Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Năm 2018
T2T3T4T5T6T7CN
  1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31      
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 8
 Lượt truy cập: 10446406

 
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca 23.05.2018 13:51
30-4: Hãy trả về cho dân tộc
29.04.2018 22:08

Ng. Dân (Danlambao)- Đất nước VN ta, trải qua bao ngàn năm lịch sử thăng trầm. Đã có lúc người dân phải bi lệ thuộc, bị đô hộ từ các nước khác. Nhất là từ Trung Hoa phương Bắc. Tuy nhiên, cũng chỉ là giai đoạn ngắn, dài… Nhưng rồi, cũng từng thời kỳ, qua các triều đại quật khởi như Trưng, Triệu, rồi Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn... dân ta đã vùng dậy chống đô hộ, chống xâm lăng, để giành lấy độc lập, tự do, giữ yên bờ cõi.


Những kẻ xâm lược dù hùng mạnh, hung bạo thế mấy như Nguyên Mông hoặc là văn minh, tối tân, phát triển như Pháp, hay là mưu mô tàn độc như Minh, Thanh, Dân tộc ta vẫn chờ cơ hội vùng lên đánh đuổi kẻ thù. Thậm chí có những lúc “cõng rắn cắn gà nhà”, cầu cạnh ngoại bang vào giúp sức để tranh đoạt ngôi vị uy quyền, như Trần Ích Tắc, Mạc đăng Dung và Lê chiêu Thống phản bội non sông, rước giặc vào nhà, cũng bị dân ta đánh cho tan tác. Dân tộc VN vẫn luôn gìn giữ lấy và phát tiển giang sơn, giữ vững cõi bờ, chưa bao giờ nhường, để một tấc đất lọt vào tay giặc. 

Trở lại thời kỳ cận đại: Thực dân Pháp xâm chiếm đất nước VN ta - thế kỷ 19 (1858...). Trước thế giặc hùng mạnh, vì (họ) văn minh tiên tiến, ta yếu, ta thua, và ta bị giặc đô hộ. Từng thời kỳ, và bao bộ phận dân tộc vùng lên, liên kết từ trong lẫn ngoài, ông cha ta tìm phương chống giặc, không khuất phục, không qui hàng. Bao tấm gương anh dũng hy sinh như Phan thanh Giản, Phan Đình Phùng... và rất nhiều anh hùng liều thân bất khuất. 

Đất nước dân tộc rất cần có những phong trào nổi dậy chống xâm lăng, không phân biệt bất cứ ai, miễn là đấu tránh đánh đuổi giặc, giành độc lập, tự do cho dân tộc. 

Và lúc này, trước tình thế đó. Cộng sản ra đời - mệnh danh là quốc tế cộng sản (QTCS) - vào du nhập đất nước ta. 

Mang danh nghĩa “đấu tranh giành độc lập”, với tên gọi là “Việt Minh” kêu gọi bao người đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc để được độc lập tự do, mà mục tiêu là đánh thực dân Pháp - với sự lèo lái, chỉ đạo từ CSQT - mà sự trợ giúp tích cực từ khối Liên Xô, hình thành cùng một số nước Đông Âu, thế giới và Cộng sản Trung Hoa (gọi là Trung Cộng). 

Một đường lối, chính sách, với mưu lược rất là ma mảnh, tinh vi, tàn độc… trá hình và ẩn núp dưới chiêu bài “giúp các dân tộc bị trị” đánh đuổi thực dân, đế quốc, giành độc lập tự do, đem lại ấm no hạnh phúc. Đảng CS Đông Dương (sau là CSVN) giành quyền lãnh đạo trên đất nước VN qua công cuộc đấu tranh. 

Cơn khát gặp nước. Giữa khi nắng hạn gặp mưa. Trong lúc mọi người đang háo hức tìm đường cứu nước, mà một “đảng” qui tụ toàn dân chung cùng chống giặc cứu nước - mà còn mỹ miều gọi là “giải phóng cho dân tộc”, thì ai lại không theo? Dù rằng, một số có nhận thức, thức thời… hoài nghi. Nhưng, đại đa số, khắp mọi nơi, đang lúc khát khao cho tự do, độc lập nước nhà, đều dốc lòng theo tiếng gọi Việt Minh Cộng sản. Lại nữa, một đường lối “rất tài tình” - vừa chiêu dụ, vừa trấn áp… lừa mị tinh xảo, tinh vi, và sâu độc… Từng bước, người CS đã thành công. 

Chín (9) năm đấu tranh chống Pháp. Và rồi, tiếp nối 21 năm với chiêu bài: chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, đất nước hoàn toàn thống nhất. Cái giá phải trả cho cả dân tộc suốt 30 năm vô cùng lớn lao to tát. Và cũng đã trải qua biết bao thảm cảnh kinh hoàng: máu đổ, xương phơi, và những hy sinh vô cùng tận - để giành lấy (trên danh nghĩa) là: độc lập, tự do, kể từ dấu mốc lịch sử 30/4/1975 - Đảng ta (CSVN) hoàn toàn thắng lợi. 

Hy sinh không ngại, chết chóc không màng. Và dù cho có bao lâu cũng chẳng sờn lòng, không lùi bước. “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, dù có phải hy sinh đến người VN cuối cùng, cũng quyết giành cho được thắng lợi” – HCM đã từng nói như vậy. Không biết quyết tâm cho thắng lợi, dù có phải hy sinh đến người VN cuối cùng (hy sinh hết cả dân tộc VN), thì thắng lợi để làm gì? Và sau này thì vở lẽ là: “Ta đánh đây là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung quốc”. Có nghĩa là: đánh cho CSQT. 

Và 43 năm, sau thắng lợi (như đã mong muốn), đảng CSVN đã làm gì cho dân tộc VN? 

Đây là câu hỏi, thiển nghĩ, cần được tìm hiểu, phân tích và xác định. Tạo ra một cuộc chiến, và giành quyền để lãnh đạo một dân tộc, đảng CSVN đã và đang đem lại những gì cho đất nước, dân tộc VN? 

- Nói là đấu tranh giành độc lập, đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho toàn dân. Thực thi CNXH để đi đến CNCS, một xã hội không còn giai cấp, không có bốc lột, mọi người được hưởng (phúc lợi) cho cuộc sống đồng đều. Từ mấy mươi năm, đảng đã tuyên truyền và hứa hện với toàn dân là như vậy. Và họ (đảng) đã làm: 

- Những năm đầu là san bằng giai cấp: đánh tư sản, lấy của người giàu, nhưng không ban phát cho người nghèo – đi đến cả nước Bắc Nam đều đói rã. Mọi của cải được cho là “tư sản bốc lột”, đảng tận thu và lấy cho bằng hết - lấy để chia nhau (các cấp lãnh đạo), tự hào thành quả thắng lợi. “Nhà của ngụy ta tịch thu, của cải ngụy ta lấy, vợ ngụy ta xài, con ngụy ta sai, bọn ngụy ta đày, đưa đi tù cho chết rục. Gia đình đi sinh sống nơi rừng thiêng nước độc cho đau bệnh, chết dần mòn …”. Đức độ, khoan dung của những con người… chiến thắng? 

- Những năm sau, không xây dựng và cũng chẳng phát triển. Người dân cả nước (ngoại trừ đảng viên) tiếp tục đói nghèo – đói thêm, nghèo thêm - Tài sản, mọi thứ, đảng và nhà nước tiếp tục tận thu, mà được gọi là: Cướp sạch… 

- Rồi một chính sách được đề ra: “Đổi Mới” - Đổi mới để được cho làm ăn trở về thời điểm ban đầu - những năm vừa mới giải phóng: “Kinh tế thị trường định hướng XHCN” - một đường lối kinh tế lai căng, pha trộn giữa tiến và lùi. Để rồi đưa tới những năm sau: một nền kinh tế ọp ẹp, dậm chân tại chổ - có phần đình đốn lụi tàn vì nhũng lạm, vơ vét mọi thứ tài nguyên rất phổ biến, rất tự do từ các cấp có thế có quyền. 

- Thời điểm của đầu thập niên 1990 - Từ sau 15 năm, một đất nước (về mọi mặt) đang đi vào ngõ cụt. Khối CS (Liên Xô và các nước Đông Âu) tan rã. Không còn chổ dựa. Nước đàn anh TQ - từ bao năm nhờ vả - đã trở thành thù, và liên tiếp dạy cho những bài học đích đáng. 

- Chơi vơi giữa ngã ba đường. Muốn được sống còn, muốn tồn tại, không còn cách nào hơn là: “Đảng ta” qùi lụy, van xin, thần phục người đàn anh (TC) để sẵn sàng chấp nhận mọi điều kiện (thôn tính đất nước) được gọi là “mật ước Thành Đô” (4/9/1990). Đã là “mật ước” thì người dân VN không bao giờ biết được. Có biết chăng là những năm sau: sơ hở, rò rĩ, và trên mang internet vikipedia hé lộ. 

Để rồi, từ ấy đến nay, người ta đã thấy: 

- Lãnh thổ nhượng cho Tàu cộng (dọc các tỉnh biên giới phía Bắc) qua hiệp ước 1999. Và nhượng lãnh hải (vịnh Bắc Việt), qua hiệp ước 2000, TBT Lê Khả Phiêu đã ký. 

- Hầu hết các nơi trên toàn cõi VN: cao nguyên, vùng ven biển, phía Nam - rải rác từng khu vực trọng yếu, cho Tàu cộng vào xây dựng khai thác, qua hình thức (trá hình) cho thuê dài hạn 50,70,99 năm. (Cho thuê dài hạn chẳng khác nào là giao nhượng cho giặc?). 

- Các vùng lãnh hải, hải đảo… (của VN) – qua “4 tốt”, “16 chữ vàng” – nhượng cho Tàu chiếm đóng. 

- Tài nguyên, một đất nước tự hào rừng vàng biển bạc, giờ đang cạn kiệt. 

- Dân Tàu vào VN tự do làm ăn sinh sống, tự tung, tự tác, hoành hành. 

- Nợ công chồng chất (trên 200 tỷ đô). Nhà nước tìm mọi cách cướp đoạt từ dân. 

- Dung túng, du nhập (từ Tàu) bao thứ độc hại: thực phẩm, chất độc thải từ công nghiệp. 

- Một dân tộc không còn sức sống, đói rách, lang thang. Phải đi ở mướn, làm thuê (qua hình thức xuất khẩu lao động) để có tiền gởi về cho chế độ (đảng) tận hưởng. 

- Thuế là thuế. Không thứ gì là không thuế. Người ta nói: Nếu so với thời thực dân Pháp đô hộ, thuế của VN (CHXHCN) đáng bậc thầy. 

- Một nền giáo dục kém cỏi. Văn hóa suy đồi. Xã hội băng hoại, điên loạn. Một đất nước phát triển đi lùi – so với các nước lâng bang như: Thái Lan, Xingapore, Malysia, Hàn quồc… VN đang thụt lùi 50, 70, 100 năm… Một đất nước mà sau 43 năm phát triển, vẫn chưa làm được “con ốc vít”? 

Bao điều trên đây chỉ là sơ lược. Một đất nước hiện tại như mọi người đã rõ. Chỉ trừ đám “cuồng đảng”, “cuồng Hồ”, cố tình lẫn lộn trắng đen: cố tung hô, biện luận, bưng bít, bao che… Đôi khi cũng có thể vì “miếng ăn” mà đánh mất lương tri? 

Những gì (nói và làm) không bao giờ là thật. Hình ảnh được gọi là phát triển, là ấm no, là sung túc… chỉ là đối với một số ít, chỉ dành cho kẻ thống trị, thế quyền. Một hình thức phô diễn tuyên truyền, mà thực tế, đại đa số người dân đói nghèo cùng cực. 

- Hèn với giặc, ác với dân: Từ bấy nay, đảng và nhà nước luôn thể hiện: đối với giặc (Tàu cộng) thì cung kính, cúi lòn. Còn đối với dân - một khi biểu tình, phản kháng (chống Tàu) - thì đảng luôn thẳng tay đàn áp. 

Bao năm xa rời dân chúng. Bao năm tàn độc, dã man. Cai trị bằng lừa phĩnh gian dối. Một chính sách đầu độc. Cả một hệ thống tuyên truyền khoác lác, tự hào, tâng bốc, vô sĩ, bất lương… vẫn luôn hiện diện với mọi hình thức. Và nhất là từ khi được gọi là “giành thắng lợi” thì những gì là “hứa hẹn” trước kia hoàn toàn quên mất. Một đảng từ khi nắm toàn quyền thống trị trở thành lật lọng, thủ đoạn. Một tập đoàn bán nước, một đảng Mafia - đúng nghĩa là một đảng cướp. Thì như vậy, đảng CSVN hôm nay có đáng để lãnh đạo toàn dân? 

Nếu bảo là đảng CSVN luôn được toàn dân qúi mến, tin yêu, thì… xin thách thức: Đảng có dám cho tổ chức một cuộc “trưng cần ý dân” công bằng, chân chính? Đảng luôn lộng hành, độc tôn, độc quyền, độc đoán, và cũng quá… độc tài. Một đảng chưa bao giờ làm theo, nghe theo tiếng nói từ dân. Do dân, vì dân chỉ là tuyên truyền lừa mị. 

Món nợ phải đòi, và phải trả: 

Đảng CSVN luôn tự hào là quang vinh, thắng lợi. Phải cần được đặt vấn đề là quang vinh, thắng lợi cho ai? Và ngày kêu gọi toàn dân tham gia đấu tranh, họ đã hứa hẹn những gì? 

- Giành lấy độc lập, tự do, và để cho toàn dân có được ấm no hạnh phúc. Hồ chí Minh cũng đã từng nói: “Đánh xong giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng đất nước mạnh giàu, to đẹp gấp mười lần hơn”. Sau 43 năm, từ ngày được gọi là “đánh xong giặc Mỹ”, hiện nay đất nước VN đã ra sao? 

- Một đất nước không phát triển. Tài nguyên cạn kiệt. Lãnh thổ mất dần. Và người dân đói khổ, lang bạt tìm sự sống khắp nơi. Một nền kinh tế kiệt quệ (chỉ xin nói một số điểm chính). Thì như vậy, mạnh giàu hay nghèo khổ, yếu hèn gấp bao nhiêu lần hơn? 

- Đấu tranh giai cấp, xóa bỏ bốc lột: Sau khi toàn thắng, sau 43 năm đảng CSVN cầm quyền, đã sản sinh ra giai cấp “khủng”: những biệt thự dát vàng, những căn nhà trăm, nghìn tỷ, cuộc sống xa hoa, sang cả hiện nay trên đất nước VN là cuộc sống của ai và dành cho ai? Nếu không phải giới lãnh đạo thế quyền mới có? 

- Và từng đám người dân các tỉnh miền Trung – vùng Formosa thãi độc. Vùng thượng du phía Bắc với dân tộc thiểu số: Người lớn và trẻ nhỏ đói khát và co ro trong giá lạnh mùa đông. Họ là ai? Nếu không phải là thân nhân, con cháu của bao triệu con người đã từng xẻ dọc trường sơn đi đánh Mỹ, theo lời kêu gọi của đảng? Bây giờ, ông cha đã hy sinh nằm xuống, và đám cháu con đang thừa hưởng thành quả của “thắng lợi thành công”? 

- Hàng trăm, ngàn ngư dân bám biển, đánh cá trên lãnh hải chủ quyên VN. Họ thường xuyên bị “tàu lạ” đâm chìm, cướp bóc, giết hại. Đảng đã làm gì? 

“Mọi sự có đảng và nhà nước lo” - một câu nói bất hủ từ mấy mươi năm - từ ngày đảng nắm quyền thống trị. Đại đa số người dân mang số phận đau thương cùng cực, và cứ yên tâm, cam phận, trông chờ? Thời gian đó thì từng đoàn cán bộ, lãnh đạo “đảng ta” đi sang Tàu qùi lụy, cúi lòn, và mang sứ mạng đi về từng bước theo kế hoạch dâng nạp núi sông. Từng phần làm cho lụi tàn, tiêu vong đất nước. Và hậu quả dễ thấy nhứt là hiện nay đầu độc cả nước. Từng bầy đàn công nhân người Tàu vào làm việc tại các “khu công nghiệp” (trá hình?) – ý đồ là điệp viên, là quân đội, là mật vụ… hay là gì gì… người dân, ai có biết? Và “dòng chảy” (khối lượng người Tàu), họ qua (du lịch) để về, hay qua lấy vợ, sinh con và sinh sống? Và để rồi đồng hóa một dân tộc đang quá khổ, quá nghèo. Và cũng quá cần “độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc”? 

Cuộc chiến dù lâu, dù mau… dù thắng, dù thua… cũng là gây “món nợ”. Đảng CSVN – trên 30 năm - tạo ra cuộc chiến. Dù: “Ta đánh đây là đánh cho LX, đánh cho TQ”, nhưng nhận vủ khí, tiếp liệu, mọi thứ (vật chất) từ 2 đàn anh, đảng cũng đã giải quyết - trả nợ chiến tranh. 

Còn riêng đối với dân tộc VN. Đảng hô hào, đảng kêu gọi, qui tụ toàn dân để đấu tranh giành độc lập, tự do, hạnh phúc ấm no… Đảng chưa trả, và đảng đang cố tình “qụyt nợ” - một món nợ tinh thần, đối với dân tộc VN. 

30 năm, với bao triệu người ngã xuống – con số chưa thể thống kê rõ rệt, nhưng ước tính từ 2 – 3 triệu mạng người - Họ là ai? Những con dân yêu nước. Những con người một lòng tin đảng, hy sinh vì đảng. Mà mục đích hy sinh là đất nước mạnh giàu, có được độc lập, tự do, toàn dân ấm no, hạnh phúc. Không có bất công, không còn giai cấp. 

Ngày nay, tất cả “hứa hẹn” hoàn toàn không có được, mà ngược lại: cả một dân tộc điêu đứng, lầm than. 

Bao sự việc đã và đang xãy ra trên đất nước VN (do đảng CSVN độc quyền lãnh đạo), đến ngày hôm nay đều cho thấy: Đảng đã và đang bán nước, vì sự sống còn, vì phú quí, vinh sang của đảng, mà sẵn sàng bán luôn cả dân tộc – đưa dân tộc vào… nô lệ? 

Một đảng đã hoàn toàn yếu hèn, bất lực, lật lọng, lưu manh, dã man, tàn độc. Một đảng gieo bao tai họa. Thì toàn dân sẽ phải tính sao đây? 

Bao nhiêu oan hồn uổng tử trong CCRĐ (1953- 1956). Bao nhiêu vong hồn oan khuất Mậu Thân 1968. Bao triệu vong linh phất phưỡng – xác thân rời rạc khắp mọi miền - Hiển hách về đây, đồng hành cùng dân tộc, vùng lên đòi lại “món nợ” núi sông. 

Đảng CSVN đã vay, thì phải trả. Phải tan hàng, thoái vị. Tất cả hãy trả về cho dân tộc Việt Nam. 

Tháng tư đen 2018 

29.04.2018


Trần Đức Thảo nghĩ gì về đế quốc và 30/04?

Triết gia Trần Đức Thảo (1917-1993) nói trong hồi ký rằng cả Triều Tiên và Việt Nam đều là nạn nhân của các đế quốc như Liên Xô, Mỹ và Trung Quốc.

đào tẩu, Bắc Hàn, Hàn QuốcBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionBiên giới Nam và Bắc Hàn là vết cắt ngang bán đảo Triều Tiên từ 1953

Cuối hồi ký 'Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối' do nhà báo Tri Vũ Phan Ngọc Khuê biên soạn ghi lại các tâm sự của ông Trần Đức Thảo sau khi ông trở lại Pháp đầu thập niên 1990.

Nhân sự kiện Hội nghị thượng đỉnh liên Triều diễn ra chỉ vài ngày trước kỷ niệm 30/04, BBC Tiếng Việt trích đăng một số đoạn ghi lại lời ông Trần Đức Thảo:

Từ Marx đến Lenin và Liên Xô, ai là nạn nhân?

"Nay chúng ta phải sáng suốt mà phân tích, mà suy nghĩ về hoàn cảnh và các yếu tố chia cắt; chia rẽ này, để thấy rõ chúng ta chỉ là những nạn nhân, đau đớn của những kẻ có trách nhiệm làm lịch sử. Có thể nói họ đã làm hỏng lịch sử. Họ đây chính là lãnh đạo.

Xét riêng về cái ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, do Lenin tuỳ tiện khai triển tư tưởng Marx, chẳng qua đó cũng chỉ là phương cách để duy trì, để tham lam nắm lại toàn bộ di sản đế quốc do thời Sa hoàng để lại, để lại giam hãm các dân tộc chư hầu của thời Sa hoàng vào trong một gông cùm kiểu mới, với cái tên đẹp hơn: "khối các nước xã hội chủ nghĩa anh em".

'Stalin trung thành với chủ nghĩa Marx'

5 điều đáng nhớ về Karl Marx

Thành phố Đức 'nhấp nháy đèn Karl Marx'

Bây giờ thì mọi người đều thấy cái khối Liên Xô ấy, thực chất là một đế quốc đỏ, nó kìm kẹp các dân tộc nhược tiểu quanh nó..."

Trung Quốc và các dân tộc châu Á

"Chính Liên Xô cũng đã từng đụng độ với một đế quốc đỏ khác là Trung Quốc, chỉ vì quyền lợi quốc gia hẹp hòi, để bảnh trướng đế quốc.

Và Bắc Kinh cũng đối xử với Tây Tạng, với Triều Tiên, với cả ta, theo tâm thức bành trưởng đế quốc như thế, cũng dưới chiêu bài "khối các nước xã hội chủ nghĩa anh em", giữa hai "láng giềng hữu hảo, môi hở răng lạnh"!

Thực tế là đã hơn một lần, Liên Xô và Trung Quốc đụng độ nhau bằng quân sự..."

"Tôi còn nhớ rõ hồi đấu thập niên 60, nhân dịp được tham gia phái đoàn sang thăm Bắc Kinh, nên đã được nghe Mao Chủ tịch cam kết "năm trăm triệu dân Hoa Nam sẽ là hậu phương lớn để giúp các đồng chí tới khi chiến thắng".

Trung Quốc Mộng làm Giang Trạch Dân ngủ gật?

Cách mạng Tháng 10 'bi thảm mà chẳng đạt gì'

Mọi người mừng rỡ vỗ tay. Riêng tôi khi nghe lời cam kết ấy mà cảm thấy rợn tóc gáy. Bởi tôi không bao giờ quên chỉ vài tháng sau khi chiếm được quyền hành ở Bắc Kinh, Mao đã vội vã xua quân qua chiếm Tây Tạng. Chọn Mao làm đồng chí, làm đồng minh thì tôi lo lắm..."

Quê Từ Sơn, Bắc Ninh, sinh năm 1917, ông Trần Đức Thảo sang Pháp du học năm 1936, và đỗ vào trường École Normale Supérieure (Paris) ba năm sau.

Trần Đức Thảo nổi tiếng qua cuộc tranh luận triết học với Jean-Paul Sartre khi còn trẻ ở Paris.

Năm 1952, ông về chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Nhưng theo cuối hồi ký, ông không được trọng dụng, thậm chí bị nghi ngờ, theo dõi, giám sát.

"Tôi đã bị gạt ra bên lề sinh hoạt chính trị ngay từ đầu. Chỉ mới viết hai bài báo đề cập khái quát tới dân chủ thôi, mà đã bị chúng nó xúm vào đấu tố tưởng đã mất mạng. Thế nên mọi suy tư, trải nghiệm là phải giấu kỹ trong đầu.

Mà những gì tôi làm trong đầu, đều toàn là những nghiên cứu dựa trên thực tại thật là sống động, thật là độc lập về mặt triết học thực nghiệm, để hướng về tương lai.

Đây là một công trình nghiên cứu rất cơ bản, rất thực tế. Nếu nói về ảnh hưởng thì có lẽ tôi cũng đã đóng góp được phần nào khi gián tiếp chỉ ra cho chung quanh thấy một số sai trái rất nghiêm trọng, cho họ hiểu là nếu, không chịu thay đổi hẳn tư duy, thấy đổi toàn diện chính sách thì cả nước sẽ không thoát ra được tình trạng bế tắc tư tưởng, hỗn loạn xã hội, phải sống túng thiếu, đói khổ triền miên.

Nhất là từ sau ngày 30 tháng tư 1975. Cái mốc thời gian ấy đã dánh dấu lúc toàn khối xã hội chủ nghĩa, vốn đã rệu rã, đã khánh kiệt, nay đang bắt đầu bước dần tới nguy cơ tan rã."

Trần Đức Thảo nêu ra suy nghĩ rằng khối Đông Âu bắt đầu rạn nứt sau ngày 30/04/1975 ở Việt Nam:

"Bởi sau ngày 30 tháng tư, 1975 đó, Liên Xô và cả khối Đông Âu xã hội chủ nghĩa không còn cái chiêu bài chính đáng để bắt dân chúng phải tiếp tục hi sinh, thắt lưng buộc bụng nhằm chi viện cho các công cuộc cách mạng đánh đổ đế quốc Mỹ nữa.

Sinh hoạt tại Đại học Berkeley trong lưu bút 1980 của tác giả. Sinh viên đồng ca Nối Vòng Tay LớnBản quyền hình ảnhBÙI VĂN PHÚ
Image captionSinh hoạt tại Đại học Berkeley 'Sinh viên đồng ca Nối Vòng Tay Lớn' năm 1980. Việt Nam luôn sống với ước mơ thống nhất đất nước về lãnh thổ và lòng người.

Dân chúng bắt đầu bạo dạn và cương quyết xuống đường đòi tự do và bánh mì. Tình trạng khủng hoảng tư tưởng trầm trọng này bắt đầu đưa tới hỗn loạn ở Đông Âu, Hồng quân đãi phải trực tiếp nhảy vào can thiệp băng vũ lực, dẫn tới lúc bức tường Bá Linh sụp đổ, đưa tới kết thúc các cuộc cách mạng theo tư tưởng Mác-Lê…

Tháng Tư nghe lại 'Nối vòng tay lớn'

Kỷ nguyên hòa bình cho bán đảo Triều Tiên?

Năm phi cơ TQ 'bay sang hỏi thăm' Hàn Quốc

'Tiến lên' với đoàn văn công Bắc Triều Tiên

Chính những sự hỗn loạn ấy đã làm cho khối Liên Xô suy sụp ngay từ bên trong. Không phải ngẫu nhiên mà Đặng Tiểu Bình đã dứt khoát ngả sang phía tư bản.

Ngay cả ở nước ta, nếu không sớm cố vận động, cố chấp nhận mọi điều kiện điều đình, để Mỹ bỏ cấm vận, thì ta cũng sẽ rơi vào hỗn loạn và cùng lắm thì cũng sẽ vẫn cố định trong tình trạng trì trệ, đói khổ, bế tắc xã hội như ở Bắc Triều Tiên hay Cuba thôi."

Không chỉ đánh giá các vấn đề quốc tế, Trần Đức Thảo còn nói vì sao ông từ Paris về Việt Bắc chịu cực khổ, quyết định mà đến lúc chết ông không hối hận:

"...Về quê hương để hiểu rõ thực tại, không được nhìn thẳng vào sự thật, không sống trong sự thật của cuộc cách mạng đầy mâu thuẫn, đầy sai lầm ấy, thì làm sao nhận hiểu ra những sai lầm cơ bản của chính tôi.

Bức tường Berlin đã bị kéo đổ hồi năm 1989Bản quyền hình ảnhTOBIAS SCHWARZ/AFP/GETTY IMAGES
Image captionBức tường Berlin đã bị kéo đổ hồi năm 1989

Và cả khi phải ra đi như lần này [sang lại Pháp năm 1991]. Nếu không chấp nhận ra đi, thì tôi không thể đạt tới trình độ tu duy để đạt tới thành quả về mặt triết học như hiện nay.

Những trải nghiệm xuyên qua kiểm nghiệm phát triển cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ kháng chiến và xây dựng cách mạng ở quê nhà đã tạo cơ hội cho tôi dầu dần thấy rõ sai trái bắt đầu từ học thuyết, từ ý thức.

Sự bế tắc của cách mạng và của chính tôi là do ý thức giải phóng con người."

Vào giai đoạn cuối của Chiến tranh Lạnh, ông Trần Đức Thảo nói đến các bàn tay đại cường chia cắt nhiều quốc gia, dân tộc và gây khổ đau dài lâu cho họ:

"Sự chia cắt tàn nhẫn này là một thứ tập tục áp đặt có tính quốc tế, đã có từ lâu trong lịch sử. Chỉ tính từ sau Đệ nhị Thế chiến, thì đã có sự chia cắt vô cùng tàn nhẫn các vùng lãnh thổ, như ở Cận Đông, nó đã gây ra thảm họa Israel-Palestine, như ở vùng Balkan, ở các vùng biên giới giữa Balan và Đức, giữa Balan và Nga, rồi là sự phân chia lãnh thổ của Đông và Tây Đức, sự phân chia đã cấu tạo rất gượng ép các phần lãnh thổ của nước Nam Tư, rồi sự cắt lãnh thổ thành hai ở Triều Tiên, rồi tới quyết định chia cắt lãnh thổ nước ta cũng vậy…

Tất cả những chia cắt trắng trợn ấy, đều có hậu quả lâu dài, cả trăm năm sau nó vẫn còn tác hại, dù nói chỉ là tạm thời! Đấy là những dàn xếp tàn nhẫn, do chủ mưu, mặc cả, chia chác quyền lợi, ảnh hưởng giữa các nước lớn với nhau, để áp đặt, bất chấp nguyện vọng của các dân tộc trong các vùng, tại các nước bị chia cắt.

Các nước lớn đã chơi trò dựng lên những ý thức, những lý tưởng, những tâm lý phân biệt hệ chính trị, phân biệt biên giới địa lý, đi duy trì sự chia rẽ trong đầu thằng dân nhược tiểu một cách lâu dài, để phe này kiên trì cầm súng bắn giết phe kia, để nuôi dưỡng chiến tranh cục bộ.

Bức tường tâm lý có ảnh hưởng sâu rộng và mạnh mẽ nhất chính là bức tường ý thức hệ. Bức tường này đã chia hai thế giới: một bên là ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, lấy nguyên tắc mác-xít đấu tranh giai cấp làm động lực, bên kia là ý thức tư sản, tư bản, lấy lý tưởng tự do dân chủ làm động lực.

Hình ảnh hôm 27/4 tại Bàn Môn ĐiếmBản quyền hình ảnhEPA
Image captionHình ảnh hôm 27/4 tại Bàn Môn Điếm: lãnh đạo Nam và Bắc Hàn nói về 'một dân tộc' và lên kế hoạch chấm dứt 'mọi hoạt động thù địch'

Tất cả các lãnh thổ bị chia cắt, các dân tộc bị chia rẽ đều do các nước lớn vũ trang, bằng cả tinh thần lẫn vật chất, để trở thành những ngòi nổ của các cuộc chiến tranh cục bộ, thường là rất đẫm máu."

Thế mà lãnh đạo mỗi phe, của mỗi phần lãnh thổ bị chia cắt ấy, cử khoe tài, khoe trí, cam kết sẽ "đưa dân tộc, đất nước tới chiến thẳng!" Đau đớn và mỉa mai nhất là trong lúc các nước nhỏ diễn trò anh em bắn giết nhau, thì lãnh đạo các nước lớn vui vẻ thăm viếng nhau, mở yến tiệc khoản đãi nhau, để tìm cách thông cảm nhau, tránh trực tiếp đụng độ nhau.

Đồng thời họ tiếp tục tuôn vũ khí vào các nước nhỏ để nuôi chiến tranh. Là một nhà triết học như tôi, thì phải tìm hiểu để biết nhìn sâu và xa hơn qua những cuộc chiến tranh cục bộ, huynh đệ như thế. Vì sau khi đã chiến thắng, thì còn lại biết bao đau thương mà người dân, ở cả hai bên chiến tuyến, phải gánh chịu."

Xuất thân là một nhà Marxist, ông Trần Đức Thảo đã đi đến chỗ bác bỏ chủ thuyết cách mạng không tưởng:

"Đấy là một mô hình cách mạng không tưởng, không nền tảng duy vật sử quan!… Không tưởng vì cả tin vào sự đam mê cuồng tín, cả tin vào khả năng giải phóng bằng bạo lực của hận thù.

Cho tới khi bị coi như là một kẻ phản động, bị nghi là "kẻ do địch cài vào hàng ngũ cách mạng" thì từ đó tôi mới nhận ra sự bế tắc ấy là do ý thức, do thái độ cảnh giác, do chính sách thù hận mù quáng của quyền lực chuyên chính.

Sự chuyên chính ấy đã đóng kín mọi chân trời, đã không ngừng đẩy những con người chân thật, không chấp nhận dối trá, sang phía thù địch. Và từ đó tôi nhận ra đấy là những sai lầm tai hại, bế tắc của chính tôi.

Báo Le Figaro cho hay trước khi qua đời, Trần Đức Thảo quyết định ở lại hẳn bên PhápBản quyền hình ảnhTRAN DUC THAO
Image captionBáo Le Figaro cho hay trước khi qua đời, Trần Đức Thảo quyết định ở lại hẳn bên Pháp

Nhờ được chứng kiến, được sống sát cánh với những con người đau khổ không có ai, không có gì bảo vệ, như đã thấy trong cuồng phong cải cách ruộng đất…

Từ đó, tôi bắt đầu nhận thức rằng giá trị một ý thức hệ không thể so sánh với mạng sống của con người, nhất là đối với con người bị oan ức, con người bị trù dập, bị bóc lột, hoàn toàn bất lực, vô phương tự vệ.

Một ý thức hệ, dù thế nào thì nó chỉ có giá trị của một dụng cụ. Một dụng cụ làm sao nó có thể so sánh với giá trị của một mạng sống? Nhất là một mạng sống trong oan ức, đau khổ? Vì vậy mà tôi thấy là không thể hi sinh con người cho bất cứ một thứ ý thức hệ nào.

Trước nỗi đau của con người tuyệt vọng vì ý thức hệ, thì chính cái ý thức hệ ấy cũng cần phải được rà xét lại, để cải đổi hoặc để đào thải.

Nhờ sự tỉnh thức như vậy, mà bây giờ tôi đã tìm thấy được con đường đưa tới gần chân lý.

Chính những sai lầm cơ bản về tư duy đã đưa tới những hành động gây đau khổ cho con người, đã dẫn tới sự sụp đổ của ý thức hệ, rồi là của khối xã hội chủ nghĩa..."

Ông Trần Đức Thảo qua đời tại Pháp năm 1993. Trong bài tưởng niệm 'Tran Duc Thao, 76, Vietnamese Thinker', trang New York Times nhắc lại cuộc tranh luận nổi tiếng của ông với triết gia hàng đầu của Pháp và châu Âu, Jean-Paul Sartre về chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa hiện sinh. Các báo Pháp và Mỹ năm 1993 đều nói ông bị cấm dạy học và xuất bản ở Việt Nam cho đến năm 1987. Báo Le Figaro cho hay trước khi qua đời, Trần Đức Thảo quyết định ở lại hẳn bên Pháp.

Công thống nhất đất nước của đảng CSVN tới đâu?

Thảo Dân (Danlambao) - Cứ mỗi dịp 30 tháng 4 hàng năm, đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam lại huênh hoang về chiến thắng đế quốc xâm lược, giải phóng miền Nam; lại cao giọng tuyên truyền về công lao thống nhất đất nước.

Cùng thời điểm ấy, quân dân miền Nam và những người chống chế độ Cộng sản tưởng niệm sự mất mát to lớn của nền dân chủ tự do của miền Nam, và nỗi khổ đau ngất trời của toàn dân Việt dưới ách toàn trị Cộng sản, một thứ chủ nghĩa nhân danh bình đẳng, tiến bộ để giết người, chà đạp quyền sống, tự do, nhân phẩm của con người, đã bị cả thế giới lên án.

Vì đâu nên nỗi? 

“Trông người để hiểu rõ ta hơn”; trước hết, hãy lướt qua nước Đức, Đại Hàn là 2 quốc gia cùng hoàn cảnh với Việt Nam. 

3 quốc gia bị chia đôi 

Nước Đức chia đôi 

Tháng 5 năm 1945: sau khi đẩy lui quân Đức khỏi lãnh thổ, hồng quân Liên Xô tiến sang phía Đông nước Đức trong khi quân Đồng Minh tiến vào phía Tây Đức. Hiệp ước Postdam chia thành phố và cả nước Đức làm hai phần: Phía Đông do quân đội Liên Xô kiểm soát, phía Tây quân Đồng minh (Mỹ, Anh, Pháp) kiểm soát. 

Ngày 12 tháng 5 năm 1949 Mỹ, Anh và Pháp thành lập Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức), theo thể chế Dân chủ tự do. Ngày 24 tháng 5 cùng năm, Liên Xô thành lập Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức), theo thể chế Cộng sản. 

Đại Hàn chia đôi 

Sau cuộc chiến 1904-1905, Nhật Bản đô hộ bán đảo Triều Tiên từ năm 1910 đến khi Thế chiến II kết thúc. Trước khi Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện năm 1945, Liên Xô và Hoa Kỳ cùng đưa quân vào Triều Tiên. Sau đó, hai quốc gia đồng ý chia bán đảo này thành hai phần, với đường phân cách là vĩ tuyến 38. Liên Xô tiếp quản miền Bắc còn Hoa Kỳ quản lý miền Nam. 

Mạc Tư Khoa ủng hộ chính phủ của Chủ tịch Kim Nhật Thành ở miền Bắc theo chính thể Cộng sản. Ở miền Nam ông Syungman Rhee đắc cử tổng thống theo chính thể Dân chủ Tự do. 

Quân đội Mỹ và Liên Xô rút khỏi bán đảo Triều Tiên trước năm 1949. 

Việt Nam chia đôi 

Ở Việt Nam, Pháp bị Nhật lật đổ ngày 9 tháng 3 năm 1945; tuy nhiên sau khi thế chiến thứ 2 kết thúc, Nhật đầu hàng Đồng minh; Việt Minh Cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo cướp chính quyền từ tay chính phủ độc lập đầu tiên của người Việt do ông Trần Trọng Kim làm thủ tướng. Khi quân Anh vào miền Nam để giải giáp quân Nhật quân Pháp đi theo. Sau đó Pháp ký hiệp ước với chính phủ liên hiệp do Hồ Chí Minh lãnh đạo để tiến ra Bắc. Sau khi hai bên thương thuyết không thành, chiến tranh Việt Minh-Pháp tiếp diễn. 

Đến ngày 20 tháng 7 năm 1954, dưới sự bảo trợ của các cường quốc Anh, Hoa Kỳ, Liên Xô, Trung Quốc, hiệp định ngưng bắn được ký kết ở Geneve giữa Pháp và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, chia đôi nước Việt Nam ở vĩ tuyến 17. Quân Cộng sản thuộc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chiếm giử phía Bắc vỉ tuyến, quân Pháp và Quốc gia rút về phía Nam vĩ tuyến ấy, sau đó hình thành chính thể Việt Nam Cộng Hòa. 

Thống nhất nước Đức trong hòa bình 

Từ năm 1949 đến năm 1961 đã có khoảng 2, 6 triệu người chạy từ Đông Đức sang Tây Đức, trong đó chỉ riêng trong hai tuần đầu của tháng 8 năm 1961 đã có tới 47.433 người chạy trốn khỏi Đông Đức. 

Để ngăn cản tình trạng này, chính quyền Đông Đức quyết định xây dựng Bức tường Berlin. 

