Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Mười 2018
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31        
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 5
 Lượt truy cập: 11385686

 
Khoa học kỹ thuật 19.10.2018 11:27
Thắng cuộc chiến tranh, dù chưa thắng Mỹ một trận nào
03.02.2018 21:23

John McCain, for The Wall Street Journal - Việt-Long dịch thuật 

Thắng cuộc chiến tranh, dù chưa thắng Mỹ một trận nào

John McCain III, phi công chiến đấu của hạm đội 7, 1965
John McCain III, phi công chiến đấu của hạm đội 7, 1965
Document photo

Thượng Nghị Sĩ John McCain là con trai của Đô đốc John McCain Jr., Tư lệnh các lực lượng Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương trực tiếp tham chiến tại Việt Nam. Ông là John McCain III, phi công chiến đấu của hạm đội 7, bị bắn rơi trên trời Hà Nội vào tháng 10 năm 1967, trải qua tù ngục, tra tấn, bệnh hoạn gần chết trong thời gian bị giam cầm làm tù binh chiến tranh tại nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội.

Ông gặp tướng Võ Nguyên Giáp hai lần. Lần đầu tại một bệnh viện quân đội nơi ông được đưa tới điều trị sau khi bị bắn rơi (trước bị đưa vào tù). Thân phụ của ông là Tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương nên nhiều nhân vật cao cấp của Việt Nam chú ý và đến xem ông, bên cạnh những lính gác đông đảo và các nhân viên thẩm vấn làm việc hằng ngày. Người mà ông nhận ra duy nhất là tướng Giáp, lúc đó là Bộ trưởng Quốc phòng. Ông Giáp chỉ nhìn ông, không nói gì, rồi rời đi sau chốc lát.

Lần thứ nhì ông McCain gặp ông Giáp là trong thập niên 1990, thời gian ông lui tới Việt Nam thảo luận vấn đề POW-MIA và tái lâp quan hệ ngoại giao song phương. Ông yêu cầu bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch và thứ trưởng Lê Mai dàn xếp cho ông một cuộc phỏng vấn ngắn ngủi với nhân vật mà ông gọi là vị tướng huyền thoại, Tư lệnh Quân đội Nhân dân Bắc Việt.

mccain-maivanon
Nghị sĩ McCain công du Việt Nam năm 1996, gặp và ôm lấy "lão dân quân" Mai Văn Ơn, người đã đội mưa bom nhảy xuống hồ kéo phi công McCain vào bờ lúc ông bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội hôm 26 tháng 10, 1967.Photo courtesy dailymail.co.uk
Hôm sau ông được đưa vào phòng khánh tiết Bắc bộ phủ, nơi tướng Giáp tiếp đón ông nồng nhiệt. Ông mô tả tướng Giáp lúc đó vóc người nhỏ nhắn, tươi vui, có tuổi nhưng nhanh nhẹn, mặc bộ veston màu xám, thắt cra-vát, trông không giống như tăm tiếng được biết đến trong thời chiến như một chiến sĩ hung hãn và nóng tính.  Hai người vỗ vai nhau giống như những chiến hữu cũ gặp lại nhau hơn là những cựu thù.

Ông John McCain III đã hy vọng sẽ hỏi được về vai trò lịch sử của ông Võ Nguyên Giáp, vì từ khi về Mỹ năm 1973 ông đã đọc tất cả mọi sách vở có thể tìm được về chiến tranh Việt- Pháp và Việt- Mỹ, khởi đầu với cuốn  "Địa ngục chật chội" của ký giả Bernard Shaw viết về trận Điện Biên Phủ, biến cố quân sự đặt dấu chấm hết cho chế độ thuộc địa của Pháp và làm lộ ra thiên tài của ông Giáp khiến thế giới sửng sốt.

Ông muốn nghe ông Giáp mô tả lại trận đánh gần hai tháng đó, giải thích làm cách nào đem được đại pháo xuyên núi cao vào chế ngự thung lũng Điện Biên khiến người Pháp kinh ngạc, cùng với một kỳ công khác là công cuộc tiếp vận qua đường mòn Hồ Chí Minh. Ông McCain nói ông biết tướng Giáp tự hào với danh tiếng "Napoleon Đỏ" và đoán rằng ông Giáp sẽ vui lòng đáp ứng cơ hội thỏa mãn óc tò mò của ông McCain về chiến công của mình. Ông muốn hai người cư xử với nhau như hai sĩ quan cựu thù đã hưu trí, nhắc lại những sự kiện lịch sử mà trong đó ông Giáp đóng một vai trò chủ chốt, còn ông McCain chỉ giữ một vai trò nhỏ bé.

Nhưng vị nghị sĩ Hoa Kỳ đã thất vọng khi tướng Giáp chỉ trả lời những câu hỏi của ông rất vắn tắt, nói thêm chút ít vào những điều ông đã biết, rồi vẫy tay tỏ vẻ không thích thú. Ông Giáp nói "Đó đã hoàn toàn là chuyện quá khứ, ông với tôi nên thảo luận một tương lai ở nơi đó hai nước chúng ta không là thù mà là bạn." Thế là câu chuyện trở thành cuộc thảo luận giữa hai nhà chính trị, đề tài đã đưa ông McCain đến Việt Nam.

general-giap
Tướng Võ Nguyên Giáp, khoảng thập niên 1960 - Photo courtesy cafebiz.comPhoto courtesy cafebiz.com
Nghị sĩ McCain cho rằng tướng Giáp là bậc thầy về tiếp vận, hay "hậu cần", nhưng danh tiếng của ông vang xa hơn thế. Những chiến thắng của ông là nhờ chiến lược kiên trì mà ông Giáp và ông Hồ Chí Minh tin là sẽ thành công - với quyết tâm không lay chuyển khi hứng chịu những tổn thất khổng lồ và cả một đất nước gần như bị hủy diệt để chiến thắng mọi kẻ thù dù hùng mạnh đến đâu.

Ông Hồ từng nói với người Pháp "Các ông giết 10 người chúng tôi, chúng tôi chỉ giết 1 người các ông, nhưng rốt cuộc các ông sẽ chán nản bỏ cuộc trước". Tướng Giáp thi hành chiến lược đó với một nghị lực cứng rắn. Quân Pháp đẩy lui hết đợt tấn công trực diện này đến đợt khác ở Điện Biên Phủ. Trân công kích Tết 1968 là thảm họa quân sự tiêu diệt hết đạo quân Việt Cộng. Nhưng tướng Giáp kiên quyết, và rốt cuộc thắng thế.

Người Mỹ không hề thua một trận chiến nào trước quân Bắc Việt, nhưng thua cả cuộc chiến. Khi thắng được cuộc chiến tranh là một nước chiến thắng, không phải quân đội của nước đó thắng. Ông Giáp hiểu điều đó. Hoa Kỳ không hiểu. Nước Mỹ chán ghét và mệt mỏi vì cảnh chết chóc và bắn giết trước khi người Việt Nam bỏ cuộc. "Khó lòng biện giải cho đạo nghĩa của chiến lược ấy. Nhưng chúng ta không thể chối bỏ sự thành công của nó", nghị sĩ McCain viết.

Gần cuối cuộc hội kiến, ông McCain lại cố trắc nghiệm tính chân thật của ông Giáp. Ông hỏi có đúng là ông Giáp đã phản đối cuộc xâm lăng Campuchia không. Ông Giáp bác bỏ điều đó bằng cách nói theo kiểu "Mọi quyết định của đảng đều luôn luôn đúng"

Cuộc gặp gỡ kết thúc với câu trả lời đó. Hai người bắt tay, và đúng lúc ông McCain quay bước, tướng Giáp nắm cánh tay ông, và nói nhẹ nhàng :"Ông đã là một kẻ địch đầy danh dự"

Nghị sĩ McCain kết luận: ông không biết tướng Giáp nói điều đó để so sánh Hoa Kỳ với những kẻ thù nghịch khác, Trung Quốc, Nhật Bản, hay người Pháp, là kẻ thù đã giết vợ ông, hay câu nói ngụ ý nhìn nhận người Mỹ đã chiến đấu vì lý tưởng hơn là vì đế quốc, và tinh thần nhân đạo cũng góp phần vào cuộc chiến bại.

