Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Mười 2018
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31        
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 6
 Lượt truy cập: 11385306

 
Bản sắc Việt 19.10.2018 10:10
Vì sao mất nước: Cụm Tình Báo VC A.22 Trong Dinh Độc Lập
30.03.2018 08:47

Trúc Giang  (Văn Hóa Vụ)
Cụm Tình Báo VC A.22 Trong Dinh Độc Lập.
1-ĐỊNH NGHĨA:
Tình báo, gián điệp là người hoạt động bí mật của phe địch để dọ thám lấy tin tức về tình hình quân sự, chính trị, kinh tế hoặc tác động, phá hoại.
2- GIÁN ĐIỆP CỘNG SẢN TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM
Trong chiến tranh, ở miền Nam, ngoài những tên VC nằm vùng, còn có những điệp viên thuộc tình báo chiến lược như Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thuý và Phạm Ngọc Thảo.

image022 

image023

2.1. VŨ NGỌC NHẠ

Vũ Ngọc Nhạ là nhân vật then chốt trong vụ án Cụm Tình Báo A.22 làm rung động chính quyền miền Nam năm 1969.

Tên thật là Vũ Xuân Nhã, sinh ngày 30-3-1928 tại tỉnh Thái Bình. Được kết nạp vào đảng CSVN năm 1947. Vũ Ngọc Nhạ còn nhiều cái tên khác nữa như Pière Vũ Ngọc Nhạ (tên Thánh), Vũ Đình Long (Hai Long) bí danh Lê Quang Kép, Thầy Bốn, “Ông Cố Vấn”.

2.1.1. Hoạt động

Năm 1955. Xuống tàu di cư vào Nam.

Vũ Ngọc Nhạ cùng 1 số điệp viên khác trà trộn vào đoàn người di cư vào Nam. Nhạ cùng vợ và con gái xuống tàu Hải Quân Pháp cùng hàng triệu người Công giáo di cư vào Nam.

- Làm thư ký đánh máy ở Bộ Công Chánh. Chinh phục được cảm tình của Linh mục Hoàng Quỳnh và trở thành “Người giúp việc” của Giám mục Lê Hữu Từ.

Năm 1958- Tháng 12 năm 1958, Nhạ bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung của Nguyễn Tư Thái, tự Thái Đen, bắt giữ và giam tại trại Tòa Khâm (Huế) để chờ điều tra xác minh. Linh mục Hoàng Quỳnh can thiệp cho nên Nhạ không bị buộc tội.

2.1.2 .Người Giúp Việc của Đức Cha Lê Hữu Từ

Một khuyết điểm lớn của Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung là giam giữ những nghi can gián điệp chung với nhau tại trại Tòa Khâm. Chính ở đó, Vũ Ngọc Nhạ đã móc nối với các “cơ sở” (những cá nhân) tình báo khác, đặc biệt là trùm tình báo VC Mười Hương.

Tạo dựng niềm tin đối với Ngô Đình Cẩn.

Năm 1959- Vũ Ngọc Nhạ làm tờ trình “Bốn Nguy Cơ Đe Doạ Chế Độ” được sự chú ý của Ngô Đình Cẩn và sau đó, của ông Nhu, ông Diệm. Do sự dự đoán chính xác về cuộc đảo chánh 11-11-1960 của tướng Nguyễn Chánh Thi, anh em ông Diệm đã chú ý đến Vũ Ngọc Nhạ.

Nhờ danh nghĩa “Người Giúp Việc” của Đức Cha Lê Hữu Từ mà Nhạ được xử dụng như là Người Liên Lạc giữa anh em Họ Ngô và giới Công Giáo di cư. Nhờ đó, Nhạ thu thập được nhiều tin tức tình báo có giá trị. Từ đó, Nhạ có biệt danh là “Ông Cố Vấn”.

2.1.3. Xây dựng Cụm Tình Báo Chiến Lược A.22

Sau đảo chánh 1-11-1963, thế lực Công giáo phát triển mạnh dưới tay của Linh mục Hoàng Quỳnh.

Cuối năm 1965, sự tranh giành quyền lực trong “nhóm tướng trẻ”, do sự giới thiệu của LM Hoàng Quỳnh, Tướng Nguyễn Văn Thiệu đã xử dụng Vũ Ngọc Nhạ trong vai trò liên lạc giữa tướng Thiệu và Khối Công giáo. Nhạ đã khéo léo lợi dụng vai trò đó để tạo ảnh hưởng đến các chính trị gia dân sự và quân sự.

Năm 1967- Sau khi tướng Nguyễn Văn Thiệu đắc cử Tổng thống, cấp trên nhận thấy cần thiết phải mở rộng mạng lưới tình báo, thành lập Cụm A.22. (A.22 là mật danh của Vũ Ngọc Nhạ) Cụm do Nguyễn Văn Lê làm cụm trưởng, Nhạ làm Cụm Phó trực tiếp phụ trách mạng lưới. Toàn bộ Cụm A.22 được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nguyễn Đức Trí, chỉ huy phó Tình Báo Quân Sự ở miền Nam.

Bắt đầu, Cụm A.22 “phát triển” thêm Nguyễn Xuân Hoè, Vũ Hữu Ruật đều là những điệp viên mà Nhạ đã bắt liên lạc trong khi bị giam chung tại Tòa Khâm. Sau đó, thu nhận thêm Nguyễn Xuân Đồng và quan trọng nhất là vào đầu năm 1967, bổ sung thêm Lê Hữu Thuý (hay Thắng) mật danh là A.25.

Các điệp viên nầy được giao nhiệm vụ “Chui sâu, leo cao” nắm lấy những chức vụ quan trọng để thu thập thông tin và để tác động vào chính quyền.

Thành công của Cụm A.22 là cài được 1 điệp viên dưới quyền của Lê Hữu Thuý là Huỳnh Văn Trọng làm “Cố Vấn” cho tổng thống Thiệu.

Chính Huỳnh Văn Trọng đã cầm đầu một phái đoàn VNCH sang HK, tiếp xúc, gặp gỡ hàng loạt các tổ chức, các cá nhân trong chính phủ và chính giới HK, để thăm dò thái độ của chính phủ Johnson đối với cuộc chiến ở VN. Huỳnh Văn Trọng thu thập được nhiều tin tức tình báo chiếnlược.
image024 

 2.1.4. Vụ án Huỳnh Văn Trọng và 42 điệp báo

CIA nhanh chóng phát hiện điều bất thường là sự tập hợp của các cá nhân là những bị can đã bị bắt giam ở Tòa Khâm.

Giữa năm 1968- Hồ sơ các cựu tù nhân ở Tòa Khâm được mở lại. Do tính phức tạp trong ngành điệp báo, CIA phải mất 1 năm mới hoàn tất hồ sơ và chuyển giao cho Tổng Nha Cảnh Sát QG VNCH.

Vào trung tuần tháng 7 năm 1969, một đơn vị đặc biệt có mật danh là S2/B được thành lập để tiến hành bắt giữ hầu hết những người của Cụm A.22.

Toàn bộ điệp viên Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thuý, Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Xuân Hoè, Nguyễn Xuân Đồng, Huỳnh Văn Trọng, và hầu hết những gián điệp khác, kể cả giao liên là bà Cả Nhiễm cũng bị bắt.

Riêng cụm trưởng Nguyễn Văn Lê kịp thời trốn thoát.

Cụm tình báo A.22 bị phá vở hoàn toàn.

Chính quyền Saigon rung động vì 42 gián điệp từ cơ quan đầu nảo là Phủ tổng thống cho đến các cơ quan khác, nhất là 1 “Cố vấn” của tổng thống đã bị bắt.

2.1.5. Biến vụ án gián điệp thành vụ án chính trị

Đây là vụ án gián điệp lớn nhất lịch sử. Các bị can đều khai, nhất cử nhất động của họ đều là thi hành chỉ thị, là do sự uỷ thác, do lịnh của tổng thống, của các tổng trưởng, nghị sĩ, dân biểu và cả CIA nữa.

Tòa án Quân Sự Mặt Trận Lưu Động Vùng 3 CT bối rối vì không có thể gởi trác đòi những nhân chứng như tổng thống ra hầu tòa để đối chất.

Do không có đủ yếu tố để buộc tội tử hình, cho nên tòa tuyên án:

- Chung thân khổ sai: Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thuý, Huỳnh Văn Trọng, Nguyễn Xuân Hoè.

- Án từ 5 năm đến 20 năm tù khổ sai cho những bị can còn lại.

Khi quân cảnh dẫn các tù nhân ra xe bít bùng, thì Vũ Ngọc Nhạ quay sang nhóm ký giả ngoại quốc và thân nhân, nói lớn “Tôi gởi lời thăm ông Thiệu”.

2.1.6. Cho rằng CIA dàn cảnh

Một bất ngờ của vụ án là TT Thiệu không tin đó là sự thật mà cho là CIA đã dàn cảnh. Do đó, thời gian Vũ Ngọc Nhạ bị đày ở Côn Đảo thì TT Thiệu đã triệu hồi viên tỉnh trưởng Côn Sơn về Saigon và thay thế vào đó một người thân tín của mình để có điều kiện chăm sóc cho Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng như là những thượng khách. Vì thế, Vũ Ngọc Nhạ đã đánh giá:”Đó là một cuộc dạo chơi trên Thiên Đàng”.

2.1.7. Tiếp tục hoạt động

Đầu năm 1973- Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng được đưa về khám Chí Hòa, Saigon. Trong thời gian ở Chí Hòa, nhờ sự giúp đở của LM Hoàng Quỳnh, Vũ Ngọc Nhạ móc nối, bắt bắt liên lạc với nhóm “Thành Phần Thứ 3″ của Dương Văn Minh.

Ngày 23-7-1973- Chính quyền VNCH trao trả Vũ Ngọc Nhạ cho Mặt Trận DTGP/MNVN với danh xưng là “Linh mục Giải Phóng”.

Năm 1974- Vũ Ngọc Nhạ được CSBV phong Trung tá QĐNDVN. Tháng 4, 1974, Vũ Ngọc Nhạ trở về Củ Chi, hoạt động bí mật mục đích xây dựng lại Cụm Tình báo chiến lược, móc nối với Thành phần thứ 3 và khối Công giáo .
image025 

Ngày 30-4-1975- Vũ Ngọc Nhạ có mặt tại Dinh Độc Lập bên cạnh tướng Dương Văn Minh.

2.1.8. Bị thất sủng và được tôn vinh

Ngày 30-4-1975 thân phận của Vũ Ngọc Nhạ vẫn chưa được xác nhận.

Năm 1976- Vũ Ngọc Nhạ được điều về Cục 2 Bộ Quốc Phòng với quân hàm Thượng tá.

Năm 1981- Được thăng Đại tá nhưng vẫn còn ngồi chơi xơi nước. Hàng ngày đọc các tin tức báo cáo, tổng hợp lại rồi trình lên thượng cấp, Phạm Văn Đồng, Mai Chí Thọ, Nguyễn Văn Linh.

Năm 1987- Tác giả Hữu Mai xuất bản cuốn tiểu thuyết “Ông Cố Vấn, Hồ Sơ Một Điệp Viên” ca ngợi thành tích tình báo của Vũ Ngọc Nhạ. Công chúng đã biết đến và Nhạ được phong Thiếu Tướng.

Vũ Ngọc Nhạ mất ngày 7-8-2002 tại Saigon, 75 tuổi. Phần mộ của Nhạ nằm chung với các phần mộ của các điệp viên khác như Phạm Xuân Ẩn, Đặng Trần Đức và Phạm Ngọc Thảo.

image026
2.2. PHẠM XUÂN ẨN

* Thân thế Và Hoạt động

Phạm Xuân Ẩn sinh ngày 12-9-1927 tại xã Bình Trước, Biên Hòa, là một thiếu tướng tình báo của QĐNDVN.

Từng là nhà báo. Phóng viên cho Reuters, tạp chí Time, New York Herald Tribune, The Christian Science Monitor.

Theo học trường Collège de Can Tho.

Năm 1948- Tham gia Thanh Niên Tiền Phong và sau đó, làm thơ ký cho hãng dầu lửa Caltex.

Năm 1950- Làm nhân viên Sở Quan Thuế Saigon để thi hành nhiệm vụ là tìm hiểu tình hình vận chuyển hàng hóa, khí tài quân sự từ Pháp sang VN. Đây là lần đầu tiên làm nhiệm vụ tình báo cùng với 14 ngàn gián điệp được cài cắm vào hoạt động.

Năm 1952- Phạm Xuân Ẩn ra Chiến Khu D và đã được bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Ủu viên Uỷ Ban Hành Chánh Nam Bộ giao cho nhiệm vụ làm tình báo chiến lược.

Năm 1953- Phạm Xuân Ẩn được Lê Đức Thọ kết nạp vào đảng tại rừng U Minh, Cà Mau.

Năm 1954- Phạm Xuân Ẩn bị gọi nhập ngũ và được trưng dụng ngay vào làm thư ký Phòng Chiến Tranh Tâm Lý Bộ Tổng Hành Dinh Liên Hiệp Pháp tại Camps Aux Mares (Thành Ô Ma) Tại đây, Ẩn được quen biết với Đại tá Edward Landsdale, trưởng phái bộ đặc biệt của Mỹ (SMM), trên thực tế, Landsdale là người chỉ huy CIA tại Đông Dương. cũng là trưởng phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ (US.MAAG) tại Saigon.
image027 

Năm 1955- Theo đề nghị của Phái Bộ Cố Vấn Quân Sự Mỹ, Phạm Xuân Ẩn tham gia soạn thảo tài liệu tham mưu, tổ chức, tác chiến, huấn luyện, hậu cần cho quân đội. Tham gia thành lập cái khung của 6 sư đoàn đầu tiên của QLVNCH, mà nồng cốt là sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ người Việt trong quân đội Pháp trước đó.

Phạm Xuân Ẩn còn được giao nhiệm vụ hợp tác với Mỹ để chọn lựa những sĩ quan trẻ có triển vọng đưa sang Mỹ đào tạo, trong số đó có Nguyễn Văn Thiệu, sau nầy trở thành tổng thống VNCH.

