Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2018
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30  
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 9
 Lượt truy cập: 10647456

 
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca 23.06.2018 07:18
Nhân dịp Bắc và Nam Hàn nói chuyện hòa hợp nhìn lại cuốc chiến VN Tết Mậu Thân
03.02.2018 09:33

Mậu Thân 1968- Ai thắng ai bại?   Vũ Ngự Chiêu
Trong số những trận đánh có tầm chiến lược quan trọng từ 1959 tới 1975, cuộc tổng tấn công vào các thành phố và tỉnh lỵ miền Nam đúng dịp Tết Mậu Thân (1968) được liệt vào hàng đầu. Đây là một chuyến “làm ăn” táo bạo của Lê Duẩn (1908-1986), Bí thư thứ nhất Đảng Lao Động [Cộng Sản] Việt Nam, đưa đến những thiệt hại to lớn về nhân sự cho Bắc quân.

 Nhưng về mặt chính trị và ngoại giao–dù có dự đoán trước hay chăng–ba đợt tấn công vào Sài Gòn-Chợ Lớn trong năm 1968 tạo một ảnh hưởng sâu đậm tại chính nước Mỹ. Bộ trưởng Quốc Phòng Robert S. McNamara, và rồi Tổng thống Lyndon B. Johnson cùng đa số thành phần chủ chiến đều nghiêng về phía tìm một giải pháp chính trị. Mặc dù hòa đàm Paris, nhóm họp từ mùa Xuân 1968, chưa giải quyết được ngay cuộc chiến Việt Nam, tình trạng vừa đánh vừa đàm kéo dài hơn bốn năm nữa, chiến dịch Mậu Thân đánh dấu một khúc quanh quan trọng. Ít nữa, nó cũng giảm hẳn cường độ cuộc chiến ở phía Bắc vĩ tuyến 17, kế hoạch Rolling Thunder [Sấm Rền] hầu như chấm dứt từ đầu tháng 11/1968–một cuộc xuống thang rõ ràng sau gần 5 năm “leo thang.”


Để có thể cân nhắc lẽ thắng-bại của cuộc Tổng Tấn Công-Tổng Khởi Nghĩa [TTC-TKN] Mậu Thân 1968, không thể chỉ dựa trên thứ thông tin mạo hóa, sản phẩm của các hệ thống tuyên truyền, chiến tranh chính trị của cả hai phe. Cũng không thể chỉ căn cứ vào số xác chết, bị thương, hay số vũ khí tịch thu ở trận địa. Trước hết, cần minh định bản chất cuộc chiến Việt Nam và nhìn lại diễn tiến của giai đoạn 2 của cuộc chiến 30 năm (1945-1975).

Cuộc chiến Quốc-Cộng ở Việt Nam, xét cho cùng lý, là một cuộc chiến ủy thác giữa các siêu cường, một trong những điểm nổ của thế “chiến tranh lạnh” giữa hai khối Tư Bản và Cộng Sản (1947-1991). Trên cơ bản, nó là một cuộc chiến “tiền đồn” mà sự thắng bại không có yếu tố quyết định đến đại thể.

Cuộc chiến tiền đồn Việt Nam đã khởi đầu không do chính người Việt. Tham vọng thực dân Pháp-Bri-tên đã bóp tắt mọi hy vọng cho nền hòa bình tại bán đảo Đông Dương sau khi Thế chiến thứ hai (1939-1945) vừa chấm dứt. Thủ tướng Winston Churchill của Bri-tên–tác giả thuật ngữ “bức màn sắt” từ năm 1946–không chỉ cực lực chống đối kế hoạch Quốc tế quản trị [International Trusteeship] cho Đông Dương của Tổng thống Franklin D. Roosevelt (1933-1945) mà còn tiếp tay cho chính phủ Charles de Gaulle (1944-1946) đặt một đầu cầu viễn chinh ở India để tái chiếm Đông Dương từ năm 1944. Người kế vị của Churchill còn công khai cho liên quân Pháp-Bri-tên đánh chiếm Sài Gòn từ cuối tuần 22-23/9/1945, và rồi ép buộc tù binh Nhật tham gia vào việc mở rộng vùng kiểm soát suốt miền Nam vĩ tuyến 16, đưa đến những cuộc tắm máu giữa hai phe Quốc-Cộng bản xứ.( 1) Trung Hoa, trong thời gian giải giới quân Nhật ở phía Bắc vĩ tuyến 16, cũng góp phần vào việc đảng tranh tanh máu của người Việt. Nhưng phe chống Cộng, dù nhân số thắng vượt, cuối cùng bị thua. Từ cuối năm 1946, Đảng Cộng Sản Đông Dương [CSĐD]–dưới chiêu bài Việt Minh–giành được độc quyền kháng Pháp. Vì lý do này hay lý do khác, phe chống Cộng phải nương dựa vào Trung Hoa, Pháp, và rồi Liên bang Mỹ cho chính sự sinh tồn của mình và gia đình; với hy vọng sẽ giành được độc lập một cách ôn hòa. Chua chát là người Hoa hay Pháp đều có hậu ý riêng khi lập ra những tổ chức chính trị hay các đơn vị tiền tiêu chống Cộng bản xứ. Qua các thí nghiệm Nam Kỳ tự trị, Tây kỳ tự trị, hay Tây Bắc tự trị, v.. v… trên thực tế người Pháp đã biến Việt Nam thành một xứ lâm chiến “phong kiến mới,” với Pháp và Việt Minh thủ diễn vai trò hai đại lãnh chúa [war-lords]. Từ năm 1948, Pháp khởi đầu thí nghiệm Bảo Đại (1913-1997), hy vọng lấy bớt ngọn gió “độc lập” khỏi cánh buồm kháng chiến của Việt Minh, và gom các sứ quân chống Cộng (Ki-tô, Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo, Nùng, Thái, Rhadé, v.. v…) dưới lá cờ quốc gia của cựu hoàng Bảo Đại để xin viện trợ Mỹ.( 2)

Chiến thắng của Mao Trạch Đông tại Hoa lục trong hai năm 1948-1949 làm thay đổi hẳn cán cân quyền lực tại Đông Dương. Hồ Chí Minh (1892-1969) và Việt Minh chẳng còn lựa chọn nào khác hơn ngả về phía tân Quốc Tế Cộng Sản (Cominform) do Josef V. Stalin cầm đầu, với sự phụ tá của Mao. Từ tháng 1/1950, Stalin ủy thác cho Mao và Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shaoqi] giúp đỡ Hồ thành lập các đại đơn vị bản xứ và cung cấp cố vấn tới cấp Sư đoàn.( 3) Đối lại, các chính phủ Mỹ can thiệp sâu hơn vào Đông Dương, đặc biệt là Việt Nam–cung cấp viện trợ cho Pháp tiếp tục tham chiến ở Đông Dương (NSC 68) sau ngày chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Năm 1954-1955 chính phủ Dwight D. [“Ike”] Eisenhower (1953-1961) còn trực tiếp can thiệp vào Nam Việt Nam, quyết biến phần đất phía Nam vĩ tuyến 17 thành một “tiền đồn chống Cộng” của Thế Giới Tự Do.

Với những người Việt chống Cộng hay không Cộng Sản, đây là việc làm đáng ca ngợi. Từ năm 1950, sự nhập cảng chủ thuyết Mao vào Bắc Việt–qua các đợt chỉnh cán, chỉnh quân, cải cách ruộng đất–gây hoang mang, sợ hãi trong mọi giới. Chính các cán bộ dày công kháng chiến cũng bị hạ tầng công tác, tù đày hay xử tử. Hàng chục ngàn phú nông bị “đấu tố,” hành quyết hay tự vẫn. Hơn nửa triệu giáo dân mang theo chuông nhà thờ và ảnh tượng thờ phụng từ Bắc vào Nam, cùng khoảng hơn 200,000 người Lương, mong chờ một vận hội mới. Nhưng dư luận thế giới cho rằng Mỹ đã vi phạm Hiệp định Geneva 20-21/7/1954 giữa Pháp và Việt Minh–Hiệp ước này qui định rằng sự phân chia nước Việt thành hai vùng tập trung quân đội Bắc và Nam vĩ tuyến 17 chỉ có tính cách tạm thời, và vấn đề thống nhất sẽ được quyết định bằng một cuộc tổng tuyển cử trong vòng hai năm.( 4)

Cơ quan tuyên truyền của khối Cộng Sản đã khai thác triệt để khía cạnh bất hợp pháp này của Mỹ–dù sau hậu trường chính trị, chính Viacheslav Molotov và Chu Ân Lai (1898-1976) mở cửa cho việc phân chia Việt Nam theo vĩ tuyến 17 trong một thời gian vô hạn định. Cả Mat-scơ-va và Bắc Kinh đều khuyến khích Hà Nội nên dùng khẩu hiệu thống nhất đất nước theo qui định của Hiệp ước Geneva như một chiêu bài chính trị và ngoại giao, để củng cố miền Bắc theo chế độ chuyên chính vô sản (“dân chủ nhân dân” hay “dân chủ tập trung”). Mat-scơ-va không đồng ý việc đánh chiếm miền Nam. Bắc Kinh cũng đã tạm hài lòng với sự an toàn của cửa ngõ chiến lược Đông Nam qua sự thành hình của một nhà nước hữu nghị ở Bắc Việt. Những người cầm đầu Trung Nam Hải chẳng muốn có một cuộc chiến Triều Tiên thứ hai; trong khi đại lục Trung Hoa còn ngổn ngang trăm ngàn khó khăn về chính trị, kinh tế, xã hội.

Đó là chưa nói đến sự rạn nứt khó tránh của cái gọi là khối Cộng Sản Quốc Tế, dựa trên chủ thuyết Karl Marx–một chủ thuyết Tân Trung Cổ đã y cứ trên tư duy từ giòng lịch sử phương Tây, đặc biệt là các nước đang kỹ nghệ hóa Âu châu, thiếu bề rộng toàn cầu (như Mỹ châu, Á châu và Phi châu). Đồng thời, cũng thiếu chiều sâu về các nền văn hóa nông nghiệp cổ thời và hiện trạng văn hóa-xã hội-kinh tế của Á châu–những nền văn minh không Ki-tô. Bởi vậy, thuyết của Marx bị Nga hóa thành Marxist-Leninism, rồi bị Hán hóa thành tư tưởng Mao Trạch Đông (và, sau 1978, thêm vĩ ngữ “lý luận Đặng Tiểu Bình”), trước khi bị sụp đổ tại các nước Đông Âu và Nga.

Sự hiềm khích giữa Nga Sô và Trung Cộng ngày một trầm trọng từ khi Nikita S. Khrushchev hạ bệ Stalin năm 1956 và chủ trương “sống chung hòa bình” với khối Tư Bản. Tuy vậy, Bắc Kinh cũng chỉ muốn được sinh tồn, hiện đại hóa Hoa Lục, đưa Trung Hoa lên hàng cường quốc Á châu, tránh những cuộc đương đầu không cần thiết với Liên bang Mỹ. Bởi thế, Mao có lần đưa ra “Mao ngữ” “cái chổi và đống bụi”–chổi chưa quét tới, đống bụi được nằm yên. Mao và giới lãnh đạo Trung Cộng ngầm muốn cho Nam Việt Nam hưởng tình trạng như Đài Loan hay Nam Hàn.

Pháp–phần vì quyền lợi kinh tế và văn hóa, phần vì niềm bi phẫn bị ép buộc rời Nam Việt Nam–và một số nước Á Phi không-liên-kết nghiêng thiện cảm về chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà [VNDCCH] ở Hà Nội.

Dĩ nhiên, Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và giới lãnh đạo Đảng LĐVN không đành lòng trước hiện trạng hai “nước” Việt Nam. Nhưng trong giai đoạn 1954-1958 phe Cộng Sản chỉ có thể giữ thế “phòng thủ chiến lược” ở miền Nam, trong khi thực hiện những biện pháp củng cố uy quyền ở miền Bắc–qua 5 đợt cải cách ruộng đất, hợp tác xã nông nghiệp, và công thương nghiệp. Cuộc đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Geneva, tức tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước, chỉ là những chiến dịch tuyên truyền cho có.

Tại miền Nam, chính phủ Ngô Đình Diệm không đủ khả năng thiết lập một chính quyền mạnh. Trong hai năm 1954-1956, nỗ lực thu hồi quyền chỉ huy quân đội và cảnh sát, song song với tham vọng tiêu diệt các sứ quân Bình Xuyên, Hòa Hảo, Cao Đài, cùng các đảng phái chống Cộng, khiến họ Ngô không thực hiện được những cải cách cần thiết tại mặt trận nông thôn–mặt trận có tính cách chiến lược, sống còn của miền Nam.( 5) Ngay tại các quận lỵ, tỉnh lỵ hay thị xã, thành phố, chế độ công an trị và giáo phiệt của họ Ngô chỉ đủ khả năng kềm chế các thành phần chống hoặc không Cộng Sản. Quốc sách diệt Cộng tương đối thành công ở miền Trung, trong khi miền Nam hơn 10.000 cán bộ Cộng Sản (trong số 40,000 cán bộ được gài lại) vẫn sống tiềm sinh tại các mật khu hay dưới các giả túc Bình Xuyên và giáo phái.( 6)

Từ đầu năm 1959, tại Hội Nghị thứ 15 (mở rộng) Ban Chấp Hành TƯ Đảng LĐVN (khóa II) đã có nghị quyết thống nhất đất nước (chiếm miền Nam bằng võ lực) và đưa miền Bắc “tiến lên” xã hội chủ nghĩa. Theo báo Nhân Dân, Nghị quyết này ban hành ngày 13/5/1959, sau khi Hồ Chí Minh từ Bắc Kinh trở về. Thực ra, Hội nghị 15 đã nhóm họp từ ngày 12 tới 22/1/1959. (Hai Xứ ủy viên miền Nam là Nguyễn Văn Xô và Phan Văn Đáng tham dự). Tiếp đó, tháng 3/1959, Bộ Chính trị [BCT] Đảng LĐVN ra chỉ thị về việc tổ chức xây dựng căn cứ cách mạng ở Cao nguyên Trung phần (Tây nguyên bao gồm miền rừng núi Liên khu V và vùng Đông Bắc Nam bộ). Rồi cho thành lập các đơn vị vũ trang ở Quảng Ngãi (3/1959), Bình Định (7/1959), Khánh Hòa, Phú Yên, v.. v… Đồng thời, gia tăng cường độ các vụ khủng bố, ám sát viên chức xã, ấp tại quận Trà Bồng, Quảng Ngãi của sắc dân Cor, Ba Tơ, Sơn Hà, Minh Long v.. v…. Ngày 7/5/1959, BCT cũng chỉ thị cho xứ ủy Nam bộ “Cần phát động một phong trào đấu tranh chính trị rộng rãi trong quần chúng, đồng thời tùy từng nơi, từng lúc ra sức phát triển hoạt động vũ trang tuyên truyền để đưa địch vào thế thụ động, cô lập hơn nữa về chính trị.” (7)

Mãi tới trung tuần tháng 5/1959, Đảng LĐVN mới có cơ hội để công bố chính sách mới. Cơ hội thứ nhất là ngày 6/5/1959, chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành Luật 10/59 nhằm diệt Cộng và thiết lập tòa án quân sự lưu động để xét xử cán bộ Việt Cộng. Toà Mặt Trận này có quyền chung thẩm; dùng Dụ số 47 năm 1956 để trừng trị “Việt Cộng.” Ngay trong ngày 7/5/1959, Ban Bí thư [BBT] Đảng LĐVN chỉ thị cho XUNB về những biện pháp đối phó với Luật 10/59. Một tuần sau, ngày 14/5, Võ Nguyên Giáp cũng gửi điện văn cho Ủy Ban Quốc tế Kiểm soát đình chiến phản đối Luật trên.( 8)

Cơ hội thứ hai là đột biến chính trị ở Lào, một vương quốc trung lập, nơi Hà Nội có ảnh hưởng lớn trên tổ chức Pathet Lào tức Neo Lao Hak Sat (Mặt trận Yêu Nước Lào). Ngày 11/5/1959, Phoui Sananikone bắt giữ các lãnh tụ Pathet Lào, kể cả Souphanouvong, Phoumi Vongvichit và Đại tá Singkapo. Việc bắt giữ này đưa Kaysone Phomvihane lên cầm đầu Pathet Lào. Rồi ngày 17/5, quân Pathet Lào rời Cánh Đồng Chum [Plaine de Jarres] rút qua lãnh thổ Việt Nam, từ chối sát nhập vào quân đội Hoàng Gia. Sau đó, phát động du kích chiến ở vùng Sầm Nưa, với sự giúp sức của các “chuyên gia” Hà Nội. Chu Huy Mân và Trần Văn Trà (1919-1996) nhận lãnh “nghĩa vụ quốc tế” của “Đoàn 100” và “Đoàn 959” [thứ nhất] trong cuộc nổi loạn này.

Mặc dù Mat-scơ-va không đồng ý cho Hà Nội tấn công miền Nam, và Bắc Kinh thì chỉ muốn Hồ Chí Minh “trường kỳ mai phục,” Hà Nội vẫn làm ăn theo ý mình. Liên Sô và Trung Cộng miễn cưỡng xuôi theo, tiếp tục viện trợ cho Hà Nội để gây thiện cảm giữa lúc rạn nứt giữa Mat-scơ-va và Bắc Kinh ngày càng trầm trọng, và tránh tiếng thiếu tinh thần nghĩa vụ quốc tế.( 9)

Cách nào đi nữa, từ tháng 5/1959, Thượng tá CS Võ Bẩm được lệnh lên đường vào Nam, khai mở đường giây liên lạc, sau này được biết như Binh Đoàn 559. Bẩm người Quảng Ngãi, trước đó đã được Trần Lương, Bí thư Khu V, và Tướng Nguyễn Văn Vịnh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Thống Nhất, giao nhiệm vụ chuyển thuốc men và một số súng đạn cho Khu V. Qua tháng 7/1959, Hà Nội còn tổ chức một đường giây hải thuyền 759 hay 125 để chuyển vận khí giới vào Nam dọc theo duyên hải.

Từ tháng 11/1959, Xứ Ủy Nam Bộ và Khu V (Trung bộ) bắt đầu phát động chiến dịch “khởi nghĩa” hay “đồng khởi” khắp miền Nam (Nghị quyết 4). Những ngày gần Tết Canh Tí (1960) chính phủ Ngô Đình Diệm bị choáng váng vì những đợt đột kích của Cộng Sản khắp nơi, từ Cà Mau tới Bình Dương. Chấn động dư luận nhất là cuộc đột nhập Bộ Chỉ huy Trung đoàn 32 của Sư đoàn tân lập 21 (nguyên là Trung đoàn 39, Sư đoàn 13 Khinh chiến) ở Trảng Sụp, Tây Ninh đêm 25 rạng 26/1/1960. Khoảng 200 VC vượt các trạm gác, xuyên qua doanh trại các Tiểu đoàn. Giao tranh diễn ra trong khoảng 1 tiếng đồng hồ. 23 quân nhân VNCH chết, 43 bị thương, mất một số lớn vũ khí trong kho (2,000). Bộ Chỉ huy Trung đoàn, hai doanh trại bị phá hủy và 4 doanh trại khác bị hư hại. (10)

Chiến lược của Cộng Sản thời gian này là lập căn cứ, đấu tranh võ trang ở vùng rừng núi, đấu tranh chính trị và bán quân sự ở nông thôn, và đấu tranh chính trị tại các thị trấn và thành phố. Những hành vi khủng bố, ám sát viên chức hành chính và an ninh cấp thôn, xã ngày một gia tăng. “Phiến Cộng” cũng không ngừng đánh phá các trung tâm dinh điền hay Khu Trù Mật ở cao nguyên Trung phần và miền Tây đồng bằng Cửu Long, kể cả việc sử dụng “đạo quân tóc dài.” “Bức tường người” của Ngô Đình Diệm xây dựng từ năm 1955-1956 bị lung lay tận rễ gốc. Tuy nhiên, Hà Nội vẫn giữ bề ngoài hợp pháp; chờ đợi thời cơ. (11)

Tình hình suy thoái an ninh miền Nam khiến viên chức Mỹ không ngớt báo động về Oat-shinh-tân. Thêm vào đó, sự bất mãn và chống đối chính phủ ngày một gia tăng. Tại Sài Gòn, chế độ bị choáng váng vì một bức tranh bìa đặc san Xuân nhật báo Tự Do–tờ báo chịu ảnh hưởng của Sở Nghiên Cứu Chính Trị và Xã Hội của Trần Kim Tuyến. Chẳng hiểu họa sĩ Phạm Tăng muốn vẽ gì mà được diễn dịch thành “6 con chuột đang gậm nhấm trái dưa hấu Việt Nam;” và người ta liền truyền tụng rằng 6 con chuột đó tiêu biểu anh chị em họ Ngô. Hai tháng sau, thêm một trái bom chính trị nổ tại Sài Gòn, tức Bản kháng thư (manifesto) phản đối chế độ độc tài Ngô Đình Diệm được phân phối trong cuộc họp báo của 18 nhân vật tên tuổi tại khách sạn Caravelle ngày 26/4/1960. Hầu hết các chính khách này từng hợp tác với chế độ.( 12)

Tháng 9 năm 1960, tại Đại hội thứ III của Đảng LĐVN, Hồ Chí Minh và Bộ Chính Trị lại ra nghị quyết “giải phóng miền Nam bằng võ lực.”( 13) Theo tuyên truyền của Hà Nội, miền Nam đã trở thành thuộc địa của đế quốc Mỹ, và đánh chiếm miền Nam là cuộc chiến tranh “chống Mỹ cứu nước,” một cuộc thánh chiến giải phóng. Chính quyền chống Cộng miền Nam bị hạ giá thành “Ngụy quyền,” “ tay sai đế quốc Mỹ.” Vì áp dụng triệt để lẽ phải của họng súng, Hà Nội chẳng cần nhắc nhở gì đến những mưu toan chiến lược của Trung Cộng và Nga Sô, mà chỉ ca ngợi Nga Sô và Trung Quốc vĩ đại, nhiệt liệt hoan hô bất cứ ai đang cầm quyền ở hai nước đàn anh, không tiếc lời “ngàn đời nhớ ơn” viện trợ của “phe ta.”( 14) Và, dĩ nhiên, luôn luôn có thành kiến tiên thiên: Bất cứ ai chống lại chủ thuyết Cộng Sản đều là phản động, phản cách mạng, phải ngừng hiện hữu.

Nghị quyết của Hà Nội năm 1960 và tình hình suy thoái an ninh ở miền Nam khiến Đại sứ Elbridge Durbrow phải đề nghị với Oat-shinh-tân áp lực Tổng thống Diệm cải cách chính trị, kể cả việc nghiên cứu cho hai vợ chồng Cố vấn Ngô Đình Nhu rời nước và giải tán hoặc ra công khai Đảng Cần Lao.( 15) Nhưng ngọn lửa tiếp sức cho Nghị quyết trên là cuộc đảo chính hụt của Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến trong hai ngày 11-12/11/1960. Đúng lúc cuộc đảo chính vừa diễn ra ở Sài Gòn, Bộ Chính Trị Đảng LĐVN quyết định cho Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam [MTDTGPMN] ra công khai.( 16)

Mặc dù là con đẻ của Đảng Cộng Sản, tổ chức đại chúng này (giống như tổ chức Việt Minh hay Liên Việt) lôi kéo được một số người không Cộng Sản, nhưng chán ghét hoặc là nạn nhân của chính phủ.( 17) Chính vì thế đã có nhiều người cả đoan rằng cuộc xâm lăng miền Nam của Cộng Sản chỉ là “cuộc nội chiến” giữa những phe phái miền Nam.( 18)

Nhờ có cán bộ và khí giới xâm nhập từ miền Bắc, và sự chỉ đạo chặt chẽ từ Hà Nội, tổ chức MT/GPMN ngày một lớn mạnh. Cơ cấu hành chính nông thôn của chính phủ Diệm ngày một suy sụp. Năm 1960, tỉnh trưởng Vĩnh Long là Khưu Văn Ba bị ám sát. Năm sau, tỉnh trưởng Phước Thành bị đấu tố ngay giữa nhà lồng chợ trước khi bị treo cổ. Chiến trận rộ lên ở vùng cao nguyên vào đầu mùa khô 1961, khiến chính phủ Ngô Đình Diệm phải tuyên bố tình trạng lâm nguy, kêu gọi Thế Giới Tự Do cứu giúp–và chính Diệm ngầm yêu cầu Liên bang Mỹ gửi quân tác chiến vào Nam. Tuy nhiên, trước sự chống đối của dư luận Mỹ và thế giới, chính phủ John F. Kennedy (1961-1963) chỉ hứa sẽ giúp Việt Nam bằng mọi phương tiện, ngoại trừ việc trực tiếp tham chiến. Quyết định này của Kennedy tạo nên những căng thẳng trong liên hệ Mỹ-Việt vào cuối năm 1961, và báo chí Sài Gòn–theo lệnh của Ngô Đình Nhu–mở một chiến dịch bài Mỹ xâm phạm chủ quyền và nền độc lập của miền Nam. Dẫu vậy, cuối cùng, hai bên đồng ý thực hiện “kế hoạch chống phản loạn” [CIP], với điều kiện Mỹ ngưng đòi hỏi Tổng thống Diệm cải cách về chính trị. Từ cuối năm 1961, miền Nam bắt đầu kế hoạch bình định nông thôn qua việc chấn chỉnh các khu trù mật và dinh điền cũ thành những thí điểm “xóm chiến đấu” ở Tây Ninh, Quảng Ngãi và Vĩnh Long, theo nguyên tắc “vết dầu loang” [oil spot]. Tiếp đó, tháng 3/1962, chính phủ phát động quốc sách Ấp Chiến Lược [ACL], theo kế hoạch của Robert [“Bob”] Thompson, một chuyên viên chống phản loạn Bri-tên. Tuy nhiên, đã qua trễ. Cộng Sản tìm mọi phương cách bẻ gãy quốc sách ACL–qua việc tấn công, phá vỡ các ACL bằng quân sự, chính trị và binh vận–đồng thời gia tăng xâm nhập cán binh từ Bắc.( 19)

Cuộc đánh bom Dinh Độc Lập vào tháng 2/1962, rồi đến cuộc đảo chính 1/11/1963 và những năm tháng hỗn loạn chính trị sau đó–với nhiều cuộc đảo chính, chỉnh lý, xuống đường biểu tình ở các thị xã và tỉnh lÿ lớn, và nhất là mối hiềm khích giữa Phật tử với giáo dân Ki-tô trong hai năm 1964-1966(20)–khiến từ năm 1964 chính phủ Lyndon B. Johnson quyết định oanh tạc trả đũa miền Bắc, và rồi đưa quân tác chiến Mỹ vào Nam Việt Nam để cứu vãn tình thế. Lê Duẩn không chịu lùi, quyết leo thang “tiến công,” xâm nhập từng đại đơn vị chính qui vào Nam. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1914-1967), Ủy viên Bộ Chính Trị, Chủ Nhiệm Tổng Cục Chính Trị, được giao quyền chỉ huy khoảng 200,000 bộ đội “sinh Bắc tử Nam” để chống lại “cuộc chiến cục bộ” (tự giới hạn) của Mỹ. Vào Nam (“đi B”) từ mùa Hè 1964, Nguyễn Chí Thanh được chỉ định làm Bí thư Trung Ương Cục Miền Nam (mới được tái lập, hoạt động dưới danh nghĩa Đảng Nhân Dân Cách Mạng Việt Nam trong MT/ GPMN), kiêm Chính ủy B-2.

Sau ngày Thanh vào Nam, tổ chức lãnh thổ phía Nam vĩ tuyến 17–với hai chiến trường B-1 và B-2 từ năm 1961–cũng thay đổi.

“B-2” gồm 5 tỉnh phía Nam Trung bộ và toàn miền Nam, chia làm 4 Quân Khu: Khu 6 (Nam Trung bộ), Khu 7 (Đông Nam bộ), Khu 8 (Trung Nam bộ) và Khu 9 (Tây Nam bộ), cùng Đặc khu Sài Gòn/Gia Định (T-4).

Khu V (B-1) chia ra làm hai: “B-1,” gồm 8 tỉnh duyên hải miền Trung, từ Quảng Trị vào Khánh Hòa; “B-3,” tức Mặt Trận Tây Nguyên gồm 3 tỉnh Pleiku, Kontum, Ban Mê Thuột, với Nguyễn Chánh làm Tư lệnh, Đoàn Khuê làm Chính ủy. Tháng 9/1965, Chu Huy Mân làm Tư lệnh kiêm Chính ủy B-3. Tháng 4/1966, lập thêm Quân khu Trị-Thiên (B-4), do Lê Chưởng làm Tư lệnh kiêm Chính ủy. Hai tháng sau, 6/1966, lập Mặt Trận Đường 9 (tức B-5), do Vũ Nam Long (Đoàn Văn Ưu, 1921-?) làm Tư lệnh; Nguyễn Xuân Hoàng, Chính ủy.

Mặt Trận Tây Nguyên, trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu ở Hà Nội, là nơi hoạt động của các đơn vị từ Bắc xâm nhập. Cuối năm 1967, “B-3” có hai đại đơn vị Nông trường 1 (SĐ 1) và Nông trường 10 (SĐ 325B), cùng Trung đoàn 24, các đơn vị pháo, phòng không, quân y, vận tải, v.. v…

Các đơn vị vũ trang tại các quân khu khác cũng được tổ chức lên cấp sư đoàn (công trường): Sư Đoàn 2, Sư Đoàn 3 “Sao Vàng” thành lập ngày 2/9/1965 tại Bình Định (Quân khu 5); Tư lệnh, Giáp Văn Cương; Chính ủy, Đặng Hòa; Sư Đoàn 9 thành lập ngày 2/9/1965 tại Phước Thành, Bình Long; tham gia chiến dịch Dầu Tiếng (1965); Tư lệnh, Hoàng Cầm; Chính ủy, Lê Văn Tưởng; Sư Đoàn 5 thành lập ngày 23/11/1965 tại Bà Rịa (Căn cứ Mây Tầu); Tư lệnh, Nguyễn Hoà; Chính ủy, Lê Xuân Lựu; Sư Đoàn 7 thành lập ngày 13/6/1966 tại Phước Long; tư lệnh, Nguyễn Hòa; Chính ủy, Dương Cự Tẩm.

Thanh áp dụng chiến lược đã quen thuộc của Mao Trạch Đông: Lấy nông thôn bao vây thành thị cho tới lúc ung thối, rồi sẽ dứt điểm.( 21) Nhưng đối thủ của Thanh là William C. Westmoreland, một cựu Tướng Nhảy Dù. Ngoài ra, còn có cả một đạo quân cơ giới tối tân bậc nhất thế giới. Đó là chưa nói đến oanh tạc cơ chiến lược B-52 (lần đầu tiên yểm trợ chiến thuật tại Bến Cát ngày18/6/1965) mà chỉ những bộ đội “sinh Bắc tử Nam” mới đầy đủ kinh nghiệm nói về mức tàn phá. Bởi thế, bày ra trận đánh nào, Thanh thua trận đó–từ Đức Cơ (Pleiku, 8/1965), An Khê (9/1965), tới Pleimei (10/1965), Ia Drang (10-11/1965), Ia Drang 2 (Sa Thầy, 10-12/1966), Tây Ninh (11/1966), v.. v…

Với chiến lược “truy diệt [search-and-destroy],” Westmoreland đã có thể tảo thanh cả những chiến khu bất khả xâm phạm trong giai đoạn 1945-1954: Tam Giác Sắt, Chiến khu C, Chiến khu D (chiến dịch Cedar Falls, Junction City, v… v…).

Song song với chiến lược “truy diệt” này là một chương trình bình định (xây dựng) nông thôn. 54 tiểu đoàn chính qui VNCH, kể cả Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến, được giao nhiệm vụ yểm trợ cho 555 toán cán bộ Xây Dựng Nông Thôn bình định và cải tổ dần từng thôn ấp. Trên lý thuyết, đây là một chiến lược lý tưởng nhất: sử dụng hơn 500,000 quân Mỹ và Đồng Minh để bẻ gẫy các lực lượng chính qui Cộng Sản, trong khi thanh lọc dần những cán bộ hạ tầng Cộng Sản, theo chính sách vết dầu loang. Trên thực tế, dẫu có nhiều khiếm khuyết–như lãnh đạo yếu kém, tệ nạn phe đảng, tham nhũng, hối lộ tràn lan–“kế hoạch hai gọng kìm” này khiến chính quyền miền Nam ngày thêm vững mạnh. (22) Ít nữa, cũng vững mạnh hơn giai đoạn “kiêu binh” 1963-1966. Đồng thời, chính phủ Johnson bắt đầu hợp hiến hoá chế độ miền Nam; đưa Nam Việt Nam trở lại tình trạng một quốc gia có hiến pháp (1/4/1967), quốc hội, v.. v…

Từ tháng 5/1967, Nguyễn Chí Thanh có ý định thay đổi chiến lược: đưa chiến tranh vào thành phố để gỡ rối cho hạ tầng cơ sở nông thôn. Thanh muốn tung ra những đợt đột kích kéo dài ít ngày, rồi triệt thoái. Nhưng cái chết đột ngột của Thanh vào mùa Thu 1967 khiến Hà Nội–đúng hơn, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và Văn Tiến Dũng–cải tiến kế hoạch đột kích thành phố và thị xã thành một cuộc Tổng Tấn Công. Có lẽ vào thời gian này, yếu tố “ngoại giao” hay “mặt trận chính trị” mới được thêm vào, giúp kế hoạch “Tổng Tấn Công” hay “Tổng Công Kích” có kích thước lớn lao hơn.( 23)

Sự thay đổi chiến lược này được thực hiện trước tiên bằng việc tăng cường nhân sự cho miền Nam. Phạm Hùng (Phạm Văn Thiện, 1912-1988), một cộng sự viên đắc lực của Lê Duẩn trong thời chiến tranh Pháp-Việt ở miền Nam, Ủy Viên Bộ Chính Trị, được chỉ định làm Bí thư Trung Ương Cục Miền Nam, kiêm Bí Thư “B-2”. Hoàng Văn Thái (tức Xiêm, 1915-1986), tay chân thân tín của Giáp, vào nắm toàn bộ lực lượng võ trang B-2. Vũ Nam Long (Đoàn Văn Ưu, sinh 1921) được điều từ Quân Khu IV Bắc Việt vào Đặc khu Trị-Thiên (B-4) (thành lập từ tháng 4/1966) để phụ tá Trần Văn Quang.

Tiếp đến việc cải tổ khu vực lãnh thổ Huế và Sài Gòn. Đồng thời, để gây tiếng vang và nhắm mục đích kéo quân Mỹ ra xa các thành phố, Cộng Sản mở năm mặt trận lớn: Trận Cồn Tiên ở vùng vĩ tuyến 17 từ cuối tháng 6/1967 tới tháng 9/1967; trận Lộc Ninh (Phước Long) ở gần biên giới Miên từ 27/10 tới 5/12/1967; trận Dak To (Kontum) (11/1967); và, đặc biệt, chiến dịch Khe Sanh-Đường 9 sát ranh giới Lào từ ngày 20/1 tới 15/7/1968. Mặc dù các đơn vị CSBV thiệt hại nặng nề, quyết tâm đánh lớn, đánh lâu của Cộng Sản khiến các chiến lược gia Đồng Minh và VNCH phải gợi nhớ đến bài học quân sử Điện Biên Phủ (1954).( 24) Chính vì thế, mặc dù phát hiện nhiều bằng chứng khả tín, ít ai tiên đoán được, hoặc công khai cảnh cáo dư luận thế giới về một cuộc Tổng Tấn Công trên toàn lãnh thổ miền Nam–một cuộc tự sát tập thể (kamikaze) trông thấy trước mắt.( 25)

Cho đến hiện nay, Hà Nội vẫn chưa công bố hết động lực khiến Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và Văn Tiến Dũng đã có quyết định lạ lùng trên. (Vai trò của Hồ Chí Minh trong lối đánh “cách mạng” kiểu Việt Nam này còn là một dấu hỏi: Ở số tuổi 76, thường xuyên đau yếu, sống tại Hoa Nam nhiều hơn Hà Nội đang “sơ tán”, Hồ có tiếng nói nào chăng?)

Theo nội dung bài nói chuyện của Lê Duẩn tại Hội nghị TW lần thứ 14, vào đầu năm 1968, CSBV đã “mạnh hơn” Mỹ và Đồng Minh về phương diện quân sự. Mặc dù về quân số, tỉ lệ là 3/1, nhưng lực lượng cơ động Cộng Sản 2, phe Mỹ và Đồng Minh chỉ có 1. Duẩn khẳng định: “Địch chưa bao giờ diệt ta một đại đội [sic]; Ta diệt từng tiểu đoàn địch.” “Về quân sự nó thua rồi.” Bởi thế phải nắm lấy “thời cơ,” tiến công (Tổng tấn công) theo đúng lời Karl Marx và Lenin chỉ dạy: “Cách mạng là tiến công; không tiến công là thất bại.” 

Trong khi đó, những chuyển biến chính trị trong hai năm 1966-1967 cho thấy chế độ miền Nam sắp suy sụp, Cộng Sản sẽ thay Phật Giáo làm chủ tình hình chính trị các tỉnh lỵ và thị xã. Duẩn giải thích thêm: Từ khi Phật Giáo thất bại (“tự thiêu là bạo lực”), “quyền lãnh đạo thuộc về ta;” Sài Gòn có vài ba vạn [20,000-30,000] đảng viên đang nằm im; “Ta làm chủ Đà Nẵng 70 ngày;” “cuối năm 1967, ta đã chỉ đạo quần chúng đô thị;” “Quần chúng đã chín muồi, muốn nắm chính quyền;” “hầu hết đô thị đều sôi nổi, coi như bây giờ không có con đường nào khác, phải khởi nghĩa, phải đánh đổ Mỹ.” Vấn đề quan trọng là “làm sập chính quyền của nó;” “phải phá hết, phá rất dữ hậu cứ của nó;” “Phải chuyển qua tổng công kích, tổng khởi nghĩa.” Mỹ thua, sẽ phải ngồi vào bàn hội nghị. 

Rồi Duẩn hy vọng “300,000 người Sài Gòn cầm súng đánh Mỹ;” “Ta mạnh lên, chúng vọt xuống;” “tất cả các lực lượng phản chiến sẽ ngả về ta.” Duẩn cũng nhấn mạnh: Tổng tấn công là “một chiến dịch”, “một giai đoạn”, 3 tháng, 6 tháng, còn kéo dài. Và tiết lộ “đã bàn với TWC;” “thấy nhu cầu của quần chúng thực sự, nguyện vọng quần chúng thực sự;” “Ta không bàn với ai, bí mật lắm.” Chủ trương lớn, đã đề ra từ nghị quyết 11, 12 [năm 1965]; Duẩn từng nói với Lưu Thiếu Kỳ và Leonid Brezhnev. “Ta khởi đầu, ta sẽ kết thúc. Độc lập, không nghe ai cả.” (26)

Trung tướng Trần Độ–tức Tạ Ngọc Phách (1923-2002), Phó Chính ủy B-2, người được giới tình báo, truyền thông phong (một cách lầm lẫn) là cấp chỉ huy của mặt trận Sài Gòn–tiết lộ với một ký giả vào năm 1981 rằng Cộng Sản tin tưởng có thể thắng lợi, chiếm giữ được một số thành phố. Riêng về phản ứng chính trị ở Mỹ chỉ là điều may mắn, không trù liệu trước.( 27) Nhận xét này phản ánh nội dung bài nói chuyện dẫn trên của Lê Duẩn. Tuy nhiên, còn quá ít tài liệu để phán xét mức độ sâu sát của lời chứng trên. Dù ở cương vị Phó Chính Ủy B-2 chưa hẳn Trần Độ biết rõ hết những lý do thầm kín của cuộc Tổng Tấn Công-Tổng Khởi Nghĩa Mậu Thân 1968.

Y sĩ Dương Quỳnh Hoa–một cán bộ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, từng bí mật vào Sài Gòn “công tác” trong trận Mậu Thân, và có chân trong Chính phủ Lâm thời Cộng Hòa miền Nam– cũng than van, vào năm 1981, rằng Hà Nội đã “tính toán sai lạc” một cách thảm hại, khiến suy yếu cuộc nổi dậy ở miền Nam (Karnow 1984:545). Giống như trường hợp Trần Độ, nhận xét này phần nào hữu lý, nếu chỉ dựa trên những lời tuyên bố của Lê Duẩn tại Hội nghị trung ương thứ 14; đặc biệt là “nguyện vọng” nổi dạy lật đổ chính quyền của dân chúng miền Nam (Tổng Khởi Nghĩa).

Y sĩ Hoa, cùng nhiều thành viên MT/GPMN, cũng hàm ý rằng Hà Nội đã nhân cơ hội Mậu Thân làm suy yếu lực lượng võ trang của MT/GPMN, hầu có thể chi phối hoàn toàn tình thế. Từ Hội nghị 14 (khóa III), Hà Nội đã dự trù cho khai sinh một Măt Trận II, chuẩn bị thành lập một chính phủ trung ương lâm thời cho miền Nam Việt Nam, với những khuôn mặt mới mẻ hơn, kể cả vài khuôn mặt thân Pháp.( 28)

Tuy nhiên, nếu khách quan phân tích, khi tung ra cuộc tự sát tập thể Mậu Thân 1968, Hà Nội đã nhắm vào ba mục tiêu chính: gỡ rối về quân sự, mở mặt trận chính trị ở quốc ngoại, và làm suy yếu tiềm lực chống Cộng của thị dân miền Nam.

Một trong những mục đích chính của Hà Nội nhằm khích động tinh thần cán binh. Như chúng ta đã biết, từ năm 1965, cường độ các trận đánh giữa Cộng quân và lực lượng Đồng Minh ngày thêm gia tăng. Số tổn thất của Cộng Sản về phi pháo rất cao.( 29) Đáng lưu ý hơn nữa là cái chết của Nguyễn Chí Thanh vào mùa Thu 1967.( 30)

Trong khi đó, kế hoạch phong tỏa kinh tế và những cuộc hành quân bình định của VNCH–do 555 toán Xây Dựng Nông Thôn phụ trách dưới sự bảo vệ của các đơn vị chủ lực, cùng tài trợ, cố vấn của Bộ Tư lệnh MACV và các nha sở liên hệ, dưới sự phối hợp của Robert W. Komer–khiến tinh thần cán binh Cộng sản xuống rất thấp.( 31) Số cán bộ hồi chính ngày một lên cao (20,242 cho cả năm 1966, 13,551 người trong 4 tháng đầu năm 1967, và lên tới trên 27,000 cho trọn năm). (The Pentagon Papers (Gravel), I:15) Tình trạng “lạc ngũ”–tức bỏ đơn vị, lang thang trong rừng–cũng xuất hiện. Đánh vào thành phố, bởi thế, là đi vào cửa chết để tìm cái sống.

Trước hết, tấn công vào các thành phố sẽ khiến Đồng Minh và quân VNCH phải cắt giảm các cuộc hành quân truy diệt, rút về thế thủ, bảo vệ các vòng đai an ninh. Các đoàn Xây Dựng Nông Thôn sẽ mất lực lượng quân sự yểm trợ, dễ bị thanh toán. Lực lượng Nghĩa quân (Dân vệ) hay Địa Phương quân (Bảo An) cũng bị xuống tinh thần. Tại vùng IV, chẳng hạn, khoảng 400 tiền đồn đã rút lui không một tiếng súng kháng cự trong dịp Tết Mậu Thân. Những viên chức hành chính địa phương cũng mất điểm tựa cần thiết. Các cơ sở nông thôn của CS sẽ có cơ hội khôi phục.

Dĩ nhiên, một cuộc tấn công qui mô như thế phải tổn thất lớn lao về nhân mạng và vũ khí.( 32) Chưa tài liệu CS nào cho biết yếu tố tổn thất có được nghiên cứu hay chăng. Sự im lặng này–dù đã gần 40 năm trôi qua–chứng tỏ sự nhẫn tâm của giới lãnh đạo Cộng Sản: Chẳng những thản nhiên ném hơn 80 chục ngàn cán binh vào tử địa–mà một số không nhỏ còn dưới 18 tuổi–Lê Duẩn, Lê Đức Thọ cùng các cán bộ cao cấp còn lừa bịp họ là nhất định sẽ chiến thắng, giải phóng trọn vẹn được miền Nam, dân chúng các đô thị đang trông chờ họ, và nhất định sẽ có tăng viện cho các đoàn quyết tử tiền phong. Ba tiếng “Tổng Khởi Nghĩa” được điền thêm vào kế hoạch Tổng Tấn Công nguyên thủy có lẽ phần nào mục đích tác động (động viên) tinh thần này, hơn thực tâm tin tưởng rằng CS đủ khả năng lật đổ chế độ có vẻ suy yếu sau nhiều biến loạn chính trị tại miền Nam từ năm 1963. Lê Minh, người chỉ huy mặt trận Huế, cũng thú nhận và ngầm chỉ trích dã tâm bịp bợm cán binh cùng sách lược thí quân của Hà Nội.

Song song với ý niệm thí quân để giải tỏa áp lực của Đồng Minh tại nông thôn–nguồn cung cấp tài nguyên nhân, vật lực–là một mặt trận ngoại giao vừa hé mở.

Từ năm 1962, đã bắt đầu có những cuộc tiếp xúc bí mật giữa Mỹ và Bắc Việt. Chiều ngày 22/7/1962, nhân dịp ký Hiệp ước về Lào, Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm gặp W. Averell Harriman tại khách sạn Hotel Suisse, Geneva. Harriman cho Khiêm biết rằng Kennedy đã quyết định tăng viện cho Nam Việt Nam vì cuộc chiến tranh du kích tại miền Nam do miền Bắc điều khiển (bằng chứng là báo cáo của UBQT/KSĐC), và Mỹ sẽ chấm dứt sự hiện diện quân sự nếu Hà Nội trở lại tình trạng Hiệp định Geneva qui định. Khi Khiêm biện bạch đây thuần chỉ là cuộc nổi dạy của dân chúng miền Nam, không hề có lính miền Bắc tham chiến, Harriman nói không muốn thảo luận nhiều về vấn đề này, và tuyên bố sự can thiệp của Mỹ chỉ chấm dứt khi nào Bắc Việt ngừng xâm lăng miền Nam. Từ ngày này, có nhiều nỗ lực bí mật của phe “chủ hòa” miền Bắc, qua trung gian nhiều chính phủ và tổ chức–đặc biệt là Liên Sô Nga, Liên Hiệp Quốc, Pháp và Vatican–để tìm giải pháp hòa bình. Tuy nhiên, mãi tới đầu năm 1967, Phó Thủ Tướng kiêm Ngoại Trưởng Nguyễn Duy Trinh mới nêu lên điều kiện để hòa đàm: ngưng oanh tạc Bắc Việt và triệt thoái quân viễn chinh Mỹ khỏi Việt Nam vô điều kiện. (33)

Ngày 8/2/1967, TT Johnson viết thư cho Hồ Chí Minh, và được phúc đáp tương tự. Bảy tháng sau, ngày 26/9, Johnson đồng ý ngưng oanh tạc có điều kiện (thường được biết như Phương thức San Antonio). Cuối năm 1967, sau những chuyến xuôi ngược của đại diện Vatican giữa Roma và Hà Nội (Johnson 1971:268-269), Trinh lại thêm một lần đề cập đến vấn đề “điều kiện” hòa đàm. Cơ hội cho hòa đàm đã hé mở.