Hay có thể ông Giáp chỉ muốn chiều lòng vị khách? Nhưng dù tướng Giáp có ý thế nào, nghị sĩ McCain nói, rằng ông cũng tán thưởng cảm nghĩ ấy
Lê Duẩn 'thắng Mỹ nhưng cái giá quá cao'
Đám tang Hồ Chí Minh năm 1969Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTác giả Zachary Shore nói ông Lê Duẩn (hàng đầu bên trái) đã nắm quyền kể cả khi Chủ tịch Hồ Chí Minh còn sống nhưng già yếu

Với 26 năm liên tục đảm nhận cương vị Bí thư thứ Nhất và Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam, Lê Duẩn được Đảng Cộng sản gọi là "chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng".

Tuy vậy, đến vài năm gần đây, giới nghiên cứu nước ngoài mới bắt đầu có những bài viết chi tiết hơn về chính khách này.

Vai trò ý thức hệ trong cuộc cách mạng cộng sản ở Việt Nam

Ông Diệm không thoát nổi 'ảnh hưởng của Mỹ'

Trong bài về ông Lê Duẩn trên tạp chí Journal of Cold War Studies năm 2015, sử gia Zachary Shore, nhận xét:

"Người ta đã viết nhiều về con người và chính sách của Hồ Chí Minh, nhưng ảnh hưởng mạnh mẽ của Lê Duẩn lên chiến lược thì ít được quan tâm."

Nhân dịp kỷ niệm ngày 30/4 năm nay, sử gia Zachary Shore, từ Trường hải quân hệ sau cao học của Mỹ (Naval Postgraduate School), cho BBC biết nhận định của ông về tầm nhìn chiến lược của ông Lê Duẩn trong chiến tranh:

Zachary Shore: Dường như Lê Duẩn là người quyết định rất nhiều trong chiến lược chống Mỹ của Hà Nội. Theo sau thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ 1954, và thậm chí có thể là sớm hơn, Lê Duẩn đã ghi dấu Mỹ là kẻ thù chính của Hà Nội.

Một thập niên sau, đến thời điểm Tổng thống Johnson leo thang, Lê Duẩn đã mài sắc các nhận định chiến lược. Đến giữa thập niên 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã già, yếu và dần chuyển thành nhân vật lãnh đạo tượng trưng. Trong suốt Chiến tranh Việt Nam, chủ yếu quyết định nằm trong tay Lê Duẩn và cánh tay phải của ông, Lê Đức Thọ.

BBC: Trong bài nghiên cứu của mình (2015), ông nói Lê Duẩn hiểu rõ kẻ thù, đánh giá đúng ý định của đối phương. Ông có thể nói rõ hơn?

Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson và ông Lê Duẩn (hình minh họa)Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTổng thống Mỹ Lyndon Johnson và TBT Lê Duẩn (hình minh họa)

Chìa khóa để hiểu kẻ thù là nắm bắt động cơ và những hạn chế của đối thủ. Lê Duẩn hiểu rõ những hạn chế của Mỹ trong suốt cuộc chiến. Tuy vậy, cái nhìn của ông ấy về những động cơ của Mỹ thì mù mờ hơn.

Lê Duẩn nhận ra Mỹ bị lúng túng vì những cam kết khắp thế giới. Khác với Bắc Việt, có thể tập trung toàn lực chống Mỹ, Mỹ thì bận rộn kiềm chế chủ nghĩa cộng sản ở châu Âu, chống các phong trào cánh tả ở châu Phi, Trung và Nam Mỹ, kiềm chế chiến tranh và hòa bình ở Trung Đông.

Hồ sơ cho thấy Lê Duẩn nhận ra Mỹ lo lắng về thương vong. Vì thế ông ta ra hẳn yêu cầu: phải giết được 40 đến 50.000 lính Mỹ trong vài năm sau khi Mỹ leo thang. Nhờ nhận ra những hạn chế chủ yếu của Mỹ, Lê Duẩn soạn nên các chiến lược đánh vào những điểm yếu nhất của kẻ thù.

BBC: Ông có cho rằng nếu ông Lê Duẩn không làm lãnh đạo trong đảng, mục tiêu thống nhất đất nước của Hà Nội có thể không thành vào năm 1975?

Dĩ nhiên không thể nói chắc được. Một số nhận định của Lê Duẩn không có tính tiên tri. Ông đánh giá nhầm mức ủng hộ cho chủ nghĩa cộng sản ở Nam Việt Nam. Ông hy vọng tổng nổi dậy ở miền Nam nhưng nó không xảy ra.

Tuy vậy, ông là xung lực, có lẽ là quan trọng nhất, đằng sau nỗ lực thống nhất đất nước bằng mọi giá. Đáng buồn là cái giá mà ông áp đặt lên nhân dân Việt Nam thật quá to lớn.

BBC: Theo ông, quyết định tổng tiến công Mậu Thân 1968 có phải là sai lầm lớn nhất của ông Lê Duẩn trong chiến tranh?

Nếu xét số thương vong, được ước đoán khoảng hàng chục ngàn người, đợt tấn công Mậu Thân phải được xem là sai lầm chiến thuật.

Ông Lê Duẩn là Bí thư thứ Nhất, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (1960-1986)Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionÔng Lê Duẩn là Bí thư thứ Nhất, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (1960-1986)

Tuy vậy, nó lại trở thành chiến thắng chiến lược do nó đã làm đảo ngược sự ủng hộ chiến tranh trong dân chúng Mỹ.

Chúng ta vẫn không biết chắc liệu Lê Duẩn có nhìn ra trước kết quả bước ngoặt này không. Chúng ta đành phải đồn đoán, tranh cãi chừng nào nhiều kho tư liệu còn đóng cửa. Một ngày nào đó, khi giới sử gia được tiếp cận đủ hồ sơ, chúng ta mới biết được khả năng đánh giá của Lê Duẩn đến đâu, và tư duy chiến lược của ông đã tác động đến cuộc chiến như thế nào.

Tư liệu:

Bà Nguyễn Thị Bình hỏi về 'số đông Đảng viên'

Lê Duẩn và 'chiến tranh vì hòa bình' - BBC Tiếng Việt

Bài tiếng Anh trên BBC

BBC Tiếng Việt phỏng vấn vợ của cố TBT Lê Duẩn

Ông Hoàng Văn Hoan và vụ thanh trừng 1979

1975: Việt Nam có thắng Mỹ?
Trong bài “Thắng và bại”, từ kinh nghiệm chiến tranh ở Iraq, tôi nêu lên nhận định: Thắng và bại là một vấn đề phức tạp, gắn liền với một chu cảnh (context) nhất định. Có khi người ta thắng một trận đánh nhưng lại thua một cuộc chiến tranh; có khi thắng một cuộc chiến tranh nhỏ nhưng lại thua một cuộc chiến tranh lớn. Hoặc ngược lại. Cũng có khi người ta thua hẳn một cuộc chiến tranh nhưng lại thắng trong hòa bình, sau đó.

Từ chuyện thắng và bại, nhân tháng Tư, thử nhìn lại chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-75.

Liên quan đến cuộc chiến tranh ấy, cho đến nay, hầu như mọi người đều khẳng định: Việt Nam (hiểu theo nghĩa là miền Bắc Việt Nam) đã thắng Mỹ. Bộ máy tuyên truyền Việt Nam lúc nào cũng ra rả điều đó. Ngay người Mỹ cũng tự nhận là họ thua: Đó là cuộc chiến tranh đầu tiên mà họ thua trận! Điều đó đã trở thành một chấn thương dữ dội đối với một siêu cường quốc số một thế giới như Mỹ khiến nhiều người trong họ không ngừng trăn trở. Chiến tranh Việt Nam, do đó, với họ, trở thành một cuộc-chiến-chưa-kết-thúc (unfinished war) hoặc một chiến tranh vô tận (endless war) theo cách gọi của các học giả.

Dĩ nhiên, nhiều người nghĩ khác. Họ không chấp nhận họ thua trận với một trong ba lý do chính.