Năm 1957- Tháng 10 năm 1957, Mai Chí Thọ và Trần Quốc Hương (Mười Hương) chỉ đạo cho Phạm Xuân Ẩn qua Mỹ du học ngành báo chí để có cơ hội đi khắp nơi, tiếp cận với những nhân vật có quyền lực nhất.

Năm 1959- Phạm Xuân Ẩn về nước, nhờ những mối quan hệ, Ẩn được bác sĩ Trần Kim Tuyến, giám đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị Và Văn Hóa Xã Hội (Thực chất là cơ quan mật vụ của Phủ tổng thống), biệt phái sang làm việc tại Việt Tấn Xã, phụ trách những phóng viên ngoại quốc làm việc ở đó.

Năm 1960- Từ năm 1960 đến giữa 1964, Phạm Xuân Ẩn làm việc cho hảng thông tấn Reuters. Từ 65 đến 67, Ẩn là người Việt duy nhất và chính thức làm việc cho tuần báo Time. Ngoài ra, còn cộng tác với báo The Christian Science Monitor…

Từ 1959 đến 1975- Với cái vỏ bọc là phóng viên, nhờ quan hệ rộng với các sĩ quan cao cấp, với các nhân viên tình báo, an ninh quân đội và với cả CIA , Ẩn đã thu thập được nhiều tin tức quan trọng từ quân đội, cảnh sát và các cơ quan tình báo.

Những tin tức tình báo chiến lược của Ẩn đã được gởi ra Hà Nội thông qua Trung Ương Cục Miền Nam. Tài liệu sống động và tĩ mỉ khiến cho Võ Nguyên Giáp đã reo lên “Chúng ta đang ở trong Phòng Hành Quân của Hoa Kỳ”.

Tổng cộng, Ẩn đã gởi về Hà Nội 498 tài liệu gốc được sao chụp.

Giai Đoạn 1973-1975- Hàng trăm bản văn nguyên bản đã phục vụ “Hạ Quyết Tâm Giải Phóng Miền Nam ” của đảng CSVN.

Phạm Xuân Ẩn là nhân vật được chèo kéo của nhiều cơ quan tình báo, kể cả CIA .

Ngày 30-4-1975, Phạm Xuân Ẩn là một trong những nhà báo chứng kiến cảnh xe tăng của VC húc đỗ cổng Dinh Độc Lâp. Từ đó cho đến vài tháng sau, các phóng viên, đồng bào và cả chính quyền mới cũng chưa biết Phạm Xuân Ẩn là một điệp viên Cộng sản.

Vợ con của Phạm Xuân Ẩn đã di tản sang Hoa Kỳ. Ẩn cũng được lịnh của cấp trên sang HK để tiếp tục hoạt động tình báo. Nhưng Ẩn đã xin ngưng công tác vì đã hoàn thành nhiệm vụ.

Do kế hoạch thay đổi, cho nên mãi 1 năm sau, vợ con của Ẩn mới có thể quay về VN bằng đường vòng Paris, Moskva, Hà Nội, Saigon.

* Sau chiến tranh
image028 

Ngày 15-1-1976, trung tá “Trần Văn Trung”, tức Phạm Xuân Ẩn, được phong tặng “Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang”.

Tháng 8 năm 1978, Ẩn ra Hà Nội dự khóa học tập chính trị 10 tháng vì Ẩn “sống quá lâu trong lòng địch”.

Theo Larry Berman thì Ẩn bị nghi kỵ và bị quản chế tại gia. Cấm liên lạc với báo chí ngoại quốc và cấm xuất cảnh, do cách suy nghĩ của Ẩn quá “Mỹ” và do Ẩn đã giúp bác sĩ Trần Kim Tuyến ra khỏi VN ngày 30-4-1975 .

Năm 1986- Trong 10 năm, luôn luôn có 1 công an làm nhiệm vụ canh gác trước nhà của Phạm Xuân Ẩn.

Năm 1990- Đại tá Phạm Xuân Ẩn được thăng thiếu tướng.

Năm 1997- Chánh phủ VNCS từ chối không cho Ẩn đi Hoa Kỳ để dự hội nghị tại New York mà Ẩn được mời với tư cách là khách mời đặc biệt.

Năm 2002- Phạm Xuân Ẩn về nghỉ hưu.

Con trai lớn của Ẩn là Phạm Xuân Hoàng Ân, đã du học Mỹ, hiện đang làm việc tại Bộ Ngoại Giao ở Hà Nội. Con gái của Ẩn hiện đang sống ở Hoa Kỳ.

* Thất Vọng

Trong những năm cuối đời, Phạm Xuân Ẩn cảm thấy rất thất vọng vì dân chúng không được viết tự do. Ẩn trối trăn trước khi chết là, “đừng chôn ông gần những người Cộng Sản”.

* Nhận định về Phạm Xuân Ẩn.

Lê Duẩn: Đã biểu dương Phạm Xuân Ẩn coi đó là 1 chiến công có tầm cỡ quốc tế.

Frank Snepp, cựu chuyên viên thẩm vấn CIA , tác giả cuốn sách Decent Interval (Khoảng cách thích đáng) nói:”Phạm Xuân Ẩn đã có được nguồn tin tình báo chiến lược, điều đó rõ ràng, nhựng chưa ai “Dẫn con mèo đi ngược” để thực hiện 1 cuộc xét nghiệm pháp y về các tác hại mà ông đã gây ra, Cơ quan CIA không có gan để làm việc đó.” Hết trích.

Murrray Gart, thông tín viên trưởng của báo Time nói “Thằng chó đẻ ấy, tôi muốn giết nó“.

2.3. PHẠM NGỌC THẢO
image029 

2.3.1. Thân thế

Phạm Ngọc Thảo sanh ngày 14-2-1922 tại Sàigon. Cha ông là Phạm Ngọc Thuần, một địa chủ lớn, có quốc tịch Pháp, người Công giáo. Còn có tên là Albert Thảo hoặc 9 Thảo, vì Thảo là con thứ 8 trong gia đình.

Sau khi đậu tú tài, Thảo ra Hà Nội học và tốt nghiệp kỹ sư công chánh.

Thảo tuyên bố bỏ quốc tịch Pháp và tham gia kháng chiến.

2.3.2. Hoạt động VC

Sau khi tốt nghiệp trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn, Thảo về nhận nhiệm vụ giao liên ở Phú Yên. Một lần, Thảo đưa 1 cán bộ về Nam Bộ. Đó Là Lê Duẩn, người đã có ảnh hưởng lớn về hoạt động tình báo của Thảo sau nầy.

Được bổ làm Tiểu đoàn trưởng TĐ 410, quân khu 9. (Có tài liệu nói là TĐ 404 hoặc 307). Trong thời gian nầy, Thảo hướng dẫn chiến tranh du kích cho Trần Văn Đôn, Nguyễn Khánh, Lê Văn Kim, những người sau nầy trở thành tướng lãnh của QLVNCH.

Vợ là Phạm Thị Nhậm, em ruột giáo sư Phạm Thiều, nguyên đại sứ tại Tiệp Khắc.

2.3.3. Hoạt động tình báo

Sau Hiệp Định Genève, Lê Duẩn chỉ thị cho Phạm Ngọc Thảo không được tập kết ra Bắc phải ở lại để hình thành Lực lượng thứ 3.

Từ đó, Thảo dạy học ở một số tư thục Saigon.

Phạm Ngọc Thảo đã bị Đại tá Mai Hữu Xuân, Giám Đốc An Ninh Quân Đội, lùng bắt nhiều lần nhưng đều trốn thoát. Sau cùng, Thảo về Vĩnh Long làm nghề dạy học. Tỉnh nầy thuộc địa phận của Giám mục Phêrô Ngô Đình Thục, vốn đã quen biết với gia đình Thảo từ trước. Ngô Đình Thục coi Phạm Ngọc Thảo như con nuôi và bảo lãnh cho vào dạy học ở trường Nguyễn Trường Tộ.

Năm 1956- Phạm Ngọc Thảo được phép đưa vợ con về Saigon và vào làm việc ở Ngân Hàng QG. Rồi được chuyển ngạch sang quân đội với cấp bậc Đại uý “Đồng Hóa”.

Năm 1956- Do sự giới thiệu của Huỳnh Văn Lang, Tổng Giám đốc Viện Hối Đoái, Bí thư Liên Kỳ Bộ của đảng Cần Lao, Phạm Ngọc Thảo được cử đi học khóa Nhân Vị ở Vĩnh Long. Và Thảo đã gia nhập đảng Cần Lao.
image030 

2.3.4. Hoạt động trong Quân Lực VNCH

- Chức vụ Tỉnh Đoàn Trưởng Bảo An Vĩnh Long.

- Tuyên Huấn đảng Cần Lao Nhân Vị.

Thảo biết cách khai thác nghề viết báo của mình và về Binh pháp Tôn Tử. Chỉ trong vòng một năm, Thảo đã viết 20 bài báo nói về chiến lược, chiến thuật, nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy, huấn luyện quân sự, phân tích binh pháp Tôn Tử, Trần Hưng Đạo. Những bài báo được giới quân sự chú ý và cả TT Diệm và Ngô Đình Nhu.

Năm 1957- Phạm Ngọc Thảo được chuyển về Phòng Nghiên Cứu Chính Trị Phủ Tổng thống với cấp bậc thiếu tá. Sau đó, giữ chức Tỉnh Đoàn trưởng Bảo An Bình Dương.

Năm 1960- Phạm Ngọc Thảo tham dự khóa Chỉ Huy Tham Mưu ở Đà Lạt. Giữ chức vụ Thanh Tra Khu Trù Mật.

Năm 1961- Phạm Ngọc Thảo được thăng trung tá, giữ chức Tỉnh trưởng Kiến Hòa để trắc nghiệm chương trình bình định. Thời gian nầy, Kiến Hòa (Bến Tre) trở nên ổn định không còn phục kích hay phá hoại nữa.

Tuy nhiên có nhiều tố cáo Thảo là Cộng sản nằm vùng. Thảo bị ngưng chức tỉnh trưởng Kiến Hòa và đi học khóa Chỉ Huy Tham Mưu ở Hoa Kỳ.

Lý do là, Thảo đã thả hơn 2000 tù nhân đã bị giam giữ và liên lạc với bà Nguyễn Thị Định.

2.3.5. Tham gia các cuộc đảo chánh

* Đảo chánh lần thứ nhất, 1963

Tháng 9 năm 1963, bác sĩ Trần Kim Tuyến, nguyên Giám Đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị (Thực chất là trùm mật vụ) và Phạm Ngọc Thảo âm mưu 1 cuộc đảo chánh Ngô Đình Diệm.

Phạm Ngọc Thảo đã kêu gọi được một số đơn vị như Quân Đoàn 3, Quân Đoàn 4, Biệt Động Quân, Bảo An sẵn sàng tham gia. Nhưng âm mưu bị nghi ngờ. Trần Kim Tuyến bị đưa đi làm Tổng Lãnh Sự ở Ai Cập.

Sau ngày đảo chánh 1-11-1963 , Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đỗ. Phạm Ngọc Thảo thăng chức Đại tá làm Tuỳ Viên báo chí trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Một thời gian sau, được cử làm Tuỳ viên Văn hóa tại Tòa đại sứ VNCH ở Hoa Kỳ.

* Đảo chánh lần thứ hai năm 1965

Đầu năm 1965, Phạm Ngọc Thảo bị gọi về nước vì Nguyễn Khánh muốn bắt Thảo. Vì thế, khi về đến phi trường Tân Sơn Nhất, Thảo đào nhiệm, bỏ trốn và bí mật liên lạc với các lực lượng đối lập để tổ chức đảo chánh.

Đảo chánh với lý do rất quan trọng mà Thảo nắm được là Nguyễn Khánh và Hoa Kỳ thỏa thuận sẽ ném bom xuống miền Bắc vào ngày 20-2-1965 . Vì vậy phải đảo chánh lật Nguyễn Khánh vào ngày 19-2-1965 .

Ngày 19-2-1965: Phạm Ngọc Thảo và Tướng Lâm Văn Phát đem quân và xe tăng vào chiếm trại Lê Văn Duyệt, đài phát thanh Saigon, bến Bạch Đằng và phi trường Tân Sơn Nhất. Tướng Nguyễn Khánh đào thoát bằng máy bay ra Vũng Tàu.

Ngày 20-2-1965: Hội Đồng các tướng lãnh họp tại Biên Hòa các tướng cử Nguyễn Chánh Thi làm chỉ huy chống lại đảo chánh. Nguyễn Chánh Thi ra lịnh cho Phạm Ngọc Thảo, Lâm Văn Phát và 13 sĩ quan khác phải ra trình diện trong 24 giờ.

Ngày 21-2-1965:Các tướng tiếp tục họp tại Biên Hòa quyết định giải nhiệm Nguyễn Khánh và cử tướng Trần Văn Minh làm Tổng Tư Lệnh QLVNCH.

Ngày 22-2-1965: Quốc trưởng Phan Khắc Sửu ký sắc lịnh bổ nhiệm tướng Nguyễn Khánh làm Đại sứ lưu động. (Một hình thức trục xuất ra khỏi nước)

Ngày 25-2-1965: Nguyễn Khánh rời Việt Nam. Phạm Ngọc Thảo bỏ trốn.

2.3.6. Bị bắt và qua đời

Ngày 11-6-1965: Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát tuyên bố trả quyền lãnh đạo quốc gia lại cho Quân đội.

Ngày 14-6-1965: Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia được thành lập do tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch.

Phạm Ngọc Thảo phải rút vào hoạt động bí mật. Thảo cho xuất bản tờ báo Việt Tiến mỗi ngày phát hành 50,000 tờ, tuyên truyền tinh thần yêu nước chống Mỹ và Thiệu.