Tuy nhiên, hòa đàm ở thế nào, mạnh hay yếu? Muốn thắng lợi ở bàn hội nghị, cần mạnh ở chiến trường. Hoặc, phải tạo được chứng cớ để thổi phồng sức mạnh của mình ở chiến trường. Thực tế, về trang bị, vũ khí hay khả năng tác chiến, CSVN khó thể đương đầu một đạo quân hùng mạnh, cơ giới tối tân như lực lượng Mỹ và Đồng Minh. Dẫu vậy, đạo quân Mỹ cũng có nhược điểm: cần một thời gian khá dài để ổn định tình hình, và nhiều quân số hơn nữa để chiến thắng. Nhưng Johnson từng tuyên bố cuộc tham chiến của Mỹ sẽ ngắn hạn, ánh sáng ở cuối đường hầm không xa, và để chiến thắng tổng số quân Mỹ cần thiết chỉ lên tới 525,000 người vào giữa năm 1968. Đáng lo hơn nữa, cứ bốn năm nước Mỹ có một cuộc tranh cử Tổng Thống cùng một nửa số ghế trong Thượng Viện; và, một Tổng Thống chỉ có thể giữ chức vụ tối đa trong hai nhiệm kỳ, tức 8 năm. 

Đó là chưa nói Việt Nam–ngoài công dụng ngăn chặn sự bành trướng ảnh hưởng của Liên Sô xuống vùng Đông Nam Á–chẳng có gì quyến rũ. Mỹ tiếp tục giữ quân chiến đấu ở Việt Nam phần lớn vì niềm kiêu hãnh của một siêu cường, vì an ninh, thịnh vượng chung của toàn vùng Đông Nam Á, và vì những cuộc bầu cử tại chính nội địa Mỹ–tức không một Tổng thống hay một chính đảng nào, dù Dân Chủ hay Cộng Hòa, muốn đi vào lịch sử như đã bại trận tại Việt Nam–hơn quyết tâm biến miền Nam Việt Nam thành một tiền đồn đích thực của tự do, dân chủ. Nói cách khác, mục đích chính của Mỹ là nhằm ngăn chặn sự bành trướng của khối Cộng Sản xuống vùng Đông Nam Á, và như một hệ luận, chỉ muốn có một chính phủ “thân hữu” ở miền Nam, tức một tiền đồn chống Cộng.

Cuộc tấn công của Cộng Sản vào Sài Gòn, Huế và các thành phố miền Nam có lẽ còn nhằm mục đích ngoại giao này. Từ tháng 1/1967, Bộ Chính trị, Quân ủy TW và rồi Hội nghị TW lần thứ 13 (khóa III) đã quyết định chấp nhận vừa đánh, vừa đàm–mở đường cho tuyên ngôn của Nguyễn Duy Trinh ngày 27/1/1967. Tháng 6/1967, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (thứ nhất), Lê Duẩn đã công bố quyết định tổng tấn công để khai thác cuộc tranh cử năm 1968 tại Mỹ.( 34) Những nỗ lực dàn xếp một giải pháp chính trị của nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế–kể cả Liên Sô, Pháp, Vatican và đường giây “Pennsylvania” của Kissinger-Sainteny (hay Aubrac-Mai Văn Bộ)–khiến Hà Nội chưa có quyết định dứt khoát. Cái chết của Nguyễn Chí Thanh cũng có thể là một yếu tố gây nên sự đình trễ này.

Hiện chưa đủ tài liệu để xác định vai trò Trung Cộng hay Liên Sô Nga trong cuộc Tổng Tấn Công 1968. Theo Lê Duẩn, kế hoạch Tổng tấn công được hoàn toàn bảo mật, và là quyết định riêng của Bộ Chính Trị. Tuy nhiên, chính sách đối với Mỹ của hai đàn anh trong khối Cộng Sản (hay Xã Hội Chủ Nghĩa, nếu muốn) ít nhiều ảnh hưởng đến quyết định của Hà Nội. Tưởng cũng nên lược thuật qua thế “một cổ hai tròng” của Hồ Chí Minh và Lê Duẩn trong giai đoạn 1954-1967 để có thể phân tích sâu sát hơn vai trò của Mat-scơ-va và Bắc Kinh.

Từ năm 1954, và nhất là sau khi Nikita S. Khrushchev lên chức Bí thư thứ nhất năm 1957, điện Kremli phát động chính sách sống chung hoà bình. Tháng 10/1959, khi thăm Bắc Kinh, Khrushchev đề nghị Mao không nên dùng võ lực để trắc nghiệm sự vững chãi của chế độ tư bản. Bắc Kinh, từ Hội nghị Geneva 1954, và rồi Hội nghị Bandung 1955, cũng khẳng định lập trường sống chung hòa bình. Nhưng sau khi Khrushchev hạ bệ Stalin năm 1956, rạn nứt bắt đầu giữa hai đàn anh khối Quốc Tế Cộng Sản. Tháng 4/1960, Nhân Dân Nhật Báo [Renmin Ribao] đăng bài “Chủ thuyết Lenin vạn tuế,” gián tiếp tấn công Khrushchev. Từ đó, những cuộc trao đổi lời nhục mạ không ngừng leo thang. Liên Sô chỉ trích kế sách “Bước Đại Nhảy Vọt” của Mao là “khùng” và đi theo “đường lối Trotskyite.” Trung Hoa thì chê Khrushchev “xét lại” [revisionist]. Sau Đại hội thứ XXII của Đảng CS Liên Sô, Mao lên án Khushchev đã phản bội sử mệnh đấu tranh giai cấp. Mao còn đưa ra thuyết “thế giới thứ ba,” tức các nước nghèo và kém phát triển, như một đối lực với hai siêu cường Nga-Mỹ. Rạn nứt Nga-Hoa lên cao điểm sau những cuộc chạm súng ở biên giới, dài theo sông Ussuri (1969).

Hồ Chí Minh và Đảng LĐVN phải nỗ lực đi giây giữa hai đàn anh–nguồn cung cấp quân và kinh viện cần thiết. Hồ còn muốn đứng ra hòa giải hiềm khích giữa Mat-scơ-va và Bắc Kinh, nhưng thất bại.

Về trường hợp thống nhất Việt Nam, Mat-scơ-va nhấn mạnh vào nỗ lực tìm một giải pháp hòa bình. Vì vậy, năm 1956, Nga đồng ý với Bri-tên giúp Pháp cởi bỏ trách nhiệm về hiệp định Geneva. Mat-scơ-va cũng khuyên nhủ Hà Nội chấp nhận nền trung lập ở Lào và Miên; và, chống đối việc đánh chiếm miền Nam bằng võ lực. Tại Đại hội kỳ III của Đảng LĐVN (9/1960), các viên chức Nga vẫn khuyên Hồ thống nhất đất nước một cách hòa bình, theo tinh thần Hiệp định Geneva. (Zhai 2000:89)

Để lôi kéo Hà Nội về phe mình, Bắc Kinh–song song với những nỗ lực khai thác sự mâu thuẫn giữa Đảng CSVN và Nga–bí mật tiếp tay Hồ và Lê Duẩn đấu tranh chính trị và võ trang giới hạn ở miền Nam.

Tháng 10/1959, khi Phạm Văn Đồng qua Bắc Kinh xin quân viện và cố vấn, Chu Ân Lai gửi một phái đoàn chuyên gia xuống Bắc Việt, do Đại tướng La Thụy Khanh [Luo Riqing] cầm đầu. La Thụy Khanh nhận lệnh là Bắc Kinh, trong khả năng, sẽ thỏa mãn tất cả những yêu cầu của Hà Nội. Tới Hà Nội ngày 10/11/1959, Khanh đi khảo sát cả 5 quân khu, phi trường, hải cảng và các nhà máy của CSBV. Thủ tướng Đồng ba lần bày tỏ hy vọng lớn lao ở viện trợ của Bắc Kinh. Bắc Việt cũng xin được xây dựng một số kho tiếp liệu ở sát biên giới và trong lãnh thổ Trung Hoa. Tháng 3/1960, Bắc Kinh bắt đầu gửi chuyên viên qua Bắc Việt. (Zhai 2000:82-83)

Tháng 5/1960, khi thảo luận về miền Nam, Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình đề nghị áp dụng một chiến lược linh động: tranh đấu chính trị tại các đô thị và quân sự tại nông thôn; nhưng không muốn leo thang chiến tranh. Tháng 12/1960, sau khi MT/GPMN thành lập, Bắc Kinh công nhận ngay. Khi Lê Duẩn hỏi Chu Ân Lai về kinh nghiệm “công xã nhân dân” của Bước Nhảy Vọt, Chu khuyên chỉ nên chú trọng vào hợp tác xã nông thôn và kỹ nghệ nhẹ. Chu cũng đề cập đến thuyết “thế giới thứ ba” và yêu cầu Hà Nội ủng hộ cuộc tranh chấp biên giới của Trung Hoa. Tuy nhiên Hà Nội muốn đứng ngoài mọi tranh chấp giữa các nước anh em. (Zhai 2000:83-89)

Từ năm 1962, Bắc Kinh và Hà Nội xích lại gần nhau hơn. Bắc Kinh tiếp viện cho MT/GPMN 97,000 vũ khí đủ loại. Bắc Kinh cũng nhấn mạnh vào giải pháp trung lập miền Nam. Đầu năm 1963, nhiều nguồn tin Pháp ghi nhận số cố vấn Liên sô giảm từ 60 tới 15% trong hai năm 1960-1961; trong khi cố vấn TC tăng từ 28% tới 80%. (FRUS, 1961-1963, III:271)

Trong khi đó Liên Sô vẫn theo đuổi lập trường “sống chung hòa bình” với khối tư bản. Năm 1963, Khrushchev còn ký với Mỹ và Bri-tên Hiệp định hạn chế thí nghiệm bom nguyên tử. Việc này khiến Hà Nội nghiêng hẳn về Bắc Kinh. Sau khi Mao Trạch Đông lên tiếng chống đối ngày 31/7/1963, báo Nhân Dân trong hai ngày 6 và 9 tháng 8/1963, và tạp chí Học Tập số tháng 9/1963 nhiệt liệt ủng hộ. Tháng 10/1963, Nhân Dân lại đả kích Yugoslavia theo đúng lập luận của Bắc Kinh, lên án Tito là dụng cụ của đế quốc Mỹ, và đang phản bội Marxist-Leninism, trở lại với tư bản. Tháng 11/1963, Học Tập chỉ trích việc Liên Sô bảo vệ Tito, và bênh vực cho những điều mà Liên Sô lên án là “giáo điều.”

Tuy nhiên, Hà Nội vẫn giữ bề ngoài trung lập trong cuộc đương đầu Nga-Hoa. Khi Chu Ân Lai triệu tập một buổi họp với các lãnh tụ CS Đông Nam Á tại Quảng Đông vào hạ tuần tháng 9/1963 để bàn việc thành lập một liên minh 11 đảng “chống lại bọn xét lại Nga Sô,” Lê Duẩn không đồng ý. Duẩn cũng không tán thành đề nghị viện trợ một tỉ Mỹ Kim của Đặng Tiểu Bình, nếu Hà Nội ngưng nhận viện trợ của Mat-scơ-va.( 36)

Bắc Kinh vẫn không ngớt khoét sâu mâu thuẫn giữa Hà Nội và Mat-scơ-va. Nhân cơ hội Mat-scơ-va đòi Hà Nội trả nợ, ngày 4/6/1963, Mao Trạch Đông nói với một đại biểu của phái đoàn Hà Nội tại Vũ Hán là Trung Hoa thì khác, khi các đồng chí vay của Trung Hoa, bao giờ muốn trả cũng được, mà không trả cũng chẳng sao.( 37)

Hội nghị TW lần thứ 9 khóa III của Đảng LĐVN (12/1963) có thể coi như dấu mốc tách biệt chính sách miền Nam giữa Mat-scơ-va và Hà Nội. Tháng 12/1963, Tướng Lý Thiên Hữu [Li Tianyou], Phó Tổng Tham Mưu trưởng QĐGPND, dẫn một phái đoàn qua Bắc Việt. Lý Thiên Hữu ở lại miền Bắc tới 2 tháng và trao cho Hà Nội một kế hoạch chống kế hoạch chống phản loạn của Mỹ. (Zhai 2000:120) Ngày 27/12/1963, Mao còn viết thư cho Hồ, khen ngợi là đã có một buổi hội kiến xuất sắc với Mao. (38)

Việc Mỹ bắt đầu oanh tạc trả đũa Bắc vĩ tuyến 17 từ ngày 8/2/1964, khiến Lê Duẩn và nhóm chủ chiến mạnh hơn. Nỗ lực vận động tìm giải pháp chính trị cho miền Nam Việt Nam của Liên Sô, và nhất là Thủ tướng Alexi N. Kosygin, khiến Hà Nội thân thiết hơn với Bắc Kinh. Ngày 7/2/1964, có tin cán bộ cao cấp của Trung Cộng và Bắc Việt họp tại Mông-tự (Mengtzu), gần biên giới Hoa-Việt. Phi cơ chiến đấu của Trung Cộng tập trung tại khu vực này. (FRUS, 1964-1968, I:64)

Ngày 30/8/1964, Bắc Kinh lên án Liên Sô yểm trợ Mỹ can thiệp vào Việt Nam, qua Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, sau khi Hà Nội đưa ra đề nghị ngày 22/2/1965 là các nước anh em XHCN công khai lên án Mỹ gia tăng chiến tranh xâm lược ở miền Nam, sáu ngày sau, 28/2, Bắc Kinh từ chối. Trong năm 1965, Bắc Kinh còn bốn lần bác bỏ đề nghị của Liên Sô phối hợp hành động ủng hộ CSBV, lập cầu không vận qua Trung Hoa, hay thành lập phi trường trên lãnh thổ TH để chuyển tiếp vận cho Bắc Việt. (Sách Trắng, 1979:48) Năm 1966, Mao hai lần phản đối việc thành lập Mặt trận Quốc tế ủng hộ Việt Nam do Hà Nội và đại diện Đảng Cộng Sản Nhật Bản đề nghị, vì không muốn Liên Sô tham dự. (Sách Trắng, 1979:48-49) Dụng tâm của Bắc Kinh là muốn Hà Nội cùng hai nước Miên và Lào phải nằm trong vùng ảnh hưởng của mình. Để lôi kéo Hà Nội, Bắc Kinh khôn khéo sử dụng viện trợ như những sợi giây cương.

Ngày 8/4/1965, Lưu Thiếu Kỳ nói với Lê Duẩn là Bắc Kinh sẵn sàng giúp Bắc Việt bất cứ những gì Hà Nội cần. Duẩn và Giáp xin tăng viện trợ và quân chiến đấu TC. Duẩn nói cần “phi công chí nguyện, bộ binh chí nguyện, cùng tất cả các chuyên viên cần thiết.” Duẩn còn muốn quân TC thực hiện 4 nhiệm vụ: giới hạn việc Mỹ oanh tạc phía Nam vĩ tuyến 19 hoặc 20; bảo vệ Hà Nội; bảo vệ vài trục lộ tiếp vận chiến lược; và, giúp lên tinh thần [to boost morale]. (Zhai, 2000:133)

Trong hai ngày 21-22/4/1965, Võ Nguyên Giáp thảo luận với La Thụy Khanh và Dương Thành Vũ, Đệ nhất Phó T/TMT, tại Bắc Kinh việc gửi quân TC qua Việt Nam. Chu Ân Lai cũng thành lập hai bộ phận để điều khiển việc viện trợ cho Hà Nội. Một Ủy ban Viện trợ Việt Nam tại Hội đồng Trung ương Nhà Nước, do Dương Thành Vũ và Lý Thiên Hữu cầm đầu; và Đoàn Chỉ huy Viện Trợ Việt Nam, do La Thụy Khanh trách nhiệm tại Ban Trung ương Đảng. (Zhai, 2000:134)

Tháng 5/1965, khi Hồ qua Bắc Kinh cầu viện, được Mao tiếp ở Trường Sa [Changsa]. Hồ yêu cầu TC giúp tu bổ 12 trục lộ phía Bắc Hà Nội. Tháng 6/1965, Văn Tiến Dũng đạt thỏa ước viện trợ với La Thụy Khanh. Nhưng ngày 16/7/1965, Bắc Kinh thông báo cho Hà Nội biết là chưa tiện gửi phi công chí nguyện qua Bắc Việt. (39)

Trong hai năm 1966-1967–dù Hoa lục đang xáo trộn vì cuộc “cách mạng văn hóa” (văn cách), khiến gần 100 cán bộ lãnh đạo, kể cả Chủ tịch Nhà Nước, Phó Chủ tịch Đảng CSTH Lưu Thiếu Kỳ, Tổng Bí thư Đặng Tiểu Bình, Bí thư Bắc Kinh Bành Chân, Đại tướng La Thụy Khanh, Tổng Tham Mưu trưởng, v.. v… bị hạ bệ, nhục mạ–Bắc Kinh vẫn đều đặn viện trợ cho Hà Nội. Bắc Kinh còn gửi qua Bắc Việt một số chí nguyện quân phụ trách việc giao thông vận tải, và nhất là phòng không. Tổng số chí nguyện quân Trung Cộng lên tới 300,000 người, trú đóng tại Yên Bái, Thái Nguyên, v.. v… Bắc Kinh cũng thiết lập Bộ Tư lệnh Tây Nam, đề phòng Mỹ tấn công. Thống chế Bành Đức Hoài được cử làm Phó Tư lệnh.

Tuy nhiên, Hà Nội vẫn luôn e ngại tham vọng “bá quyền nước lớn” của Trung Cộng, sợ Bắc Kinh sẽ dùng xương máu trai tráng Việt để mặc cả với Mỹ trên đầu cổ mình. Nỗ lực của Bắc Kinh mở rộng ảnh hưởng tại Lào và Miên càng khiến Lê Duẩn và các lãnh đạo Hà Nội thêm hoài nghi. (Sách Trắng, 1979:49-51)

Dẫu vậy, ở thời điểm cuối 1967, đầu 1968, Lê Duẩn vẫn giữ bề ngoài thuần phục Bắc Kinh, và nghiêng dần về chính sách “vừa đánh, vừa đàm” của Mat-scơ-va. Tháng 12/1967, Bộ Chính trị Đảng LĐVN quyết định mở cuộc tổng tấn công. (Hiệp, 2002:197-198) Nhưng mãi đến ngày 21/1/1968 mới chọn Giao Thừa Mậu Thân làm giờ G.

Ngày Tết Mậu Thân 1968 là thời điểm lý tưởng nhất, vì mùa tranh cử sơ tuyển (giữa những ứng cử viên của mỗi đảng, Dân Chủ hoặc Cộng Hòa) tại Mỹ sắp bắt đầu. Cho dẫu thất bại về quân sự cũng đủ gây tiếng vang trong dư luận Mỹ. Và, qua hệ thống tuyên truyền cùng tình báo tinh vi, cuộc tấn công có thể giúp mở ra một mặt trận chính trị ngay trong nội địa Mỹ–mặt trận có tính cách quyết định.

Đã dầy kinh nghiệm về việc mở mặt trận chính trị tại nội địa Pháp những năm đầu thập niên 1950, Liên Sô và Hà Nội chỉ thay đổi chút ít chiến thuật cho phù hợp với “những túi khôn nhân loại” ở Mỹ–đại diện bằng những người viết tham luận (editorials) trên các tờ báo có nhiều độc giả, hay các nhà “thông thái” của ba đài truyền hình–những cá nhân chẳng có nhiều kiến thức về Việt Nam nói chung, và nhất là lối “lý luận” của những “người Cộng Sản Việt Nam” nói riêng. Thủ thuật của Hà Nội, bởi thế, trước hết muốn chứng tỏ được sự lì lợm và quyết tâm chịu đựng để kéo dài cuộc chiến (theo kiểu Việt Nam). Đồng thời, khéo léo và tỉ mỉ khai thác mâu thuẫn giữa các nước Tây phương với Mỹ, và giữa các phe nhóm Mỹ, phát động phong trào phản chiến ở Mỹ.

Những ai đã sống ở “lục địa đã mất” (lost continent), hẳn biết rõ người dân Mỹ bình thường dưới phố chẳng mấy quan tâm, và cũng không có thì giờ để quan tâm, đến tình hình thế giới. Cuộc mưu sinh nghiệt ngã và nếp sống của một xã hội hậu kỹ nghệ hoá khiến chủ nghĩa cá nhân lên cao cùng độ. Một trận football (bóng bầu dục), baseball (khúc côn cầu), basketball (bóng rổ), hay một buổi đại nhạc hội lôi kéo số người xem nhiều hơn một bài diễn văn của Tổng thống Mỹ hay chuyến viếng thăm của một quốc trưởng nước bạn. Nước Mỹ quá rộng lớn–bờ biển Đông (Đại Tây Dương) và Tây (Thái Bình Dương) khác biệt nhau tới ba giờ, tức một phần tư khoảng cách từ Mỹ sang Việt Nam–nên truyền hình, truyền thanh và báo chí đóng một vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn dư luận. Và, những nhân vật ảnh hưởng mạnh mẽ các tổ hợp truyền thông này không phải là chính quyền, mà chính giới đại tài phiệt, tức những người cung cấp tiền quảng cáo. Nước Mỹ, dù không còn giàu có như xưa, vẫn là đại siêu cường kinh tế. Đời sống ở Mỹ, dù chưa và sẽ chẳng bao giờ là thiên đường, nhưng hòa bình, sung túc nhất trần gian. Nên ít thanh niên Mỹ muốn đi lính, nhất là phải thiệt mạng ở một xứ nhỏ bé nhiệt đới như Việt Nam. Và, chẳng có gì ngạc nhiên khi khối Liên Sô-Bắc Việt đã đưa tinh thần phản chiến và phong trào hòa bình lên hàng đầu tại Mỹ.

Để tiếp tay cho các phong trào phản chiến Mỹ, Liên Sô còn vận động các phong trào chống đối việc Mỹ tham chiến tại Việt Nam trên khắp thế giới. Cũng chính từ thời điểm này, xuất hiện một loại văn chương tuyên truyền ca ngợi lòng ái quốc của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đồng thời là những nỗ lực bôi bẩn chế độ miền Nam, nhấn mạnh sự độc lập và tính chất “tự phát” của Mặt Trận Dân tộc Giải Phóng Miền Nam; hoặc, loan tin một chiều, chỉ nói lên những nửa sự thực ở miền Nam, quên bẵng đi những sự thực tồi tệ, sắt máu hơn ở miền Bắc. Tác phẩm đầy lỗi lầm của những cây bút phản chiến Pháp như Jean Lacouture, Philippe Devillers, Paul Mus, v.. v… được chuyển dịch qua Mỹ ngữ, hay trích dẫn trong các tác phẩm nghiên cứu nặng mùi chính trị của nhiều học giả Mỹ. Ngay đến hồi ký của Jean Sainteny cũng được dịch qua Mỹ ngữ. Dù phải ít năm sau mới sản xuất ra những trí thức phản chiến David G. Marr, Gareth Porter hay Frances Fitzgerald, tất cả đã khởi đi và phát triển từ cuộc Tổng Tấn Công Mậu Thân 1968.( 40)

Ngay sau khi cuộc Tổng tấn công vừa bắt đầu, giới truyền thông Mỹ nghiêng hẳn về phía Cộng Sản, khích động những xúc động và tinh thần chủ bại. Chuyến viếng thăm miền Nam của Walter Cronkite, trưởng ban tin (anchor) của tổ hợp truyền hình CBS, trong tháng 2/1968 đánh dấu sự thay đổi lập trường này. Ngay đến một số công chức cũng bị ảnh hưởng. Bởi thế, trong các cuộc họp mật của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia [HĐ/ANQG] Mỹ vào hai ngày 12 và 13/2/1968, các cố vấn cao cấp của Johnson chia làm hai phe rõ ràng–McNamara, dù sắp rời chức vụ vào cuối tháng, chủ trương hoà đàm. Phe “diều hâu” có Tướng Earle C. Wheeler, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên quân, và giới quân sự. Wheeler đề nghị động viên các quân nhân trừ bị để tăng viện cho chiến trường Việt Nam.

Vì đã được Tướng Matthew Ridgway, cựu Tư lệnh mặt trận Nam Hàn trong thập niên 1950, cảnh cáo rằng hiện trạng quân lực Mỹ không đủ khả năng phản ứng hữu hiệu nếu xảy ra một biến loạn nào đó ngoài Việt Nam–như trường hợp Berlin hay Bắc Hàn chẳng hạn–Johnson chỉ chấp thuận tạm thời gửi qua Việt Nam một Lữ đoàn TQLC và một Trung đoàn thuộc Sư đoàn 82 Dù, khoảng hơn 10,000 người (Johnson 1971:385-387). Sau chuyến viếng thăm các binh sĩ trên ngày 17/2, trước khi họ lên đường qua Việt Nam, Johnson bỗng đổi ý về cuộc chiến, và cử Wheeler qua thị sát tình hình để có quyết định dứt khoát.

Ngày 21/2, Wheeler rời Oat-shinh-tân, trực chỉ Sài Gòn. Westmoreland đề nghị Wheeler gửi thêm 205,000 quân tăng viện trước cuối năm 1968 để, nếu cần, mở rộng chiến tranh qua biên giới Miên, Lào và vĩ tuyến 17 hầu tiêu diệt các căn cứ hậu cần của CSBV. Tuy nhiên, McNamara không chấp thuận. Johnson cũng không có quyết định dứt khoát, giao cho người sẽ kế vị McNamara là Clark Clifford cầm đầu một ban điều nghiên để có quyết định cuối cùng.

Trong khi đó, Hà Nội lại tung ra những cuộc tấn công ngoại giao mới. Ngày 21/2, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc là U Thant xin yết kiến Johnson, thông báo rằng có tin Hà Nội sẽ đồng ý thương thuyết nếu Mỹ ngưng oanh tạc tức khắc–một nguồn tin chẳng có gì mới lạ, đã được U Thant tung ra từ năm 1965. Năm ngày sau, cơ quan CIA báo cáo cũng có tin Hồ Chí Minh đang chờ đợi để thương thuyết, nhưng với điều kiện phải ngưng oanh tạc trước. Cuối tháng 2/1968, thêm một nhân viên ngoại giao India mật báo rằng Hà Nội muốn thương thuyết tức khắc, và đồng ý không xâm nhập quân vào miền Nam sau khi Mỹ ngưng oanh tạc. Dù tất cả các nguồn tin trên đều không được kiểm chứng, nhưng những chiếc bong bóng hòa bình tiếp tục được thả ra cho tới đầu tháng 3/1968 (Johnson 1971:395, 401).

Bởi thế, trong phiên họp HĐ/ANQG Mỹ hai ngày 4-5/3/1968, Johnson dứt khoát bác bỏ đề nghị xin tăng viện của Westmoreland, và sẽ chỉ gửi thêm không quá 22,000 quân qua Việt Nam. Johnson cũng nghiêng về đề nghị của Ngoại trưởng Rusk là nên tạm ngưng oanh tạc phía Bắc vĩ tuyến 20 từ tháng 4/1968, khi mùa mưa bắt đầu, để chờ phản ứng của Hà Nội, và sẽ công bố trong một bài diễn văn sắp tới (Johnson 1971:399-400). Điều này có nghĩa Johnson đã chịu nhường bước trước đòi hỏi của CSBV, dù bán chính thức. Trong những ngày kế tiếp, qua các cuộc họp và tham khảo ý kiến với cố vấn, các nhà thông thái, cũng như Đại sứ Ellsworth Bunker và Tướng Creighton Abrams, Johnson đi dần đến một quyết định lịch sử–không tái tranh cử nhiệm kỳ Tổng thống thứ 2, 1969-1973, để tìm cách rút chân khỏi Việt Nam trong danh dự.

Đánh vào thành phố còn là phương thức sử dụng “bạo lực cách mạng” quen thuộc của Cộng sản.

Trước hết nó có thể vô hiệu hóa những phần tử chống Cộng độc lập và uy hiếp tinh thần thị dân. Chỉ nguyên việc mang chiến tranh vào thành phố–nghĩa là đưa điêu tàn, đổ nát, xáo trộn vào những khu vực vốn được coi như an toàn của miền Nam–đủ minh chứng nghệ thuật cao đẳng trong việc sử dụng “bạo lực cách mạng” của Lê Duẩn: khủng bố tinh thần dân lành, khiến họ phải ngưng cộng tác với chính quyền hiện hữu, hoặc ít nữa “bình chân như vại.”

Chưa hết. Tại các khu vực Cộng Sản tạm chiếm, việc truy lùng, ám sát, thủ tiêu những nhân vật chống Cộng có thành tích là một việc làm quen thuộc, có chỉ thị rõ ràng. Năm 1969, chẳng hạn, đài phát thanh Hà Nội nhìn nhận đã “tiêu diệt hơn 3,000 tên ác ôn, phản động” ở Huế trong dịp Tết Mậu Thân. Hơn một thập niên sau những cựu đao thủ phủ Tết 1968 vẫn còn kiêu hãnh tuyên bố với một toán làm “lịch sử truyền hình” Mỹ rằng họ chỉ “trừng trị” những “con rắn độc” phản động, chống đối cách mạng. Ngay đến năm 1988, có người còn khoe khoang công lao “trừng trị… Việt gian” của mình (Huế 1988:75).

Tuy nhiên, giới truyền thông quốc tế hầu như không một phản ứng. Ngược lại, người ta khai thác tối đa tấm ảnh Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn chết một sĩ quan đặc công của CSBV trước cổng chùa Ấn Quang. Người chụp được tấm hình này–Eddie Adams–bỗng nổi danh thế giới, được trao tặng giải thưởng. Sự thiên vị của giới truyền thông quốc tế quá rõ và khắc nghiệt.( 41)

Đáng lưu ý rằng “bạo lực cách mạng” của CS trong dịp Mậu Thân 1968 không mang lại yếu tố tâm lý họ mong đợi. Ngoại trừ thiểu số đã nghiêng về phía CS từ trước–như Luật sư Trịnh Đình Thảo, Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, Giáo sư Lê Văn Hảo, v.. v…– phần đông thị dân miền Nam sinh ra oán ghét, chống đối CS mạnh mẽ hơn. Tại Huế chẳng hạn, khi CS bắt đầu rút lui, những người bị dẫn theo lên rừng “phản kích lại CS ngay tại chỗ.” Có trường hợp họ đã “chống lại, bóp cổ chết ngay mấy người tự vệ đang canh giữ, có trường hợp (họ) tung lựu đạn giết cả xe trong lúc bộ đội cho … đi nhờ xe” (Huế 1988:75-76). Tại nhiều nơi, dân chúng thẳng tay tố giác vị trí ẩn núp của tàn binh CS. Đó là chưa nói đến một phản ứng “tiêu cực” hơn: Dân chúng tìm đủ cách di tản khỏi những khu vực bị quân Cộng sản làm “ô nhiễm.”

Tóm lại, trên lãnh vực nội địa, cuộc Tổng Tấn Công-Tổng Khởi Nghĩa Mậu Thân 1968 là thất bại lớn cho phe Cộng Sản, hoặc văn hoa hơn, chỉ là một thứ “tổng diễn tập” cho chiến thắng quân sự 1975. Nhưng những hậu quả chính trị–như loại bỏ thực lực chính trị-quân sự của MT/GPMN–và nhất là ngoại giao khiến “Nghị quyết Quang Trung” của CSBV được coi như bước ngoặt quan trọng trong giai đoạn 2 của chiến cuộc Việt Nam, 1959-1975.

Về phía Việt Nam Cộng Hòa, chỉ nguyên việc để Cộng Sản bí mật chuyển khí giới vào thành phố, hay âm thầm chuyển quân tới tuyến tấn công là khiếm khuyết rất lớn.

Các cơ quan an ninh quân sự cũng như dân sự chịu một phần trách nhiệm. Hoặc vì tư lợi, hoặc vì cầu nhàn, họ đã không kiểm soát được những đường giây đưa chất nổ và vũ khí tới các “cơ sở” Cộng Sản trong thành phố. Một số viên chức cao cấp–như trường hợp Trung tá Tỉnh trưởng Thừa Thiên–không báo cáo hết sự thực về tình trạng an ninh trong tỉnh. Đó là chưa kể tệ nạn tham nhũng, móc ngoặc đã thành cố tật trong hàng ngũ các đơn vị Cảnh sát, an ninh kiểm soát giao thông–những đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn; tức những cái giá mà xe hàng, hay thuyền bè phải trả để không bị kiểm soát lúc rời hay cặp bến, hoặc “mãi lộ” dọc đường, khiến CS an toàn đưa vào các thành phố và thị xã hàng tấn thuốc nổ, đạn dược, và vũ khí.

Ngoài ra, phần vì không khí cổ truyền ngày Tết, phần vì thái độ tắc trách, hoặc tự tin quá mức vào tình trạng an ninh của thủ đô hoặc các thị xã, đa số đơn vị ứng chiến không đầy đủ quân số hoặc không sẵn sàng chiến đấu. Tại Quảng Ngãi, chẳng hạn, khi Tư lệnh Sư Đoàn 2 BB tới kiểm tra một Tiểu đoàn ứng trực vào ngày mồng 1 Tết, quân số vỏn vẹn 50 người–tức chưa đầy hai trung đội (Sơn & Dương 1968:269). Quân số ứng trực chỉ khoảng 30 phần trăm ở Cần Thơ hay Bến Tre.

Các cơ quan tuyên truyền của chính phủ và quân đội cũng phản ứng vụng về. Mặc dù một sĩ quan Tâm Lý Chiến của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung nhanh trí cho chạy những bản nhạc hùng vào mờ sáng mồng 2 Tết–loại nhạc hùng này lại khiến những người đa nghi nghĩ đến một cuộc đảo chính. Từ ngày 1/11/1963, người dân Sài Gòn đã được nghe loại nhạc hùng này nhiều lần. Thành một thói quen. Rạng sáng mồng 2 Tết, khi biết rõ tiếng nổ ngoài đường phố là tiếng súng mà không phải tiếng pháo đón Xuân, những điệu nhạc quân hành trên đài Sài Gòn khiến người ta nghĩ ngay đến một cuộc đảo chính. Vì, mới chỉ nửa tháng trước, Thiệu có vẻ “sẵng giọng” với Mỹ về việc thương thuyết với Cộng Sản. Ngoài ra, mặc dù Nguyễn Cao Kỳ nhận đứng chung liên danh ứng cử Tổng thống với Nguyễn Văn Thiệu để duy trì tình “huynh đệ chi binh,” tình trạng con chim hai đầu của Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam quá hiển lộ. Tin đồn Kỳ và phe miền Bắc–tức Loan, và Lê Nguyên Khang, Tư lệnh Quân Đoàn III kiêm Tư lệnh TQLC–sẽ làm đảo chính được loan truyền trong mọi giới.( 42)

Trong khi đó, ban tham mưu cùng những người thân cận Kỳ và Thiệu khiến liên hệ giữa hai người vô cùng căng thẳng, ngột ngạt. Thiệu rất ít khi nói chuyện với Kỳ, ngoại trừ trường hợp khẩn cấp. Tướng Nguyễn Đức Thắng là một thí dụ khác phản ảnh sự phân hoá ở giai tầng lãnh đạo–Thiệu chẳng bao giờ tha thứ việc Thắng đã đích thân yêu cầu Thiệu rút lui, nhường cho Kỳ tranh cử Tổng thống; và, nhất là, Thắng được sự ủng hộ nhiệt thành của các viên chức Mỹ. Bởi thế, sáng ngày mồng 2 Tết, nếu Kỳ không lên tiếng trên đài phát thanh vào khoảng 7 giờ, tinh thần dân quân còn hỗn loạn đến độ nào!

Mãi tới chiều ngày mồng 3 Tết (1/2/1968) thị dân Sài Gòn mới được đọc số báo Tiền Tuyến đặc biệt về cuộc tấn công của Cộng Sản. Huế và các tỉnh khác hoàn toàn “im lặng vô tuyến.” Nhưng ít ai tin tưởng những bản tin đăng trên Tiền Tuyến–cơ quan tuyên truyền của quân đội. Người tò mò phải mở các đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (V.O.A) hay Bri-tên (đài B.B.C.) để theo dõi tình hình. Ngày mồng 8, mồng 9 Tết mới có vài tờ báo tư nhân như Sống, v.. v… được bày bán. Những đoạn “tự ý đục bỏ” trên mặt báo gây nhiều bàn cãi hơn là những tin tức đăng tải.

Nực cười nhất là nguồn tin cả hai Tướng CS Trần Độ và Trần Văn Trà đã tử trận trong dịp tấn công. Theo Tổng Nha Thông Tin, Trà chết ở Vĩnh Long, Độ chết ở Chợ Lớn với đầy đủ quân hàm. Đài V.O.A. còn bình luận chi tiết tin này cùng tiểu sử khá đầy đủ của Trần Độ. Độ được phong lên chức “chỉ huy trận đánh Sài Gòn.” (Năm năm sau, Trà vào trại David đại diện MT/GPMN trong Ủy Ban Bốn Phe. Rồi, mùa Xuân 1975, tham dự vào cuộc đánh chiếm Sài Gòn hay “Chiến dịch Hồ Chí Minh.” Trần Độ sau này làm Chủ Nhiệm Ủy Ban Văn Hóa của Quốc Hội Hà Nội).

Sai lầm “kỹ thuật” này có nhiều lý do. Thứ nhất, vì không được huấn luyện chu đáo, cấp chỉ huy tiền tuyến không biết rõ cách mang quân hàm của bộ đội chính qui Bắc Việt. Cũng có thể vì những mục đích bí ẩn nào đó. Tuyên truyền, khích lệ tinh thần quân dân–hoặc để giới báo chí ngoại quốc nhắc nhở đến tên tuổi mình.( 43)

Việc trục xuất ký giả Francois Mazure của hãng Thông tấn Agence France Presse (AFP) vì lý do thân Cộng và phổ biến những tin đồn và tin tức thất thiệt cũng là một biện pháp vụng về. Mazure cùng nữ phóng viên Catherine Leroy tự động tìm phương tiện ra Huế, rồi bị Cộng quân bắt giữ vài tiếng đồng hồ. Trong bài tường thuật gửi về Pháp, Mazure cho biết Cộng quân khá có kỷ luật, và tin tưởng rằng sẽ lập được “chính quyền cách mạng” ở Huế (Vietnam 1968:126). Tổng Nha Thông Tin cho đó là tin đồn thất thiệt, thay vì phải lợi dụng những chi tiết này để phản công bằng cách vạch rõ dã tâm bịp bợm cán binh của Hà Nội, lùa họ vào chỗ chết vì mục đích chiếm giữ các thành phố vượt quá khả năng của Cộng Sản lúc đó.

Trên phương diện chiến lược, cơ quan thông tin và chiến tranh chính trị của VNCH càng yếu kém hơn. Một trong những chủ đề mà cơ quan tuyên truyền miền Bắc tung ra là người Mỹ đã có ý định bỏ rơi miền Nam, nhắm mắt làm ngơ cho Cộng Sản tiến vào các thành phố, hầu đi đến giải pháp công nhận MT/GPMN và thành lập chính phủ liên hiệp. Từ Thiệu–sau buổi họp mật ngắn ngủi với Johnson tại Canberra nhân dịp tang lễ Thủ tướng Harold Holt ngày 19/12/1967, và dưới sự thúc dục của Bunker là phải thực hiện gấp kế hoạch gửi thư mật cho Hồ Chí Minh đề nghị thương thuyết–đến những chính khách, Thượng Nghị sĩ tên tuổi đều mang mối hoang mang này. Vài Thượng Nghị sĩ, chẳng hạn, đã công khai chất vấn Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ về vấn đề liên hiệp với MT/GPMN. Một số chính khách Ki-tô thì công khai chống đối giải pháp liên hiệp–khẳng định quyết tâm diệt Cộng đến hơi thở cuối cùng.

Bởi thế, bất cứ tin tức nào về vận động hòa bình hay giải pháp chính trị đều bị đục bỏ, hầu bưng tai, bịt mắt đám đông đã bị điều kiện hoá với những chính nghĩa tự do, dân chủ, chống Cộng bấy lâu. Mặt trận chiến tranh chính trị hầu như hoàn toàn tê liệt, hoặc ở mức độ tàn phế cao.

Nhưng cũng chẳng đáng trách. Cơ quan Thông tin và Chiến tranh Chính trị chỉ được coi như một thứ con ghẻ–dù cuộc chiến Việt Nam, nếu muốn có cơ hội thắng lợi, phải được phát động toàn diện, trên mọi mặt, của một cuộc chiến toàn dân. Trông chờ gì một tinh thần cách mạng, phục vụ vô vị lợi, nơi những công chức, và những cá nhân được đưa vào các cơ quan Thông tin hay Chiến tranh Chính trị chỉ vì quen biết (đặc biệt là với các viên chức thẩm quyền Mỹ), và xuống thấp hơn nữa là phe đảng, hoặc tiền bạc đút lót?

Tháng 3/1968, khi được khuyên bảo phải đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền, Thiệu quyết định đổi Tổng Nha Thông tin thành Bộ Thông tin. Người được giao nắm Bộ tân lập này là Trần Văn Ân (1903-2002)–một ký giả gốc Triều Châu kỳ cựu miền Nam, từng mang đủ thứ bảng hiệu đảng phái từ Phục Quốc tới Bình Xuyên, Hòa Hảo, rồi Cao Đài. Nhưng Ân là một lựa chọn quá vội vàng. Trước khi chính thức nhận lời, Ân đi xin ý kiến Tướng Lansdale, và than thở về vấn đề thiếu ngân sách để đương đầu với hàng trăm cán bộ tuyên truyền CSBV lão luyện tại Paris. Tại nội địa, chương trình “võ trang tinh thần” của Ân, sau này, rồi cũng chỉ trái núi đẻ con chuột.( 44)

Chưa đầy hai tháng sau, tân Thủ tướng Trần Văn Hương chọn Tôn Thất Thiện thay Ân nắm Bộ Thông tin. Thiện, theo tài liệu Mỹ, là một trong hai đệ tử thân tín của Ngô Đình Nhu. Thiện học ngành kinh tế, thông minh, có khả năng, nhưng ngành Thông tin có rất ít liên hệ với kinh tế học. Thiện lại chủ trương chỉ có người Ki-tô giáo mới đủ tin tưởng để hoạt động trong bất cứ lãnh vực nào của xã hội. Bởi thế, dù bằng cấp cao hơn Ân, chính sách thông tin của Thiện–nếu có một chính sách–chỉ đặt trọng tâm vào việc phân phối bông giấy cho các chủ báo cùng phe đảng, và “phục hồi tinh thần Ngô Đình Diệm”.( 45)

Tuy nhiên, nếu chỉ thuần túy ở phương diện quân sự mà nói, Việt Nam Cộng Hòa đã thắng Bắc quân trong vòng tuần lễ đầu của cuộc Tổng Tấn Công. Dù đã vận dụng tới 84,000 cán binh vào cuộc Tổng Tấn Công, từ ngày mồng 5 Tết trở đi, Cộng quân bị dồn vào thế thụ động. Chủ lực CS phải triệt thoái dần khỏi các đô thị và vòng đai, mang theo số thương vong rất cao. Chỉ còn lại một số nhỏ chốt chặn cảm tử, tạo ảo giác trận chiến đang kéo dài. Mặc dù mãi tới ngày 25 hoặc 27/2/1968 đợt I của cuộc Tổng Tấn Công Mậu Thân mới coi như chấm dứt, quân lực VNCH đã chứng tỏ khả năng vượt trên sự ước đoán của chính các tướng Đồng Minh. Bản báo cáo ngày 29/2 của Westmoreland, chẳng hạn, nhận xét rằng trong số 149 tiểu đoàn tác chiến của VNCH, 42 tiểu đoàn cực kỳ xuất sắc, và chỉ có 8 tiểu đoàn thuộc loại kém.( 46) Ngay những hãng thông tấn có phần thiên vị về Hà Nội cũng phải nhìn nhận sự thất bại quân sự của Cộng quân.

Lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia–ngoại trừ Huế–cũng chứng tỏ khá hữu hiệu. Chuẩn tướng Loan cùng các sĩ quan biệt phái cho Cảnh Sát đã chiến thắng các cơ quan an ninh CS ván bài chót của canh bạc Mậu Thân. Số thiệt hại về nhân mạng của lực lượng Cảnh sát tương đối nhẹ: 447 người chết, 758 bị thương, và 157 người mất tích.

Mục tiêu “Tổng Khởi Nghĩa” của Cộng Sản tại Sài Gòn và các thị xã hoàn toàn thất bại. Đặc công nội thành chỉ có thể tổ chức được vài cuộc biểu tình lẻ tẻ ở Chợ Lớn. Tại Huế, dù chiếm được thị xã hơn ba tuần lễ, Cộng Sản cũng chỉ khai sinh được “Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng” với những người đã có ý hướng khác như Lê Văn Hảo, Hòa thượng Thích Đôn Hậu, v.. v… Việc Hà Nội thành lập Liên Minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Miền Nam Việt Nam, tức Mặt Trận 2, ngày 20/4/1968–một thứ “thành phần thứ ba” với những tên tuổi như Luật sư Trịnh Đình Thảo, Kỹ sư Lâm Văn Tết, v.. v…– cũng chẳng tạo được tiếng vang nào đáng kể. Đích thân “Tám Chí” Huỳnh Tấn Phát (1913-1989), Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký MT/GPMN, đặc trách khu Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định, phụ trách Liên Minh này trước khi bàn giao cho Dược sĩ Phạm Thị Yên, mới từ Côn Đảo về, vào cuối năm 1968.( 47) Mặc dù một số người trong Liên Minh sẽ gia nhập chính phủ lâm thời miền Nam, thành lập ngày 6/6/1969 để danh chính ngôn thuận ngồi vào bàn Hội nghị Paris, những Nguyễn Văn Kiết, Dương Quỳnh Hoa, Thanh Nghị, Tôn Thất Dương Kị, v.. v… chẳng là gì hơn chậu kiểng … đoàn kết.

Đại đa số dân chúng rút vào thế thụ động, khác hẳn với những cuộc biểu tình rầm rộ, tràn đầy khí thế đại chúng của năm 1963 hay 1965-1966 khi Phật tử xuống đường chống đối chính phủ Ngô Đình Diệm (1954-1963), Trần Văn Hương (12/1964-1/1965), hay Nguyễn Cao Kỳ (6/1965-10/1967).