Một, một số người cho, về phương diện quân sự, quân đội Mỹ hầu như luôn luôn chiến thắng, hơn nữa, tính trên tổng số thương vong, họ bị thiệt hại ít hơn hẳn đối phương: trong khi Mỹ chỉ có 50.000 người chết, phía miền Bắc, có khoảng từ một triệu đến một triệu rưỡi người bị giết (từ phía người Việt Nam, chúng ta biết rõ điều này: Trong đó có rất nhiều dân sự ở cả hai miền!) Những người này cho họ chỉ thua trên mặt trận chính trị; và trong chính trị, họ không thua Bắc Việt, họ chỉ thua… những màn ảnh tivi hằng ngày chiếu những cảnh chết chóc ghê rợn ở Việt Nam trước mắt hàng trăm triệu người Mỹ, từ đó, làm dấy lên phong trào phản chiến ở khắp nơi. Nói cách khác, Mỹ không thua Bắc Việt: Họ chỉ thua chính họ, nghĩa là họ không thể tiếp tục kéo dài chiến tranh trước sự thiếu kiên nhẫn của quần chúng, trước quyền tự do ngôn luận và phát biểu của quần chúng, trước nhu cầu phát triển kinh tế trong nước.

Hai, một số người khác lại lý luận: Mặc dù Mỹ thua trận năm 1975, nhưng nhìn toàn cục, họ lại là người chiến thắng. Một người Mỹ gốc Việt, Viet D. Dinh, giáo sư Luật tại Đại học Georgetown University, trên tạp chí Policy Review số tháng 12/2000 và 1/2001, quan niệm như vậy, trong một bài viết có nhan đề “How We Won in Vietnam” (tr. 51-61): “Chúng ta thắng như thế nào tại Việt Nam.” Ông lý luận: Mỹ và lực lượng đồng minh có thể thua trận tại Việt Nam nhưng họ lại thắng trên một mặt trận khác lớn hơn và cũng quan trọng hơn: Cuộc chiến tranh lạnh chống lại chủ nghĩa Cộng sản trên toàn thế giới (tr. 53). Hơn nữa, cùng với phong trào đổi mới tại Việt Nam cũng như việc Việt Nam tha thiết muốn bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ, Mỹ cũng đã thắng trên mặt trận lý tưởng và thiết chế: Cuối cùng thì Việt Nam cũng đã theo Mỹ ít nhất một nửa: tự do hóa thị trường (Còn nửa kia, dân chủ hóa thì chưa!) (tr. 61).

Một số người khác lại cho, sau khi rút quân khỏi Việt Nam, nhìn lại, người Mỹ thấy Việt Nam đang lủi thủi chạy theo sau mình trên con đường tư bản hóa. Họ khẳng định: “Chúng ta đã chiến thắng cuộc chiến tại Việt Nambằng cách rút quân ra khỏi nơi đó.”


Ba, một số người khẳng định dứt khoát: Mỹ không hề thua Bắc Việt. Chiến thắng của miền Bắc vào tháng Tư 1975 là chiến thắng đối với miền Nam chứ không phải đối với Mỹ. Lý do đơn giản: Lúc ấy, hầu hết lính Mỹ đã rút khỏi Việt Nam. Trước, ở đỉnh cao của cuộc chiến, Mỹ có khoảng nửa triệu lính ở Việt Nam. Sau Tết Mậu Thân, thực hiện chính sách Việt Nam hóa chiến tranh, lính Mỹ dần dần rút khỏi Việt Nam: Tháng 8/1969, rút 25.000 lính; cuối năm, rút thêm 45.000 người nữa. Đến giữa năm 1972, lính Mỹ ở Việt Nam chỉ còn 27.000. Tháng 3/1973, 2.500 người lính cuối cùng rời khỏi Việt Nam. Từ đó, ở Việt Nam, Mỹ chỉ còn khoảng 800 lính trong lực lượng giám sát đình chiến và khoảng gần 200 lính Thủy quân lục chiến bảo vệ Tòa Đại sứ ở Sài Gòn. Trong trận chiến cuối cùng vào đầu năm 1975, lúc Bắc Việt tiến vào Sài Gòn, không có cuộc giao tranh nào giữa Việt Nam và Mỹ cả. Chính vì vậy, một số người Mỹ đặt câu hỏi: Tại sao có thể nói là chúng ta thua trận khi chúng ta đã thực sự chấm dứt cuộc chiến đấu cả hơn hai năm trước đó?

Có thể tóm tắt lập luận thứ ba ở trên như sau: Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ chỉ bỏ cuộc chứ không thua cuộc.

Một số người phản bác lập luận ấy. Họ cho: bỏ cuộc tức là không hoàn thành được mục tiêu mình đặt ra lúc khai chiến; không hoàn thành mục tiêu ấy cũng có nghĩa là thua cuộc. Không có gì khác nhau cả.

Nhưng ở đây lại nảy ra một vấn đề: Mục tiêu Mỹ đặt ra lúc tham gia vào chiến tranh Việt Nam là gì?

Có hai mục tiêu chính:

Một, giúp đỡ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam trong cuộc đối đầu với chế độ Cộng sản ở miền Bắc.

Hai, ngăn chận làn sóng Cộng sản từ Trung Quốc đổ xuống Việt Nam, và từ đó, toàn bộ vùng Đông Nam Á.

Tập trung vào mục tiêu thứ nhất, nhiều người cho Mỹ thua trận ở Việt Nam. Đó là điều không thể chối cãi được: cuối cùng, vào ngày 30/4/1975, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã sụp đổ.

Tuy nhiên, xin lưu ý: trong hai mục tiêu trên, mục tiêu thứ hai mới là quan trọng nhất. Khi lính Mỹ mới được điều sang Việt Nam, họ luôn luôn được nhắc nhở đến mục tiêu thứ hai: “Nếu chúng ta không đến đây để ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản, chúng ta có thể sẽ phải chiến đấu chống lại nó ở San Francisco sau này.” Mục tiêu đầu, nhằm xây dựng một chế độ dân chủ không Cộng sản ở miền Nam, chỉ thỉnh thoảng mới được nhắc đến.

Có thể nói mục tiêu thứ nhất được đặt ra để cụ thể hóa mục tiêu thứ hai. Nói cách khác, chính vì muốn ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản, Mỹ mới nhảy vào giúp chính quyền miền Nam. Mục tiêu thứ nhất, như vậy, chỉ là hệ luận của mục tiêu thứ hai. Nó chỉ là mục tiêu phụ.

Liên quan đến mục tiêu thứ hai, nên nhớ đến thuyết Domino vốn xuất hiện từ năm 1951, thời kỳ đầu của chiến tranh lạnh, và được xem là nền tảng lý thuyết cho các chính sách đối ngoại của Mỹ kể từ đầu thập niên 1960 trở đi. Dựa trên thuyết Domino, chính phủ Mỹ tin là: Nếu Đông Dương rơi vào tay Cộng sản, Miến Điện và Thái Lan sẽ bị Cộng sản chiếm gần như ngay tức khắc. Sau đó, sẽ rất khó khăn, nếu không muốn nói là bất khả, để cho Indonesia, Ấn Độ và các nước khác tiếp tục nằm ngoài quỹ đạo thống trị của Cộng sản Xô Viết.” Nghĩ như thế, chính phủ Mỹ đã xem Miền Nam như một tiền đồn để ngăn chận hiểm họa cộng sản.

Nếu chỉ nhìn vào mục tiêu thứ hai này - mục tiêu ngăn chận làn sóng Cộng sản ở Đông Nam Á - không thể nói là chính phủ Mỹ thất bại. Ngược lại. Năm 1972, sau chuyến viếng thăm Trung Quốc của Tổng thống Nixon, Mỹ đã thành công ở ba điểm: Một, bước đầu bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước để, tuy chưa hẳn là bạn, họ cũng không còn thù nghịch với nhau như trước nữa; hai, khoét sâu mối mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Liên Xô để hai nước đứng đầu khối Cộng sản này không còn thống nhất với nhau; và ba, làm giảm bớt sự ủng hộ và trợ giúp của Trung Quốc đối với Bắc Việt.