Bức tường được hình thành từ ngày 13 tháng 8 năm 1961 và tồn tại đến ngày 9 tháng 11 năm 1989 trước khi bị phá bỏ. Bức tường là ranh giới chia cắt giữa phần Tây Berlin với phần phía Đông của thành phố và bao bọc chung quanh Cộng hòa Dân chủ Đức. Nó từng được chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức Cộng sản gọi là “bức tường thành bảo vệ chống Phát xít” nhưng người dân Cộng hòa Liên bang Đức Tự do gọi là “bức tường ô nhục”. 

Từ năm 1961 đến 1989, khoảng 5.000 người đã tìm cách vượt qua bức tường để sang Tây Đức. Số người bị thiệt mạng khi vượt tường từ 86 đến 200 người. Đến mùa hè năm 1989, Bức tường Berlin đã không còn tác dụng khi Hung Gia Lợi cho phép người dân Đông Đức được quá cảnh để đi sang Áo hoặc Tây Đức. 

Ngày 9 tháng 11 năm 1989, người dân đã bắt đầu phá bỏ từng phần bức tường mà không gặp phải sự can thiệp của chính quyền. Sự sụp đổ của Bức tường Berlin đã dẫn tới sự thống nhất hai phần nước Đức vào năm 1990: Cộng hòa dân chủ Đức sáp nhập vào Cộng hòa Liên bang Đức. 

Sau hơn 40 năm chia cắt, nước Đức thống nhất trong hòa bình. Thủ tướng Đức hiện nay là bà Angela Merkel là một người đến từ nước Cộng hòa Dân chủ Đức. 

Mưu toan thống nhất bằng vũ lực của Bắc Triều Tiên thất bại với giá đắt

Quân đội Triều Tiên với 135.000 binh sĩ được Liên Xô huấn luyện và trang bị rất tốt với hơn 200 xe tăng bao gồm 150 xe tăng T-34, khoảng 180 máy bay gồm 40 máy bay tiêm kích Yak và 70 máy bay ném bom. 

Quân đội Hàn Quốc chỉ có hơn 60.000 binh sĩ với 100.000 khẩu súng, 2.000 ống phóng tên lửa, nhiều đại bác và súng cối, không có xe tăng. Quân đội Hàn Quốc cũng không có máy bay tiêm kích, hay bất cứ pháo chống tăng nào. 

Rạng sáng ngày 25 tháng 6 năm 1950, quân đội Triều Tiên tràn sang bên kia vĩ tuyến 38, chiếm được Seoul trưa ngày 28 tháng 6, chỉ 3 ngày sau khi phát động tấn công. 

Hoa Kỳ và 15 quốc gia Liên Hiệp Quốc khác can thiệp giúp Hàn Quốc. 

Đến ngày 25 tháng 9 năm 1950, lực lượng liên quân đã giành lại Seoul, gây thiệt hại nặng cho quân đội Triều Tiên và đẩy lực lượng này về bên kia vĩ tuyến 38. 

Tháng 10 năm 1950 Trung Quốc điều 180.000 chí nguyện quân vượt sông Áp Lục tiến vào Triều Tiên. Liên Xô cho phép không quân hỗ trợ trên không cho Trung Quốc. 

Cuộc chiến giằng co đến ngày 27 tháng 7năm 1953, Triều Tiên và Chí nguyện quân Trung Quốc ký hiệp định đình chiến với Bộ Tư lệnh Liên Hợp Quốc tạo ra khu phi quân sự (DMZ) với bán kính 2.200 m về mỗi bên tính từ điểm trung tâm. Khu DMZ được tuần tra nghiêm ngặt bởi quân đội hai bên từ đó đến nay. 

Tham vọng thống nhất quốc gia của Cộng sản Bắc Triều Tiên thất bại với cái giá kinh khủng: Dù cuộc chiến chỉ kéo dài 3 năm nhưng thương vong vô cùng lớn với khoảng 5 triệu người thiệt mạng. Phía Hoa Kỳ có gần 40.000 lính tử trận; Hàn Quốc mất khoảng 217.000 quân, 1 triệu thường dân thiệt mạng; Triều Tiên có 406.000 binh sĩ tử trận, 600.000 thường dân thiệt mạng. Trung Quốc mất khoảng 600.000 binh sĩ. 

Thống nhất Việt Nam; công lao đảng Cộng sản tới đâu? 

Cùng hoàn cảnh bị chia đôi, một nửa theo chủ nghĩa Cộng sản, một nửa theo thế giớiTự do, nước Đức đã thống nhất trong hòa bình, Bắc Hàn thất bại trong âm mưu sử dụng bạo lực để thống nhất, Hàn quốc vẫn tồn tại trong tự do dân chủ. Còn Việt Nam? 

Cũng như nhà nước Bắc Triều Tiên Cộng sản, nhà nước Cộng sản Việt Nam ở miến Bắc đã phát động chiến tranh đánh chiếm miền Nam để thống nhất đất nước. Không như Bắc Triều Tiên đã thất bại, Bắc Việt đã thành công. 

Thống nhất đất nước là nguyện vọng của dân chúng cả 2 miền Nam, Bắc. 

Nhưng công lao của đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tới đâu? 

Trước tiên, cần trả lời câu hỏi: “Ai chia cắt đất nước?” 

Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Pháp chủ trương chia cắt Việt Nam 

Hiệp định Geneve chia cắt đất nước từ 1954 đến 1975 đã dẫn đến cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn khốc liệt kéo dài suốt 20 năm khiến hàng triệu người chết, hàng triệu người khác bị thương và tàn phế, gây chia rẽ dân tộc ngay cả sau khi đất nước im tiếng súng. 

Cộng sản Việt Nam cho rằng “ngụy quyền Ngô Đình Diệm” được sự khuyến khích của “đế quốc Mỹ” từ chối tổng tuyển cử để chia cắt lâu dài đất nước ta. Điều ấy có đúng? 

Ai chia cắt đất nước và vì sao chia cắt? 

Khi thế chiến thứ hai đang ở giai đoạn cuối, Hoa Kỳ tuyên bố không muốn thấy Pháp khôi phục chế độ thuộc địa ở Đông Dương. Tổng thống Hoa Kỳ Roosevelt phát biểu tại Hội nghị Teheran cuối năm 1943: "Đồng minh đổ máu không phải nhằm khôi phục ách thống trị của Pháp ở Đông Dương". 

Về phần mình, nước Pháp cũng không còn muốn duy trì chế độ thực dân. Tháng 7 năm 1944, Tổng thống De Gaulle công bố kế hoạch về quyền tự trị của Đông Dương trong Liên hợp Pháp. 

Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 chấm dứt ngày 15 tháng 8 năm 1945, phe Đồng Minh thắng trận giao cho quân đội Anh giải giới quân Nhật phía nam vĩ tuyến 16, quân đội của Trung Hoa Dân Quốc giải giới ở phía Bắc vỉ tuyến này. 

Trong phe Đồng minh thắng trận, quân Pháp theo chân quân Anh, tái chiếm miền Nam. 

Ngày 6 tháng 3 năm 1946 Pháp ký với chính phủ liên hiệp Quốc-Cộng do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo “hiệp định Sơ bộ” công nhận Việt Nam độc lập trong Liên Hiệp Pháp, đổi lại Pháp được phép tiến quân ra Bắc. 

Pháp muốn có mặt ở miền Bắc để làm áp lực với người Việt Nam; Việt Minh lợi dụng Pháp để chống lại quân Trung Hoa Dân Quốc vì sợ họ hổ trợ Việt Quốc, Việt Cách là 2 đảng phái Quốc gia theo quân Quốc dân đảng về nước; hơn nữa Việt Minh Cộng sản muốn lợi dụng Pháp để tiêu diệt các đảng phái Quốc gia. 

Hiệp định này bị các đảng phái Quốc gia phản đối. Khi ấy, Pháp đã lập chính phủ Nam kỳ tự trị. 

Sau khi hiệp ước Sơ bộ và Tạm ước ký với Pháp thất bại, ngày 19 tháng 12 năm 1946 ông Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Chiến tranh tiếp diễn. 

Ngày 5 tháng 6 năm 1948 tại vịnh Hạ Long, ông Emile Bollaert, Cao uỷ Pháp ở Đông Dương, và ông Nguyễn Văn Xuân, Thủ tướng Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam, đồng công bố bản Tuyên bố chung theo đó nước Pháp long trọng công nhận nền độc lập của Việt Nam. Lần đầu tiên Pháp công nhận Chính phủ Quốc gia Việt Nam và cũng là lần đầu tiên lá quốc kỳ vàng ba sọc đỏ được chính thức công nhận. 

Việt Minh Cộng sản chống lại hiệp định này. Cả ông Ngô Đình Diệm lẫn các đảng phái Quốc gia khác cũng tiếp tục đấu tranh ôn hòa với Pháp để Việt Nam được thực sự độc lập và thống nhất. 

Ngày 8 tháng 3 năm 1949, tại điện Elysee Tổng thống Pháp Vincent Auriol ký với ông Bảo Đại hiệp định long trọng tuyên bố giao trả độc lập cho Việt Nam lần nữa. Lần này về quân sự Việt Nam có quân đội riêng, Nam kỳ được trao trả cho Việt Nam; tuy nhiên, về ngoại giao, Việt Nam vẫn còn bị ràng buộc trong giới hạn của Liên hiệp Pháp. Ông Bảo Đại về nước, tuyên bố độc lập lần nữa. 

Ngày 23 tháng 4 năm l949, quốc hội Nam Kỳ biểu quyết giải tán chế độ Nam Kỳ thuộc địa để sáp nhập Nam phần vào lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam độc lập và thống nhất với 45 phiếu thuận và 6 phiếu chống.

Ngày 6 tháng 6 năm 1949 quốc hội Pháp phê chuẩn Hiệp Định Elysée, giao hoàn Nam kỳ cho Quốc gia Việt Nam. 

Tháng 5 năm 1950, Chính phủ Pháp bãi bỏ Bộ "Hải ngoại Pháp quốc" và thay bằng Bộ "Các quốc gia liên hiệp". 

Các diễn biến trên cho thấy, Pháp không còn ý chí duy trì chế độ thực dân ở Việt Nam mà chỉ muốn Việt Nam độc lập trong Liên hiệp Pháp. 

Vua Bảo Đại và các đảng phái quốc gia nắm lấy cơ hội này để từng bước giành độc lập cho đất nước; trong khi đảng Cộng sản Việt Nam, được Liên Xô và Trung quốc viện trợ vũ khí, vẫn tiếp tục đánh Pháp. 

Năm 1952, ông Eishenhower trong bài diễn văn nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ ở tòa Bạch ốc đã tuyên bố: “Đối với người Mỹ, cuộc chiến ở Đông Dương không còn là chiến tranh chống thuộc địa nữa, mà là một thứ chiến tranh của Tây Phương chống lại chủ nghĩa Cộng sản, một cuộc chiến tranh nhằm đem lại tự do cho Việt Nam”

Ngày 27 tháng 10 năm 1953, Thủ tướng Pháp là Joseph Laniel tuyên bố sẵn sàng tìm kiếm cơ hội tái lập hòa bình ở Đông Dương. 

Biết Cộng sản Việt Nam và Pháp chủ trương chia cắt đất nước, ngày 16 tháng 4 năm 1954 và sau đó, ngày 21 tháng 4 năm 1954, Quốc trưởng Bảo Đại lần lượt gặp Tổng thống Pháp René Coty và Ngoại trưởng Hoa Kỳ Foster Dulles tại Paris để lên tiếng phản đối việc này. 

Hội Nghị Genève khai mạc ngày 26 tháng 4 năm1954 với sự tham dự của Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Liên Xô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa với mục đích bàn về Triều Tiên và Đông Dương. 

Trong phiên họp ngày 2 tháng 5 năm1954 theo đề nghị của Liên Xô hội nghị mời thêm Quốc gia Việt Nam, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Cộng sản Việt Nam), Lào và Cam-Bốt tham dự. 

Ngày 3 tháng 5 năm1954, sau thời gian phản đối không kết quả, Quốc trưởng Bảo Đại cử Ngoại trưởng Nguyễn Quốc Định đi Genève tham dự hội nghị. 

Ngày 8 tháng 5 năm 1954 lúc 4 giờ chiều, hội nghị Genève về Đông Dương chính thức khai mạc với thành phần tham dự: 

- Phái đoàn Anh do ông Anthony Eden làm trưởng đoàn. 

- Phái đoàn Hoa Kỳ do ông Bedell Smith làm trưởng đoàn. 

- Phái đoàn Liên Xô do ông Viacheslav Molotov làm trưởng đoàn. 

- Phái đoàn Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa do ông Chu Ân Lai làm trưởng đoàn. 

- Phái đoàn Pháp do ông Georges Bidault làm trưởng đoàn. 

- Phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do ông Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn. 

- Phái đoàn Quốc gia Việt Nam do ông Nguyễn Quốc Định làm trưởng đoàn (về sau ôngTrần Văn Đỗ thay thế). 

- Phái đoàn Lào do ông Phumi Sananikone làm trưởng đoàn. 

- Phái đoàn Cam-Bốt do ôngTep Than, làm trưởng đoàn. 

- Hai đồng chủ tịch Hội nghị là Liên Xô và Anh. 

Ngày 26 tháng 5 năm1954, Pháp và VNDCCH thỏa thuận ngừng bắn ở Việt Nam, rút quân về những khu vực chỉ định. Ông Phạm văn Đồng đề nghị chia hai nước Việt Nam ở vĩ tuyến 13, Việt Minh rút về Bắc, Pháp rút về Nam. Pháp chưa quyết định. Anh quốc tán thành, Hoa Kỳ phản đối. 

Ông Nguyễn Quốc Định, Thạc sĩ Luật Khoa, trưởng phái đoàn Quốc Gia Việt Nam đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ: “Nếu sự chia đôi được chấp thuận thì sẽ không có hòa bình mà chỉ ngưng chiến một lúc để rồi lại tái chiến. Người ta chưa từng thấy một nước nào bị chia xẻ lãnh thổ mà không tìm cách xóa bỏ việc chia cắt đó. Chia đôi, nghĩa là sớm muộn cũng lại có chiến tranh”. 

Ngày 13 tháng 6 năm1954, nội các Joseph Laniel của Pháp từ chức. 

Ngày 21 tháng 6 năm 1954 ông Mendès-France thuộc đảng Xã Hội Cấp Tiến (Socialiste Radical), được mời lập chính phủ. 

Điều trần trước Quốc Hội Pháp, ông Mendès-France tuyên bố sẽ giải quyết vấn đề Đông Dương trong vòng bốn tuần lễ, ký kết hiệp ước đình chiến, rút quân Pháp ra khỏi Đông Dương. 

Trong thời gian nghỉ họp, ông Châu Ân Lai mời ông Hồ chí Minh và ông Võ nguyên Giáp qua Liễu Châu (Liuzhou), thuộc Tỉnh Quảng Tây (Kwangsi hay Guangxi), hội họp từ ngày 3 tháng 7 năm1954. 

Châu Ân Lai khuyên Hồ chí Minh chấp nhận thượng sách là hòa vì nếu tiếp tục mở rộng chiến tranh, Hoa Kỳ sẽ can thiệp. Theo Châu Ân Lai, CS Việt Nam nên giải quyết riêng chuyện Lào và Miên, đồng thời chia hai nước Việt Nam ở khoảng vĩ tuyến 16. Với kinh nghiệm chiến tranh Triều Tiên, Châu Ân Lai khuyên CSVN không nên đòi hỏi thái quá, khiến Pháp sẽ ở vào thế phải nhờ Hoa Kỳ can thiệp. 

Trong phiên họp Võ nguyên Giáp cho biết nếu phải rút đi thì chôn giấu vũ khí và chỉ rút những người làm công tác chính trị bị lộ diện, để lại ở miền Nam chờ thời cơ, từ 5.000 đến 10.000 cán bộ. 

Ngày 7 tháng 7 năm 1954, trong lúc hội nghị còn đang diễn ra ở Geneve, ở Việt Nam Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm ông Ngô Đình Diệm lập nội các. Bác sĩ Trần Văn Đổ đảm nhận chức Ngoại trưởng làm trưởng đoàn Việt Nam thay ông Nguyễn Quốc Định. 

Bác sĩ Đổ cũng cực lực chống lại đề nghị chia cắt lãnh thổ dù chỉ là tạm thời của ông Phạm Văn Đồng. Ông nói: “Dù sự chia cắt nầy chỉ tạm thời, chắc chắn nó sẽ tạo cho Việt Nam những hậu quả tương tự như ở Đức, Áo và Triều Tiên”.

Ngày 10 tháng 7 năm 1954 tân Thủ tướng Pháp là ông Mendès-France đích thân đến Genève để hội đàm với Ngoại trưởng Liên Xô là ông Mikhailovich Molotov. Sau đó ngày 12 và 13 hội đàm với Ngoại trưởng Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là Châu Ân Lai. 

Kết quả Pháp, Liên Xô và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa thỏa thuận giải pháp chia hai nước Việt Nam. Pháp đòi chia ở vĩ tuyến 18. Liên Xô đề nghị vĩ tuyến 17, Trung Hoa đề nghị vĩ tuyến 16, rồi đổi thành vĩ tuyến 17, cuối cùng các bên thỏa thuận vĩ tuyến 17. 

Sau đó, Châu Ân Lai gặp Phạm văn Đồng, áp đặt ý định của các cường quốc. Phạm Văn Đồng ban đầu đòi chia đôi ở vĩ tuyến 13 giờ đành chấp nhận. 

Khrushchev, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản đệ tam quốc tế, người kế vị Satlin, xác nhận minh thị trong hồi ký của ông: “Chúng tôi có chỉ thị cho nhân viên ngoại giao (tức Molotov, trưởng phái đoàn Nga trong hội nghị Genève) rằng lúc đầu phải cứng rắn, phải đòi giới tuyến tối đa là vĩ tuyến 17. Bất ngờ đối phương nhận ngay, tin đó làm chúng tôi há miệng vì ngạc nhiên và khoái lạc” (bouche bée de stupéfaction et de plaisir). 

Nhà sử học thiên tả của Pháp, ông Jean Lacouture là nhân chứng của phút giây lịch sử đó. Trong quyển “La fin d’une guerre, Indochine 1954″ tr.338 ông viết về ngày 18 tháng 7 lịch sử: “Bỗng nhiên, người mà không ai đợi chờ, ông Tổng trưởng Việt Nam Trần Văn Đổ đứng lên và với một giọng nghẹn ngào cảm động, thốt ra lời phản kháng việc chia đôi đất nước của ông và cách thức người ta định đoạt số phận của người Việt Nam”. 

Ngày 20 tháng7 năm 1954, hiệp ước ngưng chiến tại Việt Nam được ký kết giữa Thiếu Tướng Delteil, đại diện Tổng tư lệnh Quân đội Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương và Thứ trưởng Quốc phòng Tạ Quang Bửu, thay mặt Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. 

Các nước khác cùng ký vào Hiệp định Genève là Anh, Liên Xô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Lào, Cam-Bốt. Hai chính phủ Quốc gia Việt Nam và Hoa Kỳ không ký vào bản Hiệp định. 

Hiệp Định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam gồm có 6 chương, 47 điều, trong đó các điều chính như sau: 

- Việt Nam chia làm hai vùng tập trung, ranh giới tạm thời từ cửa sông Bến Hải tỉnh Quảng Trị, theo dòng sông đến làng Bồ-Hô-Su biên giới Lào Việt. (Không nói đến vĩ tuyến 17. Trong thực tế, sông Bến Hải ở vĩ tuyến 17 nên người ta nói nước Việt Nam chia hai ở vĩ tuyến 17) Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở phía Bắc và Quốc gia Việt Nam ở phía Nam. 

- Dọc hai bên bờ sông, thành lập một khu phi quân sự rộng 5 cây số mỗi bên, để làm ‘’khu đệm’’, có hiệu lực từ ngày 14 tháng 8 năm1954. 

- Thời hạn tối đa để hai bên rút quân là 300 ngày kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực. 

Hiệp Định đình chiến Genève không phải là một hòa ước, và không đưa ra một giải pháp chính trị nào cho tương lai Việt Nam. 

Sau khi Bản hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được ký kết, các phái đoàn họp tiếp ngày 21 tháng 7 năm 1954 thông qua’ bản ‘’Tuyên bố cuối cùng của Hội Nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương’’ quy định một cuộc tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7 năm 1956 dưới sự kiểm soát của một Ban quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. 

Điều đặc biệt là không có phái đoàn nào ký tên vào Bản tuyên bố nầy. Khi chủ tịch phiên họp là ông Anthony Eden (Ngoại trưởng Anh) hỏi từng phái đoàn, thì 7 phái đoàn là Anh, Pháp, Liên Xô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Lào và Cam-Bốt (Cambodia) trả lời miệng rằng ‘’đồng ý’’. Phái đoàn Hoa Kỳ và phái đoàn Quốc Gia Việt Nam không đồng ý, và tự đưa ra tuyên bố riêng của mình. 

Chính phủ Quốc gia Việt Nam phản đối chia cắt đất nước 

Trong Bản Tuyên bố riêng của phái đoàn Quốc Gia Việt Nam, Bác sĩ Trần Văn Đỗ, Trưởng Phái đoàn, giải thích vì sao phái đoàn Quốc Gia Việt Nam không ký Hiệp định Genève: “Việc ký hiệp định giữa Pháp và Việt Minh có những điều khoản gây nguy hại nặng nề cho tương lai chính trị của Quốc gia Việt Nam. Hiệp định đã nhường cho Việt Minh những vùng mà quân đội quốc gia còn đóng quân và tước mất của (Quốc gia) Việt Nam quyền tổ chức phòng thủ. Bộ Tư lệnh Pháp đã tự ấn định ngày tổ chức tuyển cử mà không có sự thỏa thuận với phái đoàn quốc gia Việt Nam... Vì thế cho nên chính phủ Việt Nam yêu cầu Hội Nghị ghi nhận một cách chính thức rằng Việt Nam long trọng phản đối cách ký kết Hiệp định cùng những điều khoản không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt. Chính phủ Việt Nam yêu cầu Hội Nghị ghi nhận rằng chính phủ tự dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện thống nhất, độc lập, và tự do cho xứ sở’’. 

Về phía Hoa Kỳ, Trưởng phái đoàn là ông Bedell Smith cũng đưa ra bản tuyên bố theo đó, tuy không ký vào Hiệp định, nhưng Hoa Kỳ cam đoan không đe doạ hay dùng võ lực để sửa đổi Hiệp định, Hoa Kỳ sẽ nghiêm xét bất cứ một hành vi tái gây hấn vi phạm thỏa hiệp trên đe dọa hòa bình và an ninh thế giới, Hoa Kỳ tôn trọng việc thực hiện thống nhất Việt Nam bằng tổng tuyển cử tự do đặt dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc. Ông Bedell Smith kết luận: "Chúng tôi chia sẻ niềm hy vọng rằng các thỏa hiệp nầy sẽ cho phép Cao Miên, Lào và Việt Nam nắm giữ điạ vị của họ, trong độc lập hoàn toàn và chủ quyền đầy đủ, giữa cộng đồng yêu chuộng hòa bình của các quốc gia, và sẽ khiến cho các dân tộc ở các vùng đó có thể tự định đoạt lấy tương lai của mình". 

Tuy lên tiếng phản đối, nhưng sau khi hiệp định được kí kết, Chính phủ và quân đội Quốc gia Việt Nam vẫn cùng quân Pháp tập kết về phía nam vĩ tuyến 17. (Dựa theo các tài liệu: “Hiệp Định genève niềm đau và nỗi nhục của đất nước” của, “Nguyên nhân và hậu quả của Hiệp định Geneva 1954” của Trần Đức Tường; Hiệp định Genève, 1954 trên Bách khoa toàn thư mở Wikipedia) 

Căn cứ những sự kiện lịch sử nói trên, chúng ta có thể rút ra kết luận: Hội nghị Genève do các cường quốc Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Liên Xô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa chủ trương với mục đích chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương. Pháp không còn muốn giử Đông Dương làm thuộc địa; ông Hồ Chí Minh chấp thuận ngưng chiến do lo sợ nếu tiếp tục Hoa Kỳ sẽ can thiệp. 

Điều đáng lưu ý là: 

- Chính Cộng sản Việt Nam (Phạm Văn Đồng) đã đưa ra đề nghị chia cắt đất nước. 

- Cộng sản Việt Nam muốn chia đôi ở vĩ tuyến 13, nhưng bị áp lực của quốc tế, đáng kể nhất từ “đồng minh” của họ là Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa nên phải chấp thuận vĩ tuyến 17. 

- Quốc gia Việt Nam và Hoa Kỳ không ký vào Bản hiệp định và Bản thông báo cuối cùng. 

Quốc gia Việt Nam tiên đoán sẽ có chiến tranh, Hoa Kỳ đã ám chỉ có thể có vi phạm; riêng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thì đã chuẩn bị đánh miền Nam trước khi ký hiệp định qua việc chôn giấu vũ khí, cài cán bộ ở lại miền nam. 

VIệt Nam Cộng Hòa không hề vi phạm hiệp định Geneve khi từ chối hiệp thương thống nhất năm 1956 

- Việc tổ chức tổng tuyển cử thống nhất vào ngảy 20 tháng 7 năm 1956 theo qui định trong “Bản tuyên bố cuối cùng” tùy thuộc hoàn toàn vào 2 bên Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa. Với lợi thế về dân số (17 triệu so với 14 triệu người) và lợi thế của việc cài cán bộ ở lại miền Nam, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã kiên trì đòi nước Việt Nam Cộng Hòa hiệp thương để bàn thảo thống nhất đất nước; nhưng đã bị từ chối. 

Do sự từ chối này mà đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa “tố cáo” chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ vi phạm hiệp định Geneve, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước. 

Như diễn tiến của Hội nghị Geneve cho thấy, Việt Nam Cộng Hòa không hề ký vào Bản hiệp định và nhất là Bản tuyên bố cuối cùng. Hơn nữa, Việt Nam Cộng Hòa đã ra thông báo minh thị phản đối sự chia cắt, do đó Việt Nam Cộng Hòa không có nghĩa vụ phải thực hiện hiệp định và bản tuyên bố cuối cùng. Và như vậy, không thể cho rằng Việt Nam Cộng Hòa vi phạm hiệp định. 

Về văn bản chính thức của hiệp định Geneve, Pháp và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có nghĩa vụ phải thi hành do cả hai đã ký vào văn bản này. 

Khi để lại vũ khí và cán bộ ở miền Nam Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã vi phạm điều 2; khi sử dụng quân đội đánh Việt Nam Cộng Hòa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã vi phạm các điều 6, 19, 24 của Hiệp định. 

Ở Nam Hàn, Hoa kỳ và các nước Đồng minh đã bảo vệ thành công quốc gia này chống lại âm mưu thống nhất bằng vũ lực của chế độ Cộng sản Bắc Hàn. Đất nước Đại Hàn tiếp tục bị chia cắt, dân hai miền tiếp tục chịu nỗi đau ly tán; tuy nhiên, một nửa nước Đại Hàn vẫn được hưởng tự do, thịnh vượng, hàng năm cùng với Liên Hiệp Quốc viện trợ cứu đói cho dân Bắc Hàn. Và dân hai miền không mất hy vọng sẽ tái thống nhất trong hòa bình. 

Ờ Việt Nam, Hoa Kỳ và Đồng minh cũng mang quân đến giúp Việt Nam Cộng Hòa chống lại sự xâm chiếm của chế độ Cộng sản miền Bắc được Liên Xô và Trung Quốc hỗ trợ; nhưng vì nhiều lý do đã thất bại. Vì vậy đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mới có thể rêu rao với dân Việt 

rằng họ có công thống nhất đất nước. 

Thất mỉa mai khi chính kẻ ra tay chia cắt lại kể công đã thống nhất với cái giá mà dân Việt phải trả là hàng triệu thanh niên 2 miền mất mạng trên chiến trường, hàng triệu dân thường chết oan, nền kinh tế đất nước kiệt quệ; còn hậu quả thì tận cùng thương đau khiến ông Ronald Wilson Reagan tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ (198-1989) lên tiếng: “Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho hòa bình là ngàn năm đen tối cho các thế hệ sinh tại Việt Nam về sau.” 

Trước 1975, ca sĩ Joan Baez là một trong những khuôn mặt nổi bật nhất của giới trí thức Mỹ, của phong trào phản chiến chống chiến tranh Việt Nam. 

Ngày 30 tháng 5 năm 1979, ca sĩ này-chủ tịch Ủy ban Nhân quyền Quốc tế Humanitas, đã bỏ ra 53 ngàn dollars để đăng trên 4 tờ báo lớn của Mỹ (New York Times, Washington Post, Los Angeles Times, và San Francisco Chronicle) một bức thư ngỏ gửi chính quyền nước CHXHCNVN, gọi là “Open letter to The Socialist Republic of Vietnam” có chữ ký của bà cùng 83 nghệ sĩ phản chiến của Mỹ. Bức thư ngỏ của Joan Baez, có những đoạn như sau: 

“...Cách đây bốn năm, nước Mỹ chấm dứt sự hiện diện 20 năm của mình tại Việt Nam. Đáng lẽ bây giờ là lúc ăn mừng lễ kỷ niệm đệ tứ chu niên, nhưng ngược lại, bây giờ là thời điểm để than khóc.
Chua chát bi thảm thay, sự độc ác, sự bạo tàn, và sự áp bức mà các thế lực ngoại bang đã thực hành trên đất nước Việt Nam suốt hơn một thế kỷ, thì hôm nay lại được tiếp tục thực hành dưới chế độ đương thời ở Việt Nam.

Hàng ngàn người Việt Nam vô tội, mà nhiều người trong số đó mang “tội ác” chỉ vì có lương tâm, đang bị bắt bớ, giam cầm và tra tấn trong những nhà tù và những trại cải tạo. Thay vì mang đến niềm hy vọng và sự hòa giải cho đất nước Việt Nam điêu tàn vì chiến tranh, chính quyền của quý vị đã sáng tạo ra một cơn ác mộng đau đớn làm mờ nhạt đi những tiến bộ đáng kể về nhiều lãnh vực của xã hội Việt Nam…

… Chúng tôi đã nghe những câu chuyện khủng khiếp từ dân chúng Việt Nam – từ các công nhân đến các nông dân, những nữ tu sĩ Công giáo và những tăng sĩ Phật giáo, từ những người vượt biển, những nghệ sĩ và những chuyên gia và những người đã từng sát cánh chiến đấu cùng với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Các nhà giam đang tràn ngập hàng ngàn và hàng ngàn người bị bắt bớ. Nhiều người bị thủ tiêu và không bao giờ còn thấy xác. Nhiều người bị chở đến những trung tâm cải tạo, cho ăn một khẩu phần chết đói bằng cơm nguội, bị bắt ngồi xổm với hai cổ tay trói vào hai cổ chân, bị ngạt thở trong những thùng sắt conex. Nhiều người bị sử dụng như những công cụ rà mìn, dọn những bãi mìn chưa nổ bằng hai tay và hai chân của họ… Đối với nhiều người, cuộc sống là địa ngục và họ chỉ cầu nguyện để được chết đi…” 

Ông Phạm Đình Trọng, một nhà văn miền Bắc phát biểu: “Những người Cộng sản Việt Nam ðã cắt ðôi ðất nước Việt Nam, chia ðôi dân tộc Việt Nam rồi họ lại lấy máu của chính dân tộc Việt Nam ðể thống nhất ðất nước, ðể họ nghiễm nhiên thống trị cả nước không cần lá phiếu bầu chọn của người dân! Những người Cộng sản Việt Nam coi ðó là chiến thắng vĩ ðại của họ. Còn với dân tộc Việt Nam ðó là keo thua ðau ðớn tức tưởi!” 

Thống nhất bằng xương máu hàng triệu người Việt 2 miền 

Thống nhất đất nước là nguyện vọng của người dân ở những quốc gia bị chia cắt. Nhưng phát động chiến tranh để thống nhất là điều không người dân nào muốn. 

Chúng ta hỏi Đảng Cộng sản, nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa rằng tại sao không dành tài nguyên, của cải, sức lực phát triển miền Bắc, làm cho kinh tế phồn thịnh, dân chúng no ấm, thi đua cùng Việt Nam Cộng Hòa rồi sau đó bàn việc giao thương, đi lại thăm viếng giữa 2 miền, cuối cùng đi đến thống nhất trong hòa bình? 

Chúng ta hỏi Đảng Cộng sản, nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa rằng sao không chọn biện pháp hòa bình để thống nhất như Đông Đức và Tây Đức đã làm? 

Chúng ta đã được trả lời bằng sự dối trá: rằng đế quốc Mỹ xâm lược. 

Khi Bắc Triều Tiên xua quân đánh Nam Triều Tiên để thống nhất nước Đại Hàn, Liên Hiệp quốc đã ra nghị quyết chống lại hành động ấy và đã có 15 quốc gia tham gia cùng với Hoa Kỳ can thiệp, bảo vệ Nam Triều Tiên. 

Hoa Kỳ và các đồng minh cũng làm như vậy khi Bắc Việt đưa quân xâm chiếm Nam Việt. 

Phải chăng vì Hoa Kỳ đã thất bại trong lý tưởng cao cả của mình ở miền Nam nên Hoa Kỳ đã trở thành xâm lược, vì “thắng là vua, thua là giặc”

Nhưng câu tục ngữ ấy chỉ là một câu mỉa mai! 

Giá phải trả của sự thống nhất 

Nạn nhân chiến tranh 

Wikipedia trong tài liệu “Chiến tranh Việt Nam” cho biết số tổn thất nhân mạng của cuộc chiến: 

Việt Nam Cộng hòa
Chết: ~250.000-316.000 
Bị thương: ~1.170.000

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam
Chết và mất tích: 444.000-1.100.000
Bị thương: ~600, 000+ 

Thường dân Việt Nam: 2.000.000–5.100.000* 

Tình hình đất nước sau khi thống nhất 

Đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam đã làm gì cho dân tộc sau khi thống nhất đất nước? 

Dưới đây là tóm tắc những gì họ đã làm: 

- Bắt và kết án tử hình, tù có thời hạn hoặc vô thời hạn nhiều văn nghệ sĩ, giáo sư, tu sĩ Phật giáo, Thiên chúa giáo, Cao Đài, Hòa Hảo bị cho là phản động. 

- Buộc người dân nộp tất cả sách báo xuất bản ở miền Nam để tiêu hủy, tương tự như lúc tiếp thu Hà Nội năm 1954. (Bắt chước cách mạng văn hóa của Trung Cộng?), xóa bỏ văn hóa, đạo đức cũ…xây dựng văn hóa mới, đạo đức xã hội chủ nghĩa, xây dựng con người mới chủ nghĩa xã hội dẫn tới giáo dục khủng hoảng, đạo đức suy đồi. 

- Bắt hàng trăm ngàn quân nhân cộng chức miền Nam đi “hoc tập cải tạo (thực tế là đi tù khổ sai không tuyên án) từ 3 năm đến 17 năm. 

- Đổi tiền có hạn mức (nhằm san bằng giàu nghèo trong xã hội?), khiến dân miền Nam bổng dưng mất tiền dành giụm phòng ốm đau, ma chay, cưới hỏi… 

- Vận động dân Sài Gòn đi hồi hương, kinh tế mới (thực chất là trục xuất họ khỏi thủ đô) dẫn đến mất nhà, mất phương tiện sinh sống. 

- Đánh tư sản, tịch thu vàng, bạc, trang sức đá quý của họ; cải tạo công thương nghiệp, xóa bỏ kinh tế tư nhân, quốc hữu hóa tư liệu sản xuất (đất đai, nhà máy, xí ngiệp, máy móc thiết bị) hậu quả khiến kinh tế kiệt quệ, dân cả nước ăn bo bo thay gạo, nhu yếu phẩm cung cấp theo nhân khẩu. 

- Người dân không có bất cứ quyền tự do nào từ tự do tư tưởng, báo chí, tôn giáo, lập hội, đến tự do đi lại. 

- Sự cai trị khắt nghiệt của nhà nước CS khiến hàng triệu người liều lĩnh bất chấp hiểm nguy vượt biển tìm đến miền đất tự do dù là xứ người, khiến hàng trăm ngàn người bỏ mạng trên biển. 

Trong bài viết “Trại cải tạo sau 30-4-1975: Lục lại một báo cáo của Ân xá Quốc tế năm 1981” của tác giả Quỳnh Vi có những đoạn: 

Tháng 12/1979, tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) đã có chuyến làm việc chính thức 10 ngày tại Việt Nam về vấn đề giam giữ các cựu quân nhân, nhân viên và quan chức của chính phủ Việt Nam Cộng hòa (VNCH) sau ngày 30/4/1975. 

Tháng 3/1981, Ân xá Quốc tế đã công bố một bản báo cáo dài 26 trang về kết quả của chuyến đi đó, cho rằng, việc nhà nước Việt Nam tiến hành bắt bớ các cựu quân nhân, nhân viên và quan chức VNCH, cùng những người bất đồng chính kiến khác, cũng như giam giữ họ liên tục không thông qua xét xử từ 1975 đến 1979, là vi phạm vào Điều 11 Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền, cũng như các Điều 5 và 9 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, là những điều luật quốc tế nghiêm cấm các hành vi bắt người tùy tiện và giam giữ không thông qua xét xử của nhà nước. 

Ân xá Quốc tế cũng nêu ra những hồ sơ bị bắt giam và đưa đi cải tạo của những người không nằm trong quân đội hay chính quyền Sài Gòn cũ. 

Những trường hợp nổi bật và được nêu đích danh trong báo cáo gồm có cựu Khoa trưởng Đại học Luật khoa Sài Gòn (1973-1975) Vũ Quốc Thông, một chính trị gia đối lập tại miền Nam là Hồ Hữu Tường, và nhà văn Duyên Anh. 

Ngoài ra, báo cáo cũng nói đến vấn đề áp dụng bắt buộc học tập cải tạo đối với những người đã bị bắt khi tìm cách rời bỏ Việt Nam không chính thức. Tức là những người “vượt biên” bất thành tại Việt Nam sau 30/4/1975. 

Bộ luật Hình sự 2015 vừa được thông qua tháng 6/2017 vẫn giữ Điều 347 về việc xử lý hình sự tội xuất nhập cảnh trái phép, và Điều 121 cho tội trốn đi nước ngoài để chống chính quyền nhân dân. 

Trong khi đó, từ năm 1981, báo cáo của Ân xá Quốc tế đã cho rằng, nhà nước không thể xử lý hình sự những người muốn rời bỏ Việt Nam, cho dù họ ra đi dưới bất kỳ hình thức nào đi nữa. 

Ân xá Quốc tế trích dẫn Điều 13 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Điều 12, phần 2 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị. Theo đó, một người luôn luôn có “quyền tự do rời bỏ bất kỳ quốc gia nào, kể cả quê hương của họ”. 

Và vì vậy, Ân xá Quốc tế đã bày tỏ sự quan ngại, cũng như yêu cầu Việt Nam chấm dứt việc bắt giam và đưa đi cải tạo (cho dù là ngắn hạn) những người vượt biên không thành công. Vì đó cũng là một hành vi vi phạm quyền con người dựa theo luật Quốc tế. 

Báo cáo của Ân xá Quốc tế cũng đưa ra những quan ngại về việc người bị giam tại các trại cải tạo bị tra tấn và nhục hình. 

Bản báo cáo năm 1981 đã đơn cử trường hợp của chính trị gia Hồ Hữu Tường. Vào thời điểm phái đoàn của Ân xá Quốc tế đến Việt Nam, ông Tường đã bị giam giữ không thông qua xét xử trên 2 năm. 