Trên thực tế, hành động vi phạm hưu chiến, gieo rắc chết chóc, khói lửa trên các thành phố mang lại một hậu quả trái ngược cho Cộng Sản. Dân chúng đã bí mật chỉ điểm cho cơ quan công lực vị trí đóng quân của Cộng Sản, hoặc các “cơ sở” nằm vùng. Nỗ lực tuyển mộ thanh thiếu niên để huấn luyện cấp tốc chính trị, rồi gửi trả lại nội thành hoạt động mà các giới chức an ninh Mỹ-Việt lo ngại cũng chỉ thành công rất giới hạn. Dù vài ba lãnh tụ tranh đấu thiên Cộng bị lộ, phải rút ra bưng (như Lê Hiếu Đằng, Hoàng Phủ Ngọc Tường, v.. v..), đại đa số thanh thiếu niên tại các thành phố quyết tâm chống Cộng hơn nữa. Họ hăng say tham gia các phong trào cứu trợ nạn nhân chiến tranh hay nhân dân tự vệ. Nhưng rồi cũng chỉ tựa ngọn lửa rơm.

Sự mau nguội lạnh này phần vì lãnh đạo yếu kém, chia rẽ, phần vì sự ghen tị, âm mưu độc quyền “hoạt động”–và, dĩ nhiên độc quyền nhận trợ cấp của Mỹ hay chính phủ–của các lãnh tụ thanh niên Ki-tô. Tổng Giám Đốc Thanh Niên của chính phủ Nguyễn Văn Lộc phản ảnh trung thực ước muốn và chủ trương độc quyền cai thầu chống Cộng này qua lời tuyên bố giữa một buổi họp tham mưu về kế hoạch Tái thiết, dưới sự chủ tọa của Nguyễn Văn Thiệu, rằng chỉ có khối giáo dân Ki-tô mới cung cấp được “những thành phần đáng tin cậy trong phong trào thanh niên.”( 48)

Trong khi đó, mọi nỗ lực của Cảnh Sát Đặc Biệt chỉ nhắm vào việc triệt hạ Phật Giáo và phe nhóm đối lập. Chẳng những khuếch đại sự hiềm khích và tranh chấp giữa hai phe Việt Nam Quốc Tự và Ấn Quang, chính phủ Trần Văn Hương–với sự tiếp tay đắc lực của cán bộ Cần Lao mới được hồi phục dưới quyền Nguyễn Mâu và sự chấp thuận của Bunker–tìm mọi cách triệt hạ các lãnh tụ Phật Giáo.( 49)

Trong khi đó kế hoạch bình định nông thôn không bị bẻ gẫy như CS mong muốn. Vào cuối tháng 2/1968, chỉ còn 278 toán Xây Dựng Nông Thôn hoạt động tại các xã ấp, và 245 toán khác phải rút về lo việc an ninh các thị trấn và thị xã. Số thiệt hại sơ khởi ghi nhận là 79 cán bộ bị tử thương, 111 bị thương, và 845 người mất tích. Nhưng từ ngày 1/3, Tướng Nguyễn Văn Là–mới lên thay Nguyễn Đức Thắng–cho lệnh các toán XDNT phải trở lại các thôn xã trách nhiệm.( 50) Chỉ trong vòng một năm, những chiến sĩ “áo đen Vũng Tàu”–song song với các toán trong kế hoạch Phượng Hoàng (Phoenix) và hồi chính viên (PRU) dưới sự điều động của William Colby và Robert Komer–đã củng cố được địa bàn hoạt động, mở rộng vùng kiểm soát. Mục tiêu “tồng khởi nghĩa” ở nông thôn của Lê Duẩn không đạt được. Vào năm 1970, tình hình nông thôn miền Nam cải thiện rõ ràng.

Chính Nguyễn Văn Linh–người chịu trách nhiệm chỉ huy cuộc tấn công Sài Gòn năm 1968, và sau này trở thành Tổng Bí Thư Đảng CSVN từ 1986 tới 1991–thú nhận rằng sau năm 1968 là “những năm khó khăn” của Cộng Sản. Trong nội thành các cơ sở nằm vùng bị tiêu diệt hay “vỡ nhiều mảng.” Cơ sở nông thôn ngoại thành cũng bị quét sạch vì kế hoạch “bình định cấp tốc” [accelerated pacification]. Riêng Bộ Chỉ huy Thành ủy phải lùi xa thành phố, vừa di chuyển vừa trốn tránh mất “1 năm 28 ngày” mới tới được căn cứ an toàn.( 51)

Trần Văn Trà–người chỉ huy mặt trận phía Bắc Sài Gòn–cũng có nhận xét tương tự. Theo Trà, Cộng Sản đã chịu “thiệt hại lớn lao về sức người, sức của, đặc biệt là cán bộ các cấp,” làm cho tiềm lực suy yếu rõ rệt. Nhưng sau đó chẳng những không giữ được những thành tựu mà còn chịu muôn vàn khó khăn trong những năm 1969-1970.( 52) Vào cuối năm 1968, theo Trà, “B-2” (tức Khu 2 của CS, bao gồm Nam Bộ và một phần Trung Bộ) phải phân tán mỏng Trung đoàn chủ lực 320 về vùng lãnh thổ Long An để duy trì trục tiếp vận từ Sài Gòn tới Trung Ương Cục Miền Nam. Trong hai năm 1969-1970, từ cấp Trung đoàn trưởng, Chính ủy, Trung đoàn phó xuống Thủ trưởng các đơn vị đều lần lượt bị thiệt mạng (Trà 1987:64-68).

Vào giữa năm 1968, Hà Nội phải tăng cường cho quân khu Trị-Thiên ba cán bộ kỳ cựu là Hoàng Anh, Hoàng Sâm (1915-1968) và Nguyễn Quyết (Nguyễn Tiến Văn, 1922-?), nguyên Chính ủy Đại Đoàn 305. Hoàng Anh thay Trần Văn Quang làm Bí thư Quân Ủy. Hoàng Sâm làm Tư lệnh và Nguyễn Quyết, Phó Chính ủy Quân Khu Trị-Thiên, kiêm Chính ủy Mặt Trận Trị-Thiên (B-8). Ít tháng sau, Sâm tử trận.( 53)

Tại Huế, chỉ còn một ít cơ sở bí mật được gài vào số dân tản cư. (Huế 1988:71) Số người bị lộ phải đưa ra “khu,” nhưng “lên rừng người nào là đói ngay ngày đó.” Sau cuộc “liên hoan mừng chiến thắng (ở Khe Trái) thì cả rừng ăn muối. Khó khăn ập tới sau khi rút ra khỏi Huế giống như tình hình hồi vỡ mặt trận (1947).” (Huế 1988:71) Lê Minh thú nhận:

Ở đâu cũng đòi gạo đòi muối; trong khi đó Hà Nội lại cứ tiếp tục giao nhiệm vụ đánh Huế đợt 2.( 54)

Tại Cao Nguyên, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp tiết lộ những năm 1969-1971 cực kỳ khó khăn. Các đường tiếp tế từ Bắc vào hay từ Miên qua đều bị ngăn chặn, khẩu phần gạo cắt giảm từ 500 grams gạo một ngày xuống 250 grams, rồi 125 grams, dù từ tháng 5/1969 đã phải điều một sư đoàn và các đơn vị không tác chiến khác “tập kết lần thứ hai”ra Bắc. Một sư đoàn vào Nam làm ăn, mỗi hạt gạo là một giọt máu dưới những thảm bom B.52. Dân chúng thì còn đói hơn quân. Bệnh binh đông gấp bội thương binh. (Hiệp, 2002: 86-89, 122-123, 130-153, 159-160)

Long đong không kém là các tổ chức MT/GPMN hay Liên Minh. Ngoại trừ những người được đưa ra trình diện trên sân khấu chính trị thế giới Paris, các cấp lãnh đạo MT/GPMN trôi giạt đó đây theo những đợt tảo thanh của liên quân Việt-Mỹ. Phải tới năm 1972–sau khi quân viễn chinh Đồng Minh đã triệt thoái gần hết, và Thiệu do vô tình hay cố ý, mắc phải một lỗi lầm chiến lược to lớn là đưa quân qua Miên (1970) và Hạ Lào (1971), khiến lực lượng Tổng Trừ Bị cùng Thiết Kị, Bộ Binh, Pháo Binh vùng I thiệt hại nặng nề–Văn Tiến Dũng mới đích thân mang đại quân vào xâm lăng Quảng Trị, đồng thời mở mặt trận An Lộc. Mùa Xuân-Hè rực lửa này, cũng một năm tranh cử Tổng Thống khác của nước Mỹ, mới thực sự thay đổi cán cân quân sự ở miền Nam Việt Nam.( 55)

Cuộc Tổng Tấn Công của Lê Duẩn, tưởng cũng nên nhắc, tạo cơ hội cho chính phủ Thiệu đình chỉ lệnh giải ngũ các sĩ quan trừ bị, kêu tái ngũ những cựu quân nhân (33 tuổi trở xuống hay dưới 5 năm quân vụ), và rồi tổng động viên–một biện pháp được dự trù từ năm 1967 để đáp ứng nhu cầu gia tăng nhân lực khoảng 100,000 người, một trong những bước đầu tiên chuẩn bị cho chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh.( 56) Các thanh niên trên 19 tuổi bị bắt buộc trình diện từ ngày 1/3/1968, và hai tháng sau, tới lượt những người 18 tuổi. Đáng ghi thêm là chỉ có đám đông thấp cổ, bé họng chịu ảnh hưởng của lệnh Tổng động viên này. Từ năm 1964, con cháu những ông bà lớn đều đã du học ngoại quốc. Theo Trần Văn Đôn “tâm sự” với Lansdale, chẳng hạn, Đỗ Cao Trí gửi con học ở Nhật; Cao Văn Viên có con học ở Switzerland (Thụy Sĩ). Đôn cũng gửi con học ở Thụy Sĩ.( 57) Sau này, chính Thiệu vào năm 1969, còn cấm phổ biến tờ Newsweek tại miền Nam vì tuần báo trên loan tin vợ Thiệu mua nhà cửa để cùng các con lập nghiệp ở hải ngoại.

Dĩ nhiên chiến thắng quân sự của VNCH và các binh sĩ Đồng Minh có giới hạn của nó. Tại nội địa Việt Nam, vết thương Mậu Thân có thể nói khó hàn gắn. Nhiều thành phố và thị trấn bị phá hoại. 13 xưởng kỹ nghệ bị đổ nát, và 20 hãng xưởng khác bị thiệt hại nhiều hay ít. Số tiền cần mua đồ trang bị và sửa chữa lên tới 25 triệu Mỹ Kim, và khoảng 10 triệu đồng lương nhân công.

Số người tị nạn chiến tranh lên tới 821,000 người, tạo nên một gánh nặng cho ngân quỹ, ước lượng sơ khởi vào khoảng 100 tỉ đồng. Tại Sài Gòn, từ ngày 6/2, chính phủ phải thiết lập 117 trung tâm tạm cư, tiếp đón khoảng 200,000 người chạy loạn. 132,000 người trong số này không còn nhà cửa để cư ngụ. Nhờ sự tăng cường 2,500 cán bộ XDNT từ Trung tâm Huấn luyện Vũng Tàu, việc phân phối 8,000 tấn gạo, thực phẩm và nước uống phần nào cải thiện. Một số cửa hiệu tư nhân cũng lẻ tẻ hoạt động trở lại.

Cuộc tổng tấn công Mậu Thân cũng mở đầu một nấc thang lạm phát và mất giá mới của đồng bạc. Tất cả những mặt hàng hóa–từ đồ tiêu dùng tới thực phẩm–đều lên giá đột ngột, gấp đôi, gấp ba, và chẳng bao giờ lùi xuống.

Ngày 1/3, Thiệu công bố kế hoạch cải tổ quân sự và hành chính của mình, với chiêu bài diệt trừ tham nhũng. Để ra uy, ngày 11/3, Thiệu cách chức 8 tỉnh trưởng. Đồng thời vận động loại bỏ chính phủ Nguyễn Văn Lộc và các chức Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia cùng Tư lệnh Biệt Khu Thủ Đô. Thực tế, mục đích chính của Thiệu chỉ nhằm củng cố uy quyền cá nhân và phe đảng. Nạn tham nhũng, mua quan bán tước vẫn tiếp tục lan tràn như dịch hạch. Theo một cựu cố vấn Cảnh Sát Mỹ, Thiệu và Trần Thiện Khiêm trở thành người cầm đầu hai trong ba đường dây buôn lậu ma túy và phế vật chiến tranh lớn mạnh nhất.

Những biện pháp mới về tài chánh, kinh tế như thuế T.V.A của chính phủ Trần Văn Hương thứ hai–chính thức thay chính phủ Nguyễn Văn Lộc từ ngày 25/5/1968, và bàn giao chức vụ hai ngày sau–khiến vật giá leo thang hàng tuần, hàng tháng. Cơ khổ nhất vẫn là giới công chức và quân nhân, những người có đồng lương cố định.

Diễn biến tự nhiên là người có chức, có quyền thâm lạm của công, buôn bán quân trang, quân dụng, bày vẽ tục lệ lính kiểng, lính ma. Chưa đầy năm năm sau ngày lật đổ Ngô Đình Diệm, người ta công khai mua bán từ tấm giấy hoãn dịch tới các chức vụ Tỉnh trưởng, Quận trưởng, và đơn vị trưởng.( 58) Một sĩ quan cao cấp đặc trách bình định, khi được Lansdale hỏi có bao nhiêu tỉnh trưởng trong sạch ở miền Nam, thực thà nói chỉ thấy có một người. Về các Tư lệnh Quân đoàn, Sư đoàn lương thiện, không tham nhũng, nhân chứng này cũng nói chỉ có một.( 59)

Những hậu quả giây chuyền này–đặc biệt là tâm trạng bất an, luôn luôn chuẩn bị hành lý, tư trang bỏ chạy ra ngoại quốc vì viễn ảnh bị Mỹ bỏ rơi của thiểu số được ủy thác nắm quyền ở miền Nam–là một hậu quả cần được nghiên cứu kỹ càng hơn.

Chưa hết, cách nào đó, chiến thắng quân sự của VNCH hay các đơn vị chiến đấu Mỹ ở Việt Nam trở thành công dã tràng xe cát. Số phận miền Nam không được định đoạt bằng khả năng tác chiến và mồ hôi, xương máu của họ. Tương lai Việt Nam được quyết định ở Oát-shinh-tân, Mat-scơ-va và Bắc Kinh. Thêm vào đó có áp lực của Liên Hiệp Quốc và Tây Âu, đặc biệt là Pháp và Bri-tên. Giáo hội Ki-tô Roma, dưới sự hướng dẫn của Paul VI, cũng đóng góp một vai trò quan trọng.( 60)

Những ngày cuối tháng 2/1968, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Mỹ qua Việt Nam thị sát mặt trận. Ngay sau chuyến đi của Wheeler–và trong bối cảnh sôi động của cuộc vận động sơ tuyển danh vị ứng cử viên Tổng Thống Mỹ của hai chính đảng–giới báo chí tiết lộ tin Westmoreland xin tăng viện 206,000 quân.( 61) Đồng thời, vì một nguyên do nào đó, họ cũng khua chiêng gõ trống cho một giải pháp chính trị. Những cá nhân tham vọng như Eugene McCarthy, Robert Kennedy và Martin Luther King bắt đầu chỉ trích chính sách của Johnson.

Ngày 26/3/1968, Johnson phải triệu tập một phiên họp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia mở rộng, với sự tham dự của những khuôn mặt có uy tín nhất của Mỹ để thảo luận về tương lai Việt Nam.( 62)

Năm ngày sau, Johnson tuyên bố không ra tái tranh cử nhiệm kỳ 1969-1973, và sẽ tìm mọi cách giải quyết cuộc chiến. Ông cũng chính thức kêu gọi Mat-scơ-va, Bắc Kinh và Hà Nội hãy đáp ứng.( 63)

Khúc quanh lịch sử quan trọng của miền Nam Việt Nam đã điểm: Thượng tuần tháng 5/1968, Mỹ và CSBV ngồi vào bàn hội nghị ở Paris. Để chào mừng hội nghị, CSBV tung ra cuộc tấn công kỳ II vào Sài Gòn–theo tinh thần “vừa đánh vừa đàm.”( 64) Tháng 6/1968, Westmoreland rời Việt Nam.( 65) Lansdale–người giúp Nguyễn Văn Thiệu củng cố quyền lực, và thiên về chính sách sử dụng thiểu số Ki-tô để thống trị và độc quyền chống Cộng ở miền Nam–cũng lên đường về nước.( 66)

Giai đoạn chuẩn bị cho kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh bắt đầu, báo hiệu cuộc giải kết của nước Mỹ .

Thảm sát Tết Mậu Thân 1968 : tội ác chống loài người 

Mai V. Phạm

Là một người trẻ "được" nhận nền giáo dục tuyên truyền của chế độ cộng sản suốt 12 năm, tôi đã không được biết sự thật đẫm máu và quá đỗi đau thương đằng sau cuộc tiến công Tết Mậu Thân 1968 của cộng sản Bắc Việt, cho đến khi Internet phổ biến. Đọc những tài liệu nghiên cứu của các học giả Việt Nam và nước ngoài về cuộc tiến công Tết Mậu Thân 1968, khiến tôi không thể kiềm nén được cảm xúc đau nhói và tức giận trước bản chất máu lạnh và khát máu của Việt Cộng, là những người Việt Nam, có cùng máu đỏ da vàng giống như tôi.

mauthan1

Kết quả một vụ thảm sát dưới tay cộng sản Việt Nam tại khe Đá Mài phía nam Huế, tháng 2, 1968 Tết Mậu Thân. 428 nạn nhân đa số người Thiên chúa giáo, gồm tu sĩ công chức, bác sĩ, giáo sư và những chuyên viên ngành nghề khác. Nạn nhân bị bắt giữ ở nhà thờ Phú Cam Huế trước khi bị dẫn ra khỏi thành phố vào đầu tháng 2 năm 1968 và bị bắn chết dọc theo bờ lạch. Theo thông tin của cán binh địch đào ngũ Sư đoàn Bộ binh 101 (di động không kỵ) tìm thấy xác nạn nhân ngày 19 tháng 9, năm 1969. Nguồn : Nguyen, Huu Hien, 23 February 1969.

Đúng 50 năm về trước, Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đồng ý ngừng bắn 36 giờ để toàn dân được đón Tết theo truyền thống dân tộc. Khốn nạn thay, cộng sản Bắc Việt đã phản bội bản ký kết với Việt Nam Cộng Hòa, dưới danh nghĩa Mặt trận Giải phóng miền Nam, đồng loạt tấn công vào 41 tỉnh, thành phố và hàng trăm thị xã miền Nam.

Theo nhiều nguồn tin thì sau khi cuộc tổng tiến công Huế kết thúc vào ngày 24 tháng 2 năm 1968, thì có khoảng 3.500 thường dân bị mất tích. Một số đã chết trong cuộc chiến và bị chôn vùi trong những đống đổ nát. Khi người dân Huế và quân đội Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu dọn dẹp, thì họ đã bắt gặp một loạt các khu mộ chôn tập thể. Khoảng 150 xác chết đã được khai quật từ ngôi mộ đầu tiên, nhiều xác người cột chặt với nhau bằng dây thép và dây tre. Một số đã bị bắn chết, còn những người khác bị chôn sống.

Tác giả Buckley trong cuốn Fodor’s Exploring Vietnam đã nhận định rằng cuộc thảm sát 1968 ở Huế nhắm mục tiêu đến bất cứ ai có tình cảm dành cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, bao gồm các nhân viên cứu trợ nước ngoài, thương nhân, nhà sư Phật giáo, linh mục Công giáo, trí thức, và một số người nước ngoài có quan hệ với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, đều bị Việt Cộng bắn chết, chặt đầu và vùi thây họ trong những hố chôn tập thể.

Robert Shaplen đã viết trong tờ New Yorker vào tháng 3 năm 1968 rằng :

"Không có gì mà tôi thấy trong chiến tranh Triều Tiên hoặc chiến tranh Việt Nam cho đến nay, là khủng khiếp về tàn phávà chết chóc tuyệt vọng, như những gì tôi đã thấy ở Huế. Khoảng 3/4 các ngôi nhà ở Huế bị tàn phá hoàn toàn hoặc bị hư hỏng nghiêm trọng bởi bom và pháo đạn, trong khi đó những xác người chết chồng lên nhau trong những hố chôn tập thể, đầu của người này chồng lên đầu của người khác".

Tạp chí TIME tường thuật cuộc thảm sát Mậu Thân vào tháng 10, năm 1969 như sau :

"Ban đầu, những người đàn ông không dám bước vào con suối", một trong những người tìm kiếm nhớ lại. "Nhưng vì mặt trời đã bắt đầu lặn nên cuối cùng chúng tôi buộc phải bước vào dòng nước lạnh, trong lúc thầm cầu nguyện mong người chết tha thứ cho chúng tôi". Ở lạch nước, nhóm tìm kiếm đã phát hiện khoảng 250 hộp sọ và hàng đống xương. Một người Mỹ có mặt tại hiện trường cho biết : "Những ổ mắt thủng sâu thẳm và đen, trong khi dòng nước chảy siết qua những bộ xương khô".

Vào ngày thứ năm của cuộc tiến công Mậu Thân, binh lính Cộng sản đã xuất hiện tại nhà thờ Phủ Cam, nơi mà những người dân Huế đang ẩn náu cùng gia đình và bắt họ đi. Những người Việt Cộng nói rằng họ bắt những người đàn ông đi để giáo dục tuyên truyền và sau đó sẽ cho họ về. Nhưng gia đình của những người đó đã không bao giờ nghe hoặc nhìn thấy họ thêm một lần nào nữa. Dưới chân núi Nam Hòa, mười dặm từ nhà thờ Phú Cam, những người bị bắt đi đã bị bắn chết hoặc bị đánh cho đến chết".

Reed Irvine, Chủ tịch của Accuracy in Media (Sự chính xác trong Truyền thông) cho biết :

"Hàng ngàn nạn nhân được chôn cất bí mật trong các ngôi mộ tập thể. Nhưng sự thiếu hiểu biết của nhiều người dân về cuộc thảm sát Tết Mậu Thân 1968 cho thấy Đảng cộng sản đã thành công trong việc giữ kín cuộc thảm sát Huế như một bí mật. Việc phát hiện ra các khu mộ tập thể đã thu hút được sự chú ý tối thiểu của các phương tiện truyền thông Hoa Kỳ, và cho đến năm 1985 cảnh quay các thi thể được khai quật đã được trình chiếu trên nhiều kênh truyền hình của chúng tôi".

Tổng kết từ nhiều nguồn khác nhau, ước tính rằng chỉ riêng ở Huế, Việt Cộng đã tàn sát ít nhất 5.700 người.Riêng đối với thiệt hại của quân đội cộng sản Bắc Việt, thì ít nhất 45 ngàn người thiệt mạng trong tổng số 84 ngàn quân.

"Hát trên những xác người" Việt Nam

Trong khi chính quyền cộng sản Việt Nam đớn hèn, câm miệng không tưởng niệm chính những liệt sĩ của chế độ đã thiệt mạng trong những trận chiến với Trung Quốc tại Hoàng Sa (1974), Trường Sa (1988) và chiến tranh biên giới Việt Trung (1979), thì nó lại khốn nạn và đê tiện tổ chức "Bản hùng ca Xuân Mậu Thân 1968". Nhà nước cộng sản đang phục vụ dân tộc Việt Nam hay chính quyền Trung Quốc ?

Đảng cộng sản tự bịt mồm, nhắm mắt, đùa cợt trước những oan hồn vẫn chưa được trả công bằng, để hớn hở tổ chức "Lễ kỉ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968". Hành động này còn thua xa loài súc vật bởi vì những loại động vật này còn biết buồn khi đồng loại chết. Câu nói nổi tiếng của người khai sinh ra chủ nghĩa cộng sản là Karl Max, mô tả đầy đủ sự khốn nạn và độc ác của chóp bu cộng sản Việt Nam : "Chỉ có súc vật mới quay lưng lại với nỗi đau đồng loại mà chăm chút bộ lông của mình".

Máu đổ xuống, không phải chỉ của những người miền Nam hiền lành, nhưngcòn của rất nhiều bộ đội miền Bắc, đã nhuộm đỏ đất và nước Việt Nam.Thay vì xét mình để tưởng niệm những tang thương mà cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 đã gây ra, thì Đảng cộng sản lại điên cuồng, xấc xược khuấy sâu nhát dao vào vết thương chưa khô máu. Sự kiện tắm máu dân tộc Việt Nam quá đau thương như thế này, là một "Bản hùng ca" đáng vui mừng đối với những chóp bu cộng sản hay sao ?

Ít nhất 45 ngàn binh lính của cộng sản Bắc Việt thiệt mạng trong cuộc tiến công Tết Mậu Thân 1968, chứng minh được sự thất bại hoàn toàn của Đảng cộng sản trong chiến dịch bất nhân này. Thay vì hàn gắn vết thương, tổ chức tưởng niệm những nạn nhân đã thiệt mạng của cả hai miền Nam Bắc, chóp bu cộng sản lại thách thức lương tri của những người yêu Lẽ Phải và Sự Thật, bằng những buổi văn nghệ, hát mừng trên những xác người.

Đúng lý và hợp tình hơn, Đảng cộng sản phải chủ động hòa giải với dân tộc Việt Nam, nghĩa là nhận lỗi về những tang thương đã gây ra, phục hồi danh dự và bồi thường thiệt hại cho tất cả các nạn nhân. Cũng dễ hiểu, bởi Đảng cộng sản luôn rất sợ và chống lại lập trường hòa giải dân tộc vì không có gì thỏa mãn nó bằng một đất nước chia rẽ và hận thù.

Thay lời kết

Cuộc thảm sát Tết Mậu Thân 1968 là một tội ác diệt chủng và cũng là một trong nhiều tội ác mà chế độ cộng sản đã gây ra cho dân tộc Việt Nam.

"Đảng Cộng Sản Việt Nam đã là một đại họa cho dân tộc ta. Nó đã là thủ phạm của cuộc nội chiến kéo dài ba mươi năm làm đất nước tan nát và nhiều triệu người thiệt mạng. Trong cơn mê cuồng áp đặt chủ nghĩa cộng sản nó cũng đã phạm những tội ác kinh khủng, tàn sát có chủ mưu hàng trăm ngàn người yêu nước hoặc vô tội".

(Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai).

Quá nhiều máu và nước mắt đã đổ ra nhân danh thứ chủ nghĩa cộng sản quái thai và Đảng cộng sản không xứng đáng cũng không đủ tư cách để tiếp tục độc quyền lãnh đạo dân tộc Việt Nam.Sự tồn tại của chế độ cộng sản cho đến nay là một thách đố vô cùng xấc xược đối vơi lương tri và danh dự của những người yêu mến đất Mẹ Việt Nam.Phải nhanh chóng thay thế chế độ độc tài toàn trị bằng dân chủ đa nguyên để hòa giải người Việt Nam với nhau,xóa bỏ hận thù, ngăn cách và chia rẽ.

"Để có dân chủ đa nguyên thực sự, điều chúng ta phải làm trước hết là xóa bỏ những hận thù do một quá khứ đẫm máu để lại và được một chính sách phân biệt đối xử nuôi dưỡng suốt thời gian qua.Hòa giải dân tộc là một bắt buộc của hoàn cảnh lịch sử. Có như thế chúng ta mới có thể chấp nhận nhau, nhận lỗi với nhau và tha lỗi cho nhau, để chung sống với nhau và bắt tay nhau xây dựng một tương lai chung. Còn nếu không đa nguyên cùng lắm chỉ có nghĩa là tạm thời chịu đựng lẫn nhau do một so sánh lực lượng chưa ngã ngũ. Đa nguyên mà không có hòa giải dân tộc như vậy chỉ là đa nguyên bệnh hoạn, chỉ chuẩn bị cho một sự thanh toán lẫn nhau".

(Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai).

Quan trọng hơn, phải hòa giải người Việt Nam với đất nước Việt Nam để phục hồi lòng yêu nước. Tổ quốc cần một kết hợp chính trị lương thiện, bao dung, và nhân ái để nối mọi bàn tay và mọi khối óc, cùng nhau xây dựng tương lai tươi sáng cho Việt Nam dựa trên lòng yêu nước.

Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đã đề nghị giải pháp cho bài toán chính trị Việt Nam : phải có một lực lượng chính trị làm đối trọng với Đảng cộng sản. Lực lượng này chia sẽ đường lối và giải pháp chung cho cuộc cách mạng dân chủ, sẽ đóng vai trò vận động quần chúng tham gia vào phong trào bất tuân dân sự trên toàn quốc, tạo áp lực buộc Đảng cộng sản phải thực hiện hòa giải dân tộc và bầu cử tự do. Và cuộc bầu cử tự do, dưới sự giám sát chặt chẽ và công bằng của cộng đồng quốc tế, sẽ là tiền đề để thiết lập chế độ dân chủ đa nguyên.

Để có thể xây dựng được đối trọng mạnh với Đảng cộng sản cần phải có sự tham gia và ủng hộ của những trí thức yêu nước, không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính và địa lý.

Hãy dũng cảm tham gia cuộc cách mạng dân chủ vì mục tiêu của nó là tự do và hạnh phúc cho cả những người xa lạ và cho chính con cháu của chúng ta. Dân tộc Việt Nam xứng đáng được hưởng nhân quyền và hạnh phúc như các dân tộc khác trên thế giới. Con cháu của bạn và tôi xứng đáng được hưởng một nền giáo dục nhân bản và khai phóng cũng như sống trong một môi trường sạch sẽ và lành mạnh.

Muốn được như thế, hãy đừng vô cảm, đừng buông tay, và hãy nhanh chóng quyết định : tham gia Tập Hợp !

Mai V. Phạm

Thành viên Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

"Đa nguyên – Bất bạo động – Hòa giải & Hòa hợp Dân tộc

Trần Gia Phụng: Tại Sao Đổi Lịch Tết Mậu Thân?

Biến cố Mậu Thân (1968) xảy ra cách đây đúng 50 năm (1968-2018), bắt đầu từ quyết định rất khó hiểu vào lúc đó là việc sửa đổi âm lịch ở Bắc Việt Nam (BVN) nhân dịp Tết Mậu Thân.

1.- SỬA ĐỔI ÂM LỊCH Ở BẮC VIỆT NAM

Ngày 8-8-1967, nhà cầm quyền BVN ra lệnh cho Nha Khí tượng Hà Nội đổi âm lịch, và lịch mới sẽ được áp dụng kể từ ngày 1-1-1968. Nha Khí tượng chỉ có khoảng 5 tháng để đổi lịch.

Thông thường, việc soạn lịch do những nhà khoa học lịch pháp nghiên cứu dựa trên những điều kiện thiên nhiên, chứ không phải theo ý muốn của con người, nhưng ở đây lại khác. Xin cùng nhau đọc “Lời giới thiệu của Nha Khí tượng” Hà Nội trong lần ấn hành thứ nhứt năm 1968 quyển Lịch thế kỷ XX của nhà xuất bản Phổ Thông (sau đổi thành nhà xuất bản Văn Hóa), Hà Nội, có các đoạn nguyên văn như sau:

“Lịch thế kỷ XX gồm thời gian đã qua (1901-1967) và thời gian sắp đến (1968-2000)…

“Đối với những năm đã qua, ngày tháng âm lịch và các tiết được sao lục theo đúng các lịch được công nhận là lịch chính thức trong từng thời kỳ, không đính chính. Phần nầy chúng tôi gọi là “Phần lịch sử (1901-1967).

“Đối với những năm sắp đến, ngày tháng âm lịch và các tiết được tính toán dựa theo quyết định số 121/CP ngày 8-8-1967 của Hội đồng Chính phủ. Phần nầy chúng tôi gọi là là “Phần tính toán (1968-2000)…

“… Phần nầy tính căn cứ theo Quyết định số 121/CP ngày 8-8-1967 của Hội đồng Chính phủ. Đã tính tất cả 792 ngày tiết và 408 tháng âm lịch, trong đó có 217 tháng đủ, 191 tháng thiếu, 12 tháng nhuận. Trong thời gian 33 năm sắp tới trên thế giới sẽ xảy ra 73 nhật thực và 48 nguyệt thực: ở nước ta sẽ trông thấy 10 nhật thực và 29 nguyệt thực…” (Nha Khí tượng Việt Nam, Lịch thế kỷ XX (1901-2000), Hà Nội: Nxb. Văn Hóa, 1982. “Lời giới thiệu của Nha Khí tượng”, không đề trang.)

Những chữ in đậm do người viết bài nầy, nhằm lưu ý rằng không phải những nhà soạn lịch tự ý đề nghị sửa đổi âm lịch, mà việc sửa đổi nầy do quyết định số 121/CP ngày 8-8-1967 của Hội đồng chính phủ (HĐCP) BVN, tức những nhà soạn lịch phải sửa đổi âm lịch theo ý muốn của nhà cầm quyền.

Vì vậy, trong lời nói đầu, những nhà làm lịch hai lần nhấn mạnh rằng việc đổi âm lịch “được tính toán dựa theo quyết định số 121/CP ngày 8-8-1967 của Hội đồng Chính phủ.” Nghĩa là chính phủ quyết định trước, rồi giao cho những nhà lịch pháp thi hành quyết định đó, phải sửa lịch đúng theo yêu cầu của chính phủ. Dưới chế độ CS, tất cả các ban ngành đều phải phục vụ chính trị, phục vụ chế độ, phục vụ đảng CS.

2.- CHỈ KHÁC NGÀY MỒNG MỘT TẾT

29-1-1968Việc sửa đổi âm lịch không ảnh hưởng gì đến dương lịch, chỉ ảnh hưởng đến âm lịch. Theo Nha Khí tượng Hà Nội, trong thế kỷ 20, âm lịch sửa đổi ở BVN có những sai biệt với âm lịch cũ, đang được Nam Việt Nam (NVN) sử dụng, như sau: “Cụ thể là, từ 1968 đến năm 2000 có tất cả 29 ngày tiết và 26 tháng âm lịch thiếu, đủ khác với lịch cũ. Sự khác nhau đó đưa đến kết quả là, so với lịch cũ, ngày Tết Mậu Thân (1968) và Kỷ Dậu (1969) sớm hơn một ngày. Ngày Tết Ất Sửu (1985) sớm hơn một tháng.” (“Lời giới thiệu của Nha Khí tượng”, “Phần tính toán (1968-2000)”, sđd.) (Người viết bài nầy in đậm.)

Trong những sai biệt so với âm lịch cũ, gần nhứt và quan trọng nhứt là tháng Chạp (tháng 12) năm Đinh Mùi không có ngày 30, tức tháng Chạp thiếu, và ngày mồng Một Tết Mậu Thân (1968) ở BVN sớm hơn một ngày so với lịch cũ. Đó là ngày thứ Hai 29-1-1968 dương lịch. Trong khi đó, theo âm lịch cũ, cũng là âm lịch NVN đang sử dụng, ngày mồng Một Tết Mậu Thân là ngày thứ Ba 30-1-1968 dương lịch. (Lịch năm 1967 và 1968 của BVN theo Nha Khí Tượng Việt Nam [Hà Nội], Lịch thế kỷ XX (1901-2000), Hà Nội: Nxb. Văn Hóa, 1982. Lịch năm 1967 và 1968 của NVN theo Nguyễn Như Lân, 200 năm dương lịch và âm lịch đối chiếu [1780-1980], Sài Gòn 1961, tt. 216-227.)

Việc sửa đổi nầy không căn cứ trên nghiên cứu khoa học, mà căn cứ theo quyết định của HĐCP. Hội đồng chinh phủ CS nằm dưới quyền điều khiển của bộ chính trị đảng Lao Động. Lúc đó, chẳng ai hiểu vì sao BVN bớt đi một ngày vào cuối tháng chạp năm Đinh Mùi, và cũng chẳng ai lưu ý bớt để làm cái gi?

Ngày nay, muốn tìm hiểu câu hỏi nầy, cần nhìn lại diễn tiến chính trị và quân sự lúc đó ở BVN, vì ai cũng biết rằng tất cả việc làm, dù lớn dù nhỏ, của nhà cầm quyền Hà Nội đều luôn luôn dựa trên những tính toán chính trị hữu cơ rất chi tiết.

3.- HOÀN CẢNH ĐƯA ĐẾN VIỆC ĐỔI ÂM LỊCH

Khi cầm quyền ở BVN từ tháng 10-1954, đảng Lao Động lo ổn định tình hình, cải cách công thương nghiệp, tổ chức công tư hợp doanh ở thành phố, cải cách ruộng đất ở nông thôn, quốc hữu hóa toàn bộ sinh hoạt kinh tế và làm chủ tuyệt đối BVN. Sau đó, CS nhìn về phương Nam, dự tính xâm lăng NVN, bành trướng chủ nghĩa CS.

Hội nghị Trung ương đảng Lao Động lần thứ 15 tại Hà Nội ngày 13-5-1959, đưa ra nghị quyết thống nhất đất nước (tức đánh chiếm NVN bằng võ lực) và đưa miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa. (Nghị quyết đăng trên nhật báo Nhân Dân ngày 14-5-1959) .

Năm sau, đại hội III đảng Lao Động tại Hà Nội từ ngày 5-9 đến ngày 10-9-1960, được mệnh danh là “Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà”, đưa ra hai mục tiêu lớn của đảng Lao Động là xây dựng BVN tiến lên Xã hội chủ nghĩa và “giải phóng” NVN bằng võ lực.

Để chuẩn bị tấn công NVN, CSBVN thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) ngày 12-12-1960 tại Hà Nội. Mặt trận nầy chính thức ra mắt vào ngày 20-12-1960 tại chiến khu Dương Minh Châu vùng Tây Ninh ở NVN. (Dương Minh Châu là chủ tịch Uỷ ban Hành chánh Kháng chiến Tây Ninh bị Pháp giết chết trong một trận càn quét vào tháng 2-1947 tại Tây Ninh.)

Ở NVN, chính phủ Ngô Đình Diệm bị sụp đổ năm 1963. Nam Việt Nam bị xáo trộn liên tục trong ba năm. Chiến tranh du kích càng ngày càng lan rộng và càng ác liệt ở NVN. Quân đội Hoa Kỳ và Đồng minh đến giúp NVN càng ngày càng đông. Nền Đệ nhị Cộng Hòa được thành lập giữa năm 1967, ổn định dần dần tình hình. Năm 1967 cũng là năm bắt đầu cuộc vận động tranh cử tổng thống cho năm sau (1968) tại Hoa Kỳ. Chính trường Hoa Kỳ rất nhạy cảm và dễ dao động trong giai đoạn vận động tranh cử.

Chính trong hoàn cảnh đó, BVN dự tính mở một cuộc tổng tấn công để đánh chiếm nhanh chóng toàn bộ NVN, hoặc ít nhất phá vỡ nền tảng hành chánh mới được thiết lập của nền Đệ nhị Cộng Hòa ở NVN, đồng thời để chứng tỏ cho Hoa Kỳ thấy rằng Hoa Kỳ không thể chiến thắng tại Việt Nam, dù vào cuối năm 1967 số quân Hoa Kỳ tại NVN đã lên đến 486,000 người.

Vào đầu tháng 7-1967, tại Hà Nội, diễn ra các cuộc họp quan trọng của Bộ chính trị và Quân uỷ Trung ương đảng Lao Động, duyệt y kế hoạch phát động cuộc tấn công vào các thành phố ở NVN nhân dịp Tết
Mậu Thân (1968). Cuộc họp nầy diễn ra một tháng trước khi HĐCP Hà Nội ra quyết định ngày 8-8-1967, sửa đổi âm lịch. Phải chăng chính cuộc họp của Bộ chính trị đảng Lao Động đã ra lệnh cho HĐCP, rồi HĐCP theo đó thi hành, buộc Nha Khí tượng gấp rút soạn lại lịch, chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công ở NVN?

4.- HƯU CHIẾN TẾT MẬU THÂN

Trong cuộc chiến Quốc Cộng, hai bên thường hưu chiến trong ba ngày Tết. Đây là một thông lệ bất thành văn giữa hai bên, tôn trọng tập tục truyền thống dân tộc Việt Nam.

Ngày 19-10-1967, đài phát thanh Hà Nội đưa ra lời tuyên bố của nhà nước VNDCCH, tự nguyện ngưng bắn từ 01G:00 sáng giờ Hà Nội ngày 27-1-1968 đến 01G:00 sáng giờ Hà Nội ngày 3-2-1968, tức trong 7 ngày. (Wikipedia.org. Chữ khóa: “Sự kiện Tết Mậu Thân”.)

Ngày 17-11-1967, MTDTGPMNVN đưa ra đề nghị hưu chiến 3 ngày trong dịp lễ Giáng Sinh, 3 ngày lễ Tết dương lịch và 7 ngày Tết âm lịch. (Don Oberdorfer, TET, New York: A Da Capo Paperback, 1971, tr. 70.) Đề nghị nầy đưọc đài phát thanh MTDTGP lập lại ngày 15-12-1967. (Đoàn Thêm, 1967 Việc từng ngày, California: Nxb. Xuân Thu tái bản, 1989, tr. 287,) Đến gần Tết Mậu Thân, ngày 27-1-1968, đài phát thanh Hà Nội đưa ra thông báo của Thông tấn xã BVN sẽ phóng thích ba tù binh Hoa Kỳ nhân dịp Tết vì nhân đạo. (Đoàn Thêm, 1968 Việc từng ngày, California: Nxb. Xuân Thu tái bản, 1989, tr. 38.)

Trong khi đó, ngày 15-12-1967, chính phủ VNCH thông báo sẽ hưu chiến trong dịp lễ Giáng sinh từ 18G:00 ngày 24-12-1967 đến 18G:00 ngày 25-12-1967; hưu chiến 24 giờ vào dịp 1-1-1968, và hưu chiến 48 giờ vào dịp Tết nguyên đán Mậu Thân. (Đoàn Thêm, 1967 Việc từng ngày, sđd. tr. 286.)

Hưu chiến là hai bên thỏa thuận tạm ngừng đánh nhau cho dân chúng hưởng Tết. Tuy nhiên, tình báo quân đội Hoa Kỳ bắt được nhiều nguồn tin là CS sẽ tấn công lớn vào dịp Tết, và thông báo cho phía VNCH biết.

Dầu vậy, trước tình hình ngoại giao có vẻ hòa hoãn, nhứt là vào cuối năm 1967, quân đội Hoa Kỳ hiện diện đông đảo ở NVN (486.000 người), đã tạo một ảo giác bình yên trong tâm lý dân chúng miền Nam, nên ngay cả cá nhân trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, vừa mới đắc cử tổng thống ngày 3-9-1967, cũng rời Sài Gòn đưa gia đình về quê vợ ở Mỹ Tho, và trung tướng Vĩnh Lộc, tư lệnh quân đoàn 2, phụ trách lãnh thổ cao nguyên Trung phần, bỏ về Sài Gòn nghỉ Tết.

Trong khi đó, về quân sự để đánh lạc hướng dự đoán của VNCH và Đồng minh, Việt cộng tấn công mãnh liệt các cứ điểm quân sự ở Cao nguyên Trung phần và đặc biệt tung ba sư đoàn chính quy là 325C, 304, và 308 bao vây Khe Sanh (Quảng Trị) từ ngày 20-1-1968. Khe Sanh là cứ điểm chiến lược kiểm soát trục giao thông và vận tải trên đường mòn Trường Sơn của cộng sản từ Bắc vào Nam, gần khu phi quân sự, do Lực lượng đặc biệt Mỹ trấn giữ, nằm trên đường số 9, giữa biên giới Lào và thị trấn Quảng Trị, cách biên giới khoảng 20 dặm và cách Quảng Trị khoảng 30 dặm.

Nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội còn đưa ra một hư chiêu, bằng cách cho báo chí Hà Nội lên tiếng rằng Khe Sanh sẽ là một Điện Biên Phủ thứ hai, khiến các nhà lãnh đạo VNCH, Hoa Kỳ, và cả thế giới nữa, đổ dồn sự chú ý vào Khe Sanh, và chờ đợi một cuộc thử sức lớn lao giữa hai bên sắp bùng nổ.

5.- TẤN CÔNG ĐÊM GIAO THỪA

Đúng như tin tức tình báo do quân đội Hoa Kỳ bắt được, bộ đội CS đã nổi lên tấn công đêm Giao thừa và sáng Mồng Một Tết Mậu Thân ở nhiều thành phố NVN (tối thứ Hai 29-1-1968 sáng thứ Ba 30-1-1968 dương lịch). Cộng sản hy vọng tấn công trong dịp hưu chiến, thì còn gì bất ngờ hơn nữa. Tuy nhiên quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng đẩy lui cuộc tổng tấn công của bộ đội CS.

Cộng sản nổ súng đêm Giao thừa mới lòi ra âm mưu đen tối của CS. Rõ ràng BVN thay đổi âm lịch, làm cho ngày Tết Mậu Thân ở BVN trước ngày Tết NVN một ngày, nhắm mục đích diễn trò đánh lén hèn hạ, bất chấp ngày lễ cổ truyền thiêng liêng của dân tộc.

Cộng sản để cho dân chúng BVN và bộ đội của họ ăn Tết trước một ngày. Điều nầy nhắm đến hai mục tiêu: Mục tiêu thứ nhứt, trong ngày mồng Một Tết của BVN theo âm lịch mới, dân chúng BVN cũng như bộ đội CS ở BVN và NVN vui xuân bình thường như mọi năm. Đặc biệt là Không quân Việt Nam Cộng Hòa tức NVN cũng như Không quân Hoa Kỳ tôn trọng hưu chiến, không hoạt động nhân ngày hưu chiến, nên CS hưởng được một ngày an bình trọn vẹn dưới đất cũng như trên không. Mục tiêu thứ hai là đánh lừa sự quan sát theo dõi của thế giới, bảo mật tối đa đến phút chót đối với binh sĩ của họ cũng như đối với quân đội VNCH.

Ngày mồng Một Tết Mậu Thân của BVN tức là ngày 30 tháng chạp âm lịch của NVN (29-1-1968), dân chúng BVN và bộ đội CS, ở ngoài Bắc cũng như bộ đội CS ở trong Nam, đều vui chơi hưởng Tết, khiến ai cũng tưởng rằng CS sẵn sàng tôn trọng cuộc hưu chiến trong dịp Tết và không hoài nghi gì về việc CS đang chuẩn bị một cuộc tấn công quy mô trên khắp lãnh thổ VNCH.

Tuy chuẩn bị kế hoạch đầy đủ, nhưng vấn đề chính trị luôn luôn biến chuyển sinh động từng ngày, từng giờ, đôi khi đột biến bất ngờ. Có thể có những yếu tố đột biến xoay chuyển cả lịch sử. Trên thế giới đang diễn ra những cuộc vận động ngoại giao ráo riết liên tục từ nhiều nước, để giải quyết chiến tranh Việt Nam, nên đảng Lao Động phải đợi đến giờ chót mới ra lệnh là sẽ tấn công hay không tấn công?