Phạm Ngọc Thảo có 1 hàng rào bảo vệ rộng lớn từ các Xứ Đạo Biên Hòa, Hố Nai, Thủ Đức, Saigon. Có nhiều linh mục giúp đở in ấn và phát hành. Chính quyền Thiệu-Kỳ kết án tử hình và treo giải thưởng 3 triệu đồng cho ai bắt được Thảo.

Võ Văn Kiệt (Sáu Dân) kể lại“Tôi thấy Thảo gặp khó khăn nên đi tìm anh để đưa về chiến khu, nhưng anh bảo vẫn còn khả năng đảo chánh để ngăn chận việc đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam”. (Võ Văn Kiệt)

Lâm Văn Phát ra trình diện và chỉ bị cách chức.

Phạm Ngọc Thảo phải trốn nhiều nơi, cuối cùng bị bắt tại Đan Viện Phước Lý, xã Vĩnh Thanh, quận Nhơn Trạch, Biên Hòa.

Lúc 3 giờ sáng ngày 16-7-1965, Thảo vừa ra khỏi Đan Viện Phước Lý thì bị An ninh Quân Đội phục kích bắt và đưa về 1 con suối nhỏ gần Biên Hòa để thủ tiêu. Tuy nhiên, Thảo không chết, chỉ bị ngất xĩu vì đạn trúng vào càm. Khi tĩnh dậy, Thảo lê lết về một nhà thờ và được Linh mục Cường, Cha Tuyên Uý của Dòng Nữ Tu Đa Minh cứu chữa.

Và Thảo bị phát giác, bị đưa về Cục An Ninh QĐ đường Nguyễn Bĩnh Khiêm. Thảo bị tra tấn cho đến chết vào đêm 17-7-1965. 43 tuổi.

Theo Larry Berman trong cuốnÓi>”Perfect Spy” thì TT Thiệu ra lịnh tra tấn và hành hạ Thảo cho thật đau đớn bằng cách dùng 1 cái thòng lọng bằng da, buộc quanh cổ và 1 cái khác thì siết mạnh nơi tinh hoàn. Cũng có tin nói rằng Đại uý Hùng Sùi bóp dái Thảo cho đến chết.

Phạm Ngọc Thảo có 7 con và vợ Thảo đi dạy hoc. Tất cả hiện đang sinh sống ở Hoa Kỳ. Có người con là bác sĩ ở Quận Cam, Cali.

Phạm Ngọc Thảo là 1 điệp viên đơn tuyến. Không có thượng cấp và thuộc cấp. Không thu thập tin tức mà chỉ tác động vào chính quyền.

Nhà nước CSVN truy tặng Thảo danh hiệu Liệt sĩ và quân hàm Đại tá QĐNDVN.

Cũng có nguồn tin cho rằng Phạm Ngọc Thảo là 1 gián điệp nhị trùng, nghĩa là làm việc cho CIA nữa.

 Trúc Giang




Phạm Xuân Ẩn bị nghi là 'điệp viên hai mang’?

(VTC News) – Liên tục được CIA mời hợp tác và là người hiếm hoi hoạt động tình báo suốt 23 năm không bị bắt, Phạm Xuân Ẩn bị nghi ngờ là điệp viên ‘hai mang’.
Sau cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, Ẩn cho biết CIA đã tiếp cận ông và đề nghị ông tới điều hành một trại bò sữa ở Tây Ninh, nằm giữa vùng B và C. Ẩn sẽ đóng vai là một chủ trại quý phái, nhiệm vụ thực sự của ông chỉ là nuôi bò và quan sát các công nhân rồi báo cáo. 

Ẩn rất lo lắng trước đề nghị này bởi vì ông sẽ phải rời tờ Time và trở thành một điệp viên hai mang, điều mà ông chẳng hề muốn chút nào. Lời đề nghị có câu ‘hãy đến gặp chúng tôi sau’, nghĩa là ông có thể từ chối. ‘Tôi quyết định không xin ý kiến cấp trên rằng tôi có nên nhận lời hay không bởi lẽ tôi không hề muốn làm điệp viên hai mang chút nào’. 


Cho rằng có lẽ lý do khiến Ẩn từ chối là bởi ông không thích làm chủ trang trại, nên nhân viên CIA đã tiếp cận ông lần trước lại gợi ý ông đến điều hành một nhà máy đồ hộp ở Nha Trang và Vũng Tàu, cũng với mục đích là theo dõi hoạt động của Việt Cộng.

Công việc duy nhất của Ẩn sẽ là quan sát hoạt động của các ngư dân đến bán cá, bởi vì CIA muốn tìm ra những chiếc thuyền được sử dụng để tuồn vũ khí vào miền Nam. Ẩn cũng đã nhanh chóng từ chối lời đề nghị. 


Một đề nghị gây tò mò khác đến từ CIO, ngay sau khi ký Hiệp định Paris vào năm 1973. Biết rằng phái đoàn của Chính phủ Cách mạng Lâm thời đang trú tại một khách sạn gần đấy, CIO lên kế hoạch cài thiết bị nghe lén điện tử tại tiệm Givral nhằm mục đích thu được thông tin có giá trị từ các cuộc trao đổi của họ liên quan đến kế hoạch lập ‘chính phủ liên hiệp’. 

Givral do tư nhân sở hữu, vì thế CIO muốn vợ của Ẩn dùng tiền của CIO để mua lại quán này. 


Ông Ẩn không thích vụ này chút nào, nhưng việc cài máy nghe lén vẫn được tiến hành và một phần của tiệm đã được tân trang thành một quầy cà phê sữa và kem để che giấu mục đích thực sự của việc sửa quán, tức là lắp thiết bị nghe lén. ‘Đó là cách rất dễ để bị bắt. Không ai có thể bảo vệ anh ngoại trừ chính bản thân anh’, Ẩn nói.

Phần lớn các đồng nghiệp vào lúc này hay lúc khác cho rằng Ẩn đang cộng tác ở một cấp độ nào đó với CIA. Richard Pyle, trưởng văn phòng hãng AP tại Sài Gòn từ năm 1970 đến 1973, nhớ lại rằng vào mỗi ngày, từ chiếc bàn quen thuộc của mình tại quán Givral:

 ‘Ẩn chia sẻ các mẩu tin thú vị về chính trường rối rắm của Sài Gòn cũng như những mưu đồ bên trong Dinh Tổng thống cho một đám đông thính giả chăm chú lắng nghe như những đồ đệ - đó là các phóng viên Việt Nam làm việc cho báo đài nước ngoài. 

Những phóng viên này sau đó trở về các văn phòng với thông tin nội tình mới nhất mà họ nhận được từ ‘các nguồn tin’ của mình. Không có gì bí ẩn với xuất xứ của các thông tin ấy, và một câu đùa thường trực của cánh nhà báo đó là bất cứ ai có mối liên hệ với Ẩn đều chắc chắn là người của CIA’.

Rất có lý khi CIA tìm cách tuyển mộ Ẩn. Ai cũng biết trong các công đoàn lao động thân chính phủ đều có đầy người của Cộng sản và các hội đoàn này đang trở thành thùng chứa những người thâm nhập. 

Một đầu mối ở CIA đã đề nghị Ẩn ngụy trang làm phóng viên mảng tin tức công đoàn để có thể theo dõi các hoạt động bị tình nghi là của Việt Cộng. Đáp lại, CIA sẽ cung cấp cho Ẩn vài tin độc quyền rất giá trị, nhờ đó có thể nâng cao vị thế của ông tại tờ tạp chí. 

Ẩn kể với tôi rằng ông đã từ chối lời đề nghị, với lý do rằng ông đã có đủ các nguồn tin tốt rồi, bởi lẽ ông biết rằng công việc theo đề nghị là rất nguy hiểm cho vỏ bọc của ông. 

Phạm Xuân Ẩn tới tiệm Givral năm 1973- Nguồn: Tư liệu cá nhân của Phạm Xuân Ẩn  

Phạm Xuân Ẩn tới tiệm Givral năm 1973- Nguồn: Tư liệu cá nhân của Phạm Xuân Ẩn  

Ẩn quay trở lại thời kỳ trước đó rất lâu với các đầu mối trong CIA, bắt đầu với Lansdale, Conein và Phillips. Sau cuộc đảo chính chống Ngô Đình Diệm bất thành năm 1960, chỉ huy trưởng chi nhánh Sài Gòn của CIA là William Colby đề nghị bác sĩ Trần Kim Tuyến thành lập Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo (CIO). 

Tuyến tập hợp vào nhóm lên kế hoạch toàn những người mà ông ta biết rõ là có thể tin cậy được, và tất nhiên Ẩn là một trong số đó. ‘Ai ở CIO cũng coi tôi là người nhà’, Ẩn nói. ‘Họ là nguồn tin quý giá nhất đối với tôi trong cuộc chiến tranh’. Nhóm này hợp tác chặt chẽ với CIA để tạo ra một tổ chức tương đương cho Việt Nam Cộng hòa. 


Khi chiến tranh kết thúc, Ẩn đối mặt với câu hỏi là liệu có phải ông từng làm điệp viên hai mang hay không. ‘Tôi may mắn bởi vì nếu trước kia từng nhận lời làm việc cho CIA thì nay sẽ gặp rắc rối lớn với bên an ninh. 

Tôi bị theo dõi rất chặt bởi tôi là người duy nhất không bị bắt trong suốt hai mươi ba năm và họ muốn biết làm sao lại có chuyện như vậy. Họ không thể kiểm tra các mối liên lạc của tôi bởi tôi tự làm việc cho mình. 

Tôi là một ca đặc biệt bởi không ai ra lệnh cho tôi. Không có một người điều khiển tôi thực sự. Tôi gửi báo cáo đi và trước khi chiến tranh kết thúc thì họ không nói với tôi điều gì ngoại trừ vụ Ấp Bắc. 

Sau chiến tranh, họ bảo tôi viết ra mọi thứ để chuẩn bị nhận danh hiệu. Tôi đã làm như vậy nhưng rồi họ muốn thêm nữa. Họ muốn biết tất cả các đầu mối của tôi, họ muốn tôi báo cáo tên, của tất cả bạn bè, tất cả những người mà tôi đã làm chung trong chừng ấy năm. Tôi từ chối. Tôi có quá nhiều bạn bè rất tin tưởng vào tôi.

Tôi cũng không bao giờ tiết lộ nguồn tin. Rồi thì họ cho rằng tôi có người bảo trợ, có thể là trong mạng lưới Tưởng Giới Thạch như bạn tôi là Francis Cau, đứng đầu mạng lưới tình báo ở Đông Nam Á, người thường đến nhà tôi. Nhiệm vụ của ông ta là nhổ cỏ Cộng sản ở Chợ Lớn, ông ta thường chia sẻ thông tin với tôi và muốn tôi làm việc cho ông ta’.

Hai vụ việc có thể chứng minh rõ ràng nhất cho sự khách quan rạch ròi của Ẩn đối với nghề kép của mình và đánh tan lời buộc tội về hoạt động tung tin thất thiệt xảy ra trong Chiến dịch Lam Sơn 719 và Chiến dịch Xuân - Hè 1972. 

Ngày 8 tháng 2 năm 1971, hai mươi ngàn lính Việt Nam Cộng hòa tiến qua vùng cán chảo của Lào để cắt đứt Đường mòn Hồ Chí Minh trong một chiến dịch có tên gọi ‘Lam Sơn 719’, một danh từ nhằm tôn vinh Hoàng đế Lê Lợi, người chào đời tại làng Lam Sơn và sau đó đã đánh bại cuộc xâm lược của Trung Hoa vào thế kỷ 15. Mục tiêu trực tiếp đầu tiên là thị trấn Tchepone, cách biên giới Việt Nam chừng bốn mươi cây số. 

Thị trấn này nằm kế bên Đường 9 và trên thực tế tất cả các tuyến nhánh của Đường mòn Hồ Chí Minh đều đi xuyên qua khu vực này. 


Chuyện Ẩn gửi trước bản phân tích của mình dự báo về chiến dịch ở Lào là hiển nhiên. ‘Ai cũng biết trước rất rõ về nước Lào, trừ những người lãnh đạo’, ông Ẩn nói với tôi. ‘Trong số các đầu mối tiếp xúc đầu tiên của tôi có một đại tá Quân lực Việt Nam Cộng hòa, các lính dù và lực lượng đặc biệt. 

Tôi nhớ cái hôm gặp viên đại tá, người vừa vắng mặt tại Sài Gòn trong vài ngày. Da ông ta rám nắng, và tôi biết ông ta vừa đi đâu đó về, vì thế tôi hỏi, ‘Ông vừa đi câu cá ở Nam Lào về hả?’ Ông ta cười và ngay lúc đó tôi biết câu trả lời là gì.

Tôi rất lo lắng bởi tôi biết điều gì đang chờ đợi tất cả họ ở đấy. Tôi bảo ông ta nên cẩn thận và nhìn vào các tấm bản đồ về hoạt động của quân Cộng sản. Tôi không thể phá hỏng kế hoạch của phía bên kia, nhưng tôi muốn những người bạn của tôi cẩn trọng’.


Một trong những điều mà tôi cảm thấy tiếc là đã không đề nghị Ẩn nói kỹ càng về cuộc xung đột hay căng thẳng nội tâm giữa việc biết bạn bè mình đang bước vào một cái bẫy kinh khủng mà ông và những người khác đã góp sức để giăng ra, và việc chẳng thể làm gì khác ngoài câu nói,‘Hãy cẩn trọng’

Tôi phân vân không biết trong cuộc đời của ông, ông có trải qua những đêm mất ngủ hay cảm thấy băn khoăn về mặt đạo đức hay không. 

Quảng Trị - Mùa hè đỏ lửa 1972, Quân VNCH trên đường rút lui.  

Quảng Trị - Mùa hè đỏ lửa 1972, Quân VNCH trên đường rút lui.  

Chiến dịch Lam Sơn 719 được lên kế hoạch từ tháng 11 năm 1970; tới tháng 1 năm 1971, quân đội đẩy mạnh công tác chuẩn bị cho một số phương thức hành động. 