Tháng 6, 1980, mặc dù đã biết ông mang bệnh hiểm nghèo và đã đi vào giai đoạn cuối nhưng chính quyền vẫn không đồng ý trả tự do để ông có thể đoàn tụ cùng gia đình ở Sài Gòn. Ngược lại, họ đã chuyển ông từ trại cải tạo ở Xuyên Mộc, Bà Rịa đến bệnh xá của trại giam Hàm Tân, Minh Hải. Ba tuần sau, ông qua đời ngay sau khi được trả về với gia đình.  (hết trích) 

Thời còn chiến tranh, nước VNDCCH đã bắt giử và kết án nặng nề người dân vì những lý do vu vơ: 

Ngày 8 tháng 1 năm 1971, 7 công dân đã bị bắt đưa ra tòa, kết tội “tuyên truyền văn hóa đồi trụy của chủ nghĩa đế quốc” (thực tế vì hát “nhạc vàng”) trong đó ông Phan ThắngToán bị tuyên án 15 năm tù giam, ông Nguyễn Văn Đắc12 năm tù giam và ông Nguyễn Văn Lộc (biệt danh Lộc Vàng) 10 năm tù giam. 

Trước đó 10 năm, nhà văn Phùng Cung vì viết một truyện ngắn- truyện có tựa “Con ngựa già của Chúa Trịnh” mà bị nhà cầm quyền CS miền Bắc kết án 12 năm cải tạo, từ năm 1961 đến 1973. 

Sau khi đất nước thống nhất, nhà nước CHXHCNVN tiếp tục đàn áp, bắt và kết tội người dân đấu tranh ôn hòa cho dân chủ, nhân quyền; và tệ hơn, sử dụng công dân của mình như con tin để đổi chác với nước ngoài: 

Trước hoặc sau chuyến thăm của nguyên thủ một cường quốc đến nước ta hoặc lãnh đạo nước ta đi thăm các nước ấy nhà cầm quyền thường thả 1, 2 người tranh đấu để “làm quà tặng họ” 

Trước chuyến công du sang Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết vào tháng 6 năm 2007, nhà cầm quyền CSVN đã phóng thích tù nhân chính trị Nguyễn Vũ Bình, người đã bị giam 5 năm, và Luật sư Lê Quốc Quân, người đã bị bắt giữ và kết án với tội danh âm mưu lật đổ chính phủ; 3 ngày trước cuộc viếng thăm của TT Hoa Kỳ Obama, họ trả tự do cho Linh mục Nguyễn Văn Lý; 

Trước chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, họ thả Luật sư Trần Kim Thành và cho bà sang Hoa Kỳ tỵ nạn. 

Điều đáng quan tâm nữa, là sau các cuộc thăm viếng ấy, nhà cầm quyền CSVN lại bắt người khác. 

Sử dụng côn đồ để hành hung đánh đập người dân 

Ngày 1-12-2005, cụ Hoàng Minh Chính, nguyên Viện trưởng Viện Triết Học Mác-Lênin đi Mỹ trị bệnh về bị nhóm côn đồ đánh vào người, ném vào nhà một lô mắm tôm pha chung với dầu nhớt xe”. (Dân chủ cho Việt Nam o­nline ngày 22-2-2012) 

Ngày 24 tháng 2 năm 2012, linh mục Nguyễn Quang Hòa, thuộc giáo xứ Kon Hring, huyện Đắc Hà, Kontum đi làm lễ an táng tại một làng trên đường về đã bị ba côn đồ đánh đến trọng thương”. (RFA o­nline này 27-2-2012) 

Một phóng viên báo Nông Thôn Ngày nay chụp cảnh xe công an đuổi bắt người không đội nón bảo hiểm, gây tai nạn giao thông, đã bị ba thanh niên nắm gáy bóp cổ đòi giao nộp điện thoại, máy ảnh và giấy tờ cá nhân, dọa nếu bức ảnh nào xuất hiện trên báo hoặc trên mạng sẽ “móc thủng mắt, đốt nhà và giết cả nhà các phóng viên”. (Dân Trí o­nline ngày 25-2-2012) 

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, nhà trí thức trẻ Phạm Hồng Sơn, chị Trần Khải Thanh Thủy, chị Trần Thị Nga, luật sư Trần Đình Triển cũng bị nhà cầm quyền cho côn đồ hành hung, khủng bố tương tự. 

Tất cả những người kể trên đã tranh đấu ôn hòa với nhà cầm quyền CS, hoặc biểu tình chống Trung quốc. 

Nghĩ mà xem! Là chính phủ có nhiệm vụ giữ gìn sự an vui của dân mà lại liên kết với bọn lưu manh để trấn áp công dân lương thiện! 

Nghĩ mà xem! Là chính phủ có nhiệm vụ chống lại bọn bắt cóc mà lại bắt công dân của mình làm con tin để làm quà, đổi chác quyền lợi với nước ngoài! 

Bắt đưa vào bệnh viện tâm thần công dân không hề có bệnh. 

50 năm trước chế độ Sô Viết đã đưa vào trại tâm thần những người chống đối họ: năm 1969 Liên Xô bắt và đưa vào trại tâm thần tướng Grigorenko vì ông ủng hộ phong trào tự trị của dân Tatars. Từ đó, mỗi năm có trung bình 10 người chống đối bị đưa vào nhà thương điên. Năm 1971, số người ly khai chính trị bị bắt là 85 trong đó 24 người bị đưa vào trại tâm thần.  (“Mật thư tôi ác của CNCS”, tác giả Stephane Courtois et al.) 

Biện pháp này cũng được Trung quốc áp dụng đối với các học viên Pháp luân công từ 1999. Đã có hàng ngàn người bị đưa vào các viện tâm thần, bị tiêm “thuốc an thần”, “thuốc chống loạn thần kinh”  (“Cuộc đàn áp Pháp luân công”, Wikipedia) 

Tưởng hành động tàn bạo ấy không còn diễn ra trong thế kỷ 21; thế nhưng nhà cầm quyền CSVN đã sử dụng cách ấy đối với bà Bùi Kim Thành, một luật sư vì bà tranh đấu cho nạn nhân bị đối xử bất công về đất đai. 

Họ cũng đã đưa ông Lê Anh Hùng- người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền vào trại tâm thần, không chỉ một lần mà đến 4 lần. 

Sự thống nhất đất nước của đảng & nhà nước CSVN đã khiến đất nước rơi vào 2 cuộc chiến tranh: với Cam Bốt từ năm 1977 đến 1989 khiến trên 55.000 binh sĩ và dân thường thiệt mạng; với Trung quốc năm 1979 khiến 20.000 binh sĩ thương vong, 10.000 dân thường thiệt mạng. 

Dưới tên nước VNDCCH ở miền Bắc trước đây và CHXHCNVN sau khi thống nhất đều có khẩu hiệu: Độc lập-Tự do- Hạnh phúc; tuy nhiên không hề có độc lập, tự do và hạnh phúc. 

- Không có độc lập: Cũng như lúc còn chiến tranh, nước VN thống nhất lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc về cả chính trị lẫn kinh tế. Hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm tỷ trọng cao nhất, thường xuyên tái diễn tình trạng khi Trung quốc không mua, nông sản Việt Nam tồn đọng phải bán lổ hoặc bỏ đi; về chính trị mặc dù bị Trung quốc xua quân đánh vào 6 tỉnh biên giới năm 1988 gây nhiều đau thương cho dân tộc, Việt Nam vẫn phải năn nỉ bình thường hóa quan hệ, để Trung quốc bắn giết ngư dân mà không dám chống lại; khi Trung quốc đánh chiếm đảo Trường Sa, Việt Nam phản ứng bằng cách đưa lính không vũ khí đến giành lại đảo khiến 64 chiến sĩ hải quân bị bắn chết, không cho dân biểu tình phản đối Trung quốc… 

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, tính hết tháng 10, tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước đạt khoảng 140, 6 tỷ USD. Trong đó, Trung Quốc và Hàn Quốc là hai nước có lượng hàng xuất khẩu vào Việt Nam lớn nhất, đạt lần lượt là 40, 24 tỷ USD và 26 tỷ USD. 

Không có tự do: 

Mặc dù trong hiến pháp ghi đầy đủ quyền của người dân, trên thực tế dân không có quyền ra báo, lập đảng, lập hội, những người chỉ trích nhà nước bị qui tội phản động, bắt vào tù, dân không được tự do đi lại, cư trú (phải đăng ký tạm trú tạm vắng), nhà nước có quyền trưng dụng tài sản của dân, không được tụ tập quá 5 người đề đạt nguyện vọng(ở các quốc gia dân chủ chi áp dụng khi có bạo loạn, chiến tranh, chính phủ ban hành tình trạng thiết quân luật) 

Báo cáo Tự do Thế giới (Freedom in the World) năm 2017 của Freedom House đã xếp Việt Nam vào nhóm các nước không tự do (not free), đạt 20/100 điểm và xếp thứ 181 trên 209 quốc gia và vùng lãnh thổ. 

Báo cáo này được công bố lần đầu vào năm 1972. Lúc đó, Việt Nam được phân định thành hai miền. Miền Nam được đánh giá là tự do hơn miền Bắc và hầu hết các nước Đông Nam Á, chỉ kém Malaysia.  (Trích “Freedom House đo chỉ số tự do của Việt Nam từ năm 1972. Đây là kết quả.”) 

Học viện Cảnh sát nhân dân Việt nam dựng tượng Felix Dzerzhinsky

Thật khó tin rằng một bức tượng của Felix Dzerzhinsky vừa được khánh thành trước trụ sở Học viện Cảnh Sát Nhân Dân Việt Nam. Bởi vì, dù khinh thường dư luận quốc tế bao nhiêu, đảng Cộng sản Việt Nam cũng không thể một cách lộ liễu dựng tượng một người đã từng tuyên bố "giết_không_cần_hỏi_cung_mới_làm_cho_người_ta_sợ." 

Đã có nhiều người bị bắt vào đồn CA hôm trước, hôm sau đã chết. Phải chăng CAVN noi gương Felix Dzerzhinsky? 

Sau 10 năm đóng cửa với thế giới, năm 1985, đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam đổi mới, từ bỏ nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, theo kinh tế thị trường, mở cửa giao thương với các quốc gia trên thế thế giới, kêu gọi nước ngoài đầu tư nên nền kinh tế dần dần đi lên, đường xá được mở rộng, cao ốc mọc lên, hạ tầng được nâng cấp nhưng chỉ ở đô thị và phần lớn do nguồn kinh phí vay nước ngoài (con cháu trả nợ), còn ở nông thôn dân còn thiếu nước sạch, học sinh đến trường phải đu giây qua sông suối. 

Tham nhũng tràn lan 

Số tiền vào túi quan tham lên đến ngàn tỉ. 

Chỉ số nhận thức tham nhũng do Tổ chức Minh bạch thế giới công bố dựa trên ý kiến chuyên gia toàn thế giới về tham nhũng trong lĩnh vực công. Năm 2014, ba nước được đánh giá là trong sạch nhất là Đan Mạch, New Zealand và Phần Lan. Singapore là quốc gia châu Á duy nhất lọt top 10 với 84 điểm, xếp thứ 7. Việt Nam xếp hạng 119 trên 174 nước với 31 điểm.  

(“Chủ tịch nước: 'Xấu hổ khi Việt Nam bị xếp hạng tham nhũng cao'” 

VN Express Thứ bảy, 5/12/2015 | 16:02 GMT+7) 

Thứ ba, 20/11/2012 | 15:53 GMT+7 

4 ngành tham nhũng nhiều nhất 

Theo kết quả khảo sát được Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng thế giới công bố sáng 20/11, 4 lĩnh vực bị đánh giá tham nhũng nhiều nhất là cảnh sát giao thông, quản lý đất đai, hải quan và xây dựng. 

“Đến tiền của các cháu dân tộc thiểu số mà hiệu trưởng cùng với một số cán bộ còn biển thủ đến gần 3 tỷ, vừa rồi mới khởi tố. Cái liều vacxin tiêm cho một cháu, nhưng lại san ra tiêm cho hai cháu ngay tại Hà Nội… Tôi càng đi càng thấy buồn, ăn của dân không từ một cái gì”.  (phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan) 

Doanh nghiệp nhà nước thua lỗ 

Báo Nông Nghiệp Việt Nam chua xót, “Chỉ mỗi việc đào khoáng sản lên bán nhưng TKV đang trở thành cục nợ khổng lồ”.

Kết quả Thanh tra KTV của Bộ Tài chính vừa công bố, tổng số tiền nợ phải trả của KTV là 100.343 tỷ đồng, bằng chữ Một trăm nghìn ba trăm bốn mươi ba tỷ đồng, bằng số: 100.343.000.000.000. Số nợ này bao gồm: 37.609 tỷ đồng nợ ngắn hạn và 62.734 tỷ đồng nợ dài hạn. (Trích bài viết “TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN-KHOÁNG SẢN VN (TKV) VÀ MÓN NỢ HƠN 100 NGÀN TỶ ĐỒNG”. FB Ngô Nguyệt Hữu 5-4-2017; GS Nguyễn Đình Cống trích lại) 

Giáo dục bế tắc, suốt hơn 40 năm năm nào cũng cải cách, HS tiểu học vẫn chưa được học miễn phí, bằng cắp giả tràn lan, sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm, số sáng kiến do nông dân, thợ làm được nhiều hơn của kỷ sư; tiến sĩ, thạc sĩ không nói được tiếng Anh… 

Đạo đức xuống thấp tận đáy: con giết cha, chồng giết vợ, vợ đốt chồng, cha, ông hãm hiếp con, cháu… 

Thực phẩm nhiễm hóa chất độc hại lan tràn. 

Tuyên bố trẻ em từ 6 tuổi khám bệnh miễn phí nhưng lại thu tiền. 

Tuyên bố thực hiện công bằng xã hội nhưng chênh lệch giàu- nghèo, nông thôn-thành thị, chênh lệch tiền thưởng Tết giữa người lao động… cao ngất ngưỡng. 

Tuyên bố là chính phủ của giai cấp Công nhân mà để nhà thầuTư bản đầu tư bóc lột thậm tệ công nhân Việt: hạn chế thời gian đi vệ sinh, bắt công nhân cởi truồng khám xét khi ra về, bắt công nhân đứng phơi nắng ngoài trời khi vi phạm nội qui. 

Dân nông thôn chịu hàng trăm thứ thuế. 

Bồi thường khi thu hồi đất cho dân với giá thấp rẻ mạt, cấp cho người đầu tư giá cao ngất ngưỡng. 

Chính trị vẫn không đổi, vẫn độc quyền đảng trị, bóp nghẹt tự do dân chủ, nhân quyền. 

Hàng triệu người mất quê hương, hàng trăm ngàn người chết trên biển 

Các chính sách của đảng và nhà nước Cộng sản sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 tại Việt Nam đã khiến cho hàng triệu người Việt Nam gồm cả người miền Bắc phải lìa bỏ quê cha đất tổ, bất chấp hiểm nguy đến tánh mạng, vượt biên bằng thuyền đến các nước tự do, làm rúng động dư luận thế giới, được giới truyền thông quốc tế gọi là "Thuyền nhân." 

+ Các nước hỗ trợ lập trại tị nạn: Hồng Kông, Malaysia, Thái Lan, Nhật, Indonesia, Philippines. 

+ Các nước hỗ trợ nhập và tái định cư cho các thuyền nhân: Mĩ, Thái Lan, Anh, Úc, Pháp, Đức, Canada, Soviet. 

Ngoài ra còn một số thuyền nhân trôi dạt sang các nước xa xôi khác. Hoặc được các quốc gia phát triển khác nhận nhập cư và hỗ trợ tái định cư nhưng các nước trên là tiêu biểu và có số lượng lớn nhất. 

Tổng số thuyền nhân đã vượt biển được ước tính từ 1-2 triệu người do qui mô lớn, diễn ra trong thời gian dài. 

Số Thuyền Nhân thiệt mạng trong quá trình tìm đường tị nạn được ước tính vào khoảng 200.000 - 600.000 người do bị bão, bị chết máy, bị đi lạc, bị hải tặc Thái Lan cướp, hãm hiếp, quăng xuống biển, chết vì đói khát, bệnh tật. Thậm chí, trong một số trường hợp có người buộc phải ăn thịt người chết để sống. Cuộc sống thiếu đói, bệnh tật, chết vì sốt rét ở các trại tị nạn, điển hình là ở Malaysia. 

Di chúc của Tiền nhân 

Trần Nhân Tông (1278 – 1293), một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam đã để lại di chúc cho con cháu. Bản di chúc có đoạn sau: 

"…Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo.  Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái hoạ lâu đời của ta là hoạ nước Tàu. Chớ coi thường chuyện vụn vặt nảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của Tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác".  Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". 

Con cháu của vua Trần Nhân Tông có nghe theo lời căn dặn? 

Thời còn chiến tranh, trong khi phải đương đầu trối chết với cuộc chiến do người anh em Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa phát động, ngày 19 tháng 1 năm 1974, Việt Nam Cộng Hòa cũng đã quyết chiến chống lại quân Trung Cộng xâm chiếm đảo Hoàng Sa. 

Hải quân Việt Nam Cộng Hòa tuy không bảo vệ được Hoàng Sa và phải chịu thiệt hại khá nặng với 1 chiến hạm bị chìm, 3 chiếc trúng đạn, 74 binh sĩ hy sinh, 16 bị thương, 49 bị bắt ; tuy nhiên đứa con miền Nam đã chứng tỏ sẳn sáng hy sinh vì sự toàn vẹn của đất mẹ (Phía Trung Cộng 1 tàu trọng thương, 3 tàu bị thương, 18 binh lính thiệt mạng, 67 bị thương) 

Sau trận chiến Việt Nam Cộng Hòa tố cáo sự xâm lược của Trung Cộng trước Liên Hiệp Quốc, đề nghị dư luận quốc tế lên án Trung Cộng, đồng thời kêu gọi người anh em miền Bắc với tư cách là người Việt lên án Trung Cộng, nhưng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã từ chối. 

Đảng Cộng sản Việt Nam có làm theo lời căn dặn của tổ tiên? 

Hồ Chí Minh đã nói “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta hãy cùng nhau giử nước”; Trương Tấn Sang nói mỗi tấc đất của tổ quốc là thiêng liêng. 

Không thể tin được lời nói của 2 nhà lãnh đạo đảng Cộng sản ấy vì chính quyền mà họ lãnh đạo trên thực tế đã xem nhẹ lãnh thổ, đất đai, núi non, sông biển của tổ quốc. 

Mất đất, mất đảo, mất biển cha ông để lại. 

Dưới đây là bản dịch nguyên văn tuyên bố của Trung Cộng rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của họ: 

Tuyên Bố của Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải

(Ðược thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân ngày 4 tháng 9 năm 1958) 

Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nay tuyên bố: 

(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc. 

(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.

(3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. 

(4) Ðiều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

Ðài Loan và Penghu hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Ðây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Ðài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoại quốc không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc. (Bản dịch của Trung Tâm Dữ Kiện)

Chú thích: Quần đảo Tây Sa (tên tiếng Tàu Xisha) = Quần đảo Hoàng Sa = Paracel Islands. Quần đảo Nam Sa (tên tiếng Tàu Nansha) = Quần đảo Trường Sa = Spratly Islands

Ông Lê Đức Thọ, ủy viên Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam giải thích vào năm 1974: "Hãy yên tâm, Hoàng Sa trong tay các đồng chí Trung Quốc còn hơn trong tay ngụy quyền tay sai của đế quốc Mỹ". Và, "vì ta bận đánh Mỹ, không có thời gian và chưa đủ khả năng để giải phóng Hoàng Sa nên nhờ bạn Trung Quốc giải phóng. Sau này mình thống nhất đất nước rồi phía bạn sẽ trả cho mình" (ông Hoàng Tùng, Tổng Biên Tập báo Nhân Dân thuật lại.) 

Nhượng đất đai, nhượng biển cho Trung Quốc 

“Để có thể đứng vững, sau năm 1975, CSVN dựa vào Liên Xô cho đến năm 1990. Khi Liên Xô sụp đổ, CSVN thần phục Trung Cộng. Cho đến nay, chưa ai biết nội dung hội nghị Thành Đô (Trung Hoa), trong hai ngày 3 và 4-9-1990 giữa CSVN với Trung Cộng. Chỉ biết sau hội nghị nầy, CSVN nhục nhã ký hai hiệp ước liên tiếp: 1) Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc ngày 30-12-1999, nhượng cho Trung Cộng ải Nam Quan, một nửa thác Bản Giốc, một số diện tích đất biên giới. 2) Hiệp ước phân định lãnh hải ngày 25-12-2000, mất vào tay Trung Cộng 10, 000 km2 mặt biển Vịnh Bắc Việt.” (Trích bài viết “Chính thống hay ngụy quyền?” của Tác Giả Trần Gia Phụng

Năm 1988, khi Trung Cộng đưa quân chiếm quần đảo Trường Sa, đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam phản ứng thế nào? 

Phản ứng trước việc Trung Cộng cho quân xâm chiếm Trường Sa ngày 14 tháng 3 năm 1988, đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam cho tàu vận tải chở binh sĩ ra giành lại, chỉ trang bị một ít súng cá nhân. 

Báo chí Cộng sản gọi sự kiện ngày 14 tháng 3 năm 1988 là hải chiến; sự thật không hề có cuộc đọ súng giữa hải quân 2 phía. 

Ông Lê Đức Anh- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng khi ấy ra lệnh quân đội không được nổ súng. Binh sĩ từ tàu đậu ngoài khơi lội bộ vào bị quân Trung Cộng bắn khiến 64 binh sĩ tử thương, sau đó tàu chiến Trung Cộng bắn chìm tàu vận tải Việt Nam. 

Ông Nguyễn Cơ Thạch, cụu bộ trưởng ngoại gia đã đã nêu lên câu hỏi “ai ra lịnh không được nổ súng?” trong buổi họp Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam. Do câu hỏi ấy mà ông Thạch bị loại ra khỏi Bộ Chính Trị. 

Lê Mã Lương -thiếu tướng Cộng sản Việt Nam, đã thực hiện một video clip tung lên YouTube ngày 14-6-2014 với tựa “Ra trận không được nổ súng” tố cáo sự hèn hạ của chính quyền CSVN. 

Chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm nói thẳng: "Hải quân Việt Nam có bắn lại quân Trung Quốc phát súng nào đâu. Hải quân Việt Nam lên đảo trước vào ban đêm. Đến sáng hôm sau, Trung Quốc mới lên. Trung Quốc dùng súng máy bắn vào 48 cán bộ chiến sĩ trên đảo Gạc Ma. Tôi gọi trận Gạc Ma là một trận thảm sát của hải quân Trung Quốc với hải quân Việt Nam.Vụ Gạc Ma phải nói thẳng cho thế giới biết rằng đó là một cuộc thảm sát. Không có một trận hải chiến nào ở đây cả." 

Sau khi thống nhất, “Những người Cộng sản Việt Nam coi ðó là chiến thắng vĩ ðại của họ. Còn với dân tộc Việt Nam ðó là keo thua ðau ðớn tức tưởi!”, “cuộc sống là địa ngục”, “ngàn năm tăm tối”. 

CA bắt giam Blogger Mẹ Nấm vì phân phát bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 

Lúc 17 giờ chiều 21/5/2013, blogger Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã bị CA Nha Trang bắt giam trái phép, sau khi cô cùng bạn bè tham gia phân phát cho người dân bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền cùng những quả bóng bay mang nội dung ‘Quyền Con người của Chúng Ta phải được tôn trọng’. 

Cùng bị bắt giữ chung với Mẹ Nấm là blogger Binh Nhì – Nguyễn Tiến Nam. Cả hai bị áp giải về trụ sở CA phường Lộc Thọ, sau đó bị tách riêng để giam giữ và thẩm vấn. 

Được biết, trong chiều nay, hai blogger Mẹ Nấm và Nguyễn Tiến Nam đã phát tận tay cho người dân hàng trăm bản Tuyên ngôn Quốc Tế Nhân quyền, cùng những quả bóng bay màu xanh. 

Trong lúc bắt người và tra khảo, phía CA cáo buộc Mẹ Nấm đã phạm tội ‘phân phát tài liệu phản động’. Bằng chứng được cơ quan CA gọi là ‘tài liệu phản động’ thực ra chính là Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân Quyền. 

CSVN đàn áp giáo dân và người bất đồng chính kiến 

Washington, D.C. 17.5.2013 – Hạ nghị sỹ Ed Royce (Đảng Cộng hoà – tiểu bang California), Chủ tịch Uỷ ban Đối ngoại Hạ viện, đã giới thiệu H.Res. 218, dự luật kêu gọi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại danh sách “Quốc gia cần quan tâm đặc biệt” vì sự vi phạm quyền tự do tôn giáo trắng trợn của họ. 

Chủ tịch Royce phát biểu: “Thật không may, tình hình nhân quyền ở Việt Nam vẫn rất nghiêm trọng. Như tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch đã nêu trong bản phúc trình về tình hình các quốc gia năm 2013, Việt Nam gần như đàn áp mọi quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội và tự do tôn giáo. Trên thực tế, Việt Nam đã thụt lùi về nhân quyền.” 

Chủ tịch Royce phát biểu: “Việt Nam hiện nay không có tự do tôn giáo. Thay vì thế, chúng ta nhìn thấy những màn đánh đập bằng gậy và roi điện của cảnh sát, của côn đồ thuê mướn, và của an ninh tôn giáo. Chúng ta nhìn thấy sự từ chối thừa nhận hơn 600 nhà thờ Tin Lành của người Hmong, điều đã dẫn đến những sách nhiễu, bắt bớ và phá hoại nhà cửa. Và chúng ta nhìn thấy việc bỏ tù 355 giáo hữu Tin Lành người Thượng vì họ đã tiến hành các cuộc biểu tình ôn hoà để đòi hỏi quyền lợi đất đai và quyền tự do tôn giáo ở Tây Nguyên. 

“Chỉ trong sáu tuần đầu tiên của năm 2013, ít nhất 40 nhà bất đồng chính kiến đã bị kết án trong những phiên toà trá hình. Điều đó có nghĩa là chỉ trong vòng hai tháng, nhà cầm quyền cộng sản đã vượt qua ‘thành tích’ của cả năm 2012. Và bất chấp hành động đó, Việt Nam vẫn đang tích cực theo đuổi một ghế trong Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc. 

“Đã đến lúc cần phải phơi bày những hành vi lạm dụng nhân quyền như thế. Nếu chúng ta tiếp tục phớt lờ chính sách đàn áp kinh khủng của Hà Nội, chúng ta đã góp thêm nhiều đau khổ cho nhân dân Việt Nam.” 

CHỈ SỐ DÂN CHỦ THẤP, VIỆT NAM BỊ LIỆT VÀO NHÓM CÁC QUỐC GIA ĐỘC TÀI TOÀN TRỊ 

Tạp chí danh tiếng The Economist vừa công bố bản phúc trình về Chỉ Số Dân Chủ, qua đó Việt Nam được đánh giá THẤP, thuộc nhóm những quốc gia cai trị bởi một chế độ ĐỘC TÀI TOÀN TRỊ. 

Bản nghiên cứu của The Economist đưa ra nhận xét về 167 quốc gia và lãnh thổ dựa trên các tiêu chí như tiến trình bầu cử, thể chế đa nguyên, chức năng của chính quyền, và sự tham gia chính trị và văn hóa chính trị. 

Dựa trên các tiêu chí đó, Việt Nam được xếp hạng 131 trong tổng số 167 quốc gia, và được liệt vào nhóm các quốc gia bị cai trị bởi một Chế Độ Độc Tài, cùng với Trung Quốc, Lào và Bắc Hàn. 


Một bạn trẻ sau khi đọc trên báo điện tử của đảng CSVN về “đặc trưng cơ bản của CNXH ở VN” đã có nhận định dưới đây: 

Kỳ lạ thay! Nước của bọn tư bản lại có nhiều..."xã hội chủ nghĩa" hơn Việt Nam!? 

Thật không? Muốn biết hãy tìm hiểu xã hội chủ nghĩa theo định nghĩa của đảng cộng sản là gì đã! 

Đó là một nước: (1) dân chủ; (2) dân giàu; (3) nền kinh tế phát triển cao; (4) nhà nước pháp quyền. 

(1) Dân chủ: Việt Nam đang đứng ở Hạn 131/167 nước trên TG về mức độ dân chủ (Theo nghiên cứu của EIU), đứng trên VN toàn các nước tư bản được coi là dân chủ hơn như Thụy Sĩ, Thụy Điển, Úc, Nauy, Phần Lan..v..v.. và cả các quốc gia non trẻ mới lập quốc chưa lâu! 

(2) Dân giàu: Thu nhập bình quân đầu người của dân Việt Nam thu mức bình quân của thế giới đến... 8000 USD, dự tính phải mất 20 năm mới đuổi kịp Thái Lan, 35 năm mới kịp Hàn Quốc, 25 năm mới kịp Malaysia...(nếu giả sử trong vòng vài chục năm tới, dân các nước này không tăng thu nhập thêm đồng nào nữa thì may ra VN đuổi kịp!) 

(3) Nền kinh tế phát triển cao: Mục tiêu của đảng cộng sản rằng năm 2020 VN sẽ thành một nước "công nghiệp" đã thất bại hoàn toàn và không còn được nhắc tới và không biết khi nào sẽ thực hiện được. 

(4) Nhà nước pháp quyền: Theo World Justice Project, một bảng xếp hạng về mức độ nhà nước pháp quyền thì VN vẫn tiếp tục ở phần dưới của Thế giới, hạn 67/113 nước được đánh giá. Các nước xếp hạng cao về nhà nước pháp quyền vẫn tiếp tục là các nước...tư bản! 

Vậy nếu theo định nghĩa của đảng cộng sản về một nhà nước xã hội chủ nghĩa thì rõ ràng các nước tư bản có nhiều...chủ nghĩa xã hội hơn Việt Nam gấp nhiều lần! 

Thật mỉa mai cho kẻ nào dùng cụm từ CNXH thường xuyên mà không hiểu nó là gì và VN đang ở đâu! 

Bài viết này chỉ sơ sơ đề cập đến 4 tiêu chí về XHCN của đảng cộng sản nêu ra, còn các tiêu chí khác như: văn minh (VN có văn minh được như các nước tư bản?), ấm no (có thể so sánh bằng phúc lợi xã hội của VN so với các nước tư bản)...chưa xét tới nhé!  - AH 

30.04.2018


Nhớ lại và Suy ngẫm từ mấy câu chuyện sau 30-4-1975

Đào Công Tiến

Ngày 30-4-2018 đang đến, tiếp tục gợi nhớ và thôi thúc suy ngẫm về những sự kiện lớn – kết thúc chiến tranh Việt Nam kéo dài 30 năm (1945-1975) và bắt đầu một “giai đoạn mới” cho thời hậu chiến của miền Nam nói riêng và Việt Nam nói chung.

Mừng hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước, chia sẻ khát vọng “xua kẻ thù đi mau”, “dập tắt chiến tranh đẫm máu”, “đập tan bao đau khổ và chia ly” của cố nhạc sĩ Hoàng Việt đã thành hiện thực[1].Tuy nhiên, còn nhiều khát vọng vẫn chưa thành.

“Giai đoạn mới” lẽ ra phải dành cho việc khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội trên tinh thần “khoan sức dân”, vì dân sinh dân chủ, nhưng điều đó không diễn ra được vì những sai lầm của việc áp đắt một mô hình được gọi là “XHCN Xô Viết” và cả “XHCN đặc sắc Trung Quốc” cùng tự nhận là của Chủ thuyết Mác-Lenin, đã từng bị phá sản và thậm chí đã sụp đổ sau đó ở Liên Xô và Đông Âu cùng hệ thống XHCN của nó.

Mô hình sai lầm đó đã kìm hãm đất nước trong suốt hơn 40 năm qua kể từ 30.4.1975, từ đỉnh cao kết thúc chiến tranh thắng lợi rơi xuống vũng bùn của sự trì trệ và lạc hậu so với những nước trong khu vực từng có cùng một xuất phát điểm về trình độ kinh tế và năng suất lao động như Việt Nam, nay muốn đuổi kịp họ phải mất từ 30 đến 50 năm [với một giả thiết ngớ ngẩn là họ dừng lại để đợi ta!]

Khát vọng từ dân – Khơi nguồn cho suy ngẫm

Môi trường hòa bình độc lập thống nhất đất nước sau 30.4.1975 khơi dậy nhiều khát vọng trong cộng đồng các dân tộc Việt với niềm hy vọng thiết tha là có được cơ hội để mọi gia đình được đoàn tụ, láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau, cùng cắm nén tâm hương, tưởng niệm dành cho nạn nhân chiến tranh với cả nhiều triệu người thân yêu của hàng triệu gia đình, đã đi với chiến tranh mãi không về. Ưu tiên hàng đầu vì thế mà cũng rất hiển nhiên là cùng chung sức chung lòng lo chữa lành các vết thương chiến tranh và giữ cho chúng không rỉ máu trở lại, lo xóa đói giảm nghèo, lo cho con trẻ được đến trường, người bệnh được chữa trị, người già cả, neo đơn được chăm sóc. Và, để xây dựng lại non sông, đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, rút ngắn khoảng cách tụt hậu để “cùng sánh vai với các nước trên thế giới”.

 “Giai đoạn mới” và những lựa chọn phải trả giá đắt

Đại hội Đảng IV (1976) và Đại hội Đảng V (1982) đều có nói đến “giai đoạn mới”, “khôi phục cải tạo và phát triển kinh tế, cải tạo và phát triển văn hóa”, được coi là nhiệm vụ trọng tâm, vừa cấp bách, vừa cơ bản của “giai đoạn mới” – giai đoạn bắt đầu của Cách mạng Việt Nam thời hậu chiến[2].

Tuy nhiên, với tâm lý chủ quan duy ý chí, thậm chí cả bệnh kiêu ngạo thường có ở “người thắng cuộc” cùng với bệnh giáo điều tiếp tục “trung thành vô hạn” – với CNXH theo chủ thuyết Mác – Lênin[3] vốn rất mù mờ về lý thuyết và trên thực tế đã và đang lún sâu vào khủng hoảng rồi phá sản và sụp đổ. Với nhận thức lệch lạc đó đã đưa đến những quyết sách sai lầm khiến cho dân tộc phải trả cái giá quá sức nghiệt ngã.

1.Hệ thống phát ngôn của Đảng, bằng bộ máy thông tin tuyên truyền từ trung ương đến địa phương, đến cả loại hình “văn hóa loa phường”, vẫn tiếp tục một chiều, nặng về “thắng và thua”, “công lao, thành tích và tội lỗi”, “ta, bạn, thù và kích động hận thù”, và gần đây còn là “suy thoái tư tưởng chính trị, tự diễn biến, tự chuyển hóa” . . . Cứ thế mà duy trì sự khác biệt và phân biệt đối xử trong cộng đồng các dân tộc Việt và ngay cả trong nội bộ Đảng Cộng sản.

Chiến tranh đã dần lùi xa mà mức độ nặng nề của sự khác biệt và phân biệt đối xử từ lúc chiến tranh vẫn còn cứ đeo bám trong tâm lý đời thường. Duy trì sự khác biệt và phân biệt đối xử, còn tạo ra sự thiếu công bằng trong giáo dục, y tế… thậm chí còn gây thảm họa cả trong tình yêu đôi lứa - yêu nhau mà không lấy được nhau vì khác biệt và phân biệt đối xử.

Vẫn cứ một cách tuyên truyền sáo mòn cũ rích, nhai đi nhai lại những luận điệu mà không hiểu được rằng “một sự kiện chiến tranh khi nhắc lại có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn” như nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc sinh thời đã nhắc nhở điều đó và ông từng đòi hỏi “đó là vết thương chung của dân tộc cần được chữa lành, thay vì tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu”.

2.Trong cuộc chiến tranh kéo dài suốt 30 năm (1945 – 1975) máu người Việt đã thấm đẫm trên mảnh đất quê hương. Có lẽ cũng khỏi phải nhắc lại những con số thống kê về bom đạn rải xuống ruộng đồng, sông suối, núi rừng trên đất nước này bằng bao nhiêu phần bom đạn trong chiến tranh thế giới lần thứ hai! Cũng chẳng cần phải nhắc lại những di hại của chất độc dioxin sẽ còn để lại những di chứng trong bao nhiêu lâu nữa trên da thịt của bao thế hệ Việt, cho nòi giống Việt! Những tranh cãi dai dẳng về “ý thức hệ” rồi sẽ theo thời gian mà trôi vào dĩ vãng, song truyền thống Việt Nam mà ông cha bao đời gây dựng và truyền lại thì vẫn mãi mãi lưu chảy trong huyến quản người Việt vốn là một dân tộc chưa bao giờ chịu khuất phục. Đó là một chân lý không bao giờ thay đổi, như mặt trời mọc từ hướng Đông và lặn về hướng Tây.

“Chiến tranh Việt Nam” mà người Việt và bè bạn trên thế giới thường nhắc đến là như vậy đấy – là một cuộc chiến mang đậm bản chất truyền thống yêu nước của người Việt. Song, chiến tranh Việt Nam đó cũng là cuộc chiến bị can thiệp, bị lợi dụng và phụ thuộc bởi tham vọng bá quyền của các nước lớn “theo cộng sản” và “chống cộng sản” trong “cục diện chiến tranh lạnh” trên thế giới sau Đại thế chiến thứ II.

Có những nghiên cứu về Trung Quốc, không xếp Trung Quốc vào phe “theo cộng sản” trong “cục diện chiến tranh lạnh” bởi, thực chất mà nói thì Trung Quốc đã và đang theo “chủ nghĩa Đại Hán” chứ không theo CNXH – CNCS và quốc tế vô sản của chủ thuyết Mác – Lênin, mà mộng bành trướng bá quyền của “chủ nghĩa Đại Hán” không “cho phép” Trung Quốc lép vế với các nước lớn khác trong “cục diện chiến tranh lạnh”. Từ khi kết thúc nội chiến, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, trên danh nghĩa đứng trong phe XHCN nhưng Trung Quốc không bao giờ phục tùng Liên Xô mà còn tranh chấp với Liên Xô, thậm chí còn đi với Mỹ chống Liên Xô. Với Việt Nam, Trung Quốc nhúng tay “lèo lái” việc chọn giải pháp “chia đôi đất nước” thành hai miền Nam, Bắc tại vĩ tuyến 17 ngay sau cuộc kháng chiến chống Pháp với Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi – sự kiện bị coi là “ươm mầm chia rẽ dân tộc” và dẫn đến cuộc chiến tranh  phải trả giá đắt. Trung Quốc “ủng hộ” Việt Nam chống Mỹ còn nhằm mục tiêu đẩy vòng vây chống cộng sản của Mỹ ra xa biên giới Trung Quốc và cũng sẵn sàng quay lưng lại với Việt Nam, chống Việt Nam khi chuyển sang đi với Mỹ, nhất là vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh 30 năm[4]

Sự can thiệp, lợi dụng của các nước lớn như đã nêu ở trên đã biến cuộc “chiến tranh Việt Nam”  thành cuộc chiến tranh nóng (trong cục diện chiến tranh lạnh) lớn nhất, kéo dài nhất, đẫm máu nhất và là cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn” tồi tệ nhất trong lịch sử chiến tranh của Việt Nam và thế giới sau Đại thế chiến thứ II. Và cái giá mà đất nước và con người Việt Nam phải gánh chịu, là quá lớn, quá đắt. Trong chiến tranh, có nhiều triệu người ngã xuống, nhiều triệu gia đình mất người thân yêu và sống trong đau khổ và chia ly . . . Trong hậu chiến, với trên 40 năm đã qua mà còn cả triệu người mang thương tích chiến tranh trên mình chưa chữa lành, môi trường sống bị chiến tranh tàn phá còn chưa khôi phục được, chất độc dioxin, bom mìn sót lại vẫn còn gây đau thương cho người dân vô tội … Và, cuộc chiến tranh đó đã và đang còn để lại trong cộng đồng các dân tộc Việt những vết thương của sự chia rẽ và lòng người ly tán do bất đồng ý thức hệ và thù hằn bởi “chiến tranh đẫm máu”, “đau khổ và chia ly” còn hằn sâu chưa tháo gỡ được. Vì thế đạo lý cần có sau khi chiến tranh kết thúc không phải là chia rẽ người Việt với nhau bởi vẫn tiếp tục duy trì sự khác biệt và phân biệt đối xử, càng không thể là kích động hận thù và trả thù của bên này đối với bên kia, mà phải là hòa giải hòa hợp dân tộc trên nền tảng của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, với lòng nhân ái, sự chân thành và khoan dung của con người Việt Nam. Những hành xử không trên tinh thần đó, chẳng hạn như tập trung cải tạo, phạt vạ, tù đày . . . của “bên thắng cuộc” đối với “bên thua cuộc” đã đến lúc phải có lời thành tâm sám hối và xin lỗi.