Lệnh tổng tấn công nầy cần được ngụy trang, và Hà Nội chọn cách ngụy trang hầu như không ai chú ý, là thơ chúc Tết mà hằng năm Hồ Chí Minh thường đọc trên đài phát thanh Hà Nội. Đây là điều bình thường hằng năm ở BVN, nên chẳng ai chú ý. Lần nầy thơ chúc Tết của Hồ Chí Minh là hiệu lệnh tổng tấn công.

Lệnh tấn công thì phải đọc trước giờ tấn công. Giờ tấn công định vào giờ Giao thừa ở NVN. Nếu đã định vào giờ Giao thừa, mà đọc thơ chúc Tết sáng 30 tháng chạp thì sẽ bị chú ý ngay, vì đây là một hiện tượng bất thường chưa hề xảy ra về trước. Phải đọc thơ chúc Tết đúng đêm giao thừa và được lập lại nhiều lần sáng mồng Một ở Hà Nội bình thường như mọi năm, mới tránh được sự nghi ngờ từ mọi phía.

Vậy chỉ có một biện pháp duy nhứt là sửa lịch thế nào cho BVN là mồng Một mà NVN vẫn là Ba mươi, tức là BVN trước NVN 24 giờ. Như thế Hồ Chí Minh đọc thơ chúc Tết đêm Giao thừa và lập lại sáng mồng Một ở BVN (trước Giao thừa NVN 24 giờ) nhằm truyền lệnh tấn công cho bộ đội CS vào đêm Giao thừa tức đêm Ba mươi Tết ở NVN (sau đêm Giao thừa Bắc Việt 24 giờ).

Dĩ nhiên đài Hà Nội phát đi phát lại nhiều lần bài thơ nầy trên làn sóng điện từ đên Giao thừa và suốt trong ngày mồng Một Tết ở BVN, tức trong ngày Ba mươi ở NVN, nên ở đâu trên toàn cõi NVN tức VNCH, các cấp chỉ huy CS cũng đều nghe được mật lệnh nầy, và đều có thời giờ chuẩn bị sẵn sàng nhất loạt hành động. Cách truyền lệnh nầy hầu như không bị chú ý.

Lúc đó phương tiện thông tin liên lạc còn rất kém. Muốn ra lệnh kịp thời vào giờ chót cho các lực lượng CS trên toàn lãnh thổ NVN, trải dài từ sông Bến Hải đến mũi Cà Mau (từ bắc xuống nam VNCH), thì chỉ có phương tiện duy nhứt là đài phát thanh Hà Nội, là đài phát thanh rất mạnh mà ở đâu trên toàn cõi VNCH cũng có thể nghe được. Do đó, nhà cầm quyền CSBVN chọn đài phát thanh Hà Nội để ra lệnh.

6.- TẠI SAO ĐÊM GIAO THỪA?

Ngang đây, có một câu hỏi phụ thêm là CS có thể giữ nguyên lịch cũ, đêm Giao thừa, Hồ Chí Minh đọc thơ ra lệnh, tối mồng Một tấn công, cũng bất ngờ vậy? Điều nầy đúng, nhưng chắc chắn thời điểm tấn công tối mồng Một không thuận lợi bằng tấn công đêm Giao thừa.

Lý do đơn giản là đối với người Việt Nam ở Bắc cũng như Nam, ở thành thị cũng như nông thôn hay rừng núi, đêm Giao thừa có ý nghĩa linh thiêng, ở đâu mọi người đều lo cúng rước ông bà, tổ tiên về vui Tết với con cháu, và đón mừng năm mới theo tập tục cổ truyền của dân tộc.

Chắc chắn việc trực gác cơ quan hay đơn vị quân sự cũng có phần lơ là hơn là các ngày mồng Một hay mồng Hai Tết. Tại các tiền đồn hẻo lánh, các đơn vị quân đội hẵn cũng tổ chức đón mừng năm mới vào đêm Giao thừa. Do đó, tấn công đêm Ba Mươi Tết là thời điểm bất ngờ hơn cả, hy vọng đạt kết quả hơn cả. Đó là lý do CS chọn đêm Ba Mươi để hành sự. Muốn chọn đêm Ba Mươi (ở NVN) và bảo mật đến mức tối đa đến phút chót, thì CS phải sửa âm lịch theo kế hoạch như đã trình bày ở trên.

Để giữ bí mật đến phút chót, nhà cầm quyền Hà Nội còn ra lệnh cho Nha Khí tượng áp dụng lịch mới đổi từ ngày 1-1-1968, chỉ được phát hành lịch mới nầy vào đầu năm 1968, tức là ngay cả dân chúng BVN, đến phút chót vào đầu năm 1968, mới được biết việc thay đổi âm lịch.

Do đó, về phần Nha Khí tượng Hà Nội, trong lời giới thiệu rất ngắn, để tránh bớt trách nhiệm, kín đáo nhắc lại hai lần: “Đối với những năm sắp đến, ngày tháng âm lịch và các tiết được tính toán dựa theo quyết định số 121/CP ngày 8-8-1967 của Hội đồng Chính phủ. Phần nầy chúng tôi gọi là là “Phần tính toán (1968-2000)”.

Đặc biệt, trong những lần ấn hành lịch vào những năm sau, Nha Khí tượng Hà Nội đều không quên in lại lời giới thiệu lần đầu nầy, như một cách tránh né trách nhiệm trước dư luận. Sự cẩn trọng của những chuyên viên lịch pháp Nha Khí tượng Hà Nội chắc chắn có những lý lẽ ngầm mà họ không thể nói ra.

KẾT LUẬN

Tóm lại, tất cả những diễn tiến chiến tranh trên đây đã trả lời câu hỏi là Hà Nội sửa đổi âm lịch năm Mậu Thân 1968 để làm gì? Nói văn hoa là để tấn công bất ngờ. Nói nôm na là để đánh lén. (Nói thô tục là để cắn trộm.)

Tuy bội ước, tráo trở, tấn công bất ngờ, hay đánh lén, CS cũng không thành công trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, mà còn mang lấy thảm họa, đến nỗi khi nghe nhà văn quân đội CS, đại tá Xuân Thiều trình bày: “Tôi thấy Tết Mậu Thân sáu tám ở Huế chết chóc nhiều quá, mất mát đau thương lớn quá. Bộ đội chết không còn người để chôn nhau. Dân chết cũng nhiều… Mới nghe có thế, Tổng Bí Thư [Lê Duẩn] đã đứng bật dậy, đỏ mặt quát: Ngu! Ngu! Đại Tá mà ngu!… rồi ông đùng đùng bước nhanh ra cửa như chạy trốn.” (Phạm Đình Trọng, Về Với Dân, phần 3: Khắc khoải xuân Mậu Thân 1968, https://nhatbaovanhoa.com/…/tet-mau-than-1968-nhin-tu-mot-nha-van-dang-vien-co)

Hứa hẹn hưu chiến, hứa hẹn tôn trọng truyền thống dân tộc. Rồi bội ước, vi phạm hưu chiến, bất chấp truyền thống dân tộc. Vì vậy không ai lấy làm lạ CS bội ước luôn cả những văn kiện quốc tế có nhiều nước trên thế giới làm chứng. Bội ước là thói quen thường ngày của người CS. Chức tước càng cao, càng có nhiều kinh nghiệm bội ước.

TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 29-01-2018)

Truyền hình Đức: “DIE TET-OFFENSIVE des VIETCONG” – về Tết Mậu Thân 1968

Lê Ngọc Châu  (Theo N-TV, ngày 30 tháng 01 năm 2018)

Mỗi khi nhắc đến Tết Mậu Thân 1968, phải nói là không người Miền Nam nào không biết đến thảm cảnh do VC và tay sai gây ra và ai cũng rõ là không có nơi nào của Miền Nam VN (VNCH) gánh chịu nhiều tang thương và có hàng ngàn nạn nhân bị VC giết chết như ở Huế.

 Sau Tết Mâu Thân 1968, hầu như là gia đình nào ở Huế cũng đều có một cái am để thờ những người bị chết oan hay bàn thờ để tưởng nhớ đến cha mẹ, anh em … bị chết oan uổng trong cuộc thảm sát Mậu Thân của VC mà nạn nhân có thể nói đa số là những người dân vô tội.

Đó là từ cái nhìn của người Việt chúng ta. Xa hơn nữa, đã có những hồi ký, bài tạp ghi, bút ký của các nhân chứng sống viết nhiều về thảm cảnh Tết Mậu Thân do Việt Cộng gây ra, nổi tiếng phải nói đến tác phẩm “Giải Khăn Sô Cho Huế” của nhà văn nữ Nhã Ca. Bên cạnh đó cũng có nhiều ký giả ngoại quốc viết, kể lại những gì họ đã chứng kiến, chụp hình, điển hình là tác phẩm “Duc, der Deutsche: Mein VietNam, warum die Falschen siegten (tạm dịch: Duc, the German: My VietNam, why the wrong o­nes won)” của Dr. Uwe Siemon-Netto.

Sáng nay, nhân lần đầu tiên thấy một đài Truyền Hình lớn của Đức là N-TV cho chạy tít với nhiều hình ảnh liên quan đến Tết Mậu Thân 1968 nên tôi mạo muội giới thiệu để độc giả biết.

Điều đặc biệt ở đây là hình ảnh do ký giả ngoại quốc ghi nhận và phổ biến rộng rãi theo cái nhìn riêng của họ liên quan đến Tết Mậu Thân 68 và chiến tranh VN. Tôi chỉ giới thiệu khi xem xong để rộng đường dư luận mà thôi và xin được miễn phê bình thêm nhưng chắc chắn độc giả sau khi xem phóng sự bằng hình (Bilderserie) do N-TV của Đức đưa lên internet và truyền hình, báo chí thì ít nhìều cũng sẽ có một suy tư nào đó về thảm trạng Tết Mậu Thân 68 mà tiêu đề đã được ghi rất rõ ràng, khó chối cãi: ” DIE TET-OFFENSIVE des VIETCONG “.

Người viết chỉ trích dẫn vài dữ kiện và mời đọc lời bình của ký giả ngoại quốc.

Ngay hình đầu tiên của thiên phóng sự bằng hình của N-TV đã ghi rõ phụ chú:

“Die Überraschung ist perfekt, weder US-Soldaten noch die Geheimdienste hatten die leiseste Ahnung” => tạm dịch: ” S bất ngờ là hoàn ho, không những lính M mà các cơ quan tình báo bí mt cũng không  dự đoán trước nào hết! “, cũng đủ cho chúng ta thấy một bên VC + cộng sản Bắc Việt thì có chuẩn bị trước trong khi “phía bên VNCH” hoàn toàn không biết gì cả vì đã ngây thơ đặt tin tưởng vào thỏa hiệp đình chiến ký kết giữa hai bên trong dịp Tết !.

Ký giả ngoại quốc đã viết: “Besonders schlimm trifft es die alte Kaiserstadt Huế, die 7500 Soldaten der nordvietnamesischen Armee einnehmen (hình 9)! => Tạm dịch: Đc bit xu là Cố Đô Huếnơi có 7500 binh lính ca quân đi Bc Vit chiếđóng (hình 9)

Và càng rõ ràng hơn: Rund 5700 Menschen töten oder sie, unter ihnen Polizisten, Lehrer, Journalisten und Juristen. Auch westdeutsche Mediziner und ein französischer Priester werden ermordet. Sie werden erschossen, zu Tode geprügelt, lebendig begraben. (hình 11+12).

Tạm dịch: Khong 5.700 ngườbị VC giết hobị chúng lùa (mang) đi, bao gm cnh sát, giáo viên, nhà báo và lut sư. Các bác sĩ Tây Đc và mt linh mc người Pháp b giết. H b bn, b đánh đến chết, b chôn sng (hình 11+12).

Mời xem phóng sự bằng hình (gồm 95 hình) để rõ hơn do N-TV thực hiện theo đường Link:

https://www.n-tv.de/mediathek/bilderserien/politik/Die-Tet-Offensive-des-Vietcong-article20244716.html

Tóm lại, với chủ nghĩa cộng sản, nạn nhân cũng là kẻ thù – là những người dân cùng một nước, cùng nói một ngôn ngữ tuy phát âm khác nhau và thậm chí là những người anh em ruột thịt, bà con hay từng là bạn với nhau. Và như chính chúng ta con dân của VNCH trải qua, điển hình là Tết Mậu Thân 1968 cách đây 50 năm mà ngay cả ký giả ngoại quốc đã trưng bày hình ảnh tội ác do VC gây ra cũng như hình ảnh của Quân-Cán-Chính VNCH bị đoạ đầy, giam tù, tra tấn trong các trại “cải tạo của VC” từ Nam ra Bắc sau 30.04.1975 mà chúng ta được nhìn thấy phổ biến trên các diễn đàn, Facebook, báo chí Việt & ngoại quốc.

Lịch sử luôn bất biến. Lịch sử luôn là những dữ kiện tồn tại với thời gian nhất là tội ác đối với con người. Đức hàng năm nhắc đến tội ác chiến tranh Đệ Nhất và Đệ Nhị Thế Chiến cũng như tội ác diệt chủng người Do Thái thì chiến tranh VN, hình ảnh thảm cảnh Tết Mậu Thân 1968 do Việt Cộng và tay sai nằm vùng (ghi chú thêm: KHÔNG có tay sai nằm vùng thì VC biết ai là ai, là lính hay công chức, giáo sư … mà giết chứ ??) gây ra cũng sẽ được nhắc đi nhắc lại mãi trong tương lai dù có cố tình che đậy, giấu diếm vì “Sự Thật muôn đời vẫn là Sự Thật”.

Điều khác biệt so với Đức là nơi người viết định cư nói riêng, chính quyền Đức và những người trách nhiệm đến “ngày lịch sử xấu nào đó” thì họ xấu hổ, nói lên lời xin lỗi liên quan đến các việc tồi tệ Đức đã làm cũng như nhắc nhở để thế hệ sau của Đức tránh, đừng vấp phải nữa.

Nhìn người lại nghĩ đến ta, cộng sản VN thì trái ngược lại vì qua internet, họ “ăn mừng tội lỗi do chính chúng gây ra trên toàn Miền Nam VN trong dịp Tết Mậu Thân 1968”. Riêng tôi thật sự hết ý nếu so sánh với nước Đức và xin nhường lại sự nhận định cho quý độc giả !.

 * © Lê Ngọc Châu – (Nam Đức, chiều 01.02.2018)

Những hố chôn người trong cuộc thảm sát Mậu Thân tại Huế

Cao-Đắc Tuấn (Danlambao) - Tóm Lược: Bác sĩ Alje Vennema viết một cuốn sách nhan đề "The Vietcong Massacre at Hue," xuất bản năm 1976, mô tả chi tiết cuộc tàn sát dã man người dân Huế do quân cộng sản thực hiện trong Tết Mậu Thân 1968. Là nhân chứng của cuộc thảm sát và tham gia trực tiếp trong việc tìm tòi các hầm chôn và phỏng vấn gia đình nạn nhân, bác sĩ Vennema trình bày cuộc khám phá 19 hố chôn tập thể với ít nhất 2.307 xác người. Báo cáo của Bác sĩ Vennema là bằng chứng hùng hồn cho sự gian xảo và tàn ác của nhóm cầm quyền cộng sản (NCQCS) trong việc che giấu và chối bỏ tội ác tại Huế.

*

Cuộc thảm sát tại Huế vào Tết Mậu Thân 1968 là một cuộc giết người vô nhân đạo do cộng sản Bắc Việt và cộng sản hoạt động trong miền Nam thực hiện, hầu như chắc chắn là do chỉ thị của giới lãnh đạo Hà Nội lúc bấy giờ. Đã có rất nhiều tài liệu, hình ảnh, phim ảnh, tường thuật nhân chứng về tội ác này. Tuy nhiên, vào năm 2013, sau 45 năm im lặng, nhóm cầm quyền cộng sản (NCQCS) tại Việt Nam, trong một nỗ lực tuyệt vọng, cố xóa bỏ tội ác này bằng nhiều kế hoạch và mưu đồ gian ác. Những kế hoạch và mưu đồ gian ác này gồm có những hành động chối bỏ tội ác, thí dụ như cuốn phim "Mậu Thân 1968" do đạo diễn Lê Phong Lan, các bài viết, chương trình trên các phương tiện truyền thông. Năm 2018, NCQCS vẫn tiếp tục coi thường dư luận và chà đạp lên nỗi đau thương của người dân Huế nói riêng và dân Việt khắp nơi nói chung bằng cách linh đình ăn mừng kỷ niệm cuộc Tổng tấn công (Vũ 2018).

Trong hai bài viết đăng trên trang mạng Dân Làm Báo, tôi viết về cuộc thảm sát tại Huế và sự dối trá của NCQCS và Lê Phong Lan (Xem, Cao-Đắc 2014a; Cao-Đắc 2015a). Đặc biệt, tôi trích dẫn tài liệu trong sách viết bởi Bác Sĩ Y Khoa Alje Vennema, xuất bản năm 1976. Trong bài này, tôi sẽ trình bày lại 2 bài viết trên với vài sửa đổi, vài chi tiết cập nhật và kèm theo những hình ảnh trong sách của Vennema theo ý muốn của ông là "sự thật về Huế nên được biết" (Vennema 1976, Preface), để trình bày bằng chứng hùng hồn cho sự dối trá của NCQCS và Lê Phong Lan. 

A. Cuốn phim "Mậu Thân 1968" của Lê Phong Lan:

Tôi đã viết về cuốn phim "Mậu Thân 1968" của Lê Phong Lan trong một bài nói về những lừa đảo lịch sử của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam (Cao-Đắc 2014a). Sau đây là những ý chính bài đó và vài chi tiết cập nhật về Bác sĩ Alje Vennema.

Ngày 25 tháng 1 năm 2013, Đài Truyền hình Việt Nam VTV1 khởi đầu phát hình bộ phim "Mậu Thân 1968" gồm 12 tập, do đạo diễn Lê Phong Lan thực hiện (Lê Tâm 2013). Theo Lê Phong Lan, bà ta đã đi đi về về giữa Việt Nam và Mỹ trong suốt 10 năm, "đã gặp và phỏng vấn khoảng 200 nhân chứng" cả mọi bên (cộng sản, Mỹ, và Việt Nam Cộng Hòa) để đi tìm sự thật (Lê Tâm 2013). Đáng buồn thay, cái sự thật mà Lê Phong Lan đi tìm, thực ra chỉ là một nỗ lực tuyệt vọng trong việc xóa bỏ tội ác không tả xiết của cộng sản. 

Một cách khôi hài, bộ phim "Mậu Thân 1968" dường như cho thấy sau 45 năm im lặng, đã đến lúc phe cộng sản đem "sự thật" ra ánh sáng. Có ai tin là người cộng sản chịu im lặng trong 45 năm khi họ bị "vu oan"? Tuyên truyền là tài năng họ hãnh diện mà họ chịu im lặng trong 45 năm? 

Một cách trắng trợn, tập 8, nhan đề "Khúc ca bi tráng," chối bỏ cuộc thảm sát tại Huế do Việt Cộng, và đổ lỗi cho bom đạn Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trong một khúc phim, Lê Phong Lan phỏng vấn Nguyễn Đắc Xuân, kẻ nói rằng cuộc thảm sát là do phản kích tâm lý chiến của phe VNCH. Đoạn phim trích dẫn lời các học giả Hoa Kỳ Noam Chomsky, Edward S. Herman, và D. Gareth Porter cho rằng những người chết trong các hầm chôn tại Huế là do bom đạn Mỹ, do quân VNCH trả thù những cảm tình viên cộng sản khi tái chiếm Huế, và là những người lính cộng sản bỏ xác tại chiến trường. Luận điệu chống đỡ này chẳng có giá trị gì cả. 

Ai cũng biết Nguyễn Đắc Xuân là một trong những tên sát nhân đã giết những người dân Huế. Những kẻ sát nhân khác gồm có Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, và Nguyễn Thị Đoan Trinh (Xem, thí dụ như, Hình 13; Vennema 1976, 94). Phỏng vấn một chiều một kẻ bị coi là sát nhân về tội ác mà hắn gây ra là một chuyện ghê tởm trong phim tài liệu lịch sử. Trích dẫn lời của những học giả phản chiến về cuộc chiến quả thật là một nỗ lực ngu xuẩn của những kẻ muốn sửa lại lịch sử.

Do đó, không ngạc nhiên khi bộ phim "Mậu Thân 1968" không hề đề cập đến một nhân chứng vả tài liệu quan trọng nhất về vụ thảm sát Mậu Thân: Bác sĩ Alje Vennema và cuốn sách ông, nhan đề "The Vietcong Massacre at Hue" ("Cuộc Thảm Sát tại Huế bởi Việt Cộng") xuất bản năm 1976 (Hình 1; Hình 2; Vennema 1976). Bác sĩ Alje Vennema, từng là một cảm tình viên cho phong trào phản chiến, là nhân chứng đáng tin cậy nhất về vụ thảm sát Mậu Thân vì ông đích thân tham gia trong việc tìm các hầm chôn nạn nhân và khám xét hài cốt nạn nhân để xác định nguyên nhân chết với cặp mắt chính xác của một bác sĩ. 

Alje Vennema (1932 - June 7, 2011) là một bác sĩ y khoa người Hòa Lan - Gia Nã Đại (Wikipedia 2018). Sinh tại Leeuwarden, Hòa Lan, vào năm 1932, ông đến Gia Nã Đại năm 1951 và học Y Khoa tại trường Y Khoa, McGill University, tốt nghiệp năm 1962. Từ năm 1965 tới 1968, ông là giám đốc về hỗ trợ y tế Gia Nã Đại tại Việt Nam. Ông được ban Order of Canada, một danh dự cao quý cấp cho thường dân của Gia Nã Đại, vào năm 1967. Sau đó, ông làm việc tại Tulane University tại New Orleans lúc ban đầu New York City, nơi ông là giám đốc Phòng Y Tế về Bệnh Lao của New York City. Ông qua đời ngày 7 tháng 6 năm 2011. 

Lúc ban đầu khi làm việc ở Việt Nam trong cuộc chiến và chưa biết rõ cộng sản Bắc Việt và Việt cộng hoạt động trong miền Nam, Bác sĩ Vennema là một cảm tình viên cho phong trào phản chiến và tin rằng Mặt trận giải phóng là giải pháp cho cuộc chiến. Ông chỉ trích nỗ lực của Mỹ tại Việt Nam và kêu gọi chính quyền Hà Nội chấm dứt các phương pháp khủng bố. Nhưng những lời kêu gọi của ông không có hiệu quả (Vennema 1976, Preface). Sau đó, vào đầu năm 1968, ông đến Huế trong một công tác y tế, và chứng kiến thảm kịch tại Huế. Khi trận chiến tại Huế chấm dứt, ông rời Huế và tham gia phong trào phản chiến, và được phỏng vấn về những gì xảy ra tại Huế. Sau đó, ông trở lại Huế nhiều lần, lần này qua lần khác để tìm tòi, truy lùng các mối liên lạc, và thăm viếng các làng và gia đình những người mất người thương yêu. Dần dà, ý nghĩ của ông về cuộc chiến và cộng sản Việt Nam thay đổi. Ông "ý thức được hậu quả thực sự của thảm kịch đã xảy ra và cảm thấy sự thật về Huế nên được biết, để được khắc ghi vào những biên niên lịch sử bên cạnh những địa danh [của các vụ thảm sát tại] Lidice, Putte, và Warsaw." (tlđd.)

Chính D. Gareth Porter, sử gia phản chiến Hoa Kỳ và là kẻ bênh vực cộng sản và có ý kiến trong cuốn phim của bà Lê Phong Lan, công nhận Bác sĩ Vennema là nhân chứng. Porter, tuy nhiên, dùng những báo cáo tương phản với những báo cáo của Bác sĩ Vennema. 

Hình 1: Bìa cuốn sách "The Vietcong Massacre at Hue" của tác giả Alje Venneme.

Hình 2: Trang bìa trong và mục lục cuốn sách "The Vietcong Massacre at Hue"

Trong sách ông, bác sĩ Vennema mô tả rất chi tiết các hầm chôn, số nạn nhân, cách thức họ chết. Ngoại trừ một số ít có thể chết vì súng đạn, đa số bị chết vì hành quyết, tay trói ngược ra sau, giẻ nhét vào miệng. Bác sĩ Vennema tự hỏi, "Phải chăng người Mặt Trận [Giải Phóng] và đám đỡ đầu ở Hà Nội nghĩ rằng họ có quyền giết, như thể bất cứ ai cũng có quyền giết người?" (Hình 3; Vennema 1976, 183). "Bất cứ họ muốn đạt được chuyện gì, thảm kịch Huế sẽ mãi mãi là bản cáo trạng hành vi họ" (tlđd.). Bác sĩ Vennema nhấn mạnh là không có lẫn lộn trong việc giết người. "Các cuộc giết người không phải do bởi nóng giận, hoảng hốt, hoặc trước khi rút lui; chúng được cân nhắc kỹ lưỡng trước đó. Đa số nạn nhân là những người được đánh dấu có tên trên danh sách những người bị tiêu diệt, còn những người khác là vì họ có dính líu với quân đội hoặc chính quyền Sài gòn" (tlđd., 184).

Hình 3: Cảm tưởng Bác Sĩ Vennema về cuộc thảm sát tại Huế 
(Vennema 1976, 183-184)

Ngoài cuốn sách của Bác sĩ Vennema, có hàng trăm nhân chứng và tài liệu cho thấy cuộc thảm sát Mậu Thân năm 1968 là một cuộc giết người tập thể dã man của cộng sản Việt Nam theo chính sách cộng sản Bắc Việt. Chi tiết về những hầm chôn nạn nhân và nguồn các tài liệu này được ghi chép tỉ mỉ (Xem, thí dụ như Vennema 1976; Cao-Đắc 2014a). 

Bác sĩ Vennema từ trần năm 2011 tại British Columbia, Gia Nã Đại. Nếu quả thật Lê Phong Lan là người muốn tìm hiểu sự thật "trong suốt 10 năm" thì bà ta nên phỏng vấn ông lúc ông còn sống, hoặc ít nhất bà ta lẽ ra tham khảo cuốn sách ông. Lê Phong Lan tuyên bố, "Có người hỏi tôi làm phim tài liệu lịch sử có công bằng không, tôi xin trả lời, tôi phải công bằng vì đó là nghề nghiệp, là thanh danh của tôi” (Lê Tâm 2013). Lê Phong Lan quả thật đã cho một định nghĩa mới cho "công bằng" hoặc bà ta đã coi thường chính thanh danh mình, nếu bà ta có thanh danh.

B. Những hố chôn người tập thể tại Huế:

Tôi đã viết về những hố chôn người tập thể là phần tài liệu lịch sử trong truyện ngắn "Tiếng Khóc Vùi Chôn" ("Buried Cries") (Cao-Đắc 2015a; Cao-Đắc 2015b). Sau đây là những ý chính phần tài liệu đó và vài chi tiết cập nhật về những hố chôn người.

Vụ thảm sát Huế được biết và ghi nhận nhiều (Chính 1998, 134-137; Willbanks 2007, 99-103; Vennema 1976; Robbins 2010, 196-208; Oberdorfer 2001, 198-235; Pike 1970, 26-31). Tuy nhiên, mặc cho sự quy mô và tàn bạo của nó, vụ thảm sát Huế hầu như không được báo cáo ở Hoa Kỳ vào lúc đó và bây giờ gần như bị quên lãng (Braestrup 1994, 215; Robbins 2010, 196).

Mặc dù chứng cớ đầy rẫy cho một vụ thảm sát hơn hai ngàn nạn nhân, một vài học giả Hoa Kỳ cãi là không có một cuộc tàn sát thực sự. D. Gareth Porter, cùng với đồng nghiệp ông ta, đăng một loạt các bài báo (Porter 1974; Herman và Porter 1975) cáo buộc các cơ quan Nam Việt Nam và Hoa Kỳ bịa đặt bằng chứng trong báo cáo số người chết trong vụ thảm sát ở Huế năm 1968. Như được trình bày ở trên, Herman và Porter là hai học giả Hoa Kỳ phản chiến mả Lê Phong Lan trích dẫn trong cuốn phim "Mậu Thân 1968" để hỗ trợ việc chối bỏ tội ác và vu cáo nạn nhân chết do bom đạn Hoa Kỳ và VNCH.

Herman và Porter (1975) bác bỏ báo cáo của Douglas Pike về số dân bị giết bởi Cộng sản và kết luận rằng chữ 'thảm sát' dùng cho sự giết dân Huế của Cộng sản chỉ là một mưu đồ tuyên truyền lừa đảo (tlđd., 4). Herman và Porter (tlđd.) đồng ý rằng cộng sản có giết một số thường dân trong lúc họ chiếm đóng Huế, nhưng bày tỏ rằng không có bằng chứng cho thấy họ hành quyết số lớn. 

Oái oăm thay, một nguồn chính yếu mà Herman và Porter dựa vào để thiết lập lý thuyết họ là báo cáo của bác sĩ Alje Vennema, một bác sĩ Tây phương duy nhất đã xem xét các ngôi mộ, người, theo Herman và Porter, thấy rằng số nạn nhân trong các chỗ chôn cất bị Mỹ ở Sài Gòn thổi phồng hơn bảy lần, tổng cộng chỉ có 68 thay vì tuyên bố chính thức là 477 (tlđd., 2). Herman và Porter xác định thêm rằng theo Vennema, đa số xác chết mặc quân phục và những vết thương cho thấy rằng họ là nạn nhân của cuộc chiến (tlđd.). Porter dựa vào Vennema để kết luận rằng chính phủ miền Nam Việt Nam đã thổi phồng số các vụ hành quyết thực sự. Theo Porter, Vennema "bất chợt ở bệnh viện tỉnh Huế trong cuộc Tổng tấn công Tết và là người điều tra riêng về các hầm chôn" (Porter 1974, 3).

Tuy nhiên, những gì Herman và Porter báo cáo hoàn toàn mâu thuẫn với những chi tiết Vennema cung cấp. Bác sĩ Alje Vennema trình bày phiên bản riêng của ông về vụ thảm sát trong sách ông, The Vietcong Massacre at Hue, xuất bản năm 1976, một năm sau bài của Herman và Porter. Trong sách ông, Vennema ghi chi tiết về vụ thảm sát. Báo cáo của ông bao gồm chứng kiến của chính ông về các mộ và các cuộc phỏng vấn các nhân chứng và những người sống sót khác. Vì Porter và Harman coi Bác Sĩ Vennema là nhân chứng đáng tin cậy, sự tương phản đó cho thấy Porter và đồng bọn chính là những kẻ nói láo trắng trợn. 

Do đó, sách của Vennema tượng trưng cho các báo cáo đáng tin cậy nhất về những gì đã xảy ra tại Huế. Chúng ta hãy nghe những gì Vennema thực sự nói về vụ thảm sát.

Một cách vắn tắt, Vennema khẳng định quân cộng sản tàn nhẫn giết và chôn sống hàng ngàn người dân vô tội, kể cả phụ nữ và trẻ em, tại Huế. Ông tỉ mỉ liệt kê 19 địa điểm của những hố chôn tập thể quanh Huế, với tổng số 2.307 tử thi. Nên nhấn mạnh rằng con số 2.307 xác người chỉ là số thi thể phát hiện khi các hầm chôn này được phát giác. Còn hàng trăm, hàng ngàn xác người khác không được phát giác và có lẽ vĩnh viễn biến mất và tiêu hủy với thời gian.

Hình 4 (Vennema 1976, 126) cho thấy bản đồ các vị trí hầm chôn tập thể do Vennema phác họa trong sách ông. 

Hình 4: Vị trí các nơi có hố chôn tập thể (Vennema 1976, 126)

Hình 5 là bảng tóm tắt do tôi ghi lại dựa vào sách của Vennema (1976, 129-141), liệt kê 19 địa điểm của các hố chôn. Có vài địa danh không được rõ ràng vì Vennema không quen thuộc với tiếng Việt, nhưng dựa vào những mô tả, chúng ta có thể suy ra các địa danh này.

Hình 5: Bảng tổng kết 19 địa điểm các hố chôn và số thi thể

Về các hầm chôn phát hiện và số lượng xác người, Vennema báo cáo những địa điểm sau đây:

1) Địa điểm số 1 (Hình 6): Trường trung học Gia Hội (Vennema 1976, 129). Tổng số hầm chôn: 14 và thêm một số lượng hầm chôn không rõ. Tổng số xác chết: 203, gồm cả nam giới (trẻ và già) và phụ nữ. Trong số người chết là một phụ nữ 26 tuổi "với chân và tay bị trói, một miếng giẻ nhét vào miệng" và những người "không có vết thương rõ ràng"; một cảnh sát 42 tuổi người đã bị chôn sống; một phụ nữ báo rao đường 48 tuổi, "cánh tay bà bị trói và một miếng giẻ nhét vào miệng" và những người không có vết thương trên cơ thể, có thể là đã bị chôn sống.

2) Địa điểm số 2 (Hình 6): Chùa Theravada, được gọi là Tăng Quang Tự (tlđd., 131-132). 12 rãnh có 43 xác. Trong số người chết là một thợ may, tay trói và bị bắn xuyên qua đầu, một số người bị trói tay sau lưng bằng dây thép gai, và một số có miệng nhồi với giẻ rách. "Tất cả những người chết là nạn nhân bị trả thù và báo oán" (tlđd., 132).

3) Địa điểm số 3 (Hình 6): Bãi Dâu (tlđd., 131). 3 rãnh với 26 xác.

Hình 6: Địa điểm số 1, 2, và 3 (Vennema 1976,129, 131)

4) Địa điểm số 4 (Hình 7): Đằng sau một chủng viện nhỏ, nơi mà tòa án tổ chức các phiên xử (tlđd., 133): 2 rãnh với 6 xác (3 người Việt Nam làm việc cho Đại sứ quán Hoa Kỳ, hai người Mỹ làm việc cho USOM, và một giáo viên trường trung học Pháp nhầm lẫn là Mỹ). "Tất cả đều bị trói tay."

5) Địa điểm số 5 (Hình 7): Quận Tả Ngạn (tlđd.). 3 rãnh với 21 thi thể, "tất cả là đàn ông, với hai tay bị trói, và các lỗ đạn trên đầu và cổ."

6) Địa điểm số 6 (Hình 7): Năm dặm về phía đông Huế (tlđd.). 1 rãnh với 25 xác, tất cả bị bắn vào đầu, tay bị trói sau lưng.

7) Địa điểm số 7 (Hình 7): Gần các lăng của hoàng đế Tự Đức và Đồng Khánh (tlđd., 133-135): 20 rãnh với thêm số lượng rãnh nhỏ không rõ. Tổng cộng có 203 xác được phát hiện. Trong số người chết là một linh mục Pháp, Cha Urbain, người đã bị trói hai tay và không có vết thương trên cơ thể, và linh mục khác Pháp, Cha Guy, có một vết thương đạn trên đầu và cổ. Không có xác phụ nữ và trẻ em nào được tìm thấy, cho biết rằng "các nạn nhân bị giết tàn nhẫn và không phải trong hoạt động quân sự."

Hình 7: Địa điểm số 4, 5, 6, và 7 (Vennema 1976,133-134)

8) Địa điểm số 8 (Hình 8): Cầu An Ninh (tlđd., 135). 1 rãnh với 20 xác. Trong số những người chết là Trung sĩ Truong Van Trieu, một lính VNCH, và ông Tran Hy của lực lượng Nhân Dân Tự Vệ. Cả hai bị trói tay trước khi bị bắn chết.

9) Địa điểm số 9 (Hình 8): Cửa Đông Ba (tlđd., 135). 1 rãnh với 7 xác.

10) Địa điểm số 10 (Hình 8): Trường tiểu học An Ninh Hạ (tlđd., 135). 1 rãnh với 4 xác.

Hình 8: Địa điểm số 8, 9, và 10 (Vennema 1976,135)

11) Địa điểm số 11 (Hình 9): Trường Vân Chí (tlđd., 136). 1 rãnh với 8 xác.

12) Địa điểm số 12 (Hình 9): Chợ Thông, một chợ (tlđd., 136).1 rãnh với 102 xác. "Đa số bị bắn và trói, trong đó có nhiều phụ nữ, nhưng không có trẻ em."

13) Địa điểm số 13 (Hình 9): Trên mặt các ngôi mộ lăng hoàng đế Gia Long (tlđd., 136). Gần 200 xác đã được tìm thấy. Một số người có tay "bị trói sau lưng, và họ bị bắn xuyên qua đầu."

14) Địa điểm số 14 (Hình 9): Nửa đường giữa chùa Tạ Quang và chùa Tu Gy Văn, 2,5 km về phía tây nam của Huế (tlđd., 137). 4 xác người Đức (3 bác sĩ và một người vợ của bác sĩ).

15) Địa điểm số 15 (Hình 9): Đông Gi, 16 km trực tiếp phía đông Huế (tlđd.). 110 xác, tất cả là đàn ông và "hầu hết bị trói tay và giẻ nhét vào miệng."

16) Địa điểm số 16 (Hình 9): Làng Vĩnh Thái, làng Phù Lương, và làng Phú Xuân, khoảng 15 km về phía nam và phía đông nam thành phố (tlđd., 137-138). 3 hầm chôn với hơn 800 xác (gồm có 135 ở Vĩnh Thái, 22 Phù Lương, 230 và sau 357 tại Phú Xuân): Hầu hết là nam giới với một số ít phụ nữ và trẻ em. Trong số người chết là Cha Bửu Đồng và hai chủng sinh.


Hình 9: Địa điểm số 11, 12, 13, 14, 15, và 16 (Vennema 1976,136-137)

17) Địa điểm số 17 (Hình 10): Làng Thượng Hòa, phía Nam lăng vua Gia Long (tlđd., 139). 1 hầm chôn với 11 xác. "Các xác chết cho thấy cùng một loại vết thương ở đầu và cổ, có lẽ gây ra do hành quyết."

18) Địa điểm số 18 (Hình 10): Làng Thủy Thành và Vĩnh Hưng (tlđd.), hơn 70 xác, "đa số là nam giới với một số phụ nữ và trẻ em." "Có vài người chết có lẽ là trong thời gian chiến tranh vì họ có nhiều loại vết thương và thân thể bị cắt; những người khác trưng bày vết thương duy nhất ở đầu và cổ, nạn nhân của hành quyết."

19) Địa điểm số 19 (Hình 10, Hình 11): Khe Đá Mài (tlđd.). 500 sọ. "Trong số rất nhiều những bộ xương có các mảnh quần áo bình thường, không phải vải kaki màu xanh của đồng phục Bắc Việt hoặc Việt Cộng. Tất cả các sọ đều trưng bày một vết nứt bị nén của xương trán giống nhau như là kết quả của một cú đánh với khí cụ nặng."

Hình 10: Địa điểm số 17, 18, và 19 (Khe Đá Mài) (Vennema 1976,139)

Hình 11: Địa điểm 19 (Khe Đá Mài) (Vennema 1976,140-141)

Danh sách trên của các hầm chôn cho thấy tổng cộng 19 hầm chôn và khoảng 2307 xác chết. Hầu hết những xác chết này trưng bày những vết thương do hành quyết gây ra và không phải bởi kết quả của chiến tranh. Nhiều người bị trói tay và giẻ nhét vào miệng. Vào cuối tháng 9 năm 1969, hàng trăm người vẫn còn mất tích (tlđd., 140). Ngoài ra, Vennema lưu ý rằng "Ngoài các hầm chôn tập thể, có những sự giết người tàn nhẫn riêng rẽ" (tlđd., 141).

Porter cố gắng đổ lỗi cho cuộc đánh nhau dữ dội tại một trong những bãi chôn nơi 22 xác được tìm thấy. Theo ông ta, "máy bay Mỹ ném bom xuống làng nhiều lần, phá hủy hàng trăm ngôi nhà và giết thường dân" và "khoảng 250 binh lính cộng sản đã bị giết" trong trận đánh cả ngày (Porter 1974, 4). Ông ta viết thêm rằng "250 bộ xương được tìm thấy tại Khe Đá Mai (không phải 400 như lời của Pike) cũng bị giết trong trận chiến hoặc bởi B-52 Mỹ thả bom" (tlđd., 5-6). 

Tuy nhiên, Vennema (Hình 11; 1976, 140) xác định với độ chính xác của một bác sĩ rằng con lạch chứa 500 sọ người và "kiểm tra hồ sơ của quân đội Mỹ không tiết lộ bất kỳ hành động quy mô rộng hoặc B-52 thả bom trong khu vực ngoại trừ một trận đánh gần Lộc Sơn, khoảng 10 km cách khu vực này, vào cuối tháng Tư năm 1968." Vennema (tlđd.) nói rằng "Thật vô lý cho việc vác [500] người chết do bom đạn B-52 qua địa hình gồ ghề để chôn ở suối." Ông (tlđd.) tiếp tục khẳng định rằng "tất cả các sọ đều trưng bày một vết nứt bị nén của xương trán giống nhau như là kết quả của một cú đánh với khí cụ nặng" và "các xương khác không bị vỡ nứt thể hiện bằng chứng của gãy xương mà chắc chắn không phải họ chết do bởi kết quả chiến tranh."

Kết luận của Porter rằng "một số lớn xác phát hiện vào năm 1969 thực ra là nạn nhân của lực lượng không quân Mỹ và đánh nhau trên bộ hoành hành ở các thôn chứ không phải là do Việt cộng" (Porter 1974, 6) mâu thuẫn với lời khai của một bác sĩ nhân chứng mà chính Porter dựa vào.

Nhiều nguồn khác cung cấp các ước tính phù hợp với báo cáo của Vennema. Bùi Tín (Bui 2002, 66), một cựu đại tá của quân đội Bắc Việt, xác nhận rằng vụ thảm sát Huế có xảy ra. Theo ông, Đại tá Lê Minh, trưởng khu an ninh cộng sản trong cuộc thảm sát Huế năm 1968, ước tính số người chết là 2.000, nhưng ông nói thêm rằng con số đó có thể thấp. Các ước tính khác báo cáo 2.500 đến 3.500, đa số là thường dân hoặc gia đình các viên chức chính quyền Sài Gòn (Prados 2009, 240; Hammel 2007, 159); 2.800 bao gồm cả viên chức chính phủ, chiến sĩ, giáo viên, linh mục, trí thức và các người phản động khác, và thường dân không may mắn, với một số nạn nhân bị bắn, đập chết, và thiêu sống (Braestrup 1994, 215; Isaacs 1984, 360; Oberdorfer 2001, 232; Pike 1970, 30-31). Woodruff (2005, 244) cho biết tổng số 2.810 xác dần dần được tìm thấy trong những mổ tập thể nông vào giữa những năm 1970. Ngoài ra, 1.946 người vẫn còn mất tích Những con số này có vẻ được lấy từ bài chuyên khảo của Pike (Pike 1970, 30-31). Một tài liệu, tuyên bố là lấy được từ Cộng sản, báo cáo số nạn nhân bao gồm 1.892 nhân viên hành chính, 38 cảnh sát, 790 tên bạo ác, 6 đại úy, 2 trung úy, 20 thiếu úy và nhiều hạ sĩ quan (Woodruff 2005, 244; Willbanks 2007, 101).

Trong khi chắc chắn rằng Hồ chấp thuận, mặc dù có thể chỉ trên hình thức, quyết định khởi động cuộc tổng nổi dậy (Duiker 2000, 557), không rõ là ông ta có đặc biệt thông qua kế hoạch dùng bạo lực cách mạng trên dân Huế. Theo Bùi Tín (Bui 2002, 68), cuộc thảm sát xảy ra vì quân đội Bắc Việt trở thành cuồng loạn, và bị mất hướng - và mất cả nhân tính. Bùi Tín (tlđd., 67) khẳng định rằng không có lệnh từ cấp trên đòi hỏi tiêu diệt cả tù binh hay thường dân. Theo Trương Như Tảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Việt Cộng, Huỳnh Tấn Phát, Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng sản (Provisional Revolutionary Government - PRG), nói rằng hoàn toàn không có chính sách hay chỉ thị của Mặt trận để thực hiện bất cứ vụ thảm sát nào, nhưng Tảng thể hiện rằng ông không thấy điều giải thích này đặc biệt thỏa đáng (Truong 1986, 154). 

Tuy nhiên cả Bùi Tín lẫn Trương Như Tảng có vẻ không biết đến tòa án nhân dân và những bản án tử hình giao xuống các nạn nhân. Tính chất của việc chuẩn bị cho các vụ thảm sát, gồm chuyện tập hợp dân chúng từ các danh sách đen và sự tổ chức tòa án nhân dân, rõ ràng cho thấy vụ thảm sát là một hoạt động có dự tính với những mục đích chính xác và rõ rệt, ra lệnh từ, và được hỗ trợ bởi, chỉ huy cao cấp của Bộ Chính trị Hà Nội (Robbins 2010, 196; Oberdorfer 2001, 232; Vennema 1976, 183), hoặc ít nhất là Hồ có thể đoán trước và mong muốn (Hubbell 1968, 67). Vennema (1976, 184) lưu ý rằng kích động khủng bố là quan trọng với Đảng cộng sản và các thành viên cộng sản không thể kềm hãm được. Robbins (2010, 208) ghi rằng vụ thảm sát Huế không phải là một hành động tự phát của sự quá đáng mà là một thực hiện tàn nhẫn của chính sách cộng sản Bắc Việt.

Báo cáo về các cuộc tàn sát và sự hiện hữu của tòa án nhân dân được nhiều nhân chứng tường thuật (Robbins 2010, 198; Vennema 1976, 94). Trong một báo cáo, Phan Văn Tuấn, lúc đó 16 tuổi, bị bắt bởi VC và bị ra lệnh đào mồ chôn sống một số nạn nhân. Ông mô tả kinh nghiệm của mình trong một cuộc phỏng vấn (Lê Thy 2013; Phan 2008a; Phan 2008b). Khi kể đến đoạn ông bị thúc lưỡi lê bắt lấp hố vào những người ngã xuống hố còn đang sống, ông bật khóc. Ông nói đến những tia nhìn kinh hoàng của các nạn nhân đang quằn quại dưới hố. Trong một báo cáo khác, bà Nguyễn Thị Thái Hòa kể lại chuyện bà chứng kiến Hoàng Phủ Ngọc Phan, em trai của Hoàng Phủ Ngọc Tường, giết tàn nhẫn anh bà (Nguyễn 2012). Bà cũng mô tả vụ Nguyễn thị Đoan Trinh sát hại các nạn nhân vô tội. 

Dựa vào lời tường thuật của ông Phan Văn Tuấn và bà Nguyễn Thị Thái Hòa và các tài liệu lịch sử về trận chiến tại Huế, tôi viết một truyện ngắn song ngữ nhan đề "Tiếng Khóc Vùi Chôn" (Cao-Đắc 2015a), "Buried Cries " (Cao-Đắc 2015b), trong tập truyện ngắn "Fire In The Rain " / "Lửa Cháy Trong Mưa," và vẽ một bức minh họa cho truyện này. Hình 12 là bức minh họa đó, vẽ lại cảnh quân cộng sản ép buộc các thanh thiếu niên lấp đất chôn sống những người dân vô tội theo lới kể của nhân chứng Phan Văn Tuấn (Lê Thy 2013; Phan 2008a; Phan 2008b).