Ẩn nhận được thông tin từ một trong những đầu mối của mình bên trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa về kế hoạch tấn công xuyên biên giới đang được chuẩn bị và có thể diễn ra trước mùa mưa để qua đó làm gián đoạn hoạt động của Đường mòn Hồ Chí Minh trong một thời gian dài hơn. 

Richard Pyle và Horst Faas của hãng AP sau này viết rằng ‘tình báo miền Bắc có mặt khắp nơi tại miền Nam, từ những cô gái làm công việc lau dọn bàn nhậu cho binh sĩ Mỹ, tới nhiều cấp bậc trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tới đội ngũ báo chí Sài Gòn – và, như sau này đã được báo cáo, thậm chí ngay cả trong tổng hành dinh của Quân đoàn I tại Đà Nẵng nơi Chiến dịch Lam Sơn 719 được lên kế hoạch’. 

Khi Ẩn đã sẵn sàng gửi báo cáo lên trên, ông đi bộ dọc một đường phố theo kế hoạch đã định, trong khi bà Nguyễn Thị Ba bê khay đồ trang sức giả rồi giả bộ làm đổ xuống đường. Ông Ẩn dừng lại để giúp bà nhặt đồ lên đồng thời chuyển bản báo cáo cho bà. 

Cuối cùng, bản báo cáo đã tới Trung ương cục miền Nam và công tác chuẩn bị phòng thủ đối phó với Chiến dịch Lam Sơn 719 được tiến hành. 

Phân tích riêng của Ẩn cho Shaplen về Chiến dịch Lam Sơn đi thẳng vào vấn đề, ‘cuộc tiến quân vào Lào được hoạch định từ trước… Có lẽ Cộng sản biết điều đó cách đây sáu tháng’, dẫn‘ba cuộc hành quân thăm dò, trong đó cuộc cuối cùng diễn ra vào ngày 8 tháng 12, tổn thất 200 người, đúng như đã điện báo trước’

Ông Ẩn đã nói cho Shaplen biết được sự thực về thông tin tình báo mà Cộng sản có được từ trước. Trong bản đánh giá của mình, Đại tướng Quân lực Việt Nam Cộng hòa Cao Văn Viên và Trung tướng Đồng Văn Khuyên viết rằng ‘kẻ địch đã không bị bất ngờ trước Chiến dịch Lam Sơn 719 và họ đã chuẩn bị sẵn sàng từ trước để đối đầu với quân ta’

Bắc Việt tổn thất hơn hai mươi ngàn quân, nhưng Quân lực Việt Nam Cộng hòa, trong cơ hội lớn đầu tiên lâm trận mà không có cố vấn và bộ binh Mỹ, đã mất đến một nửa lực lượng và Mỹ bị mất tới 108 trực thăng cùng với 618 chiếc khác bị hư hại. 

Ông Ẩn tiếp tục cung cấp cho Shaplen một bản phân tích hậu Chiến dịch Lam Sơn đáng chú ý khác, bắt đầu bằng việc đánh giá chiến thuật của Quân lực Việt Nam Cộng hòa và thất bại của họ trong việc khai thông Đường 9. 

‘Họ gút lại bằng chiến thuật nửa Mỹ nửa Pháp, nhưng giống Pháp hơn. Lúc khởi đầu, họ di chuyển chậm chạp bằng đường bộ. Lẽ ra họ phải sử dụng đội xe tăng Abrams cho chiến thuật của mình. Chiến thuật nửa này nửa kia chả giống ai cả’. Ẩn đặc biệt chỉ trích công tác tình báo:‘G-2 không ổn, phát hiện ra xe tăng chỉ có một giờ trước khi chúng xuất hiện rất gần’. 

Shaplen cũng thêm vào một ghi chú cho riêng mình, rằng ‘Ẩn tiếp tục cho rằng chúng ta sẽ sống sót – bởi vì Cộng sản không dám làm tới cùng’. Lam Sơn là một chiến dịch hoàn toàn thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa, không có các cố vấn quân sự Mỹ ở bên cạnh để quan sát hoạt động của quân miền Nam Việt Nam.
 Ông Ẩn dường như cũng không kiềm chế được nên đã tiết lộ cho Shaplen một sự thật khác:‘Nếu có cố vấn quân sự Mỹ bên cạnh thì khó mà lừa được. Nhưng bây giờ thì rất dễ’.

Ông Ẩn cũng có sự khách quan tương tự khi giải thích cuộc tổng tấn công mùa xuân năm 1972 của Cộng sản, vốn khởi đầu vào lễ Phục sinh ngày Chủ nhật, 30 tháng 3 năm 1972, vài tháng sau Chiến dịch Lam Sơn. Đây là cuộc tấn công lớn nhất do Bắc Việt thực hiện trong toàn bộ Chiến tranh Việt Nam. 

Kéo dài trong sáu tháng, cuộc tổng tấn công được thiết kế như là một cuộc tấn công quân sự chính quy do lực lượng quân đội thường trực của Bắc Việt thực hiện nhằm giáng một đòn trí mạng vào Quân lực Việt Nam Cộng hòa. 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp hy vọng sử dụng các đợt tấn công tổng lực của quân đội để chiếm giữ các vùng lãnh thổ, bao gồm các thành phố lớn của miền Nam Việt Nam như Huế và Đà Nẵng. Điều này có thể tạo điều kiện cho quân đội Bắc Việt tấn công vào Sài Gòn. 

Ẩn cung cấp cho Shaplen một sự phân tích chính xác chiến lược của Cộng sản. ‘Việc lúc này không còn lính Mỹ nữa là một sự thay đổi tối quan trọng. Năm 1965, họ buộc phải chuẩn bị để đánh nhau với 200.000 quân và họ hoạch định chiến lược dựa trên con số đó, nhưng bây giờ thì khác… 

Tháng 5 và tháng 8 năm 1968 được chọn làm thời điểm tiến hành các phương cách buộc chúng ta phải ngừng đánh bom để đàm phán, ngay cả vì lý do ngoại giao họ cũng phải tổn thất nhiều người. Buộc chúng ta phải xuống thang. Thắng lợi về chiến lược, thất bại về chiến thuật, nhưng là thất bại đáng giá… 

Mặt trận Tổ quốc phải tổ chức đánh giá lại. Cộng sản nhận ra rất nhanh. Mỹ đã câu giờ cho Chính phủ Việt Nam Cộng hòa nhưng yếu kém trong lãnh đạo đã khiến Việt Nam Cộng hòa không thể tận dụng khoảng thời gian này. Công tác lãnh đạo chính trị vẫn là chìa khóa của vấn đề, chứ không phải bản thân nhà lãnh đạo’.

Nixon tin rằng Bắc Việt đã quyết thực hiện chiến dịch ‘được ăn cả, ngã về không’ trong năm 1972. Ngày 1 tháng 4, Nixon ra lệnh ném bom miền Bắc trong phạm vi cách vùng giới tuyến phi quân sự bốn mươi cây số. Tới ngày 14 tháng 4, ông ra lệnh không kích lên tận vĩ tuyến 20. 

Hòa đàm Paris ngưng trệ. ‘Đám con hoang kia sẽ phải hứng các trận bom khốc liệt chưa từng thấy’, Nixon nói với Hội đồng An ninh Quốc gia. Tiếp theo sau đó sẽ là việc sử dụng không lực hiệu quả nhất trong cuộc chiến tranh và là một trong những chiến dịch ném bom lớn nhất lịch sử thế giới, Chiến dịch Linebacker I.

Nhằm vào đường sá, cầu cống, đường sắt, căn cứ quân sự và kho bãi hậu cần, lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh không lực hiện đại, cuộc tấn công đã sử dụng bom laser điều khiển chính xác. 

Sử dụng máy bay cường kích thay cho B-52, chiến dịch này cũng đồng thời cung cấp sự yểm trợ hiệu quả cho lực lượng mặt đất của Việt Nam Cộng hòa. Kết cục của nó là năm mươi ngàn lính Bắc Việt thiệt mạng, và ước chừng 225 xe tăng cùng pháo hạng nặng bị phá hủy. 

Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội bị trúng bom B52 của Mỹ, tháng 12/1972 

Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội bị trúng bom B52 của Mỹ, tháng 12/1972 

Chiến dịch Xuân – Hè 1972 về ngắn hạn rõ ràng là một thất bại cho Bắc Việt. Bằng cách chia quân ra trên ba mặt trận khác hẳn nhau và thực hiện hàng loạt đợt tấn công tổng lực, quân Bắc Việt đã bị dàn ra quá mỏng và rõ ràng là đã không thể rót hỏa lực đủ mạnh vào bất cứ một điểm nào để từ đó có thể chiếm được một vùng lãnh thổ đáng kể. 

Do tính chất dàn trải của cuộc tấn công chính quy, nhiều đơn vị Bắc Việt đã bị tiêu diệt (một số tiểu đoàn chỉ còn năm mươi quân), khiến số này không thể chiến đấu hiệu quả trong vòng hai năm. Nhưng các căn cứ trọng yếu hơn phục vụ cho hoạt động chi viện của miền Bắc tại miền Nam vẫn chưa bị mất. 


Thương vong bên phía Hà Nội trong các cuộc tấn công chính quy là vô cùng nặng nề, mất tới hơn một nửa trong số hai trăm ngàn lính chiến. Các kết quả đáng thất vọng của đợt tấn công Xuân – Hè đã buộc Hà Nội tiến tới quyết định đàm phán. Họ đã đánh giá sai Nixon, và bây giờ có thể thấy Nixon đang tiến tới việc tái đắc cử vào tháng 11. 
Ông Ẩn đã không cố gắng xoáy sâu vào vấn đề này với Shaplen. ‘Họ đã đánh giá thấp sức kháng cự của chính phủ cũng như sự hỗ trợ của Mỹ. Đảng Cộng sản bị tổn thương nhưng chưa đến mức tê liệt. 

Dù thất bại nặng nề trong hai tháng qua, quyết tâm của họ vẫn không bị lung lay. Chiến dịch này vì thế sẽ được tiếp nối bằng các chiến dịch khác… Đảng Cộng sản đang quay trở lại, cùng những đơn vị cũ của năm 1966 được bổ sung, tất cả đã trở lại. Trong khi đó, chúng ta – Mỹ - vẫn chưa trở lại và không thể… rút ra bài học ở Chiến dịch Lam Sơn – nhìn thấy ‘cơ hội khách quan mới’ để thực hiện cuộc tổng tấn công mới.


Quân lực Việt Nam Cộng hòa đang được Việt Nam hóa. Trùng vào cuộc bầu cử ở Mỹ, mà họ không thể dự báo trước được hoàn toàn. Họ phải mạo hiểm tấn công ngay bây giờ… Nixon rất cứng rắn và sẽ không thương lượng. 

Chúng ta lại thổi vấn đề lên quá mức khi nhấn mạnh đây là một sự xâm lược, kêu gọi dư luận thế giới chống lại nó, nhưng trên thực tế, tất cả những gì chúng ta làm chỉ khiến cho nhân dân Mỹ hoảng sợ và dồn Nixon đến bờ vực mà thôi’.


Ông Ẩn đã nhận được ba Huân chương Chiến công vào thời điểm ông nói chuyện với Shaplen về Chiến dịch Lam Sơn và Chiến dịch Xuân – Hè. Danh tiếng của ông trong vai trò một nhà báo là không có gì phải bàn cãi.

(còn nữa)

Kỳ 9: Phạm Xuân Ẩn chỉ trích Nguyễn Văn Thiệu như con khỉ trong gánh xiếc
Thomas Bass: 'Phạm Xuân Ẩn không đưa tin giả'
'Những gì chúng ta có đến nay chỉ là tranh cãi về di sản của Phạm Xuân Ẩn'Bản quyền hình ảnhAFP
Image caption'Những gì chúng ta có đến nay chỉ là tranh cãi về di sản của Phạm Xuân Ẩn'

Trả lời BBC, tác giả Thomas Bass nói ông Phạm Xuân Ẩn đầu tiên là một nhà báo giỏi và dùng kỹ thuật báo chí cho hoạt động của một điệp viên.

Nói chuyện với Tina Hà Giang của BBC Tiếng Việt hôm 23/02/2018, ông Bass cũng nêu những điều bất đồng của ông với hai tác giả khác viết về Phạm Xuân Ẩn là Larry Berman và Luke Hunt.

BBCĐược biết ông sẽ cho phát hành ấn bản mới của cuốn "The Spy Who Loved Us" vào cuối năm nay, có phải ông có thêm nhiều dữ kiện về nhân vật Phạm Xuân Ẩn?

Thomas Bass: Sách của tôi sẽ được tái xuất bản vào cuối năm nay ở dạng nguyên thủy, mặc dù tôi có viết thêm một lời nói đầu mới. Cuốn 'The Spy Who Loved Us' xuất hiện năm 2009, lúc ấy Phạm Xuân Ẩn đã qua đời, vì vậy, chúng ta không biết gì nhiều thêm về cuộc đời ông ta so với lúc sách mới xuất bản. Tôi tái xuất bản cuốn sách vì Phạm Xuân Ẩn là một nhân vật đáng chú ý, và 'The Spy Who Loved Us' chưa bao giờ được xuất bản dưới dạng bìa mềm. Tôi nghĩ sách bìa mềm có thể hữu ích cho một số người.

BBC: Ông có biết là tác giả Luke Hunt vừa xuất bản một cuốn sách mới về Phạm Xuân Ẩn tên là ''The Spy Who Did Not Love Us,'' không?

Thomas Bass: Vâng, đúng vậy. Ông Luke Hunt có vẻ đang muốn bình phẩm về cuốn sách của tôi qua một số nhận xét trong sách của ông ấy. Tôi đã đọc cuốn sách này. Tôi nghĩ sách của tác giả Luke Hunt đưa ra nhiều tuyên bố vô căn cứ mà tôi nghĩ không đúng. Hiện có bảy cuốn sách viết về Phạm Xuân Ẩn, và tôi tưởng tượng chúng ta sẽ có thêm bảy cuốn nữa. Ông Ẩn là một nhân vật đáng chú ý, và thực sự là đề tài thu hút được nhiều người viết.