Với ba sự thành công ấy, Mỹ an tâm được ba điều: Một, khi Trung Quốc và Liên Xô đã bị phân hóa, khối Cộng sản không còn mạnh và do đó, cũng không còn quá nguy hiểm như trước. Hai, khi khối Cộng sản không còn mạnh, đặc biệt khi Trung Quốc đang rất cần duy trì quan hệ hòa bình với Mỹ để phát triển kinh tế và tranh giành ảnh hưởng với Liên Xô, Trung Quốc sẽ không còn tích cực “xuất cảng cách mạng” ở các nước khác trong vùng Đông Nam Á. Và ba, như là hệ quả của hai điều trên, Mỹ tin chắc: ngay cả khi miền Bắc chiếm được miền Nam và ngay cả khi cả Campuchia và Lào đều rơi vào tay Cộng sản thì chủ nghĩa Cộng sản cũng không thể phát triển sang các nước khác như điều họ từng lo sợ trước đó.

Với ba sự an tâm trên, Mỹ quyết định rút quân ra khỏi Việt Nam. Với họ, mục tiêu thứ hai, tức mục tiêu quan trọng nhất, đã hoàn tất thì mục tiêu thứ nhất trở thành vô nghĩa. Miền Nam chỉ còn là một nước cờ chứ không phải là một ván cờ. Họ thua một nước cờ nhưng lại thắng cả một ván cờ.

Thắng ở ba điểm:

Một, sau năm 1975, chủ nghĩa Cộng sản không hề phát triển ra khỏi biên giới Lào và Campuchia. Các nước láng giềng của Đông Dương vẫn hoàn toàn bình an trước hiểm họa Cộng sản.

Hai, sau khi chiếm miền Nam, chủ nghĩa Cộng sản ở Á châu không những không mạnh hơn, mà ngược lại, còn yếu hơn hẳn. Yếu ở rất nhiều phương diện. Về kinh tế, họ hoàn toàn kiệt quệ. Về quân sự, họ liên tục đánh nhau. Về đối nội, họ hoàn toàn đánh mất niềm tin của dân chúng, từ đó, dẫn đến phong trào vượt biên và vượt biển rầm rộ làm chấn động cả thế giới. Về đối ngoại, họ hoàn toàn bị cô lập trước thế giới với những hình ảnh rất xấu: Ở Khmer Đỏ là hình ảnh của sự diệt chủng; ở Việt Nam là hình ảnh của sự độc tài và tàn bạo; ở Trung Quốc, sự chuyên chế và lạc hậu. Cuối cùng, về ý thức hệ, ở khắp nơi, từ trí thức đến dân chúng, người ta bắt đầu hoang mang hoài nghi những giá trị và những tín lý của chủ nghĩa xã hội: Tầng lớp trí thức khuynh tả Tây phương, trước, một mực khăng khăng bênh vực chủ nghĩa xã hội; sau, bắt đầu lên tiếng phê phán sự độc tài và tàn bạo của nó. Một số trí thức hàng đầu, như Jean-Paul Sartre, trở thành những người nhiệt tình giúp đỡ những người Việt Nam vượt biên.

Ba, vào năm 1990, với sự sụp đổ của Liên Xô, của bức tường Berlin và của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Mỹ toàn thắng trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa Cộng sản. Ván cờ kéo dài nửa thế kỷ giữa chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa tư bản đã kết thúc.

Nhìn vào ba sự thành công ấy, khó có thể nói Mỹ đã thua trận ở Việt Nam. Lại càng không thể nói là miền Bắc Việt Nam đã thắng Mỹ.

Cũng cần lưu ý đến những sự thay đổi trong bản chất của chiến tranh. Từ giữa thế kỷ 20 trở về trước, hầu hết các chiến lược gia, khi nghĩ về chiến tranh, đều cho cái đích cuối cùng là phải chiến thắng một cách tuyệt đối. Tiêu biểu nhất cho kiểu chiến thắng tuyệt đối ấy là cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai. Ở cả hai lần, những kẻ thù của phe Đồng minh đều tuyên bố đầu hàng. Ranh giới giữa thắng và bại rất rõ. Rõ nhất là ở Nhật Bản. Sức tàn phá kinh hồn của hai trái bom nguyên tử do Mỹ thả xuống Hiroshima và Nagasaki đã chứng tỏ sức mạnh vô địch không thể chối cãi được của người chiến thắng.

Tuy nhiên, sau hai quả bom ấy, bản chất chiến tranh và cùng với nó, ý nghĩa của chiến thắng, hoàn toàn thay đổi. Trong chiến tranh lạnh, cả Mỹ lẫn Liên Xô đều có bom nguyên tử. Lúc nào cũng muốn tiêu diệt nhau nhưng cả hai đều biết rất rõ cái điều Albert Einstein từng cảnh cáo: “Tôi không biết trong chiến tranh thế giới lần thứ ba người ta đánh bằng gì, nhưng trong chiến tranh thế giới lần thư tư, người ta sẽ chỉ có thể đánh nhau bằng gậy và đá.” Thành ra, người ta vừa chạy đua chế tạo thật nhiều, thật nhiều vũ khi nguyên tử vừa biết trước là chúng sẽ không được sử dụng. Không nên được sử dụng. Không thể được sử dụng. Để tránh điều đó, chiến tranh toàn diện (total war) biến thành chiến tranh giới hạn (limited war); chiến tranh thế giới biến thành chiến tranh khu vực, ở một số điểm nóng nào đó. Ý nghĩa của cái gọi là chiến thắng, do đó, cũng đổi khác: bên cạnh cái thắng/bại về quân sự có cái thắng/bại về chính trị và bên cạnh cái thắng/bại có tính chiến thuật có cái thắng/bại có tính chiến lược.

Với những thay đổi ấy, chuyện thắng hay bại lại càng trở thành phức tạp hơn.

Phần kết luận, có hai điểm tôi xin nói cho rõ:

Thứ nhất, tôi chỉ muốn tìm hiểu một sự thật lịch sử chứ không hề muốn bênh vực cho Mỹ.

Thứ hai, dù Mỹ thắng hay bại, sau biến cố tháng 4/1975, miền Nam vẫn là nạn nhân. Trên phạm vi quốc tế, ngoài miền Nam Việt Nam, Đài Loan là một nạn nhân khác, tuy không đến nỗi bất hạnh như chúng ta.

Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
  • 16x9 Image

    Nguyễn Hưng Quốc

    Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.
  • Thảm sát Mậu Thân- Tội ác muôn đời không quên - Định Nguyên


    Viết bài nầy, tôi không có mục đích tường thuật biến cố đau thương nầy. Chuyện nầy đã có hằng chục, hằng trăm người viết rồi. Hơn nữa, Tết Mậu Thân tôi đang thụ huấn tại Sài Gòn, và hứng trận trực tiếp biến cố nầy ở đó. Riêng Huế, quê tôi, nơi chịu trận nặng nề nhất, tôi chỉ chứng kiến những hậu quả tang thương bởi bàn tay tội ác của VC.




    Vào khuya Mồng Một Tết Mậu Thân, tôi cùng người anh con ông bác ruột (đang thụ huấn tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung) được ra phép Tết và ở lại nhà một người chị bà con ớ Phú Nhận. Đang ngủ, chừng 1-2 giờ sáng gì đó, bỗng nghe súng nổ tứ phía và liên tục, có khi đạn xéo đâu gần nhà. Chúng tôi biết có chuyện nhưng chẳng biết đích xác chuyện gì.

    1968 SG (56) by manhhai, o­n Flickr
    Thay vì nụ cười , quần áo mới .... em bé với nước mắt lưng tròng , với run rẩy , sợ hãi đến với tuổi thơ Việt Nam

    Sáng ra vẫn chưa biết điều gì đã xẩy ra, cho đến gần trưa nghe thông báo từ trực thăng mới biết VC đang tấn công Bộ Tổng Tham Mưu và phi trường Tân Sơn Nhất (nhà chị tôi ở gần đó). Cũng theo kêu gọi từ trực thăng, chúng tôi cùng đồng bào phải nhanh chân di tản ra khỏi khu vực. Hai anh em tôi đang chạy trên đường Võ Di Nghi thì bị trực thắng nhà ta quạt cho một loạt đạn.