Hình 12: Minh họa cho truyện ngắn "Tiếng Khóc Vùi Chôn."

Theo nhiều nguồn tin, một tòa án ngoài trời được chủ trì bởi Hoàng Phủ Ngọc Tường tại trường Gia Hội ở Quận II, là một quan tòa để ra án tử hình cho 203 người (Vennema 1976, 94). Một người, Nguyễn Đắc Xuân, cũng tham gia vào việc giết các nạn nhân vô tội. Tường, Phan, Đoan Trinh, và Xuân là thành phần một lực lượng chính trị được tổ chức trong lúc Cộng sản chiếm đóng tạm thời một phần của Huế. Lực lượng chính trị này được gọi là Liên minh Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình (Chính 1998, 131-132). 

Một số nạn nhân bị bắn tàn nhẫn, đôi khi với tội phạm tầm thường (Vennema 1976, 94). Tòa án tại Gia Hội được biết bởi các cư dân địa phương, những người ẩn núp sau khi ra tòa lần đầu và sau đó sống sót, hoặc trốn thoát (tlđd..). Sau phiên toà này, toàn bộ trường học cuối cùng mang lại 203 thi thể của các thanh niên trẻ, những người đàn ông lớn tuổi, và phụ nữ (tlđd.). Cũng nên lưu ý rằng Gia Hội không phải là nơi duy nhất mà một tòa án được tổ chức. Các cuộc xử tòa ngoài trời khác được thực hiện dưới danh nghĩa nhân dân và cách mạng, nơi mà lời tuyên án và bản án được những người không có quyền hạn pháp luật đưa ra (tlđd., 185). Thông thường, một cán bộ chủ trì làm quan tòa, và cũng là luật sư, công tố viên, bồi thẩm đoàn, và người hành quyết (tlđd.).

Hình 13: Các phiên tòa ngoài trời (Vennema 1976, 94)

C. Kết Luận:

Lê Phong Lan trích lời các học giả phản chiến Hoa Kỳ, gồm có D. Gareth Porter, để hỗ trợ cho sự chối bỏ tội ác thảm sát Mậu Thân trong cuốn phim "Mậu Thân 1968." Trong bài viết phủ nhận cuộc thảm sát Mậu Thân là do cộng sản, Porter dựa vào báo cáo của Bác Sĩ Alje Vennema. Do đó, lời tường thuật của Bác Sĩ Vennema phải được coi là rất có giá trị và chính xác đối với Porter và Lê Phương Lan. Tuy nhiên, Bác Sĩ Vennema tường thuật những sự kiện hoàn toàn trái ngược những gì Porter trình bày. Theo Vennema, quân cộng sản tàn sát dân Huế một cách dã man, giết chết và chôn sống hàng ngàn người trong hàng chục hố chôn tập thể. Vennema mô tả tỉ mỉ vị trí 19 địa điểm các hầm chôn này với ít nhất 2.307 xác người dân.

NCQCS ca ngợi cuộc Tổng tấn công Mậu Thân là một chiến thắng và tổ chức ăn mừng hàng năm mỗi độ Xuân về. Trên thực tế, cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân là một thảm bại quân sự bi đát của cộng sản và cho thấy hành vi tàn ác giết dân với những phương pháp dã man nhất trong lịch sử loài người. Người dân Việt Nam cần phải bày tỏ thái độ phản đối sự chối bỏ tội ác này và lên án các cuộc tổ chức ăn mừng cho cái gọi là chiến thắng Mậu Thân 1968, để phục hồi danh dự cho hàng ngàn cái chết tức tưởi của dân Huế và đem lại chính xác cho lịch sử Việt Nam.

Tài Liệu Tham Khảo:

tlđd.: tài liệu đã dẫn, thay cho "sđd." (sách đã dẫn) để chỉ tài liệu (sách, trang mạng, liên lạc riêng, v.v.) đã trích dẫn xuất hiện ngay trước trích dẫn này.

Braestrup, Peter. 1994. Big Story - How the American Press and Television Reported and Interpreted the Crisis of Tet 1968 in Vietnam and Washington. Abridged Edition. Presidio Press, California, U.S.A.

Bùi Tín. 2002. From Enemy to Friend, A North Vietnamese Perspective o­n the War, Naval Institute Press, Maryland, U.S.A.

Chính Đạo. 1998. Mậu Thân 68: Thắng Hay Bại (Tet Offensive 68: Victory or Defeat). Tái bản có bổ sung (Reprinted with supplements). Văn Hóa, Houston, Texas, U.S.A.

Duiker, William J. 2000. Ho Chi Minh: A Life. Hyperion, New York, U.S.A. 

Herman, Edward and D. Gareth Porter. 1975. The Myth of the Hue Massacre, Ramparts, Vol. 13, No. 8, May-June.

Hubbell, John G. 1968. The Blood-Red Hands of Ho Chi Minh. Reader’s Digest, November 1968, 61-67.

Isaacs, Arnold R. 1984. Without Honor: Defeat in Vietnam & Cambodia, Vintage Books, New York, U.S.A.

Oberdorfer, Don. 2001. Tet! The Turning Point in the Vietnam War, The Johns Hopkins University Press, Maryland, U.S.A.

Pike, Douglas. 1986. PAVN – People’s Army of Vietnam. Da Capo Press, New York, U.S.A.

Prados, John. 2009. Vietnam: The History of an Unwinnable War, 1945-1975, University Press of Kansas, Kansas, U.S.A.

Robbins, James S. 2010. This Time We Win: Revisiting the Tet Offensive, Encounter Books, New York, U.S.A.

Truong Nhu Tang (with David Chanoff and Doan Van Toai). 1986. A Viet Cong Memoir: An Inside Account of the Vietnam War and Its Aftermath, Random House, Inc., New York, U.S.A.

Vennema, Alje. 1976. The Viet Cong Massacre at Hue, Vantage Press, New York, U.S.A., 1976.

NGUỒN INTERNET

Cần lưu ý rằng nguồn Internet có thể không vĩnh viễn. Một blog có thể gỡ bỏ bởi tác giả, một bài báo có thể bị xóa, hoặc một Website có thể bị đóng cửa.

Cao-Đắc Tuấn. 2015a. Tiếng khóc vùi chôn. 10-3-2015. http://danlambaovn.blogspot.com/2015/03/tieng-khoc-vui-chon.html (truy cập 3-2-2018).

_________. 2015b. Buried Cries. 10-3-2015. http://danlambaovn.blogspot.com/2015/03/buried-cries.html (truy cập 3-2-2018).

_________. 2014a. Những lừa đảo lịch sử của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam. 2-10-2014. http://danlambaovn.blogspot.com/2014/10/nhung-lua-ao-lich-su-cua-ho-chi-minh-va.html (truy cập 3-2-2018).

_________. 2014b. Historical frauds by Hồ Chí Minh and the Vietnamese Communist Party. 2-10-2014. http://danlambaovn.blogspot.com/2014/10/historical-frauds-by-ho-chi-minh-and.html (truy cập 3-2-2018).

Lê Tâm. 2013. Lần đầu tiên khai mở bí mật về Mậu Thân 1968. 23-1-2013. http://danviet.vn/hau-truong-giai-tri/lan-dau-tien-khai-mo-bi-mat-ve-mau-than-1968-87845.html (truy cập 3-2-2018).

Lê Thy. 2013. Tết Mậu Thân 1968: nhân chứng sống. 9-2-2013. https://baovecovang2012.wordpress.com/2013/02/09/tet-mau-than-1968-nhan-chung-song/ (truy cập 3-2-2018).

Nguyễn Thị Thái Hòa. 2012. Mậu thân Huế - Câu chuyện của Nguyễn Thị Thái Hòa. 10-1-2012. http://danlambaovn.blogspot.com/2012/01/mau-than-hue-cau-chuyen-cua-nguyen-thi.html (truy cập 3-2-2018).

Phan Văn Tuấn. 2008a. Hue1968_NhanChungSong-1http://www.mediafire.com/file/fvf55xophc7w5nw/Hue1968_NhanChungSong-1.mp3 (truy cập 3-2-2018).

_________. 2008b. Hue1968_NhanChungSong-2. http://www.mediafire.com/file/qxbldbg2n0lj1qp/Hue1968_NhanChungSong-2.mp3 (truy cập 3-2-2018).

Porter, Gareth D. 1974. The 1968 ‘Hue Massacre.’ Indochina Chronicle, No. 33, June 24, 1974, pp 2-13. http://msuweb.montclair.edu/~furrg/Vietnam/porterhueic74.pdf (truy cập 3-2-2018).

Vũ Đông Hà. 2018. Chúng vẫn múa, hát trên những xác người. 2-2-2018. http://danlambaovn.blogspot.com/2018/02/chung-van-mua-hat-tren-nhung-xac-nguoi.html (truy cập 3-2-2018).

Wikipedia. 2018. Alje Vennema. 3-2-2018. https://en.wikipedia.org/wiki/Alje_Vennema (truy cập 3-2-2018).

4/2/2018

danlambaovn.blogspot.com


*

Những bài liên quan về tội ác của cộng sản trong Mậu Thân Huế đã đăng trên Danlambao:


Đảng CSVN khiêu khích người miền Nam

Ngô Nhân Dụng

Đảng Cộng Sản Việt Nam tổ chức linh đình kỷ niệm “Tổng tiến công và nổi dậy” Tết Mậu Thân là cố ý khiêu khích tất cả người Việt ở miền Nam và cố ý chia rẽ đồng bào Nam, Bắc.

Nguyễn Phú Trọng cố ý khơi lại những nỗi đau thương tang tóc mà người dân miền Nam cũng muốn quên. Giống như chọc lưỡi dao lên một vết đạn cũ đang thành sẹo, cho thương tích bật máu. Và  nước mắt lại trào ra khi nhớ lại những tang tóc, oan khiên, thù hận. Đây là một thủ đoạn “trắng trợn” và “xảo quyệt.” Những chữ này báo Nhân Dân đã viết năm 1968.

Nửa đêm mồng Một Tết năm đó, cộng quân tấn công cùng một lúc khắp các thành thị miền Nam. Quân đội miền Nam bị đánh bất ngờ. Vì ai cũng tưởng đang ngưng bắn để ăn Tết, như hai bên vẫn thỏa thuận từ những năm trước. Chính quyền miền Nam hỗn loạn, ông tổng thống không biết ở đâu, ông phó tổng thống phải xuất hiện để trấn an. Dân Sài Gòn còn tưởng có “đảo chính!” Cho đến khi súng nổ mãi, mới nhớ lại đêm trước Tết, Cộng Sản nằm vùng đã tổ chức ca nhạc, múa điệu “nông tác vũ” của Trung Cộng, và hát những câu hô hào “kháng chiến,” “đuổi giặc xâm lăng,” “Như ngày xưa Quân Vua đang vào thành!” Nghe một lần, ai cũng nhận ra đây là giọng điệu “chống Mỹ cứu nước.”

Cộng Sản đã mượn danh nghĩa sinh viên tổ chức ca hát, nhảy múa để kích thích lần chót các thanh niên sắp lao vào chỗ chết! Cảnh sát Quốc Gia biết mặt những tay nằm vùng đột nhiên xuất hiện cùng một nơi, ngay trong sân Học Viện Quốc Gia Hành Chánh; nhưng không bắt ai hết. Không ra lệnh giải tán đêm “ca vũ sinh viên,” sợ ngày Tết mất vui! Khi Cộng quân nổ súng, bấy giờ mới biết chúng đã chuẩn bị “xuất quân” ngay trước mắt chính quyền miền Nam, trong sân một trường đào tạo các công chức!

Ngày hôm sau, báo Nhân Dân ở Hà Nội in một tựa đề lớn, trên cao nhất nằm ngang cả trang báo, viết: “Mỹ và tay sai trắng trợn phá hoại ngày Tết của nhân dân ta.” Dưới những lời gian trá “vừa đánh trống vừa ăn cướp” này còn một tựa đề khác, “Bộ mặt tráo trở xảo quyệt của Mỹ Ngụy…” Người dân miền Bắc lúc đó chắc đa số không biết rằng họ đang bị lừa bịp! Họ không biết rằng thủ đoạn lừa bịp cả người Bắc lẫn người Nam đó sẽ đưa tới một hậu quả sau này: Ném bom Hà Nội để trả đũa!

Nếu năm đó người miền Nam được đọc báo Nhân Dân thì phải lắc đầu: Đúng là đảng Cộng Sản! “Tráo trở! Xảo quyệt!” và “Trắng trợn!” Chúng nó vô địch! Sau năm 1975 tất cả đồng bào miền Bắc cũng đồng ý! Thí dụ, Dương Thu Hương năm 1975 và Cấn Thị Thêu ngay bây giờ.

Hãy nghe bà Cấn Thị Thêu nói với bà con Dương Nội ngày 11 Tháng Tám, 2017, sau khi ra khỏi nhà tù, “Hôm nay, tôi đã… ra khỏi nhà tù nhỏ, trở về nhà tù lớn, nơi hàng triệu bà con dân oan đang ngày đêm rên xiết dưới ách thống trị của đảng Cộng Sản Việt Nam… Phải bắt chúng chịu trách nhiệm về tất cả những tội ác mà chúng đã gây ra cho nhân dân chúng tôi…”

Một tội ác lớn nhất mà “đảng Cộng Sản gây ra cho nhân dân chúng tôi” là đã đẩy hàng triệu thanh niên miền Bắc đi vào Nam, giết đồng bào và bị bắn chết, trong một cuộc chiến tranh vô nghĩa, vô ích, chỉ để thỏa mãn tham vọng cộng sản hóa vùng Đông Nam Á của Nga Xô và Trung Cộng. “Chúng ta đánh miền Nam là đánh cho Nga Xô, cho Trung Quốc,” Lê Duẩn đã nói.

Tính tráo trở xảo quyệt và trắng trợn của đảng Cộng Sản bây giờ càng hiện rõ khi họ ra lệnh khắp nước kỷ niệm cái họ gọi là “Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968,” hãnh diện khoe khoang thành tích đã gây ra cuộc tàn sát đó.

Bài diễn văn kỷ niệm 50 năm Tết Mậu Thân mới đọc ở Sài Gòn viết, “Đảng ta đã lựa chọn và nắm bắt đúng thời cơ, thúc đẩy và tận dụng thời cơ; thực hiện và từng bước đạt được mục tiêu chiến lược của cuộc kháng chiến, như tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng khoá 3 đã xác định…”

Bản nghị quyết nêu trên đã được Lê Duẩn đưa ra từ Tháng Mười Hai năm 1967, sau một năm chuẩn bị, cho cán bộ lén lút đưa vũ khí vào trong các thành phố, cất giấu để chuẩn bị đánh lén. Sau khi súng nổ, báo Nhân Dân mồm loa mép giải nói dối đồng bào miền Bắc rằng, “…ngày 17 Tháng Mười Một tuyên bố ngừng tiến công quân sự bảy ngày nhân dịp Tết Nguyên Đán để nhân dân miền Nam Việt Nam được tổ chức ngày Tết của mình và nhân viên ngụy quyền ngụy quân được về đoàn tụ với gia đình theo đúng phong tục lâu đời của Việt Nam…” Sau ngày 30 Tháng Tư năm 75, những “ngụy quyền ngụy quân” bị đánh lừa líu ríu kéo nhau vào tù, không ai còn được “được về đoàn tụ với gia đình theo đúng phong tục lâu đời của Việt Nam…”

Nói dối “trắng trợn” vô liêm sỉ đến như thế, không có ai có thể so tài với đảng Cộng Sản!

Một điều dối trá trắng trợn khác mà đến bay giờ cộng sản vẫn còn lập lại, khi dùng chữ “nổi dậy!”

Tất cả các nhân chứng còn sống có thể xác nhận rằng trong hai đợt tấn công của Cộng quân năm đó (cũng như trong các năm sau), quân họ tiến tới đâu, dân chúng đều bỏ chạy về phía quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Không hề có một người dân nào “nổi dậy” như cái loa tuyên truyền của họ vẫn nói dối đồng bào miền Bắc. Đến năm 2018 mà còn nói có “nổi dậy” thì đúng là đảng Cộng Sản khinh thường trí nhớ của người dân miền Nam!

Trong vụ Tết Mậu Thân, ngay những tên “cộng sản nằm vùng” cũng không dám ló mặt đi theo Cộng quân vào thành phố; biết sẽ không ai “nổi dậy” theo đảng hết! Người dân lành chỉ muốn nghỉ ngơi ăn Tết! Một trong những tay nằm vùng đó mới viết lời hối lỗi để trước khi chết rửa oan cho con cháu sau này bớt nhục, thú nhận rằng khi quân cộng sản vào Huế thì mình vẫn còn ở rất xa! Viết ra để chứng tỏ chính mình không can dự vào vụ thảm sát mấy ngàn thường dân ở Huế.

Người ta có thể nói dối mọi người trong một thời gian ngắn. Cũng có thể nói dối một người mãi mãi. Nhưng không thể nào nói dối tất cả mọi người mãi mãi được. Ngay sau năm 1975, đồng bào miền Bắc đã thức tỉnh, thấy rằng dân miền Nam đã sống tự do và sung túc hơn mình; không ai cần được “giải phóng.” Chiếm miền Nam chỉ tạo một cơ hội đồng bào ăn cướp của nhau và cho bọn tham quan trục lợi. Sau năm 1989, bà con càng tỉnh ngộ biết rẳng chủ nghĩa Cộng Sản là một cơn ác mộng hãi hùng của nhân loại.

Đảng Cộng Sản đang vui mừng kỷ niệm Tết Mậu Thân. Bà con miền Nam, khi nhớ lại hàng trăm ngàn người đã chết, cả quân dân bên mình lẫn quân bên kia, chỉ thấy nổi lên những oán hận và tủi nhục.

Trong 40 năm qua, đồng bào miền Bắc và miền Nam đã hiểu rõ bản chất của cuộc nội chiến tương tàn và thương mến nhau hơn, quên đi quá khứ oan khốc. Những người dưới 50 tuổi càng không muốn nhớ đến cảnh nồi da xáo thịt. Dân miền Nam cũng như miền Bắc chỉ mong xây dựng kinh tế và được sống trong tự do dân chủ. Mọi người sẵn sàng đoàn kết với nhau trong giấc mơ đó.

Nguyễn Phú Trọng đang trắng trợn phá hoại giấc mơ đoàn kết và xây dựng của nhân dân hai miền Nam, Bắc.

Tổ chức kỷ niệm Tết Mậu Thân là Nguyễn Phú Trọng và đảng Cộng Sản đã thách thức người dân Việt khắp nước!

Năm mươi năm qua, đồng bào ở Huế vẫn âm thầm tưởng niệm hơn hai ngàn người bị giết và chôn sống sau Tết Mậu Thân. Không ai bảo ai, nhà nhà thắp nhang trước hàng hiên, cầu nguyện cho các vong hồn oan khuất. Năm nay, dân chúng hai miền Nam Bắc có thể chia sẻ nỗi đau buồn của đồng bào Huế, đêm mồng một Tết cùng thắp nhang tưởng niệm tất cả những thường dân và chiến binh hai miền Nam Bắc chết trong Tết Mậu Thân. Đó là cách trả lời hùng hồn nhất trước thái độ khơi động hận thù của các lãnh tụ cộng sản.

Tuần trước, ở Hồng Kông, một tai nạn xe buýt làm chết 19 người. Chính quyền thành phố đã tuyên bố sẽ ngưng những cuộc vui mừng Xuân, bãi bỏ cuộc đốt pháo bông năm nay; các viên chức sẽ không tham dự bất cứ cuộc vui công cộng nào. Những người sống văn minh biết kính trọng người chết như vậy. Nguyễn Phú Trọng vẫn bắt các đảng viên cộng sản sống lối gỗ đá vô tình như loài man rợ. Trước Tết, chúng bắt blogger Mẹ Nấm phải rời nhà tù, từ Nha Trang nay chuyển ra Thanh Hóa. Chỉ để gia đình khó thăm nuôi vào dịp Tết. Chính sách tàn ác bất nhân vẫn tiếp tục, cho đến khi nào người dân Việt Nam làm đúng theo lời bà Cấn Thị Thêu khẩn cầu.

Bà nói: “Không cho chúng còn có cơ hội cướp bóc, đàn áp, đánh đập nhân dân. Phải cho chúng tận mắt chứng kiến, nỗi đau tột cùng của những gia đình có người thân bị chúng đánh chết hoặc bị thương tích đầy người hoặc hoặc bị tù tội oan sai, để cho chúng biết rằng tội ác của chúng là không thể dung tha. Mong toàn thể bà con dân oan, hãy đoàn kết muôn người như một, để chúng ta có đủ sức mạnh đấu tranh, chống lại bọn quan tham cường hào ác bá…”(Ngô Nhân Dụng)




1968: Mồ tập thể đầu tiên bên Sông Hương


Triển lãm Xuân 1968 ở HuếBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTriển lãm Xuân 1968 ở Huế

Việt Nam vừa chính thức kỷ niệm sự kiện Mậu Thân 1968, biến cố lịch sử cũng được dư luận ở Hoa Kỳ quan tâm nhân 50 năm sự kiện.

Trận Mậu Thân 1968 qua nguồn từ điển

Phía sau những tấm ảnh Mậu Thân

Được Việt Nam gọi là "Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968", trong khi trong tiếng Anh dùng chữ "Tet Offensive", sự kiện được mọi bên, dù theo quan điểm nào, xem là có ý nghĩa vô cùng lớn trong diễn trình cuộc chiến Việt Nam.

Chủ trương tấn công từ khi nào?

Tài liệu mới nhất, chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam nói Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì các cuộc họp của Bộ Chính trị Bắc Việt trong tháng 5 và 6/1967, xem xét dự thảo kế hoạch chiến lược Đông Xuân 1967 - 1968.

Từ đây, Bộ Chính trị Bắc Việt ra chủ trương "trên cơ sở phương châm đánh lâu dài, đẩy mạnh nỗ lực chủ quan đến mức cao nhất để giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn".

Trong một cuộc họp của Bộ Tổng tham mưu, ông Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất (tên chức danh tổng bí thư giai đoạn này) đảng Lao Động, đề xuất giải pháp "đánh thẳng vào sào huyệt địch tại các thành phố, thị xã".

Theo ông Lê Duẩn, đánh thẳng vào các thành phố, thị xã mới có thể tạo nên "làn sóng đấu tranh chính trị mạnh mẽ ở các đô thị miền Nam và nước Mỹ", theo tài liệu của bộ quốc phòng Việt Nam.

Đề xuất này được Bộ Chính trị thông qua.

Tháng Tám 1967, Bộ Tổng tham mưu xác định cách đánh "tổng tiến công kết hợp với nổi dậy".

Tháng 10/1967, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Bắc Việt họp mở rộng và quyết định chuyển hướng tiến công chiến lược vào các đô thị trên toàn miền Nam.

Hai tháng sau, cuối năm 1967, Bộ Chính trị họp phiên đặc biệt, chính thức thông qua Kế hoạch chiến lược năm 1968 ngày 28/12.

Du kích Việt NamBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionLực lượng của phe cộng sản tại Miền Nam VN nhận ủng hộ về người và vũ khí từ miền Bắc

Với mục tiêu nghi binh, Bắc Việt chọn Khe Sanh là một huyện lỵ của huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, cách Lào chỉ khoảng 20 cây số. Thị trấn nhỏ này nằm trên đường 9, con đường chiến lược dẫn sang Lào, dẫn tới đường mòn huyền thoại Hồ Chí Minh.

Bắc Việt mở chiến dịch đường 9 - Khe Sanh nhằm mục đích đánh lạc hướng chú ý của Mỹ, với việc dồn hàng ngàn quân tạo ra ấn tượng rằng sẽ có cuộc tấn công vào căn cứ Mỹ tại Khe Sanh chứ không phải là kế hoạch tấn công toàn miền Nam. Nổ súng vào Khe Sanh chính thức mở màn ngày 20/1/1968, nhằm lôi kéo quân lực Mỹ giải cứu khu vực này.

Đúng 0 giờ ngày 29/01/1968 (giao thừa theo lịch miền Bắc), xảy ra vụ tấn công sân bay Nha Trang (Khánh Hòa).

Từ 0 giờ 30 phút đến 1 giờ 15 phút ngày 30 tháng 1 năm 1968 (đêm giao thừa Tết Mậu Thân theo lịch miền Nam), chiến dịch mở màn ở miền Trung với các cuộc tấn công ở các nơi như Kon Tum, Gia Lai, Bình Định, Đà Nẵng.

Mậu Thân gồm mấy đợt?

Trên thực tế, Bắc Việt và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (mà Mỹ khi đó gọi là Việt Cộng) tổ chức ba đợt tấn công: Đợt 1: từ 30/1 đến 28/3; Đợt 2: từ 5/5 đến 15/6; Đợt 3: từ 17/8 đến 30/9/1968.

Với dư luận, đặc biệt tại Mỹ, ấn tượng mạnh mẽ và kinh hoàng nhất là đợt một, với các trận đánh tại Sài Gòn và Huế.

Tại Sài Gòn, trận đánh toà Đại sứ Mỹ kéo dài hơn 6 tiếng đồng hồ.

Trận chiến ở Huế kéo dài 25 ngày đêm, từ 31/1 đến 24/2.

Lễ kỷ niệm 50 năm sự kiện Mậu Thân tại TPHCM ngày 31/1Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionLễ kỷ niệm 50 năm sự kiện Mậu Thân tại TPHCM ngày 31/1

Tổn thất của Bắc Việt và Mặt Trận?

Một nguồn sử liệu chính thức của Việt Nam là Lịch sử Ðảng Cộng sản Việt Nam, tập 2 - 1954-1975, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.

1968: Mồ tập thể đầu tiên bên Sông Hương

Ý kiến về lễ kỷ niệm 50 năm Mậu Thân 'rầm rộ'

Theo sách này, "111.306 cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và chính trị ở miền nam đã hy sinh và bị thương, hàng vạn quần chúng cách mạng đã ngã xuống".

Còn tài liệu của Cục tác chiến năm 1969 cho biết 44.824 người hy sinh và 61.267 bị thương.

Kỷ niệm 50 năm sự kiện, Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam 1997-2006, nói: "Trên toàn miền Nam các đơn vị cũng hy sinh rất nhiều. Tuy nhiên, tôi cho rằng, kết quả cuối cùng ta thắng lợi. Phải chấp nhận hy sinh, thiệt hại để đi đến chiến thắng về chính trị, kết thúc được chiến tranh."

Các nguồn nước ngoài?

Các nguồn nước ngoài cũng chỉ nêu ra được con số gần đúng về quân số các bên và thương vong trong trận Mậu Thân:

AFP viết "hơn 80 nghìn quân miền Bắc và Việt Cộng đã tham gia vào các cuộc tấn công có phối hợp tháng 1/1968 vào các đô thị lớn, Huế, Sài Gòn và gần 100 địa điểm".

Chừng 58 nghìn quân cộng sản đã thiệt mạng trong đợt tấn công, theo AFP.

Mậu Thân: 'Cái chết ám ảnh' trước Dinh Độc Lập

Sự tàn khốc của các đợt giao tranh được thể hiện ngay sau khi cuộc tấn công nổ ra vài tuần, theo một nhà báo ngoại quốc.

Trong bản tin đánh đi từ Sài Gòn ngày 21/02/1968, phóng viên Peter Arnett của hãng AP nêu ra con số 140 nghìn người bị giết chỉ sau 10 ngày chiến sự.

Phóng viên Arnett viết "con số chính thức, cho thấy vụ đổ máu này phải thuộc tầm tàn sát lớn nhất trong lịch sử vốn đã đau thương 4000 năm của Việt Nam".

Trang Britannica trong chuyên mục Tet Offensive nêu rằng "đến tháng 2 năm 1968, con số quân Mỹ bị giết tại Việt Nam lên tới hơn 500 một tuần".

Cũng trang Bách khoa toàn thư này của Anh trích nguồn quân đội Hoa Kỳ ở Nam Việt Nam khi đó nói có những thời điểm, con số quân đối phương (Bắc Việt và Quân Giải phóng) bị hỏa lực Mỹ tiêu diệt, làm bị thương chỉ là 50 nghìn

Central Press/Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNgười dân chạy nạn trở về Huế sau khi binh lính Mỹ và VNCH tái chiếm thành phố (hình chụp 13/3/1968)

Vào đêm 30/1/1968, quân đội Bắc Việt và lực lượng Việt Cộng bất ngờ tổng tấn công trên toàn miền Nam Việt Nam.

Huế bị các lực lượng phe cộng sản tấn công và chiếm giữ.

"Kẻ thù đã rất dối trá, lợi dụng thời gian hưu chiến trong dịp Tết để gây kinh hoàng tới mức tối đa ở Nam Việt Nam, đặc biệt là ở những vùng đông dân," Tướng Westmoreland, Tư lệnh quân đội Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam, giận dữ nói.

Ý kiến về lễ kỷ niệm 50 năm Mậu Thân 'rầm rộ'

Phía sau những tấm ảnh Mậu Thân

Mậu Thân: 'Cái chết ám ảnh' trước Dinh Độc Lập

Các bản tin khi đó dồn dập tình hình chiến sự.

"Kẻ thù đã xâm nhập vào Huế với lực lượng đáng kể, và nay đã chiếm được một phần thành phố," một tường thuật trên đài tuyên bố.

Xác chết khắp nơi

"Mỹ không kích Huế. Dân thường phải gánh chịu những tổn thất to lớn," nội dung trong một bản tin khác.

"Cộng sản không thể duy trì được quyền kiểm soát thành phố. Nhưng Mỹ và các đồng minh không đẩy được đối thủ ra nếu không phá nát thành phố cổ kính xinh đẹp này."

Terry Fincher/Express/Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionLính thủy quân lục chiến Mỹ tại Huế, 23/2/1968

Phil Gioia khi đó 21 tuổi, là trung úy Sư đoàn Dù số 82, được gửi tới Việt Nam để tăng viện cho lực lượng thủy quân lục chiến Hoa Kỳ và quân lực Việt Nam Cộng hòa trong cuộc chiến giành lại Huế.

"Có những xác người trên sông; có những xác người trên các con kênh. Cả nơi đó ngập mùi tử khí và mùi gỗ cháy," Gioia nhớ lại.

"Chúng tôi không được huấn luyện để giao chiến tại địa hình toàn là khu dân cư như vậy. Chúng tôi được đào tạo để đánh nhau trên các cánh đồng, trong rừng rậm. Chúng tôi phải đi qua từ nhà này sang nhà khác, từ vườn nhà này sang vườn nhà khác, giống như là phải tự nghĩ ra cách đánh đó."

Huế 1968: 'Trận đẫm máu trong cuộc chiến Việt Nam'

Trận Mậu Thân 1968 qua nguồn từ điển

Phong trào phản chiến Mỹ sau Tết Mậu Thân

"Thời tiết thay đổi thất thường liên tục. Có hôm trời mưa, lạnh thấu xương. Ngày hôm sau lại nắng, nóng hầm hập. Cả khu vực cứ như một nhà tắm hơi."

"Bên ngoài địa bàn Huế là cây cối trên các ngọn đồi. Chúng tôi phải di chuyển sang phía tây thành phố khoảng 2,5 km, từ bên ngoài di chuyển vào."

"Xuôi dọc bờ bắc Sông Hương là nơi có lăng tẩm các vị vua Việt Nam - những ngôi chùa lớn đầy cây nhiệt đới rậm rạp và khỉ, ở đó có các vị sư."

"Tôi lúc đó kiếm được một cậu học sinh người Pháp, và đó là cách duy nhất để tôi nói chuyện được với các vị sư, để hỏi họ xem họ có thấy bất kỳ lính Việt Cộng hay lính Bắc Việt nào không. Tất nhiên là họ luôn nói không, không, 'không có kẻ thù ở đây'."

Nấm mồ tập thể

"Chúng tôi khi đó vừa mới dọn sạch một trong những ngôi chùa lớn đó rồi di chuyển dọc theo các cánh đồng, nơi chúng tôi gặp một khu vực khá bằng phẳng dọc theo bờ bắc của con sông. Mùi tử khí đậm đặc."

"Một trung sĩ dưới quyền tôi, tên là Ruben Torrez, nói, 'ở đây có cảm giác rất chết chóc.' Anh ấy thấy có một thứ nhô lên từ mặt đất. Ban đầu anh ấy nghĩ đó là rễ cây."

"Thế nhưng thứ đó đã bị mặt trời thiêu đốt mấy hôm, và đó là khuỷu tay của một xác chết, nhô lên từ lớp đất phủ sơ sài."

"Khi tới gần hơn, anh ấy nhận ra đó là gì, và gọi tôi tới gần. Tôi nhìn rồi nói, 'chúng ta cần đào lên xem sao' bởi chúng tôi nghĩ đó có thể là những người lính đối phương."

"Nếu kẻ thù chôn cất người của họ, thì trong các xác chết đó chúng ta có thể tìm được những thông tin đáng giá. Họ có thể mang theo nhật k‎ý, bản đồ chẳng hạn. Cho nên nếu đưa các xác chết đó lên và lục soát - tất nhiên, tôi biết điều đó thật là ghê tởm - thì chúng tôi có thể tìm được những tin tức tình báo có giá trị."

"Nhưng lần này hóa ra không phải vậy. Đó là một người phụ nữ, và có rất nhiều xác người khác trong rãnh chôn này. Càng đào thêm, chúng tôi càng phát hiện ra thêm các xác chết."

Đó không phải là một mồ chôn bình thường. Các nạn nhân bị trói tay ra phía sau. Họ đã bị xử tử.

"Họ đều bị giết chết tại hố này," Phil Gioia nói.

Binh nhì D.A. CrumBản quyền hình ảnhNATIONAL ARCHIVES/AFP/GETTY IMAGES
Image captionD.R. Howe băng bó cho binh nhì D.A. Crum từ đại đội H, tiểu đoàn 2, Lữ đoàn Thủy quân lục chiến 5 trong trận giành lại Huế ngày 6/02/1968

"Một số người bị bắn chết, một số không bị bắn. Tôi chỉ hy vọng là những người không bị bắn đã bất tỉnh trước khi bị hất đất lên người."

"Đó là những người đàn ông và những người đàn bà, chừng 100 người, và có cả trẻ nhỏ. Từ trẻ sơ sinh cho tới tôi đoán là khoảng 10-12 tuổi, cả con trai lẫn con gái. Thật tàn nhẫn."

Sau đó, Phil và những người lính của ông được cho biết về những xác chết mà họ tìm thấy.

"Điều chúng tôi nghe thấy sau khi bên tình báo điều tra những gì chúng tôi tìm được, các loại giấy tờ, là Việt Cộng hoặc lực lượng Bắc Việt đã lên danh sách, để khi chiếm được Huế là họ dồn tất cả những người họ cho là mối đe dọa - bất kỳ ai thuộc quân lực Việt Nam Cộng hòa hoặc làm việc trong cơ quan công quyền của thành phố," Phil nói.

'The Vietnam War’ và khi Đồng Minh tháo chạy

USS Hue City: Chiến hạm Mỹ mang tên TP Huế

Vietnam War: 'Cuộc chiến day dứt tất cả chúng tôi'

"Người phụ nữ với cánh tay nhô lên mà chúng tôi tìm thấy là một giáo viên. Như vậy là họ đã dồn những người mà họ cho là không được để cho sống, và đưa tới các chỗ khác nhau trong thành phố. Đây chỉ là một trong những nấm mồ tập thể được phát hiện ra, nhưng là nấm mồ đầu tiên," Phil nói.

Nạn nhân

Hơn 10 mồ chôn tập thể được phát hiện ở quanh Huế. Ước tính tổng số người bị giết trong thời gian quân Bắc Việt và Việt Cộng làm chủ thành phố là từ hàng trăm cho tới hàng ngàn người.

Hầu hết các nạn nhân là người Việt, nhưng cũng có một số người châu Âu và người Mỹ.

"Khi chỉ huy đại đội của tôi gọi radio về tổng hành dinh, họ đã không thể tin những gì được báo cáo. Khá nhanh sau đó, có rất nhiều người tới chỗ chúng tôi. Các sỹ quan cao cấp và một, hai vị tướng cùng trợ lý cũng tới," Phil nói.

"Chúng tôi phải đeo mặt nạ khí khi khai quật các tử thi. Cảnh tượng rất ghê rợn."

"Tôi chưa từng nhìn thấy điều gì như thế. Thành thật mà nói là cả những người lính của tôi cũng vậy. Và chúng tôi phải chuyển sang một khu vực khác, phải tẩy trùng vì toàn bộ quân phục, giày ủng, quần áo của chúng tôi, tất cả những gì trên người chúng tôi đều bị dính vương các mảnh xương thịt người chết."

"Chúng tôi là lính chuyên nghiệp dày dạn, không phải lính dự bị, vậy mà những người lính trẻ của tôi đã cảm thấy rất kinh sợ. Ai cũng kinh hoàng trước những gì nhìn thấy."

Vụ tìm ra các nấm mồ tập thể trở thành hàng tin chính ở miền Nam Việt Nam.

Một số người chỉ trích nói rằng con số các vụ xử tử hàng loạt đã bị phóng đại hoặc chỉ là chiến dịch tuyên truyền.

Tuy nhiên, tin tức về những vụ giết người ở Huế đã gây tác động rõ rệt.

Về nhàBản quyền hình ảnhTERRY FINCHER
Image captionTrở về nhà sau trận chiến tại Huế

Khi quân Bắc Việt mở cuộc tấn công cuối cùng tiến tới thống nhất đất nước hồi 1975, hàng trăm ngàn dân thường ở miền Nam Việt Nam đã bỏ chạy. Dường như trong tâm trí nhiều người, câu chuyện về "những vụ thảm sát ở Huế" vẫn còn đậm dấu ấn.

"Tôi không nghi ngờ gì rằng cơn hoảng loạn đã đeo bám họ, ám ảnh họ với những gì họ đã nhìn thấy, đã nghe được, và đọc được trên báo chí, truyền thông hồi 1968," Phil Gioia nói.

Tất nhiên, những vụ thảm sát ở Huế, dù chưa được phía Cộng sản thừa nhận, không phải là sự tàn bạo duy nhất của cuộc chiến, một cuộc chiến đã giết chết chừng 3 triệu người Việt Nam.

Phil Gioia phục vụ hai nhiệm kỳ tại Việt Nam và bị thương hai lần. Ông nay sống tại San Francisco, Mỹ.Cuộc phỏng vấn Phil Gioiabằng tiếng Anh mang tựa đề 'Mass Graves in Hue, Vietnam' đã được đăng tải trên kênh BBC World Service 10/2015.

Tết Mậu Thân 1968, VC tàn sát đồng bào vô tội tại Huế – Mường Giang

Cuối tháng 12-1960, Hồ Chí Minh thành lập tại Hà Nội cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN), dùng làm bình phong lừa bịp thế giới về âm mưu cưởng chiếm VNCH bằng quân sự. Ðể hoàn thành giấc mộng nhuộm đỏ toàn cõi VN, Hà Nội bắt các cán binh, bộ đội gốc Miền Nam đã tập kết ra Bắc năm 1954 phải hồi kết , qua đường mòn Trường Sơn. Số này sẽ kết hợp với các cán binh nằm vùng năm xưa và một nhóm trí thức khoa bảng đang bất mãn chính phủ Ngô Ðình Diệm.Tất cả sẽ dấy lên một phong trào tranh đấu giả tạo, để lật đổ chính quyền hợp pháp của Miền Nam bằng kế hoạch ba mặt giáp công. Ðó là chính trị, binh vận và quân sự của Miền Bắc.

Cuộc binh biến ngày 1-11-1963 với kết quả đưa VNCH vào tình trạng vô chính phủ và gây nên những xáo trộn chính trị triền miên suốt những năm 1964-1967. Nắm lấy thời cơ vàng ròng, mà Hồ Chí Minh cho là đã chín mùi tại Miền Nam, nên đầu năm 1964, đảng ra lệnh tập trung các cán bộ Y tế, Giáo dục, Văn hóa Thể dục Thể thao, Nhà văn, Nhà báo, Nông nghiệp, Bưu điện, Tiếp vận… khắp đất Bắc để học tập, huấn luyện, lên đường vào Nam tiếp tay với bọn Việt gian bản địa, dấy lên phong trào cướp chính quyền ở Huế, Ðà Nẵng, Sài Gòn và nhiều thành phố khác. Ðợt đó có 300 người bị tập trung tại Trường Huấn Luyện Ðặc Biệt ở Phú Thọ, mang tên là Ðoàn K-33.

MuongGiang_MauThan1.JPG
Bộ đội VC

Ngày 22-12-1964 lớp học bế mạc, tất cả các học viên đều lên đường vào Nam. Trong số cán bộ trên, hiện còn nhiều người sống sót và được đảng thưởng công rất hậu như Nguyễn Trung Hậu (Bí thư tỉnh ủy Thuận Hải), Trần Ngọc Trác (Chủ tịch tỉnh Thuận Hải), Ngô Triều Sơn (Q..Bí thư tỉnh ủy Bình Thuận), Nguyễn Tường Thuật (Chủ tịch tỉnh Phú Yên)… Ngoài ra còn có các nhạc sĩ, nhà văn như Phan Huỳnh Ðiểu, Thuận Yến, Lê Anh Xuân, Tô Nhuận Vỹ, Dược sĩ Nguyễn Kim Hùng, Tiến sĩ Võ Quảng, Nguyễn Thới Nhậm, Nguyễn Khoa Ðiềm..

MuongGiang_MauThan2.JPG

Lâu nay nhiều người thắc mắc về sự liên hệ giữa Nguyễn Khoa Ðiềm và Hoàng Phủ Ngọc Tường. Thậm chí không ít người quả quyết cả hai chỉ là một. Nhưng dù là một hay hai thì chúng vẫn là những ác nhân thiên cổ (trong đó có Nguyễn Ðắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan..) đã tàn nhẫn dã man mất hết nhân tính khi ra lệnh chôn sống, đập đầu và tùng xẻo hàng ngàn đồng bào vô tội tại Huế vào những ngày Tết Mậu Thân (1968).

Giống như những người Nhật còn sống sót khi đã hứng hai trái bom nguyên tử của Mỹ năm 1945. Hiện có một số lớn nạn nhân may mắn sau thảm kịch Tết Mậu Thân Huế 1968, đã quả quyết thủ phạm chính cuộc tàn sát dã man lúc đó là những thành phần trong mặt trận Liên Minh Dân Tộc Hòa Giải do Hà Nội dựng lên tại Huế vào ngày mồng ba tết (1-2-1968) gồm Lê văn Hảo,Hoàng phủ ngọc Tường, Hoàng phủ Ngọc Phan, Nguyễn Ðắc Xuân, Nguyễn Ðoá, Ðào thị Xuân Yến, Hoàng phương Thảo.. Tất cả bọn nam nữ ác quỹ lúc đó đều thuộc thành phần thượng lưu trí thức, ăn trên ngồi trước, gì gì cũng thừa mứa.. chỉ thiếu có máu và xác người, nên phải giết đồng bào vô tội để cùng vui bữa tiệc thịt người.

MuongGiang_MauThan3.JPG

Bia đá trăm năm có thể bị hũy diệt bởi con người và thời gian, lịch sử cũng vậy có thể bị thay đen đổi trắng bởi bọn cầm quyền và đám bồi bút vô loại nhưng bia miệng thì không bao giờ bất biến bởi chúng là những tác phẩm vô hình không chữ nghĩa. Ngoài ra còn có luật trời và tòa án lương tâm, nhất là đối với những người có lòng tin tôn giáo ” Quả Báo Nhản Tiền ” . Nên nay có mặc áo vàng, áo đỏ, áo lam , áo đen hay ở trần đóng khố thì rốt cục cuối đời cũng phải mặc áo quan để về với đất.Tất cả hãy lấy bọn ác tặc trên để sám hối trước khi ” về nguồn ” sửa soạn tái sinh và cơ duyên xấu hay tốt của kiếp tới, đều do kiếp này gieo quả.

Ai là người miền Nam VN, đã được sống sót và đầu thai trở lại khi may mắn đến được bờ đất hứa tự do, chắc không làm sao quên được sự dã man có một không hai của cán binh VC tại bất cứ nơi nào khi chúng hiện diện trước tháng 4-1975. Sau đó là những cảnh xử giảo các thành phần ” Quân Cán Cảnh VNCH ” qua cái gọi là Tòa Án Nhân Dân. Hình ảnh Cố Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Tỉnh Trưởng Chương Thiện tại pháp trường Cần Thơ năm nào, bị VC bẽ gập gảy xương sống rồi dùng mã tấu đâm nát cơ thể trước khi bắn, vào những ngày đầu tháng 5 mất nước. Cảnh tượng dã man đó làm sao xóa được, để mà hớn hở hòa hợp, về nguồn và nối vòng tay lớn với giặc nay đã mất hết nhân tính quốc hồn, buôn, bán nước ?

MuongGiang_MauThan4.JPG

Lịch sử VN đã bị đảo lộn vì sự bóp méo của ngòi bút trí thức. Dân tộc VN bị mất chủ quyền đất nước và quyền sống vào tay ngụy quyền Hà Nội, cũng chỉ vì mù quáng tin thật vào những đảo lộn của lịch sử và hậu quả dối trá trên nay vẫn là món hàng thời thượng không mất giá. Hồ Chí Minh một đời bán nước hại dân làm ngàn tội ác, nay vẫn được thành BỤT ngồi trên bồ đề trong chùa, trước các đấng thần linh. Lũ ác gian ăn ốc, dân lành VN đổ võ từ thế hệ này cho tới thế hệ khác và tới bao giờ mới chấm dứt ? VN là như vậy đó, thì làm sao mà về nguồn để tìm lại bản sắc dân tộc Hồng Lạc ngàn đời, nay đã bị tức tưởi tanh hôi dưới hố sâu máu và xác người dân Việt đói nghèo trong ngục tù nô lệ VC ?

LỘT TRẦN NHỮNG BÓP MÉO XUYÊN TẠC VNCH

Ngày nay những luận điệu điêu ngoa láo bịp, bẻ cong ngòi bút của đám truyền thông báo chí phương tây mà phần lớn là Mỹ nhắm vào VNCH đã trở nên lổi thời, sau khi Bắc Việt công khai xé bỏ hiệp ưúc ngưng bắn mà chúng đã ky với Hoa Kỳ vào năm 1973. Viết về trận chiến Tết Mậu Thân (1968) Sir R Thompson, nhà bỉnh bút người Anh đã dựa vào lời kể của Dương Quỳnh Hoa, Trần Văn Trà, Hoàng Văn Hoan, Viễn Phương.. viết “Ðây là ý đồ của Võ Nguyên Giáp, muốn tạo sai lầm chiến thuật, để đẩy VC miền Nam vào chổ chết. Có vậy Hà Nội mới đưa được cán binh Bắc Việt vào Nam trám chổ các đơn vị địa phương vừa bị QLVNCH và Ðồng Minh tiêu diệt , để dành lấy địa vị độc tôn sau cuộc chiến “.