3.Cuộc chiến hết sức khốc liệt kéo dài 30 năm đã vắt kiệt sức dân ta, sau 30.4.1975 nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá đó lẽ ra phải được khôi phục và phát triển trên tinh thần “khoan sức dân”. Nhưng điều đó không diễn ra được vì đường lối cải tạo XHCN đã giành hết chỗ cho nó, còn đâu cho khôi phục và phát triển vì dân sinh, dân chủ. Một bộ phận không nhỏ dân nghèo đô thị bị đưa đi kinh tế mới lâm vào cảnh sống “khốn cùng” – “không còn gì để ăn, còn đất (ở vùng kinh tế mới) đâu dễ cạp”. Câu nói này xác thực cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của sự “khốn cùng” đó. Trên những cánh đồng trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long và Duyên hải miền Trung, các hộ gia đình nông dân phải gác lại những công việc đồng áng vốn quen thuộc để đi vào con đường “làm ăn tập thể” theo mô hình hợp tác xã của miền Bắc được tạo dựng một cách trầy trật suốt 16 năm vẫn không gượng đứng dậy được, bị lún sâu vào khủng hoảng và đứng trên bờ vực của sự phá sản, để rồi người trồng lúa thiếu gạo ăn, cả nước phải gặm bột mì và ăn bo bo.

Trong công nghiệp, thương nghiệp, Đảng chủ trương “đánh” kinh tế tư hữu, cấm đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân, “xây” kinh tế công hữu bằng những cách làm từ mô hình kinh tế XHCN vốn không thành công ở miền Bắc, đã làm cho kinh tế miền Nam mới ra khỏi chiến tranh vốn đã khó khăn, khó khăn hơn, đời sống của dân vốn đã cơ cực, cơ cực hơn.

Thời hậu chiến đã qua trên 40 năm sau 30-4-1975 mà tinh thần “khoan sức dân” vẫn chưa thấm được vào nhiều chính sách kinh tế. Chính sách giá, lương, thuế, phí vẫn tiếp tục vắt kiệt sức dân. Trong khi mức thu nhập GDP bình quân đầu người ở Việt Nam còn quá thấp và đang đội sổ thế giới (chỉ bằng 0.262 lần Trung Quốc, 0.257 lần Thái Lan, 0.158 lần Malaysia, 0.392 lần Indonesia và 0.604 lần Philippin) mà phải chịu những khoản thuế, phí quá cao, kéo dài nhiều năm, kể cả khi kinh tế khó khăn. Tiền lương tuy có điều chỉnh, nhưng chính sách tiền lương cơ bản không đổi vẫn trên nền lương tối thiểu không đáp ứng đủ nhu cầu tối thiểu của cuộc sống. Với thu nhập có được từ tiền lương không đủ sống như vậy, người dân lại phải chịu nhiều khoản thuế, phí quá cao, bởi phân phối trong nền kinh tế nghiêng quá nhiều về thu ngân sách cho đầu tư, chi phí và trả nợ công, cho cả thất thoát vì lãng phí và tham nhũng quá lớn. Thu ngân sách Nhà nước trung bình giai đoạn 2007-2011 so với GDP cùng kỳ lên tới 29%, chỉ tính riêng thuế, phí cũng đã lên đến 26.3%, cao gấp 1.4 đến 3 lần so với các nước trong khu vực (tỉ lệ này của Trung Quốc là 17.3%, Thái Lan và Malaysia là 13%, Indonesia là 12% và Ấn Độ là 7.8%)[5]

4.Hiện tình kinh tế như vậy đòi hỏi phải thay đổi cách nghĩ cách làm – phải Đổi mới. Người dân miền Nam nói riêng và cả nước nói chung, nhất là người dân tại nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh, hộ gia đình nông dân, thợ thủ công và tiểu thương vì cuộc sống và lẽ sống của mình, họ đã tự phát “xé rào” vượt cơ chế chính sách hiện hữu đầy sai trái để cứu nguy kinh tế và đời sống. Đó là mũi đột phá từ dân – là cơ sở, gốc rễ của Đổi mới. Và, về cơ bản Đảng chấp nhận việc làm của dân như là chấp nhận giải pháp tình thế trước áp lực của khủng hoảng đã đến mức không chịu nổi. Đại hội Đảng VI với Nghị quyết Đổi mới đã chấp nhận cho phát triển sản xuất hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế có sự kết hợp giữa kế hoạch với thị trường và có sự điều tiết của Nhà nước. Theo đó, những rào cản “ngăn sông cấm chợ” được tháo gỡ trả lại sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho người sản xuất và người tiêu dùng, hợp thức hóa cách “khoán sản phẩm” trong hợp tác xã, mở đường cho kinh tế hộ gia đình được tự chủ và trở lại với vai trò của đơn vị kinh tế cơ sở ở nông thôn.

Đổi mới với hai mũi đột phá đó đã đưa kinh tế ra khỏi khủng hoảng và tạo được đà cho tăng trưởng. Thế nhưng, một số không nhỏ lý luận gia và những nhà lãnh đạo của Đảng, với kết quả Đổi mới vui một họ lo hai, ba thậm chí chín, mười, vì sợ “Đổi mới được kinh tế nhưng mất tư tưởng, được bộ phận nhưng mất tổng thể, được trước mắt nhưng mất lâu dài, được kết quả hiển nhiên nhưng xa rời mục đích và những nguyên tắc cơ bản, được của cải nhưng hỏng quan hệ sản xuất và con người”. Sự mơ hồ trong tư duy Đổi mới như vậy đã làm cho Đổi mới không toàn diện, không triệt để - do dự, thiếu dứt khoát, nhất là đối với đòi hỏi đổi mới thể chế chính trị đi liền với đổi mới kinh tế.

5.Chiến tranh đã kết thúc và “giai đoạn mới” cũng đã đi được một khoảng thời gian dài, thế mà cách hành xử với nhân quyền, pháp quyền, quyền tự do dân chủ của công dân còn nhiều bất cập quá tệ hại:

Đạo luật cơ bản của Việt Nam, với Hiến pháp năm 1946 và với các lần sửa đổi sau đó, đã ghi “Tât cả quyền bính” hay “tất cả quyền lực” hoặc “tất cả quyền lực Nhà nước” – “thuộc về nhân dân” [6]. Những quyền “thuộc về nhân dân đó” về danh nghĩa cũng không trọn, làm gì có thực chất vì với pháp quyền XHCN, giới lập pháp VN tự cho mình có quyền đưa vào Hiến pháp sửa đổi năm 1980, 1992 và 2013 những điều vi hiến – lấy quyền lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội duy nhất thuộc về đảng Cộng sản, đặt lên trên các quyền thuộc về Nhân dân.

Để có một Nhà nước và một xã hội chấp nhận phục tùng “siêu quyền lực” đó của đảng, Đảng đã thao túng việc bầu chọn sắp xếp nhân sự cho nó bằng một quy trình “đảng cử, dân bầu” chứ không phải “dân cử, dân bầu”  để nó hành xử việc dân, việc nước theo ý đảng chứ không phải ý nguyện của nhân dân.

Nhiều quyền tự do, dân chủ được ghi trong Hiến pháp quá hiển nhiên, nhưng trên thực tế không được thực hiện bởi có nhiều rào cản khó vượt: Quyền tiếp cận thông tin không vượt qua được rào cản từ sự lạm dụng của việc giữ bí mật và bưng bít thông tin; Quyền tự do bày tỏ chính kiến không vượt qua rào cản từ cấm “đa nguyên”, và tương tự như vậy, quyền tự do hội họp, lập hội cũng không vượt qua được rào cản từ cấm “đa đảng”.

Nổi cộm lên trong bức xúc của người dân là “quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước” có lúc bị ách tắc dẫn đến lén lút vượt biên, tạo nên thảm trạng “thuyền nhân”. Quyền biểu tình chưa cho thực hiện vì chưa có luật biểu tình, bởi Quốc hội chưa quyết tâm, thậm chí chưa muốn làm. Quyển sở hữu tư nhân về đất đai là tư liệu sản xuất, là tài sản của công dân chưa được công nhận là nguyên nhân gây nhiều cản ngại đối với sản xuất kinh doanh, tạo ra nhiều tranh chấp gây bất ổn xã hội.

6.Cái giá phải trả cho những lựa chọn thiếu thấu tình, đạt lý trong cả quá trình dài của “giai đoạn mới” sau 30-4-1975 là quá lớn, quá đắt: Tài nguyên và môi trường thiên nhiên bị phá nát, các thang giá trị bị đảo lộn, bất công xã hội gia tăng. Thiếu việc làm, lương thấp, thu nhập không đủ sống, đời sống khó khăn kéo dài suốt hơn 40 năm sau chiến tranh và hiện vẫn còn thấp xa so với hầu hết các nước trong khu vực. Thiếu an ninh, an toàn đối với người dân trong giao thông, phòng tránh bão lũ; bạo lực bạo hành từ trong gia đình đến ngoài xã hội, kể cả từ sự lạm dụng quyền lực của hệ thống công quyền gia tăng. Tham nhũng đã trở thành quốc nạn, không còn đơn thuần là tham nhũng tiền của mà còn là tham nhũng quyền lực và cấu kết với quyền lực trong các hệ thống nhóm lợi ích bất chính. Nền kinh tế vẫn bị chi phối bởi sự rối rắm về lý thuyết và sự hỗn loạn trong vận hành, vẫn kinh tế công hữu, kinh tế nhà nước là nền tảng, là chủ đạo, nắm giữ một bộ phận nguồn lực lớn nhất và cũng là nơi bị đục khoét lớn nhất bởi lãng phí và tham nhũng, nguồn lực trong dân với khu vực kinh tế dân doanh không được xem trọng nên làm cho nền kinh tế yếu từ gốc, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn nặng về khai thác nên góp sức chưa nhiều vào việc làm cho nền kinh tế mạnh lên và phát triển bền vững hơn, các lĩnh vực kinh tế nhạy cảm – tài chính, tín dụng, chứng khoán, bất động sản và một số ngành kinh doanh dịch vụ khác vẫn tiềm ẩn bất ổn.

Mấy đề xuất những việc cần làm

1.Cần tổ chức lễ tưởng niệm nạn nhân chiến tranh của cuộc chiến 30 năm (1945 – 1975) ở Việt Nam ngang tầm quốc lễ, thay vì chỉ là lễ mừng hòa bình, độc lập và thống nhất đất nước, như đã được tổ chức hàng năm suốt 41 năm qua. Quốc lễ tưởng niệm hàng năm, mỗi năm một lần, vào thời điểm thích hợp là lúc 11h30 ngày 30 tháng 4 (lúc đó của năm 1975 là thời điểm đội quân can thiệp Mỹ đã rút hết khỏi Việt Nam và tướng Dương Văn Minh – Tổng thống Việt Nam Cộng hòa đọc trên đài phát thanh Sài Gòn Tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam).

2.Cần có lời thành tâm sám hối và xin lỗi từ đảng Cộng sản tới nhân dân – cộng đồng các dân tộc Việt về những quyết sách sai lầm từng đưa đến những đau thương mà dân tộc phải gánh chịu như đã nêu ở trên.

3.Hòa giải, hòa hợp dân tộc là chuyện lớn của dân của nước không thể tiếp tục quay lưng lại được. Sám hối và xin lỗi nếu được thực hiện là sự thành tâm, thiết nghĩ rất cần có cho hòa giải hòa hợp dân tộc.

Cũng không dừng ở đó, những người có trách nhiệm phải dám đối mặt với sự thật, để nhận biết vấn đề căn cơ, gốc rễ là lòng tin của nhân dân đối với Đảng đã bị xói mòn đến cạn kiệt mà nguyên nhân cơ bản là sự độc đoán chuyên quyền, phản dân chủ trong định hình thể chế và điều hành bộ máy quản lý nhà nước và quản lý xã hội. Sự tha hóa của quyền lực càng ngày càng trầm trọng, đẩy tới sự tham nhũng ngày càng ăn sâu vào cốt tủy, càng chống càng tăng, đẩy tới nguy cơ sụp đổ không cứu vãn được. Chính điều này đã phá nát nền tảng của một xã hội như xã hội mà ta đang sống. Để giữ lấy độc quyền và siêu quyền cho mình, đảng đã quay lưng lại, loại bỏ mọi ý kiến khác của trí thức, nhân sĩ yêu nước, những tư vấn và phản biện tâm huyết và có tính khoa học để rồi không tránh được những sai lầm trong nhiều sự lựa chọn quyết sách phải trả giá đắt.

Lòng tin mà mất thì mất tất cả! Từ trong gia đình, đến ngoài xã hội, trong quan hệ giữa người với người không còn gì để tin cậy nhau thì chẳng còn gì để hòa giải, hòa hợp. Sẽ không có ngoại lệ cho hòa hợp, hòa giải dân tộc mà Việt Nam đang cần.

Thay lời kết

Càng ngẫm, càng buồn – cái buồn của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn về một “nước Việt buồn[7]

Từ một “nước Việt buồn” thời “ngàn năm”, “trăm năm” nô lệ bởi giặc Tàu, đô hộ bởi giặc Tây, đến một “nước Việt buồn” của cuộc chiến tranh “bốn nhất” – chiến tranh nóng (trong “cục diện chiến tranh lạnh”) lớn nhất, kéo dài nhất, đẫm máu nhất và là cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn” tồi tệ nhất. Rồi lại tiếp nỗi buồn từ sự “ngoảnh mặt, quay lưng” với một “nước Việt buồn” của một bộ phận không nhỏ trong cộng đồng người Việt (cả quan chức của bộ máy công quyền, của doanh nghiệp Nhà nước của đảng viên cộng sản và cả người dân), bời “ngu lâu” nên không nhận ra được “một nước Việt buồn”; bởi “tha hóa” vì “bả” vinh hoa phú quý và vì “quyền lực tuyệt đối, tha hóa tuyệt đối” nên mặc kệ một “nước Việt buồn”, bởi “mất lòng tin” lâm vào chơi vơi, vô cảm với chính “nước Việt buồn”.

Nỗi buồn về một “nước Việt buồn” như đã nêu ở trên là những câu chuyện thật, mà nguyên nhân không thể nào né tránh được – là thuộc về Đảng với sự độc quyền lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội bằng siêu quyền lực và với thể chế chính trị mà Đảng chọn và vẫn một mực trung thành với nó một cách “kiên định” bởi một “ý chí” gọi là “kiên cường” của sự bảo thủ - bảo thủ đến mức ngoan cố!

Đảng cộng sản như vậy, không thể giải được buồn – nỗi buồn của dân tộc. Giải nỗi buồn đó phải là chuyện của dân. Đã đến lúc các quyền thuộc về đảng, mà lẽ ra phải thuộc về dân, phải trao trả lại cho dân để dân giải nỗi buồn của mình bằng “tất cả quyền bính”, “quyền lực”, “quyền lực Nhà nước” đích thực thuộc về nhân dân

Tp Hồ Chí Minh, tháng 4/2018


 

[1] Nghe lại bản “Tình ca” của cố nhạc sĩ Hoàng Việt để cùng chia sẻ khát vọng “xua kẻ thù đi mau”, “dập tắt chiến tranh đẫm máu, đập tan ngay bao đau khổ và chia ly” của ông.

[2] Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (1982), Tổng Bí thư Lê Duẩn đã khẳng định: “Từ Đại hội lần thứ IV đến Đại hội lần thứ V của Đảng là những năm đầu Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới. Đó là những năm khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế, cải tạo và phát triển văn hóa”.

[3] Trong bài diễn văn khai mạc Đại hội Đảng V (1982), cố Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh đã khẳng định “Đảng Cộng sản Việt Nam là một Đảng cách mạng kiên cường, trung thành vô hạn với chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa quốc tế vô sản”.

[4] Xem bài khai bút đầu tháng 1- 2017 “Tìm hiểu thêm về thế giới đã sang trang (bài 5)” của tác giả Nguyễn Trung. https://anhbasam.wordpress.com/2017/01/05/11-225-tim-hieu-them-ve-the-gioi-da-sang-trang-bai-5/

[5] Dữ liệu từ “Báo cáo kinh tế vĩ mô năm 2012” của Ủy ban kinh tế Quốc hội, qua bài “Thuế, phí cao chót vót”, báo Tuổi Trẻ ngày 4-9-2012 và bài “Oằn vai thuế thu nhập cá nhân”, báo Thanh Niên ngày 5-9-2012

[6] Hiến pháp sửa đổi năm 2013 và các Hiến pháp trước đó đều cùng có chế định “Tất cả quyền bính” hay “Tất cả quyền lực” hoặc “Tất cả quyền lực Nhà nước” đều thuộc về nhân dân. Tuy nhiên, Hiến pháp sửa đổi năm 1980, 1992 và 2013 đã bị giới lập pháp Việt Nam tự cho mình cái quyền “vi hiến”, đã mặc nhiên đặt quyền lãnh đạo cao nhất và duy nhất của Đảng đối với Nhà nước và xã hội - trên các quyền thuộc về nhân dân. Đây đích thực là rào cản không thể vượt qua được để thực thi dân quyền, mặc dù đã có chế định của pháp quyền.

[7] Nghe lại bài “Gia tài của mẹ” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, để chia sẻ với ông về “nước Việt buồn” thời “một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây”, “hai mươi năm nội chiến từng ngày” và “gia tài của me để lại cho con, gia tài của mẹ là nước Việt buồn”



Tháng tư: Nhìn hội đàm thượng đỉnh liên triều nghĩ về cái ngu và cái hèn của CSVN

Nguyễn Hoàng Dân (Danlambao) - Ngày 30/4/2018 đánh dấu 43 năm sụp đổ của chế độ VNCH tại miền nam Việt Nam. Đây cũng là ngày được gọi là ngày đại thắng, là cơ hội để đảng cộng sản Việt Nam và chính phủ Hà Nội tổ chức hàng năm đại lễ ăn mừng chiến thắng, khi cuộc chiến tranh nóng kéo dài hơn 20 năm giữa hai miền nam bắc Việt Nam chấm dứt, bởi sự tan rã và hoàn toàn biến mất trên chính trường quốc tế của chính phủ Việt Nam Cộng hòa tại miền nam, đồng thời với việc sáp nhập có tính cưỡng ép giữa hai miền, để cho ra đời sau đó một chính phủ Việt Nam thống nhất, dưới danh xưng Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ tháng 7/1976.

Đây là một thể chế đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của đảng cộng sản Việt Nam, một tổ chức chính trị trực thuộc quốc tế ba cộng sản, đã thừa ủy nhiệm hai đảng cộng sản Lienxo và Trung cộng tiến hành hai cuộc chiến tranh đẩm máu người Việt, nhằm bành trướng ý thức hệ cộng sản xuống vùng Đông nam Á, nhưng lại được bộ máy tuyên truyền cộng sản lưu manh đánh tráo bản chất, trở thành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành độc lập và kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược giải phóng miền nam.

…Kỷ niệm 43 năm ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, chúng ta vô cùng tự hào nhìn lại bước đường đấu tranh cách mạng lâu dài và oanh liệt mà nhân dân ta đã vượt qua dưới sự lãnh đạo của đảng (…). 43 năm đã qua, song thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mãi mãi khắc ghi trong lịch sử dân tộc như trang sử chói lọi nhất, ý chí thống nhất đất nước và khát vọng hòa bình vẫn luôn là tài sản vô giá, tiếp thêm sức mạnh cho toàn đảng, toàn dân và toàn quân ta trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Để giành được những thắng lợi to lớn như ngày hôm nay, đất nước ta đã phải vượt qua muôn vàn gian lao, thử thách. Dưới lá cờ vinh quang của đảng, biết bao cán bộ, đảng viên, đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh xương máu, nêu cao truyền thống yêu nước, khí phách anh hùng, lòng trung thành vô hạn đối với sự nghiệp cách mạng cao cả của đảng và dân tộc…( Trần Đại Quang, chủ tịch nước CHXHCNVN, Phát huy sức mạnh của ý chí thống nhất đất nước và khát vọng hòa bình trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, 28/4/2018 ).

Sau lối nói huê dạng, sặc mùi tuyên truyền và trơ tráo khỏa lấp sự thật của Trần Đại Quang - cũng như của mọi lãnh đạo cộng sản Việt Nam từ trước đến nay - cái giá phải trả cho sự khát khao chiếm đoạt quyền lực của những người cộng sản Việt Nam, dù phải chấp nhận thân phận chư hầu khi làm một tên lính xung kích hèn mọn cho đệ tam quốc tế cộng sản và đồng thời bất chấp mọi mất mát, đổ vở đến độ tan nát cả một đất nước, là một núi tai họa, vừa kinh khủng trong lúc chiến tranh, vừa kinh hoàng khi cuộc chiến lụi tàn và vừa là di họa mãi đến nay mà chưa có dấu hiệu chấm dứt.

Trong chiến tranh có khoảng 2 triệu nạn nhân thường dân bị thiệt mạng vì bom đạn của đôi bên. Phía miền bắc tham chiến có có 1,1 triệu tử trận (trong đó có 800.000 người vẫn chưa thu hồi được thi thể), 600.000 bị thương. Phía miền nam tham chiến có gần 300.000 hy sinh và 1,2 triệu bị thương. Chưa tính đến số tổn thất của các cường quốc Hoaky, Lienxo và Trung cộng có can dự trực tiếp vào cuộc chiến.

Sau chiến tranh có khoảng 100.000 cộng tác viên và công dân VNCH bị giết hại bởi các lực lượng chiếm đóng và những phiên tòa nhân dân lưu động của Hà Nội. Hơn 1 triệu công dân VNCH bị giam giữ dưới chiêu bài tập trung cải tạo, trong đó có gần 300.000 người bị tù đày khổ sai từ 3 đến 17 năm và khoảng 165.000 người thiệt mạng trong tù vì bị giết, đói ăn và đau ốm không được chăm sóc, bị kiệt sức do lao động cưởng bức. Gần 4 triệu công dân VNCH bị chính quyền cộng sản cướp đoạt tài sản, nhà cửa, cưởng bách phải đi vùng kinh tế mới ở những nơi hoang vu, hẻo lánh, thiên nhiên khắc nghiệt, khiến hơn 48.000 thường dân phải bỏ mạng vì môi trường tồi tệ, hay tự vẩn vì cùng quẩn và tuyệt vọng. Hơn 1 triệu người bỏ nước ra đi bằng đủ mọi cách, cố tìm một đường sống trong chín đường chết và đã có hơn 500.000 ngàn người phải ngậm ngùi bỏ mạng giữa biển khơi, hay trên góc rừng, xó núi ở Cambodia, hoặc Thailand.

Đất nước rơi vào nghèo đói và cùng khổ dưới sự cai trị tàn bạo của chế độ chỉ cần thứ đảng viên hồng hơn chuyên, trung thành hơn khả năng, nên mọi mặt sinh hoạt đời sống của toàn xã hội đều suy đồi nghiêm trọng tới mức gần như phá sản vào năm 1985.

Năm 1991 Lienxo và hệ thống các nước cộng sản chư hầu Đông Âu tan rã, để sống còn đảng cộng sản Việt Nam phải hô hào đổi mới kinh tế, kêu gọi đầu tư quốc tế và cho phục hồi từng phần nền kinh tế tư doanh, bên cạnh quay sang đầu phục triệt để chính quyền Trung cộng để tìm chổ dựa cho chế độ, nhờ đó mới thoát ra khỏi được nguy cơ sụp đổ. Tuy nhiên các "chóp bu" Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười có nhanh tay cứu sống được đảng, nhưng kết quả vật chất đời sống thu được cho toàn dân thì khiêm tốn, trong khi các hệ lụy từ tai ách mới do cộng sản tròng lên cho dân tộc Việt Nam thì quá lớn, trong đó không ngoại trừ cả trường hợp bị mất nước vào tay cộng sản Bắc Kinh.

Tính đến năm 2012 thu nhập đầu người của Việt Nam là 1.597USD, xếp hạng 133/184 quốc gia trên thế giới, đến năm 2016 tăng lên được 2.171USD, xếp hạng 132/182 quốc gia được khảo sát bởi ngân hàng thế giới. Dã tâm giữ chặt quyền lực chính trị của đảng cộng sản, bên cạnh các đòi hỏi tất yếu của quy luật kinh tế thị trường, khiến Hà Nội phải đẻ ra quái thai nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và là cái vòng luẩn quẩn khiến kinh tế Việt Nam không thể nào phát triển thuận lợi như dưới mọi thể chế khác. So với vài quốc gia Á châu, để gia tăng gấp đôi GDP Nam Hàn chỉ cần 4,7 năm, Singapore cần 6 năm, Thailand là 10 năm, Indonesia là 10,3 năm, Malaysia cần 10,9 năm, Philippine cần 19,7 năm và Việt Nam cần đến 23,2 năm. Do đó nếu còn duy trì sự cai trị của đảng cộng sản, thì Việt Nam không bao giờ có thể bắt kịp được đà phát triển GDP của những quốc gia đối chứng nêu trên, nói thẳng thừng là phải chịu cầm đèn đỏ đi sau vĩnh viển.

Nguy tai hơn, hố chênh lệch giàu, nghèo giữa các thành phần xã hội ngày càng quá rộng và bất công trong xã hội mỗi lúc mỗi gia tăng quá lớn. Tuyệt đại bộ phận tài sản quốc dân, tài nguyên, của cải đều thuộc về một nhúm cán bộ, đảng viên quyền thế và một số ít đại gia tư bản đỏ cấu kết thành các nhóm lợi ích xâu xé làm của riêng, với biệt phủ trong nước, biệt thự ở ngoài nước và của chìm, của nổi phải tính đến hàng triệu USD, trong khi người dân mất đất đai canh tác, mất ngư trường đánh bắt, môi trường sống nhiểm độc toàn diện, xã hội sa đọa tận đáy của tha hóa. Năm 2011, tính theo 9 chỉ tiêu đánh giá nghèo đói toàn diện MPI (Multidimensional Poverty Index) của chương trình phát triển Liên hiệp quốc UNDP (United Nations Development Programme) nhóm dân đồng bằng sông Cửu Long có đến 49,7% và nhóm dân cao nguyên trung phần có đến 34,5% là thuộc hạng cùng đinh, không lối thoát. Nhiều người, nhiều gia đình nông dân miền tây phải ly xứ, tha phương cầu thực khắp nơi trong nước, lẫn ngoài nước, theo những chương trình xuất cảng lao động bịp bợm, đem con bỏ chợ của cộng sản Hà Nội, dù chỉ là làm những công việc lao động tay chân, cu li xứ người. Đáng thương hơn cả là thân phận người phụ nữ miền tây, nghèo đói phải tìm cách thoát thân, nhưng lên thành thị thì không có nghề nghiệp, kiếm việc làm nuôi thân, giúp đở gia đình thì không dể, thôi thì theo phong trào lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn bùng nổ, với 99% con gái vùng đồng bằng sông Cửu Long nhắm mắt đưa chân, trong tổng số phụ nữ Việt Nam phải cam đành xuất cảnh đi lấy chồng xa?!!.

Như một sự tình cờ trớ trêu của lịch sử, ngày 27/4/2018, hai nhà lãnh đạo của hai miền nam bắc Đại Hàn là Kim Jong un, 34 tuổi, chủ tịch đảng lao động ( cộng sản ), đương chức chủ tịch ủy ban quốc vụ nhà nước Bắc Hàn và Moon Jae In, 65 tuổi, đương nhiệm tổng thống Nam Hàn, đã trực tiếp gặp mặt nhau ở Bàn môn Điếm (Panmunjom) trong vùng phi quân sự chia cắt hai miền. Ngoài hình thức tay bắt, mặt mừng và những bước chân của hai nguyên thủ đối nghịch bước qua, lại trên lằn ranh phân chia hai miền, họ đã đồng ý cùng ngồi xuống, cùng thảo luận "một cách thẳng thắn, không giữ khoảng cách dù đã bị chia cắt đến 65 năm", trong một nghị trình mang nặng ý nghĩa hòa giải giữa hai miền, giải trừ vũ khí nguyên tử trên bán đảo Cao Ly, thỏa thuận hòa bình và cải thiện các mối quan hệ liên chính phủ.

…Khi bước chân qua lằn ranh phân định, tôi mới biết giới tuyến này không hề bị một vật to lớn nào cản trở cả. Có điều là phải đến 11 năm, thời khắc lịch sử này mới diễn ra một cách dễ dàng như vậy. Thế nên khi bước qua đường ranh giới, tôi đã tự hỏi tại sao phải mất đến ngần ấy năm mới có được giây phút này? và sao điều đó lại khó khăn đến như thế?. Nếu chúng ta có thể gặp nhau thường xuyên hơn, với những suy nghĩ đoàn kết và quyết tâm, chúng ta có thể xích lại gần nhau hơn và chúng ta có thể an ủi nhau rằng tuy mất 11 năm, nhưng ít ra chúng ta cũng được điều gì đó. Đó là suy nghĩ của tôi và tôi đã thật sự tràn ngập cảm xúc khi bước đi 200m trên dải đất này (…). Tôi có thể thấy người dân hai miền cùng một dân tộc, chúng ta không thể bị chia cắt, chúng ta là đồng bào, chúng ta không nên đối đầu nhau (…). Bàn môn Điếm là biểu tượng của vết thương, nổi khổ đau và sự chia cắt, nhưng từ nay sẽ trở thành biểu tượng của hòa bình. Nam và Bắc của bán đảo Cao Ly có cùng một ngôn ngữ, một văn hóa, một lịch sử, chúng ta sẽ thống nhất lại là một quốc gia, tận hưởng sự hòa bình và thịnh vượng vĩnh viễn…(Kim Jong un, chủ tịch tối cao Bắc Hàn, 27/4/2018).

Một chi tiết nhỏ nhưng đã thu hút sự quan tâm của mọi giới quan sát. Trên các chiếc ghế bằng gỗ hồ đào, có hình một cái khiên với bán đảo Cao Ly và bên cạnh là đảo Dokdo mà Nam Hàn đang tranh chấp chủ quyền với Nhật Bản (Nhật gọi là đảo Takeshima). Chi tiết này cũng được lập lại với chiếc bánh tráng miệng có tên "Mùa xuân của nhân dân" trong bửa tiệc do chủ nhà Nam Hàn khoản đãi khách quý Bắc Hàn và đã khiến cho bộ ngoại giao Nhật Bản phải lên tiếng phản đối. Nam và Bắc Hàn có thể tranh chấp trên vô số chủ đề, nhưng có một thứ mà hai bên cùng chia sẻ là chủ quyền các đảo trong biển Nhật Bản và nỗi đau Nhật thuộc trong 35 năm từ 1910 đến 1945 (RFI, 28/4/2018).

Lịch sử Việt Nam và Đại Hàn có rất nhiều điểm tương đồng, xét dưới lăng kính khảo nghiệm chí công của thời gian, chứng nghiệm qua các thực tế hiển nhiên hiện nay đã rõ ràng là một chua xót lịch sử cho mọi con dân Việt Nam, khi không may có một Hồ Chí Minh và một tập thể cộng sự do y khuyến dụ, lôi kéo, đào tạo đã dứt khoát đặt tham vọng quyền lực cá nhân lên cao hơn quyền lợi của quốc gia, dân tộc.

Nếu không vì tham vọng quyền lực cá nhân, không có dã tâm muốn một mình một chợ, độc quyền lãnh đạo, thì Hồ Chí Minh và các đồng đảng đã không phải quy phục, làm theo lệnh của đệ tam quốc tế cộng sản khi nỗ lực tiêu diệt mọi thành phần yêu nước kháng Pháp dân tộc chủ nghĩa, bên cạnh sự dàn dựng, thúc đẩy và ném hàng triệu sinh mạng người Việt vào cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, dài 9 năm (1946 – 1954), với thực dân Pháp.

Tháng 8/1941 Tổng thống Hoaky Franklin Roosevelt và Thủ tướng Anh Quốc Winston Churchill trong cuộc họp ở Newfoundland – Canada, đã khai sinh ra hiến chương Đại tây Dương, được 26 quốc gia thuộc phe đồng minh – chủ yếu là các đế quốc tây phương – đồng ký kết ủng hộ từ tháng 1/1942, xác định sau khi thế chiến thứ hai chấm dứt (1939 – 1945) các đế quốc tây phương sẽ trao trả sự độc lập và quyền dân tộc tự quyết cho các nước bảo hộ và thuộc địa. Kết quả từ năm 1946 đến 1949 có 12 quốc gia thuộc địa đã được trao trả nền độc lập gồm Philippine, Syria, Liban, Ấn Độ, Pakistan (gồm luôn Bangladesh), Miến Điện, Tích Lan, Palestine, Việt Nam, Lào, Cambodia và Indonesia.

Tuy nhiên đảng cộng sản Việt Nam đã vì lợi ích của đảng, tham vọng quyền lực của giới lãnh đạo đảng, bởi mưu đồ bành trướng ý thức hệ cộng sản của Lienxo và mưu toan bảo vệ biên giới phía nam của Trung cộng, nên quyết liệt chống lại giải pháp chính quyền quốc gia Bảo Đại, tiến hành đảng tranh, sát hại hầu hết mọi người yêu nước ngoài đảng và tuyên truyền, gạt gẫm, dụ dỗ, lôi kéo, cưỡng bức toàn dân Việt Nam rơi vào cuộc chiến tranh 9 năm không cần có và tất nhiên sẽ không cần luôn hào quang phù phiếm Điện biên Phủ, khi cộng sản Việt Nam dâng máu người Việt cho tướng lãnh Trung cộng thực binh, đưa đến sự chia đôi đất nước bởi hiệp định Genève 1954 và việc phân chia quyền lực quốc cộng, với chính phủ VNCH ở miền nam tự do và nhà nước VNDCCH ở miền bắc cộng sản.

Nếu không vì tham vọng quyền lực cá nhân, không có dã tâm muốn độc quyền lãnh đạo, thì Hồ Chí Minh và các đồng đảng đã không phải quy phục, làm theo lệnh của đệ tam quốc tế cộng sản, mà biết dừng lại, không tiến hành cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai (1955 – 1975), đánh chiếm miền nam của chính phủ VNCH.

Đại Hàn và Việt Nam là hai quốc gia ở Á châu bị chia đôi đất nước từ sau thế chiến hai, cụ thể là trong năm 1953 và năm 1954. Không tính hai miền Bắc Hàn và Bắc Việt, do hai đảng cộng sản cai trị, hai miền Nam Hàn và Nam Việt khá giống nhau về xuất phát điểm, điều kiện nhân văn, địa dư thiên nhiên và môi trường chính trị quốc gia, nhưng VNCH có phần phát triển hơn hẳn, nếu chưa muốn nói là VNCH dưới thời Tổng thống Ngô đình Diệm đã tỏ ra giàu mạnh hơn Nam Hàn.

Năm 1960 GDP đầu người (Gross Domestic Product per Capita) của VNCH là 223USD, trong khi GDP đầu người của Nam Hàn là 155USD. GDP đầu người của Nhật Bản cao nhất Á châu là 479USD, trong khi Thailand chỉ 101USD, Trung cộng mới có 92USD và Bắc Việt là 73USD. Trong cùng thời điểm, so sánh tổng quát và trên bình diện châu lục Á châu, các chỉ tiêu đời sống (living standards) tính theo GDP đầu người của người dân miền nam Việt Nam, tăng trưởng tốt đẹp hơn so với dân các quốc gia lân bang, ngân hàng thế giới WB (World Bank) và quỹ tiền tệ quốc tế IMF (International Monetary Fund) đã xếp hạng người dân VNCH vào loại sung túc ở Á châu, đứng hàng thứ 5 trong tổng số 12 quốc gia Á châu so sánh tiêu biểu.

Cũng từ năm 1960 trở đi, người Việt Nam cộng sản tự tuyên xưng là với lòng yêu nước cao độ, đã mau chóng tái tục và hăm hở đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm chiếm miền nam, gọi là để thống nhất hai miền dưới màu cờ cộng sản, buộc chính phủ VNCH phải cắt giảm phần lớn ngân sách đầu tư, phát triển kinh tế, giáo dục, phúc lợi và gia tăng chi phí quốc phòng lên 61,6% tổng ngân sách quốc gia để đối phó. Người Đại Hàn cộng sản, tức Bắc Hàn do ít lòng yêu nước hơn và chưa cần thống nhất trả bằng máu con dân vội vàng, không dám mơ tưởng tới cuộc chiến tranh giải phóng, nhờ đó chính phủ Nam Hàn đã giành phần lớn ngân sách để đầu tư phát triển quốc gia, chăm chỉ xây dựng kinh tế, chỉ cần có 24,9% tổng ngân sách quốc gia làm chi phí quốc phòng để phòng bị. 

Kết quả cuộc chiến tranh phá hoại do Hà Nội tiến hành, đã hủy diệt miền nam Việt Nam thành công và làm thay đổi cục diện hai nước VNCH và Đại Hàn, theo một tỷ lệ nghịch tuyệt đối.

Tháng 4/1975 VNCH bị cộng sản thôn tính, sáp nhập vào miền bắc Việt Nam, như một hình thức tự thuộc địa kiểu mới (auto colonialism) và chịu chung hoàn cảnh nghèo nàn, lạc hậu như mọi con dân của các chế độ cộng sản.

Đầu thập niên 90, Đại Hàn vươn lên mạnh mẽ về kinh tế, trở thành một trong bốn con rồng kinh tế châu Á, với nền kinh tế lớn thứ 3 châu Á, thứ 13 trên thế giới, có GDP đầu người là 31.750USD. Tính tới năm 2015, có khoảng 90.000 công dân Nam Hàn sống và làm việc tại Việt Nam, đồng thời cũng có khoảng 90.000 công dân CHXHCNVN sống và làm việc ở Nam Hàn. Hầu hết người Hàn ở Việt Nam đều làm ông chủ, người quản lý, tệ lắm cũng làm cai và đốc công, trong khi người Việt Nam ở Đại Hàn chỉ chủ yếu làm công nhân (culi), ở đợ (ô sin) và làm vợ cho các kẻ tàn tật, khùng điên, hay nhược trí (nô lệ tình dục). Các quảng cáo môi giới hôn nhân tại Đại Hàn đều nhấn mạnh mọi đàn ông xứ củ sâm, từ ông già, người tái hôn, kẻ có con, người khuyết tật… đều có thể lấy trinh nữ Việt Nam. Sỉ nhục hơn, chỉ cần sống thử 6 tháng, nếu không thích hợp sẽ được quyền đổi lấy người con gái Việt Nam khác???.