Thomas BassBản quyền hình ảnhSILVIA DE SWAAN
Image captionThomas Bass, tác giả cuốn 'The Spy Who Loved Us: The Vietnam War and Pham Xuan An's Dangerous Game', 2009

BBC: Chúng tôi vừa phỏng vấn ông Luke Hunt hôm qua. Ông ấy nói rằng Phạm Xuân Ẩn muốn trốn khỏi Việt Nam, ông nghĩ gì về điều này?

Thomas Bass: Ông Luke Hunt thực sự đã tuyên bố như vậy trong cuốn sách của mình. Ông ấy nói rằng Phạm Xuân Ẩn đã hai lần tìm cách trốn khỏi quê hương bằng thuyền và trở thành một thuyền nhân. Tôi tin rằng điều này là hoàn toàn hư cấu, vô căn cứ, không đúng sự thật. Tôi đơn giản là không tin. Tôi khuyên bạn không nên trích dẫn Luke Hunt về vấn đề này. Mặt khác, có phải Phạm Xuân Ẩn đã hối tiếc hoặc hoang mang? Để tôi đặt câu hỏi này một cách khác, có phải ông ta đã chỉ trích chế độ cộng sản sau năm 1975? Câu trả lời chắc chắn là có. Chiến thắng của Cộng Sản trong Chiến tranh Việt Nam đã làm Phạm Xuân Ẩn thất vọng về nhiều phương diện. Điều đó là sự thật.

Điệp viên Phạm Xuân Ẩn: Ông là ai?

Cao Văn Khánh: 'Chuyện một vị tướng như tôi biết'

Hiệp định Paris: 'Nam Bắc VN cùng vi phạm'?

BBC: Nhưng ông Luke Hunt khá cả quyết về điều đó. Ông ấy nói đã nghe việc ông n muốn trốn khỏi Việt Nam từ một vài người ông phỏng vấn, trong đó có Bác sĩ Trần Kim Tuyến?

Thomas Bass: Vâng, Phạm Xuân Ẩn như bạn biết, đã giúp ông Tuyến trốn thoát khỏi Việt Nam. Tôi không tin rằng sau đó họ nói chuyện với nhau. Vì vậy, ông Tuyến, cựu giám đốc tình báo của miền Nam Việt Nam, có lẽ đã có những lý do riêng của mình để đưa ra những tuyên bố này khác, nhưng tôi không tin rằng ông Tuyến, vào thời điểm đó đang sống ở nước Anh, có thể có điều kiện để biết rằng Phạm Xuân Ẩn muốn trở thành một thuyền nhân.

BBC: Trước khi viết sách, ông đã có dịp làm việc với Phạm Xuân Ẩn tại Việt Nam?

Thomas Bass: Không, tôi không đủ tuổi để gia nhập quân ngũ hay làm một nhà báo trong thời chiến tranh Việt Nam. Tôi gặp Phạm Xuân Ẩn lần đầu tiên vào năm 1992 khi tôi bắt đầu đến thăm nước này. Trước đó tôi chưa bao giờ làm việc với Phạm Xuân Ẩn.

Hiện vẫn còn nhiều tranh cãi về ông Phạm Xuân Ẩn ở Sài Gòn trước 1975
Image captionHiện vẫn còn nhiều tranh cãi về ông Phạm Xuân Ẩn ở Sài Gòn trước 1975

BBC: Được biết đang làm việc với ông cho cuốn sách về mình, thì ông Phạm Xuân Ẩn đổi ý và hợp tác với người khác, hình như là ông Larry Berman, theo ông thì lý do tại sao?

Thomas Bass: Vâng, Larry Berman là nhà viết cuốn tiểu sử được cho là chính thức của Phạm Xuân Ẩn. Thoạt đầu, tôi tiếp xúc với Phạm Xuân Ẩn để viết một bài cho tạp chí The New Yorker, nhưng sau một loạt bài phỏng vấn và nhiều nghiên cứu cho tạp chí The New Yorker, tôi quyết định chuyển những tài liệu đó thành một cuốn sách. Phạm Xuân Ẩn cũng đã làm việc với Larry Berman về một cuốn sách. Sách của Berman phát hành trước sách của tôi. Tôi tin rằng sách của ông Berman có nhiều điều không chính xác. Tôi từng thảo luận và chỉ trích cuốn sách của ông ta, và đưa một số điều này vào cuốn ''Censorship in Vietnam,'' cuốn sách mới nhất về của tôi về Việt Nam.

BBC: Ông có thể nói qua về một vài bất đồng với Larry Berman về nhân vật Phạm Xuân Ẩn như được mô tả trong cuốn ''The Perfect Spy''?

Thomas Bass: Vâng, chẳng hạn Larry Berman nói Phạm Xuân Ẩn được 4 huy chương quân sự, trên thực tế ông Ẩn được trao 16 huy chương quân sự. Người ta muốn phải chính xác về số lượng huy chương quân sự mà ông Ẩn được trao, chính xác về quân hàm và cấp bực của những huy chương đã được cấp để đánh giá sự tham gia và vai trò của Phạm Xuân Ẩn trong cuộc chiến. Chẳng hiểu ông Berman vì sao mà không có thông tin chính xác, và chắc chắn ông đã không điều tra tình hình một cách kỹ lưỡng đúng mức.

BBC: Ngoài số huy chương quân sự mà ông cho là ông Larry Berman viết sai, khác biệt chính giữa cuốn sách của ông và sách của Larry Berman là gì?

Thomas Bass: Vâng, cuốn sách của tôi là một nỗ lực mô tả con người đa diện của Phạm Xuân Ẩn về nhiều mặt. Hình ảnh của Phạm Xuân Ẩn trong tiểu sử chính thức của ông không sâu sắc và không toàn diện. Ngoài ra, tôi đã dành rất nhiều thời gian nói chuyện với mạng lưới gián điệp của Phạm Xuân Ẩn, và tất cả những thông tin xung quanh đến từ những người khác làm việc với Phạm Xuân Ẩn tạo ra một kết cấu phong phú cho câu chuyện không có trong 6 tiểu sử khác của ông ấy. Cuốn sách của Larry Berman vẽ lên hình ảnh rực rỡ của Phạm Xuân Ẩn như một 'gián điệp hoàn hảo'. Tôi không biết như thế nào là một gián điệp hoàn hảo.

BBC: Theo ông thì Phạm Xuân Ẩn đã làm thế nào để tránh không bị phát giác?

Thomas Bass: Có một câu ông Ẩn thường hay nói để giải thích phương pháp của mình. Ông nói 'Tôi không bao giờ nói dối với ai. Tôi luôn nói sự thật.' Tất nhiên, cả cuộc đời của ông Ẩn là một gian dối, vì thế chúng ta phải hiểu ngữ cảnh của câu nói này. Tôi cho rằng ông ta nói đúng. Nếu bạn đưa ra cùng một thông tin cho tất cả 4 cơ quan tình báo mà bạn làm việc với, họ sẽ không phát giác ra vai trò điệp viên của bạn. Đó là phương pháp làm việc của ông ta. Phạm Xuân Ẩn phân tích tình hình rồi nói với mọi người về điều ông nhận xét, nghĩa là ông nói người cộng sản sẽ chiến thắng cuộc chiến đó, và rằng đây là một phong trào chống thực dân, họ sẽ thắng thế, tôi nghĩ ông ta đã nói thế với tất cả mọi người.

BBC: Ông gọi Phạm Xuân Ẩn là gián điệp tứ trùng. Tại sao? Ông có thể nói rõ về quan hệ của của ông Ẩn với CIA không?

Thomas BassVâng, Phạm Xuân Ẩn đã làm việc với tất cả bốn cơ quan tình báo được đề cập trong cuốn sách của tôi. Ông làm việc cho người Pháp một thời gian trong vai trò kiểm duyệt tại bưu điện. Ông làm việc trong lãnh vực tâm lý chiến với Edward Lansdale và CIA của Hoa Kỳ trong một thời gian ngắn. Ông Lansdale chính là người giúp Phạm Xuân Ẩn đến Hoa Kỳ để theo học ngành báo chí.

Trở về Việt Nam sau khi được đào tạo như một nhà báo, ông Ẩn làm việc cho tình báo của Nam Việt Nam, và dĩ nhiên, ông là một điệp viên tầm cỡ của Bắc Việt trong cuộc chiến Việt Nam. Chúng ta phải hiểu rằng, khi là một gián điệp tứ trùng thì bạn nhận được tin tức từ nhiều nguồn khác nhau, đồng thời cũng cung cấp tin tức cho những nguồn này, đấy là một quá trình hết sức phức tạp. Đó là lý do tại sao Phạm Xuân Ẩn chắc chắn phải là một trong những điệp viên vĩ đại nhất của thế kỷ thứ 20, người có thể tung hứng công việc của một gián điệp tứ trùng thì phải là một người xuất sắc.''

BBC: Có vẻ như ông đã rất 'yêu' ông ấy. Phải chăng ông đã yêu, hoặc ít nhất là yêu quý tài năng của Phạm Xuân Ẩn?

Thomas Bass coi Phạm Xuân Ẩn trước hết là một nhà báo giỏi
Image captionThomas Bass coi Phạm Xuân Ẩn trước hết là một nhà báo giỏi

Thomas Bass: Vâng, tôi nghĩ thế (cười). Trước khi ông Ẩn ngừng nói chuyện với tôi, chúng tôi đã có được một mối quan hệ rất thân thiết. Ông Ẩn làm tôi nghĩ nhiều đến cha tôi. Cha tôi không phải là một gián điệp, nhưng ông ấy cũng là một nhà đàm luận rất thu hút, một người du lịch đó đây khắp nơi, và là một nhà phân tích giỏi về các vấn đề thế giới. Tôi thích ngồi đối diện với Phạm Xuân Ẩn trong phòng khách nhà ông và nghe ông nói chuyện hàng giờ đồng hồ, lắng nghe những phân tích thế giới của ông, mà tôi cho là rất chính xác. Ông Ẩn là một nhà phân tích đại tài về các vấn đề thế giới.

BBC: Chuyện gì đã xảy ra giữa hai người? Tại sao ông ta lại đột ngột thay đổi ý định cộng tác với ông về cuốn sách?

Thomas Bass: Chẳng biết tại sao. Đột nhiên ông Ẩn nói với tôi rằng cuốn sách của tôi được viết quá nhiều từ phía bên trong, rằng tôi đã dành quá nhiều thời gian nói chuyện với người Việt trong mạng lưới của ông ấy. Cũng có thể ông ta nhận được lệnh từ người chỉ huy về việc nói chuyện với tôi, không ai biết được, nhưng đến một lúc nào đó, chúng tôi không trò chuyện nữa.

BBCÔng đánh giá tình bạn của Phạm Xuân Ẩn với Đại Tá Phạm Ngọc Thảo và ông Trần Kim Tuyến như thế nào?

Thomas Bass: Đây là những câu hỏi rất hay. Đánh giá gián điệp rõ ràng là một khoa học chưa phát triển, bởi vì điệp viên, theo bản chất của họ, là những người ẩn mình, bí mật, có những câu chuyện chúng ta sẽ không bao giờ biết rõ. Miền Nam Việt Nam bị biết bao nhiêu là gián điệp trà trộn, toàn bộ hành chính bị gián điệp len lỏi vào từ trên xuống dưới, trong đó có rất nhiều điệp viên giỏi, như ông Phạm Ngọc Thảo. Thảo là một gián điệp nhị trùng có khả năng và hiệu quả cao.

Ông là một điệp viên giỏi và sau chiến tranh, được nâng lên vị trí tướng và chôn cất trong nghĩa trang chiến sĩ của Việt Nam. Nhưng chúng tôi không biết nhiều về mạng lưới mà Phạm Ngọc Thảo hoạt động, và dĩ nhiên ông đã gặp một kết cục khủng khiếp, bị tra tấn đến chết. Về Trần Kim Tuyến, bản thân ông ta không phải là gián điệp, nhưng ông điều hành mạng gián điệp tình báo của miền Nam Việt Nam, cho đến khi bị quản thúc tại gia và cuối cùng phải trốn khỏi Việt Nam.

BBC: Tình bạn giữa Phạm Xuân Ẩn và Phạm Ngọc Thảo có chân thật không? Họ có biết nhau là điệp viên không?

Thomas Bass: Tôi không biết việc Phạm Xuân Ẩn làm việc với Đại tá Phạm Ngọc Thảo, và việc Phạm Xuân Ẩn có biết Phạm Ngọc Thảo cũng là một điệp viên cộng sản không, tôi không có câu trả lời. Bạn biết là gián điệp họ hoạt động trong từng chi bộ, với mục đích giữ mỗi chi bộ tách biệt với nhau, bởi vì nếu chúng không tách rời thì toàn bộ mạng gián điệp có thể bị phá hủy nếu một chi bộ bị phát hiện.

Về việc Trần Kim Tuyến có biết Phạm Xuân Ẩn là gián điệp không? Tôi cho là không, tôi xin nói rằng Phạm Xuân Ẩn đã không tiết lộ cho Trần Kim Tuyến ông ta là một điệp viên của miền Bắc Việt Nam.

BBCChắc là quan hệ giữa Phạm Xuân Ẩn và Trần Kim Tuyến phải thân thiết, thì ông ấy mới giúp ông Tuyến rời Việt Nam, đúng không?

Thomas Bass: Vâng, nhưng một lần nữa, bạn biết đấy, ở giữa cuộc chiến, khi bạn cố dò tìm tin tức để giết quân địch và chiếm ưu thế quân sự cho phe mình, thì tình bạn là cái gì? Tình bạn ấy có thực sự, có chân thành không, hay là thứ tình bạn giúp người ta có thông tin quan trọng tới mức chết người? Phạm Xuân Ẩn và bác sĩ Trần Kim Tuyến quen biết nhau trong một thời gian rất dài, và bác sĩ Tuyến giúp nhiều cho sự nghiệp của Phạm Xuân Ẩn, nhưng đây cũng có thể là thứ tình bạn mang lại lợi ích song phương. Chúng ta không thể biết được.