Sự thật là vậy nhưng hệ thống truyền thông Hoa Kỳ đã đổi trắng thay đen, biến thất bại quân sự của CS tại miền Nam thành một chiến thắng chính trị trên đất Mỹ, gieo sự nghi ngờ tới tầng lớp dân chúng về những công bố của chính phủ trong cuộc chiến VN. Từ đầu năm 1967, Hà Nội đã ban hành nghị quyết số 13, kêu gọi đồng bào miền Nam ” đồng khởi ” để dành thắng lợi trong một thời gian ngắn. Sỡ dĩ có hiện tượng này, là vì Ðảng quá tin tưởng vào cảnh rối ren đang xảy ra khắp VNCH nhất là tại miền Trung. Vin vào đó nên Lê Duân kết luận rằng khi phát động cuộc tổng công kích vào dịp tết Mậu Thân (1968), dân chúng miền Nam sẽ đứng dậy theo chúng và lật đổ chính quyền như họ đã từng làm vào ngày 1-11-1963.

MuongGiang_MauThan5.JPG

Do ảo tưởng trên, Hà Nội đã chuẩn bị sẳn chính quyền tương lai cho miền Nam bằng cái gọi là ” Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình ” để làm mồi danh lợi câu bọn trí thức khoa bảng phản thùng VNCH. Ðồng thời dùng liên minh trên để thay thế Mặt Trận Ma GPMN đang hấp hối sắp bị tiêu diệt. Ngoài ra Duân còn ban lệnh cho tất cả cán binh bộ đội miền Bắc, thẳng tay tàn sát ” ngụy quân ” để làm tan rã ” ngụy quyền “.Kết quả VC đã gây nên một cuộc tàn sát có một không hai trong giòng sử Việt, mà ghê gớm nhất ở cố đô Huế.

Tất cả đều là ảo tưởng, vì chỉ có Huế bị giặc chiếm lâu ngày nên đồng bào không chạy thoát được. Những nơi khác tại VNCH kể cả hai thành đồng của “bác” là Phan Thiết và Bến Tre, cũng chẳng thấy ai đứng dây đồng khởi. Ngược lại ở đâu đồng bào đều di tản vào các vùng do QLVNCH trấn giữ, để tránh bị thảm sát vì giặc và bom đạn. VC còn hoang tưỏng tới độ cho rằng lính miền Nam đánh thuê cho Mỹ, nên không có lý tưởng do đó sẽ buông súng đầu hàng ” cách mạng ” chống lại chánh quyền. Nhưng đã không có chuyện gì xảy ra và dù quân số tại hàng rất ít. Thế mà QLVNCH vẫn giữ vửng được phòng tuyến và phản công sau đó để chiếm lại hầu như tất cả những lảnh thổ bị giặc cưởng chiếm ban đầu.

Dịp này Duẩn bắt giam Hoàng Minh Chính, Vũ Ðình Huỳnh, Ðặng Kim Giang.. đồng thời sang chầu Nga, Tàu mua chịu bom đạn súng ống. Riêng Mao tăng viện cho 300.000 quân phòng không và công binh, để giúp phòng thủ đất Bắc từ Thanh Hóa trở ra. Theo Xuân Sách thì năm 1967, không quân Hoa Kỳ oanh tạc Bắc Việt dữ dội. Kế hoạch tổng công kích Tết Mậu Thân nhằm tấn công thẳng vào VNCH, cũng để giải vây cho Hà Nội.

Tất cả các kế hoạch đột kích miền Nam được chuẩn bị rất chu đáo và bí mật, trong đó có công tác của đội văn công trung ương. Vì quá tin tưởng sẽ chiếm được VNCH nên Duân ra lệnh cho Xuân Sách, Huy Du, Vũ Trọng Hối, Huy Thục, Doản Nho.. dàn dựng một bản đại hợp xướng với tiêu đề ” xuân chiến thắng ” , được nữ ca sĩ Kim Oanh hát và thu vào băng nhựa để phát ra khắp miền Nam sau khi chiếm được Sài Gòn vào giờ G.

MuongGiang_MauThan6.JPG

Nhưng năm Mậu Thân 1968 vĩnh viển không có giờ G để đám Việt gian có dịp hát. Vì vậy cuối cùng Ðảng chỉ xài có phần 3 của bảng hợp xướng để tuyên truyền qua tựa ” VN trên đường chúng ta đi”. Chính Võ nguyên Giáp là người đã soạn thảo kế hoạch còn Hồ Chí Minh thì ban lệnh tổng tấn công , qua bài thơ Máu nay vẫn còn :

“Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua

thắng trận tin vui khắp mọi nhà

Nam-Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

Tiến lên ! toàn thắng ắt về ta”

Giáp cũng là tác giả vụ ” đổi lịch mới ” từ 1-1-1968, để cho ngày mùng một Tết trên đất Bắc trùng với giờ giao thừa tại miền Nam, hầu đánh lừa dư luận để giữ kín bí mật quân sự. Sau tháng 5-1975, VC khoe thành tích và ăn mừng chiến thắng Mậu Thân hằng năm nhưng năm 1969, khi Giáp được một nhà báo phương tây phỏng vấn, thì cũng chính miệng hắn chối là Hà Nội không hề hay biết gì về cuộc chiến Tết Mậu Thân xảy ra tại Miền Nam. Tư cách của các chóp bu đảng CS là thế đó, nên khi chúng nắm được quyền lảnh đạo đất nước, VN không đói nghèo hèn nhục trước giặc Tàu và thế giới, thì mới là chuyện lạ.

THẢM SÁT TẾT MẬU THÂN TẠI HUẾ

Tỉnh Thừa Thiên nằm giữa miền Trung VN, có diện tích 5054km2 và dân số tính đến năm 2000 là 1.045.134 người với các quận Phong Ðiền,Quảng Ðiền,Hương Trà,Phú Vang,Hương Thủy,Phú Lộc,A Lưới và Nam Ðồng. Tỉnh Lỵ là thành phố Huế hiện nay có diện tích 380km2 với 209.043 người. Là cố đô của nhà Nguyễn (1802-1945), Huế muôn đời vẫn đẹp và thơ mộng, mang nhiều sắc thái tiêu biểu cho dân tộc, nhân chứng của một chặng đường lịch sử, văn hóa, kiến trúc VN, nên trong hội nghị lần thứ 17 tại Catagenna nước Columbia vào tháng 12-1993, tổ chức UNESCO của LHQ đã công nhận Huế là di sản văn hóa của nhân loại cần bảo tồn.

MuongGiang_MauThan7.JPG

Ngược dòng lịch sử, từ năm 1366 Huế đã là thủ phủ của Ðàng Trong, tức là hai Châu Ô, Rí do vua Chế Mân cuả Chiêm Thành, dâng cho nhà Trần làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân của Ðại Việt, từ đó trở thành đất Thuận Hóa. Những gì còn lại của Huế hôm nay chỉ là một phần công trình của cố đô trong đống gạch vụn do Việt Cộng và bọn Việt Gian VNCH tàn phá vào Tết Mậu Thân 1968. Ngoài ra Huế còn nhiều nét tiêu biểu khác như chùa Thiên Mụ, cầu Trường Tiền, chợ Ðông Ba, với trường Quốc Học cổ kính nằm cạnh bờ sông với hàng phượng vỹ nở rộ mỗi độ hè về, nuí Ngự Bình trước tròn sau méo, sông An Cựu nắng đục mưa trong, hồ Tĩnh Tâm sen nở ngút ngàn và Phú Văn Lâu trơ gan cùng tuế nguyệt.

Từ năm 1967 Hà Nội đã quyết định tổng tấn công VNCH vào những ngày hưu chiến Tết Mậu Thân 1968. Trong số 44 tỉnh, thị tại miền nam bị đột kích, thì Saì Gòn và Huế là quan trọng hơn cả. Vì trại Lực lượng đặc biệt A-Shau rút đi, nên thung lũng A Shau bị bỏ ngõ và VC đã lợi dụng dịp này để chuyển một số lớn bộ đội vào tấn công cố đô với sự dẫn đường chỉ lối của đám Việt Gian tại Huế. Trận chiến mở màn vào sáng mồng hai Tết nhằm ngày 31-1-1968, bằng hai cánh quân : Ðoàn 6 gồm các tiểu đoàn đặc công K1,K2,K6 và K12 từ phía bắc bên tả ngạn sông Hương, tấn công BT/.SD1BB tại đồn Mang Cá, phi trường Tây Lộc, Ðại Nội. Ðoàn 5 gồm các tiểu đoàn K4A,K4B,K10 và K21 từ phía nam bên hửu ngạn sông Hương, hợp với Thành đội tấn công các cơ sở hành chánh phía nam. Ngoài ra còn có Ðoàn 9 gồm hai tiểu đoàn 416,418 hợp với một đơn vị mang tên Ðường 12 tấn công mặt tây.

MuongGiang_MauThan8.JPG

Cũng nói thêm là VC đã lợi dụng những xáo trộn tại Huế trong các năm 1965,1966, xâm nhập hoạt động cũng như móc nối dụ dổ một số học sinh,sinh viện, quá mê thầy mà phản nước hại dân. Thật ra mặt trận quan trọng nhất của VC ở Huế là mặt trận chính trị, vì vậy Hà Nội bất chấp máu xương của cán binh và thường dân vô tội, ra lịnh cho đám tàn binh phải cố thủ trong Ðại Nội dù thực trạng bi thảm tuyệt vọng bởi các vòng vây của quân lực Hoa Kỳ và VNCH.

Phụ trách công tác tổng khởi nghĩa, để lập chính quyền cách mạng ở Huế là Hoàng kim Loan và Hoàng Lanh, đã vào nằm vùng từ lâu trong nhà một giám thị trường Quốc Học là Nguyễn Ðoá. Ngoài ra còn có Nguyễn trung Chính, Nguyễn hửu Vân (giáo sư trường Âm nhạc kịch nghệ), Phan Nam, Nguyễn Thiết. Ngày 14-2-1968 đài VC phát thanh tại Hà Nội cho biết đã lập xong chính quyền cách mạng tại Huế do Lê văn Hảo làm chủ tịch, còn Ðào thị xuân Yến và Hoàng phương Thảo làm phó. Ngoài ra còn có cái Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình được Hà Nội nặn ra ngày mồng ba Tết (1-2-1968) cũng do Lê văn Hảo, tiến sĩ giảng sư về nhân chủng học tại Ðại Học Huế và Sài Gòn làm chủ tịch liên minh.

Theo Hảo vì muốn trốn lính, nên 1953 qua Pháp du học nên bị tiêm nhiểm chủ nghĩa cọng sản của Trần văn Khê, Nguyễn khắc Viện. Vì vậy vào các năm 1965,1966 dù đang sống trong cảnh tột đỉnh giàu sang, chức trong, lại được trốn lính nhưng vẫn tán tận lương tâm, theo VC nằm vùng là Hoàng phủ ngọc Tường và Tôn thất Dương Tiềm vào MTGPMN và ra bưng cuối tháng 12/1967. Trong Liên Minh Ma này còn có Hoàng phủ ngọc Tường, Thích Ðôn Hậu, Nguyễn Ðoá, Hoàng phủ ngọc Phan, Nguyễn đắc Xuân.. Tóm lại mặt trận được chỉ huy tổng quát bởi Lê Minh, trưởng ban an ninh khu ủy Trị Thiên, còn Tống hoàng Nguyên và Nguyễn đình Bảy Khiêm chỉ lo về phần thủ tiêu, giết người vô tội tại Huế. Theo Bảy Khiêm , chính Y đã giết rất nhiều sĩ quan và cán bộ,công chức VNCH bị kẹt tại Huế, cùng các giáo sư người Ðức dạy tại Ðại học Y Khoa, qua chỉ điểm của VC nằm vùng và sau này Lê Minh lẫn Bùi Tín đều xác nhận Việt Cộng đã tận tuyệt tàn sát vô nhân đạo đồng bào vô tội tại Huế vào Tết Mậu Thân 1968.

MuongGiang_MauThan9.JPG

Ngay từ đầu nhờ lợi dụng dịp hưu chiến, nhiều đơn vị cho các quân nhân về nhà ăn Tết, nên VC đã chiếm được hầu hết các cơ sở hành chánh, khu Ðại Nội, chợ Ðông Ba, cửa Thượng Tứ, An Hòa, Chánh Tây.. ngoại trừ BTL/SD1BB tại đồn Mang Cá, cơ sở MACV,Tiêu khu Thừa Thiên, Ðài phát thanh, Trường Kiểu Mẫu và cầu tàu Hải Quân vẫn do QLVNCH kiểm soát.

Mồng ba Tết (1-2-1968) một ngày sau đó, Chiến đoàn Dù với 2 tiểu đoàn 2,7 và chi đoàn 2/7 Thiết giáp từ phía bắc vào giải vây Huế. Hai đại đội TQLC Hoa Kỳ cùng 4 chiến xa M48 trong Chiến doàn X-Ray đóng tại Phú Bài cũng về Huế tăng cường phòng thủ MACV.. Chiều ngày mồng 4 Tết, TÐ 9 Dù được trực thăng vận vào chiến trường, từ đây cho tới ngày 12-2-1968 , cuộc chiến trở nên khốc liệt bạo tàn với sự tổn thất nhân mạng rất cao của cả hai phía.

Cùng ngày đó Chiến đoàn A Thủy quân lục chiến VN gồm các tiểu đoàn 3,4,5 thay thế chiến đoàn Dù, tiếp tục giải tỏa áp lực VC tại sân bay Tây Lộc và Ðại Nội. Ngày 19/2 TQLC mở chiến dịch Sóng Thần 739/68. Ngày 22/2 hai tiểu đoàn 21 và 39 BDQ được tăng cường tại Huế và VC cũng bắt đầu tháo chạy. Ngày 25/2/1968 Biệt động quân chiếm lại Khu Gia Hội, chấm dứt chiến cuộc tại Huế với đổ nát, điêu tàn, nhà cửa, cầu cống, cây cối, đường xá, biến thành tử địa với xác người nằm la liệt đã sình thối. Tất cả chỉ còn là sự tàn nhẩn, thê lương, từ bàn tay đẳm máu của VC và bọn Việt gian mang đủ loại mặt nạ gây nên. Tóm lại không còn lời nào để đủ viết về Huế đang quằn quại trong lửa máu, giống như những nhịp cầu Tràng Tiền trên Hương Giang đớn đau gãy sập. Hởi ôi sắt thép, gổ đá còn biết rơi nước mắt với Huế thê lương, trong khi đó lại có không ít người thản nhiên đứng vổ tay cười.

MuongGiang_MauThan10.JPG

Những hành động dã man nhắm vào dân lành tại Huế , làm nhớ tới Nga Sô tàn sát hơn 5000 hàng binh Ba Lan phần lớn là sĩ quan vào tháng 9-1939 tại rừng Katyn ở phía tây thành phố Smolensk, chứng tỏ bản chất hiếu sát vốn tiềm tàng trong máu óc của cọng sản, dù chúng là ai chăng nửa, tất cả đều giống nhau vì cùng chung một tổ,một lò.Trong trận chiến Tết Mậu Thân 1968, Huế là thành phố bị thiệt hại nặng nhất về nhân mạng cũng như vật chất vì bị VC chiếm đóng lâu dài nhất. Riêng người Huế sỡ dĩ bị tàn sát dã man, theo một số nhân chứng , do VC được chỉ điểm bởi một số nằm vùng địa phương vì thù oán nhau mà trả thù, rồi lại được tự do đi lại trong thành phố nên tự do hành động, nhất là trong khoảng từ mồng hai tới mồng bốn, tha hồ đi từng nhà,lôi từng người ra bắn giết theo ý muốn, đúng với kỹ thuật bắt và thủ tiêu theo KGB và Maoit .

Trong số các hung thần can dự tới bửa tiệc máu tại Huế, dư luận trước sau vẫn nhắm vào Lê văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngọc Phan và Nguyễn đắc Xuân. Năm 1966 khi còn là một sinh viên, Nguyễn đắc Xuân từng tổ chức đoàn “Phật Tử Quyết Tử” quậy nát Huế, sau đó trốn theo VC và trở lại cố đô vào Tết Mậu Thân, phụ trách đội “Công tác thanh niên” và khuyến dụ các quân nhân VNCH bị kẹt, để lập cái gọi là đoàn nghĩa binh.. Trái với dự đoán của cộng sản, dân chúng Huế không hưởng ứng tổng khởi nghĩa,trái lại bỏ trốn sang các khu vực có QLVNCH như Mang Cá,Trường Kiểu Mẫu, Tiểu Khu Thừa Thiên, Bến Tàu,Phú Bài.. Bắt đầu ngày mồng ba Tết, QLVNCH và Hoa Kỳ phản công, ngày 7-2-1968 VC giựt xập cầu Trường Tiền. Ngày 15-2 Quân Ủy cọng sản tại Hà Nội ban lệnh cho VC tử thủ tại Huế, nhưng tình hình càng lúc càng bi đát cho VC nên Lê Minh muốn rút quân. Ngày 23-2 VC bị đẩy ra khỏi Huế, lá cờ VNCH lại tung bay trên kỳ đài ở Phú văn Lâu.

MuongGiang_MauThan11.JPG

Nói chung cọng sản tàn sát đồng bào Huế nhiều nhất là tại khu dân cư Gia Hội vì vùng này bị VC chiếm lâu nhất từ ngày mùng 2 Tềt đến 22-2-1968 mới được Biệt Ðộng Quân giải tỏa, bởi vậy giặc và Việt gian mới có cơ hội giết nhiều đồng bào vô tội. Cho đến nay không ai biết chính xác số người bị VC tàn sát tại Huế là bao nhiêu nhưng căn cứ vào thống kê số hài cốt tìm được trong một số hầm chôn tập thể sau khi giặc bị đánh đuổi khỏi thành phố, tại các địa điểm Trường Gia Hội, Chùa Theravada, Bải Dâu,Cồn Hến, Tiểu Chủng viện, Quận tả ngạn, Phía đông Huế, Lăng Tự Ðức,Ðồng Khánh, Cầu An Ninh, Cửa Ðông Ba, Trường An Ninh Hạ,Trường Vân Chí, Chợ Thông,Chùa Từ Quang,Lăng Gia Long, Ðồng Di, Vịnh Thái, Phù Lương , Phú Xuân, Thượng Hòa,Thủy Thanh, Vĩnh Hưng và Khe Ðá Mài.. tổng cộng đếm được 2326 xác.

MuongGiang_MauThan12.JPG

Về câu hỏi tại sao VC tàn sát thường dân vô tội, đến nay Hà Nội vẫn tránh né, còn Võ nguyên Giáp thì đểu giả hơn khi bị các ký giả ngoại quốc phỏng vấn sau Tết Mậu Thân, đã trả lời là Bắc Việt không hề biết vì đó là chuyện của MTGPMN và VNCH. Theo các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, thì động cơ cọng sản tàn sát dân chúng tại Huế, ngoài một lý do nhỏ là sự trả thù do hờn oán trước đây giữa cá nhân và cá nhân, thì tàn sát theo kế hoạch phá huỷ và làm rối loạn bộ máy cầm quyền của VNCH, điều này đã được ghi lại trong một tài liệu cuả cán bộ VC , bị SD1 Không kỵ Hoa Kỳ bát được tại tỉnh Thừa Thiên ngày 12-6-1968 .Tàn sát để khủng bố và cảnh cáo đe dọa dân chúng đừng tòng quân chống cộng. Tàn sát tín đồ Thiên Chúa Giáo để chia rẽ sự đoàn kết tại miền nam, tạo sự nghi kỵ giữa các tôn giáo cho tới ngày VC cưởng chiếm được miền Nam mới chấm dứt vì VC độc tài đảng trị, cấm biểu tình xuống đường, nên bốn bên bốn phía bình đẳng chịu sống chung hòa bình. Từ đó mới không thấy tự thiêu, tuyệt thực và ra báo chống đối, bêu xấu, hạ nhục chính quyền như cơm bửa thời VNCH. Tàn sát dân chúng để gây tiếng vang với thế giới.

MuongGiang_MauThan13.JPG

Ðem các biến cố năm1885 tại Huế và 1946 ở Hà Nội để so sánh với Mậu Thân 1968 tại Huế ,bổng thấy lạnh mình về những lời chạy tội của Ðại Tá VC Bùi Tín, khi trả lời về cuộc tàn sát của VC đối với thường dân tại Huế năm 1968. Theo nhận xét của Nguyễn đức Phương trong “Chiến Tranh toàn tập” thi Bùi Tín không biết gì về qui ước Geneve dành cho tù binh chiến tranh, hoặc biết nhưng giả bộ ngây thơ không biết để có lý do bào chửa sự tàn ác dã mang của cán binh VC và biết thêm về quan niệm của Hà Nội, luôn qui chụp tất cả những ai chống đối họ, đều bị gán là tù binh với kết quả như Bùi Tín nói là phải được chết để giữ gìn bí mật quốc phòng.

Theo Nguyễn Lý Tưởng, thì những hành động dã man của Việt Cộng, tại Thành Nội và Gia Hội,do cái gọi là Toà Án Nhân Dân được quyết định bởi các chóp bu trong Liên Minh Dân Chủ Hòa Bình, là Lê văn Hảo,Thích Ðôn Hậu, bà Nguyễn Ðình Chi.. nhưng chủ chốt và dã man tàn bạo vẫn là bọn theo phong trào tranh đấu chống VNCH năm 1966, sau đó theo VC và quay về Huế như Hoàng phủ ngọc Tường (giáo sư), Hoàng phủ ngọc Phan (sinh viên y khoa), Nguyễn đắc Xuân (sinh viên sư phạm), Trần quan Long (sinh viên sư phạm), Phan Chính Dinh hay Phan Duy Nhân (sinh viên).. dẫn an ninh VC như Tống hoàng Nhân, Bảy Khiêm.. đi lùng bắt bạn bè, thân nhân,các thành phần quân,công, cán,chính VNCH cũng như các đảng phái bị kẹt lại tại Huế.

Hiện nay tất cả những bí mật của lịch sử gần như được khai quật trong đó có cuộc thảm sát thường dân tại Huế năm Mậu Thân. Những tội nhân thiên cổ ngoài bản án của lương tâm, đạo đức và sự nguyền rủa của đời, nên không ngớt tìm đủ mọi cách để biện minh về tội lỗi của mình. Năm 1988,trên báo Sông Hương và được dịch đăng lại trên tờ Newswwek ở Hoa Kỳ, Ðại Tá Bắc Việt Lê Minh, nguyên chỉ huy mặt trận Thừa Thiên-Huế, xác nhận và chịu trách nhiệm về việc tàn sát dân chúng Huế nhưng vẫn đưa ra lý do là lúc đó VC đang ở vào giờ thứ 25, nên không kiểm soát được .

MuongGiang_MauThan14.JPG

Còn thủ phạm chính Hoàng phủ ngọc Tường thì đổ thừa cho cục bộ, địa phương chứ không phải tại đảng, vẫn giữ nguyên ý là miền nam mất vì cách mạng chứ không bị cộng sản quốc tế xâm lăng, và trên hết vào ngày 12-7-1997 Tường công khai chối tội là không tham dự mặt trận Huế, vì lúc đó y đang trốn tại địa đạo trong quận Hương Trà,tỉnh Thừa Thiên. Còn nhân vật bị bia miệng nhắc tới là Hoàng phủ Ngọc Phan.. mà người Huế tưởng lầm ? Lê văn Hảo hiện đang sống tại Pháp cũng chối tội. Sau rốt chỉ có Hoàng phủ Ngọc Phan và Nguyễn đắc Xuân vì lúc đó gần như là công an, cai tù, chánh án và đao phủ thủ.. nên người Huế ai cũng nhận được,vì vậy phải chịu tai tiếng nhơ nhớp muôn đời.

Ngày nay ai cũng biết Tết Mậu Thân VC thua lớn và Tổng thống Hoa Kỳ là Johnson phải trực tiếp chịu trách nhiệm trước lịch sử vì đã cố tình tạo nên một lỗi lầm nghiêm trọng về đạo đức., gây tử vong cho nhiều người có thể tránh khỏi nếu được báo trước sự thật.

Tóm lại dù Hà Nội đã chuẩn bị kế hoạch cưởng chiếm VNCH thật chu đáo, cũng như đã tin tưởng tuyệt đối vào đám Việt gian Miền Nam nhưng cuộc tổng tấn công đã hoàn toàn thất bại về quân sự. Chúng cũng thua VNCH về phương diện đạo đức và chính nghĩa, khi đã tàn nhẩn bất lương xô đẩy hàng trăm ngàn người vào cỏi chết, kể cả bắt các thiếu niên đi lính đở đạn “sanh bắc tử nam”. Hồ, Duẩn lẫn Giáp đã phỉnh gạt cán binh chết lót đường cho chúng khi nói láo rằng “Miền Nam đã được giải phóng, nên miền Bắc chỉ vào tiếp thu mà thôi”.

Mường GiangTổng kết cuộc chiến tết Mậu Thân (1968)

Trần Gia Phụng (Danlambao) - Gần đây, vào cuối năm 2012, ở trong nước xuất hiện bộ phim tài liệu dài 12 tập, mỗi tập dài 30 phút, nhan đề là “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan do Trung Tân Phim Tài Liệu và Phóng Sự của Đài Truyền Hình Việt Nam, phối hợp với hãng phim Truyền Hình Bản Sắc Việt Nam sản xuất, đã trắng trợn chối bỏ sự thật, thay trắng đổi đen, nhằm xóa bỏ tội ác CS trong vụ tàn sát Tết Mậu Thân. Dư luận dân chúng Huế đã lên án gay gắt bộ phim nầy. Dù CS luôn luôn chủ trương bóp méo lịch sử để chạy tội; dù những nấm mồ dưới lòng đất có thể đã bị tiêu hủy qua thời gian; nhưng những nấm mồ trong tim dân chúng Huế và dân chúng Nam Việt Nam vẫn còn đó. Lịch sử vẫn còn đó. Làm sao CS chạy tội được trước lịch sử! “Trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.”

*


1. Thiệt hại về nhân mạng và tài sản 

Theo thống kê của Bộ Tổng tham mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), cho đến cuối tháng 3-1968, tổng số tử vong trên toàn lãnh thổ VNCH của các bên lâm chiến trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân (1968) của cộng sản (CS) là:

VNCH: 4,954 sĩ quan và binh sĩ, 14,300 thường dân. (Trong số thường dân nầy, Huế mất khoảng trên 2,000 người.) 

Cộng sản 58,373 sĩ quan và binh sĩ. 

Hoa Kỳ: 3,895 sĩ quan, binh sĩ và nhân viên Hoa Kỳ (gồm tất cả quân binh chủng).

Đồng minh: 214 sĩ quan và nhân viên Đại Hàn, Úc, Tân Tây Lan và Thái Lan trong các phái bộ viện trợ quân sự tại VNCH.(Phạm Văn Sơn, sđd. tr. 35.)

Số 14,300 thường dân tử nạn là những người đã được khai báo, kiểm kê, trong khi đó còn rất nhiều người mất tích, chết không được khai báo, kiểm kê, nhất là những người ở thôn quê, trong những vùng do cả hai bên (VNCH và CS) kiểm soát. 

Trong cuộc tổng tấn công của CS nhân dịp Tết Mậu Thân, tổng số thiệt hại về nhà cửa ở các thành phố ước lượng khoảng 4,5 tỷ đồng VNCH (lúc bấy giờ) theo đó: 84,983 nhà bị hư hại từ 50 đến 100%, 30,343 nhà thiệt hại tới 50%. Riêng tại Sài Gòn, 18, 507 nhà bị thiệt hại từ 50% đến 100%. (PTGDVNHN, sđd. tr. 222. Sách nầy trích số liệu trên đây từ sách The Vietcong Massacre at Hue của bác sĩ Elje Vannema, New York: Nxb. Vintage Press, 1976.) 

Theo Trung tâm Khuếch trương Kỹ nghệ, sự thiệt hại trong khu vực kỹ nghệ lên tới 4,541,800,000 đồng đối với 84 cơ xưởng. Riêng ngành dệt, thiệt hại 2,985,400,000 đồng. (Đoàn Thêm, 1968 Việc từng ngày, sđd. tr. 129.)

2. Quân sự

Cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, khác với chiến tranh du kích, là sự đối đầu trực tiếp công khai giữa quân lực VNCH và lực lượng CS trong đó có bộ đội chính quy Bắc Việt Nam và MTDTGP. Cuộc tổng tấn công của CS thật sự đã đạt được yếu tố bất ngờ khá cao. (James J. Wirtz, sđd. tr. 28.) 

Dầu tổng tấn công bất ngờ, CS hoàn toàn thất bại, không chiếm được các thành phố như chủ trương ban đầu của CS. Nhiều nơi, CSVN phải rút về mật khu, bưng biền, rừng núi, hay tránh sang biên giới Lào và Cao Miên. 

Tài liệu CSVN sau nầy công khai xác nhận sự thất bại nặng nề của họ. “Cuối tháng 9 [1968], hoạt động quân sự của ta [CSVN] đã ngừng lại. Sau một thời gian dài liên tục tấn công vào đô thị - chỗ mạnh của địch trong điều kiện chúng đã bố phòng, lực lượng ta bị tiêu hao, bổ sung không kịp, tiếp tế khó khăn, phải rút về củng cố...” “Lực lượng vũ trang bị tiêu hao không được bổ sung. Tiếp tế lương thực rất khó khăn. Ở Tây nguyên, toàn bộ số gạo còn lại của năm 1968 chỉ còn phần ba so với số lượng tồn kho năm 1967. Dự trữ lương thực đến giữa năm 1969 chỉ đủ nuôi bộ đội ta trong khoảng một tuần...” (Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ, Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris, tr. 35 và tr. 57. Lưu Văn Lợi là nhân viên phái đoàn BVN tại hội nghị Paris, sách viết ở trong nước. Bản in đưa bán ra nước ngoài, không đề nơi và năm xuất bản.)

Quân lực VNCH tuy lúc đầu bất ngờ, nhưng nhờ khả năng phản ứng nhanh lẹ, nên đã mạnh mẽ chận đứng được những đợt tấn công của CS khắp nước, gây thiệt hại lớn lao cho CS. Con số 58,373 cán binh CS tử thương có thể còn thấp so với số thực sự CSVN mất mát. 

Sau vụ Tết Mậu Thân, khi được tổng thống Hoa Kỳ gởi sang thị sát chiến trường Việt Nam ngày 23-2-1968, tướng Earle G. Wheeler, trong báo cáo gởi về Washington D.C., đã nhấn mạnh: “Các lực lượng võ trang Việt Nam Cộng Hòa đã kháng cự cuộc tấn công ban đầu với một sức mạnh thần kỳ.” (Tường trình của tướng Earle G. Wheeler được tướng Yves Gras (người Pháp) trích dẫn trong bài "L'autre armée Vietnamienne, L'engagement des Vietnamiens dans la guerre d'Indochine (1945-1975)", đăng trong sách Indochine: Alerte à l'histoire của một nhóm tác giả, Académie des Sciences d'Outre-Mer [Viện Hàn Lâm Khoa Học Hải Ngoại], Institut de l'Asie du sud-est [Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á] và Association nationale des anciens d'Indochine [Hiệp Hội Quốc Gia Cựu Chiến Binh Đông Dương] đồng xuất bản, Paris, 1985, tr. 279.) 

Khi bình luận về trận Mậu Thân, ông Yves Gras, một tướng lãnh Pháp, cũng đã viết: “Quân đội Nam Việt giữ vai trò chủ yếu trong các trận đánh bẻ gãy cuộc tấn công của phương Bắc trong Tết Mậu Thân vào tháng 2 năm 1968." (Yves Gras, bài đã dẫn.) 

Phía CS cũng rất bất ngờ về sức chiến đấu bền bĩ của quân lực VNCH. (Leo J. Daugherty, Gregory Louis Mattson, NAM, a Photographic History, New York: MetroBooks, 2001, tr. 314.) Một viên tướng CS tham gia trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân đã thú nhận: “Nhưng mặt khác, trong Tết Mậu Thân, ta không đánh giá đúng về tương quan lực lượng ta địch cụ thể lúc ấy, không thấy hết khả năng còn lớn của địch và điều kiện còn hạn chế của ta, đề ra yêu cầu quá cao sức thực tế ta có...” (Trần Văn Trà, Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm, TpHCM: Nxb. Văn Nghệ Thành Phố, 1982, tr. 57.)

Một điều tàn ác là sau khi CS rút lui, dân chúng phát hiện nhiều xác binh sĩ CS bị cột vào các ổ súng phòng không bằng xích sắt, đặt trên hoàng thành bao chung quanh thành nội Huế, nghĩa là binh sĩ CS không thể trốn chạy được, mà phải chiến đấu tại chỗ cho đến chết. (Nhiều người viết, Technology and the Air Force: A Retrospective Assessement, Washington D.C: Air Force History and Museums Program, United States Air Force, 1997, tr. 129.)

3. Chính trị

Cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân của CS vào các thành phố VNCH tạo ra những phản ứng khác nhau tại Việt Nam và Hoa Kỳ. 

Cộng sản vi phạm quyết định hưu chiến, mở cuộc tổng tấn công trong dịp Tết thiêng liêng trên toàn cõi miền NVN, tàn sát dân chúng vô tội làm cho dân chúng kinh sợ. Chẳng những dân chúng không hưởng ứng lời kêu gọi tổng khởi nghĩa của CSVN, mà dân chúng còn trốn tránh vùng CS tạm chiếm, bỏ chạy về phía quân đội VNCH và quân đội Mỹ. Uy tín của quân đội VNCH và chính phủ VNCH lên cao trong lòng dân chúng Việt Nam.

Ở ngoài nước, cuộc tổng tấn công bất ngờ Tết Mậu Thân (1968) của CS đã gây một tiếng vang lớn trên thế giới, tạo một đòn tâm lý khá nặng đánh vào dân chúng Hoa Kỳ. Việc quân đội CS đột kích vào các thành phố NVN khiến cho dân chúng Hoa Kỳ, ở xa Việt Nam nửa vòng trái đất, nghĩ rằng tình hình quân sự VNCH quá xấu, nên họ lo ngại về số phận của thân nhân trong quân đội Hoa Kỳ đang chiến đấu tại Việt Nam. 

Đó là cơ hội tốt cho phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ hoạt động mạnh. Những gia đình có thân nhân thuộc thành phần động viên, tham gia tích cực các cuộc biểu tình, vận động rút quân đội Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam. Phong trào phản chiến Hoa Kỳ luôn luôn khuếch đại và bôi đen những hoạt động của quân đội Đồng minh và VNCH. 

Ví dụ tấm hình đại tá Nguyễn Ngọc Loan, tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia xử tử tại chỗ ngày 1-2-1968 một cán binh CS trên đường Sư Vạn Hạnh Sài Gòn, gần chùa Ấn Quang. Đại tá Loan nổi giận vì nguyên cả gia đình của một sĩ quan Cảnh sát, thuộc quyền của ông, ngay trước đó đã bị cán binh nầy giết chết. (Leo J. Daugherty, Gregory Louis Mattson, NAM… sđd. tr. 266.) 

Tấm hình nầy do Eddie Adams chụp. Do tấm hình nầy, Eddie Adams được giải Pulitzer về báo chí ở Hoa Kỳ năm 1969. Tấm hình nầy gây những ảnh hưởng bất lợi về chính trị cho VNCH. Cộng sản và phản chiến Hoa Kỳ lợi dụng tấm hình nầy để tuyên truyền đòi Hoa Kỳ rút quân. 

Về sau, tác giả tấm hình, Eddie Adams đã viết trên tuần báo Time, số Chủ nhật 24-6-2001 như sau: “Bức ảnh này đã thực sự làm xáo trộn đời ông [Nguyễn Ngọc Loan]. Ông không bao giờ trách cứ tôi. Ông nói nếu tôi không chụp tấm hình này, thì người khác cũng sẽ chụp, nhưng tôi cảm thấy áy náy với ông và với gia đình ông trong một thời gian dài. Tôi vẫn giữ liên lạc với ông. Lần cuối cùng chúng tôi nói chuyện với nhau cách đây khoảng sáu tháng, khi ông rất yếu. Khi được tin ông mất, tôi gửi hoa phúng điếu và đã viết, "Tôi xin lỗi. Có những giọt nước mắt trong mắt tôi.[Tôi đang khóc ông.]" 

Trong khi đó, phong trào phản chiến Hoa Kỳ cố tình bỏ qua những cuộc khủng bố và tàn sát của CSVN, nhứt là vụ tùng xẻo dã man và chôn sống người tại Huế trong Tết Mậu Thân. Một ký giả Đức có mặt tại Huế, chứng kiến cảnh một toán phóng viên truyền hình Mỹ thờ ơ nhìn các mồ chôn tập thể. Khi có người hỏi tại sao không quay cảnh các mồ tập thể nầy thì một phóng viên Mỹ trả lời: “Chúng tôi đến đây không phải để quay phim tuyên truyền chống cộng.” (UweSiemon-Netto, Đức - A repoter’s love for a wounded people, California: 2013, tr. 252.)

Khi rút lui, quân CS đã đưa đi theo một số nhân vật tên tuổi như thượng tọa Thích Đôn Hậu (chùa Từ Đàm, Huế), các ông Lâm Văn Tết, Trịnh Đình Thảo (Sài Gòn)...

4. Những thay đổi quan trọng

Để tăng cường sức mạnh quân sự, tướng Westmoreland xin chính phủ Mỹ tăng viện khẩn cấp một trung đoàn TQLC và một lữ đoàn Nhảy dù thuộc sư đoàn 82. Ngày 13-2-1968, bộ Quốc phòng Mỹ chấp thuận tăng 10,500 quân. (John S. Bowman, sđd. tr.20.)

Mười ngày sau, khi đại tướng tham mưu trưởng Liên quân Earle Wheeler đến Việt Nam, ngày 23-2-1968, đại tướng Wesmoreland đưa ra đề nghị tăng thêm 206,000 quân đến Việt Nam, nhưng đề nghị nầy không được chấp thuận. (Stanley Karnow, Vietnam, a History, New York: The Viking Press, 1983, tr. 551.)

Cũng trong ngày 23-2-2968, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh thay hai tư lệnh quân đoàn cùng một lúc. Thiếu tướng Lữ Lan thay thiếu tướng Vĩnh Lộc làm tư lệnh Quân đoàn II, và thiếu tướng Nguyễn Đức Thắng thay thiếu tướng Nguyễn Văn Mạnh giữ chức tư lệnh Quân đoàn IV. 

Ngày 27-2-1968, tướng Edward Lansdale (trở lại Việt Nam làm việc tại Tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn từ 1965), đề nghị với đại sứ Mỹ là Bunker giúp củng cố quyền lực tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, nhằm chấm dứt tình trạng lưỡng đầu trong chế độ VNCH, tức bắt đầu giảm quyền của phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ. (Chính Đạo, Mậu Thân..., tr. 348.)

Trong tháng 2-1968, chính quyền VNCH ra lệnh “bảo vệ an ninh”, một hình thức giam lỏng, một số nhân vật chính trị, như thượng tọa Thích Trí Quang, đại đức Thích Hộ Giác, đại đức Thích Liễu Minh, luật sư Trương Đình Du, Âu Trường Thanh, Trần Thúc Linh, Hồ Thông Minh (mới từ Pháp về), nhằm tránh bị CS lợi dụng, theo giải thích của chính quyền. Ngày 11-4-1968, Hồ Thông Minh và Trương Đình Du được thả ra. Hồ Thông Minh bị trục xuất về Pháp, còn Trương Đình Du bị bắt lại ngày 1-5-1968. Việc “bảo vệ an ninh” cho các tu sĩ chấm dứt ngày 30-6-1968. (Đoàn Thêm, 1968 Việc từng ngày, sđd. tr. 226.) 

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, Robert McNamara, từ chức từ ngày 29-11-1967, nhưng sau biến cố Tết Mậu Thân mới rời chức vụ ngày 29-2-1968, và được Clark Clifford thay thế. (Clifford làm việc đến khi tân tổng thống Richard Nixon nhận chức 20-1-1969.)

Trong cuộc họp báo ngày 22-3-1968, tổng thống Johnson tuyên bố hai sự thay đổi quan trọng: 1) Sẽ đưa đại tướng Westmoreland lên làm tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ từ ngày 2-7-1968 và đại tướng Creighton W. Abrams sẽ thay thế Westmoreland tại Việt Nam. 2) Đô đốc Ulysse Grant Sharp, tư lệnh lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương sẽ giải ngũ trong tháng 7-1968 và đô đốc John McCain, Jr. sẽ lên thay. (Đoàn Thêm, sđd. tr. 103.) 

Về phía CS, do MTDTGP thiệt hại nặng nề trong cuộc tổng tấn công. Lãnh đạo đảng LĐ ở Hà Nội nhân cơ hội nầy, đưa cán bộ và bộ đội từ BVN vào NVN điền thế, củng cố và điều khiển chặt chẽ MTDTGP. Nói cách khác, từ đây MTDTGP không còn những thành phần tuy đối kháng với chính thể NVN, nhưng chưa hoàn toàn quy phục Hà Nội. Cũng từ đây, CS Hà Nội nắm phần điều khiển 100% MTDTGPNVN.

Tuy CS thất bại về quân sự trong cuộc tổng tấn công, nhưng CS đã gây được tiếng vang trên thế giới và đặc biệt tại Hoa Kỳ, nơi đang diễn ra phong trào phản chiến, đòi hỏi chính phủ Hoa Kỳ phải rút quân khỏi Việt Nam. Phong tào phản chiến Hoa Kỳ sẽ rất dữ đội trong năm sau, 1969.

Kết luận

Lúc đầu, đảng LĐ tức đảng CSVN tìm cách chối bỏ trách nhiệm về cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân. Trong một cuộc phỏng vấn hiếm hoi của một ký giả Tây phương vào năm 1969, bộ trưởng bộ Quốc phòng Bắc Việt Nam lúc đó, đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chối rằng Hà Nội không tổ chức tổng tấn công Tết Mậu Thân: "Chúng tôi không dính gì tới chuyện đó. Chuyện đó do Mặt trận [Dân tộc Giải phóng] thực hiện." (Don Oberdorfer, sđd. tr. 45. Nguyên văn: "We had nothing to do with it. The [National Liberation] Front put it o­n.") Tuy nhiên, theo những tài liệu càng ngày càng được phát hiện rõ ràng, cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân hoàn toàn do đảng LĐ ở BVN chủ trương. 

Đảng LĐ bất kể truyền thống cổ truyền về ngày Tết dân tộc, không tôn trọng những cam kết về hưu chiến, bất ngờ tổng tấn công để giành lấy thắng lợi. Đảng LĐ không thành công trên chiến trường. Miền NVN vẫn đứng vững. Đảng LĐ không tổ chức được cuộc tổng khởi nghĩa. 

Dân chúng không hưởng ứng cuộc tổng khởi nghĩa của CS, bỏ vùng CS tạm chiếm, chạy về phía quân đội VNCH. Dân chúng lại ghê sợ những sáng kiến giết người dã man của cán bộ CS, nhất là việc chôn sống người. Cuộc tổng tấn công và tàn sát của CS là một thông điệp đỏ gây khủng bố và khiếp sợ cho dân chúng thành phố NVN đối với CS. Từ đây, chẳng những dân chúng nông thôn mà cả dân chúng thành phố cũng rất hãi hùng bàn tay sắt máu của CS. Đó là lý do vì sao khi ra hải ngoại, một số người có thân nhân bị CS tàn sát, không dám lên tiếng tố cáo CS, vì sợ bà con trong nước bị CS giết tiếp. 

Nói chung, dầu thất bại về quân sự, CS Hà Nội đã đạt được các dự tính chính trị quan trọng qua biến cố Tết Mậu Thân, gây chấn động mạnh ở Hoa Kỳ khiến những cuộc biểu tình phản chiến càng ngày càng gay gắt. 

Một điểm cần ghi nhận thêm là để xóa dấu vết tội ác trong biến cố Mậu Thân tại Huế, sau khi chiếm được miền Nam năm 1975, CS tuyên phong “liệt sĩ” cho một số người bị CS giết, đổ tội cho “Mỹ Ngụy” chứ không phải CS sát hại. Đểu đến thế là cùng. Gia đình những “liệt sĩ” nầy không dám từ chối sự phong tặng vì sợ CS tàn sát thêm lần nữa. 

Gần đây, vào cuối năm 2012, ở trong nước xuất hiện bộ phim tài liệu dài 12 tập, mỗi tập dài 30 phút, nhan đề là “Mậu Thân 1968” của đạo diễn Lê Phong Lan do Trung Tân Phim Tài Liệu và Phóng Sự của Đài Truyền Hình Việt Nam, phối hợp với hãng phim Truyền Hình Bản Sắc Việt Nam sản xuất, đã trắng trợn chối bỏ sự thật, thay trắng đổi đen, nhằm xóa bỏ tội ác CS trong vụ tàn sát Tết Mậu Thân. Dư luận dân chúng Huế đã lên án gay gắt bộ phim nầy. 

Dù CS luôn luôn chủ trương bóp méo lịch sử để chạy tội; dù những nấm mồ dưới lòng đất có thể đã bị tiêu hủy qua thời gian; nhưng những nấm mồ trong tim dân chúng Huế và dân chúng Nam Việt Nam vẫn còn đó. Lịch sử vẫn còn đó. Làm sao CS chạy tội được trước lịch sử! “Trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.” 

Hết


(Toronto, 17-4-2016)


Ký giả Dan Southerland: "Thảm sát trong biến cố Mậu Thân là tội ác chiến tranh" man rợ đối với đồng loại đồng bào

Hai cựu phóng viên của UPI, Ký giả Dan Southerland và Ký giả Bob Kaylor tại văn phòng Đài RFA tháng 01/2018.
Hai cựu phóng viên của UPI, Ký giả Dan Southerland và Ký giả Bob Kaylor tại văn phòng Đài RFA tháng 01/2018.

Cách nay tròn đúng 50 năm, vào thời điểm Tết Nguyên Đán Mậu Thân, Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ký thỏa thuận ngừng bắn 36 giờ đồng hồ để cho dân chúng đón tết cổ truyền. Thế nhưng Quân đội Bắc Việt, dưới danh nghĩa Mặt trận Giải phóng miền Nam đã đồng loạt tấn công vào 41 tỉnh, thành phố, thị trấn và hàng trăm thị xã miền Nam Việt Nam. Thời điểm cuộc tấn công diễn ra vào lúc giao thừa và hàng ngàn người dân bị thiệt mạng, trong đó cuộc thảm sát ở Huế vẫn là vết thương chưa lành.

Cựu Tổng Biên tập Đài RFA, Ký giả Dan Southerland và Ký giả Bob Kaylor, cả hai vị đều là cựu phóng viên của hãng thông tấn UPI, chia sẻ nhân dịp đánh dấu 50 năm biến cố lịch thảm sát Mậu Thân.

Vi phạm thỏa thuận ngừng bắn

Hòa Ái: Xin chào hai Ký giả Dan Southerland và Bob Kaylor. Tôi được biết hai vị đã có mặt ở Việt Nam trong thời điểm biến cố Tết Mậu Thân xảy ra hồi năm 1968. Bây giờ đã 50 năm trôi qua, khi nhắc đến biến cố này, điều gì khiến cho hai vị nhớ nhất?