Sự dốt nát và hèn hạ của những người cộng sản Việt Nam so với các lãnh đạo Cao Ly (cộng sản, hoặc không cộng sản) hiện nay không phải là những lầm lẫn nhất thời, mà đã là cả một quá trình cung cúc thần phục Nga, Tàu, để chiếm đoạt quyền lực và quyền lợi cho cá nhân cũng như cho phe đảng.

Cuộc gặp thượng đỉnh 27/4/2018, Kim Jong-un đã cam kết hai miền nam bắc Cao Ly sẽ không bao giờ lập lại sai lầm đáng tiếc của lịch sử (ngụ ý nói về cuộc chiến tranh Đại Hàn 1950 – 1953 và thỏa hiệp ngừng bắn, phân chia hai miền tháng 7/1953), cũng như Bình Nhưỡng luôn cho rằng loại bỏ quần đảo Dokdo ra khỏi bản đồ bán đảo Cao Ly sẽ làm tổn thương cho người dân sống trên bán đảo.

Trong khi đó miền bắc Việt Nam lại tự xác định đóng vai trò tiền đồn cho phe chủ nghĩa xã hội ở vùng Đông nam Á, dù đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng huy động con dân Việt Nam đánh Mỹ, không vì tương lai của dân Việt Nam, mà đánh cho Lienxo và Trung cộng, với quyết tâm quyết tử đến người Việt Nam cuối cùng.

Tháng 1/1974 quân Trung cộng đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, sau một trận đánh cô đơn, không cân sức của VNCH và sự câm lặng của Hà Nội. Lập trường không nói ra của cộng sản Bắc Việt là ngầm ủng hộ Trung cộng đánh chiếm Hoàng Sa. Không những Hà Nội gạt phắt đề nghị của Sài Gòn tạm dẹp qua một bên các tranh chấp hậu hiệp định Paris, chính phủ VNDCCH và VNCH nên hợp tác hai bên ra thông cáo lên án hành động xâm lược của Trung cộng, thì Lê Đức Thọ đã phản ứng theo lập luận đang chiến tranh, rất cần sự ủng hộ của Trung cộng, sao lại phối hợp với địch để quay sang chống bạn, Hoàng Sa có ở trong tay của Trung cộng thì vẫn tốt hơn là trong tay bọn ngụy quyền !!!. Hoàng Tùng (Trần Thọ), phó trưởng ban tuyên huấn trung ương, tổng biên tập báo Nhân Dân thì cho rằng vì ta bận đánh Mỹ, không có thời gian và không đủ khả năng để giải phóng Hoàng Sa nên nhờ bạn giải phóng, sau này thống nhất đất nước rồi thì bạn sẽ trả lại cho mình(?).

Một chế độ độc tài phi nhân chẳng khác chế độ cộng sản Hà Nội, một lãnh đạo non choẹt từng bị chế giễu là "little rocket man" man rợ như Kim Jong-un, cuối cùng vẫn xuất hiện trên chính trường quốc tế như một chính khách tự tin, chững chạc và cái tâm cao hơn những lãnh tụ Việt Nam cộng sản hàng vạn lần. Kim biết tự lực xây dựng quân đội, phát triển vũ khí nguyên tử để các nước lớn không thể bắt nạt, nhưng vẫn còn đủ lương tri để không quyết thống nhất đất nước đến cùng bằng máu xương người dân và hôm nay mạnh dạn ghi vào sổ lưu niệm tại nhà hòa bình của miền nam quyết định "một câu chuyện mới bắt đầu, sự khởi đầu của một kỷ nguyên vì hòa bình".

Trong một sớm một chiều, tất nhiên tương lai của bán đảo Cao Ly xoay chuyển thực hư thế nào cũng không thể minh định được ngay, nhanh chóng và chắc chắn – kể luôn cả sự hoài nghi về tính lật lọng, tráo trở của người cộng sản – tất cả vẫn đang còn là các bước đi gai góc và cần nhiều thời gian, thiện chí của hai phía liên quan, nhưng rõ ràng cả thế giới đều có thể thấy được nguyện vọng giảm thiểu tối đa nguy cơ chiến tranh của lãnh đạo hai miền. Tuyên bố chung Kim Jong un và Moon Jae In mạnh mẽ cam kết vận mệnh Cao Ly sẽ được chính hai miền quyết định và trước mắt từ nay hai miền sẽ chấm dứt mọi hành vi thù địch. Khi chính quyền có được tự chủ về quyền lực và người dân không hề bị khích động, gieo mầm chia rẽ, thì tương lai một Cao Ly thống nhất trong hòa bình và hùng mạnh trong cộng đồng thế giới có lẽ cũng không xa.

5/2018.



________________________________

Chú thích:

- Ronald H. Spector, Việt Nam War 1954 – 1975, Encyclopedia Britannica.

- Ray Smith, Casualties US vs NVA/VC, 1996, 1998 and 2000, The History Channel (Including NVA casualty data was provided by North Việt Nam in a press release to Agence France Press (AFP) o­n April 3, 1995, o­n the 20th anniversary of the end Việt Nam War).

- Nguyễn hoàng Dân, Sơ khảo án tù tập trung cải tạo Việt Nam 1975 – 1992, 2017.

- Nguyễn hoàng Dân, Đã có một Việt Nam như thế : Việt Nam Cộng hòa 1955 – 1975, 2015.

- Các bản tin thời sự VOA, RFA, RFI ngày 27, 28/4/2018. 


Cái bắt tay lịch sử... trông người mà ngẫm lại ta!

Le Nguyen (Danlambao) -  Cái bắt tay lịch sử của lãnh đạo Nam-Bắc Triều Tiên ở đường biên giới Bàn Môn Điếm, Keasong trước khi bước vào hội nghị thượng đỉnh liên Triều đã mở ra trang sử mới cho dân tộc triều Tiên, chấm dứt thời kỳ đối đầu và thù địch giữa những người cùng ngôn ngữ, cùng văn hóa, cùng chia sẻ lịch sử nhục vinh của dân tộc. Trong thời điểm lịch sử của Triều Tiên, qua phương tiện truyền thông, cộng đồng nhân loại đuợc nhìn thấy lãnh tụ bắc Triều Tiên Kim Jong Un đã viết những dòng tâm trạng vào sổ lưu niệm tại nhà hòa bình, có những dòng chữ đọc được như sau: “Một trang sử mới đang bắt đầu, ngay bây giờ tại điểm khởi đầu của lịch sử và kỷ nguyên hòa bình.” 

Sau cuộc họp thượng đỉnh liên Triều, lãnh đạo hai bên Nam-Bắc đã công bố Tuyên bố Bàn Môn Điếm về hòa bình, thịnh vượng và thống nhất bán đảo Triều Tiên, có lời mở đầu phản ảnh trung thực khát vọng của nhân dân Triều Tiên: 

“Trong thời kỳ biến chuyển lịch sử trên bán đảo Triều Tiên, phản ánh khát vọng lâu dài của dân tộc Triều Tiên về hòa bình, thịnh vượng và thống nhất, Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae In và Chủ tịch Ủy ban Nhà nước của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Kim Jong Un tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh liên Triều tại nhà hòa bình ở Bàn Môn Điếm ngày 27/4/2018. 

Hai nhà lãnh đạo long trọng tuyên bố trước 80 triệu người dân hai miền Triều Tiên và nhân dân toàn thế giới rằng sẽ không có thêm bất kỳ cuộc chiến tranh nào trên bán đảo Triều Tiên, và do đó, một kỷ nguyên hòa bình mới đã bắt đầu. 

Hai nhà lãnh đạo, chia sẻ cam kết vững chắc mang tới kết thúc nhanh chóng sự đối đầu và chia cắt lâu dài, một di sản của chiến tranh lạnh, để mạnh dạn tiến tới kỷ nguyên mới của sự hòa giải dân tộc, hòa bình và thịnh vượng, để cải thiện và nuôi dưỡng quan hệ liên Triều theo phương cách chủ động hơn...” 

Mặc dù cơ hội hòa bình, phi nguyên tử hóa bán đảo Triều Tiên đã diễn ra nhưng vẫn có không ít người dân Nam Hàn, thế giới và người dân Việt Nam nghi ngờ thiện chí hòa bình, thống nhất của Lãnh tụ Kim Jung Un. Thế cho nên, bên lề hội nghị thượng đỉnh ở Bàn Môn Điếm, người dân Nam Triều tiên đã xuống đường biểu tình phản đối hội nghị thượng đỉnh liên Triều. Họ chống đối hội nghị vì trước đó không lâu Kim Jong Un, qua cơ quan truyền thông nhà nước triều Tiên đã có những tuyên bố hung hăng chống Mỹ, đấu khẩu với tổng thống Mỹ và bất chấp quan ngại quốc tế, cảnh cáo của cộng đồng quốc tế ngang nhiên nhiều lần dồn dập thử nghiệm vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm xa... 

Người dân Nam Triều Tiên nghi ngờ thiện chí Kim Jong Un vì ngoài việc thử vũ khí hạt nhân bất chấp cảnh cáo của thế giới, là trong thời gian nắm quyền bắc Triều Tiên, Kim Jong Un đã ra tay thanh trừng nội bộ để củng cố quyền lực lãnh đạo rất tàn bạo. Việc thanh trừng không nhân nhượng với bất cứ ai kể cả với người thân, người có liên hệ huyết thống với mình và việc thanh trừng tàn độc của Kim Jong Un như bỏ kẻ thù chính trị vào chuồng cho chó xé xác và dùng đại bác bắn cho tan xác (?)...như truyền thông Nam Triều Tiên đưa tin. 

Những nhân vật có thế lực nắm giữ quyền lực trong đảng Lao Động Triều Tiên, nhà nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân triều Tiên bị Kim Jong Un thanh toán gồm có những nhân vật quyền lực nổi bật trong đảng, nhà nước Triều tiên gồm có: 

- Ông Jang Song-thaek, người dượng quyền lực và thân cận một thời của nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un, đã bị hành quyết về tội phản đảng, phản cách mạng và có âm mưu đảo chính. 

- Ông Choe Pu-il, người đứng đầu bộ an ninh và từng là huấn luyện viên bóng rổ của Kim Jong-un khi còn bé, bị giáng cấp và biến mất bí ẩn. 

- Bộ trưởng Quốc phòng Hyon Yong Chol bị xử tử về tội ngủ gục trong một cuộc họp và tội dèm pha, nói xấu lãnh đạo (?) 

- Ông Choe Ryong Hae, đặc sứ của ông Kim Jong Un về Trung Quốc và Nga bị xử tử (?) 

- Ông Jon Yong-jin đại sứ Triều Tiên ở Cuba bị xử tử. 

- Ông Jang Yong-chol đại sứ Triều Tiên ở Malaysia bị xử tử. 

Ngoài những nhân vật nổi tiếng vừa nêu thì còn nhiều nhân vật ít tên tuổi hơn bị thanh toán không gây ra sự chú ý của quốc tế. Tính từ lúc lên cầm quyền thu tóm quyền lực, nắm giữ quyền lực đảng nhà nước, lãnh đạo Kim Jong Un của Bắc Triều Tiên đã hành quyết khoảng 70 quan chức nắm giữ quyền lực quân đội, an ninh, mật vụ trong bộ máy đảng, nhà nước CS Triều Tiên cùng với một số không nhỏ tay chân của họ. Tất cả quan chức các cấp bị thanh trừng là một số đàn em thân cận với người cha Kim Jong Il của Kim Jong Un. 

Bên cạnh việc thanh trừng trong nội bộ đảng, nhà nước Triều Tiên, là các sự việc gây chết người tạo nghi ngờ có liên quan đến mạng lưới tình báo của Kim Jong Un chủ mưu như: 

- Cái chết của ông Kim Yang Gon, 73 tuổi. Ông này chết trong một tai nạn giao thông, Gon là một giới chức cao cấp của đảng đặc trách về bang giao Nam Bắc Triều Tiên. 

- Cái chết của Công dân Mỹ Otto Warmbier 22 tuổi bị chết sau khi trở về từ nhà tù bắc Triều Tiên trong tình trạng hôn mê và trút hơi thở cuối cùng ở bệnh viện Cincinnat. 

- Cái chết vì độc chất hóa học của Kim Jung Nam anh trai cùng cha khác mẹ của Kim Jung Un ở phi trường Kuala Lumpur, Malaysia. 

Về ba trường hợp gây chết người nêu trên, chúng ta thấy chưa đủ yếu tố khoa học để kết luận những cái chết đó có liên quan đến lãnh tụ Kim Jong Un nhưng có liên quan đến tình báo bắc Triều Tiên là rất có khả năng xảy ra. Ba cái chết đình đám được truyền thông loan tin khiến dư luận thế giới đều ngầm quy trách nhiệm cho Kim Jong Un và ai cũng có suy nghĩ Un là thủ phạm! 

Qua đó không khó cho chúng ta thấy mục đích của thông tin là hướng đến việc bao vây cô lập Bắc Triều Tiên với thế giới bên ngoài và đẩy Bắc Triều Tiên nằm trong vòng tay bảo hộ, che chở của Nga-Tàu (?) 

Về việc truyền thông loan tin Kim Jong Un thanh trừng nội bộ bằng các hình thức man rợ khiến cho thế giới không có thiện cảm với nhà lãnh đạo này có bao nhiêu phần trăm là thật (?) 

Để có cái nhìn khách quan và tương đối chính xác, chúng ta cần nhìn lại quá trình lâu dài từ thời Kim Nhật Thành (Kim Il-sung), Kim Chính Nhật (Kim Jong Il) thực hiện giấc mơ hòa bình, thống nhất và phi nguyên tử hóa bán đảo Triều Tiên đã diễn ra như sau: 

1- Ngày 12/06/1994 cựu tổng thống Jimmy Carter bay từ Mỹ sang Seoul, ngồi ô tô vượt qua ranh giới quân sự Hàn Quốc – Triều Tiên sang Bình Nhưỡng. Ngày 16/06/1994, ông Jimmy Carter có cuộc gặp gỡ, hội đàm với nhà lãnh đạo Kim Nhật Thành bàn về hoà bình, thống nhất và phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên. 

Cuộc đàm phán hòa bình đang diễn tiến tốt đẹp thì Kim Nhật Thành qua đời đột ngột vì trụy tim ở Bình Nhưỡng vào ngày 8 tháng 7 năm 1994 (theo tài liệu của Triều Tiên chưa có một kết luận liên quan tới bệnh tim trong hồ sơ bệnh lý của Kim Nhật Thành?) 

2- Năm 2007 tổng thống Nam Hàn, ông Roh Moo-hyun đặt chân tới Bình Nhưỡng, lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-il lúc bấy giờ đã trải thảm đỏ đón họ, cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Cuộc gặp này đạt được nhiều kết quả nhất định nhưng chúng lại không thể đóng góp đáng kể cho nỗ lực chấm dứt xung đột trên bán đảo Triều Tiên. 

Cuộc gặp giữa Tổng thống Roh Moo-hyun với nhà lãnh đạo Kim Jong-il năm 2007 đã ký một thỏa thuận hòa bình 8 điểm. Tuy nhiên, nhiều công việc của ông Roh Moo-hyun đã không được hoàn thành vì sau đó Nam Triều Tiên có Tổng thống mới là Lee Myung-bak lên nắm quyền và lãnh đạo Kim Jong Il bị đột quỵ (Trong hồ sơ bệnh lý của Kim Jong Il cũng không thấy có liên quan đến bệnh tim mạch?) 

3- Hội nghị thượng đỉnh bàn về hòa bình, thống nhất lần này, Tổng thống Nam Hàn Moon Jae-in và lãnh đạo Kim Jong Un đã có sẵn những “bài học quá khứ” để tránh đi vào vết xe đổ của những người tiền nhiệm và đưa đàm phán liên Triều tới thành công nhờ vào các nỗ lực không ngừng nghỉ của các thế hệ lãnh đạo Nam- Bắc Triều Tiên: 

- Với Tổng thống Moon Jae-in, nhà cầm quyền Nam Triều Tiên đã hoạch định chính sách cân bằng giữa Bình Nhưỡng và Washington. 

Cụ thể để giữ chính quyền Mỹ, Tổng thống Donald Trump sát cánh cùng với các hành động của mình, Tổng thống Moon đã liên tiếp cử các cố vấn chủ chốt như ngoại trưởng, cố vấn an ninh quốc gia... tới Washington để làm việc với những người đồng cấp và giới chức cấp cao Mỹ. 

Tổng thống Moon hiểu rằng cách tiếp cận của Nam Triều Tiên với vấn đề Bắc Triều Tiên sẽ hiệu quả hơn nhiều, khi có được sự ủng hộ của Mỹ...Thế là chính quyền Nam Triều Tiên lên lịch hành động... 

- Với chủ tịch Kim Jong Un, người cầm lái con thuyền Bắc Triều Tiên đã nhìn thấy con đường hòa bình, thống nhất và phi nguyên tử bán đảo Triều Tiên nằm chỗ nào và rào cản nằm ở đâu. 

Muốn thực hiện giấc mơ hòa bình, thịnh vượng, thống nhất và phi nguyên tử bán đảo Triều Tiên của ông nội Kim Nhật Thành, của cha Kim Chính Nhất... cũng là giấc mơ, là khát vọng của dân tộc Triều Tiên, là phải hành động... và hành động cương quyết, lạnh lùng của Kim Jong Un đối với những tên tay sai Tàu cộng trong nội bộ đảng, nhà nước cộng sản Triều Tiên đã đạt được thành công nhất định. 

Nhờ vào thiện chí và nỗ lực không ngừng nghỉ của nhiều phía, trong đó có quyết tâm thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình của nhiều thế hệ lãnh đạo Nam-Bắc Triều Tiên nên nhân loại mới nhìn thấy được kết quả của cái bắt tay lịch sử giữa Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae In và Chủ tịch Ủy ban Nhà nước của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Kim Jong Un, bước vào hội nghị thượng đỉnh liên Triều mở ra cơ hội đàm phán, thảo luận về hòa bình, thống nhất, phi nguyên tử hóa bán đảo Triều Tiên... 

02.05.2018

danlambaovn.blogspot.com

nh đạo Triều Tiên ăn cơm CSVN ăn gỉ mà ngu si tàn ác đến thế?

‘Thống Nhất’ và nỗi đau ly tán của dân tộc

Tạp ghi Huy Phương

Cộng đồng người Việt ở hải ngoại vẫn trân trọng và coi mình thuộc về Việt Nam Cộng Hòa, không chấp nhận chế độ Cộng Sản tại Việt Nam. (Hình: Getty Images)

“… Các mảnh vỡ từ hai bên cố ráp vào vẫn rời ra, xộc lệch không tài nào ăn khớp.”
(Trăm Năm Ly Hợp- Lê Khắc Hoan)

***

Lưu Quý Kỳ, Vụ trưởng báo chí Ban Tuyên Huấn Trung Ương và tổng thư ký (TTK) Hội Nhà Báo Bắc Việt, năm 1954, đã cùng vợ ra đi tập kết, để lại miền Nam hai đứa con, một trai mới lên một tuổi và một gái mới lên ba, cho bà ngoại nuôi. Người con trai bị bỏ lại miền Nam khi mới một tuổi nay là Thiếu Úy Lưu Đình Triều thuộc Sư Đoàn 7BB, chờ đợi cái ngày hội ngộ với cha mẹ sau thời gian ly tán 30 năm, đã thấy rõ ràng mình vẫn là kẻ thù của cha mẹ và những đứa em sinh ra ở miền Bắc, khi chúng đã hát trước mặt anh câu “xô lên xác thù hung bạo!” Kẻ thù đó là đứa con bị bỏ lại 30 năm về trước, đang bị kết án là dắt lính hành quân đi bắt heo, bắt gà của dân!Cảnh sum họp của những người con có cha tập kết ra Bắc trở về Nam sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, tưởng chừng vui tươi cảm động đầy nước mắt trong một màn tái ngộ, đã trở thành một cảnh ngỡ ngàng xót xa.

Lưu Quý Kỳ, cũng giống như thân phụ nhà văn Phan Nhật Nam, hay biết bao nhiêu người cha đi tập kết trở về, rút cuộc chỉ có một câu động viên con đang ở trong nhà tù tập trung không có bản án: “Ráng học tập, lao động tốt cho mau về với gia đình!” (theo Bên Thắng Cuộc. T.1)

Trong thời gian chúng tôi đi tù ở huyện Tân Kỳ thì nhà ông anh rể tôi ở huyện Đức Thọ cùng trong một tỉnh, thư không có, mà thăm cũng không. Nghe gia đình ở Huế kể lại ông anh rể tôi viết thư lên án gia đình bên vợ là “đã gây nhiều tội ác” trong khi nhà chỉ có mình tôi bị động viên vào lính, còn lại là bốn người làm nghề dạy học.

Lê Khắc Nghi, chú họ người viết bài này, có vợ là một hoa khôi làng Văn Xá, “cưới nhau xong là đi!” Ở miền Nam đứa con trai duy nhất lớn lên, “được” VC xã dụ dỗ tham gia du kích vì có cha đi tập kết, trong một cuộc hành quân bị nghĩa quân miền Nam bắn chết. Ba mươi năm sau, ông chú trở về mang theo một bà vợ răng đen do đảng “cơ cấu” và mấy đứa con rặt Bắc, “cháu bác Hồ.” Ngày trùng phùng hóa ra là ngày khởi đầu cho một giai đoạn ngỡ ngàng cay đắng. Sum họp như thế thà chia lìa còn hơn! Họ không còn giống nhau từ sự hiểu biết, giọng nói, lối sống và tư tưởng. Vợ chồng mà đó, anh em ruột thịt mà đó, cha con mà đó, nhưng xa cách nghìn trùng, càng dùng ngôn ngữ để tiến lại gần nhau, càng thấy xa nhau.

Trong Đèn Cù, nhà văn Trần Đĩnh kể chuyện một ông cụ thổi kèn Tây trong ban nhạc của triều đình Huế thời Bảo Đại, tập kết ra Bắc, sau ngày “chiến thắng” chỉ còn độc một đôi dép râu, không có cả… bít tất. Ông cụ nói như lời trăng trối: “- Cảm ơn ông, đoàn với ai, tụ với ai? Vợ con chưa biết hiện ở đâu, đi theo nhà khác mất rồi có khi. Họ hàng thì chết trong Tết Mậu Thân… Tôi về đó vẫn lại trơ làm thằng tập kết đợt hai trơ trọi một mình… Ra đi để thống nhất đất nước, bây giờ ai thống nhất với thân già tôi?”

Trần Đĩnh cũng như triệu triệu người miền Bắc ngây ngô, mơ màng thằng dân trong này bị bóc lột tận xương tủy, không có nổi cái chén mà ăn cơm, trong hành lý vào Nam của Trần Đĩnh có năm bảy thứ cứu đói được mang vào, trong đó có cả một cái thùng nhựa đựng nước kẻo sợ trong Nam không có được cái miểng sành chăng? Người ngoài Bắc nô nức đi Nam xem chúng nó bị bóc lột đến cỡ nào, không ngờ “trong kia dân nó ối chà giàu ơi là giàu. Vàng chỉ năm chục đồng Cụ một cây. Tủ lạnh vài chục đồng một chiếc. Lạnh cứ là liên lu liền lù suốt năm. Bảo cho tay vào lâu là hóa ra đá!” hay “buồng nào cũng máy lạnh. Xin lỗi anh, tôi thấy sướng nhất là đi toa lét!”

Dân miền Nam quả là không đợi không chờ ai vào giải phóng. Câu chuyện của Minh Trường, nguyên phóng viên nhiếp ảnh Thông Tấn Xã Bắc Việt, kể lại cái hí hửng của kẻ “giải phóng” khi vào Sài Gòn đã bị một thau nước lạnh dội vào mặt. Bà mẹ ra mở cửa, thấy mặt anh thì vội vàng chấp tay lạy.

– “Anh còn sống thì tôi mừng nhưng anh về thì tất cả các đứa con bao lâu nay sống với tôi, chăm sóc phụng dưỡng tôi đều đã bị các anh lôi đi tù hết mất rồi. Anh về thì nhà này tan nát, thì tôi trơ trọi. Thôi, tôi xin anh, anh đi với đồng chí của anh đi cho mẹ con tôi yên!”

Lê Khắc Hoan, một ký giả, nhà văn cũng là nhà giáo “Bên Thắng Cuộc,” đã viết cuốn “Trăm Năm Ly Hợp” nói về chuyện đoàn tụ và ly cách của dòng họ Lê Khắc từ một ngôi làng nhỏ của miền Trung sỏi đá: Văn Xá, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Sau 30 năm tập kết, cán bộ Bắc Việt Lê Khắc Hoan trở về, hí hửng tưởng bà con dòng họ này ai cũng chờ đợi, hân hoan đón tiếp. Nhưng sự thật hoàn toàn khác những điều ông đã suy nghĩ! Ông về, vẫn mang theo loại chữ nghĩa nghịch với lỗ tai người miền Nam, có đoạn ca tụng “bác Hồ,” dùng chữ “ngụy quyền Sài Gòn,” kêu gọi bà con “về đầu tư, xây dựng đất nước,” ca tụng làng Văn Xá Anh Hùng chống Mỹ (!), thiết nghĩ không có sức thuyết phục để anh em trong dòng tộc ngồi lại với nhau, mà chỉ gây thêm chia rẽ.

Nhưng khi tác giả trở về Nam, một số thân tộc đã bỏ nước ra đi, một số phải chịu cảnh tù đày, một số khác thất vọng, cay đắng, trừ những người ít bị thương tổn, không ai muốn liên lạc hay hợp tác, nhận họ với phía “giải phóng.”

Ông tác giả này đã thú nhận gặp phải những sự lạnh lùng, ngỡ ngàng cay đắng, đã gửi đi hằng trăm e-mail, lời nhắn cho bà con, nhưng không hề được hồi âm, và ngay đối với người viết bài này, đứa em họ ở miền Nam, cũng ngần ngại không muốn cho tác giả biết địa chỉ, dù là địa chỉ e-mail. Điều này chứng tỏ, “miền Bắc nhận hàng” đã xong, nhưng miền Nam vẫn còn miễn cưỡng, chưa muốn “nhận họ.”

Cuối cùng, trong một sự thật cay đắng, người đi tập kết trở về đã phải thốt lên: “… Các mảnh vỡ từ hai bên cố ráp vào vẫn rời ra, xộc lệch không tài nào ăn khớp!”

Sau 30 năm, khi con tàu xuyên Việt có thể nhả khói, kéo những hồi còi, chạy suốt, nối Hà Nội-Huế với Sài Gòn, nhân gian, bao nhiêu dòng họ tưởng là đoàn tụ, nhưng đây là lúc chia cách lớn nhất, không còn là vì khoảng cách của sông núi, mà bởi lòng người ly tán, tưởng chừng, rồi đây cả trăm năm sau, cũng chưa thể hàn gắn được.

Để kết luận bài này tôi xin mượn lời của Lê Khắc Hoan, một nhà văn tập kết trở về sau ngày “thống nhất:” “Hai phần ba thế kỷ trong vòng xoáy đối đầu tàn khốc, rốt cuộc, không một người nào ở phía nào được hạnh phúc vẹn tròn. Cho dù công danh hiển đạt. Cho dù vợ đẹp con khôn. Cho dù tiếng tăm lừng lẫy, chính trực nhân từ, tài ba uyên bác cũng nổi chìm quăng quật trong cuộc chiến đa diện, đa phương…”

Chúng tôi nghĩ khác, hạnh phúc sẽ được vẹn toàn, nếu từ nửa thế kỷ trước, nếu đất nước này không bất hạnh có nhân vật Hồ Chí Minh, mang chủ nghĩa Cộng Sản từ Liên Xô về để đày đọa dân tộc Việt Nam trong bao nhiêu năm. Chắc chắn chúng ta sẽ có “hạnh phúc vẹn toàn,” đó là ngày chế độ Cộng Sản tàn lụi trên quê hương Việt Nam. (Huy Phương)


Phát biểu Ngày Quốc Hận 30.04.2018

Thưa Quý Vị và Các Bạn,

Được BCH/HNVTN/NU phân công phát biểu nhân Ngày Quốc Hận 30.04 năm nay, 43 năm sau ngày VC xé nát hiệp định hòa bình Paris 27.01 .1973, cưỡng chiếm Miền Nam, tôi phát biểu như một người lính chưa giải ngũ, thuộc Hội Ái Hữu Quân Cán Chính VNCH & Hậu Duệ.

Sau khi gọi là ‘’ thống nhất đất nước ‘’, đảng CSVN đã đưa dân tộc vào tình trạng không tự do, không dân chủ và không quyền làm người. Qua những gì xẩy ra, tôi chưa từng thấy một chế độ nào thối nát và hèn hạ như chế độ VC hiện nay với :
- Con người càng ngày càng vô đạo đức;
- Xã hội càng ngày càng băng hoại về mọi mặt;
- Hệ thống đảng viên quan chức từ trên xuống dưới tham nhũng, ăn cắp của công, ăn  

  cướp của dân;
- Lãnh đạo nô lệ cho Tàu Cọng,
- Công an và các bộ lộng quyền bách hại dân;
- Giáo dục thì giả dối, lịch sử thì bóp méo lừa bịp .

Thưa Quý Vị và Các Bạn,

Điều tôi muốn trình bày hôm nay là nạn Hán Hóa.Đọc các bản tin trên liên mạng xã hội tôi thấy:
-Du khách Tàu tự do đi vào VN không trả tiền với hướng dẫn viên Tàu, nói với du  
khách rằng bãi biển Đà Nẵng/Nha Trang thuộc Tàu.
-Nhà máy Formosa ở Nghệ An của người Tàu với công nhân Tàu gây ô nhiễm trầm 

 trọng  môi trường ven biển các tỉnh Miền Trung khiến ngư dân thất nghiệp phải tha

 hương kiếm sống;
-Khu công nghiệp Bình Dương của người Tàu với công nhân Tàu;
-Tại Tây Nguyên, người Tàu khai thác Bauxite với công nhân Tàu, gây ô nhiễm môi 
trường;
-Miền Tây vốn là vựa lúa của Miền Nam nay không còn nước canh tác ruộng vì Tàu xây 7

 đập trên thượng nguồn sông Mekong .
-Giám đốc học viện chính trị cho biết người TC cài cắm hàng trăm gián điệp vào các cơ

 quan công quyền VN.
-Tàu Cọng lấn chiếm biển Đông, xây dựng cơ sở quân sự trên cácnhóm đảo thuộc

 Hoàng Sa và Trường Sa;
-Tàu Cọng bắn giết hàng trăm ngư dân VN trên biển Đông;
-Tàu Cọng cấm cản VN khai thác dầu mõ thuộc vùng lãnh hải đặc quyền kinh tế VN.

 

Bây giờ tôi xin tìm hiểu ngắn gọn về nước Tàu.
-Kinh tế : Theo thống kê Ngân Hàng Thế Giới 2016, mức thu nhập quốc gia TC giàu thứ 3 trên thế giới sau Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu, nhưng chia cho 1.3 tỉ dân, thì lợi tức mỗi đầu người Tàu đứng hàng thứ 85. Theo ước tính, hiện tại có vào khoảng 600-900 triệu người Tàu thuộc hạng nghèo, trong số đó vào khoảng 300 triệu nghèo dưới mức thấp nhất, với vào khoảng 200 triệu vô gia cư. Hiện nay dưới sức ép chiến tranh thương mại của tổng thống Hoa Kỳ, cơ hội thất nghiệp của hàng triệu công nhân Tàu chỉ còn là thời gian.

-Nội trị:Tập Cận Bình đang tạo nên một sự bất mãn nội bộ Đảng. TC cưỡng chiếm lãnh thổ của Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng. TC di dân đến các quốc gia đó, đàn áp dã man các cuộc nổi dậy. Trong nước, giới trí thức bị áp bức, và băng đảng Mafia đầy rẫy. Cũng như ở VN, cảnh sát hợp tác với côn đồ đàn áp dân. Hàng năm có hàng ngàn địa phương xẩy ra sự nổi dậy của dân chúng nhưng bị bưng bít. Hàng chục triệu tín đồ Pháp Luân Công bị bách hại bỏ tù rồi giết lấy nội tạng thời Giang Trạch Dân, gây hậu quả sâu sắc.

Chính sách ngoại giao: ăn hiếp các quốc gia Đông Nam Á, tỏ ra nước lớn, muốn lấn áp

 các quốc gia Tây Phương với chính sách biển Đông.

 Tóm lại, nước Tàu Cọng đang là một nồi thuốc súng có thể bùng nổ bất cứ lúc nào.

Thưa Quý Vị và Các Bạn hiện diện hôm nay, Có người nói với tôi rằng nước Tàu nó mạnh như vậy, mình phải chịu thua cho rồi, mần răng đánh lại. 
Tuy nhiên nhìn vào lịch sử Việt Nam, tôi ghi nhận tinh thần bất khuất kiên cường chống giặc Tàu của dân tộc VN qua nhiều thế kỷ.

Người Tàu luôn luôn ỷ thế nước lớn đông dân, luôn tấn công đô hộ dân tộc VN. Suốt từ năm 218 trước Công Nguyên cho đến thời Pháp đô hộ VN kể từ 1858, người VN từng nổi dậy đánh đuổi quân xâm lăng Tàu tất cả 13 lần, trong đó nổi bật nhất là cuộc nổi dậy củahai Bà Trưng năm 40-42, của bà Triệu Tử Nương vào năm 248. Tiếp đến phải kể đến trậnBạch Đằng Giang tức vịnh Hạ Long bây giờNgô Quyền đại thắng quân Tàu trong trận hải chiến năm 938Danh tướng Lý Thường Kiệt đánh đuổi quân Tàu sang tận Quảng Tây năm 1075. Từ 1258-1288 Trần Hưng Đạo đại vương đã 3 lần đánh đuổi quân Tàu vốn gốc người Mông Cổ, và một nửa  Âu châu từng cúi mình trước vó ngựa của Thành Cát Tư Hãn. Nông dân Lê Lợi dùng 10 năm đánh đuổi quân Tàu vào 1418-1427Quang Trung Nguyễn Huệ đánh thắng đại quân Tàu năm 1789. 

Thưa Quý Vị và Các Bạn,
Nhắc qua hành động của đảng VC trong thời kỳ chiến tranh huynh đệ tương tàn 1954-1975 giữa CS Miền Bắc với chính quyền Tự Do Miền Nam:
- Thủ tướng VC Phạm văn Đồng làm văn thư công nhận Trung Cọng lấn biển Đông của

  VN năm 1958;
- VC vỗ tay reo hò khi hải quân Trung Cọng đánh chiếm một số đảo Hoàng Sa năm 1974 

  lúc đó thuộc VNCH;
- Năm 1979, Trung Cọng mang nửa triệu quân tràn qua biên giới phía Bắc đánh VC, tàn

  sát mấy chục ngàn bộ đội và dân sự, mà những năm trở về sau nhà nước VC không

  cho phép thân nhân thắp hương tưởng niệm.
- Năm 1988, TC đánh chiếm đảo Gạc Ma trong dãy Trường Sa mà bộ trưởng quốc phòng

  VC không cho lệnh binh sĩ nổ súng kháng cự, khiến trên 60 bộ đội biên phòng bị bắn

  chết trong tức tưởi;
- Tàu bắt đầu dùng tiền Nhân Dân Tệ tại VN;
- Ở Nghệ An, Đà nẵng, Bình Dương v.v… người Tàu có khu phố riêng, người VN không

  được phép bén mãng tới.
- VC dự tính chương trình cải cách viết chữ Việt đọc theo cách Tàu .

KẾT LUẬN:
Dân tộc VN trong suốt trên 4.000 năm dựng nước, bị giặc truyền kiếp phương Bắc đô hộ trên 1.000 năm, rồi tiếp đó mà những  khoảng thời gian giữ nước và phát triển, VN vẫn bị người Tàu lăm le đô hộ, nhưng dân tộc đã cùng nhau đứng lên chống lại giặc ngoại xâm, giành tự chủ cho quốc gia, không để bị đồng hóa. Tiền nhân làm được như thế nhờ 2 yếu tố, ấy là truyền thống đoàn kết quân dân cá nước với tấm lòng gìn giữ văn tự và văn hóa VN. Ngoài ra chúng ta còn yếu tố thuận lợi thứ ba hơn tiền nhân ấy là sự hiện diện của Liên Hiệp Quốc.

Hiện tại dân tộc VN đang trên con đường bị Hán Hóa, nhưng truyền thống đại đoàn kết không còn nữa, vì đảng CSVN tách rời khỏi đại khối dân tộc, chạy theo Tàu làm nô lệ để giữ Đảng, vì lợi ích phe đảng và gia đình, cho nên công cuộc chống lại sự xâm lăng của người Tàu chỉ còn trông cậy vào sức mạnh toàn dân ngoài hệ thống cầm quyền.

Thưa Quý Vị, thưa Quý Bạn Trẻ,

Chúng ta dù có giấy thông hành là người Nauy, nhưng chúng ta không thể phủ nhận gốc gác mình là Người VN. Xin đừng quên rằng giòng giống Việt đang dần dần cùng chung số phận vớI các dân tộc Mông Cổ, Tân Cương, Tây Tạng đang bị người Tàu đô hộ.
Ngày xưa, cha ông chúng ta từng đứng lên chống các cuộc xâm lăng của người Tàu, thì nay, với quyết tâm, tôi khẳng định rằng dân tộc VN cũng có thể làm được, nhưng mà có nhiều khó khăn hơn, ấy là phải cùng lúc chống lại đảng VC xem đồng bào là nô lệ, đồng thời đánh đuổi kẻ thù là TC đang cướp dần đất nước VN.

Hiện nay, tại quốc nội cũng như hải ngoại đang có một số Tổ Chức người VN đang âm thầm tìm phương cách lật đổ đảng VC và đánh đuổi người Tàu. Tôi kêu gọi sự đóng góp của Quý Vị và Các Bạn tùy theo sự suy nghĩ và khả năng của mình. 

Xin thưa, không ai đành lòng làm ngơ khi tổ quốc và dân tộc đang lâm nguy.

Kính chào Quý Vị và Các Bạn.

Tôn-thất Sơn

Nhìn lại hành trình 30 tháng Tư

Người Đà Lạt Xưa (Danlambao) - Sau 43 năm thống nhất hai miền Nam Bắc, ngày 30/4 vẫn được Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam coi như một lễ hội ăn mừng đối với “phe Thắng Cuộc”; và ngược lại, nó được gọi là ngày Quốc Hận tang thương với “phe Thua Cuộc”. Hôm nay, tôi ngồi đây, hai bàn tay vẫn trắng, nhìn lại hành trình 43 năm với một dòng tâm tư nước mắt.

Tôi mở đầu cuộc hành trình này bằng một hồi tưởng lại hình ảnh chiếc trực thăng UH1 mà Thiếu úy Lê Văn Chiếu, thuộc Không đoàn chiến thuật 84 Cần Thơ, đã đáp xuống hàng không mẫu hạm USS Midway, thuộc Hạm đội 7 Hoa Kỳ, vào ngày 30 tháng 4, 1975. Chiếc UH1 đã mang 23 người không chấp nhận đầu hàng đến bến bờ tự do. Tôi nhìn chiếc trực thăng của người Mỹ đã bị xô xuống biển để nhường chỗ cho những gì sẽ đến kế tiếp. Và tôi nhìn những chiếc xe tăng T-54 và họng súng AK47, những sản phẩm của Trung Quốc của Liên Xô, đạp sập cổng Dinh Độc Lập và đạp sập một nền dân chủ mong manh của đất nước tôi. Ngày đó, đất nước tôi đã được thống nhất, nhưng cũng từ ngày đó, dân tộc tôi phải rơi vào một ngục tù tối tăm vĩ đại của thế kỷ.