    42-15436492 by manhhai, o­n Flickr
    manhhai Follow
    42-15436492 
    February 1968, Saigon, Vietnam --- The bodies of victims of a rocket attack lie in front of a building at 213 Tu Do Street in Saigon during the Tet Offensive. --- Image by © Christian 

    Tôi suýt chết vì một viên viên đạn bay như gió, vèo qua tai, chạm phải cửa sắt nhà người ta. Tôi nhặt viên đạn còn nóng bỏ túi, đem về làm kỷ niệm. Nếu viên đạn ấy nhích qua nhích về một tí thì tôi đã xong đời rồi. Có lẽ mấy ông trực thăng tưởng hai anh em tôi là VC vì anh tôi mặc áo lính còn tôi thì mặc sắc phục cảnh sát, khác với đám thường dân chạy loạn bên cạnh. Chiều hôm đó, anh tôi trình diện Tiểu Khu Gia Định, tôi lần mò về Học Viện, không dám tự ý đi đâu, nếu không được điều động làm công tác.

    BE020444 by manhhai, o­n Flickr
    1968, Saigon, South Vietnam --- ARVN Troops Encircle Vietcong Hideout --- Image by © Bettmann/CORBIS

    Cuối năm 1968, tôi tốt nghiệp và được về Huế làm việc. Thành phố Huế trước ngày tôi đi và bây giờ khác nhau một trời một vực. Tất cả đã đổ nát. Sự đổ nát của Cố đô Huế thật khủng khiếp. Hoàng Thành tang hoang, cầu Trường Tiền gãy gục xuống sông Hương, phố xá phần lớn sập đổ, đường sá loang lổ vết đạn…

    HUE 1968 - Người tỵ nạn trên cầu Trường Tiền Huế by manhhai, o­n Flickr
    HUE 1968 - Người tỵ nạn trên cầu Trường Tiền Huế 
    19th February 1968: Vietnamese woman and baby, two of the refugees crossing the 'Perfume River' during the Vietnam war. (Photo by Terry Fincher/Express/Getty Images)
  • Bi
    ến 
    cố Tết Mậu Thân xẩy ra đã đúng 50 năm (1968 – 2018) nhưng đối với dân miền Nam Việt Nam, đặc biệt là xứ Huế, nỗi đau vẫn còn đó, vết thương lở loét chẳng bao giờ lành. Ngoài cố đô bị tàn phá tan tành, niềm đau mất mát người thân kéo dài đến bây giờ bởi sự ngang ngược của chế độ cộng sản. Cho đến nay họ vẫn chà đạp lên nỗi thống khổ của người dân, coi đó là “chiến thắng lịch sử”.



Nga liệt kê 7 nguyên nhân lớn quân Mỹ thất bại ở Việt Nam

VIỆT DŨNG

 

(GDVN) - Mỹ thất bại trong chiến tranh Việt Nam do chiến tranh du kích, ý chí quân Mỹ kém

Binh sĩ Mỹ triệt thoái phía sau (ảnh nguồn Tân Hoa xã)

Tờ "Nước Nga" ngày 15 tháng 1 đưa tin, ngày 15 tháng 1 năm 1973, quân Mỹ và quân đồng minh chấm dứt các hành động quân sự ở Việt Nam. Sau khi trải qua 4 năm đàm phán ở Paris, các bên tham chiến đạt được thỏa thuận, ký kết hiệp ước hòa bình vào ngày 27 tháng 1, đã kết thúc chiến cuộc chiến tranh bắt đầu từ năm 1965 này.

Quân Mỹ tổn thất 58.000 người, đã rời khỏi Việt Nam trong bộ dạng "lấm đầy bụi đất". Các nhà sử học, chính trị và quân sự đến nay vẫn không thể trả lời rõ ràng vấn đề này: Người Mỹ làm thế nào mà lại thua cuộc chiến này, bởi vì họ chưa từng thua cuộc chiến nào?

Tờ báo "Nước Nga" của chính quyền Nga đã tổng kết quan điểm của các chuyên gia về vấn đề này, đã đưa ra 7 nguyên nhân lớn khiến cho quân Mỹ thất bại ở Việt Nam, trong đó, viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc đứng cuối cùng. Nguyên nhân cụ thể như sau:

1. Vũ điệu địa ngục rừng cây

Binh sĩ quân Mỹ cho biết, chiến tranh Việt Nam là điệu nhảy disco địa ngục rừng cây. Quân Mỹ tuy có ưu thế mang tính áp đảo về vũ khí và binh lực, năm 1968 quân Mỹ có trên 540.000 quân ở Việt Nam, nhưng không thể chiến thắng lực lượng du kích của Việt Nam. Cho dù đã ném bom rải thảm (quân Mỹ tổng cộng ném 6.700.000 tấn bom ở Việt Nam) cũng không thể đưa Việt Nam quay trở về thời kỳ đồ đá. Thậm chí, thương vong của quân Mỹ và quân đồng minh lại tăng lên một cách "ổn định".

Máy bay chiến đấu Su-30MK2 tiên tiến nhất của Việt Nam hiện nay, mua của Nga (ảnh minh hoạ)

Trong Chiến tranh Việt Nam, quân Mỹ tổng cộng có 58.000 quân bị thiệt mạng, 2.300 quân mất tích, hơn 150.000 quân bị thương. Hơn nữa, danh sách thương vong được Mỹ chính thức thống kê chưa bao gồm người Puerto Rico do Mỹ thuê. Các chiến dịch quân sự cá biệt của quân Mỹ tuy thành công, nhưng Tổng thống Nixon biết rõ, Mỹ không thể giành được thắng lợi cuối cùng.

2. Tinh thần của quân Mỹ suy sụp

Trong Chiến tranh Việt Nam, quân Mỹ tiến hành đào ngũ là hiện tượng tương đối phổ biến. Võ sĩ quyền anh hạng nặng nổi tiếng Mỹ Cassius Clay khi lên đỉnh cao sự nghiệp của mình đã tình nguyện quy y đạo Hồi, đổi tên là Mohamed Ali, cũng muốn chạy trốn nghĩa vụ quân sự. Do đó, anh ta bị tước hết danh hiệu quán quân, bị cấm tham gia tất cả giải đấu trên 3 năm.

Sau Chiến tranh, Tổng thống Ford năm 1974 đề nghị đặc xá tất cả những lính đào ngũ và từ chối tham gia binh dịch, kết quả hơn 17.000 người tự thú. Năm 1977, chủ nhân mới của Nhà Trắng, Tổng thống Carter đã đặc xá cho những công dân đào ngũ và rời khỏi Mỹ.

Tên lửa phòng không SA-3 Việt Nam

3. Chiến tranh phi nghĩa

Một sĩ quan chỉ huy Quân đội Việt Nam từng nói với nhà sử học Mỹ, cựu binh Chiến tranh Việt Nam David Heick Worth rằng, tinh thần chiến đấu của binh sĩ Việt Nam rất cao, trong khi đó, dự trữ bom và tên lửa của quân Mỹ lại nhanh chóng bị tiêu hao.

Tuy Việt Nam tương đối yếu về mặt vật chất, nhưng ý chí chiến đấu và nghị lực mạnh hơn quân Mỹ. 

Nhà sử học Mỹ Davidson tán thành với quan điểm này, cho rằng, trong toàn bộ thời gian của cuộc chiến tranh, Mỹ rất ít cân nhắc đến hậu quả chính trị, kinh tế và tâm lý của chiến tranh, không ai coi trọng rất nhiều dân thường bị thiệt mạng và sự phá hoại không cần thiết do chiến tranh gây ra, kết quả đã gây ảnh hưởng chính trị tiêu cực.

Hệ thống phòng thủ bờ biển K300P Bastion-P của Việt Nam, mua của Nga hiện nay

4. Chiến tranh nhân dân

Đa số người Việt Nam ủng hộ lực lượng du kích, cung cấp thức ăn, tin tức tình báo, nhân công và sức lao động cho họ. Heick Worth cho rằng, lực lượng du kích và nhân dân như “cá” với “nước” là yếu tố quyết định thắng lợi.

Nhà sử học Mỹ Davidson cho rằng, sách lược chiến tranh giải phóng cách mạng từ khi bắt đầu đã trở thành nhân tố quan trọng cứu vãn và hội tụ Đảng Cộng sản Việt Nam, nếu không có chiến lược này, Việt Nam không thể giành thắng lợi. Cần thông qua chiến lược chiến tranh nhân dân để xem xét Chiến tranh Việt Nam, điều này tuyệt đối không chỉ là vấn đề của con người và trang bị.