Ký giả Bob Kaylor: Tôi đã ở Nha Trang trong lúc xảy ra cuộc tấn công, một đêm trước khi bắt đầu ở Sài Gòn. Quân đội Bắc Việt và Việt Cộng tấn công 5 đồn cảnh sát khác nhau trong thành phố và vanh đai của Nha Trang. Đây là một vụ lớn. Nhưng ngay lúc đó tôi không lường được vụ tấn công này lớn đến mức độ nào, bởi vì nó diễn ra ở Nha Trang và vào đêm sau đó, diễn ra ở Sài Gòn và nhiều nơi khác ở Việt Nam. Cho nên mọi thứ thật sự bị quá sức vì quá nhiều người tấn công vào nhiều nơi. Đối với giới báo chí, chúng tôi cho là có thể dẫn đến một trận đánh lớn cần phải quan tâm.

Hòa Ái: Thưa Ký giả Dan Southerland, qua chia sẻ của ông với khán thính giả RFA nhân dịp 40 năm cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc, tôi nhớ ông đã ở Sài Gòn khi biến cố Tết Mậu Thân xảy ra. Những hình ảnh nào của biến cố này đọng lại trong hồi ức của ông?

Có những câu chuyện được kể lại quân đội Cộng sản vào trong thành phố, đi đến từng nhà ghi tên từng người và bắt họ đi, rồi họ bị mất tích luôn vào thời điểm đó. Không ai biết việc gì đã xảy ra với những người này. Sau cuộc tấn công nhiều tuần lễ, những hố chôn tập thể được khám phá và các cuộc thảm sát ghê rợn mới được phơi bày
-Ký giả Bob Kaylor

Ký giả Dan Southerland: Tôi thức dậy vào sáng ngày 30 tháng Giêng, tôi nghe như là tiếng pháo nổ, người ta đốt để đón Tết. Khi tôi nhận ra tôi tiếng súng liên thanh nổ, thì tôi thật cẩn thận trên đường đến văn phòng để đưa tin về cuộc tấn công. Tôi vừa kết hôn nên tôi chọn công tác ở Sài Gòn vì tôi cho rằng đây là một nơi an toàn. Nhưng ngay lúc đó, tôi nhanh chóng nhận ra Sài Gòn không còn an toàn nữa.

Hòa Ái: Tôi được biết Ký giả Dan Southerland lúc đó còn rất trẻ, vừa tốt nghiệp đại học ngành báo chí được vài năm. Những gì ông chứng kiến trong biến cố Tết Mậu Thân tác động đến nghề nghiệp cũng như trong cuộc sống của ông như thế nào?

Ký giả Dan Southerland: Tôi nhận thấy đây chính là công việc mà tôi muốn làm, cuộc tấn công này là một dịp để tôi thực hiện nghề nghiệp làm báo của mình. Và, tôi cũng nhận ra tôi không thể chỉ ngồi đợi ở Sài Gòn để chờ xem chuyện gì xảy ra, nên tôi tình nguyện đi ra khỏi thành phố Sài Gòn và tôi đã chứng những tổn thất của cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Tôi đã học được nhiều bài học từ biến cố này.

Hòa Ái: Thưa Ký giả Bob Kaylor, ông có còn nhớ phản ứng của chính giới và dân chúng Hoa Kỳ ra sao khi UPI và các cơ quan báo chí nước ngoài khác, đặt tại Việt Nam loan tin về biến cố tết Mậu Thân, đặc biệt về các cuộc thảm sát tại Huế, thưa ông?

Thảm sát Mậu Thân

Ký giả Bob Kaylor: Tôi là người đang có mặt tại hiện trường và là một trong những người tích cực đưa nhiều tin tức về cuộc tấn công, nên tôi không có chú ý đến thế giới và nước Mỹ phản ứng như thế nào. Nhưng tôi tập trung đưa tin về những trận đánh và tôi còn nhớ những bản tin liên quan đến các cuộc hành quyết mà mãi mấy tuần sau mới biết được. Có những câu chuyện được kể lại quân đội Cộng sản vào trong thành phố, đi đến từng nhà ghi tên từng người và bắt họ đi, rồi họ bị mất tích luôn vào thời điểm đó. Không ai biết việc gì đã xảy ra với những người này. Sau cuộc tấn công nhiều tuần lễ, những hố chôn tập thể được khám phá và các cuộc thảm sát ghê rợn mới được phơi bày.

Hòa Ái: 50 năm biến cố Mậu Thân đã trôi qua, báo chí Việt Nam đưa tin về một sự kiện các cựu chiến binh giao lưu với học sinh ở một trường trung học cơ sở, tại phường Đa Kao, Sài Gòn hồi hạ tuần tháng 12 năm 2017. Tại cuộc gặp gỡ đó, một cựu chiến binh đã nói với học sinh rằng “giết kẻ địch trong chiến tranh không phải là tội ác”, nhưng người cựu chiến binh này cũng nhấn mạnh việc giết người vô tội như Pol Pot đã làm ở Campuchia là tội ác chiến tranh. Thưa ký giả Dan Southerland, những người dân thường ở Huế bị giết hại trong biến cố Mậu Thân lên đến con số hàng ngàn người, mà lịch sử ghi chép do quân đội Bắc Việt gây ra, trong đó đa số là phụ nữ và trẻ em, ông có cho rằng các cuộc thảm sát này là tội ác chiến tranh hay không?

Ký giả Dan Southerland: Vâng. Tôi nghĩ có thể xem đây là tội ác chiến tranh. Các cuộc thảm sát đó thực sự là khủng khiếp. Chúng ta không thể biết được con số thật sự bao nhiêu người đã biệt giết. Các ngôi mồ tập thể chứa khoảng từ 2800 đến 3000 nạn nhân. Như Ký giả Bob Kaylor đã kể thì không ai có thể biết con số cụ thể bao nhiêu người bị mất tích, nên số liệu người bị sát hại có thể cao hơn. Rất nhiều người bị mất tích.

Hòa Ái: Cũng vào cuối tháng 12 năm 2017, truyền thông Việt Nam đăng bài viết của Chủ tịch nước Trần Đại Quang nhân 50 năm tổng tiến công Mậu Thân 1968, khẳng định cuộc tổng tiến công có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng, dẫn đến đàm phán tại Hội nghị Paris để chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Thưa Ký giả Bob Kaylor, là nhân chứng lịch sử và là một nhà báo, ông ghi nhận một cách tổng quát cuộc tổng tiến công Mậu Thân của quân đội Bắc Việt như thế nào?

Ký giả Bob Kaylor: Chúng tôi đã không biết được tầm ảnh hưởng của cuộc tấn công Mậu Thân cho đến một thời gian sau khi nó xảy ra. Thật sự các cuộc tấn công xảy ra ở Việt Nam đều do quân đội Cộng sản thực hiện và chiến thắng thuộc về họ. Nhưng trong các trận đánh, lực lượng quân đội Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh Hoa Kỳ cho thấy quân đội Cộng sản bị tổn thất nặng nề. Theo cách nói của quân đội thì đó không phải chiến thắng vang dội. Nhiều năm sau nữa, tôi được gặp một ông Đại tá của Mỹ, người có liên hệ trong cuộc đàm phán đình chiến và ông đã kể lại cho tôi nghe những gì ông bàn thảo với đối tác, là một Đại tá của quân đội Bắc Việt. Trong ngày hai ông đại tá gặp nhau, Ông Đại tá Mỹ đã nói rằng “Các anh không bao giờ thắng chúng tôi trên trận chiến được”. Ông Đại tá của quân đội Bắc Việt nhìn vào mắt của ông Đại tá Mỹ và nói “Điều đó không liên quan gì cả”. Ông Đại tá Mỹ nói với tôi là sau đó ông nhận ra lời của ông Đại tá Bắc Việt nói đúng vì quân số của quân đội Bắc Việt bị tổn thất, nhưng trong thời gian dài họ thắng về mặt tâm lý và đã dẫn đến thế giới thay đổi quan điểm về cuộc chiến tranh Việt Nam.

Hòa Ái: Chúng tôi cũng được dịp trao đổi với một số gia đình có thân nhân là nạn nhân bị giết hại trong biến cố Mậu Thân. Nỗi sợ hãi và ám ảnh vẫn còn nguyên vẹn dù đã 50 năm trôi qua. Hai vị nghĩ rằng Nhà nước Việt Nam nên làm gì đối với những gia đình này để nỗi đau mất mát phần nào được xoa dịu?

Ký giả Dan Southerland: Tôi nghĩ đó là ý tưởng hay. Nhưng tôi không nghĩ Chính phủ Việt Nam sẽ thực hiện điều đó. Họ không phải là những người tốt đang điều hành quốc gia. Tôi nghi ngại họ sẽ không làm như vậy. Bởi vì, nếu họ làm thì sẽ rất tuyệt vời. Đã quá trễ để làm việc này đối với những người có liên quan trong biến cố Mậu Thân, cách đây 50 năm.

Tôi nghĩ có thể xem đây là tội ác chiến tranh. Các cuộc thảm sát đó thực sự là khủng khiếp. Chúng ta không thể biết được con số thật sự bao nhiêu người đã biệt giết. Các ngôi mồ tập thể chứa khoảng từ 2800 đến 3000 nạn nhân. Như Ký giả Bob Kaylor đã kể thì không ai có thể biết con số cụ thể bao nhiêu người bị mất tích, nên số liệu người bị sát hại có thể cao hơn. Rất nhiều người bị mất tích
-Ký giả Dan Southerland

Tôi muốn thêm vào nhận định của Ký giả Bob Kaylor về biến cố Mậu Thân. Tôi nghĩ một trong những thất bại lớn nhất của biến cố này là quân đội Bắc Việt chú trọng vào việc kích động hoặc làm cho lớn chuyện lên. Họ nghĩ rằng sẽ được dân chúng hỗ trợ khi vào đến các thành phố, trị trấn, làng ấp, nhưng họ đã thất bại vì thực tế không phải như vậy. Đây là một khía cạnh quan trọng.

Điều thứ hai quan trọng nữa là họ muốn hủy diệt lực lượng quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Các quân nhân của quân lực Việt Nam Cộng Hòa được về nhà đón Tết trong thời gian ngưng bắn, nhưng quân đội Bắc Việt đã vi phạm thỏa hiệp ngưng bắn đó. Tôi đã đến Bến Tre, một nơi bị tàn phá nặng nề sau cuộc tấn công Mậu Thân. Tôi thẩn thờ trước cái chết của hàng ngàn thường dân, đã bị giết trong thời gian ngưng bắn. Quân số của quân lực Việt Nam Cộng Hòa vào thời gian nghỉ Tết Mậu Thân có lẽ chỉ còn 1/6, và họ đã chiến đấu để chống trả lực lượng tấn công của đối phương.

Tướng Westmoreland, Tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam báo cáo đã thắng trận Mậu Thân. Tuy nhiên, Tổng thống Johnson lúc bấy giờ bị sốc khi xem được hình ảnh Việt Cộng tấn công vào tòa Đại sứ Mỹ. Truyền thông Hoa Kỳ đưa tin cuộc chiến ở Việt Nam bị sa lầy và phong trào kêu gọi rút quân. Tổng thống Johnson đã ra lệnh ngưng bỏ bom ở miền Bắc và kêu gọi Bắc Việt ngồi vào bàn Hội nghị Paris.

Ký giả Bob Kaylor: Như Ký giả Dan Southerland đã trình bày, thì người dân Mỹ đã quá mệt mỏi với các thông tin về người thân chiến đấu và bị mất mạng ở Việt Nam. Họ không thấy được lối thoát cho cuộc chiến này. Họ không muốn các chính trị gia tiếp tục hỗ trợ cho cuộc chiến tranh Việt Nam nữa và những lời kêu gọi của họ cuối cùng đã dẫn đến quyết định chấm dứt chiến tranh.

Hòa Ái: Xin được cảm ơn Ký giả Dan Southerland và Ký giả Bob Kaylor dành thời gian cho cuộc phỏng vấn với RFA nhân dịp 50 năm biến cố Mậu Thân.

50 năm sau sự kiện Mậu Thân, bức ảnh của Eddie Adams lại được nhắc lại như một sự ăn năn

Tuấn Khanh

50 năm sau sự kiện Mậu Thân, bức ảnh của Eddie Adams lại được nhắc lại như một sự ăn năn

Bức hình chụp Tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn súng vào đầu một Việt Cộng là Nguyễn Văn Lém (tự Bảy Lốp) trên đường phố Sài Gòn hôm 1/2/1968
Bức hình chụp Tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn súng vào đầu một Việt Cộng là Nguyễn Văn Lém (tự Bảy Lốp) trên đường phố Sài Gòn hôm 1/2/1968
 AP

Hãng ABC không quên nhắc đến bức ảnh của phóng viên Eddie Adams, nhân kỷ niệm 50 năm cuộc đột kích tàn khốc Mậu Thân của quân đội miền Bắc Việt Nam.

Có một cuộc chiến khác bùng nổ sau khi nhà báo Eddie Adams, đang làm việc cho hãng AP, bấm máy. Bức ảnh cho thấy tướng Nguyễn Ngọc Loan đang kề súng vào đầu của một tù binh cộng sản và bóp cò. Lúc đó là ngày đầu tháng Hai, năm 1968. Người Mỹ thì chưa bao giờ nhìn thấy sự tàn khốc của chiến tranh gần đến mức như vậy. Phe chống chiến tranh ở Hoa Kỳ thì coi đó là bằng chứng của việc nước Mỹ đang về phe của “kẻ ác”. Bức ảnh đã làm nên tên tuổi của Eddie Adams bằng giải Pulitzer danh giá, nhưng đồng thời nó cũng là điều ám ảnh ông ta suốt về sau.

Về sau, chính Eddie Adams đã phân trần rằng ông không có cơ hội để giải thích tại sao tướng Loan phải làm như vậy. “Bức ảnh đã không nói hết câu chuyện, nó không giải thích là tại sao lại có chuyện đó”, Eddie Adams đã nói như vậy, sau nhiều năm.

Sự rầm rộ của truyền thông phương Tây mới thật sự là kết quả của cuộc chiến. Mặc dù phe quân đội cộng sản miền Bắc đã thất bại và tháo chạy, nhưng mặt trận thông tin phương Tây chống miền Nam VNCH đã chiến thắng. Ngay lúc đó, tờ Times đã bình chọn bức ảnh của Eddie Adams là một trong 100 bức ảnh gây ảnh hưởng nhất của thời đại.

Vào ngày thứ hai của cuộc chiến Tết Mậu Thân. Lực lượng Bắc Việt và quân du kích Việt Cộng đã tấn công các thị trấn và thành phố của miền Nam, bao gồm cả thủ đô, Sài Gòn, bất ngờ xé bỏ một hiệp ước tạm đình chiến vài ngày, vừa ký kết.

Cùng với một người phóng viên Việt Nam đang làm cho hãng NBC là ông Vo Suu, phóng viên Adams đã nhìn thấy cảnh tượng đó và ghi hình đúng lúc.

Sau này, Eddie Adams nhớ lại hình ảnh của tướng Loan, nói xong và bỏ đi “Họ đã giết nhiều người của tôi và cả người của anh”. Đó là một cuộc phỏng vấn được thực hiện vào năm 1998 cho chương trình phỏng vấn về lịch sử của hãng AP.

Nhưng vào thời điểm trước đó thì đã muộn. Bức ảnh được tung ra và hoàn toàn là một cú sốc trên mọi mặt báo, truyền hình. Cuộc chiến Mậu Thân mặc dù chứng minh sự thất bại hoàn toàn của phe cộng sản nhưng lại là mồi lửa cho phía những người bi quan và thiên tả, và là lợi thế của miền Bắc cho đến khi họ thắng cuộc năm 1975.

Đó cũng là lúc mà Eddie Adams cảm thấy rằng tướng Loan đã bị làm nhục một cách không công bằng bởi đám đông công chúng – những người không được nhìn thấy sự thật đằng sau bức ảnh: Bảy Lốp, nhân vật bị hành quyết, đã tham gia sát hại cả gia đình người giúp việc của tướng Loan trước đó.

Adams nói: “Tôi không nói những gì ông ấy làm là đúng, nhưng ông ấy đã chiến đấu trong một cuộc chiến, và ông phải chống kẻ xấu. Đã có 2 con người bị hủy diệt ngày hôm đó – Lốp và Loan – tôi thì không muốn hủy hoại cuộc đời của ai. Đó không phải là việc của tôi”.

Ông Adams nói như vậy, vì bởi ông biết người lính đối diện với cuộc chiến phải như thế nào. Eddie Adam từng là cựu phóng viên thủy quân lục chiến Mỹ ở chiến trường Đại Hàn, và sau đó tham gia vào ngành phóng viên dân sự ở hãng AP, năm 1962

Tướng Loan qua đời năm 1998 tại Virginia, ông làm chủ một nhà hàng và sinh sống ở đó. Còn người vợ của ông Bảy Lốp nói với AP, vào năm 2000, rằng bà tin bức ảnh đó đã khiến người dân nước Mỹ chống lại cuộc chiến.

Eddie Adams mất năm 2004. Niềm tự hào nghề nghiệp mà ông có thể giới thiệu với mọi người là những bức ảnh năm 1977, về những người Việt đào thoát khỏi đất nước sau khi chiến tranh kết thúc. Những bức ảnh này của ông đã giúp thuyết phục Hoa Kỳ nhận hơn 200.000 người Việt đến tị nạn. Một trong những bức ảnh về đề tài đó cũng nằm trong danh sách 100 bức ảnh gây ảnh hưởng nhất, do Time bình chọn.

Tội ác của Cộng Sản và tay sai trong TẾT MẬU THÂN 1968

 

LNChâu68 (Người Miền Trung / Qui Nhơn)

Tôi viết bài này sau 50 năm im lặng như nén hương lòng tưởng nhớ đến người anh rể – một cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa, tưởng nhớ đến bằng hữu của tôi đã bị Việt cộng giết chết tàn nhẫn trong biến cố Tết Mậu Thân 1968 để nhắc đến tội ác tầy trời do chính cộng sản Bắc Việt và tay sai – những kẻ ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản – đã gây ra cho người dân miền Nam Việt Nam trong những ngày đầu Xuân năm 1968 và vì là “nhân chứng sống” nên chỉ tóm lược, giới hạn đề cập đến thị xã Qui Nhơn & thành phố Huế. Và vì “các hệ lụy” liên quan trong thời gian 50 năm nên cũng mạn phép đề cập thêm chút xíu đến biến cố 1975 cũng như vài dữ kiện để đời xảy ra sau đó dưới “chế độ xã hội chủ nghĩa” mà những ai từng sống qua biết rõ hơn người viết, vốn chỉ nghe chị em thân nhân kể lại khi gặp nhau tại xứ người …!

Nhân tiện xin được lưu ý thêm điểm nhỏ, tôi – một người tỵ nạn chính trị vì cộng sản và là phó thường dân người Đức gốc Việt. Quê hương mới của người viết, Đức rất tôn trọng quyền Tự Do Ngôn Luận nên chỉ ghi lại vài ý tưởng chợt về sau 50 năm kể từ 1968. Là bài tạp ghi, tự thuật nên không sao tránh khỏi chuyện đề cập đến “cái tôi đáng ghét”, mong quý độc giả thông cảm!. Ngoài ra, tự biết rằng có nhiều bậc thức giả, khoa bảng uyên bác trong tập thể người Việt tị nạn, vốn có kinh nghiệm nhiều với cộng sản và xa hơn nữa vì thời giờ hạn hẹp, còn có nhiều việc hữu ích để làm nên cá nhân tôi chỉ trân trọng đón nhận những ý kiến xây dựng thật sự (nhất là các dữ kiện ngắn liên quan đến Tết Mậu Thân 1968 hoặc ngay sau khi VC cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa năm 1975 hay trên đường vượt biên, vượt biển sau 1975 kính xin gởi về chau@baocalitoday.com, nếu có) và sẽ không tranh luận với bất cứ ai khác quan điểm nhưng diễn đạt tư tưởng với lối văn phong khiếm nhã, thiếu cơ sở. Mong hoan hỷ và đa tạ. (LNCh68).

Có thể nói, hầu như ai trong chúng ta, trên toàn thế giới đều không thích chiến tranh. Tuy nhiên tại Việt Nam thì khác vì cộng sản Bắc Việt luôn nuôi tham vọng thôn tính miền Nam nên mới gây ra cảnh chinh chiến, tang thương. Nếu kẻ Bắc người Nam, nhà ai nấy ở, mạnh ai nấy lo thì làm gì có chuyện tang thương, đổ máu xảy ra, như giữa Tây Đức và Đông Đức (cs DDR cũ) trước khi thống nhất là ví dụ.

Lúc đó – vào thập niên 60, 70 – tuy còn là học trò tiểu học rồi lên Trung học nhưng tôi cũng đủ trí khôn để có thể so sánh, nhận định được rằng từ 1954 sau nhiều mùa Xuân tương đối thanh bình đi qua thì phải nói Tết Mậu Thân 1968 là cái Tết mà dân miền Nam Việt Nam không bao giờ quên được, nhất là dân xứ Huế. Cộng sản Bắc Việt (csBV) đã vi phạm trắng trợn hiệp ước đình chiến chúng ký kết trong ba ngày Tết, lợi dụng sự tin cậy của dân miền Nam và lợi dụng cơ hội biên thùy bị bỏ ngỏ, các tiền đồn của các tỉnh hay thị xã không được canh gác cẩn thận như thường lệ vì binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa các cấp được nghỉ phép về quê ăn Tết với gia đình vợ con, csBV đã ra lệnh tổng tấn công, tràn về thành phố đúng vào dịp Tết Mậu Thân 1968. Chúng đã dày nát nhiều tỉnh lỵ của miền Nam, từ Quảng Trị, Đà Nẳng, Qui Nhơn, Phú Yên, Nha Trang … cho đến Sài Gòn, thảm khốc nhất là Cố Đô Huế, nhẫn tâm giết hại không biết bao nhiêu người dân vô tội, gây đau khổ cho biết bao gia đình trong khi mọi người đang vui mừng đón Xuân.

Đi từ căn bản nêu trên tôi ghi lại một chứng tích lịch sử để chúng ta không quên “Nỗi Đau Thương của Dân Tộc Việt Nam, đặc biệt với miền Nam Việt Nam” do cộng sản tạo ra, nhất là đối với người dân xứ Huế vào Tết Mậu Thân 1968 mà theo tài liệu có đến năm, sáu ngàn người gồm Quân Cán Chính, thường dân vô tội đã bị giết hại, bị chôn sống kể cả 4 người Đức, một linh mục người Pháp cũng bỏ thây tại VN. Có khá nhiều hồi ký, quyển sách viết về Tết Mậu Thân, điển hình là “Giải Khăn Sô Cho Huế” của Nữ Văn Sĩ Nhã Ca cũng như của các ký giả ngoại quốc tuy không cùng dòng máu với người Việt nhưng đến nay chưa có bút mực nào tả cho hết, trọn vẹn hành động dã man, vô nhân đạo mang tính cách lịch sử do cộng sản VN và tay sai gây ra dù đã có nhiều hình ảnh được bạch hóa và phổ biến trên Internet.

Vốn là người miền Trung vì vậy người viết đã chứng kiến thảm cảnh do bọn cộng sản và các tên nằm vùng gây ra khi nhìn thấy xác chết của người dân vô tội nằm ngổn ngang bên ven đường, góc phố. Riêng tại Thị Xã Qui Nhơn thì đứng cách 50 mét sau khi hết lệnh thiết quân luật đã nhìn xác người nằm ngay giữa ngã tư đường Võ Tánh và Tăng Bạt Hổ, trước Ty Thông Tin / đài phát thanh và trước cổng sân vận động Qui Nhơn mà như chúng tôi được biết, cộng sản và tay sai đã chiếm đóng nên sau đó xảy ra sự giao tranh giữa VC và quân đội VNCH thuộc tiểu khu Bình Định. Cũng có thể quý vị đã mất đi một số bạn bè, thân hữu trong dịp Tết 1968 như tôi, sau khi VC rút lui.

* lý do bị giết ở Huế => không biết bị quăng xác ở đâu và chẳng bao giờ nhìn được xác chồng, cha

Chỉ tóm gọn. Chị tôi tình cờ quen qua bạn gái với anh người Huế vào học sư phạm Qui Nhơn vào đầu thập niên 70 và sau đó 1-2 năm trở thành vợ chồng. Tôi từ đó có anh rể gốc Huế và vì vậy có vài người bạn thân của anh từ Huế vào học sư phạm QN tạm trú ở gia đình tôi nên nghe biết khá nhiều về đất thần kinh. Về sau anh rể tôi nhập ngũ, ra trường về trú đóng ở Quảng Trị. Rồi cũng biết em trai của anh rể, thời đó là học sinh, sinh viên chống lại đám thiên tả …Thời chiến nên em trai anh rể tôi phải lên đường nhập ngũ, theo ngành Biên Tập Viên (cảnh sát). Riêng chị tôi, hai năm sinh hai đứa con, đứa thứ hai sinh năm 1967 và vì cha phải làm tròn bổn phận của người lính VNCH nên ít có dịp gặp.

Được tin qua truyền hình, radio là sẽ có đình chiến nên chị tôi nói cho gia đình chồng biết ngay sau ngày Tết sẽ cùng 2 con ra Huế thăm gia đình. Nghe vậy và nhân đình chiến ký kết với cộng sản Bắc Việt, anh rể tôi và em trai về thăm gia đình, luôn tiện gặp vợ con, chị dâu cùng hai cháu. Không ngờ chị tôi chưa kịp đi thì ngày 29.01.1968 (như tôi được biết và nhớ không lầm) đã nghe Huế bị cộng sản tấn công chiếm đóng … vài ngày sau thì được tin anh rể và em trai bị VC bắt dẫn đi biệt tích. Rõ ràng nếu không có nằm vùng thì có lẽ VC chẳng biết gia đình bên chồng chị tôi ở vùng An Cựu. Lo lắng, buồn phiền làm cho không khí Tết đối với gia đình hai bên mất vui hoàn toàn. Rồi Tết đau buồn đi qua và sau 25 ngày khi Huế được quân đội VNCH chiếm lại thì số phận anh rể và em trai giống như các nạn nhân khác: “Gia đình đến nay không biết tăm hơi, chắc bị thủ tiêu (?) nhưng chẳng bao giờ tìm được xác”. Tang thương đã đến với chị tôi, hai con dại, gia đình nội ngoại. Còn bút mục nào diễn tả cho đủ sự tàn ác, dã man của cộng sản và tay sai ?.

Vợ mất chồng, con mất cha không tìm được xác nên chị tôi và hai con dại ở với ông bà ngoại từ 1968.

Thảm họa xảy ra ở Huế làm cho chúng ta phải bồi hồi suy tư !. Thảm nạn Huế phải được tạc vào bia đá, khắc vào tâm khảm, để đời sau sẽ không quên, cùng chung với những dữ kiện lịch sử khác, của những cuộc tàn sát bạo tàn giữa con người với nhau. Huế là một dẫn chứng điển hình cho sự mù quáng, vô nhân đạo của cộng sản và tay sai khi họ đi theo chủ nghĩa vô thần, chuyên chính vô sản.

Cho nên mừng Xuân Mậu Tuất 2018, mấy ai không chạnh lòng nhớ tới mùa Xuân đầy máu và nước mắt, đầy khăn sô và xác người trong dịp Tết Mậu Thân 1968, cách đây 50 năm!. Nửa thế kỷ đã qua nhưng người Miền Nam VN nói chung – trong đó có tôi vì thời điểm này tôi còn ở Qui Nhơn – không thể nào và chẳng bao giờ quên được tang thương đã xảy ra cho dân tộc, xảy ra với bao nhiêu tỉnh thành, thị xã của Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt với dân xứ Huế.

Sự thật rồi có lúc phải được phơi bày dưới ánh sáng mặt trời nên sau khi kiểm chứng với đầy đủ các dữ kiện được bạch hóa và phổ biến trên Internet, hầu như tất cả các vụ hành quyết đều do bàn tay của những đảng viên cộng sản nằm vùng và cộng sản Bắc Việt. Đa số 150 tên cán bộ chính trị nằm vùng hoạt động ở tỉnh Thừa Thiên nói riêng, những tên này chính là thủ phạm đã ra lệnh thủ tiêu các nạn nhân ở Huế vì rõ ràng cộng sản Bắc Việt làm sao biết rõ ai là ai, làm gì, lính, thương gia, dân thường …ở Sài Gòn, Nha Trang, Qui Nhơn hay nhiều tỉnh lỵ khác của VNCH?. Cho dù họ đã làm theo chỉ thị của bộ chỉ huy (và ban lãnh đạo trung ương csVN), và nếu như thế thì chỉ thị đó ai đã ra lệnh như thế nào?. Cho đến nay vẫn chưa biết rõ chi tiết, chỉ thấy hình ảnh cộng sản ăn mừng vụ Tết Mậu Thân 68 qua internet. Nhưng điều hiển nhiên có thể khẳng định được là NẾU KHÔNG có tay sai nằm vùng thì VC từ miền Bắc vào làm sao biết ai là lính, là công chức, giáo sư, bác sĩ… mà bắt giết chứ ?? (ghi chú thêm: sau 30.04.1975 ai cũng rõ là chính thành phần tay sai nằm vùng điềm chỉ cho kẻ thắng cuộc bắt người !).

* đi kinh tế mới

Biến cố Tết Mậu Thân 1968 trên khắp miền Nam Việt Nam và hãi hùng nhất là ở Huế đã làm nổi bật bản chất “tàn ác” cố hữu của cộng sản. Qua đó nếu khách quan nhìn thêm về Nga hay Đông Âu trước đây thì có thể nói rằng “Cộng sản là Cộng sản”. Cộng sản ở VN hay ở bất cứ đâu dù bây giờ chỉ còn 4 nước theo chủ nghĩa này và thời nào cũng đều là cộng sản, là đầu sỏ gây ra tội ác với lý tưởng giết người, nếu chúng ta lật lại những trang lịch sử cũ qua cuộc cải cách ruộng đất tại VN trước đây. Người dân hiền hoà của miền Nam trải qua nhiều chuyện không ngờ trước được sau 1975, dù nhiều người đã có kinh nghiệm với cộng sản. Người lính VNCH bị lừa đủ chuyện để bị đẩy vào tù mà chính bà con ruột thị và bạn bè của tôi vốn là nạn nhân và chuyện “đấu tố” cũng đã xảy ra sau 30.04.1975 tại miền Nam Việt Nam “đối với các nhà giàu” qua sự điềm chỉ, vu oan của những kẻ nằm vùng mới ló mặt sau khi cộng sản cưỡng chiếm VNCH với sự giúp đỡ về mọi mặt từ khối cộng sản quốc tế. Ngoài kỹ thuật tinh vi, xảo quyệt để giết chết Quân-Cán-Chính VNCH qua các trại giam được mệnh danh là “trại cải tạo” cộng sản đã đẩy hàng loạt người đến các vùng hẻo lánh gọi là “vùng kinh tế mới” (sic). Chính chị tôi từng sống ở thị thành là nạn nhân của chế độ mới, được nếm mùi “vùng kinh tế mới” cho đến khi sang Âu Châu đoàn tự với con cái.
* khó khăn của gia đình sau 75 vì có con du học
Ngay cả gia đình tôi cũng gặp nhiều “khó khăn” sau 30.04.1975 lý do vì ba tôi là công chức hành chánh lâu năm thời VNCH, vì vậy đã bị ở tù, học tập cải tạo ở trại giam Tiên Lãnh/ Quảng Nam và được cộng sản tặng cho danh hiệu gia đình “ngụy”. Ai ở lại VN sau 1975 đều biết điều gì xảy ra cho “các gia đình ngụy”.

Thế là em út tôi học hai trường công lập Nữ Trung Học và Cường Để nổi tiếng ở Qui Nhơn bỗng dưng gặp khó khăn, nản lòng nên trở thành “thất học”. Chưa hết còn bị cho là “thuộc loại tư bản” chỉ vì cái tội có con là tôi đi du học trước 1975, vậy là gia đình ngụy tôi lại mang thêm một tội nữa. Cũng may tôi biết mình may mắn đang theo học ở xứ Tự Do, Dân Chủ như Đức quốc khó bị làm khó dễ nên đã nói khéo trước là ba má tôi cứ trả lời khi bị hạch hỏi rằng “nó tuy con của chúng tôi đó nhưng giờ lớn rồi, đi học xứ người muốn gì mấy ông cứ liên lạc hỏi nó chứ chúng tôi ở xa đâu ảnh hưởng gì được !”. Xong chuyện. Cuối năm 1978, ba tôi qua đời vì bạo bệnh. Tôi được Đức cho tị nạn trước đó không lâu và trong thông hành ghi rõ ràng: “được đi khắp nơi, trừ Việt Nam, vì vậy đành thầm khóc với sự nghiệt ngã ….không thể về tiễn đưa Ba lần cuối!”. Gia đình tôi bị trù đập mãi nên phải rời Qui Nhơn, căn nhà xưa nơi tôi có nhiều kỷ niệm thời thơ ấu cũng bị đổi chủ. Thắm thoát đã 42,5 năm sống tha hương chưa một lần về quê mẹ, kể từ tháng Tư 1975.

Xin mở ngoặc tí xíu ở đây. Nhiều lúc tôi phải phì cười vì thời tôi đi du học Đức tổng số sinh viên (gồm SV ủng hộ VNCH và thiên tả) nếu so với số “du sinh của csVN bây giờ” chỉ bằng 1/15 (một phần mười lăm) thôi; ngoài ra dù đi với học bỗng quốc gia VNCH hay tự túc nhận được khoản 120$/tháng cho ăn ở và thiếu tiền mua sách vở để tham khảo phải đi kéo cày thêm để đủ tiền ăn học nên không hiểu cộng sản ghép thành phần du sinh bây giờ là gì khi qua Đức học mua xe hơi chạy, mua nhà để ở và nếu qua Mỹ thì trả tiền học tệ lắm cũng 20 đến 50 ngàn/năm tùy trường đại học, tài chánh thừa dư thì không hiểu họ thuộc thành phần nào: “đại tư bản đỏ” ư, khi mà lương bỗng ở VN so với Âu, Mỹ thua rất xa ???!.

* vượt biển tìm Tự Do, đoàn tụ & lặn lội về quê hương để tìm xác cha mà vẫn không thể nào tìm ra

Sau khi ba tôi mất, hai đứa cháu và em út tôi mạo hiểm vượt biển cuối thập niên 70,- chỉ trừ một người bà con xa đi chuyến khác bỏ mạng trên biển Đông – tất cả may mắn thoát chết, đến được bờ Tự Do và rồi từ trại tỵ nạn Á Châu đi định cư ở Europe khi mới 13, 14 tuổi nên phải lo học hành cho đến khi mẹ chúng nó (chị tôi) sang đoàn tụ. Đến tuổi trưởng thành và sau khi đời sống khá ổn định, một đứa cháu quyết định về Việt Nam, lặn lội ra tận Huế thăm gia đình, bà con bên nội và mục đích chính là muốn dò hỏi thân nhân, bà con ở Huế hầu từ đó hy vọng có thể tìm được tin tức về người cha mà khi còn sống vì là lính phải rày đây mai đó, ít khi được gần gũi con đã bị VC giết chết Tết 1968 khi chúng nó mới một, hai tuổi nhưng hoàn toàn vô vọng. Vẫn không biết VC giết ba mình và đã vùi chôn xác ở đâu. Cuối cùng bỏ cuộc bay về trở lại Âu Châu. Đây là sự thật vì tôi là cậu tuột của nó ghi ra đây để độc giả đọc, tự suy ngẫm, nhận xét …!

Để kết thúc bài viết, tôi mạn phép mời quý vị – có thể là người trong cuộc – hoặc may mắn hơn không vướng phải nỗi đau buồn trong dịp Tết Mậu Thân 1968 – đọc bài thơ sau đây:

Đưa em đi đào xác 
(Để tưởng nhớ biến cố Tết Mậu Thân 1968. Không rõ tên tác giả) 
Đưa em đi đào xác
Chiều Gia Hội âm u
Trời mây đen vần vũ
Nước sông Hương lặng lờ

Đưa nhau hồn lạnh buốt
Em quấn vành khăn tang
Xác chồng chưa tìm được.
Lệ nhỏ thầm hoang mang

Bên hố chôn tập thể
Từng mảng người rưng rưng
Nhặt những xác vữa nát
Còn vương trói dây thừng

Chiếc sọ nào nguyên vẹn
Sau nhát cuốc hãi hùng
Những người dân vô tội
Chết xấp mặt phơi lưng Đưa em đi đào xác
Hai mươi mấy ngày trời
Thành phố Huế thoi thóp
Với đớn đau mặt người

Ơi thịt xương từng nhúm
Gói ghém bọc ni lông
Nằm tố cáo tội ác
Trong bốn tấm ván thông

Những ngọn nến leo lắt
Như đóm mắt hồn ma
Nhìn hắt hiu chủ nghĩa
Qua nhang khói nhạt nhòa

Đưa em buồn chất ngất
Mưa se sắt mặt mày
Em khoác tấm vải nhựa
Di ảnh chồng trong tay

Ước mong oan hồn của anh rể tôi, bạn tôi, Quân-Cán-Chính VNCH và của những nạn nhân vô tội bị giết chết oan ức bởi cộng sản Việt Nam trong Tết Mậu Thân 1968 (và sau 1975) phù hộ cho dân Việt sớm được sống dưới một chế độ KHÔNG CÒN Cộng Sản, thật sự có TỰ DO, DÂN CHỦ và NHÂN QUYỀN !

Người Ba Lan suýt ngăn được Cuộc chiến VN?

Mieczyslaw ManeliBản quyền hình ảnhMIECZYSLAW MANELI
Image captionSau khi bỏ sang Phương Tây năm 1968, nhà ngoại giao Mieczyslaw Maneli ra cuốn sách 'War of the Vanquished' nói về giai đoạn ở Việt Nam

Trong Cuộc chiến Việt Nam, Cộng hòa Nhân dân Ba Lan đã có một vai trò ngoại giao nhất định trong Ủy ban Đình chiến với hoạt động cả ở Hà Nội và Sài Gòn.

Đại sứ Mieczyslaw Maneli, người hai lần làm việc tại Ủy ban Đình chiến còn được một số báo Ba Lan ca ngợi là "từng có cơ hội ngăn cuộc chiến Việt Nam bùng nổ".

Nhưng sự thực lịch sử thì không đơn giản như vậy, theo tìm hiểu của nhà báo Nguyễn Giang:

Giáo sư luật Mieczyslaw Maneli nổi tiếng trong Chiến tranh Lạnh ở vai trò trưởng phái bộ Ba Lan trong Ủy ban Đình chiến sau Hiệp định Geneva về Việt Nam.

Ông sang Việt Nam tổng cộng 5 năm, (1954-55 và 1962-64) và kể lại các hoạt này trong cuốn 'War of the Vanquished: A Polish Diplomat in Vietnam', xuất bản năm 1971 ở Phương Tây, khi ông đã rời Ba Lan đi sống lưu vong.

Khi sang Việt Nam, ngoài công việc ở Ủy ban Đình chiến, ông Maneli còn theo dõi quan hệ Xô - Trung vốn nhiều mâu thuẫn sau khi Stalin chết cho chính phủ Ba Lan.

Ông đã gặp Cố vấn Ngô Đình Nhu tại Dinh Độc Lập năm 1963 với một đề nghị làm trung gian để Sài Gòn và Hà Nội đối thoại trực tiếp, trước khi Hoa Kỳ đổ quân vào.

Các sử liệu báo Ba Lan giới thiệu cho hay ông Maneli đã gặp ông Nhu "ít ra là vài lần".

Ông Maneli, người thạo tiếng Pháp, cũng gặp các ông Chu Ân Lai, Phạm Văn Đồng và Quốc vương Sihanouk trong các lần đến châu Á.

Theo chính những gì Mieczyslaw Maneli viết lại thì năm 1963 là một giai đoạn quan trọng trong cuộc đối đầu Nam-Bắc Việt Nam.

Hoa Kỳ thời JF Kennedy đã tăng sự hiện diện của các cố vấn quân sự tại Nam Việt Nam lên nhưng chưa quyết định đem quân tác chiến vào chống cộng sản.

Các tài liệu Phương Tây và của người Việt xuất bản ở hải ngoại có nói đến tiếp xúc giữa ông Ngô Đình Nhu và lãnh đạo cộng sản miền Nam, ông Phạm Hùng.

Nhưng đó chỉ là tiếp xúc mang tính thăm dò ở địa phương.

Còn tiếp xúc cao cấp hơn, với đại sứ Ba Lan làm trung gian, hẳn phải có lý do chiến lược của cả chính phủ Ngô Đình Diệm và chính phủ Hà Nội.

Thời điểm diễn ra vài lần trao đổi giữa ông Maneli với ông Nhu ở Sài Gòn, sau khi ông Maneli đã gặp Phạm Văn Đồng ở Hà Nội trước đó, là rất đáng chú ý.

William RogersBản quyền hình ảnhKEYSTONE
Image captionParis tháng 1/1973: Ngoại trưởng Mỹ, William Rogers (1969 - 1973), ký vào biên bản Hoà đàm

Trong 'Choosing War: The Lost Chance for Peace and the Escalation of War in Vietnam', Frederik Logevall viết rằng chế độ Ngô Đình Diệm ngày càng thấy sức ép, thậm chí thái độ thù địch từ Hoa Kỳ tăng lên, và một 'lá bài' của ông Nhu là việc nói chuyện với Hà Nội.

Về phía miền Bắc, mất mùa năm đó tệ nhất kể từ 1954 khiến Hà Nội không muốn phụ thuộc vào sự làm ơn của Liên Xô và Trung Quốc khi xin viện trợ lương thực.

Nếu có trao đổi kinh tế, miền Bắc sẽ nhận lương thực từ miền Nam chứ không phải từ các đồng minh đang mâu thuẫn và có các tính toán riêng.

Lúa gạo là một động cơ để nói chuyện với miền Nam, như nhà báo thân cộng sản người Úc, ông Wilfred Burchett, cho biết chính Hồ Chí Minh đã nói với ông ta như thế.

Đại sứ Maneli ghi nhận bối cảnh đó trong một báo cáo viết về Warsaw:

"Căn cứ vào thông tin tôi nhận được hoàn toàn mang tính riêng tư ở miền Bắc, hoàn toàn có thể kết luận rằng một số cuộc nói chuyện Ngô - Hồ đã bắt đầu, thông qua những người được miền Bắc ủy nhiệm trực tiếp."

Không nhận được phản đối từ Ba Lan, ông bắt đầu công việc này.

Các tài liệu của nhân chứng VNCH sau in ở nước ngoài cũng nói vào mùa hè năm 1963, Sài Gòn đầy các các tin đồn rằng ông Nhu thương thảo gì đó với Hà Nội.

Theo Logevall, các trao đổi này không hẳn là bí mật, và ngoài Maneli còn có Roger Laloulette (đại sứ Pháp) và Ramchundur Goburdhun (đại biểu Ấn Độ thuộc Ủy ban Đình chiến), biết và chia sẻ niềm tin tương tự về viễn cảnh thương thảo Nam - Bắc.

Mặt khác, có vẻ rằng lãnh đạo hai bên lo ngại viễn cảnh Hoa Kỳ cứ đổ quân vào, bất chấp phản đối của Sài Gòn.

Sir Robert Thompson, chuyên gia Anh giúp Sài Gòn trong chương trình Ấp Chiến lược thì ghi nhận rằng lúc đó, ông Hồ 'sẵn sàng trả bất cứ giá nào' để Hoa Kỳ rút quân khỏi Nam Việt Nam.

Hà Nội lo ngại về rạn nứt Trung - Xô và sợ rằng nếu chiến tranh leo thang, miền Bắc Việt Nam sẽ thành chiến trường giữa quân Mỹ và Trung Quốc.

Ngăn được cuộc chiến?

Và như một bài trên trang wp.pl hồi 2015 viết lại, ông Mieczyslaw Maneli "từng nỗ lực ngăn lại cuộc chiến Việt Nam" trước khi nó xảy ra.

Điều đáng chú ý là các hoạt động của trưởng đoàn Ba Lan đã xảy ra không thông báo với người Nga, theo các báo Ba Lan.

Tin tức về các cuộc gặp Maneli- Ngô Đình Nhu được phía Ba Lan báo cho người Mỹ thông qua đại sứ J. K. Galbraith ở Ấn Độ.

Voi VN lên tàu Ba Lan ra Bắc rồi đi đâu?

Vì sao Tổng thống Ba Lan thăm VN?

Tranh cãi về trận Liên Xô đánh Ba Lan

Theo một tài liệu nghiên cứu của Margaret Gnoinska, thì phía Mỹ lại tưởng đó là sáng kiến đến từ Moscow.

Kết cục thì Moscow đã ra lệnh cho Bộ trưởng Ngoại giao Ba Lan, Adam Rapacki, chấm dứt ngay các việc như vậy.

Các tài liệu ngày nay cho hay sau khi thông tin này lộ ra, các lãnh đạo Ba Lan tại Warsaw vô cùng hoảng sợ vì lo Moscow phật lòng.

Bộ trưởng Ngoại giao Ba Lan, Stefan Olzowski tại Hòa đàm Paris tháng 3/1973Bản quyền hình ảnhAFP/GETTY IMAGES
Image captionBộ trưởng Ngoại giao Ba Lan, Stefan Olzowski tại Hòa đàm Paris tháng 3/1973. Ba lan có vai trò trong Ủy ban Đình chiến sau hiệp định Geneva, từ 1955 đến 1973.

Moscow không hề muốn có những tiếp xúc như thế, và câu chuyện "hòa giải" giữa hai miền Nam - Bắc Việt Nam được xếp vào mục 'sáng kiến riêng' của đại sứ Maneli và chấm dứt ở đó.

Không lâu sau các cuộc gặp cuối hè 1963, hai anh em ông Diệm - Nhu bị giết ở Sài Gòn, và vài tuần sau nữa, Tổng thống JF Kenney bị bắn chết tại Dallas, Hoa Kỳ.

Lyndon B. Johnson lên làm tổng thống và sang năm 1964, ông đã 'dùng vụ Vịnh Bắc Bộ' để có ủy quyền của Hạ viện cho hoạt động quân sự chống lại Bắc Việt.

Vào tháng 3/1965 Johnson đưa 3500 thủy quân lục chiến Mỹ đầu tiên đến Nam Việt Nam.

Trong vài tháng sau, ông chuẩn thuận để triển khai tới 175 nghìn quân tác chiến.

Con số này còn tăng sau đó cùng sự leo thang của cuộc chiến Việt Nam.

Miền Bắc cũng đưa quân vào Nam ngày càng nhiều và cuộc chiến lên đến đỉnh điểm bằng trận Tết Mậu Thân 1968.

Nhà ngoại giao 'khác thường'

Mieczyslaw Maneli không phải là một nhà ngoại giao bình thường.