Trên vùng đất thánh này, nơi bác tôi, cậu tôi và cha tôi đã từng chiến đấu để giữ gìn từng tấc đất ngọn rau, tôi đã thấy những trại tập trung vĩ đại được dựng lên để giam cầm hàng trăm ngàn sĩ quan công chức chế độ cũ. Trên vùng biển sâu bao bọc quê hương tôi, lòng biển đã trở thành nghĩa trang cho hàng triệu người bỏ nước ra đi để tìm lấy tự do nhân bản. Số người chết đuối hay chết vì đói khát trên biển không có thống kê, số đàn bà con gái, là đồng bào của tôi, đã bị cưỡng hiếp giết chết trên biển cũng không có thống kê. Hôm nay, tôi ngồi đây, hai bàn tay vẫn trắng, tôi thấy con đường để đòi lại công lý cho những đồng bào đã hy sinh trên biển khơi vẫn chưa đòi lại được.

Trên vùng đất thánh này, nơi Mẹ tôi đã từng dạy tôi hiểu thế nào là lòng ái quốc, là một điều rất to tát, rất thiêng liêng, vùng đất này đã liên tiếp bị cai quản bởi những tập đoàn của chế độ Cộng Sản độc tài toàn trị, khi thì ôm chân Nga nay thì bợ đít Tàu; và rồi nhà tù lại càng thêm mở rộng để giam cầm hàng trăm hàng nghìn những người yêu nước. Tại sao đất nước tôi đã thống nhất rồi mà lại không có được nền độc lập tự chủ? Đất nước này đã có quá nhiều trại tù cho các cô gái như Lê Thu Hà và Nguyễn Đặng Minh Mẫn, những anh thư như Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và Trần thị Nga và biết bao nhiêu người nữa - những người đã lên tiếng nói bảo vệ chủ quyền biển đảo, nhân quyền và công lý cho Việt Nam. 

Và rồi, trên vùng biển Đông, tôi đã thấy hải quân Việt Nam bị bắn giết, đảo đá bị cướp đoạt, tài nguyên bị cướp đoạt, cáp biển bị cắt đứt, ngư dân bị đánh đập và ngư thuyền bị đánh chìm bởi lũ giặc ngoại xâm. Hậu quả của Hiệp ước Thành Đô ký kết để nhượng bộ chủ quyền của Việt Nam cho thế lực bành trướng đế quốc của Trung Quốc mỗi lúc mỗi nặng nề, mỗi lúc một gần kề. Hôm nay, tôi ngồi đây, hai bàn tay vẫn trắng, nhìn thấy con đường để đưa kẻ xâm lược ra Tòa án Trọng Tài Quốc tế vẫn không nghe thấy lãnh đạo nào nhắc đến và những nhà tù trên đất nước tôi đã chật kín những tù nhân lương tâm.

Trên vùng đất thánh này, nơi thầy cô đã từng dạy cho tôi "tiên học lễ, hậu học văn", vùng đất này đã trở thành một nơi mà cô giáo phải bị phạt quỳ, nơi mà học trò bị phạt uống nước dơ từ nùi giẻ lau bảng. Đất nước của tôi bây giờ có quá nhiều giáo viên phải bỏ tiền đút lót để hiệu trưởng chạy chỗ cho dạy học kiếm tiền; có quá nhiều Tiến sĩ mà đại học của Việt Nam lại không có một chỗ đứng nào cả trong danh sách 350 đại học tốt nhất Á châu của "THE World University Rankings 2018". 

Và rồi, tôi đã thấy những công tử con quan cậy thế cường hào để cưởng hiếp con gái người ta, quay phim đưa lên mạng, dày dò nhân phẩm của người khác mà vẫn có được tự do bay nhảy tiếp tục ăn chơi; ngược lại em Trần Hoàng Phúc vì đòi hỏi nhân quyền, là quyền nhân phẩm căn bản nhất cho dân tộc của em, thì lại bị đi tù. Tôi còn thấy nhà cầm quyền cưỡng chế ruộng đất của dân để bán lại cho nhà đầu tư xây cất chia lời bỏ túi và công an đã làm ngơ không lo bắt cướp mà lại đi bắt dân oan. Hôm nay, tôi ngồi đây, hai bàn tay vẫn trắng, tôi thấy những căn nhà khủng của các quan đã mọc lên nhiều hơn trường học và những công trình ô nhiễm môi trường nhiều hơn cả nhà thương.

Trên vùng đất thánh này, nơi mà anh em tôi đã từng "sắp sẵn" trong kỷ luật của người Hướng Đạo Việt Nam mỗi ngày Chúa Nhật, vùng đất này đã biến thành một nơi mà chế độ luôn tìm cách gây khó khăn cho những vị lãnh đạo tôn giáo đang xả thân cứu thế; nơi mà công an đã tìm đủ mọi cách bắt bớ làm khó dễ những thiện nguyện viên đang dấn thân hy sinh cho những công tác thiện nguyện như các chương trình tri ân thương phế binh VNCH hoặc tin mừng cho người nghèo. Đất nước của tôi bây giờ có các nhà cầm quyền với quá nhiều ích kỷ, đánh rơi những tình tự dân tộc, thủ lợi cho riêng bản thân mình mà quên đi nghĩa lớn.

Năm 1945, Nhật hoàng Hirohito đã tuyên bố đầu hàng quân đội đồng minh sau khi Hoa Kỳ đánh hai quả bom nguyên tử lên Hiroshima và Nagasaki tàn phá toàn bộ kỹ nghệ Nhật Bản. Người Nhật không có chiến thắng để ca ngợi. Họ đã đầu hàng đó. Nhưng sau đó chưa đầy bốn thập niên, Nhật Bản đã trở thành cường quốc kinh tế đứng hàng thứ hai trên thế giới. Đó là hoàn toàn nhờ vào sự thành tín, trong sạch và quyết tâm của chính phủ Nhật, lòng yêu nước và tự trọng của dân tộc Nhật, tư tưởng cao thượng của trí thức Nhật và nhờ vào lòng nhân bản của người Mỹ biết tôn trọng nhân cách của người Nhật Bản. Ngược lại, ở Việt Nam, Đảng và Nhà Nước Cộng Sản đã cổ súy ăn mừng chiến thắng, ăn mừng suốt 43 năm qua, để rồi đất nước này đã đi về đâu?

Năm 1953, khi Nam Bắc Triều tiên đình chiến với hòa ước phân chia đất nước, quân đội Bắc Triều tiên đã không tổ chức tấn công quân sự vào miền Nam. Vì thế, ngày nay ở bán đảo Triều tiên đã có được một thiên đàng kinh tế (mà các lãnh đạo Cộng Sản đã hứa hẹn cuội với người dân Bắc Hàn) đã được phát triển vững mạnh tại miền Nam của một Nam Hàn tự do "không có Cộng Sản". Rồi ra, Nam và Bắc Hàn sẽ có triển vọng đi đến thống nhất trong tương lai, không có phe thua và phe thắng cuộc, và họ sẽ tránh được vấn nạn "phe nào thắng thì nhân dân đều bại".

Qua một hành trình 43 năm, trên vùng đất thánh này, nơi đã chôn vùi tất cả những người quá cố mà mẹ tôi thương, mà cha tôi trọng, tôi đã thấy những lãnh đạo Cộng Sản vẫn chưa thức tỉnh và những hòa hợp hòa giải vẫn chưa trở thành hiện thực. Dân tộc tôi vẫn bị nhốt giữ vào một ngục tù tối tăm vĩ đại của thế kỷ. Công lý cho những đồng bào đã hy sinh trên biển khơi vẫn chưa đòi lại được. Những nhà tù trên đất nước tôi chật kín những tù nhân lương tâm. Những căn nhà khủng của các quan đã mọc lên nhiều hơn trường học và những công trình ô nhiễm môi trường nhiều hơn cả nhà thương. Đất nước tôi ơi! Sao có những kẻ cầm quyền ích kỷ để đánh rơi những tình tự dân tộc, thủ lợi cho riêng bản thân mình mà quên đi nghĩa lớn.

Hôm nay, tôi sẽ tạm dừng chân giây phút trên mốc hành trình 43 năm dài, ngoảnh nhìn lại Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam quê hương tôi; và xin gởi đến các bạn bài viết này để bàn tay không còn trống rỗng nữa. Nếu các bạn muốn hôm nay tôi nghỉ lễ để ăn mừng ngày 30 tháng 4, thì với những chứng cớ lịch sử kinh hoàng như vậy, tôi sẽ không ăn mừng nổi rồi. Ngày 30 tháng 4, đối với tôi, vẫn mãi là một ngày tang thương tận cùng của dân tộc Việt. 

Mẹ tôi đã mất, nhưng tôi hứa với Mẹ là tôi sẽ tiếp tục làm chứng nhân trên con đường này cho đến một ngày nào, trên vùng đất thánh này, chủ quyền độc lập phải được giữ vững, dân chủ tự do phải được vãn hồi, nhân quyền phải được tôn trọng, công lý phải được thể hiện và dân trí phải được khai sáng. Thì ngày đó, anh chị và tôi sẽ không còn đau thương trăn trở với những dòng tâm tư nước mắt nữa. 

Viết trong nước mắt cho 30/04/1975 


Hàn Quốc, Triều Tiên sẽ ký hiệp ước hòa bình chấm dứt chiến

Dân trí Trong tuyên bố chung kết thúc hội nghị thượng đỉnh liên Triều, hai nhà lãnh đạo Hàn Quốc và Triều Tiên cho biết hai nước sẽ chính thức ký hiệp ước hòa bình chấm dứt Chiến tranh Triều Tiên trong năm nay.
 >> Hàn Quốc lý giải việc Tổng thống Moon Jae-in bước sang biên giới Triều Tiên
 >> 12 vệ sĩ chạy bộ hộ tống xe chở ông Kim Jong-un
 >> Ông Kim Jong-un: "Tôi muốn viết nên chương mới trong quan hệ liên Triều"

 Hai nhà lãnh đạo cùng các đệ nhất phu nhân chụp ảnh lưu niệm

Hai nhà lãnh đạo cùng các đệ nhất phu nhân chụp ảnh lưu niệm

Tổng thống Hàn Quốc sẽ thăm Bình Nhưỡng

Thông tin từ BBC cho biết, Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in dự kiến sẽ thăm thủ đô Bình Nhưỡng của Triều Tiên vào mùa thu năm nay.

Ông Kim Jong-un: Chúng ta đã phải chờ đợi thời khắc này quá lâu

Một số điểm khác trong Tuyên bố chung:

Ngừng tất cả các hành động thù địch giữa Triều Tiên và Hàn Quốc.

Biến Vùng phi quân sự thành "vùng hòa bình" bằng việc ngừng các hoạt động tuyên truyền ở biên giới từ ngày 1/5.

Tổ chức cuộc đoàn tụ gia đình bị chia cắt bởi hai miền.

Nối và hiện đại hóa các đường sắt và đường bộ liên Triều.

Tiếp tục cùng tham gia các sự kiện thể thao quốc tế.

Phát biểu với truyền thông quốc tế bên ngoài sảnh Nhà Hòa Bình cùng với Tổng thống Moon Jae-in, ông Kim Jong-un nói rằng, nhân dân Hàn Quốc và Triều Tiên không nên đối đầu nhau, mà thay vào đó nên đoàn kết lại. "Chúng ta đã chờ đợi thời khắc này quá lâu. Tất cả chúng ta", ông Kim Jong-un nói.

Nhà lãnh đạo Triều Tiên cũng nói thêm rằng: "Con đường mà hôm nay tôi đã đi, tôi thành thực hy vọng mọi người dân Triều Tiên và Hàn Quốc đều có thể sử dụng con đường này. Chúng ta sẽ có thể tận hưởng hòa bình và thịnh vượng trên bán đảo Triều Tiên mà không phải lo ngại chiến tranh".

Hàn Quốc, Triều Tiên sẽ ký hiệp ước hòa bình trong năm nay

Kết thúc cuộc họp thượng đỉnh hôm nay, hai nhà lãnh đạo Triều Tiên và Hàn Quốc đã đưa ra một tuyên bố chung.

"Tuyên bố chung Bàn Môn Điếm về Hòa bình, Thịnh vượng và Thống nhất trên bán đảo Triều Tiên" nêu rõ: "Hai nhà lãnh đạo trang trọng tuyên bố sẽ không còn chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên và một thời đại mới của hòa bình đã bắt đầu".

CNN cho biết, Hàn Quốc và Triều Tiên sẽ ký hiệp ước hòa bình trong năm nay. Chiến tranh liên Triều kết thúc vào năm 1953 nhưng chỉ bằng một hiệp ước đình chiến. Do vậy, Hàn Quốc và Triều Tiên vẫn trong tình trạng chiến tranh kỹ thuật kể từ đó đến nay.

Hai nhà lãnh đạo cũng đồng ý hợp tác phi hạt nhân hóa hoàn toàn bán đảo Triều Tiên.

Ngoài ra, hai bên cũng nhất trí biến vùng biển xung quanh biên giới Hoàng Hải vốn căng thẳng thành "vùng biển hòa bình" để ngăn các nguy cơ xung đột quân sự.

Theo thỏa thuận đạt được tại hội nghị, Hàn Quốc và Triều Tiên nhất trí hội đàm quân sự cấp tướng vào tháng 5 tới.

Hãng tin Yonhap cho biết, hai nhà lãnh đạo Hàn Quốc, Triều Tiên cũng nhất trí thúc đẩy đàm phán 3 bên hoặc 4 bên có sự tham gia của Mỹ và Trung Quốc.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu, trao đổi, hai bên nhất trí lập một Phòng đối ngoại chung tại Gaeseong của Triều Tiên. Văn phòng này sẽ "thúc đẩy các hoạt động tham vấn chặt chẽ giữa giới chức hai bên, tạo điều kiện cho các hoạt động giao lưu", tuyên bố chung cho biết.

Trung Quốc nói về thượng đỉnh liên Triều: "Thảm họa cũng không đủ sức chia cắt anh em" không như CSVN

Đó là bình luận từ Trung Quốc về hội nghị thượng đỉnh liên Triều. Một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm nay cho biết, Bắc Kinh hoan nghênh "lãnh đạo Hàn Quốc, Triều Tiên với bước đi lịch sử này".

"Một bài thơ cổ của Trung Quốc nói: Thảm họa cũng không đủ sức chia rẽ những người anh em thực sự, và nụ cười là tất cả những gì cần có để gạt đi những phiền muộn. Chúng tôi hy vọng họ sẽ coi hội nghị lịch sử này tại Bàn Môn Điếm là cơ hội để thúc đẩy hơn nữa đường lối mới nhằm duy trì hòa bình, an ninh trên bán đảo Triều Tiên", người phát ngôn trên nói.

Triều Tiên đưa tin về hội nghị

Đài truyền hình quốc gia Triều Tiên chiều nay bắt đầu đưa tin về hội nghị thượng đỉnh liên Triều. Trong bản tin, đài truyền hình quốc gia Triều Tiên gọi ông Moon Jae-in với chức danh "Tổng thống".

Chuẩn bị an ninh kỹ càng

Sau khi tản bộ và nói chuyện riêng khoảng nửa giờ ngoài trời, hai nhà lãnh đạo đã trở lại bên trong Nhà Hòa Bình để bắt đầu phiên họp chiều.

Công tác đảm bảo an ninh, an toàn cho nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un khi đặt chân đến Nhà Hòa Bình được chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Bức ảnh từ Trung tâm báo chí Hội nghị liên Triều cho thấy, trước khi ông Kim Jong-un vào Nhà Hòa Bình và viết vào sổ lưu niệm, các nhân viên an ninh đã tiến hành tẩy trùng ghế ngồi, dò tìm vật liệu nổ và máy nghe lén.

Đêm giao lưu Hàn-Triều

Hãng tin CNN cho biết, sẽ có 11 ca sĩ, diễn viên và các nghệ sĩ khác của Triều Tiên tham dự chương trình giao lưu tại tiệc chiêu đãi tối nay ở Nhà Hòa Bình. Tổng cộng có 26 người Triều Tiên và 34 người Hàn Quốc tham gia sự kiện này. Hai Đệ nhất phu nhân Hàn Quốc, Triều Tiên cũng sẽ dự tiệc chiêu đãi.

Hai nhà lãnh đạo tản bộ, nói chuyện riêng

Theo Arirang, hai nhà lãnh đạo đã ngồi trò chuyện riêng trong khoảng 30 phút.

Sau khi trồng cây lưu niệm, Tổng thống Hàn Quốc và nhà lãnh đạo Triều Tiên đã đi dạo, hướng về phía cây cầu đi bộ sơn màu xanh.

Cây cầu đi bộ gần đường ranh giới quân sự ở Khu phi quân sự liên Triều được sơn lại gần đây với màu xanh dương trong lá cờ thống nhất liên Triều.

Tại cây cầu, hai nhà lãnh đạo đã ngồi xuống và trò chuyện riêng. Các phóng viên ban đầu được phép chụp ảnh và ghi hình ở cự ly gần, nhưng dường như sau đó được mời di chuyển ra vị trí xa hơn.

Hãng tin Arirang cho biết, chỉ có hai nhà lãnh đạo đi bộ, ngồi trò chuyện và dùng trà cùng nhau mà không có trợ lý hay nhân viên an ninh tháp tùng.

BBC đưa tin, đầu giờ chiều nay, hai nhà lãnh đạo Triều Tiên và Hàn Quốc đã có hoạt động trồng cây lưu niệm để thể hiện mong muốn hòa bình, thống nhất trên bán đảo Triều Tiên. Tại đây, nhà lãnh đạo Kim Jong-un nói: "Giống cây thông này, tôi hy vọng chúng ta có thể mãi mãi xanh tươi thậm chí trong cả mùa đông".

Đất trồng cây được lấy từ núi Halla của Hàn Quốc, từ núi Paektu của Triều Tiên. Nước tưới cây được lấy từ sông Hàn Quốc và Triều Tiên. Tại đây cũng được đặt một tảng đó có dòng chữ "Gieo mầm hòa bình và thịnh vượng". Tên của hai nhà lãnh đạo được khắc trên đá.

Minh Phương

Ảnh: Reuters

               TƯỞNG NIỆM "QUỐC HẬN 43"
 


Dù 43 năm đã trôi qua, người dân Việt vẫn đang trả giá.

[CỐ TT HOA KỲ RONALD REAGAN]




 
 

                     NIỀM ĐAU QUỐC HẬN

          NIỀM TRÂN KÍNH DÂNG ANH HÙNG TUẨN TIẾT

        CHẲNG ĐẦU HÀNG, TỰ SÁT TẠ GIANG SƠN

        TƯỚNG CHẾT THEO THÀNH NGÀN SAU NỨC TIẾNG

        SỬ SÁCH CHÓI LÒA TỔ QUỐC GHI ƠN




                 MỜI ANH UỐNG LY CÀ PHÊ QUỐC HẬN

NGÀY GIỔ TRÒN THÁNG ĐỦ BỐN BA NĂM

 KHÓI THUỐC BAY NHỚ NGÀY NAO CHIẾN TRẬN

 ĐỒI CHARLIE ANH KIÊU DŨNG YÊN NẰM..

         MỜI ANH CẠN CHÉN HỒNG QUỐC HẬN

         NHỚ ƠN ANH TẠC DẠ KHẮC HÔM NAY

         ANH NẰM XUỐNG CHO TRỊ-THIÊN ĐỨNG DẬY

         CHO CỔ THÀNH - HOÀNG KỲ PHẤT PHỚI BAY



          

          QUỐC HẬN NGẬM NGÙI NÉN HƯƠNG DÂNG KÍNH

          TẠ ƠN ANH ĐẾN MẢI MẢI NGÀN SAU

          ĐẤT PHƯƠNG NAM KHÓC MÁU XƯƠNG NGƯỜI LÍNH

          TÙ NGỤC ĐÂY, ANH NẰM LẠI NĂM NÀO !




                 NGÀY QUỐC HẬN TIẾC THƯƠNG ANH LÍNH CŨ

                 BAO MĂM MIỆT MÀI LỬA ĐẠN ĐAO BINH

                 CHIẾN CÔNG XƯA CUỐN TRÔI THEO CƠN LŨ

                 BỐN BA NĂM HÈ PHỐ NẠNG GỔ MỘT MÌNH



                    NIỀM ĐAU QUỐC HẬN CÙNG DÂN CHIẾN NẠN

                    VÌ TỰ DO ĐÀNH CHÔN XÁC BIỂN ĐÔNG

                    NÉN HƯƠNG THƠM OAN HỒN LẢNG ĐÃNG

                    NHẬN NƠI ĐÂY NIỀM THƯƠNG TIẾC MỘT LÒNG 

                                                                         mặc nhân thế


   







H U Y      V Ă N

Mùa Kiếp Nạn


Có ngày nào không là ngày Quốc Hận ?!

Có đêm nào không nhớ lúc tan đàn!

43 năm! Cảnh Nước mất, Nhà tan

Luôn ray rứt trong lòng người xa xứ!

 

Vai quang gánh, chân mỏi mòn lữ thứ

Bến lưu vong, khách mãi đợi con thuyền

Đất, Trời còn rấm rứt cuộc truân chuyên

Thương quê Mẹ điêu linh trong cuộc sống.

 

Bao dâu bể vẫn chưa nguôi hy vọng

Một ngày vui trong mắt lệ đoàn viên

Bến bờ xa nối sông núi ba miền

Thành một dãi non sông mùa thạnh trị.

 

Dẫu sông núi lạc vào tay ngạ quỷ

Vẫn còn đây hồn thiêng của Cha, Ông

Những người con của nòi giống Lạc Hồng

Đem xương máu làm đê ngăn hiểm họa.

 

Xưa cung kiếm dấn thân vì chí cả

Bóng chinh y trải một gánh tang bồng

Nay nhật nguyệt từ trời xa, đất lạ

Trỗi điệu Hời khóc Tử Sĩ trận vong.


 


Nén hương thắp muộn mùa kiếp nạn

Thay tiếng lòng tưởng niệm thuở chi binh

Chung thiên cổ xin mời nhau cùng cạn

Nghĩa đệ huynh ngàn năm mãi thắm tình.


Huy Văn




 

30/4, XIN MỌI NGƯỜI HÃY

 

DÀNH MỘT PHÚT



- Tưởng nhớ đến các anh hùng tử sĩ đã hy sinh vì lý tưởng tự do.
- Tưởng nhớ Mậu thân 50 năm đồng bào bị CSVN sát hại.
- Tưởng nhớ đến các đồng bào đã tử nạn trên con đường vượt biên, vượt biển tìm tự do.

- Tưởng nhớ đến các Chiến sĩ phục quốc đã hy sinh trên con đường đấu tranh cho tự do dân chủ tại VN.
- Và cầu ơn trên giúp cho đất nước Việt Nam sớm có tự do dân chủ. Mọi người đều có quyền con người. 
Đây là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm mà không một cá nhân, Đảng phái nào có quyền tước đoạt..



Làm Sao Quên Được Ngày Quốc Hận?

Huỳnh Quốc Bình

LTG: Nhân thời điểm 30-4 năm nay, tôi xin quảng bá lại những ý tình liên quan đến đến ngày đen tối ấy mà tôi từng đề cập bàn bạc trước đây, để kính tặng đồng bào tôi, đặc biệt các bậc trưởng thượng, bậc đàn anh là những người đã từng hy sinh tuổi thanh xuân, xương máu, trong cuộc chiến đấu bảo vệ nền tự chủ cho miền Nam đến 30-4-75; và cuối cùng tiếp tục chiến đấu đến khi vào tù, để cho người khác đủ thì giờ lên phi cơ, xuống tàu di tản ra hải ngoại lánh nạn VC. 

Bài viết này tôi cũng muốn đặc biệt tâm tình với quý linh mục, mục sư, giáo sĩ Việt Nam và cấp lãnh đạo những nơi được gọi là “Hội Thánh”. Nhân tiện tôi cũng muốn đặt câu hỏi với những con dân Chúa là: Chúng ta nên tuân phục một chính quyền thật sự vì dân như Kinh Thánh đã dạy, hay lại nghe lời giảng dạy của thành phần “giáo quyền” gồm những tay sợ VC hơn sợ Thiên Chúa, rồi muốn người khác cũng giống mình là tiếp tục cúi đầu tuân phục bọn côn đồ VC đã và đang cướp của, giết người và bán nước hại dân tại Việt Nam ngày nay?

Bài viết này cũng để nói rằng, không một tên cướp hay đảng cướp nào lại muốn mọi người nhớ mãi những hình ảnh đau thương, tang tóc mà bọn chúng tạo ra cho những nạn nhân của chúng. Đảng cướp VC cũng vậy, chúng rất muốn người dân miền Nam Việt Nam chóng quên đi ngày “Quốc Hận 30-4” để chúng an tâm tiếp tục đè đầu, cởi cổ những người thấp cổ, bé miệng đang nằm trong sự kiềm kẹp của chúng. Để làm được việc đó, chúng có cả khối đứa muối mặt ăn lương chế độ để viết bài ru ngủ những người nhẹ dạ. 

Theo tôi, muốn thắng VC, muốn ngăn chận tội ác… người ta phải sử dụng cái đầu khôn ngoan, chứ không chỉ bằng những lời cầu nguyện suông, hoặc những câu nói thiêng liêng nửa vời, hay những lời chửi đổng, hoặc dựa vào bằng cấp tiến sĩ, bác sĩ, hoặc kỹ sư… là được. Và để thắng VC, những ai nhận mình là người Quốc Gia, không thể lâu lâu “trồi lên yêu nước” một lần hay vài lần trong một năm, hoặc chỉ duy nhất vào ngày Quốc Hận 30-4, còn những ngày tháng khác thì nghỉ khỏe, không làm gì cả. (HQB)
***

Đối với người Việt Quốc Gia, ngày 30-4-75 là một ngày đau thương, ngày miền Nam Việt Nam bị quân cộng sản Bắc Việt thôn tính trọn vẹn, ngày mà cả hai miền Nam Bắc hoàn toàn rơi vào ách thống trị bạo tàn của những kẻ vô thần. Tại hải ngoại, hằng năm, người Việt khắp nơi tổ chức ngày 30-4 trong tinh thần “Quốc Hận 30-4” để tưởng niệm biến cố lịch sử đau thương của dân tộc, hoặc tổ chức ngày “Quốc Hận Đối Kháng 30-4” để lên tiếng tranh đấu chống lại những bất công và sự đàn áp người dân một cách thô bạo và tội buôn dân bán nước mà chế độ VC áp đặt lên đất nước Việt Nam suốt 43 năm qua, nếu chỉ lấy móc điểm ngày 30-4-75.

Nói với người Tin Lành Việt Nam: Trong các sinh hoạt có tính cách đấu tranh, sinh hoạt cộng đồng, người ta thấy hầu hết những người nhận mình là “Đạo Tin Lành” thường không muốn tham dự vì ngại dính dấp đến chính trị. Đây cũng là sự chọn lựa rất bình thường trong phạm vi sinh hoạt tự do, dân chủ. Thế nhưng, những người phản ứng như thế cũng đều biết là: Nếu xét đến bổn phận căn bản của một người công dân bình thường, thì dù là ai, cũng phải làm tròn trách nhiệm của mình đối với quê hương, dân tộc trên trần gian này. Là một Cơ Đốc Nhân, tôi biết trong Thánh Kinh có dạy: Con dân Chúa là phải tuân phục những chính quyền biết lo cho hạnh phúc người dân, kính kẻ đáng kính, phục kẻ đáng phục (Rô-ma 13); phải lên tiếng bênh vực cho những người thấp cổ bé miệng (Châm-ngôn 31:8-9); kẻ nào làm chứng dối, nói tốt cho kẻ ác sẽ bị dân tộc rủa sả và gớm ghiếc, còn ai quở trách kẻ ác sẽ được đẹp lòng Chúa và phước hạnh sẽ giáng lên người đó (Châm-ngôn 24: 24-25); kẻ biết điều lành mà chẳng làm là phạm tội (Gia-cơ 4:17). “Ðừng sợ kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn..” (Ma-thi-ơ 10:28). Ngoài ra, tôi cũng biết rằng Chúa Jesus khi còn ở trần gian, Ngài từng cầu nguyện với Đức Chúa Trời rằng: “Con chẳng cầu Cha cất họ ra khỏi thế gian, nhưng con xin Cha gìn giữ họ cho khỏi điều ác” (Giăng 17:15)

Căn cứ vào những gì tôi đề cập, vậy thì câu hỏi được đặt ra cho người Tin Lành, là vào những ngày mọi người tưởng niệm Quốc Hận 30-4 thì Cơ Đốc Nhân phải phản ứng thế nào? Đây là một câu hỏi khá hóc búa liên quan đến một vấn đề hết sức gai gốc mà hàng giáo phẩm Tin Lành thường không muốn nhắc đến. Nếu có nhắc, cũng chỉ trong tinh thần khuyên mọi người nên tìm cách lãng quên, tha thứ cho kẻ thù; phải có tình yêu thương; phải nhịn nhục, nhân từ; người cộng sản cũng cần được cứu ra khỏi tội lỗi… Đây là những lời dạy đã được chép bàng bạc trong Thánh Kinh. Thế nhưng, thiết nghĩ chúng ta cũng cần áp dụng đúng đối tượng, đúng lúc và đúng nơi, chứ không thể nói chung chung hay nói một chiều. Chúng ta không thể nói hay dạy người khác những điều mà chính chúng ta không bao giờ áp dụng vào đời sống của mình, hoặc có khi còn làm ngược lại. Câu nói “người Tin Lành không làm chính trị…” chỉ là câu nói khôn ngoan của một số vị trong hàng lãnh đạo Tin Lành ngày xưa đã phản ứng khi khước từ hợp tác với Hồ Chí Minh và đảng VC mời gọi góp phần áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên đất nước Việt Nam lúc bấy giờ, chứ không phải đây là những lời bất di bất dịch của Thánh Kinh để chúng ta dựa vào đó mà né tránh trách nhiệm.

Ý nghĩa của sự tha thứ: Trước khi chúng ta đi sâu vào những điều có liên quan đến tiêu đề của bài viết. Chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa đích thực của hai chữ “tha thứ” để chúng ta thấy rõ những gì mình đang quan tâm. Trọn bộ Thánh Kinh, hai chữ “tha thứ” được nhắc đến ít nhất là 43 lần trong 37 trường hợp khác nhau. Ý nghĩa tha thứ trong Thánh Kinh được đề cập về sự tha thứ mà Thiên Chúa dành cho con người, và chính con người dành cho nhau. Tôi xin nói ngay: Tha thứ tức là bỏ qua chứ không phải vì khiếp nhược mà không dám nhắc đến, hoặc dung dưỡng những điều sai trái bằng những mỹ từ: tình yêu thương, lòng nhịn nhục, nhân từ, hay lấy câu Kinh Thánh “khôn như rắn, đơn sơ như chim bồ câu” để làm cái vỏ bọc cho sự né tránh trách nhiệm bằng lối giả hình mà Chúa Cứu Thế Jesus từng lên án những tập đoàn thầy thông giáo của Do Thái ngày xưa. Liên quan đến ý nghĩa “tha thứ”, Kinh thánh chép: “Hãy ở với nhau cách nhơn từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy. (Ê-phê-sô 4:32)

Những lời giảng dạy lạc điệu: Chúng ta thường nghe giảng dạy trong các Nhà Thờ là “hãy quên và tha thứ”, nhưng thực chất thì những ganh ghét, đố kỵ không phải hiếm thấy từ những người dạy ra điều đó tại các nhà thờ. Chúng ta cũng thường nghe một số người chủ trương và kêu gọi “quên quá khứ, xoá bỏ hận thù” nhưng cảnh người dân vô tội bị chế độ VC đàn áp cũng không hề thuyên giảm bên cạnh những tiếng kêu lạc điệu về những chủ trương nghe có vẻ hài hoà, đạo đức nửa vời này. Người ta tìm cách bao che tội lỗi của những kẻ gây ra bao nhiêu tội ác tại Việt Nam rằng: “kẻ thù của dân tộc Việt Nam là nạn nghèo đói và lạc hậu” và người ta kêu gọi chất xám hải ngoại về giúp nước, thế nhưng người ta không đủ công bằng và liêm sỉ để nhìn nhận nguyên nhân nào đã gây ra nạn nghèo đói và lạc hậu tại Việt Nam? Chính đảng cướp VC đã gây ra tình trạng tàn tệ đó.

ngheo-doi-tai Vietnam

Đừng bẻ cong lời Chúa: Chúa Cứu Thế Jesus từng khuyến cáo các môn đệ của Ngài rằng: “Các ngươi hãy giữ lấy mình. Nếu anh em ngươi đã phạm tội, hãy quở trách họ; và nếu họ ăn năn, thì hãy tha thứ. (Lu-ca 17:3). Áp dụng cách tha thứ, chúng ta thấy Chúa Cứu Thế Jesus dạy chúng ta là: Hãy giữ lấy chính bản thân mình, đừng phạm tội. Nếu biết anh em nào đã phạm tội, hãy quở trách họ, (Biết chắc và có bằng chứng là họ phạm tội, chứ không phải nghe những lời đồn đãi vu vơ) nếu người phạm tội biết ăn năn, thì hãy tha thứ. Ăn năn phải được hiểu là biết lỗi của mình và tỏ ra thống hối, từ bỏ những sai trái và quay lại với điều ngay, lẽ phải, chứ không phải chỉ “ăn năn” bằng cái miệng, còn hành động gian ác thì không chịu ngừng nghỉ. Chúa không dạy chúng ta là cứ làm tội, rồi sử dụng quyền lực, vây cánh để chểm chệ xét tội người khác. Chúa dạy đối với kẻ gây ra tội ác, phải lên tiếng tố cáo, quở trách họ. Và nếu những người phạm tội thật lòng ăn năn thì chúng ta mới tha thứ, chứ Chúa không dạy tha thứ cho những kẻ ngoan cố, hay dạy chúng ta ngu khờ trước sự gian manh của những con cáo già đội lốt cừu non.

Theo tôi, thay vì kêu gọi “quên và tha thứ” một cách chung chung, chúng ta cần tìm cách giúp đỡ nạn nhân của các loại tội ác, có một cuộc sống ổn định để bù đắp lại những ngày khốn nạn mà họ từng trải qua. Thay vì kêu gọi “quên quá khứ, xoá bỏ hận thù”, chúng ta cần tiếp tay để chấm dứt các tội ác, bất công, tàn bạo, được chế độ VC tiếp tục áp đặt lên những người dân vô tội. Nếu chúng ta không làm được những điều đó, mà chỉ biết hùng hồn dạy mọi người phải “quên và tha thứ” một cách thiếu thực tế, là đạo đức giả, là trốn tránh trách nhiệm, là lừa dối chính mình. Chỉ kêu gọi “quên quá khứ, xoá bỏ hận thù” mà không dám ngăn chận những nghịch lý đã và đang xảy ra tại Việt Nam là bất công, là dung dưỡng tội ác, là chiêu bài của những kẻ gian manh, là lối nguỵ biện của những kẻ mơ hồ về chủ nghĩa cộng sản, là hành động dối trá, chứ không phải đạo đức.

HiHoa_BanhVe_XHCN
Những kỷ niệm không thể quên: Trong cuộc đời của mỗi chúng ta, ngoài những kỷ niệm đẹp, ai cũng có những kỷ niệm buồn không quên được. Người ta gọi đó là dấu ấn sâu đậm trong cuộc đời. Có người thời thơ ấu vì bị ngược đãi, hoặc chứng kiến cảnh tượng hãi hùng, đến khi về già vẫn còn nhớ như in trong trí, và mỗi khi gặp cảnh tương tự như thế thì tinh thần bị chấn động.
Có người lúc còn trẻ dại bị người lớn nhồi nhét vào đầu những hình ảnh tiêu cực không đúng sự thật, liên quan đến đấng sanh thành mà mình không được gần gũi. Khi lớn lên, dù nạn nhân có đủ bằng chứng là những gì mình biết trước đó là sai sự thật, nhưng vẫn không làm sao bôi xoá những điều đáng quên đã in đậm trong tâm trí của nạn nhân… Đó là lý do tại sao, trong ngành sư phạm người ta khuyến cáo các bậc thầy cô phải tránh tối đa để không vô ý viết sai trên bảng, trên sách, dù sau đó được lập tức sửa lại. Trong phạm vi gia đình, có những người con bị cha mẹ, anh em ruồng bỏ, hoặc những bậc cha mẹ bị các con đối xử tệ bạc… Dù họ tìm cách bỏ qua, không trách hờn, cố lãng quên, nhưng không dễ gì phai nhoà những hình ảnh phũ phàng mà họ từng chứng kiến. Trong tình yêu, có người bị người tình, người phối ngẫu phản bội, dù không chủ trương thù hằn, nhưng mỗi khi có ai vô tình hay cố ý nhắc đến, thì lòng họ quặn đau… Văn chương Việt Nam gọi đó là “vết thương lòng”. Trong sinh hoạt chính trị, xã hội, có người bị các chế độ độc tài đàn áp, giam cầm, tra tấn một cách vô cớ nhiều năm tháng, đến khi được tự do, dù không chủ trương báo oán những kẻ từng hành hạ mình, nhưng hễ có ai nhắc đến chuyện cũ là lòng căm phẫn của họ sống dậy…. Đây là phản ứng hết sức bình thường từ những con người bình thường ở trần gian này.

Làm sao có thể quên?: Một con người còn liêm sỉ và lòng tự trọng không thể quên được hình ảnh thân nhân của mình bị mang ra đấu tố, chôn sống trong cái gọi là cải cách ruộng đất năm 1954 tại miền Bắc, hoặc bị quân VC tàn sát trong biến cố tết Mậu Thân 1968. Làm sao mà  quên được những năm tháng dài, bị hành hạ, bị tra tấn, bị đối xử như một con vật trong các nhà tù mà chế độ VC gọi là trại “cải tạo”. Làm sao mà quên được khi con em, chồng cha của họ bị giam cầm hằng chục năm trong tù, hay phải gục ngã ở những vùng rừng thiêng nước độc, trong khi nhà cửa bị tịch thu, tài sản bị chế độ VC cướp giựt một cách công khai, khiến cho họ phải sống lê la trên vỉa hè hay những vùng kinh tế mới dành cho những người của “chế độ cũ”.

làm việc

Những người đàn bà Việt Nam có chồng bị tù, phải nuôi cha mẹ mình, cha mẹ chồng và đàn con dại, chịu những bất công ngược đãi của công an khu vực; sự tàn bạo, nhẫn tâm của những tên cai tù tại các trại giam chồng của họ, thì làm sao mà quên được? Làm sao những phụ nữ Việt Nam yếu đuối có thể quên được cảnh bị hải tặc Thái Lan hãm hiếp trên đường vượt biên, vượt biển, vì không thể tiếp tục sống với chế độ VC độc tài? Làm sao những người con gái thời xuân sắc phải bấm bụng bán thân để nuôi đàn em nhỏ dại đang cần được no lòng khi cha mẹ bị cầm tù, có thể quên được những quá khứ tủi nhục đó? Làm sao những người được trưởng thành trong đau khổ, từng bị ngược đãi, khinh miệt, có thể quên được quá khứ đau thương của họ?

