng Tây [Đã đọc: 14045 lần]
Cảnh sát cơ động CSVN dã man lên gôi học sinh phải đi cấp cứu [Đã đọc: 13715 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.