Sinh năm 1922 ở Miechow, Ba Lan, ông Maneli là giáo sư công pháp quốc tế tại Khoa Luật, Đại học Tổng hợp Warsaw và đã có nhiều tác phẩm trong lĩnh vực này.

Ông thuộc thế hệ trí thức Ba Lan lớn lên trong nền văn hóa dân chủ tư sản châu Âu trước Thế chiến 2 và được các tài liệu tiếng Anh mô tả là người "văn minh, hài hước, có quan điểm xã hội dân chủ và nhân văn" (urbane, witty, a social democrat and self-styled humanist).

Ông lên được vị trí cao trong ngành ngoại giao CHND Ba Lan "không phải qua bộ máy của Đảng Cộng sản, mà nhờ hoạt động du kích chống phát-xít trong Thế Chiến 2, và tài năng ngành luật".

Khi Tổng Bí thư Đảng CS được dân mến

Nhà Ngô thứ nhì nằm xuống loạn lạc nổi lên

Nghệ sỹ Việt Nam và Thái Lan đến Warsaw

Thạo các ngoại ngữ châu Âu, ông cũng đánh giá cao vai trò của quân đội Hoa Kỳ đã cứu châu Âu khỏi thảm họa phát-xít.

Chính vì thế, trong toàn bộ giai đoạn có mặt tại Việt Nam, ông chưa bao giờ phê phán người Mỹ.

Quân đội Hoa KỳBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionThủy quân lục chiến Mỹ tham chiến tại Nam Việt Nam

Chẳng hạn, khi Bắc Kinh và Hà Nội yêu cầu ông nêu ra các cáo buộc nhắm vào hoạt động rải chất da cam của quân đội Hoa Kỳ, coi nó làm 'đối trọng' cho cáo buộc Bắc Việt Nam đưa quân đội xâm nhập lãnh thổ VNCH, ông đã từ chối.

Mieczyslaw Maneli nêu quan điểm rằng ông không thấy có bằng chứng quân đội Mỹ làm gì khác ngoài việc rải chất diệt cỏ.

Tuy là đại sứ cho một nước cộng sản, ông cũng ghi lại các quan sát cá nhân sắc bén về những nước 'đồng minh'.

Chẳng hạn về quan chức Trung Quốc, ông cho rằng họ là ví dụ "kinh khủng nhất về sự thô bạo ngoại giao".

Và so với họ thì người Nga "dễ chịu hơn nhiều".

Còn về Bắc Việt Nam, ông viết rằng đó là "một máy quan liêu trùng điệp".

Động cơ 'làm trung gian hòa giải' là gì?

Các tài liệu sau này đã nói rõ hai phe cộng sản và tư bản, nhất là Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc không hề ủng hộ cho một cuộc đối thoại Hà Nội - Sài Gòn.

Có vẻ như ông Mieczyslaw Maneli biết thế nhưng vẫn cố gắng đi lại giữa Hà Nội và Sài Gòn để làm việc mà ông tin rằng sẽ giúp cho Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm tìm ra một giải pháp ngăn được cuộc chiến.

Ngày nay chúng ta thấy rõ các cấp trên của ông Maneli ở Ba Lan cũng không hề có một chính sách can thiệp vào vấn đề quốc tế như ông tự làm ở Việt Nam.

Nhà nghiên cứu Margaret Gnoinska cho rằng mọi thứ ông Maneli làm "chỉ hoàn toàn dựa vào tiêu chuẩn, giá trị đạo đức cá nhân".

Cuộc đời Mieczyslaw Maneli có thể lý giải phần nào động cơ của ông.

Ông Dzerzhinsky được dựng tượng ở VN là ai?

Cực hữu biểu tình ở Ba Lan và Hungary

Nguồn gốc Ba Lan giúp gì cho Angela Merkel?

Ông từng bị cầm tù ở biệt khu (ghetto) ở Warsaw, nơi Đức giam người Do Thái trước khi đưa họ đến các lò thiêu, và thoát chết khi đã vào trại Auschwitz.

Có thể ông nghĩ về chiến tranh, về sự hủy diệt theo cách khác những chính trị gia cùng thời muốn dùng Chiến tranh Lạnh là địa bàn để tranh giành ảnh hưởng.

Không loại trừ khả năng ông hiểu được số phận đôi khi vô vọng của các dân tộc bé nhỏ trước sức ép của các đại cường.

Năm 1968, khi đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan tung ra phong trào 'chống chủ nghĩa Zionism' ông Maneli đã bị thanh trừng và phải đi sống lưu vong.

Năm 1984, khi Ba Lan và Đông Âu vẫn còn trong Chiến tranh Lạnh, Mieczyslaw Maneli đã xuất bản cuốn sách 'Tự do và Bao dung' (Freedom and Tolerance).

Tác phẩm của Maneil đánh giá nền tảng triết học cho một xã hội đa nguyên, dân chủ và bao dung, và sau thành sách giáo khoa ở nhiều trường Phương Tây.

Nỗ lực cá nhân 'cứu vãn Việt Nam' khỏi chiến tranh của Mieczyslaw Maneli thực ra đã hoàn toàn thất bại.

Ba Lan và Cuộc chiến Việt Nam

Kể từ khi tham gia Ủy ban Đình chiến cho đến nhiều năm sau này, Cộng hòa Nhân dân Ba Lan sau đó hoàn toàn vào cuộc về phía miền Bắc Việt Nam.

Trong hàng trăm quân nhân Ba Lan luân phiên đến Ủy ban Đình chiến, gồm cả trung tá Ryszard Kuklinski (sau lên đại tá), 'kẻ phản bội nổi tiếng'.

Tết Mậu Thân: sỹ quan Ba Lan gặp ai ở Sài Gòn?

Hồ sơ JFK: KGB, Johnson và Ngô Đình Diệm

Bà Trần Lệ Xuân qua lời kể và bình luận

Ông tiếp xúc lần đầu với CIA ở Sài Gòn trong trận Tết Mậu Thân 1968 và sau làm gián điệp cho Mỹ trước khi đào tẩu khỏi Ba Lan năm 1981.

Ngoài ra có 2500 cán bộ, chuyên gia, bác sỹ, thủy thủ Ba Lan đã sang Việt Nam hỗ trợ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nhận nhiệm vụ của Ủy ban Đình chiến, tàu thủy Kilinski của Ba Lan đã chở quân đội cộng sản từ miền Nam ra Bắc tập kết trong năm 1955 và một số đồng bào Công giáo Thanh Hóa di cư vào Nam.

Trở lại Việt Nam năm 1972, tàu Kilinski cùng hai tàu Ba Lan: Jozef Konrad và Moniuszko chở hàng cho Bắc Việt Nam bị kẹt lại ở Hải Phòng đến 1973 vì Mỹ phong tỏa cảng.

Tàu KilinskiBản quyền hình ảnhCAMAU
Image captionTàu Kilinski sang Việt Nam hai lần, năm 1955-56 và 1972

Một số cây bút thiên tả nổi tiếng của Ba Lan như bà Monika Warnenska còn đi từ Bắc Việt vào cả chiến trường miền Nam để viết phóng sự.

Nhà báo Daniel Passent, ngôi sao truyền hình Grzegorz Woźniak, nhà soạn nhạc Robert Satanowski...đều từng sang Bắc Việt Nam thời chiến.

Cảm nhận của họ về chiến tranh ở Việt Nam hẳn cũng đem lại cho công chúng Ba Lan cùng thời một cái nhìn.

Nhưng với người Việt Nam ngày nay thì các hoạt động đó lu mờ trước nghĩa cử 'ngăn chặn chiến tranh' tuy bất thành của Mieczyslaw Maneli.

Để kỷ niệm 50 năm thảm sát Mậu Thân

Một góc nhìn (không toàn diện) "bên thắng cuộc" trong thời chiến

Huỳnh Chánh (Danlambao) - Trong chiến tranh: Tết lại sắp đến, người dân miền Nam không ai có thể quên thảm sát Mậu Thân 1968! Xin kể lại một chuyện ít người biết:

Ba tôi là bạn học với chú Henry tại trường "Cao Đẳng Vô Tuyến Điện" (1) kế cận trường Petrus Ký. Dĩ nhiên trường có tên gọi và học trình bằng tiếng Pháp. Trường đào tạo chuyên viên vô tuyến điện (đánh Morse). Chú Henry là con trai của luật sư Trịnh Đình Thảo (tốt nghiệp tiến sĩ luật tại Pháp). Ông Trịnh Đình Thảo nổi tiếng nhờ 2 việc: một thời làm bộ trưởng tư pháp của Chính phủ Trần Trọng Kim và là luật sư biện hộ cho cụ Phan Chu Trinh. 

Tết Mậu Thân 1968 "bên thắng cuộc" tấn công Sài Gòn, đến tận nhà ông Thảo trao bức thư tay của Hồ Chí Minh mời hợp tác (đúng ra là bắt cóc vô bưng, bởi vì không đi thì chỉ có bị giết). Sau đó ai ai cũng biết ông Trịnh Đình Thảo từ trong bưng "lập ra" Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam. Năm 1975 ba tôi đến thăm ông tại Sài Gòn, ông kể cho nghe nhiều chuyện, đầy chán chường... Ông cho biết chuyện bị bắt cóc, bị bắt buộc lập liên minh, chuyện miền bắc thí Mặt trận Giải phóng Miền Nam ra sao, đợt 1 tổng công kích chết gần toàn bộ MTGPMN, thế mà chỉ 3 tháng sau lại ra lệnh tổng công kích đợt 2, mượn tay địch giết cho hết những tên ương ngạnh, khó dạy miền Nam... Trong đợt này thượng tá Tám Hà, người có quân hàm cao nhất ra hồi chánh trong ngao ngán "tình đồng chí"!

Sau Mậu Thân tại Huế, người dân miền Nam biết rõ hơn chủ trương "dân sống trong vùng địch kiểm soát được xem như kẻ địch". Gần 5 ngàn thường dân bị chôn sống. Năm 2007 vợ và chị vợ của người viết đi một chuyến Sài Gòn-Hà Nội, đến Huế họ nói với nhau về thảm sát, cô tour guide khoảng 23, 24 tuổi, người Huế hỏi vặn: "hai cô bị Mỹ/Ngụy tuyên truyền, cháu được dạy chính họ mới là thủ phạm giết dân" Vợ tôi chỉ nói nhẹ: "cháu hãy hỏi ông bà của cháu, những người có sống tại Huế lúc Tết Mậu Thân."

Trên chiến trường thì sao? Với chủ trương "chính trị chỉ đạo đời sống" với chính ủy mới nắm thực quyền. Họ chỉ mong sao thắng trên chiến trường, đạt được thế chính trị cho dù chết bao nhiêu cũng mặc kệ! Hàng hàng lớp lớp thanh niên miền Bắc với lệnh xung phong biển người làm bia đỡ đạn đã bị nướng trên chiến trường. Họ được dạy căm thù, lòng thù hận đã khiến họ không còn là người... Ngược lại, bên thua cuộc ra trận tiết kiệm xương máu binh sĩ đến mức tối đa, họ đối xử với nhau bằng tình thầy trò, chiến hửu. Họ không mang lòng thù hận, và nếu bên kia buông súng hồi chánh, họ được đối xử bình đẳng, nhân đạo, không có trả thù. 

Tại nông thôn thì sao? Một anh bạn cùng chung 5 năm tại trường tiểu học Đổ Hữu Phương, sống với người dì, ngay bên cạnh nhà tôi ở cư xá Lữ Gia. Anh có người cha bị lăng trì trước mặt vợ con tại xã Bình Phục Nhì, tỉnh Gò Công. Bác chỉ là một nông dân khá giả, không hề là viên chức chính phủ. Chỉ vì thù oán cá nhân, du kích kết án bác 36 tội, mỗi tội bị đâm một dao, dao cuối cùng mới đâm chết. Họ gom dân kể cả vợ, con nạn nhân chứng kiến! Không thể hời hợt nói rằng đó không là chủ trương của trung ương, chỉ là địa phương sai lầm! CSVN từ 1930 đã là một chi nhánh nhận lệnh từ Nga, Trung Cộng. Họ cai trị dân bằng khủng bố, tạo sợ hãi, cải cách ruộng đất, Mậu Thân 1968 là chứng minh. Cái tàn ác là chủ trương từ lý thuyết, có hệ thống, chính vì vậy chúng ta thấy giống nhau sự giết người man rợ của các đảng CS Nga, Tàu, Miên, VN... Họ che đậy hành động dã man bằng "cứu cánh biện minh cho phương tiện" (độc lập, hạnh phúc biện minh cho cải cách ruộng đất cho Mậu Thân). Thời chiến khắp miền nam không biết bao nhiêu vụ giết người khủng bố rồi phá hoại đào đường, giật sập cầu, pháo kích...

Có người nghĩ, sau khi thắng trận, 50 năm đã qua kể từ 1968, tình trạng có thay đổi? những kẻ giết dân năm xưa ăn năn? Hiền hơn? Trở về với tình dân tộc đồng bào? Xin thưa: không đâu. Hãy nhìn họ đối với nhau, đồng chí với đồng chí. Hảy nhìn họ đối với bên thua cuộc, hảy nhìn họ đối với dân. Xã hội 2 giai cấp: thống trị và bị trị, hai luật pháp: luật đảng và "luật rừng" dành cho dân. Sau năm 1975, người dân miền Nam càng thấy rỏ hơn khi được biết những "bài thơ" đầy tính nô lệ đến trơ trẻn của Tố Hửu, những giọng ca the thé, chói tai y chang Tàu Cộng... Chẳng có gì là khó hiểu vì từ 1930 bên thắng cuộc đã nhận lệnh của Nga, Tàu. Một viễn ảnh bán nước là điều thấy rỏ!!! Thật đau xót cho dân Việt với truyền thống hiền hòa, đoàn kết, yêu thương nhau... Tết lại sắp đến, hảy cùng nhau thắp nén hương hy vọng bóng tối sớm qua, cái ác không thể tồn tại mãi.

08.02.2018



________________________________

Chú thích:

(1) Người Pháp có một nghịch lý là các đại học đều tập trung tại Hà Nội thay vì Sài Gòn: luật, y, dược, văn khoa... trong khi miền nam là xứ thuộc địa (con ruột) trung và bắc là xứ bảo hộ (con nuôi). Dân miền nam chỉ được đào tạo đến cấp cán sự. Sau trung học chỉ có 2 cách tiếp tục: hoặc sang Pháp, hoặc ra Hà Nội. Mấy ai đủ giàu để tiếp tục? Đó cũng là lý do rất nhiều người bắc di cư 54 tốt nghiệp đại học trong chính quyền miền nam (miền nam không đủ người tốt nghiệp đại học)... Sự việc hoàn toàn thay đổi, chỉ trong 21 năm (54-75) miền nam đã thành lập 3 viện đại học lớn: Sài Gòn, Huế, Cần Thơ và đại học cộng đồng ở Tây Ninh, Mỹ Tho, Long Xuyên. Trình độ dân trí tiến không ít. Nếu không bị chiến tranh, ai ai cũng thấy miền Nam không thể thua Nhật, Nam Hàn.

*

Những bài liên quan về tội ác của cộng sản trong Mậu Thân Huế đã đăng trên Danlambao:

Chúng vẫn múa, hát trên những xác người
Để kỷ niệm 50 năm thảm sát Mậu Thân
Những phiên tòa của nền văn minh
Những hố chôn người trong cuộc thảm sát Mậu Thân tại Huế
- Biến cố Mậu Thân: Cuộc thảm sát tại Khe Đá Mài - Hồi ức của một chứng nhân
50 năm cuộc thảm sát Mậu Thân (1968-2018)
Mật lệnh tấn công tết Mậu Thân
Cuộc tấn công Mậu Thân 1968 trong hoàn cảnh chính trị lịch sử thế giới
Đã bị hố vì Triển lãm Đấu Tố, còn cả ngố khi Kỷ niệm Mậu Thân
Tội ác bí ẩn của Thảm sát Mậu Thân
Toàn cảnh trước biến cố Mậu Thân (1968)
Đón xuân này nhớ xuân xưa
Hát trên những xác người 
"Tám Nẻo Đường Thành" 
50 năm máu vẫn chưa khô trên thành phố Huế (1968-2018) 
Những người lính Bắc Việt bị xiềng vào súng trong cuộc tổng tấn công Mậu Thân 
Tổng kết cuộc chiến tết Mậu Thân (1968) 
Nén hương tưởng niệm những nạn nhân Tết Mậu Thân Huế 
50 năm Tội ác Mậu Thân Huế 
50 năm - Mậu Tuất (2018) uất nghẹn Mậu Thân (1968) (Từ tiết lộ của người trong cuộc… Nguyễn Đắc Xuân) 
Tại sao đổi lịch tết Mậu Thân? 
Cuộc chiến Mậu Thân trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà 
So sánh giữa vụ khủng bố 9-11 của Al Qaeda tại Mỹ và vụ khủng bố của cộng sản Bắc Việt vào dịp Tết Mậu Thân
Lệnh tấn công tết Mậu Thân của cộng sản 
Chuyên đề Mậu Thân - Bài 1 - Cộng sản tự hào về thảm sát ở Huế
Chuyên đề Mậu Thân - Bài 2 - Một vụ thảm sát bình thường vào đầu xuân 1968...
Chuyên đề Mậu Thân - Bài 3 - Tất cả đều bị đập bể đầu 
Chuyên đề Mậu Thân - Bài 4 - Đã tìm thấy ngót 2.000 xác
Chuyên đề Mậu Thân - Bài 5 
Chuyên đề Mậu Thân - Bài 6 
Chuyên đề Mậu Thân - Bài 7 - "Khi năm Tuất đến, Huế vẫn còn khóc cho Tết năm Thân..."
Thảm sát Mậu Thân 1968
Mậu Thân 68: CSVN đang lấy “mỡ lợn rán thịt heo”!
Tiếng tù và Mậu Thân của Lê Phong Lan
Lê Phong Lan và đồng bọn có còn là con người nữa không?
Gửi bà Lê Phong Lan và đồng bọn!
Lê Phong Lan: láo xác chết, lừa người sống
Đồng bào Huế gửi “quà Xuân” cho nữ đạo diễn Lê Phong Lan
Lê Phong Lan và bộ phim: “Chạy tội cho CSVN”
Mậu Thân 1968: “Guinness” nói láo của CSVN
Vị Thẩm Phán Cuối Cùng: Lương Tâm
Mậu Thân 1: Đòn đánh nhá của Tướng Giáp
Mậu Thân 2: Độc thủ của Bác
Mậu Thân 3: Công lao của Bác
Phong Lan - con đường Bi-đác
Mậu Thân 1968: Kẻ đồ tể & Nhân chứng sống (Cập nhật)
Kỷ vật Mậu Thân
Xác nào là em tôi, dưới hố hầm này!?
Nỗi đau Tết Mậu Thân chưa có phút nào nguôi!
Phim Mậu Thân 1968 - một canh bạc bịp
45 năm sau Mậu Thân - Máu vẫn chưa khô trên thành phố Huế
Mậu Thân trong tâm khảm một nhà thơ
Nghệ thuật dối trá
Những sự thật không thể chối bỏ (phần 14) - Ai làm cho Huế đau thương?
Hãy nói trước ngày chết
Mậu thân Huế - Câu chuyện của Nguyễn Thị Thái Hòa
Những con tắc kè ảo vọng 
Biến cố Tết Mậu Thân 1968: Trường hợp Lê Văn Hảo 
Quanh việc chối tội tham gia thảm sát trong biến cố tết mậu thân của Hoàng Phủ Ngọc Tường qua bài phỏng vấn của bs Nguyễn Đức Tùng 
Hãy lột mặt nạ CSVN tẩy rửa Wikipedia

Ý kiến bạn đọcCộng sản biến con người  VN trở thành... kém hơn cả loài ác thú dã man nhất. thua con thú vì con thú không gíết hại đồng loại,trừ trường hợp bất khả kháng.Thật ra thì bọn CS chúng chẳng có lý tưởng gì cả mà chỉ bị khích động lòng tham không đáy,giết người không gớm tay chỉ để cướp của và nắm quyền lực mà thôi.Cho nên ,sau khi chiếm trọn được miền Nam thì CSVN  hiện nguyên hình là một đảng mafia,sẳn sàng bán nước đất đai tài nguyên cho ngoại bang để có tiền bằng mọi giá?Tại sao cộng sản không chấp nhận tôn giáo,vì tôn giáo cấm sát sanh hại vật đi ngược lại chủ trương hiếu sát thú tính của thời kỳ con người còn ăn lông ở lỗ,phản tiến hóa .Khi nói đến VC   là người ta liên tưởng ngay đến những tên sát nhân,như cọp beo có thể hại mình bất cứ lúc nào nên làm sao không sợ hải cho được,vì cái thú tính không được thuần hoá bằng tôn giáo có thể nổi dậy bất ngờ?Con thú dữ chỉ sợ đám đông  vì thế nếu mọi người dân đều đồng lòng đứng lên đập chết nó thì chính nó sẽ khiếp sợ mà cúp đuôi - VLH, SG, Vietnam

Hơn hẳn HCM đánh thuê cho Nga, Tàu giết gần chục triệu người VN, Km Jong Un vẫn còn tình người và nghĩa đồng bào


Kim Jong Un ‘‘hài hước’’ khi tiếp phái đoàn Hàn Quốc

mediaBữa tiệc tối của lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong Un và phái đoàn Hàn Quốc, Bình Nhưỡng, ngày 5/3/2018.KCNA/via Reuters

Hồ sơ hạt nhân Bắc Triều Tiên đột ngột chuyển biến mạnh với sự kiện Thế Vận Hội Mùa Đông Pyeongchang, cho phép hai miền Triều Tiên xích lại nhau một cách ngoạn mục. Đặc biệt đáng chú ý là chuyến đi miền Bắc của phái đoàn cao cấp miền Nam. Theo tiết lộ của hai quan chức tham gia phái đoàn trực tiếp gặp gỡ lãnh đạo tối cao Bắc Triều Tiên, nhân vật mà tổng thống Mỹ mệnh danh là « nhóc tì tên lửa » (Little Rocket Man) tỏ ra là một người biết đùa và lịch thiệp.

Hãng tin Reuters dẫn lại hai nguồn tin của chính phủ Hàn Quốc xin ẩn danh, cho hay trong bữa tiệc khoản đãi các vị khách miền Nam ngày thứ Hai (05/03/2018), lãnh đạo Bắc Triều Tiên tỏ ra « ý thức rõ » về hình ảnh rất bất lợi cho mình trên truyền thông quốc tế, và thậm chí đã nhiều lần đưa ra các bình luận hài hước, « nhẹ nhàng ». Bữa tiệc với rất nhiều rượu soju Triều Tiên truyền thống và đặc sản mỳ lạnh (món naengmyeon), diễn ra chỉ ít giờ sau khi phái đoàn miền Nam đặt chân tới Bình Nhưỡng.

Theo ghi nhận của quan chức phủ tổng thống Hàn Quốc, trong cuộc hội kiến với đoàn miền Nam, ông Kim Jong Un là người đầu tiên đề cập đến các chủ đề « nhạy cảm », như khả năng Mỹ - Hàn nối lại các tập trận song phương, vốn được hoãn lại để tạo điều kiện cho Thế Vận Pyeongchang diễn ra suôn sẻ. Nhân vật này tâm sự : « chính lúc đó, chúng tôi nhận ra rằng các nỗ lực của hai miền Nam Bắc Triều Tiên, khởi sự từ khi tổng thống Moon Jae In nhậm chức (đầu năm 2017), nay đã mang lại kết quả ».

Trong bữa tiệc tiếp phái đoàn Hàn Quốc, lãnh đạo Bắc Triều Tiên nói vui là, việc Bình Nhưỡng ngừng thử tên lửa sẽ giúp cho tổng thống Hàn Quốc Moon Jae In không phải thức dậy vào mỗi sáng sớm, để chủ trì cuộc họp hội đồng an ninh quốc gia.

Ông Kim Jong Un còn nói thêm : « Nếu đàm phán có bị gián đoạn, căng thẳng trở lại, tổng thống (Hàn Quốc) và tôi có thể dễ dàng giải quyết với một cú điện thoại » qua đường dây nóng, mà Seoul và Bình Nhưỡng dự định thiết lập.

Cũng theo nguồn tin trên, lãnh đạo trẻ Bắc Triều Tiên tỏ ra rất thân mật và « bình đẳng » với vợ, bà Ri Sol Ju, điều có thể gây ngạc nhiên đối với các thành phần bảo thủ trong xã hội Hàn Quốc.

Thận trọng về mức độ hài hước của lãnh đạo họ Kim

Về mức độ hài hước của lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong Un, chính quyền Hàn Quốc dù sao cũng tỏ ra dè dặt. Theo Yonhap, trong một thông báo hôm qua, Nhà Xanh – tức phủ tổng thống Hàn Quốc – đã bác bỏ một số lời nói đùa, được cho là của Kim Jong Un, mà một số tờ báo loan tải, đặc biệt là việc ông Kim hài hước về chuyện mình bị giễu là người « vừa béo, vừa lùn ».

Người phát ngôn phủ tổng thống Hàn Quốc lưu ý : « chỉ có năm đặc phái viên Hàn Quốc tham gia vào bữa ăn tối nói trên » mới biết được chính xác là « chủ tịch Bắc Triều Tiên » thực sự nói gì, và truyền thông không nên đưa ra những bình luận có thể gây tổn hại cho quá trình hòa dịu trên bán đảo Triều Tiên.

Không khí bông đùa dường như lây lan

Dù sao, không thể không ghi nhận một điều là quan hệ giữa hai miền Nam Bắc Triều Tiên đã thay đổi đột ngột. Từ chỗ căng thẳng gần như tột cùng, với các lời lẽ đe dọa dữ dội khiến chiến tranh tưởng như đã cận kề, ngay trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc, chỉ mới hồi cuối năm ngoái, giờ đây lãnh đạo Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và Hoa Kỳ vừa quyết định sẽ tổ chức các hội kiến trong tháng Tư và tháng Năm tới.

Không khí « vui đùa » dường như cũng lan sang cả giới quân sự. Theo hãng tin Hàn Quốc Yonhap, hôm thứ Năm tuần trước (08/03), trong buổi làm việc với đô đốc Scott Swift tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ, bộ trưởng Quốc Phòng Hàn Quốc Song Young Moo còn tuyên bố « quan hệ Nam - Bắc » đang có triển vọng cải thiện, Mỹ có thể không cần đưa thêm các vũ khí chiến lược, như tàu ngầm hạt nhân, tham gia tập trận như mọi năm.

Lời nói đùa của bộ trưởng Quốc Phòng Hàn Quốc bị chỉ trích mạnh trong một bộ phận công luận, người ta phê phán ông có những nhận định bất cẩn vào « một thời điểm nhạy cảm ». Ngay sau đó, bộ Quốc Phòng Hàn Quốc đã có lời cải chính, cho rằng đây chỉ là một câu nói « bông đùa », nhưng cũng là một cách để cảm ơn chỉ huy hải quân Mỹ - chuẩn bị về hưu – về những nỗ lực « không mệt mỏi » của ông hậu thuẫn Hàn Quốc đối phó với Bắc Triều Tiên trong những năm vừa qua. Bộ trưởng Quốc Phòng Hàn Quốc nhân dịp này nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác giữa hai đồng minh nhằm duy trì đà đối thoại giữa hai miền Nam Bắc Triều Tiên, được khởi động trở lại nhân Thế Vận Hội Pyeongchang.

Không ngu ác như CSVN, Bắc Hàn không nghe lệnh ngoại bang gâychiến tranh tương tàn

Thượng đỉnh Donald Trump - Kim Jong Un : Mỹ-Hàn-Triều đều hưởng lợi

mediaLãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong Un (T), tổng thống Mỹ Donald Trump (Ảnh ghép của Reuters)Reuters

Tổng thống Mỹ Donald Trump sẵn sàng chấp nhận đề nghị của lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong Un về một cuộc gặp thượng đỉnh mà không đôi co điều kiện tiên quyết.

Tiến triển ngoạn mục trong hồ sơ Bắc Triều Tiên được đích thân cố vấn an ninh Hàn Quốc thông báo và được Nhà Trắng xác nhận hôm qua 08/03/2018 đã khiến giới quan sát không khỏi bất ngờ. Có gì được mất, khi mỗi bên tự nhún mình một chút để tiến bước dài hơn?

Thông báo về một cuộc gặp thượng đỉnh lịch sử Mỹ - Bắc Triều Tiên là bước đột phá tích cực nhất trong một chuỗi các diễn tiến ngoại giao làm giảm căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên kể từ khi Bình Nhưỡng đồng ý tham gia Thế Vận Hội Mùa Đông Pyeongchang hồi tháng Hai. Song song với chiến dịch ngoại giao thể thao là những cuộc tiếp xúc trong không khí hòa dịu hiếm có giữa hai miền Triều Tiên.

Không ít các chuyên gia phân tích tỏ hoài nghi cho rằng chấp nhận nguyên tắc một cuộc gặp thượng đỉnh trong khi mà chưa đàm phán ngoại giao gì trong hậu trường tức là Mỹ đã cho không Bắc Triều Tiên những gì mà họ đang tìm kiếm.

Ông Jeffrey Lewis, thuộc viện nghiên cứu chiến lược Middlebury nhận định : «Bắc Triều Tiên từ 20 năm qua đã cố gắng có được một cuộc gặp thượng đỉnh với tổng thống Mỹ. Đó chính xác là mục tiêu ưu tiên của chính sách đối ngoại của Bình Nhưỡng».

Theo chuyên gia Lewis thì Kim không mời gặp Trump để giao nộp vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên mà là nhằm để « chứng minh rằng đầu tư vào khả năng hạt nhân và tên lửa đạn đạo đã buộc Hoa Kỳ đối xử với Bắc Triều Tiên bình đẳng ».

Chuyên gia Antoine Bondaz, giảng viên trường Khoa học Chính trị Pháp thì cho rằng, một cuộc gặp thượng đỉnh như vậy có lợi cho cả hai bên. Trả lời phỏng vấn RFI, chuyên gia Bondaz phân tích :

«Bắc Triều Tiên và Kim Jong Un đã đạt được mục tiêu chính trị của mình. Ngay từ tháng 11 năm 2016, Kim Jong Un đã tuyên bố hoàn thiện sức mạnh quân sự và hạt nhân. Giờ đây ông ta triển khai sáng kiến ngoại giao. Còn ông Trump tỏ cho thấy cũng là người thắng. Bởi vì sau ông là cộng đồng quốc tế gây áp lực tối đa với Bắc Triều Tiên, vì ông không phải là người đầu tiên nhượng bộ, Bắc Triều Tiên đã thông báo ngừng tạm thời các cuộc thử hạt nhân và tên lửa đạn đạo».

Lời mời của Kim Jong Un được Donald Trump đón nhận nhanh chóng không theo các thể thức ngoại giao thông thường để chuẩn bị cho một cuộc gặp thượng đỉnh. Vì thế mà dư luận vẫn rất thận trọng, nhất là khi tính tới những khả năng nhượng bộ. Chuyên gia Bondaz khẳng định :

«Phía Mỹ sẽ không có nhượng bộ về các trừng phạt quốc tế chừng nào chưa có các biện pháp cụ thể hướng tới giải trừ hạt nhân. Vì thế vẫn phải tôn trọng trừng phạt của Liên Hiệp Quốc. Vấn đề đặt ra giờ đây không còn là chuyện có đàm phán giữa Washington và Bình Nhưỡng nữa mà là các nhượng bộ mà Mỹ và Bắc Triều Tiên sẵn sàng chấp nhận.»

Cốt lõi của mọi cuộc đàm phán trong hồ sơ Bắc Triều Tiên vẫn là giải trừ hạt nhân của Bình Nhưỡng. Liệu mục tiêu này có đạt được trong cuộc đối thoại tay đôi giữa Kim Jong Un và Donald Trump hay không ? Về điểm này chuyên gia Bondaz nhận định :

«Vấn đề giải trừ hạt nhân trong ngắn hạn không phải là kịch bản khả tín hiện nay. Nhưng cái mà Bắc Triều Tiên có thể làm, ngoài việc ngưng các vụ thử, là ngừng cả chương trình hạt nhân. Tức là không chế tạo vũ khí hạt nhân, làm giàu thêm urnium nữa. Ngừng cả chương trình nhất thiết phải có các cuộc thị sát và thanh sát quốc tế nhất là của AIEA. Đây chính là điều mà Bắc Triều Tiên trong quá khứ cực kỳ hay thay đổi.»

Những cử chỉ thiện chí của hai bên đang củng cố bầu không khí hòa dịu trên bán đảo Triều Tiên. Sau các nỗ lực ngoại giao làm cầu nối cho đối thoại, chính quyền Moon Jae-in dường như đã được Washington và Bình Nhưỡng lắng nghe thấu hiểu hơn. Seoul trở thành nhân tố tích cực tìm kiếm cơ hội giải quyết hồ sơ hạt nhân Bắc Triều Tiên, một trong những hồ sơ gai góc nhất thế giới hiện nay.

Vẫn còn quá sớm để nói đến nội dung hay kết quả được đặt lên bàn cuộc gặp thượng đỉnh Trump-Kim. Có điều chắc chắn là cuộc đối thoại, nếu diễn ra, sẽ không hề dễ dàng chút nào, như ngoại trưởng Trung Quốc, hôm nay đã cảnh báo, đó sẽ không phải là «ván bài giải trí».

Không dã man dộc ác ngu si làm con bài cho ngoại bang như CSVN, lời nhắn gửi của ông Kim Jong-un sau màn biểu diễn lịch sử của sao K-pop

Dân trí Trong một động thái chưa từng có tiền lệ, nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un đã tới dự chương trình biểu diễn âm nhạc K-pop của các ca sĩ Hàn Quốc - chương trình nhằm xoa dịu căng thẳng giữa hai miền.
 >> Ông Kim Jong-un "phá lệ" xem sao Hàn Quốc biểu diễn
 >> Dàn ca sĩ Hàn Quốc lần đầu sang Triều Tiên biểu diễn sau 10 năm
 >> Bản tin chi tiết hiếm hoi của Triều Tiên về chuyến thăm Trung Quốc của ông Kim Jong-un


Dân trí Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un và phu nhân hôm nay đã tới xem chương trình biểu diễn lịch sử của đoàn nghệ thuật Hàn Quốc tại Bình Nhưỡng theo thỏa thuận giữa hai nước, Bộ Văn hóa Hàn Quốc cho biết hôm nay 1/4.
 >> Dàn ca sĩ Hàn Quốc lần đầu sang Triều Tiên biểu diễn sau 10 năm
 >> Hàn Quốc: Triều Tiên từng đề xuất lập cộng hòa liên bang

 Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un (trái) và Bộ trưởng Văn hóa Hàn Quốc vỗ tay khi xem chương trình biểu diễn. (Ảnh: AFP)

Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un (trái) và Bộ trưởng Văn hóa Hàn Quốc vỗ tay khi xem chương trình biểu diễn. (Ảnh: AFP)

Yonhap dẫn nguồn tin truyền thông địa phương cho biết, nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un và phu nhân Ri Sol-ju đã tới dự chương trình biểu diễn của đoàn nghệ thuật gồm 160 người của Hàn Quốc tại Nhà hát lớn Đông Bình Nhưỡng hôm nay 1/4.

Trong đoàn nghệ thuật này có 11 các nghệ sĩ nổi tiếng của Hàn Quốc như Cho Yong-pil, Lee Sun-hee, Choi Jin-hee, nhóm nhạc Red Velvet và ca sĩ Seohyun của ban nhạc Girls' Generation.

 Ông Kim Jong-un cùng các quan chức cấp cao Triều Tiên ngồi trên khán đài VIP xem chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ Hàn Quốc. (Ảnh: Korea Times)

Ông Kim Jong-un cùng các quan chức cấp cao Triều Tiên ngồi trên khán đài VIP xem chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ Hàn Quốc. (Ảnh: Korea Times)

Đây là chương trình nghệ thuật đầu tiên của các nghệ sĩ Hàn Quốc tại Triều Tiên trong vòng 10 năm qua. Các chương trình nghệ thuật được kỳ vọng sẽ mang lại bầu không khí hòa hoãn trước khi hai nước tổ chức hội nghị thượng đỉnh giữa hai nhà lãnh đạo vào ngày 27/4 tới.

 Các nghệ sĩ Hàn Quốc trên sân khấu. (Ảnh: Korea Times)

Các nghệ sĩ Hàn Quốc trên sân khấu. (Ảnh: Korea Times)

Ông Kim Jong-un là lãnh đạo đầu tiên của Triều Tiên tham dự chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ Hàn Quốc. Ngoài ông Kim Jong-un, các quan chức cấp cao khác của Triều Tiên cũng tới dự chương trình biểu diễn như em gái Kim Yo-jong, Chủ tịch Quốc hội Triều Tiên Kim Yong-nam. Bộ trưởng Văn hóa Hàn Quốc Do Jong-hwan cho biết, trong lúc xem biểu diễn, ông Kim cũng đã hỏi về nội dung của các bài hát mà ca sĩ Hàn Quốc biểu diễn.

Không những "phá lệ" với việc tham dự chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ Hàn Quốc, ông Kim Jong-un còn cho rằng, hai nước cần tổ chức những chương trình giao lưu văn hóa thường xuyên hơn nữa.

 Ban nhạc Red Velvet tới Triều Tiên biểu diễn. (Ảnh: SCMP)

Ban nhạc Red Velvet tới Triều Tiên biểu diễn. (Ảnh: SCMP)

Các quan chức Hàn Quốc và Triều Tiên tuần trước đã nhất trí rằng các nghệ sĩ Hàn Quốc sẽ có chuyến đi kéo dài 4 ngày tới Bình Nhưỡng.

Quyết định cho phép ca sĩ Hàn Quốc biểu diễn tại Bình Nhưỡng của ông Kim Jong-un được cho là khá bất ngờ bởi K-pop vốn bị coi là một trong những điều “cấm kỵ” ở Triều Tiên khi quan hệ hai bên trở nên căng thẳng.

Minh Phương

Theo Yonhap

 Ông Kim Jong-un vẫy chào từ trên khán đài VIP nơi diễn ra chương trình biểu diễn của nghệ sĩ Hàn Quốc tối 1/4. (Ảnh: EPA)

Ông Kim Jong-un vẫy chào từ trên khán đài VIP nơi diễn ra chương trình biểu diễn của nghệ sĩ Hàn Quốc tối 1/4. (Ảnh: EPA)

Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un mỉm cười, thậm chí chụp ảnh chung cùng với dàn nhạc K-pop của Hàn Quốc.

Sự xuất hiện của ông Kim và phu nhân Ri Sol-ju ở khán đài nơi diễn ra chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ K-pop của Hàn Quốc là điều chuwa từng có khi trước giờ Triều Tiên luôn tìm cách ngăn chặn cái gọi là sự du nhập của văn hóa nhạc pop Hàn Quốc.

Ông Kim bắt tay các thành viên của Red Velvet, ban nhạc nổi tiếng nhất của Hàn Quốc. Sau khi xem Red Velvet biểu diễn, ông Kim Jong-un được cho là đã ca ngợi chương trình nghệ thuật này là “món quà dành cho người dân Bình Nhưỡng”

 Ông Kim Jong-un gặp gỡ các nghệ sĩ Hàn Quốc. (Ảnh: Reuters)

Ông Kim Jong-un gặp gỡ các nghệ sĩ Hàn Quốc. (Ảnh: Reuters)

Chương trình biểu diễn kéo dài 2 giờ đồng hồ tại Nhà hát lớn Đông Bình Nhưỡng là một phần trong nỗ lực nhằm xoa dịu căng thẳng chính trị giữa hai nước láng giềng. Các nghệ sĩ Hàn Quốc đã đáp máy bay xuống Bình Nhưỡng hôm 31/3 với sứ mệnh ngoại giao.

Chương trình nghệ thuật này diễn ra chỉ vài tuần trước khi diễn ra hội nghị thượng đỉnh giữa nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un và Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in.

 Ông Kim Jong-un và phu nhân chụp ảnh chung với các nghệ sĩ Hàn Quốc. (Ảnh: Reuters)

Ông Kim Jong-un và phu nhân chụp ảnh chung với các nghệ sĩ Hàn Quốc. (Ảnh: Reuters)

Đây là lần đầu tiên nhà lãnh đạo Triều Tiên xem biểu diễn âm nhạc Hàn Quốc ngay tại thủ đô Bình Nhưỡng. Ông Kim và phu nhân Ri là hai trong số hàng trăm khán giả Triều Tiên có mặt tại Nhà hát lớn Đông Bình Nhưỡng để thưởng thức chương trình nghệ thuật của nghệ sĩ Hàn Quốc.

Những tràng pháo tay lớn đã vang lên khi ông Kim và phu nhân bước vào hội trường. Sự chú ý đổ dồn vào phản ứng của ông Kim Jong-un với màn biểu diễn của các ca sĩ Hàn Quốc, đặc biệt là ban nhạc Red Velvet. Red Velvet là ban nhạc 5 thành viên với lối biểu diễn hiện đại, giọng hát của họ từng được quân đội Hàn Quốc dùng làm “vũ khí” trong cuộc chiến tranh tâm lý nhằm vào các binh sĩ Triều Tiên ở biên giới.

 Ông Kim Jong-un và phu nhân xem chương trình biểu diễn. (Ảnh: Reuters)

Ông Kim Jong-un và phu nhân xem chương trình biểu diễn. (Ảnh: Reuters)

Giới chức Hàn Quốc cho biết, Triều Tiên đã không phản đối bất cứ bài hát hay điệu nhảy nào của các sao nhạc K-pop. Ông Kim Jong-un còn nhắn gửi các quan chức Hàn Quốc rằng: “Hãy gửi lời nhắn của tôi tới Tổng thống Moon rằng chương trình giao lưu nghệ thuật này thật ý nghĩa. Tôi biết nhiều người quan tâm liệu tôi có tới và xem Red Velvet biểu diễn hay không. Cảm ơn các bạn vì đã mang món quà này tới cho người dân Bình Nhưỡng”.

Kim Yerim, một thành viên của Red Velvet, nói rằng: “Khán giả đã vỗ tay rất lớn và thậm chí hát cùng ca sĩ”.

Phát biểu với báo giới sau khi kết thúc chương trình nghệ thuật, Bộ trưởng Văn hóa Hàn Quốc Do Jong-hwan cho biết, ông Kim “tỏ ra rất thích thú và đã hỏi về lời các bài hát”.

Việc ông Kim chấp nhận sự hiện diện của Red Velvet nói riêng và văn hóa nhạc pop Hàn Quốc nói chung được coi là điều hiếm thấy. Từng du học Thụy Sĩ, ông Kim Jong-un được cho là có tư tưởng cởi mở hơn đối với văn hóa ngoại nhập so với những người tiền nhiệm.

Minh Phương

Theo NYTimes

Thảm Sát Mậu Thân 1968 - Tội ác tàn bạo của cộng sản Hà Nội hơn ...

https://www.youtube.com/watch?v=JdSF3QapbSs
Feb 16, 2015 - Uploaded by HaiNgoai PhiemDam
Thảm Sát Tết Mậu Thân 1968 - Tội ác tàn bạo man rợ của cộng sản Hà Nội hơn cả ISIS ngày nay 



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Chúc mừng Giáng Sinh [23.12.2017 21:04]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Miền Trung đứng lên cứu quốc: Biểu tình khắp các tỉnh không khiếp sợ CS bắt bớ khắp nơi [NEW]
Uất hận trào dâng, đồng bào cả nước can đảm đứng lên đòi lại đất nước, một mất một còn ta sẽ thắng [NEW]
Lãnh đạo CSVN thờ kính TQ nhưng khinh bỉ dân VN: Ông Trọng mạ lỵ dân, bà Ngân lẻo mép dạy đời
Khủng bô Công An TPHCM: Nổ lớn tại trụ sở công an phường, 1 công an nhập viện
Tại sao lại là Bình Thuận? Công an dã man đánh thiếu niên Nguyễn Minh Kha và nhiều đồng bào chí tử - Dân phóng hỏa đốt nhà công an ban đêm
Tâm Thư LM Lý gửi Chức Sắc thuộc 6 Giáo Hội Phật Giáo tại VN thờ giặc Hồ mãi quốc- PHẬT TỬ CÙNG ĐỨNG LÊN TRẢ NỢ TỔ QUỐC
Chỉ có tổng biểu tình toàn quốc mới giải phóng được dân tộc VN thoát khỏi nô lệ Tàu - Cách băng qua rào kẻm gai
Trong khi đảng CSVN đưa ra bán nước, tàu Trung Quốc xua đuổi 20 tàu cá Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa
Người Việt định cư ở Mỹ từ năm 1980 bị tử vong trong khi bị giam chờ trục xuất
Những kẻ ăn cơm Quốc-Gia thờ ma Cộng-sản ngày ấy, bây giờ ra sao?
Nhờ công lao đảng CSVN, toàn bộ lãnh thổ Việt Nam đã an bài trong tay Trung Quốc
Người Việt có tiền mua ngay thị trấn ở California chỉ 900,000$US được làm thị trưởng
QH Việt Nam sẽ lo ‘dịch chuyển đám mây ảo’?
Lãnh đạo CSVN bỏ chạy, Nguyễn Phú Trọng gọi quân đội về bảo vệ tư dinh và chính trị bộ có tin sắp đảo chính
Chính phủ Hoa Kỳ kêu gọi Việt Nam trả tự do cho công nhân Mỹ bị bắt trong cuộc biểu tình

     Đọc nhiều nhất 
Hiện tượng Thích Chân Quang: Trung Quốc là anh, Việt Nam là em… em phải lễ phép với anh, Lý Thường Kiệt vô lễ [Đã đọc: 1562 lần]
30-4: Hãy trả về cho dân tộc [Đã đọc: 1376 lần]
Cháy nhà máy Đài Loan có nhiều lao động Việt Nam, 5 lính cứu hỏa hy sinh [Đã đọc: 1160 lần]
Xót xa trước hình ảnh MC Nguyễn Ngọc Ngạn phải thở oxy trước giờ giờ ra sân khấu [Đã đọc: 1122 lần]
Lụi tàn làng Việt tại Philippines - Nữ Việt kiều Anh bị khủng bố ở VN [Đã đọc: 1120 lần]
Cái bắt tay lịch sử của Triều Tiên là tấm gương cho CSVN học tập, làm theo [Đã đọc: 996 lần]
Hồi tưởng ngày giải phóng, nổi kinh hoàng của dân tộc VN [Đã đọc: 952 lần]
Mỹ cảnh báo “hậu quả” nếu Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông, dân VN đứng lên đòi lại Hoàng Trường Sa [Đã đọc: 894 lần]
Dân VN khủng hoảng niềm tin thất vọng đạo CS bác Hồ rủ nhau theo tà đạo Hội Thánh Đức Chúa Trời [Đã đọc: 884 lần]
Vụ Trịnh Xuân Thanh: Slovakia ‘triệu tập đại sứ VN’ [Đã đọc: 811 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.