30-04-1975a-danlambao

Tôi xin phép lạc đề một chút: Truyện danh nhân Trung Hoa có nhắc đến nhân vật Câu Tiễn trong điển tích “nằm gai nếm mật”. Nhân vật Câu Tiễn có mối thù chung của đất nước cần phải trả. Vì ông sợ mình hài lòng với địa vị và cuộc sống sung túc mà ông đang có, rồi ngày qua ngày lại quên đi “nợ nước, thù nhà” nên ông đã tự khắt khe với chính bản thân mình bằng cách ngày nào cũng vậy; trước khi ăn ông nếm mật đắng, khi ngủ thì nằm trên đống củi gai để dặn lòng mình không quên mối thù chung…
Tôi nhắc đến câu truyện của Câu Tiễn và thành ngữ “nằm gai nếm mật” không phải để kêu gọi người khác nuôi lòng hận thù, hay trả hận theo lẽ thông thường, nhưng tôi xin mọi người đừng vội quên tội ác của VC. Bằng chứng cho thấy, có nhiều người từng bị VC giam cầm tra tấn trong tù, từng làm nhục họ, từng cướp giật tài sản của họ và làm cho gia đình họ ly tán v.v… Nhưng khi được sống đời tự do, cơm no áo ấm, có chút địa vị hay danh hảo tại xứ người… Thì họ lại quên tội ác của VC ngày xưa và nay. Có người còn muối mặt quay về Việt Nam móc ngoặc là ăn với kẻ thù VC qua nhiều vỏ bọc khác nhau. Họ ngang nhiên ngồi chung bàn, ăn chung mâm với phường gian ác. Tại hải ngoại, có kẻ còn nhậu nhẹt với bọn VC, Việt gian, nhưng lúc nào cũng trân tráo hô hào chống cộng và “đấu tranh cho một Việt Nam tự do dân chủ” để lừa những người “không thích chuyện chính trị” hay thích được an thân và luôn làm thinh trước điều quấy.

Image result for nguyễn cao kỳ về việt nam

Trí thức và thiêng liêng: Có kẻ nhận mình là “trí thức”, thích sử dụng ngòi bút của mình để bênh vực VC và Việt gian và còn có lời lẽ hay hành động xúc phạm Cờ Vàng, biểu tượng của người Quốc Gia chân chính. Thành phần này còn lên giọng thầy đời là khuyên người khác hãy “thức thời”; hoặc có nhận xét thiếu công bằng khi đồng hoá những bài viết mà bọn VC hay bọn tay sai của chúng chửi rủa những người Quốc Gia một cách tàn độc và bẩn thỉu, với những bài viết do người tử tế tố cáo tội ác VC và Việt gian, rồi cho rằng “người Quốc Gia chửi nhau”… Tôi cũng nhắc lại câu truyện này để muốn nói rằng: Người Việt Nam tỵ nạn VC cần xét lại vị trí của mình. Chúng ta là người tỵ nạn VC chứ không phải là thành phần “xấu xa” trong xã hội bỏ nước ra đi như bọn VC từng nhục mạ chúng ta. Chúng ta tìm cách vượt thoát khỏi Việt Nam là vì không thể sống chung với bọn VC gian ác. Xin đừng ai thờ ơ trước tình trạng của đất nước Việt Nam ngày nay. Xin đừng ai cố tình làm lu mờ ý nghĩa của ngày Quốc Hận 30-4. Xin đừng ai quên Tháng Tư Đen của đất nước Việt Nam vào năm 1975. Xin đừng ai xem việc tưởng niệm ngày đau thương của dân tộc là “làm chính trị”. Xin đừng ai thiêng liêng nửa vời để rồi tự mình đánh mất quê hương trần gian, mà Quê Hương Trên Trời cũng không vào được, chỉ vì bản chất đạo đức giả thay thiêng liêng nửa vời của mình.

Image result for quốc hận 30 tháng 4

Trở lại tiêu đề của bài viết: Chẳng những chúng ta không quên những đau thương mà người khác tạo ra, nhưng còn phải nhớ để dặn chính mình đừng bao giờ phạm những điều ấy. Nhắc đến những tội ác không phải để thù hằn, nhưng để giúp mọi người hiểu rõ sự thật và để thế hệ mai sau biết mà tránh. Cơ Đốc Nhân phải góp phần ngăn chận tội ác bằng những lời cầu nguyện và những hành động cụ thể. Cơ Đốc Nhân không thể hối lộ kẻ gian để được yên thân còn ai chết mặc ai. Cơ Đốc Nhân không thể làm chứng dối về những điều “thật nhưng không thật”, về những ưu đãi mà kẻ gian dành cho mình để mờ mắt người nhẹ dạ, che đậy những tội ác mà họ đối với anh em mình, với đồng bào mình. Cơ Đốc Nhân không cường điệu trong lời làm chứng, hay làm cho người khác hiểu sai giữa kịch tính, và ơn phước thật của Chúa…

Kết luận: Ngày nào những bất công còn, chúng ta còn nói đến những điều đó. Ngày nào nhà thờ, thánh đường, chùa chiền, thánh thất còn bị đóng cửa, bị cào sập, con dân Chúa hay đồng bào còn bị VC đàn áp thì ngày đó chúng ta còn kêu gọi thế giới can thiệp. Ngày nào đồng bào Việt Nam chúng ta còn sống trong cảnh đói nghèo và lạc hậu hoặc bị bỏ tù vì bày tỏ lòng yêu nước thì ngày đó chúng ta còn tranh đấu và còn nhớ đến tội ác của VC… nhưng không phải để thù hằn như đã nói. Chúng ta không nhớ để rủa sả, hay nhớ bằng cử chỉ hít hà, tắc lưởi theo kiểu giả hình, nhưng nhớ để góp phần chấm dứt những khổ đau tại Việt Nam. Vậy thì, nếu đồng bào ta, anh em ta vẫn còn bị chế độ VC đoạ đày thì chúng ta sẽ không “làm sao quên được”? Bằng mọi cách, chúng ta phải nhắc cho thế hệ con cháu chúng ta biết rõ ngày “Quốc Hận 30-4” là gì? Và tại sao chúng ta cần ghi nhớ ngày tan thương đó.

Huỳnh Quốc Bình
P.O. Box 20361, Salem, OR 97307, USA
(503) 949-8752
E-mail: huynhquocbinh@yahoo.com

TƯỞNG NIỆM NGÀY 30/4 VIỆT NAM, ĐAU THƯƠNG NIỀM NHỚ NHƯNG KHÔNG TỦI NHỤC



Nhân dịp tưởng niệm 35 năm ngày mất Saigon 30/4/75, ký giả  Sol Sanders viết bài cảm nghĩ trên nhật báo Washington Times số ra ngày 26/4/2010. Sol Sanders là một cây bút chuyên viết bình luận về những vấn đề chính trị, kinh tế quốc tế. Chúng tôi xin lược dịch dưới đây để chia sẻ cùng qúi độc giả nhân dịp tưởng niệm ngày 30 tháng Tư.
Nguyễn Minh Tâm

TRONG TUẦN LỄ NÀY, hơn một triệu rưỡi người Mỹ gốc Việt sẽ ngậm ngùi khóc thương, tưởng niệm 43 năm ngày Saigon thất thủ, và mất nước Việt Nam Cộng Hoà thân yêu của họ.

Không chấp nhận những phán xét thường tình, nhiều người Việt Nam vẫn nhớ và vinh danh sự can trường, và những hy sinh cao cả của các chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Họ muốn ghi nhận cuộc đấu tranh anh hùng của binh sĩ Miền Nam Việt Nam trước những nghịch cảnh hết sức oái ăm sau khi quân lực Mỹ rút lui, và Hoa Kỳ cắt đứt viện trợ quân sự cho họ. May thay, một nhóm học giả mới đây đã tìm cách duyệt xét lại những sai lầm cũ của lịch sử để sửa lại cho rõ, mặc dù họ phải đối đầu với quá trình lịch sử dài về thảm kịch ở Việt Nam bị giới truyền thông Mỹ và giới trí thức khoa bảng bóp méo sự thực.

Những người Việt khóc thương cho quê hương bị mất cũng sẽ nhớ lại những thiệt mạng quá lớn, những đau khổ chập chùng họ từng phải gánh chịu. Chuyện “tắm máu” đã thực sự xảy ra sau ngày Saigon bị mất, nhưng những hiểu biết tầm thường vẫn tìm cách chối bỏ điều này. Hàng ngàn người đã bị chết trong các trại tù “gulag kiểu Việt Nam”, tức các “trại tù cải tạo” của cộng sản. Chính Thủ tướng (CSVN) Phạm Văn Đồng đã công khai thú nhận có hơn một triệu người bị bắt đi tù. Ngoài ra, không ít người Việt vẫn còn nhớ có khoảng 255,000 thuyền nhân đến được nơi tạm dung trong các trại tị nạn kham khổ, và bị các nước láng giềng xô ra ngoài biển khơi, hàng ngàn người phải chết chìm trong biển cả.

Nhân dịp này, người Việt tha hương cũng không dám coi nhẹ sự mất mát về nhân mạng, và sự hy sinh lớn lao của người Mỹ trong cuộc chiến đấu cao thượng, nhưng kết thúc trong bi thảm. Tưởng niệm ngày mất nước cũng là một cách để kể lại toàn bộ câu chuyện “Việt Nam” cho những người bạn Mỹ, đặc biệt là cho thế hệ trẻ, họ lớn lên bị nhồi sọ bằng những thông tin bóp méo sự thật của giới truyền thông cũng như của đám trí thức dởm. Nhớ ngày mất nước cũng là dịp để vinh danh hàng ngàn thanh niên Việt đang phục vụ oai hùng trong các đơn vị chiến đấu của quân lực Hoa Kỳ.

Tiếc thay, ở Việt Nam hiện nay tình trạng đàn áp vẫn tiếp tục, không hề giảm bớt. Chế độ cộng sản ngược đãi tôn giáo và những sắc dân thiểu số, cũng như dùng biện pháp đàn áp cứng rắn để tận diệt những thành phần đối kháng chính trị. Bộ chính trị là cơ quan chỉ đạo cái quốc gia độc đảng này. Trong lúc đó ở bộ chính trị luôn luôn có tình trạng tranh dành, tị hiềm cá nhân, và khủng hoảng ý thức hệ. Tình trạng tồi tệ đến nỗi chúng công khai bắt giam một tổng biên tập tờ báo chính thức của Đảng Cộng sản sau khi ông ta viết một bài ý kiến chống Trung Quốc. Và chưa hết, kể từ năm 1995, sau khi Thượng Nghị sĩ John McCain ở Arizona, và John Kerry ở Massachusetts cố tìm cách đẩy mạnh việc Hoa Kỳ thừa nhận quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Hai ông này đều là cựu chiến binh ở Việt Nam đã cố gắng làm lợi cho Cộng Sản Việt Nam mà chẳng đòi hỏi được gì cho Hoa Kỳ cả. Các quan chức ở Hoa Thịnh Đốn mù tịt không hiểu gì về bản chất thực sự của chế độ. Chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ quá ngây thơ, và hạ mình nhượng bộ cho Hà Nội nhiều đặc lợi về mậu dịch và kinh tế với hy vọng sẽ phát huy được sự cởi mở về chính trị. Nhưng cố gắng này trở thành vô ích.

Mặc dù nhóm phát triển kinh tế của Việt Nam đã chọn đường lối phát triển theo “mô hình Trung Quốc.” từ lâu. Họ vứt bỏ đường lối hoạch định từ trung ương kiểu Nga Xô, nhưng sự dốt nát bất lực, và tình trạng tham nhũng bất trị đưa đến sự thiếu thốn về mọi mặt, lạm phát tăng cao, và nợ nần chồng chất. Trong lúc đó, với đầu óc kinh doanh cứng cỏi của người Việt, và lòng hiếu học sẵn có trong truyền thống, khối dân số trẻ trung, gần 90 triệu người ở Việt Nam đã phát triển tổng sản lượng quốc gia tăng lên rất nhiều. Lòng hiếu học của người Việt được tìm thấy qua những tiếng vang về sự thành công của nhiều cộng đồng di dân gốc Việt rải rác trên khắp nước Mỹ.

Điều trớ trêu ở chỗ là số tiền của người Việt di cư sang Mỹ gởi về giúp cho thân nhân kém may mắn ở trong nước đã trở thành nguồn yểm trợ kinh tế mạnh nhất cho chế độ bạo ngược này, chẳng hạn như năm 2008, người Việt di cư gởi về $8 tỉ đô la. Con số đó còn cao hơn cả con số $5 tỉ đô la tiền viện trợ hàng năm qua các tổ chức đa phương hay những chương trình viện trợ song phương cho Việt Nam. Tổng số tiền kiều hối đóng góp khoảng 5% cho Tổng Sản Lượng QuốcGia –GDP, cộng thêm với số tiền của nửa triệu công nhân đi làm lao động nước ngoài gởi về, và một khoản tiền khác do 400,000 du khách gốc Việt đem về hàng năm. Nguồn tư bản do người Việt sống tại Mỹ thường được gởi qua hệ thống chợ đen, giúp các tiểu thương biến thành phố Hồ Chí Minh- Saigon ngày trước- trở thành đầu tầu kéo vực dậy nền kinh tế, đó cũng là một con bò sữa vắt ra đô la cho bọn chính quyền tham nhũng ở Hà Nội bòn rút. Hoa Kỳ vẫn là quốc gia có vốn đầu tư lớn nhất ở Việt Nam, với nguồn tư bản đầu tư đăng nhập lên đến $1 tỉ đô la. Còn phải kể ra nhiều dự án đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam, nếu họ không bị rơi vào mạng lưới tham nhũng, hối lộ của các tay đầu sỏ ở chính quyền trung ương tại Hà Nội, cũng như những tay tỉnh ủy ở điạ phương.

Nỗ lực tìm cách giảm ảnh hưởng xấu của tình trạng khan hiếm tín dụng, và suy thoái kinh tế, các nhà làm kế hoạch cộng sản tung thêm vào thị trường tiền tệ hơn 1 tỉ đô la trong năm 2009 – khoảng hơn 1 % Tổng Sản Lượng Quốc Gia. Nhưng kết quả là tuy tình trạng cấp tín dụng có được mở rộng thêm khoảng 40%, nhưng giá đồng đô la lại tăng vọt, mặc dù chính phủ đã can thiệp bằng hai lần định giá lại tiền tệ.

Vì trị giá đồng đô la tăng, các nhà xuất cảng gặp khó khăn trong việc tìm đô la để tài trợ khoản nhập cảng nguyên vật liệu và yếu tố thành phẩm, trong lúc phải cạnh tranh gay gắt với hàng Trung Quốc, được chính phủ trợ cấp rất nhiều. Và cứ như thế, dự trữ bằng ngoại tệ vơi đi rất nhanh. Giới kinh doanh lo ngại sẽ phải đối đầu với tình trạng lạm phát khá nặng, nặng hơn cả kỳ lạm phát xảy ra vào năm 2008.

Vất vả tranh đấu với cuộc sống hàng ngày, giới trẻ Việt Nam ngày nay, nhất là những thành phần không có việc làm, coi chuyện chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ là chuyện đã đi vào trong qúa khứ xa xưa, họ chẳng thèm bàn tới chuyện “Việt Nam”, như những câu chuyện vẫn còn ám ảnh ở Hoa Kỳ. Ví dụ ba cái phim về chiến tranh Việt Nam của điện ảnh Hollywood, tuy vẫn còn hấp dẫn trong văn hoá bình dân Mỹ, song không còn lôi cuốn người xem xi nê ở Việt Nam.

Điều quan trọng hơn trong lúc này đối với người Việt là họ ngoảnh cổ nhìn sang nước láng giềng bên cạnh, Trung Quốc, kẻ thù truyền kiếp của người Việt. Mặc dù sau cuộc chiến tranh ngắn, nhưng cay đắng, xảy ra vào năm 1979, trong đó, Hà Nội đánh sặc máu mũi Bắc Kinh, hai nước đã đạt được những thoả uớc về biên giới, nhưng giờ đây mối tranh chấp vẫn còn tiếp diễn về chủ quyền trên các hòn đảo trong Biển Nam Hải. Và số lượng hàng nhập khẩu rất lớn của Trung quốc được bí mật đưa vào Việt Nam khiến cho các ngành công nghiệp thô sơ của Việt Nam bị xoá sạch ở miền Bắc.

Các bài viết trên những Blog liên mạng ở hai bên liên tiếp đả kích nhau dựa trên tinh thần yêu nước xô vanh, xoay quanh những vấn đề cũ. Và hiện nay mọi người đang trông chờ sẽ có một biến cố mới, ngoạn mục để chấm dứt tình trạng khó chịu, làm buồn lòng cả đôi bên.

The Washington Times
Vietnam, in sadness but not in shame
By Sol Sanders
Nguyễn Minh Tâm dịch


Phạm Xuân Ẩn: “Đừng chôn tôi gần cộng sản”

Quang Kiệt (Danlambao) - Chiến tranh Việt Nam kết thúc, dù được đồng đội tôn vinh và đối phương nể trọng ông vẫn luôn tự nhận mình là một con người bình thường - Phạm Xuân Ẩn (1927-2006) thiếu tướng tình báo Quân đội Bắc Việt. Người được bên thắng cuộc ca tụng như một trong những nhà tình báo chiến tranh thành công bậc nhất của thế kỷ 20.

Đã có hàng chục cuốn sách và hàng ngàn bài báo viết về cuộc đời tình báo được cho là hiển hách của ông. Những câu chuyện mang màu sắc huyền thoại về một “Điệp viên hoàn hảo” như đúng tên gọi của một quyển sách cùng tên được viết về ông bởi Larry Berman. 

Ông được sinh ra tại Đồng Nai và trải qua phần lớn thời niên thiếu ở Sài Gòn. Được nuôi dưỡng và dạy dỗ bởi một nền giáo dục khai phóng, tự do và nhân bản của miền Nam. 

Được nhà cầm quyền cộng sản Bắc Việt cử đi học ngành báo chí tại Quận Cam từ năm 1957-1959. Nhờ tài năng vượt trội, không lâu sau đó ông trở thành một ký giả lừng danh của các tờ tạp chí danh tiếng: New York Herald Tribune, Reuters, Time... một vỏ bọc hoàn hảo cho công tác tình báo của mình. 

Ông tự nhận mình là người tiếp thu gần như tất cả những giá trị của Văn hóa Mỹ. Trên hết, ông ngưỡng mộ và tôn sùng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí mà người Mỹ đã dạy cho ông. 

Giúp quân Bắc Việt có được những thông tin tình báo quan trọng nhờ vào mối quan hệ sâu rộng không chỉ với các tướng lĩnh và quan chức cấp cao miền Nam mà còn cả với các nhân vật chủ chốt của CIA tại Sài Gòn. 

Những báo cáo, những phân tích mang tầm chiến lược của ông đã góp phần quan trọng vào chiến thắng cuối cùng của quân Bắc Việt. 

Chưa đầy một tuần sau khi tận mắt chứng kiến chiếc xe tăng húc đỗ cổng Dinh độc lập, đánh dấu sự sụp đỗ của Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975 với một nụ cười “khó hiểu”, theo như miêu tả của một người bạn thân, người di tản khỏi Sài Gòn chỉ vài phút sau đó. Ông một mình ở lại điều hành văn phòng tạp chí Time bất chấp vợ con ông và tất cả các phóng viên đã được di tản khỏi Sài Gòn. 

Bài báo cuối cùng của ông viết cho tờ Time được gửi đi kèm với tấm hình chụp ông với vẻ mặt ngạo nghễ, đầy vẻ thách thức với điếu thuốc lá được ngậm chếch ngược lên trời. 

Các điệp viên chiến tranh thường có một mẫu số chung là một cái kết không có hậu, ông Ẩn cũng không nằm ngoài qui luật đó. 

Nhưng chắc có lẽ ông không thể ngờ rằng, sau ngày chiến thắng của quân Bắc Việt, một cuộc sống rắc rối và đầy ngờ vực vây phủ lấy mình theo cách tồi tệ nhất mà ông phải chịu đựng từ chính những người cùng chiến tuyến với ông. Hơn cả là những băn khoăn về mặt đạo đức, những dằn vặt lương tâm theo cách cay nghiệt nhất. 

Gần một năm sau khoảnh khắc ngạo nghễ trước Dinh Độc Lập, danh tính ông được tiết lộ, ông được phong danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang”. Ba năm sau, ông được chính quyền Cộng sản triệu tập để tham gia một lớp học tập chính trị dành cho cán bộ cao cấp. Thật trớ trêu, danh hiệu, sự thừa nhận công trạng và sự nễ phục, thậm chí yêu mến từ chính những người bên kia chiến tuyến vẫn không đảm bảo cho ông một cuộc sống thoải mái, tự do căn bản nhất của một con người. 

Ông bị nhà cầm quyền Cộng sản quản thúc tại gia, bị mật vụ theo dõi nghiêm ngặt, họ tách biệt ông với thế giới bên ngoài, cấm ông xuất ngoại và không được tiếp xúc với truyền thông quốc tế hàng chục năm cho tới khi ông Ẩn qua đời. 

Ông đã tuyệt vọng khi chứng kiến những gì nhà cầm quyền Cộng sản đã làm sau cuộc chiến, người dân bị tước bỏ những quyền căn bản nhất của một con người. Ông chán ghét cái chế độ chính trị mà ông đã góp công lớn để cướp chính quyền. Hai lần ông đưa gia đình vượt biên nhưng đều thất bại. 

Sự tuyệt vọng và chán ghét đã theo ông tới cuối đời bằng lời yêu cầu trước khi ông trút hơi thở cuối cùng, được tiết lộ bởi David Devoss: “Đừng chôn tôi gần Cộng sản”. 

Lời trăn trối sau cùng đầy cay đắng đó liệu có làm cho những người dân miền Nam, nhất là những người Việt tị nạn Cộng sản tha thứ cho những việc làm của ông? 

Không, lời trăn trối đó chỉ làm dày thêm những tranh cãi về cuộc đời đầy hư thực của ông. 

29.04.2018


30 tháng 4, ngày đất nước tang thương - Mỹ Nga


Kể từ khi cái gọi là “ngày giải phóng miền Nam Việt Nam” , 30 tháng 4, 1975 tới nay đã tròn 43 năm, đất nước tuy có phát triển hơn xưa nhưng sự hiện đại đó chỉ là cái vẻ bề ngoài. Thực chất bên trong là cả một hệ thống chậm tiến, trì trệ, kém văn minh, vô văn hoá và độc tài tàn bạo.

Nếu ai có dịp đi khắp đất nước mới thấy được những điều tồi tệ theo quy trình từ trên xuống dưới. Người dân đa số nghèo khổ, bần cùng, họ dần trở nên hèn mọn, sợ hãi bởi những lệ thuộc vào cơm áo gạo tiền trong đời sống hằng ngày.

Đầu tiên của một ngày mới, người người nhà nhà lo cho bữa sáng, trưa, chiều tối. Nếu không có tiền thì sẽ phải nhịn đói, nên họ bắt đầu kiếm cơm bằng mọi cách, có người kiếm bằng chính sức lao động của bản thân, có người lợi dụng người khác để trục lợi, có người chẳng nề hà ngửa tay xin xỏ, có người lợi dụng chính quyền để đàn áp người nghèo và điều đặc biệt nhất là bộ máy của chính phủ ngày đêm moi tiền của toàn dân, bất kể họ là ai và bất chấp họ làm gì.


Nhiều người trở nên vô cảm bởi vì họ chẳng còn biết phân biệt điều tốt xấu, kẻ khôn ngu hay mọi xảo trá, lừa gạt mà con người cứ quanh quẩn ở trong đó để làm tổn hại lẫn nhau. Có người chai lì và chẳng tìm được lối thoát nên trong họ hình thành suy nghĩ: “ trời có sập xuống ngay thì họ vẫn cứ bình chân như vại”. Họ chẳng thể làm gì hay tác động gì đến với mọi thứ xung quanh và cách tốt nhất là tìm chỗ an toàn trú thân, còn thời thế biến chuyển ra sao họ chẳng màng tới. Một số ít ỏi những người quan tâm về thời cuộc, họ lo lắng và dốc hết sức để mong xã hội được cải thiện tốt hơn thì bị nhiều cơ quan trực thuộc nhà nước theo dõi, khống chế và cuối cùng dành cho họ những bản án hết sức nặng nề, vu khống với tội danh phản động, tuyên truyền chống phá nhà nước hay hoạt động lật đổ chính quyền.

Về phía các bộ ngành, hầu như toàn bộ đều trục lợi là chính mà quên mất nhiệm vụ là cần phát triển xã hội theo xu hướng tích cực.

Tình trạng y tế dưới chế độ CSVN hiện nay hết sức tồi tệ. Cả hệ thống y tế hoàn toàn không đặt căn bản vào việc bảo vệ sức khỏe người dân ngoài mục đích duy nhất là làm tiền. Bệnh viện từ trung ương đến địa phương đều quá tải, các bác sĩ, y tá đa số thiếu kiến thức chuyên môn, nhưng lại giàu lòng tham, chỉ chăm chăm trục lợi cho bản thân và tìm mọi cách để kiếm thêm nhiều tiền dù phải chà đạp lên lương tâm, đạo đức . Người giỏi và có tâm đức vẫn có nhưng quá hiếm và hầu như họ không chịu nổi áp lực khi làm việc dưới sự chỉ đạo của nhà nước nên hầu như đều bỏ việc hay bị cô lập. Cơ sở hạ tầng cùng trang thiết bị y tế thấp kém, lỗi thời khiến cho người dân không được bảo vệ sức khỏe khi chữa bệnh, thậm chí còn chết oan ức. Bảo hiểm thì lợi dụng bệnh viện để trục lợi từ người mua, còn bệnh viện thì lại lợi dụng người bệnh để trục lợi từ bảo hiểm. Dân Việt đại đa số sợ bị những hậu quả không hay đến với họ nên dù có biết rõ về điều này họ cũng không dám lên tiếng để bảo vệ quyền lợi cho bản thân. Họ lại không có tiền để mua bảo hiểm tư hoặc không đủ chi phí để vô bệnh viện tư nên họ vẫn lựa chọn bệnh viện công để đánh cược với số phận của chính họ. Nhiều người sống trong sự lo sợ và cả nỗi đau thời cuộc.

Bộ tài nguyên và môi trường thì chẳng làm gì để bảo vệ môi trường, đã vậy còn bao che các sai phạm của các đơn vị trực thuộc khiến môi trường càng lúc càng bị tổn hại trầm trọng. Họ đang biến mảnh đất Việt thành bãi rác cho khu vực và thế giới. Song song với việc tiếp tay cho bọn phá rừng, phá biển và khai thác vô tội vạ các nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước.

Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn thì đi hủy hoại những cánh đồng lúa và biến những miền quê thành khu ô nhiễm do những nhà máy, xí nghiệp và tập đoàn thu mua với giá rẻ mạt, và các cơ quan có thẩm quyền nhà nước tiếp tay cho những tập đoàn này để trục lợi với mức ăn chia theo thoả thuận.

Bộ văn hoá thì biến những người nghệ sỹ thành những gã hề rẻ tiền, bưng bít che đậy mọi văn hoá đồi trụy và phô bày loại hình văn hoá nham nhở, thiếu văn minh và đầy những hôi tanh của những màn lăng xê nhớp nhúa, tởm lợm.

Nhiều năm qua dưới sự cai trị độc tài của nhà cầm quyền cộng sản, giáo dục Việt Nam ngày càng khủng hoảng nghiêm trọng từ mẫu giáo cho đến đại học; từ cách dạy của thày đến cách học của trò. Chương trình giáo dục cần phải được cải tổ lại từ a đến z vì quá lạc hậu, lỗi thời, vẫn còn quá nặng tính giáo điều, lý thuyết, không thực dụng và thiếu cập nhật. Đạo đức suy đồi, bạo lực học đường ngày càng gia tăng. Các thầy cô giáo tại Việt Nam có đủ kiểu phạt học sinh bất kể đạo lý, nguyên tắc sư phạm và “xúc phạm nhân phẩm” con người. Kết quả của chính sách giáo dục này là đã đào tạo nên cả một thế hệ ngu muội, dốt nát, vô đạo đức và luôn luôn sợ sệt. Gần đây xảy ra nhiều vụ như: cô giáo phạt học sinh uống nước giặt giẻ lau bảng hay ép học sinh súc miệng bằng nước xà phòng, dùng thước kẻ đánh tím chân học sinh vì em này vào lớp muộn.... .Và cũng chỉ dưới XHCN ưu việt mới có cảnh học trò tấn công thầy cô giáo, phụ huynh học sinh đe dọa thầy cô, hoặc bắt cô giáo quỳ lạy trước công chúng. Tinh thần tôn sư trọng đạo hầu như không còn tồn tại ở trong học đường cũng như ngoài xã hội.

Hầu như các bộ ngành đều rất tệ hại, tệ đến nỗi không còn ngôn từ nào có thể diễn tả ra hết được, chỉ có thể thốt lên hai chữ : khốn nạn.

Vì điều gì khiến nhiều người làm sai, làm bậy, lạm quyền lạm chức như vậy? Lẽ nào đổ lỗi hết cho đồng tiền?

Những con dân Việt Nam lẽ nào vô phước đến độ không thể ngóc đầu lên hay họ chấp nhận sống trong sự hèn hạ và chỉ biết cúi đầu chấp nhận cái mà họ nghĩ là : số phận.
Lá cờ đỏ sao vàng năm cánh mỗi năm vẫn tung bay trên mọi nẻo đường và ngỏ hẻm làng mạc trên khắp mảnh đất hình chữ S trong những ngày giáp 30 tháng 4 . Nhiều người không treo cờ sẽ bị cán bộ nhà nước ở nơi đó nhắc nhở, có nơi các cán bộ chia nhau mang cờ đi phát cho mỗi nhà và bắt buộc phải treo lên.

Có thể nói, sau khi miền Nam bị cưỡng chiếm, người người sống trong sự dối trá giả tạo, nhà nhà sống trong bầu không khí độc hại và ngày ngày được dung nạp trong cơ thể lượng thực phẩm gây bệnh hoạn và tàn phá nội tạng. Câu hỏi đặt ra là vì sao lại thế? Câu trả lời là vì đảng ta quá quang minh lỗi lạc, quá tốt đẹp và luôn tin tưởng vào sự vi diệu nên không ngừng phát triển theo chiều hướng tệ hại hòng vơ vét nhiều nguồn lợi lộc to lớn vượt trên cả tính mạng và xoá bỏ nhân cách, đạo đức vốn cần thiết của con người.

Những ai từng mong độc lập thống nhất đất nước, mong ấp no hạnh phúc thực sự sẽ không ngừng đau thương khi ngước mắt lên nhìn lá cờ đỏ Xã Hội Chủ Nghĩa tung bay trong ngày 30 tháng 4. Bởi trái tim họ đang tan vỡ, dù cho nước mắt đã cạn khô nhưng một chút hy vọng còn sót lại trong tâm trí họ sẽ là động lực để nối tiếp những ước mơ tốt đẹp.

Ngày mai, một ngày mới, trời vẫn sẽ trong xanh? Bất kỳ ai cũng đều có quyền nuôi khát vọng giải phóng thực sự chứ không phải chỉ bằng những mỹ từ tự do, dân chủ được tuyên truyền trên trang sách báo hay ở ngoài cửa miệng.


MN, 2018


Nhìn lại lần nữa hậu quả của ngày 30-4-1975

Bộ đội Bắc Việt tiến vào Sài Gòn ngày 30 tháng Tư, 1975
Bộ đội Bắc Việt tiến vào Sài Gòn ngày 30 tháng Tư, 1975
Files photos

30-4-1975 ghi dấu ngày chấm dứt cuộc nội chiến vũ trang, huynh đệ tương tàn của hai miền Nam - Bắc sau hơn 20 năm chia cắt bởi hiệp định Giơ-Ne-Vơ 1954. Nhưng thời điểm này cũng là một trang lịch sử tang thương đau buồn và mất mát chung cho cả dân tộc Việt Nam.

Triệu người vui, triệu kẻ buồn

Khi ông Lê Duẩn đã nói: “Chúng ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô và Trung Quốc.” thì rõ ràng danh nghĩa phát động chiến tranh giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước chỉ là phụ, mà mục đích chính là để thỏa vọng quốc tế hóa CS thế giới của Liên Xô, Trung Cộng. Hậu quả là dân tộc đã phải trả giá cho cuộc chiến tranh bằng xương máu của hơn 3 triệu sinh linh và sự tàn phá của bom đạn trên đất mẹ.

Như lời của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt nói về ngày 30-4-75: “là ngày có triệu người vui, triệu kẻ buồn”. Bên Cộng sản Miền Bắc vui vì thắng cuộc, thống lĩnh sự cai trị và được thu lợi những khối tài sản vật chất từ nền văn minh tư bản của chế độ VNCH. Bên Quốc gia ở Miền Nam buồn vì thua cuộc, phải chịu chính sách hà khắc của chế độ mới dưới các mỹ từ "cải tạo, chính sách kinh tế mới, cải tạo công thương nghiệp, quốc hữu hóa. .." khiến bao nhiêu người không chịu nổi phải tìm đường vượt biên, liều mình trên biển, bỏ xứ ra đi bằng sự đánh đổi mạng sống với tỷ lệ sinh tồn rất thấp.

Ba mươi chín năm trôi qua, cứ mỗi tháng tư về là báo chí truyền thông lề phải trong nước được chỉ đạo ca ngợi tiếp tục sự tài tình của Đảng CS trong chiến dịch HCM giải phóng miền Nam song trong thực tế, chữ "giải phóng" đó có quá nhiều mâu thuẫn và cay đắng.

Xin trích lời thơ của anh Trần Trung Đạo viết tặng em gái tù nhân chính trị Đỗ Thị Minh Hạnh:

“Bom đạn đã thôi rơi nhưng tiếng khóc vẫn không ngừng,

Câu hát hòa bình nhưng nước mắt vẫn cứ rưng rưng.”

Chiến tranh vũ trang đã chấm dứt nhưng hòa bình vẫn chưa thực sự trọn vẹn. Vẫn còn đó một mặt trận tranh đấu giằng co quyết liệt từng ngày của những con người đi đòi công lý, nhân quyền, tự do dân chủ. Vẫn còn đó trên khắp ba miền Trung – Nam- Bắc phong trào đấu tranh của những người nông dân biểu tình, khiếu kiện tập thể đòi đất. Và vẫn còn đó những làn sóng bất mãn của giáo dân, tín hữu, đạo hữu của các hội đoàn tôn giáo đòi quyền tự do tôn giáo tín ngưỡng. Nhà nước CSVN đã dùng vũ lực để trấn áp và qui kết bỏ tù rất nhiều người trong thời gian qua: bằng chứng sống động của sự bất ổn chính trị đương thời. Nhưng công cụ bạo lực của bất cứ nhà cầm quyền nào cũng chỉ là biện pháp trấn áp, đè nén người dân tạm thời chứ không phải là giải pháp chính trị ưu việt để tháo gỡ các bế tắc to lớn của một đất nước.

Băng rôn cho ngày 30 tháng 4 và 1 tháng 5 tại Hà Nội. RFA photo
Băng rôn cho ngày 30 tháng 4 và 1 tháng 5 tại Hà Nội. RFA photo Băng rôn cho ngày 30 tháng 4 và 1 tháng 5 tại Hà Nội. RFA photo

Ba mươi chín năm là khoảng thời gian dài đủ để Việt Nam có thể tái thiết, khôi phục đất nước, phát triển phồn vinh ngang hàng với các nước Nam Hàn, Thái Lan, Đài Loan, Singapore sau chiến tranh. Nhưng dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN, đất nước vẫn trong tình trạng chậm tiến, suy thoái kinh tế mặc dù đã vắt cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nhà nước cũng đã thâm lạm, lãng phí vô số viện trợ nhân đạo, kinh tế của nước ngoài, chưa kể mấy trăm tỷ đô la kiều hối từ cộng đồng người Việt ở ngoài nước gửi về nước trong bốn thập niên qua.

Sự tham nhũng, lãng phí trong đầu tư công vẫn tung hoành gây nhức nhối cho toàn xã hội, làm nóng trên diễn đàn Quốc hội và căn bệnh ấy như trở thành thứ bệnh nan y bất trị. Hậu quả là sự nghèo khó cùng với món nợ quốc gia khổng lồ mà "dân chịu" như lời chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phát biểu. Theo ước tính của các chuyên gia, nợ công của Việt Nam đang ở mức trên 80,070 tỷ USD; bình quân nợ công theo đầu người là 886,36 USD (gần 20 triệu VND/người. Vẫn còn bỏ ngõ một nền công nghiệp hóa dang dở, đang trên đà phá sản. Việt Nam phải nhập siêu các trang thiết bị, nguyên vật liệu trong công nghệ lắp ráp ô tô và trong ngành xây dựng từ các nhà thầu nước ngoài nên tỉ lệ nội địa hóa rất thấp; trong khi đó Cam-Pu-Chia đã qua mặt Việt Nam trong ngành sản xuất ô tô và cho ra đời dòng sản phẩm AngKor EV 2014 khiến các tiến sĩ giấy của VN phải ngượng ngùng

Dậm chân tại chỗ?

Cùng lúc đó, đến hôm nay nền giáo dục vẫn phải còn loay hoay trong nhu cầu cải cách hầu như toàn bộ với số tiền 34.000 tỷ đồng khiến mọi người dân nghe phải giật mình. Việt Nam có con số hơn 24 ngàn tiến sĩ (đông bậc nhất thế giới) nhưng lại là nước nghèo đội sổ trên thế giới. Những phát minh khoa học, những tác phẩm văn học lớn cũng rất ít có trên đăng ký bản quyền trong nước và quốc tế. Chất lượng đào tạo Đại học kém nên hầu hết các sinh viên thất nghiệp hay làm việc trái ngành chuyên môn. Đáng ưu tư nhất là ngành y tế, với vô số đề tài sôi nổi trên mặt báo, truyền thông trong suốt thời gian qua, đặc biệt là trong tháng tư này. Nạn dịch sởi đã lan tràn trên khắp cả nước cướp đi 118 sinh mạng trẻ em và gây quá tải trong các bệnh viện nhi trung ương ở Sàigòn, Hà Nội cũng chỉ vì một thứ văc-xin. Vì muốn giấu nhẹm những yếu kém, tắc trách trong ngành y tế mà bà bộ trưởng Tiến không dám công bố dịch và ngăn cấm các phóng viên nhà báo vào bệnh viện tác nghiệp.

Song song với những vấn nạn xã hội quốc nội là ngoài biên ải là sự hiểm họa đe dọa xâm lăng của Trung Quốc. Biển đảo, lãnh hải đang nguy cơ mất dần vào tay của "người bạn láng giềng 4 tốt –16 chữ vàng" bởi sự dung túng yếu hèn của đảng cầm quyền. Những dự án lớn trong ngành khai thác xây dựng là những nhịp cầu để đưa người và hàng hóa Trung Quốc vào sâu trong lãnh thổ VN một cách hợp pháp. Từ Cà Mau, Tây Nguyên, Miền Trung (Vũng Áng), Đà Nẳng đến Quảng Ninh đi đâu cũng gặp người Tàu cùng với những khu phố mang bảng hiệu chữ Tàu như một điềm báo nguy cơ cho cả dân tộc.