5. Đội quân chuyên nghiệp và nghiệp dư

Sự chuẩn bị chiến tranh rừng cây của binh sĩ Quân đội Việt Nam mạnh hơn nhiều quân Mỹ, từ Chiến tranh thế giới thứ hai trở đi, Quân đội Việt Nam luôn chiến đấu để giải phóng Đông Dương, đối thủ đầu tiên là Nhật Bản, sau đó là Pháp, tiếp theo nữa là Mỹ.

Tàu tên lửa lớp Moniya do Nga chế tạo, Việt Nam mua

Heick Worth cho rằng, ở Việt Nam, ông từng gặp được 2 thượng tá của Quân đội Việt Nam, hầu như đã làm tiểu đoàn trưởng 15 năm, trong khi đó, trên chiến trường Việt Nam, nhiệm kỳ bình quân của tiểu đoàn trưởng và lữ đoàn trưởng của Quân đội Mỹ chỉ có 6 tháng.

So sánh như vậy giống như so sánh giữa đội bóng đá chuyên nghiệp và đội nghiệp dư; đội chuyên nghiệp hầu như là huấn luyện viên chuyên nghiệp tiến quân giành giải siêu lớn trong mỗi mùa thi đấu, còn sĩ quan chỉ huy Mỹ giống như người thày giáo toán học lý tưởng hóa, chỉ là người chơi muốn làm tướng cho dù mạo hiểm tính mạng, chỉ muốn làm tiểu đoàn trưởng 6 tháng ở Việt Nam, kết quả Mỹ đã thất bại trong cuộc chiến tranh này.

6. Thái độ phản chiến và hoạt động biểu tình của xã hội Mỹ

Hoạt động biểu tình của hàng vạn người phản đối Chiến tranh Việt Nam đã làm chấn động nước Mỹ. Thanh niên phản chiến đã mở những phong trào mới, cao trào chính là sự kiện "tiến quân vào Lầu Năm Góc".

Tàu hộ vệ tên lửa Lý Thái Tổ HQ012 của Hải quân Việt Nam

Trong thời gian Đại hội Đảng Dân chủ vào tháng 10 năm 1967 tại Washington, tháng 8 năm 1968 tại Chicago, 10 vạn thanh niên phản chiến đã cùng phản đối. John Lennon đã sáng tác ca khúc phản chiến "Hãy cho hòa bình một cơ hội".

Hút thuốc phiện, tự sát, đào ngũ lan tràn trong quân nhân. Cựu binh Mỹ cảm nhận sâu sắc được cái khổ của "Hội chứng Việt Nam", khiến cho hàng nghìn người tự sát. Trong tình hình này, tiếp tục cuộc chiến tranh này đã hoàn toàn không có ý nghĩa gì.

7. Viện trợ của Trung Quốc và Liên Xô

Nếu như nói Trung Quốc chủ yếu cung cấp viện trợ kinh tế và nhân lực, thì Liên Xô cung cấp vũ khí trang bị tiên tiến nhất cho Việt Nam. Căn cứ vào thống kê sơ bộ, Liên Xô viện trợ khoảng 8-15 tỷ USD.

Theo thống kê hiện nay, chi tiêu chiến tranh của quân Mỹ trên 1.000 tỷ USD.

Tàu ngầm Hà Nội lớp Kilo của Hải quân Việt Nam, mua của Nga

Ngoài vũ khí trang bị, Liên Xô còn cử chuyên gia quân sự tới Việt Nam. Từ tháng 7 năm 1965 đến cuối năm 1974, Quân đội Liên Xô tổng cộng có khoảng 6.500 sĩ quan và hơn 4.500 binh sĩ đến Việt Nam tham chiến. Trường quân sự của Liên Xô còn đào tạo hơn 10.000 quân nhân cho Việt Nam. Việt Dũng(VN)

Không Ai Thắng Trong “Cuộc Chiến Việt Nam”

Tác giả: Nguyễn Nhật Huy

Cuộc chiến Việt Nam” là một bộ phim của người Mỹ, làm cho người Mỹ, nhằm giải thích và giải quyết các vấn đề trong xã hội Mỹ. Nó giống như một phiên tâm lý trị liệu mà các bên cùng ngồi xuống và kể câu chuyện của mình. Qua đó mỗi người sẽ hiểu được phần nào suy nghĩ của những người khác, trở nên bao dung và gắn kết với nhau hơn. Mặc dù được xây dựng trên một nền tảng nghiên cứu lịch sử đồ sộ có tính học thuật cao, mục đích chính của Ken Burns và Lynn Novick vẫn là cung cấp một cơ hội giải toả (catharsis) cho người Mỹ sau sang chấn tinh thần Chiến tranh Việt Nam. Sẽ là vô lý nếu đòi hỏi những người Mỹ phải làm phim từ góc nhìn người Việt Nam. Đã có nhận xét cho rằng bộ phim là một trại cải tạo (re-education camp) cho xã hội Mỹ và điều này cũng có thể áp dụng với người Việt. Có rất nhiều bài học và câu hỏi dành cho người Việt từ bộ sử thi này.

Bộ phim có ý nghĩa thế nào với người Việt Nam?

Một bài học giá trị từ bộ phim là tất cả chính quyền, dù ở Mỹ hay ở Việt Nam, đều gian dối và đa số những nhà lãnh đạo đều sẵn sàng hy sinh tính mạng hàng ngàn, thậm chí cả triệu người để thực hiện mục tiêu cá nhân của mình. Sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam bắt đầu từ nỗi lo chủ nghĩa cộng sản sẽ bành trướng nhưng dần dần nó lại bị chi phối chủ yếu bởi nỗi sợ không thắng cử của các Tổng thống Mỹ. Từ Johnson mặc dù biết là không thể chiến thắng nhưng vẫn liên tục gửi quân sang Việt Nam vì sợ bị coi là kẻ thua trận. Nixon vì muốn kiếm thêm phiếu bầu đã xúi giục chính quyền Nguyễn Văn Thiệu tẩy chay đàm phán hoà bình.

Về phía Việt Nam, cuộc chiến khởi đầu như một cuộc tranh đấu cho độc lập dân tộc, chống lại sự thống trị của ngoại bang nhưng sau khi lính Mỹ rút khỏi Việt Nam năm 1973 thì các lãnh đạo Hà Nội vẫn tiếp tục cuộc nội chiến khiến hàng trăm ngàn người bỏ mạng, hàng triệu người mất nhà cửa, gia đình ly tán. Các lãnh đạo cộng sản tuyên bố “Đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng” nhưng họ đa phần cho con em ở hậu phương hoặc đi học ở nước ngoài.

Chiến tranh có đáng?

Trong một đoạn phỏng vấn cho phim tài liệu Hearts and Minds, tướng William Westmoreland, chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt Nam đã nói “Người phương Đông không coi trọng mạng sống như người phương Tây. Mạng sống là vô kể, mạng sống là rẻ mạt ở phương Đông. Và như triết lý phương Đông, mạng sống là không quan trọng.” Tất nhiên Westmoreland đã không thể sai hơn. Nhưng điều gì đã mang lại ấn tượng đó cho ông ta? Trong cuộc chiến Việt Nam, quân đội Mỹ tử trận ở con số hơn 58,000 trong khi ít nhất 250,000 binh sỹ VNCH, hơn một triệu lính VNDCCH và Giải phóng quân cộng thêm hơn hai triệu dân thường ở cả hai miền bỏ mạng. Gần 60,000 người Mỹ thiệt mạng đã gây áp lực khổng lồ lên nước Mỹ phải rút khỏi cuộc chiến nhưng hàng triệu người chết vẫn chưa đủ làm các nhà lãnh đạo Việt Nam chần chừ. Và cũng như người Mỹ sau chiến tranh, nhiều người Việt Nam bắt đầu đặt câu hỏi liệu hơn ba triệu người chết và đất nước bị tàn phát suốt 20 năm có là cái giá đáng để hy sinh?

Tại sao người Việt Nam chưa hoà giải?