BBC: Ông có nghĩ ông Phạm Xuân Ẩn rất cay đắng sau năm 1975, khi ông không được phép theo gia đình sang Mỹ, mà bị cải tạo và dường như không được chính quyền cộng sản tin tưởng?

Thomas Bass: Đúng, sau năm 1975, khi kết thúc chiến tranh Việt Nam, Phạm Xuân Ẩn lẽ ra là được chuyển đến Washington DC cùng với gia đình và tiếp tục làm việc cho tạp chí Times để làm gián điệp cho Bắc Việt.

Thế nhưng, ông Ẩn đưa gia đình ông rời Việt Nam đến Washington DC và sau đó chính ông cũng dự định lên đường thì vào phút chót, Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam không cho ông ra khỏi đất nước. Dĩ nhiên họ làm thế, hoặc vì không tin tưởng ông ta, hoặc vì ông ta biết quá nhiều và họ không thể chấp nhận rủi ro trong việc để ông thoát đi, hoặc một phe của cộng sản đã đánh bại phe khác trong việc tranh dành quyền lực. Không ai biết chuyện gì đã thực sự xảy ra, nhưng đó chắc hẳn phải là một dấu hiệu cho Phạm Xuân Ẩn thấy rằng những ngày là một gián điệp được tin tưởng của ông đã qua, và ông ta phải triệu tập gia đình về Việt Nam.

Phải mất một năm gia đình của ông Ẩn mới về lại được Việt Nam và vào thời điểm đó, Phạm Xuân Ẩn nói chung đã bị gạt qua một bên, được đưa đến sống trong một biệt thự và ít có ảnh hưởng đến chính quyền Bắc Việt. Ông ấy có cay đắng không, có nghĩ rằng chính quyền Việt Nam sau năm 1975 có nhiều sai lầm không? Tôi nghĩ là có. Ông Ẩn chỉ trích họ không đủ năng lực, tham nhũng, và có nhiều quyết định sai lầm, và một lần nữa, ông ấy phân tích rất chính xác.

BBC: Ông Ẩn có công khai chỉ trích chính quyền không?

Thomas Bass: Chắc chắn với một số khách phương Tây ông đã đưa ra những nhận định này. Ông có công khai chỉ trích chính quyền không? Tôi không chắc lắm. Sau khi bình luận với tôi, có thể ông đã hối tiếc khi nói chuyện quá thẳng thắn. Tôi nghĩ với người phương Tây ông sẽ không dấu chỉ trích của mình. Tôi không rõ ông đã bình luận như thế nào với đồng nghiệp Việt Nam.

BBC: Ông có thể đưa ra một số ví dụ về những lời chỉ trích mà Phạm Xuân Ẩn nói với ông không?

Thomas Bass: Vâng, có quá nhiều chỉ trích nên rất khó xác định. Sau năm 1975 [chính quyền] Việt Nam đã mắc nhiều sai lầm dốt nát. Một là toàn bộ mạng lưới các trại cải tạo cưỡng bách lao động, hay nhà tù, trong đó họ giam giữ những người miền Nam đến mười bảy năm hay không biết là bao lâu. Cách hành xử này sau khi chiến tranh chấm dứt đã làm Phạm Xuân Ẩn kinh ngạc. Nỗ lực loại bỏ người Hoa khỏi việc kiểm soát thị trường gạo đã gây ra cuộc khủng hoảng cho thuyền nhân và làm cho nền kinh tế bị kiệt quệ, tạo ra nạn đói ở Nam Việt Nam. Việc điều hành nền kinh tế là một tai họa sau năm 1975, Phạm Xuân Ẩn chắc chắn phê bình về điều đó, quan hệ với Trung Quốc là một điều khác, cả một danh sách dài...

BBC: Nói tóm lại, ông Phạm Xuân Ẩn có hối tiếc đã dành cả cuộc đời của mình, chấp nhận bao nguy hiểm làm điệp viên để theo chủ nghĩa cộng sản?

Thomas Bass: Tôi phải nói rằng câu trả lời là không. Ông Ẩn là một người quan sát tinh tế về lịch sử, và trong hoàn cảnh lịch sử của đất nước mình, ông đánh những lá bài mình được chia. Trong trường hợp của ông, Việt Nam ở trong một khoảnh khắc cách mạng muốn lấy lại vị thế của một quốc gia có chủ quyền, ở giữa không chỉ một, mà hai cuộc chiến giữa đế quốc và thuộc địa. Lựa chọn duy nhất ông mà Phạm Xuân Ẩn có là ủng hộ cộng sản, và ông đã làm điều đó một cách hiệu quả và trung thành. Tôi không nghĩ rằng ông ta hối tiếc một quyết định như vậy. Ông ấy có lấy làm tiếc với những gì xẩy ra sau khi chiến tranh kết thúc, nhưng hối tiếc thì không!

BBCCó ý kiến cho rằng, các tác giả ngoại quốc có khuynh hướng đánh giá quá cao vai trò của Phạm Xuân Ẩn trong Chiến tranh Việt Nam. Tựa đề như 'người Điệp Viên xoay chuyển tình thế cuộc chiến Việt Nam' có thể nghe rất hấp dẫn, nhưng có phải là quá lời không, chắc chắn phải có những điệp viên khác ngoài Phạm Xuân Ẩn?

Thomas Bass: Trước tiên, là một nhà báo bạn biết rất rõ rằng tựa đề phần lớn không phải do tác giả viết. Tờ The Daily Beast có khuynh hướng hay đưa ra những tựa đề rất giật gân, rất kém. Tôi không ủng hộ tựa đề đó, nó thật vô lý. Đó không phải là tựa đề của tôi, không phải là lời của tôi. Phạm Xuân Ẩn là điệp viên có hiệu quả cao, là người đóng vai trò rất quan trọng trong việc Bắc Việt thắng nhiều trận đánh và cuối cùng chiến thắng. Liệu Bắc Việt có thắng không nếu không có Phạm Xuân Ẩn? Có lẽ thế! Nhưng trong phân tích cuối cùng, ông được Việt Nam đánh giá cao. Ông đã cứu được nhiều mạng sống bằng cách cảnh báo trước về sự di chuyển của quân đội Mỹ và các cuộc tấn công từ [phe phản chiến] Mỹ và Đảng Cộng hòa về chiến tranh Việt Nam.

'Những gì chúng ta có đến nay chỉ là tranh cãi về di sản của Phạm Xuân Ẩn'Bản quyền hình ảnhAFP
Image caption'Những gì chúng ta có đến nay chỉ là tranh cãi về di sản của Phạm Xuân Ẩn'

Người Ba Lan suýt ngăn được Cuộc chiến VN?

Phóng viên Mỹ bay vào Sài Gòn cứu nhà vợ

Trung Quốc giết nguồn kín, tổn hại CIA

BBC: Ông ấy có thể đã cứu được nhiều người lính Bắc Việt, nhưng tôi chắc chắn, Phạm Xuân Ẩn cũng chịu trách nhiệm về nhiều cái chết của lính Mỹ. Là một người Hoa Kỳ, ông có ghét Phạm Xuân Ẩn?

Thomas Bass: Không, cuộc chiến Việt Nam là một sự việc bị dẫn dắt sai và phạm pháp từ ngày Hoa Kỳ nhúng tay vào. Vì vậy, về vấn đề này, tôi chắc chắn cảm thấy một thông cảm nhất định nào đó với Phạm Xuân Ẩn. Ông chiến đấu cho đất nước mình. Nếu bàn cờ đảo ngược, tôi cũng làm y như Phạm Xuân Ẩn.

BBC: Bí quyết thành công của Phạm Xuân Ẩn là gì? Có phải ông ta đã đưa tin giả để giúp Bắc Việt thắng cuộc?

Thomas Bass: Niềm say mê ban đầu của tôi đối với người đàn ông đó là việc ông ấy là một nhà báo, và là một nhà báo giỏi. Tôi tin rằng ông Ẩn đã sử dụng kỹ thuật báo chí trong việc làm tình báo. Vì thế phần lớn trong cuốn sách The Spy who Loved Us của tôi nói về mối quan hệ giữa gián điệp và báo chí. Này nhé, các phóng viên tường trình khám phá của họ cho thế giới, còn gián điệp thì tường trình khám phá cho chủ nhân của họ.

Vì vậy, tuy các kênh thông tin rất khác nhau, nhưng tôi tin rằng kỹ thuật và phương pháp thì tương tự. Cũng đúng là nhiều nhà báo đã làm gián điệp, và nhiều gián điệp đã cố gắng làm phóng viên, nhưng tôi không biết ai có hiệu quả như Phạm Xuân Ẩn.

Câu hỏi khác là có phải Xuân Ẩn đã đưa thông tin sai lệch? Có phải ông ấy đã có những tường trình dối trá, đã đưa tin giả? Câu trả lời là không, tôi nghĩ rằng ông ấy đưa tin thực. Tôi nghĩ Hoa Kỳ đã bị tấn công nặng nề trong Tết Mậu Thân và trong trận Ấp Bắc.

Tôi nghĩ tường trình của Phạm Xuân Ẩn về những trận này hoàn toàn chính xác. Việc tường trình rằng cuộc chiến Việt Nam có thể thắng được, với ánh sáng cuối đường hầm, tôi nghĩ đó mới là tin giả. Vì vậy, tôi không nghĩ rằng Phạm Xuân Ẩn, dưới bất kỳ hình thức nào, đã tường trình giả mạo hoặc đưa thông tin sai lệch.

BBC: Vậy thì theo ông, trong tận đáy tâm hồn mình, ông Phạm Xuân Ẩn là một nhà báo hay một gián điệp?

Thomas Bass: Vâng đó chính là tiêu đề cuốn sách của tôi, The Spy Who Loved Us, có nghĩa là điệp viên yêu Hoa Kỳ. Tôi nghĩ theo nhiều cách, Phạm Xuân Ẩn được đào tạo ngành báo ở Hoa Kỳ và làm báo như một nhà báo phương Tây. Tôi nghĩ ông ấy thích thảo luận cởi mở, công khai và tự do xuất bản. Phạm Xuân Ẩn thật sự yêu thích điều đó. Vì vậy, trong tâm hồn của ông, tôi nghĩ ông là một nhà báo. Ông yêu những phong cách của phương Tây. Nhưng ông cũng là một người theo chủ nghĩa dân tộc và là người Việt Nam, và trong hoàn cảnh lịch sử đất nước, lựa chọn duy nhất mà ông ta có là ủng hộ nỗ lực của cộng sản nhằm đẩy lực lượng thực dân ra khỏi Việt Nam.

Bà Trần Lệ Xuân qua lời kể và bình luận

Cuộc chiến ít biết của quân Anh ở Việt Nam

Tết Mậu Thân: sỹ quan Ba Lan gặp ai ở Sài Gòn?

BBC: Ông có chi tiết nào thêm về cuộc đời sau chiến tranh của ông ấy mà bây giờ mới tiết lộ được không?Thomas Bass: Trước hết, chúng ta sẽ không có bất kỳ thông tin mới nào về Phạm Xuân Ẩn cho tới năm mươi, bảy mươi, hay một trăm năm nữa, khi các kho lưu trữ tài liệu may ra được bạch hóa, mà chúng ta có thể đọc được, những tường trình mà ông ta gửi đi cho quân đội Bắc Việt, sẽ rất thú vị khi chúng ta được đọc, và tìm hiểu ý nghĩa thực sự của những huy chương quân sự ông ta đã được trao... Huy chương chiến đấu là huy chương cao nhất được cấp cho những ai thực sự thắng trận, vậy thì chính xác là Phạm Xuân Ẩn làm được gì để được cấp đến 2 huy chương chiến đấu.

Cho đến khi chúng ta có được những tài liệu đó, những gì chúng ta sẽ có chỉ là tranh cãi về di sản của Phạm Xuân Ẩn. Chúng ta sẽ có những người tuyên bố rằng ông ấy muốn trở thành thuyền nhân, và tôi đoán đó sẽ là quan điểm của người miền Nam Việt Nam, hay từ Hà Nội, rằng ông Ẩn tiếp tục làm gián điệp cho đến ngày ông qua đời. Tôi nghĩ những gì đang xảy ra vào thời điểm này là một cuộc tranh cãi về di sản thực sự của ông.

Về tác giả Thomas Bass: ông ra cuốn 'The Spy Who Loved Us: The Vietnam War and Pham Xuan An's Dangerous Game' năm 2009 và sẽ bổ sung thêm nhiều chi tiết cho lần tái bản cuối năm 2018.

Chúng tôi sẽ giới thiệu phỏng vấn của Tina Hà Giang với hai tác giả còn lại:

Larry Bermanngười viết cuốn 'Perfect Spy: The Incredible Double Life of Pham Xuan An, Time Magazine Reporter and Vietnamese Communist Agent' (2008). Bản tiếng Việt của sách đã bị kiểm duyệt nhiều đoạn ở Việt Nam.

Luke Hunt, tác giả cuốn 'The Punji Trap: Pham Xuan An - The Spy Who Didn't Love Us', đầu tháng 2/2018, gọi Phạm Xuân Ẩn là 'Điệp viên không hề yêu quý chúng ta', như để bác bỏ cách nhìn của Thomas Bass.

Xem thêm về Cuộc chiến Việt Nam:

Trận Mậu Thân: 'Chúng tôi cố tránh tổn thất cho dân'

TQ lật thế cờ khiến Mỹ quay lại Việt Nam

Tháng 11/1963: dòng họ Ngô Đình và Kennedy

Nhớ lại 'Tháng Ba gãy súng'

Sách của Cao Xuân Huy viết về cuộc di tản khỏi Huế cuối tháng 3/1975
Image captionSách của Cao Xuân Huy viết về cuộc di tản khỏi Huế cuối tháng 3/1975

Tựa bài viết này cũng là tên một tác phẩm của Cao Xuân Huy, một sĩ quan Thuỷ quân Lục chiến, viết về những ngày cuối cùng của cuộc chiến ở miền Trung Việt Nam, nơi ông chiến đấu cho đến khi cùng nhiều đồng đội bị bắt làm tù binh vào cuối tháng 3 năm 1975.