Lịch sử dựng nước và giữ nước là khoảng dài thời gian trước và sau công nguyên gần 4 ngàn năm, chứa đựng biết bao nhiêu công lao của các bậc tiền nhân anh hùng qua các triều đại của Việt Nam. Triều đại này suy vong, buộc phải nhường chỗ cho triều đại khác thay thế để nối tiếp sứ mạng bảo vệ và xây dựng tổ quốc. Ngày 30-4-1795 chỉ là một cái mốc lịch sử. Đảng CS cũng chỉ được xem như là một triều đại trong nhiều triều đại trước đây. Đảng CSVN không phải là tổ quốc VN. Vì vậy, không thể bắt buộc QĐND, CAND và ND phải trung thành với đảng CSVN. Công hay tội chỉ có lịch sử mới có quyền phán xét, và chắc chắn sẽ được phán xét công bằng trong một thời gian không xa.

Đảng CS VN cần dừng lại ngay hành động tung hô quá khứ để tự tôn vinh chính mình, và hãy nhìn vào thực trạng hiện tại của đất nước. Đảng CSVN có khả năng gây chiến tranh để chiến thắng miền Nam nhưng đã không chứng tỏ được khả năng xây dựng nên hòa bình trong lòng dân tộc, và ổn định, phát triển đất nước trong suốt bốn thập niên qua. Hãy nhìn kỹ những vấn nạn của đất nước để trả lại quyền lãnh đạo cho dân tộc.

Viết từ Gia Lai (VN) ngày 30-4

Hồng Trung

Hình ảnh thực chất đau thương của dân tộc Việt Nam sau ngày Quốc Hận 30/4/1975

Gài mìn đắp mô, dân chúng chết không ít khi xe cán phải.

Trẻ em ngoài Bắc bị lùa đi lính vào nam chiến đấu…

—và bị bắt trên đường Trường Sơn

Pháo kích giết trẻ em

Giết đồng bào vô tội

Cộng sản đi đến đâu dân bỏ chạy đến đó

Thực chất cuộc xâm lược miền nam như Lê Duẫn nói ta đánh Mỹ là đánh cho Trung quốc và Liên sô

Đến ngày nay cả thế giới đều biết đều biết mục đích của cuộc chiến tranh tương tàn này, cộng sản thực thi mục đích Vào Vơ Vét Về theo triết lý của các tổ phụ cộng sản Việt Nam là “Cái gì không có thì phải dùng bạo lực cách mạng để chiếm lấy.”

Cả nước bắt đầu tiên lên chủ nghĩa xả hội

Tất cả mọi di sản tốt đẹp của miền nam không liên quan gì đến chiến tranh cũng bị cộng sản hủy diệt, chẳng hạn việc đốt sách như thế này, cũng như bắt giam tất cả các nhà văn, nhà thơ, và giáo sư dậy học của miền nam Việt Nam. Có thể hiểu là tận diệt văn hóa, xóa bỏ đi tất cả nhũng gì tốt đẹp của miền nam  không cho dân miền bắc thấy, nghe, biết về miền nam vốn trù phú, sung túc, và tự do dân chủ gấp triệu lần miền bắc.

Gái thì làm đĩ hay bán sang các nước Á châu làm vợ

Người già được tự do buôn bán như thế này…Còn trẻ em không được đến trường và phải đi lao động để kiếm sống

Thậm chí đi ăn xin dưới bảng hiệu mừng đảng quang vinh

Cả cái căn nhà nghèo nàn rách nát này cũng được khuyến khích treo bảng hiệu ca ngợi đảng ta quang vinh muôn năm

Trước năm 1975, Nam Hàn còn thua xa miền nam Việt Nam, nay họ xuất cảng hàng ngàn chiếc xe hơi và hàng triệu điện thoại Samsung sang Việt Nam…

…còn Việt Nam xã nghĩa ta đâu có chịu thua, cũng xuất cảng hàng chục ngàn culi sang Nam Hàn hay các quốc gia khác

Dân quê khổ như thế này

Dân chúng bị cướp đấy đai để dâng đảng mừng công, chống cự thì bị công an hành hạ đánh đập

Còn quan thì được hậu đãi ban cho mọi bổng lộc, hình ảnh cõng quan đi họp này đã nói lên tất cả.

Có thể kết luận hành trình đảng ta nhuộm đỏ cả nước để tiến lên xã hội chủ nghĩa, đưa đến cái kết hiện thực ngày nay như hai tấm ảnh dưới đây

Campuchia vốn là là một nước cộng sản mà chính thủ tướng Hun Sen do cộng sản Việt Nam dựng nên, họ biết khéo léo chuyển sang chế độ quân chủ đại nghị, và đã sản xuất được chiếc xe hơi mang bảng hiệu Angkor EV từ năm 2014. Còn nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ta được lãnh đạo tự xưng đỉnh cao trí tuệ loài người có trên  24,000 tiến sĩ, nhiều hơn cả Nhật Bản, nhưng không làm ra được những chiếc đinh vít xe hơi như dưới đây

Để rồi cuối cùng Việt Nam “anh hùng đã đánh thắng hai đế quốc” có thể đang trên đường trở thành một tỉnh của mẫu quốc, tức là ngôi sao thứ 5 trên lá cờ của Trung cộng mà đảng ta đã lộ liễu trưng ra trong ngày đón tiếp ông cố nội Tập Cận Bình 

        
                                                                                    Sưu tầm trên net


Viết cho ngày 30/4: nỗi đau nào lớn hơn?
Nguyễn Vũ Bình,từ Hà Nội
Một người đi xe đạp qua panô đánh dấu kỷ niệm lần thứ 40 ngày Sài Gòn sụp đổ. Ảnh chụp ngày 11/4/1975 tại TPHCM. 
Một người đi xe đạp qua panô đánh dấu kỷ niệm lần thứ 40 ngày Sài Gòn sụp đổ. Ảnh chụp ngày 11/4/1975 tại TPHCM.
 AFP photo
Hàng năm, cứ đến ngày 30/4 là nhà cầm quyền Việt Nam lại tổ chức kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước bằng các lễ mít tinh, diễu hành, diễu binh, duyệt binh. Đối với đồng bào người Việt hải ngoại, và rất nhiều đồng bào miền Nam ở trong nước, đây là ngày quốc hận, là nỗi đau chưa hề nguôi ngoai.

Người ta đã nói nhiều tới nỗi đau của người dân miền Nam sau biến cố 30/4/1975 này, và đó là những sự thật hiển nhiên. Một quốc gia (Việt Nam Cộng Hòa), với chính nghĩa sáng ngời, tinh thần nhân bản đã bị cưỡng chiếm một cách đau đớn, tức tưởi. Từ sự kiện này, hàng triệu quân, dân, cán, chính của Việt Nam Cộng Hòa đã phải vào các trại cải tạo, lao tù. Hàng chục vạn người đã phải bỏ nước ra đi, vượt biên vì không thể sống nổi trên quê hương. Hàng chục ngàn người đã nằm trong bụng cá và dưới đáy biển sâu…đó là số phận, là nỗi đau của bên thua cuộc.

Tuy nhiên, ngoại trừ sự thất bại của cuộc chiến tranh (có nguyên nhân quan trọng từ việc đồng minh Mỹ bỏ rơi) mà người dân miền Nam ít nhiều có trách nhiệm, thì những nỗi đau khác, sự thống khổ, bi ai của người dân miền Nam là kết quả của những chính sách thâm độc, hiểm ác và tàn bạo của chế độ cộng sản

Nhưng ngày 30/4 cũng chính là bước ngoặt và đưa tới một nỗi đau tột cùng cho bên thắng cuộc, cho những người được mệnh danh giải phóng người khác. Rất ít người nhận ra nỗi đau âm ỉ, dồn nén và không nói lên được của hầu hết những người thắng trận năm xưa, của những thế hệ dấn thân cho đất nước, cho dân tộc luôn nghĩ mình có chính nghĩa và lý tưởng nhưng cuối cùng lại không phải như vậy.

Nỗi đau của bên thắng cuộc là nỗi đau từ từ, âm ỉ. Nó lớn lên cùng với nhận thức của chính những người trong cuộc, từ sự so sánh giữa lý tưởng và hiện thực, giữa lời nói và việc làm. Sau 30/4/75, đất nước sạch bóng quân thù, cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội….một sự vỡ mộng, bẽ bàng khủng khiếp từ từ xâm lấn tâm hồn bên thắng cuộc. Với độ lùi 40 năm sau ngày 30/4 đó, tất cả đã hiển hiện, bức tranh toàn cảnh của Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng cộng sản: Sự toàn vẹn lãnh thổ không còn, đất đai, hải đảo, lãnh hải bị mất và xâm phạm nghiêm trọng; nợ gấp đôi GDP và không có khả năng thanh toán; đạo đức, nền tảng xã hội bị băng hoại và phá hủy hoàn toàn; sự dồn nén cùng cực của tất cả mọi tầng lớp nhân dân…đây phải chăng là kết quả của niềm vui chiến thắng?

Chưa hết, nỗi đau còn nhân lên gấp bội khi sự rộng mở của hệ thống Internet toàn cầu đưa tới những sự thật kinh khủng: Hồ Chí Minh bán Phan Bội Châu cho Pháp để lấy 10 vạn quan tiền; kế hoạch sửa sai có trước khi Cải cách ruộng đất diễn ra (sách Từ Thực dân tới Cộng sản – tác giả Hoàng Văn Chí)…tất cả những sự thật khủng khiếp đó được hé lộ đã khẳng định một điều.

Hóa ra, có một sự thật có hệ thống từ khi đảng cộng sản xuất hiện đã chi phối và không chế hoàn toàn dòng chảy của lịch sử Việt Nam. Sự thật này khởi nguồn từ việc cướp chính quyền, tiêu diệt toàn bộ các đảng phái không phải cộng sản; tạo ra cuộc Cải cách ruộng đất long trời lở đất; cải tạo công thương nghiệp miền Bắc; Nhân văn Giai phẩm; cưỡng chiếm miền Nam; đày đọa hàng triệu quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa; cải tạo công thương nghiệp miền Nam; hai lần đổi tiền để cướp của người dân; cướp đất đai của người dân tạo ra hàng triệu dân oan trên cả nước (thời kỳ đổi mới); đàn áp mọi tôn giáo, sắc tộc….một sự liệt kê chưa đầy đủ này đã làm câm họng tất cả những kẻ nói rằng chủ trương đường lối là đúng, thực hiện sai; bản chất là đúng, là tốt nhưng quá trình thực hiện có sai lầm; thế hệ trước là đúng, là tốt, sau này mới tha hóa, xấu xa…

Những sự thật này đã đẩy bên thắng cuộc tới tận cùng của nỗi đau: cả cuộc đời, cả sự nghiệp của họ là vứt đi, thậm chí có tội với dân tộc, với đất nước. Còn nỗi đau nào lớn hơn khi ngay từ những năm 14-15 tuổi làm liên lạc viên cho Việt Minh, cả cuộc đời cống hiến, lên tới chức vụ trưởng, thứ trưởng, bộ trưởng…khi đã về hưu, khi sự thật được phơi bày mới biết rằng mình đã bị lừa, những điều mình làm không hề đem lại điều tốt đẹp cho nhân dân, đất nước mà còn góp phần gây ra thảm họa cho dân tộc, cho nhân dân, cho đất nước.

Vậy thì, nỗi đau nào lớn hơn?

Hà Nội, ngày tưởng niệm tang thương dân tộc  Sưu tầm trên net

Toàn văn Tuyên bố chung Thượng đỉnh liên Triều ngày 27.4.2018
https://baomai.blogspot.com/

Kim Jong-un đọc diễn văn cam kết hòa bình với Hàn Quốc: Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in và lãnh tụ Triều Tiên Kim Jong Un nắm tay nhau đưa lên cao sau khi ký Tuyên bố chung Thượng đỉnh liên Triều ngày 27/4/2018 tại Bản Môn Ðiếm ở khu phi quân sự chia cắt hai miền Nam-Bắc Triều Tiên.

Trong thời khắc chuyển giao lịch sử quan trọng trên bán đảo Triều Tiên, phản ánh khát vọng lâu dài về hòa bình, thịnh vượng và thống nhất của người dân Triều Tiên, Tổng thống Cộng hoà Triều Tiên (Nam Triều Tiên) Moon Jae-in và Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) Kim Jong Un đã họp Thượng đỉnh liên Triều tại Nhà Hòa Bình ở Bản Môn Ðiếm ngày 27/4/2018.

Hai nhà lãnh đạo trịnh trọng tuyên bố trước 80 triệu người dân [hai miền] Triều Tiên và toàn thế giới rằng sẽ không còn chiến tranh trên Bán đảo Triều Tiên và một kỷ nguyên hòa bình mới đã bắt đầu.

Image result for Kim Jong Un và Moon Jae In trồng cây sồi

Ông Kim Jong Un và Moon Jae In 'trồng' cây thông “Hòa Bình” 65 tuổi*

Lãnh đạo hai nước, chia sẻ cam kết chắc chắn sẽ sớm chấm dứt chia rẽ và đối đầu lâu nay từ thời Chiến tranh Lạnh, quyết tâm hướng tới kỷ nguyên mới về hòa giải dân tộc, hòa bình và thịnh vượng, cải thiện quan hệ liên Triều và tuyên bố tại địa điểm lịch sử Bản Môn Ðiếm:

1.- Nam và Bắc Triều Tiên sẽ nối lại quan hệ huyết thống của người dân hai nước nhằm đem lại tương lai thịnh vượng và thống nhất do người dân Triều Tiên lãnh đạo bằng việc tạo dựng mối quan hệ liên Triều toàn diện và đột phá. Cải thiện quan hệ liên Triều nhằm đáp ứng khao khát của toàn dân tộc và sự cấp thiết của thời đại khiến cho mối quan hệ này không thể tiếp tục bị kìềm chế hơn nữa.

https://baomai.blogspot.com/ 

(1) Nam và Bắc Triều Tiên khẳng định nguyên tắc tự quyết định vận mệnh của dân tộc Triều Tiên và đồng ý thúc đẩy thời khắc quyết định để cải thiện quan hệ liên Triều bằng cách thực thi đầy đủ các thỏa thuận và tuyên bố hiện có mà hai nước đã thông qua.

(2) Nam và Bắc Triều Tiên đồng ý sẽ tiến hành đối thoại và đàm phán cấp cao trong nhiều lĩnh vực và thực thi những biện pháp tích cực để đạt được các thỏa thuận đạt được tại Thượng đỉnh.

(3) Nam và Bắc Triều Tiên đồng ý thiết lập một văn phòng tùy viên chung với đại diện thường trú của cả hai bên đặt tại Gaeseong để có thể cung cấp tham vấn xác thực giữa hai chính phủ cũng như thúc đẩy trao đổi và hợp tác giữa nhân dân hai nước.

(4) Nam và Bắc và Triều Tiên đồng ý khuyến khích hợp tác, trao đổi, thăm hỏi và liên lạc ở tất cả các cấp một cách tích cực hơn nhằm hồi sinh tinh thần hòa giải và đoàn kết dân tộc. Ở Triều Tiên, hai bên sẽ khuyến khích bầu không khí hòa bình và hợp tác bằng cách tổ chức các sự kiện chung của cả hai nước, như ngày 15/6 với sự tham gia của chính phủ, quốc hội, các đảng phái chính trị và các tổ chức dân sự. Trên bình diện quốc tế, hai bên nhất trí thể hiện sự đoàn kết, trí tuệ và tài năng chung bằng cách cùng tham gia vào các sự kiện thể thao quốc tế như Đại hội thể thao châu Á 2018.

(5) Nam và Bắc Triều Tiên đồng ý nhanh chóng giải quyết các vấn đề nhân đạo do việc chia đôi đất nước gây ra và sẽ tổ chức cuộc họp Hội Chữ thập Đỏ liên Triều để giải quyết nhiều vấn đề, bao gồm việc đoàn tụ các gia đình ly tán. Trên tinh thần đó, hai bên đồng ý đẩy mạnh chương trình đoàn tụ các gia đình ly tán nhân dịp đánh dấu Ngày Giải phóng Dân tộc 15/8 năm nay.

(6) Nam và Bắc Triều Tiên đồng ý tích cực tham gia các dự án mà hai bên đã ký kết trong Tuyên bố ngày 4/10/2007, để thúc đẩy sự cân bằng về phát triển kinh tế và thịnh vượng chung cho dân tộc. Bước đầu, hai bên đồng ý tiến hành các bước đi thiết thực hướng tới việc nối kết và hiện đại hóa các tuyến đường bộ và đường sắt dọc theo hành lang vận tải phía Đông và giữa Seoul và Sinuiji.

2.- Nam và Bắc Triều Tiên sẽ cùng nỗ lực hạ giảm căng thẳng quân sự và loại trừ nguy cơ chiến tranh trên Bán đảo Triều Tiên.

https://baomai.blogspot.com/ 

(1) Nam và Bắc Triều Tiên đồng ý chấm dứt mọi hành động thù địch trên bộ, trên không và trên biển – là những nguyên nhân gây căng thẳng quân sự và dẫn đến xung đột. Trên tinh thần đó, cả hai bên đồng ý biến khu phi quân sự [DMZ] thành khu hòa bình bằng một quyết tâm thực sự bắt đầu bằng việc chấm dứt mọi hành động thù địch, bao gồm việc chấm dứt phát thanh tuyên truyền, rải truyền đơn tại khu vực dọc theo Đường Phân giới Quân sự, bắt đầu từ ngày 1/5.

(2) Nam và Bắc Triều Tiên đồng ý lập kế hoạch biến khu vực xung quanh Đường Biên giới phía Bắc ở Biển Tây thành vùng biển hòa bình để tránh nguy cơ va chạm quân sự ngoài mong muốn và đảm bảo an toàn cho hoạt động đánh bắt cá của ngư dân của cả hai miền.

(3) Nam và Bắc Triều Tiên đồng ý xúc tiến các biện pháp quân sự để đảm bảo việc liên lạc, thăm hỏi, trao đổi và hợp tác diễn ra tích cực. Hai bên đồng ý tiến hành các cuộc gặp thường xuyên giữa giới chức quân đội hai nước, bao gồm các cuộc họp Bộ trưởng Quốc phòng để có thể đối thoại và giải quyết ngay lập tức các vấn đề về quân sự giữa hai bên. Trên tinh thần đó, hai bên đồng ý tiến hành các cuộc đối thoại quân sự đầu tiên ở cấp tướng lãnh vào tháng 5.

3.- Nam và Bắc Triều Tiên sẽ tích cực hợp tác để thiết lập một nền hòa bình lâu dài và bền vững trên bán đảo Triều Tiên. Việc chấm dứt tình trạng đình chiến bất thường hiện nay và thiết lập một nền hòa bình lâu dài trên bán đảo Triều Tiên là một sứ mệnh lịch sử không thể trì hoãn hơn nữa.

https://baomai.blogspot.com/

Kim Jong-un trở thành lãnh đạo Bắc Hàn đầu tiên từ 1953 bước qua lằn ranh để vào Hàn Quốc

(1) Nam và Bắc Triều Tiên tái khẳng định Hiệp ước không có những hành động thù địch nhằm ngăn chặn việc sử dụng vũ lực dưới bất kỳ hình thức nào và đồng ý tuân thủ chặt chẽ hiệp ước này.

(2) Nam và Bắc Triều Tiên đồng ý giải trừ vũ khí theo từng đợt ngay khi căng thẳng quân sự hạ giảm và tạo được những bước tiến vững chắc trong việc tạo dựng niềm tin quân sự giữa hai bên.

(3) Vào dịp đánh dấu 65 năm Hiệp ước đình chiến, Nam và Bắc Triều Tiên đồng ý thúc đẩy các cuộc gặp ba bên, gồm hai miền Triều Tiên và Mỹ, và có thể là cuộc họp bốn bên bao gồm cả Trung Quốc để đi đến tuyên bố chấm dứt chiến tranh, thiết lập một nền hòa bình vĩnh viễn.

(4) Nam và Bắc Triều Tiên xác nhận mục tiêu chung là phi hạt nhân hóa hoàn toàn, tiến tới một bán đảo Triều Tiên không có hạt nhân. Nam và Bắc Triều Tiên chia sẻ quan điểm rằng, các biện pháp do Bắc Triều Tiên khởi xướng rất có ý nghĩa và thiết yếu cho việc phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên, đồng ý thực thi vai trò và trách nhiệm của mỗi bên trong vấn đề này. Nam và Bắc Triều Tiên đồng ý tích cực mưu tìm sự ủng hộ và hợp tác của cộng đồng quốc tế vì mục tiêu phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên.

Hai nhà lãnh đạo đồng ý, thông qua các cuộc họp thường xuyên, các cuộc điện đàm trực tiếp, sẽ tiến hành các cuộc đối thoại thường xuyên và thẳng thắn về những vấn đề quan trọng của dân tộc, củng cố lòng tin lẫn nhau để tạo dựng động lực tích cực cho quan hệ liên Triều nhằm đem lại hòa bình, thịnh vượng và thống nhất trên bán đảo Triều Tiên.

Trên tinh thần đó, Tổng thống Moon Jae-in đồng ý đi thăm Bình Nhưỡng vào mùa thu năm nay.

Ngày 27 tháng 4, 2018

Tại Bản Môn Ðiếm

 

Kim Jong Un

Nhà lãnh đạo CHDCND Triều Tiên

 

Moon Jae-in

Tổng thống Hàn Quốc

Cậu Ủn: một trường hợp “đột biến” ngoạn mục?

Nguyễn Thị Cỏ May (Danlambao) - Gọi Chủ tịch Kim Jong-un là cậu Ủn để thấy sự trưởng thành, sự vĩ đại thật sự của cậu như người mang hia 7 dặm cất bước trên đường lập nghiệp. Sau khi gặp Tập Cận Bình, lãnh tụ cường quốc thứ II, cậu Ủn xuống khu phi quân sự bắt tay Tổng thống Nam Hàn nói chuyện về tương lai thống nhất đất nước và sẽ bắt tay, nói chuyện tay đôi với Tổng thống Donnald Trump về quan hệ giữa 2 nước, Nam-Bắc Hàn, tình hình khu vực và thế giới. Mọi chuyện xảy ra trong khoảng thời gian rất ngắn trong lúc sự căng thẳng với Nam Hàn và Hoa Kỳ tưởng như không bao giờ kết thúc nếu không có chiến tranh bùng nổ.

Nhưng ngày mai sẽ như thế nào, phải chờ coi. Hiện tại rất đáng làm cho mọi người cảm thấy nhẹ nhỏm và quan tâm theo dõi. Và vị thế lãnh tụ của cậu cũng qua thời gian ngắn này được cả thế giới hùng hồn xác định.

Nhìn lại 2 nước Nam, Bắc Hàn 

Xa xưa, Triều Tiên là một nước gồm 3 vương quốc, thường bị 2 nước lớn láng giềng Tàu và Mông Cổ thay phiên nhau xâm lăng thôn tính trong suốt thời gian dài. Nhưng cũng có lúc, Triều Tiên độc lập cho tới giữa thế kỷ XIII, bị Mông Cổ xâm chiếm lần nữa cho tới giữa thế kỷ XIV mới lấy lại nền độc lập. Từ đấy tới thế kỷ XVII, Triều Tiên độc lập và thống nhất. Sau đó, Tàu xâm chiếm, cai trị cho tới cuối thế kỷ XIX. 

Tàu và Nhật đánh nhau, Nhật thắng, giải thoát Triều Tiên khỏi chế độ Tàu nhưng lại trở thành một thứ "đồng minh" phụ thuộc Nhật. Nhưng khi Thế chiến II kết thúc, Triều Tiên bị chia đôi, miền Bắc được sự hỗ trợ của Tàu, Nga và miền Nam là đồng minh của Hoa Kỳ. 

Từ đó sự thống nhất 2 nước Bắc Hàn và Nam Hàn trở thành một viễn ảnh xa vời. Cũng như nước Đức, cùng hoàn cảnh, nếu thống nhất, thì sẽ bao giờ và trong những điều kiện nào? 

Nhưng năm 1950, chiến tranh xảy ra ở Triều Tiên mà không ở Đức. Phải chăng vì Triều Tiên là một nước thống nhất nhuần nhuyễn gồm nhiều vương quốc, nhiều thành phố, còn Đức, trước năm 1871, chưa bao giờ thật sự là một nước thống nhất? 

Tuy nhiên những xung đột giữa hai miền vẫn được giới hạn nên đã chưa bìến thành một thế chiến. Điều đáng để ý là sự xung đột đó xảy ra dễ dàng và khá hung hăng là do Bắc Hàn đề xuất. Cũng như trường hợp Việt Nam từ sau năm 1954, Bắc Việt vừa tạm yên vụ cải cách ruộng đất thì lập tức chuẩn bị đem chiến tranh vào Việt Nam Cộng Hoà. Hồ Chí Minh tuyên bố đốt hết cả dải Trường Sơn đề chìếm lấy Miền Nam cũng làm, không ngần ngại. Làm để phục vụ quyền lợi Quốc tế cộng sản! 

Cũng giống như Triều Tiên, Việt Nam là một nước thống nhất xuyên suốt tứ Bắc vào Nam. Dân tộc là một, tiếng nói là một và văn hóa là một. Chiến tranh xảy ra hung hản chỉ vì Hồ Chí Minh làm nghĩa vụ cộng sản hóa miền Nam cho Staline và Mao, tàn sát những người ái quốc không cộng sản, gây thiệt hại dân chúng cả mươi triệu người. 

Bắc Việt Nam và Bắc Triều Tiên, trên đại thể giống nhau là một nước độc tài cộng sản. Đặc biệt cho trường hợp Việt Nam, người dân gọi nhau là “đồng bào”, tức cùng ruột thịt và cả trên tiểu tiết cũng giống nhau là cùng say đắm cái "rất nhỏ khác nhau" mà cả hai cùng mê muội tôn thờ. Đó là chủ nghĩa cộng sản. Bỏ nó là họ thật sự không còn gì cả, không còn chính mình nữa. Nên phải chết sống cho “cái khác nhau bé nhỏ” này mà không ngần ngại đẩy người dân lao vào cuộc chiến làm cho đồng bào chém giết nhau mà hoàn toàn không vì quyền lợi đất nước dân tộc (Le narcissisme de la petite différence de Freud - mê muội cái dị biệc nhỏ). 

Triều Tiên sẽ tái thống nhất? 

Theo dõi cuộc gặp gỡ giữa hai nhà lãnh đạo Triều Tiên, ai cũng nhận thấy thái độ của cậu Ủn tỏ ra thành thật khi nói về phi hạt nhân hóa hoàn toàn bán đảo, tái lập hòa bình và tái thống nhất đất nước. Dĩ nhiên về phía Nam Hàn, Tổng thống Moon Jae-in đã tỏ ra thiết tha về thống nhất đất nước từ lâu. Cái khao khát này ở ông dễ hiểu vì ông là người miền Bắc. Nay lớn tuổi nên nỗi nhớ quê hương ngày càng thêm thôi thúc ở ông. 

Cuộc gặp gỡ thượng đỉnh đã mở ra một trang sử mới giữa hai miền Nam-Bắc là điều mà trước đây chỉ vài tháng không ai dám nghĩ tới. Hai nhà lãnh đạo, trong thông cáo chung, đã cùng xác nhận mục tiêu chung là cùng thực hiện hòa bình, chấm dứt sự chia cắt đất nước và sự hiềm khích đã kéo dài hơn sáu thập niên qua. 

Nhà lãnh đạo trẻ hứa là không tái diễn một quá khứ bất hạnh cho đất nước. Cậu Ủn nói rõ "Tôi đến đây để chấm dứt thứ lịch sử tranh chấp mà không vì quyền lợi thật sự của đất nước." 

Kim Jong-un và Moon Jae-in cùng đưa cao cái bắt tay, một cử chỉ vô cùng biểu tượng ở ngay đường phi quân sự chia đôi bán đảo Triều Tiên. 

Khi ông Moon Jae-in tuyên bố với nụ cười mản nguyện "Tôi sung sướng được hội kìến với bạn" trong lúc đó, cậu Ủn vượt qua đường phân chia Nam-Bắc bằng bê-tông và cậu là người đầu tiên đặt chơn lên lãnh thổ Nam Hàn từ sau chiến tranh Triều Tiên. 

Theo lời mời của cậu Ủn, hai nhà lãnh đạo cùng đi vài bước tượng trưng dọc theo đường phân ranh, bên lãnh thổ Bắc Hàn để rồi cùng tới tòa nhà Hòa Bình ở Bàng-Môn Điếm, nơi trước kia đã ký hiệp ước đình chiến. 

Cuộc hội kiến giữa hai nhà lãnh đạo Nam-Bắc minh họa thêm cụ thể sự thư giản khi cậu Ủn loan báo Bắc Hàn sẽ tham dự Thế Vận hội mùa đông tổ chức vừa rồi ở Nam Hàn. Lời tuyên bố của cậu đã gây ngạc nhiên cả thế giới. 

Lên ngôi năm 2011 nối nghiệp cha, Kim Jong-un quyết tâm dồn nỗ lực thực hiện chương trình chế tạo hỏa tiển tầm xa và hạt nhân hóa Bắc Hàn. Nhưng theo sử gia chuyên về Bắc Hàn, bà Juliette Morillot, khi nói “phi hạt nhân hóa bán đảo”, đó chỉ mới là một khái niệm còn rất mơ hồ. 

Cũng như bản thỏa hiệp giữa hai ông Kim và Moon về vấn đề võ khí cũng rất vắn tắt. Có thể Kim muốn đưa ông Trump vào thế phải thảo luận vấn đề võ khí hạt nhân ở bán đảo này chăng? 

Nhưng thực tế ngày nay, ai cũng phải thừa nhận Bắc Hàn đã đạt được địa vị một nước có vũ khí nguyên tử có thể giúp Bắc Hàn làm giảm đi phần nào những áp lực từ phía Trung cộng và đồng thời tạo cho Bắc Hàn tư thế mới để nói chuyện với Hoa Kỳ. Ở vị thế mới này, Kim Jong-un đã chủ động đưa ý kiến tham dự Thế vận hội mùa đông tổ chức ở Nam Hàn, tuyên bố sẵn sàng gặp ông Trump, thực hiện phi hạt nhân hóa, mời các nước tới quan sát. Một bước đi mới vô cùng ngoạn mục trong ngoại giao của một nước nhỏ. 

Từ đây, Bắc Hàn sẽ lo phát triển kinh tề để phát triển đất nước, cải thiện đời sống dân chúng. 

Hai mươi bảy năm trước đây, phân nửa nước Đức đã từ bỏ cộng sản, sáp nhập qua Tây Đức để trở thành một nước Đức thống nhất theo chế độ Dân chủ Tự do của thế giới văn minh. Tiến trình giải thể cộng sản và thống nhất thật ôn hòa, tốt đẹp tuy Đức, trong lịch sử đã không có được điều kiện nhân văn như Triều Tiên hay Việt Nam. 

Mai này, nếu Bắc-Nam Hàn thống nhất theo mô hình nước Đức, Triều Tiên cũng sẽ trở thành một nước mạnh về quân sự, bạo về kinh tế, không còn e dè nước lớn Trung cộng luôn luôn muốn kiềm chế Bắc Hàn dưới trướng của mình phải làm tiền đồn giữ an ninh, đồng thời còn từng bước độc lập với Hoa Kỳ. Trong trường hợp chưa thống nhất được, hai nước ký kết hợp tác quân sự, Nam Hàn giúp phát triển kinh tế, Bắc Hàn bảo vệ lảnh thổ chung thì cũng thoát khỏi ảnh hưởng của Trung cộng. Mà cậu Ủn có thật tình ứng sử như tuyên bố hay không? Nhưng tới đây cũng đủ cho mọi người đánh giá cậu Ủn là một thanh niên đầy bản lãnh. Có "đột biến" thì đó cũng là thứ "đột biến" cực kỳ thông minh. 

Việt Nam có điều kiện thoát Trung cộng, độc lập và phát triển hay không? 

Thưa có. Việt Nam ngày nay có điều kiện, tuy không được tốt đẹp như Đức hay hai nước Nam-Bắc Hàn. Đông Đức có Tây Đức, Bắc Hàn có Nam Hàn, đều là 2 nước biệc lập, độc lập và phát triển. Việt Nam có cộng đồng Việt Nam Hải ngoại, với hơn 3 trìệu người, GDP cao, trình độ khoa học kỹ thuật ngang hàng với người Mỹ và Âu châu. Ở Âu châu và nhất là Mỹ, người Việt bắt đầu có chân đứng trong chính phủ và quân đội. Vị thế này tuy không đủ mang tính quyết định nhưng có khả năng giúp người Việt vận động gây ảnh hưởng tốt cho quyền lợi Việt Nam khi cần cho việc quan trọng và chính đáng. 

Giờ đây chỉ còn vấn đề là nhà cầm quyền CSVN có đủ can đảm và sáng suốt dám lấy quyết định dựa vào cái thế của cộng đồng Việt Nam Hải ngoại mà cởi cái vòng kim cô Bắc Kinh ném vào thùng rác lịch sử, thật sự trở về với toàn dân hay không? 

Trước giờ, Hà Nội thay vì có cái nhìn lớn, lại chỉ thấy Việt Nam Hải ngoại là nguồn lợi để tìm cách rút rỉa. Không được thì quậy phá. Đúng là hành động của kẻ tiểu nhân. Mà lại là thứ tiểu nhân cộng sản! 

Đại họa của Việt Nam ngày nay thật sự bắt nguồn từ cái ngày hắc ám 19/8 và 2/9 và sự xuất hiện tên Hồ Chí Minh. Từ đó, Việt Nam chỉ có kẻ cầm quyền biết vâng lời, không có kẻ lãnh đạo đất nước. Một đất nước không có lãnh đạo thì chỉ có lạc hậu và lệ thuộc vì giới cầm quyền chỉ biết yêu mù quáng “cái bé nhỏ khác hơn” mà thôi! 

11.05.2018



Bản tin tối ngày 6/5/2018 | VTC1 - YouTube

https://www.youtube.com/watch?v=RgfpXcLYpKM
11 hours ago - Uploaded by VTC1 - Tin tức
VTC1 | Bản tin tối ngày 6/5/2018, phát sóng lúc 19h00 trên VTC1 có những tinđáng chú ý: - Cuộc sống tạm bợ của .

Từ sự kiện Bàn Môn Điếm nghĩ về Việt Nam - YouTube

https://www.youtube.com/watch?v=r-aAtSlGzV0
2 days ago - Uploaded by Tieng DanViet Media
Tướng Phan Hữu Tuấn có giúp Vũ 'Nhôm' đào tẩu khỏi Việt Nam? - Duration: 20:23. 

Phim tài liệu||Kỷ niệm chiến thắng 30-4-1975 - YouTube

https://www.youtube.com/watch?v=RApUbJNfBpA
Apr 28, 2015 - Uploaded by Arsenal VN fan
Bộ phim tài liệu kỷ niểm  năm đại thắng , thống nhất đất nước.Tổ quốc miền Bắc chúng ta đánh giết hàng triêu dân quân miền Nam đưa đến thông nhất vinh quang hơn Triều Tiên vạn lần
Video for ngày tang thương 30-4
https://www.youtube.com/watch?v=zS1n2sMVkjw
1 day ago - Uploaded by Nữ Tướng Dân Chủ TV
tôi chửi CS viet nam bán nước va người dan con thơ ơ với tổ quốc.

30/ Tháng Tư.Một Ngày Tang Thương Đầy Nước Mắt - YouTube

https://www.youtube.com/watch?v=KykeyV7ABK4
Jan 26, 2016 - Uploaded by le van thanh
Qua' khứ đau thuong của dân tộc VietNam vào ngày 30 tháng 4 1975 (tập 1) - Duration: 29:24. SBTN-Boston News ...

Nguyen Duy Tan - NGÀY TANG THƯƠNG 30/4/1975 Lm Gioan Nam ...

https://www.youtube.com/watch?v=UXCzfWRs7iI
May 2, 2017 - Uploaded by Jeffrey Thai
Nhà nước CSVN làm trái pháp luật và đạo lý khi cấm Linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong xuất cảnh 



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Chúc mừng Giáng Sinh [23.12.2017 21:04]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Bộ tư lệnh Cảnh sát Đức phát lệnh truy nã trung tướng công an CSVN Đường Minh Hưng [NEW]
phụ nữ Quảng Nam tự xích chân chống CS cướp đất [NEW]
Phụ nữ Quảng Nam tự xích chân chống CS cướp đất [NEW]
Ba Lan: ''''Một phụ nữ VN bị công an ném qua cửa sổ tử vong sau khi bắt'''' [NEW]
Giờ mới hiểu TQ, Tổng thống Trump: Ông Kim Jong-un đổi ý sau khi gặp Chủ tịch Tập Cận Bình [NEW]
Thảm họa mất nước - Đường 9 đoạn ''ăn vào 67 lô dầu khí VN'' [NEW]
Du Khách Trung Quốc tiểu tiện làm hàng nghìn cá chết- Du khách TQ qua VN ăn quịt nhà hàng còn hành hung
Biển Đông: Mỹ lên án Bắc Kinh cho oanh tạc cơ hạ cánh xuống Hoàng Sa trong khi VN im lặng- Nổ súng tại Mỹ chết 10 người
Báo động đỏ: Người mẫu ảnh khỏa thân tố họa sĩ body painting nổi tiếng hiếp dâm giữa thành phố mang tên Bác...
Nhờ chiến lược “Trung Quốc quyết tâm đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng” mà được vị trí đệ nhị siêu cường ngày nay
Study leaks China-Backed Dam in Cambodia Would Destroy Mekong on Vietnam side VC keeps it secret from people
Hãy Trả Lại Tên Cho Sài Gòn
Cướp của giết người từ Bắc tới Nam, thêm 2 hiệp sĩ bị đâm chết tại thành Hồ
Dâm đảng ấu dâm không bị tù thời đại HCM
Cán bộ CS ngày nay giàu lên bằng tham nhũng

     Đọc nhiều nhất 
Hồ Chí Minh có phải là Nguyễn Ái Quốc? [Đã đọc: 1122 lần]
Tượng Tần Thủy Hoàng bị quật ngã khiến Trung Quốc hoang mang lo sụp đổ đế quốc Tàu Cộng [Đã đọc: 1093 lần]
Hiện tượng Thích Chân Quang: Trung Quốc là anh, Việt Nam là em… em phải lễ phép với anh, Lý Thường Kiệt vô lễ [Đã đọc: 1029 lần]
Ỷ thế đảng viên CS phụ huynh bắt cô giáo có bầu quỳ xin lỗi: Môi trường giáo dục đang rất lộn xộn thời đại HCM! [Đã đọc: 985 lần]
Khoa học quân sự VN: Xe bọc thép Made in Vietnam bán đồng nát: Xót lòng… [Đã đọc: 980 lần]
Thủ tướng Canada, Tom Cruise lọt top 10 đẹp trai nhất hành tinh [Đã đọc: 976 lần]
Trung Quốc: Người Việt không được “chết nhanh” mà phải chết “từ từ”nhờ sự hợp tác của CSVN [Đã đọc: 952 lần]
Khủng bố Canada: Xe tông người đi bộ ở Toronto, 9 chết 15 trọng thương [Đã đọc: 907 lần]
VC TÀN PHÁ MÔI TRƯỜNG VN: HƠN 3 KM BIỂN ĐÀ NẴNG ĐỔI MÀU SẪM VÀ BỐC MÙI HÔI [Đã đọc: 897 lần]
Cháy nhà máy Đài Loan có nhiều lao động Việt Nam, 5 lính cứu hỏa hy sinh [Đã đọc: 873 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.