Hơn 40 năm sau ngày thống nhất, người Việt Nam đã hoà giải với các cựu thù là người Pháp và người Mỹ. Nhưng sự hoà giải giữa người Việt với người Việt dường như vẫn còn xa vời. Điều này có phải do người Việt thân thiện hơn với người nước ngoài? Hay do những hành động của “bên thắng cuộc” mà đất nước thì thống nhất về quân sự và lãnh thổ nhưng không thống nhất trong lòng người? Lần đầu tiên, 173 năm sau khi Nguyễn Ánh chiếm được Thăng Long từ quân Tây Sơn, người Việt Nam lại có một lãnh thổ thống nhất hình chữ S từ Bắc vào Nam. Và cũng giống như Nguyễn Ánh, những người cộng sản đã tiến hành trả thù một cách có hệ thống với bên thua cuộc, tuy mức độ tàn bạo không giống nhưng quy mô thì gấp nhiều lần. Hàng trăm ngàn người bị giam giữ không qua xét xử, có những người bị giam tới 17 năm, có những người được thả ra vài ngày thì qua đời. Nhiều nghĩa trang quân sự của binh sĩ Việt Nam Cộng Hoà bị san ủi. Sau 30 năm chiến tranh, đất nước bị tàn phá nặng nề và khánh kiệt,  cần tới sức lực, trí tuệ và tâm huyết của tất cả những ai có thể cống hiến thì những người thắng cuộc lại chọn cách trả thù ấu trĩ và nhỏ nhen. Khi kết thúc một cuộc giao tranh, hoà giải có đạt được hay không có lẽ phụ thuộc chính vào tầm vóc và trí tuệ của người chiến thắng.

Ai là người chiến thắng?

Ngày 30/4/1975 Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện lực lượng Quân giải phóng và yêu cầu tất cả binh sĩ Việt Nam Cộng Hoà hạ khí giới. Chính thể tồn tại 20 năm ở miền Nam Việt Nam bị xoá bỏ. Trước đó 2 năm, người Mỹ đã thừa nhận thất bại và rút quân sau 10 năm can thiệp mà không đạt được mục tiêu của mình. Những người cộng sản mừng chiến thắng mà họ phải chiến đấu ròng rã suốt 30 năm. Nhưng liệu có được gọi là chiến thắng khi ngay trong thời bình mà 2 triệu người phải rời bỏ đất nước bất chấp nguy hiểm tới tính mạng?

Những người cộng sản chiến đấu để tạo lập một nước Việt Nam thống nhất dưới chủ nghĩa xã hội nhưng chỉ 10 năm sau chiến tranh, họ lại lựa chọn hình thái kinh tế mà họ từng muốn xoá bỏ bằng mọi giá. Bên thắng cuộc tự hào đã thắng cường quốc số một thế giới nhưng 20 năm sau đó chính người Mỹ lại là bên ra điều kiện khi Việt Nam muốn bình thường hoá quan hệ và hội nhập thế giới. Người Mỹ vì quá tự tin, nghĩ họ phi thường nên đã thua trong chiến tranh Việt Nam. Nhưng Việt Nam sau khi thắng Mỹ và nghĩ mình phi thường nên đã thua ngay trong thời bình.

Nhật Huy

Bị ném bom nguyên tử, vì sao người Nhật không hô hào tiêu diệt nước Mỹ ?

Secret China/Tinh Vệ dịch 

Tướng quân MacArthur là danh tướng của Mỹ. Năm 1942 tướng MacArthur dẫn đại quân tấn công Nhật Bản, từ Melbourne xa xôi đánh thẳng đến Tokyo, hai tay nhuộm máu người Nhật Bản. Vì thế vô số người Nhật muốn xé xác ông, còn ông cũng hận người Nhật thấu xương. 

1.- Vào 2:5 chiều ngày 30/8/1945, tướng quân MacArthur ra khỏi máy bay và đặt chân lên đất Nhật Bản, cho dù ông không mặc quân phục và không mang theo vũ khí gì, cũng không có người tổ chức duyệt binh, nhưng thời khắc đó với 70 triệu người Nhật Bản là thời khắc kinh hoàng mà họ không thể quên, trong tâm trí mọi người chỉ còn nghĩ được hai chữ “mất nước, mất nước, mất nước”.

Nhưng tướng MacArthur mang quân đến vì hòa bình, chính nghĩa, khoan dung và dân chủ


Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh rơi vào suy sụp, đến bữa trưa của Nghị viên Quốc hội cũng phải ăn cơm trộn khoai lang, cái đói bao phủ khắp nơi. Lúc này tướng MacArthur gây áp lực khiến chính phủ Mỹ phải hỗ trợ Nhật Bản, thế là 3,5 triệu tấn lương thực và 2 tỷ Mỹ kim tức tốc được gửi đến Nhật. Ông không chỉ giữ lại chính quyền Nhật Bản mà còn gây áp lực đặc xá cho Thiên hoàng, thậm chí còn quan tâm đến số phận của từng người lính bình thường của Nhật Bản, giúp họ tìm con đường sống.

Theo sau ông, 400 nghìn lính Mỹ đã dùng thiện ý và tinh thần hy sinh để chinh phục người Nhật Bản. Khi đó các con hẻm trong thành phố của Nhật vô cùng chật hẹp, một người Nhật bình thường và một người lính Mỹ to lớn nếu gặp nhau cũng khó khăn để đi qua nhau, vì thế thường thì người lính Mỹ sẽ nép vào một bên cho người Nhật đi trước. Người Nhật không thể không băn khoăn tự hỏi, nếu họ là kẻ chiến thắng thì họ có làm được như thế không?

Sau khi tướng MacArthur đến Nhật Bản, ông lập tức ra lệnh thả tội phạm chính trị, trong đó có rất nhiều Đảng viên Cộng sản, bị chính phủ Nhật bắt giam trong thời gian dài.

2.- Ngày 25/8/1945, quân chiếm đóng của Mỹ cho phép phụ nữ Nhật xây dựng tổ chức của mình; tháng 9 cho công bố Dự luật về vai trò trong bầu cử của phụ nữ Nhật Bản; đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, phụ nữ được quyền bầu cử và ứng cử.

Lúc này tại Tokyo có cô kỹ nữ được chọn làm Nghị viên thành phố, nhiều thị dân cảm thấy khó chấp nhận. Nhưng tướng MacArthur nói, mọi người chọn cô ấy để cô ấy phục vụ mọi người, đừng vì cô ấy là kỹ nữ mà kỳ thị bỏ qua. Khi đó mọi người chợt hiểu người được chọn trong bầu cử dân chủ phải là người thay mặt cho mình để vì mình làm việc, thế là sau khi hiểu ý nghĩa vấn đề họ đã quyết định chọn bầu cô kỹ nữ kia. Kết quả sau khi trở thành Nghị viên, cô đã không phụ lòng mọi người, làm được rất nhiều việc có ý nghĩa.

3.- Vào ngày 11/10/1945, tướng MacArthur tuyên bố bỏ lệnh cấm báo chí, Nhật Bản được tự do thông tin và tự do ngôn luận. Ngày 22/12/1945, ban hành “Luật Công hội”, giai cấp công nhân thực sự có tổ chức của mình. Ngày 1/9/1947, ban hành “Luật lao động”, quy định tiêu chuẩn tiền lương thấp nhất và thời gian làm việc nhiều nhất.

4.- Ngày 3/2/1946, tướng MacArthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh khởi thảo Hiến pháp Nhật Bản. Chính phủ Mỹ truyền đạt nguyên tắc chế định Hiến pháp cho tướng MacArthur là: Chính phủ Nhật Bản phải do toàn thể cử tri trao quyền và phải chịu trách nhiệm trước toàn thể cử tri. Ngày 3/5, quân liên minh giao ra Bản dự thảo Hiến pháp.

5.- Ngày 7/10, Quốc hội Nhật Bản thông qua Hiến pháp. 

6.- Ngày 3/11, Thiên hoàng cho ban hành Tân Hiến pháp.