Việt Nam Cộng Hòa trước và sau Tết Mậu Thân 1968

Nguyễn Văn Đông: 'Đường đời mưa bay gió cuốn'

Với nhiều người Việt, nhất là những người lính Việt Nam Cộng hòa thì tháng 3 năm 1975 đánh dấu sự bắt đầu một khúc quanh lịch sử, với Ban Mê Thuột rơi vào tay bộ đội cộng sản ngày 10 tháng Ba, từ đó lãnh đạo miền Nam có những quyết định di tản chiến thuật sai lầm đầy máu và nước mắt, từ cao nguyên về Nha Trang, từ Đà Nẵng vào Sài Gòn để rồi dẫn đến một ngày cuối tháng Tư đau buồn.

Tác phẩm "Tháng Ba gãy súng" được xuất bản năm 1985, sau khi tác giả vượt biển và được định cư tại Mỹ năm 1983.

Cao Xuân Huy nhập ngũ năm 1968, khi vừa tròn 21 tuổi, theo lệnh tổng động viên được ban hành ở miền Nam sau các đợt tấn công của cộng sản vào Tết Mậu Thân.

Đây là cái nhìn về những ngày cuối của cuộc chiến tranh Việt Nam qua con mắt của một sĩ quan trẻ thuộc một đơn vị được coi là tinh nhuệ nhất của quân đội cộng hòa, của cựu trung úy Đại đội phó Đại đội 4, Tiểu đoàn 4 Thuỷ quân Lục chiến.

Trong lời mở đầu của tác phẩm, tác giả viết: "Tôi không phải là một nhà văn, mà tôi chỉ là một người lính, lính tác chiến đúng nghĩa của danh từ, và những điều tôi viết trong quyển sách này chỉ là một câu chuyện, câu chuyện thật một trăm phần trăm được kể lại bằng chữ."

Tàu HQ-504 chở 7000 người trốn thoát khỏi Đà Nẵng và Huế từ Cam Ranh về đến Vũng Tàu 03/04/1975Bản quyền hình ảnhSTAFF
Image captionTàu HQ-504 chở 7000 người trốn thoát khỏi Đà Nẵng và Huế từ Cam Ranh về đến Vũng Tàu 03/04/1975

Câu chuyện được ông ghi lại là khoảng thời gian từ 15 tháng Ba, lúc tác giả đang nghỉ phép ở Sài Gòn và tìm cách trở về đơn vị hiện đóng quân ở cây số 23 phía bắc Huế, cho đến ngày 27 tháng Ba, khi ông theo đoàn tù binh gồm những người lính Việt Nam Cộng hòa vừa bị bắt sau một cuộc rút lui vô cùng ngỡ ngàng theo lệnh cấp trên.

25 tháng Ba, 1975 Huế rơi vào tay cộng sản Bắc Việt. Những người lính không được lệnh bảo vệ mà phải rút lui, trong đó có đơn vị của trung úy Cao Xuân Huy đang nằm chờ ở bờ biển để được di tản vào Đà Nẵng. Đêm 26 rạng ngày 27 tháng Ba, ông và những người lính còn lại của đơn vị bị bắt làm tù binh.

Được dẫn đi dọc Quốc lộ 1 từ Huế về hướng bắc và trên đoạn đường đó nhiều tù binh đã bị bộ đội xử bắn tại chỗ. Cao Xuân Huy thoát chết là nhờ số mệnh, nhờ ông ngoại phù hộ như tác giả đã kêu cầu nhiều lần khi đối diện với tử thần.

Ông đã sống để kể lại những gì mình chứng kiến trong 12 ngày đêm ở tuyến đầu miền Nam Việt Nam qua cách viết chân thực, trong đó rổn rang những tiếng chửi thề, ngập hơi rượu, tình đồng đội và những cái chết nhẹ tựa lông hồng là điều rất thực về người chiến binh trong đơn vị của ông.

30/04: Những xui xẻo định mệnh của VNCH

"Năm năm vàng son" của Việt Nam Cộng Hòa

Những kinh hoàng của cuộc triệt thoái - hay rút lui, di tản chiến thuật - được kể lại bằng ngôn ngữ thật nhất. Máu, thịt vương vãi. Đầu chẻ làm hai. Người chết dưới xích xe tăng, chết giữa thành sắt của những con tàu. Những người lính bất tuân lệnh bị xử bắn ngay tại chỗ. Những người lính Thuỷ quân Lục chiến can trường không muốn để bị địch bắt làm tù binh, trên đường rút lui không còn hi vọng, vì biết đã bị bỏ rơi, nên cứ ba bốn người ôm nhau rồi cho nổ lựu đạn để cùng chết.

Khi chờ di tản đơn vị có những chuyện khó ai hiểu được. Một cô sinh viên văn khoa Huế với đầy đủ giấy tờ chứng minh, bồ của một người lính, cứ nhất định đòi đi theo người tình và thỉnh thoảng khóc lóc lớn tiếng, vái lạy tứ phương khiến có người nghi ngờ cô là cán bộ cộng sản được gài vào đi theo đơn vị. Hay hình ảnh một nhà tu đầu trọc, mặc áo cà sa đeo súng đi bắt tù binh Việt Nam Cộng hòa.

Câu chuyện lịch sử quân đội mà Cao Xuân Huy muốn ghi lại là một lữ đoàn Thuỷ quân Lục chiến, binh chủng thiện chiến nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, bị một đại đội Việt Cộng bắt làm tù binh. Sự thất bại nhục nhã đó là một dấu hỏi lớn mà lãnh đạo miền Nam phải trả lời cho những thế hệ mai sau.

Sau "Tháng Ba gãy súng" xuất bản lần đầu năm 1985, Cao Xuân Huy chỉ viết thêm một tác phẩm nữa là "Vài mẩu chuyện" phát hành trong năm 2010, vài tháng trước khi ông qua đời ngày 12/11/2010.

Ba chiến dịch - Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và Hồ Chí Minh - dẫn đến ngày sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa ngày 30/4/1975
Image captionBa chiến dịch - Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và Hồ Chí Minh - dẫn đến ngày sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa ngày 30/4/1975

Cũng với lối viết giản dị nhưng rất thực về chiến tranh, về mơ ước hoà bình, về đời sống tù cải tạo mà ông đã trải qua 4 năm rưỡi trong đó. Đọc truyện "Người muôn năm cũ" để thấy ảnh hưởng của chiến tranh tâm lí mà đài Mẹ Việt Nam đã có sức mạnh làm lung lay tinh thần chiến đấu của bộ đội miền Bắc với giọng cô Hiền thường xuyên nhắc đến chuyện "sinh Bắc tử Nam".

Câu chuyện gặp gỡ giữa tác giả và một anh bộ đội miền Bắc sau giờ ngưng bắn, vào ngày 28/01/1973, cho thấy người Việt hai miền ai cũng mơ ước đất nước hòa bình. Nhưng anh bộ đội đã phải thay đổi thái độ ngay khi một đồng chí khác tiến đến gần chỗ hai người đang đứng nói chuyện với nhau. Để rồi chỉ chốc lát lại bắn giết mà anh bộ đội gốc Hà Nội chắc đã tử trận sau đó. Bi thảm của chiến tranh tưởng như chấm dứt với Hiệp định Ba-Lê 1973, nhưng nỗi oan nghiệt của hòa bình lại ùa tới.

Hệ quả của cuộc chiến với bao oan hồn của người dân, người lính còn ám ảnh tác giả qua câu chuyện "Chiếc lưỡi câu" ma quái.

Cao Xuân Huy chưa bao giờ viết văn khi còn ở trong nước, ông chỉ viết khi ra đến hải ngoại. Trước ông, trong cuộc chiến đã có những bút ký chiến tranh của Phan Nhật Nam là "Mùa hè đỏ lửa", "Dựa lưng nỗi chết", "Tù binh và hoà bình"; của Trang Châu với "Y sĩ tiền tuyến" hay của Nguyên Vũ với "Đời pháo thủ", "Sau bảy năm ở lính" là những tác phẩm đem đến cho người đọc hình ảnh chiến đấu can trường, cùng tình đồng đội, tình cảm gia đình, thương yêu và mơ ước hoà bình đến trên quê hương của người lính cộng hòa.

Lệnh rút khỏi Huế của Tổng thống Thiệu

Ý kiến về 'Người Cày Có Ruộng'

Nhưng vì sao những người lính đã chiến đấu trong 20 năm để bảo vệ miền Nam bị buộc phải buông súng. Đến nay vẫn chưa có được những lí giải.

Những ngày cuối tháng Tư 1975, Sài Gòn tràn ngập người di tản từ Đà Nẵng, từ Huế, Nha Trang. Họ như mất thần, khóc lóc kể lại những cảnh chết chóc tang thương trên đường di tản bằng tàu, bằng đường bộ. Những câu chuyện chưa đánh giặc đã phải bỏ chạy làm ngạc nhiên nhiều người. Nhưng dân và cả lính không ai hiểu nổi.

Rồi chiến tranh chấm dứt ở đó vào ngày 30 tháng Tư, 1975. Những người lính ở lại chấp nhận cuộc đổi đời với tù tội trong các trại học tập cải tạo. Bên ngoài xã hội đời sống khó khăn với khoai sắn, bo bo, mì sợi. Văn nghệ sĩ, trí thức bị đàn áp, bắt giam.

Việt Nam dưới ánh sáng xã hội chủ nghĩa trong hơn bốn thập niên qua đã khiến hàng triệu người bỏ quê hương ra đi vì không chấp nhận ý thức hệ cộng sản. Điều nghịch lý là nhiều người từng đứng về phía kẻ thù của Mỹ nay cũng đang rời bỏ thiên đường để mưu tìm cuộc sống nơi đất Mỹ.

Và tầu chiến Mỹ nay đã trở lại Đà Nẵng, như lính Mỹ đã từng đổ bộ lên đây hơn nửa thế kỷ trước, giữa lúc chiến tranh đang gia tăng cường độ để be bờ, ngăn chặn Trung Quốc bành trướng.

Trong chuyến ghé Đà Nẵng của hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson hôm đầu tháng 3/2018, thủy thủ Mỹ đã xuống phố hát "Nối vòng tay lớn" và mời gọi dân chúng cùng đồng ca. Đây là bài ca đã được chính tác giả là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn hát trên đài Sài Gòn trưa ngày 30/4/75 để chào đón bộ đội cộng sản vào thủ đô Sài Gòn giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Xem cảnh này trên trang Facebook của Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Daniel Kritenbrink, tôi thầm cám ơn những người lính cộng hòa đã bảo vệ miền Nam và tự hỏi những người bộ đội cộng sản có bao giờ nghĩ đến hệ lụy mà họ đã để lại cho đất nước từ ngày 30/4/1975 đến nay.

Tác giả dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do hiện sống tại vùng Vịnh San Francisco, California

Những mũi giáo đâm sau lưng

Đỗ Hồng (Danlambao) - Vào những ngày tháng này, hầu như khắp miền Trung Việt Nam đều biến thành những “Đại Lộ Kinh Hoàng” với những cuộc chạy giặc đẫm máu. Người dân đã bỏ tất cả ruộng vườn, nhà cửa, băng rừng vượt suối mong thoát nạn cộng sản và tìm về nơi chốn bình yên. Sau cuộc chơi “thấu cấy” sai lầm từ Dinh Độc Lập nhắm vào Ban Mê Thuột, lòng dân ly tán và tinh thần binh sĩ suy sụp trầm trọng, nhất là từ lúc một số cấp chỉ huy đào ngũ ra đi. Tình trạng bi đát này đã dẫn tới biến cố 30 tháng tư với cuộc sụp đổ của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

Sự sụp đổ của một chế độ nhân bản không phải chỉ do người Mỹ quay lưng và “đồng minh tháo chạy”, mà còn do những mũi giáo đâm thẳng sau lưng dân tộc. 

Những mũi giáo đó ẩn hiện khắp miền Nam VN. Nếu cho rằng đó là những kẻ, hay gia đình họ, đã nhờ được hưởng tự do và ít nhiều ơn mưa móc từ chế độ VNCH mà cuộc sống của họ tương đối sung túc thì họ có thể được gọi là những kẻ “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”.

Một số tập kết ra Bắc và nhiều tên khác ở lại nằm vùng trong Nam. Họ trà trộn, luồn lách vào các cơ quan công quyền, quốc hội và quân đội. Họ đóng vai những nhà báo khuynh tả. Họ mặc áo nghệ sĩ. Họ đội lốt tôn giáo. Họ mang hia đội mão trí thức. Họ thậm chí đi xuống tận cùng giai cấp xã hội để làm công nhân lao động nghèo khổ. Họ có khi là những người trẻ, nhẹ dạ, bị tuyên truyền, nhồi nhét những điều huyễn mị về chủ nghĩa cộng sản. 

Những phần tử này được liệt vào thành phần thứ năm sau 4 cái ngu mà dân gian vẫn thường hay nói tới, khiến câu ca dao bình dân có thể được thêm vào như sau:

Trên đời có bốn cái ngu
Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu
Thứ năm ngu nhưng lại đứng đầu
Đó là cuồng tín theo hầu cộng nô

Những người nổi tiếng gia nhập đảng cộng sản như: Nguyễn Thị Bình (Sa Đéc), Nguyễn Tấn Dũng (Cà Mau), Nguyễn Thị Định (Bến Tre), Nguyễn Hộ (Gò Vấp), Phan Văn Khải (Củ Chi), Võ Văn Kiệt (Vĩnh Long)… đều là gốc người miền Nam và chính họ hay gia đình họ đã từng hưởng trực tiếp hay gián tiếp ơn mưa móc của chính phủ VNCH. 