Đây là Hiến pháp do kẻ chiếm lĩnh chiếu theo giá trị quan phương Tây áp đặt cho kẻ bị chiếm lĩnh, nhưng lại là bản Hiến pháp đem lại phúc lợi cho nhân dân quốc gia bị chiếm lĩnh. Bản Hiến pháp nhấn mạnh quyền lợi công dân cơ bản của người Nhật Bản, xem những quyền lợi này là “quyền lợi trời cho mà không ai có quyền tước đoạt”. Những quyền này bao gồm: quyền bầu cử, lập hội và tự do xuất bản; không có sự tham gia của luật sư thì không được định tội; bảo đảm quyền cư trú an toàn cho dân, cấm kiểm tra và tước đoạt vô cớ. 

7.- Ngày 21/10/1946, Quốc hội đã thông qua “Luật Cải cách ruộng đất”. Chính phủ Nhật Bản mua lại đất đai dư thừa của giới địa chủ, sau đó bán đất lại cho nông dân không có ruộng. Với những nông dân không có tiền mua đất, chính phủ cho vay thế chấp. Tất cả diễn ra không đổ một giọt máu, một mạng người, những người nông dân ai nấy đều có được một phần đất cho mình. 

8.- Ngày 31/3/1947, ban hành “Luật Giáo dục”. Theo đó mục tiêu hàng đầu của giáo dục là “tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình” . Trường học của Nhật Bản không còn nằm trong kiểm soát của chính phủ mà là do Ủy ban Giáo dục do dân chúng bầu ra quản lý. Việc chọn lựa nhà giáo, sách học và bố trí chương trình hoàn toàn do người dân tự chủ quyết định.

Năm 1952, quân chiếm đóng Mỹ trả chính quyền về cho chính phủ Nhật Bản. Sau 7 năm chiếm đóng, người Mỹ cải cách triệt để con đường phát triển của Nhật Bản, chủ quyền quốc gia từ trong tay kẻ chuyên chế trao lại cho người dân Nhật Bản, những tiền đề tiến bộ đầu tiên này giúp người Nhật bước vào con đường thênh thang. Hơn 10 năm sau, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, quốc gia phồn vinh, nhân dân giàu có, xã hội ổn định. Có thể nói thêm một câu, quân chiếm đóng của Mỹ không chi một đồng tiền thuế nào của người dân Nhật Bản, chi phí của họ là lấy từ tiền thuế của người Mỹ.

Người Nhật tổ chức buổi lễ long trọng đưa tiễn tướng quân MacArthur


Trong thời gian chiếm đóng Nhật Bản, rất nhiều người Nhật đã viết thư gửi cho tướng MacArthur yêu cầu biếu tặng điền sản của họ. Nhiều phụ nữ can đảm viết thư đề nghị được hiến thân cho tướng MacArthur, nhiều người còn viết “xin hãy cho tôi được sinh con cho ngài.”

9.- Sáng ngày 16/4/1951, Tổng thống Truman phế bỏ chức Tư lệnh quân chiếm đóng, tướng MacArthur phải về nước, sự kiện này chỉ thông báo cho một số quan chức cấp cao người Nhật biết. Nhưng khi ông ngồi lên ô tô thì mới phát hiện, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật Bản đứng hai bên đường đưa tiễn. Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật Bản: Đại nguyên soái!

Người dân Tokyo đứng chật kín hai bên đường, ai nấy rơi nước mắt, họ như hoàn toàn quên chuyện tướng MacArthur là kẻ chiếm đóng đã đánh bại quân đội quốc gia mình. Thiên hoàng đích thân đến sứ quán đưa tiễn MacArthur, tướng MacArthur cũng xúc động rơi nước mắt, nắm chặt hai tay của Thiên hoàng Hirohito.

Khi đưa tiễn, Thủ tướng Yoshida của Nhật nói: “Tướng quân MacArthur đã cứu chúng tôi ra khỏi nỗi sợ hãi, lo lắng và hỗn loạn của thất bại để đưa chúng tôi vào con đường mới do ông xây dựng, chính Ngài đã gieo trồng hạt giống dân chủ trên đất nước chúng tôi để chúng tôi bước trên con đường hòa bình, tình cảm ly biệt mà nhân dân chúng tôi dành cho Ngài không lời nào có thể diễn tả được.” 

Uy lực quả bom nguyên tử của Mỹ tàn phá thành phố và nền kinh tế của Nhật Bản, nhưng về phương diện tinh thần, nước Mỹ đã hoàn toàn chinh phục được người Nhật Bản.



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Báo chí thời CS [22.07.2018 08:55]
Xe hơi made in Vietnam [05.07.2018 07:21]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Lao nô thời CS: Báo động tình trạng tu nghiệp sinh Việt tử vong liên tiếp tại Nhật [NEW]
Bộ trưởng Indonesia gọi cách đánh bắt của Trung Quốc là “hành vi tội phạm”, Nam Hàn phá tàu TQ,Argentine bắn tàu TQ trong khi CSVN khiếp sợ để tàu TQ giết ngư dân không dám mở miệng! [NEW]
Hai máy bay do Trung Quốc sản xuất rơi liên tiếp ở Myanmar, 3 người chết- VN từ chối nhân viện trợ máy bay TQ!
Mẹ Nấm thoát địa ngục
Diễn biến kinh khủng vụ nhà báo Ả rập nghi bị “phân xác” tại lãnh sự quán
Kế hoạch phản công tái chiếm Hoàng Sa
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cảnh báo Trung Quốc đừng bóc lôt. bắt nạt các nước nhỏ như VN trước chuyến công du châu Á- Người VN nên hiến kế cho TT Trump đánh TQ đòi Hoàng Sa
Mật vụ Mỹ tiết lộ Tổng thống Trump từng thoát âm mưu ám sát ở Philippines
Sắp theo Quang, Trung tướng Phan Văn Vĩnh cựu tổng cụ trưởng Cành Sat bệnh nặng phải nhập viện
Sắp theo Quang, Cựu Trung tướng Phan Văn Vĩnh cựu tổng cụ trưởng Cành Sat bệnh nặng phải nhập viện
Nhà hàng Tàu thịt người: Xác những người di cư bị đông đá rong nhà hàng Tàu Cộng ở Pháp
Vì sao CSVN dung dưỡng bọn Tây ấu dâm làm hại thiếu nhi VN?
Dốt Anh ngữ, đài Truyền hình quốc gia VTV dán nhãn IMF - International Monetary Fund là International Mother Fucker
VN Tỷ Lệ Cao Kỷ Lục Thế Giới Về Ung Thư Gan Vì Nhậu Tới Xơ Gan- Cách trị liệu
Làm nhục TQ: Chánh Văn phòng tòa Bạch Ốc yêu cầu quan chức Trung Quốc xin lỗi dưới cờ Mỹ

     Đọc nhiều nhất 
Bảng Tổng sắp huy chương ASIAD 25/8: Bất ngờ VN thua Campuchia- Thắng túc cầu Syria [Đã đọc: 394 lần]
Nguyễn Ái Quốc đã chết từ năm 1932, HCM là gián điệp người Tàu, lừa cả dân tộc VN gần suốt thế kỷ! [Đã đọc: 335 lần]
Thêm bằng chứng bán nước của CSVN: Quả địa cầu TQ với hình bản đồ Việt Nam không có tỉnh Quảng Ninh và các đặc khu kinh tê thuộc TQ [Đã đọc: 333 lần]
Lực lượng Nam Phi Châu phục vụ các nữ đại gia, mệnh phụ và quan chức VN khát tình [Đã đọc: 307 lần]
Hiện tượng dã man trong học đường thời XHCN: Một Nữ sinh bị đánh lột tập thể tại VN. [Đã đọc: 306 lần]
Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain qua đời vì ung thư não [Đã đọc: 301 lần]
Khủng bố: Xả súng liên tiếp tại London, ít nhất 3 người bị thương [Đã đọc: 275 lần]
Chủ tịch nhà nước(tổng thống) Trần Đại Quang từ trần theo bác Hồ - CS sắp sụp đổ [Đã đọc: 273 lần]
Những nguyên thủ và chính khách quốc tế nào đã lây nhiễm vi rút độc lạ của Chủ tịch Trần Đại Quang cần đi khám nghiệm máu? [Đã đọc: 268 lần]
Ờ quốc gia Banglades có có một con đường tên Ngô Đình Diệm [Đã đọc: 260 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.