Vào ngày 20/12/1960, con bài Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN(MTDTGPMN) ra đời để bắt đầu quấy rối cuộc sống yên bình của dân chúng miền Nam. Những tên gạo cội của mặt trận này gồm có: Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Phùng Văn Cung, Võ Chí Công, Đại đức Sơn Vọng, Trần Nam Trung, Nguyễn Văn Hiếu, Trần Bạch Đằng, Phan Văn Đáng, Nguyễn Hữu Thế, Trần Bửu Kiếm, Nguyễn Thị Định, Thích Thượng Hào, Nguyễn Văn Ngợi, Lê Quang Thành, Đặng Trần Thi, Trần Bửu Kiếm…

Sau đó, cái quái thai “MTDTGPMNVN” của Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) này đã đẻ ra cái gọi là “Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” (CPCMLTCHMNVN) với những tên chủ chốt như: Huỳnh Tấn Phát, Phùng Văn Cung, Trần Bửu Kiếm, Trần Nam Trung, Nguyễn Thị Bình, Cao Văn Bổn, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Văn Kiết, Dương Quỳnh Hoa, Trương Như Tảng, Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo, Thích Đôn Hậu…

Có lẽ cần mở ngoặc để nói đôi điều cái quái thai “MTDTGPMNVN”. Thế giới lúc bấy giờ đều gọi họ là Việt Cộng (VC), theo người Mỹ, trong khi người Việt gọi Việt Cộng là để chỉ chung Cộng Sản Việt Nam từ Nam chí Bắc. Không biết người Mỹ có cố tình gọi VC chỉ để nhắm vào phần tử của “MTDTGPMNVN” hay không mà khi tổ chức hội đàm Paris, họ lại dành cho mặt trận này một chỗ ngồi ngang hàng với VNCH. Cuộc hội đàm 4 bên thật sự không đúng nghĩa bởi vì 4 bên đó phải là Trung Cộng hay/và Liên Xô (nước đỡ đầu cho CSVN trong cuộc chiến) đối đầu với Mỹ (đại diện cho phe đồng minh) và VN Dân Chủ Cộng Hòa (hay CSBV) đối đầu với VNCH. Vì thế, Hiệp Định Paris 27/1/1973 được ra đời trong sự thua thiệt bất công nghiêng về phía VNCH. CSBV với sự yểm trợ mạnh mẽ cả về vũ khí, tài chính lẫn nhân sự từ Trung Cộng và Liên Xô, đã trắng trợn vi phạm hiệp định này trong khi VNCH bị cúp mất viện trợ từ Mỹ nên đã ngậm ngùi bị bức tử vào ngày 30/4/1975. Phong trào phản chiến lớn rộng tại Mỹ và nhiều nơi, kể cả VN, đã có nhận định quá sai lầm về cuộc chiến. Họ không chống kẻ xâm lăng gây chiến mà lại chống người tự vệ chính đáng. Bốn mươi lăm năm đã trôi qua kể từ ngày ký hiệp định Paris với những đau khổ triền miên dành cho một dân tộc bất hạnh sau ngày Sài Gòn bị thất thủ. Đã có những nỗ lực đáng trân trọng để phục hoạt hiệp định Paris trong gần như vô vọng. Trước đó, những kẻ nằm mơ giữa ban ngày về cái gọi là “miền Nam trung lập” thuộc MTDTGPMN và CPCMLTMNVN đã vỡ mộng vì cả hai tổ chức này đều bị chính thức khai tử không kèn không trống vào ngày 2/7/1976. 

Trở lại với những mũi giáo oan nghiệt đâm sau lưng, từ Dinh Độc Lập, có các cố vấn của Tổng Thống VNCH như Huỳnh Văn Trọng, Vũ Ngọc Nhạ... Điều đáng lưu ý là những tên này cùng đồng bọn gồm 20 tên khác từng bị bắt nhốt bởi Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung phối hợp với Ty Công An Huế thời Đệ Nhất Cộng Hòa, nhưng đến ngày 1/11/1963, Hội Đồng Cách Mạng của Tướng Dương Văn Minh thả ra và sau đó họ đã len lỏi vào các cơ quan trọng yếu của VNCH.

Trong hàng ngũ sĩ quan cao cấp quân lực VNCH, có Phạm Ngọc Thảo, Lâm Văn Phát, Nguyễn Hữu Hạnh… và vô số binh sĩ cũng như sĩ quan VNCH âm thầm làm việc tiếp tay cho CSVN, như Nguyễn Thành Trung, thượng sĩ nhất Nguyễn Văn Minh…

Nằm vùng tại Quốc Hội VNCH có cái gọi là thành phần thứ ba và Dân Biểu Đối Lập như Dương Văn Ba, Lý Quý Chung, Lý Chánh Trung, Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Đức, Ngô Bá Thành (Phạm Thị Thanh Vân), Kiều Mộng Thu, Hồng Sơn Đông, Nguyễn Văn Hàm, Đinh Văn Đệ…

Một số phần tử này cũng là những nhà báo thiên tả như Ngô Công Đức (Tin Sáng), Hồng Sơn Đông (Điện Tín) hợp cùng Chân Tín (Đối Diện), Họa Sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành), Phạm Xuân Ẩn (các báo ngoại quốc như Time, New York Herald Tribune…)… Vào đầu năm 1970, có khoảng 36 tờ báo tư nhân ở miền Nam, nhưng có rất ít báo của nhà nước, chẳng hạn như tờ Tiền Tuyến. Lợi dụng tự do báo chí, nhiều nhà báo thiên tả đã công khai đả phá chính phủ VNCH và cá nhân của TT Nguyễn Văn Thiệu. Thậm chí họ còn tổ chức diễn biến “ký giả xuống đường đi ăn mày” vào ngày 10/10/1974 để phản đối sắc luật 007 qui định về tiền ký quỹ ra báo.

Những mũi giáo đâm sau lưng còn phát xuất từ những kẻ đội lốt nghệ sĩ mà điển hình là Kim Cương, kẻ được cho là mang cấp bậc Thượng Tá của VC mặc dù bà ta phủ nhận điều này, nhưng có lẽ chẳng mấy ai tin. Ngoài ra, còn có một số nhạc sĩ nổi tiếng phản chiến như Trịnh Công Sơn (TCS), Trương Quốc Khánh, Tôn Thất Lập… Riêng TCS được xem là thiên tài âm nhạc và phù thủy ngôn ngữ, nhưng rất tiếc những tinh hoa đó lại phục vụ cho chế độ man rợ cộng sản.

Mặc lớp áo thầy tu, những mũi giáo đó đã lũng đoạn hàng ngũ quốc gia miền Nam. Những tay nổi bật trong thành phần này từ Thích Trí Quang cho tới Thích Nhất Hạnh, Chân Tín, ni sư Huỳnh Liên, Phan Khắc Từ, Trần Hữu Thanh… đều tích cực nối giáo cho giặc bằng mọi hình thức như xách động xuống đường, tuyệt thực, tự thiêu... dưới chiêu bài chống độc tài gia đình trị (thời đệ nhất Cộng Hòa), đòi quyền sống, đòi hòa bình, viết báo công kích chính phủ, chống tham nhũng (thời đệ nhị Cộng Hòa)… 

Thành phần trí thức thiên tả miền Nam góp phần phá nát chính thể dân chủ của người quốc gia có khá nhiều, tiêu biểu như: Trương Bá Cần, Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung, Thế Uyên, Thế Nguyên, Duy Lam, Nguyễn Hữu Chung, Lê Văn Hảo, Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Hanh, Lê Tuyên, Mai Văn Lễ, Cao Huy Thuần…

Thành phần năng động nhất ở miền Nam gây khó khăn cho chính phủ VNCH ở hậu phương Sài Gòn là các học sinh sinh viên thiên tả như: Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm, Cao Thị Quế Hương, Võ Như Lanh, Phan Kim Hạnh, Dương Văn Đầy, Trịnh Đình Ban… Ở miền Trung có Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân… Ngoài ra, còn có một số lãnh tụ sinh viên ở Sài Gòn chuyên cầm đầu những cuộc xuống đường rầm rộ ở Sài Gòn như Nguyễn Văn Thắng (cựu SV Sư Phạm Sài Gòn), Đoàn Kỉnh (Đại Học Khoa Học SG) mà lý lịch không rõ là người quốc gia hay thân cộng. 

Những mũi giáo đâm sau lưng dân tộc còn có vô số những tay nằm vùng hành nghề lao động tay chân như lái tắc xi, đạp xích lô… và thậm chí còn có những kẻ được gọi bằng danh xưng mỹ miều “bà mẹ chiến sĩ”. Sau ngày 30/4, bọn này xuất đầu lộ diện thành những tên VC mang băng đỏ trên cánh tay chỉ đường cho CSBV tiến vào Sài Gòn và sau đó giữ những chức vụ tại hạ tầng cơ sở hay trung ương.

Trên đây là những mũi giáo đâm sau lưng được người dân nhận diện ra tại Sài Gòn, không kể đến những kẻ khác hoạt động bí mật rải rác khắp miền Nam. 

Những kẻ này đã góp phần lật đổ chế độ nhân bản VNCH và xây dựng nên một chế độ man di, tàn bạo gây thống khổ cho toàn dân suốt gần 43 năm dài. 

Những kẻ nối giáo cho giặc cộng sau năm 1975 đều bị vắt chanh bỏ vỏ một cách không thương tiếc. Một số đấm ngực ăn năn thì đã quá muộn màng. 

Ngay cả sau biến cố 30/4, trong làn sóng tị nạn ra hải ngoại cũng có không ít phần tử cộng sản trà trộn hay hoạt động ngầm cho VC dưới hình thức tôn giáo vận, văn hóa vận…

Rút tỉa kinh nghiệm sống chung với những mũi giáo phản trắc suốt mấy chục năm ở trong nước, đồng bào hải ngoại cần vạch mặt chỉ tên những kẻ này để vận động chính quyền sở tại tống cổ chúng về nước hầu duy trì cuộc sống yên bình cho cộng đồng.

Trong khi đó, đồng bào quốc nội hãy nhớ kỹ mặt những tên bán nước hại dân để chờ một ngày lôi chúng ra đền tội trước dân tộc.

Và ngày đó sẽ không còn xa nữa!

31/3/2018




 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Lao nô thời CS: Báo động tình trạng tu nghiệp sinh Việt tử vong liên tiếp tại Nhật [NEW]
Bộ trưởng Indonesia gọi cách đánh bắt của Trung Quốc là “hành vi tội phạm”, Nam Hàn phá tàu TQ,Argentine bắn tàu TQ trong khi CSVN khiếp sợ để tàu TQ giết ngư dân không dám mở miệng! [NEW]
Hai máy bay do Trung Quốc sản xuất rơi liên tiếp ở Myanmar, 3 người chết- VN từ chối nhân viện trợ máy bay TQ!
Mẹ Nấm thoát địa ngục
Diễn biến kinh khủng vụ nhà báo Ả rập nghi bị “phân xác” tại lãnh sự quán
Kế hoạch phản công tái chiếm Hoàng Sa
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cảnh báo Trung Quốc đừng bóc lôt. bắt nạt các nước nhỏ như VN trước chuyến công du châu Á- Người VN nên hiến kế cho TT Trump đánh TQ đòi Hoàng Sa
Mật vụ Mỹ tiết lộ Tổng thống Trump từng thoát âm mưu ám sát ở Philippines
Sắp theo Quang, Trung tướng Phan Văn Vĩnh cựu tổng cụ trưởng Cành Sat bệnh nặng phải nhập viện
Sắp theo Quang, Cựu Trung tướng Phan Văn Vĩnh cựu tổng cụ trưởng Cành Sat bệnh nặng phải nhập viện
Nhà hàng Tàu thịt người: Xác những người di cư bị đông đá rong nhà hàng Tàu Cộng ở Pháp
Vì sao CSVN dung dưỡng bọn Tây ấu dâm làm hại thiếu nhi VN?
Dốt Anh ngữ, đài Truyền hình quốc gia VTV dán nhãn IMF - International Monetary Fund là International Mother Fucker
VN Tỷ Lệ Cao Kỷ Lục Thế Giới Về Ung Thư Gan Vì Nhậu Tới Xơ Gan- Cách trị liệu
Làm nhục TQ: Chánh Văn phòng tòa Bạch Ốc yêu cầu quan chức Trung Quốc xin lỗi dưới cờ Mỹ

     Đọc nhiều nhất 
Bảng Tổng sắp huy chương ASIAD 25/8: Bất ngờ VN thua Campuchia- Thắng túc cầu Syria [Đã đọc: 394 lần]
Nguyễn Ái Quốc đã chết từ năm 1932, HCM là gián điệp người Tàu, lừa cả dân tộc VN gần suốt thế kỷ! [Đã đọc: 335 lần]
Thêm bằng chứng bán nước của CSVN: Quả địa cầu TQ với hình bản đồ Việt Nam không có tỉnh Quảng Ninh và các đặc khu kinh tê thuộc TQ [Đã đọc: 332 lần]
Lực lượng Nam Phi Châu phục vụ các nữ đại gia, mệnh phụ và quan chức VN khát tình [Đã đọc: 307 lần]
Hiện tượng dã man trong học đường thời XHCN: Một Nữ sinh bị đánh lột tập thể tại VN. [Đã đọc: 306 lần]
Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain qua đời vì ung thư não [Đã đọc: 301 lần]
Khủng bố: Xả súng liên tiếp tại London, ít nhất 3 người bị thương [Đã đọc: 275 lần]
Chủ tịch nhà nước(tổng thống) Trần Đại Quang từ trần theo bác Hồ - CS sắp sụp đổ [Đã đọc: 272 lần]
Những nguyên thủ và chính khách quốc tế nào đã lây nhiễm vi rút độc lạ của Chủ tịch Trần Đại Quang cần đi khám nghiệm máu? [Đã đọc: 267 lần]
Ờ quốc gia Banglades có có một con đường tên Ngô Đình Diệm [Đã đọc: 260 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.