Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Năm 2019
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31    
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 5
 Lượt truy cập: 12947047

 
Văn hóa - Giải trí 22.05.2019 14:48
Vay tiền TQ giết đồng bào mang đên tai họa mất nước
18.12.2018 10:13

Nguồn gốc hiểm hoạ mất nước

Trần Gia Phụng (Danlambao)- Ngày nay, nói đến hiểm họa mất nước, ai cũng nghĩ là mất nước vào tay Trung Cộng. Nguồn gốc hiểm họa mất nước có thể từ hai giai đoạn:



1. Giai đoạn Hồ Chí Minh cầu viện

Vào cuối thế chiến thứ hai, Nhật tổ chức đảo chánh và lật đổ Pháp ở Đông Dương ngày 9-3-1945, trao trả độc lập lại cho Việt Nam. Vua Bảo Đại mời học giả Trần Trọng Kim lập chính phủ ngày 17-4-1945. Chính phủ Trần Trọng Kim là chính phủ hợp pháp, chính danh chuyển tiếp từ triều đình quân chủ với lục bộ, qua hình thức quân chủ lập hiến với nội các theo kiểu Tây phương, được nhà vua thừa nhận (de jure). 

Chính phủ Trần Trọng Kim chỉ cầm quyền được 5 tháng, nhưng làm được nhiều việc hữu ích lâu dài, như giải quyết nạn đói ở Bắc phần, hội nhập hai nền hành chánh triều đình Việt Nam với nền hành chánh Pháp thuộc, đặt nền móng cho nền giáo dục và tư pháp mới của Việt Nam…

Khi Nhật đầu hàng Đồng minh ngày 14-8-1945, thì Hồ Chí Minh (HCM) và đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) nổi lên cướp chính quyền, thành lập nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH). (“Cướp chính quyền” là từ ngữ của HCM trong các bài viết lúc đó.) (de facto).

Khi ra mắt ngày 2-9-1945, HCM hô to các lời thề rất mạnh mẽ, trong đó lới thề cuối cùng là: “Nếu Pháp đến xâm lăng lần nữa thì chúng tôi xin thề: không đi lính cho Pháp, không làm việc cho Pháp, không bán lương thực cho Pháp, không đưa đường cho Pháp.” (Tô Tử Hạ và nhiều tác giả, 60 năm chính phủ Việt Nam, Hà Nội: Nxb. Thông Tấn, 2005, tr. 26.) 

Tuy nhiên, khi Pháp trở lui tái chiếm Việt Nam, tổ quốc lâm nguy, thì HCM không chống Pháp, mà thỏa hiệp với Pháp bằng hai hiệp ước để được tiếp tục cầm quyền. Đó là thỏa ước Sơ bộ tại Hà Nội ngày 6-3-1946 và Tạm ước Modus Vivendi tại Paris ngày 14-9-1946.

Sau đó, Pháp đòi kiểm soát an ninh Hà Nội. Nếu Pháp nắm quyền kiểm soát an ninh Hà Nội, thì Pháp có thể bắt giam HCM và lãnh đạo CSVN. Đảng CS lâm nguy. Không lẽ tự nhiên bỏ chạy, HCM và đảng CS quyết định đánh Pháp tối 19-12-1946 để có lý do hợp lý trốn thoát khỏi Hà Nội, và dùng chiêu bài “kháng chiến chống Pháp giành độc lập”, kêu gọi toàn dân đứng lên tham gia khởi nghĩa. 

Đảng CSĐD yếu thế, thua chạy cho đến năm 1949. Gần cuối năm nầy, đảng CS Trung Hoa thành công, lập ra Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa hay Trung Cộng ngày 1-10-1949. (Ở đây dùng chữ “Trung Cộng” để phân biệt với Trung Hoa thời quân chủ và Trung Hoa Dân Quốc.)

Được tin nầy, HCM vội vã gởi liền hai đại diện là Lý Bích Sơn và Nguyễn Đức Thủy đến Bắc Kinh vào cuối tháng đó để xin viện trợ. (Qiang Zhai, China & Vietnam Wars, 1950-1975, The University of North Carolina Press, 2000, tt. 10-15.)

Được Trung Cộng đáp ứng thuận lợi, đích thân HCM qua Bắc Kinh cầu viện đầu năm 1950. Lúc đó, Mao Trạch Đông và Châu Ân Lai qua Liên Xô, Lưu Thiếu Kỳ xử lý thường vụ. Hồ Chí Minh làm kiểm điểm trước Lưu Thiếu Kỳ về những hoạt động của CSVN từ năm 1946. (Trần Đĩnh: Đèn cù, California: Người Việt Books, 2014, tr. 49.) .

Sau Bắc Kinh, HCM tiếp tục qua Mạc Tư Khoa. Lúc đó, Mao Trạch Đông cũng có mặt ở Mạc Tư Khoa để thương thuyết và chúc thọ Stalin 70 tuổi. Stalin ủy nhiệm cho Mao Trạch Đông phụ trách viện trợ cho đảng CSĐD. (Trương Quảng Hoa, “Quyết sách trọng đại Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp”, đăng trong Hồi ký những người trong cuộc, ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, Dương Danh Dy dịch, tạp chí Truyền Thông Montreal in lại, số 32-33, 2003, tr. 45.) Đồng thời Stalin ra lệnh cho HCM đổi tên đảng CSĐD thành đảng Lao Động. (Nguyễn Văn Trấn, Việt cho Mẹ và Quốc hội, California: Nxb. Văn Nghệ, 1995, tr. 149.)

Từ khi Pháp xâm lăng Việt Nam năm 1858, nhiều anh hùng hào kiệt đã vận dụng sức dân nổi lên chống Pháp. Dầu chưa thành công, nhưng những cuộc khởi nghĩa chống Pháp hoàn toàn không nhờ đến kẻ đã nhiều lần xâm lăng Việt Nam là Trung Hoa để chống Pháp. Hơn nữa, người Trung Hoa đến Việt Nam có thể ở lại Việt Nam, trong khi người Pháp chỉ đến khai thác, bóc lột rồi ra đi. 

Lúc HCM hoạt động ở Trung Hoa, lãnh tụ Trung Cộng là Mao Trạch Đông đã viết vào năm 1939 rằng Việt Nam là một nước phụ thuộc Trung Cộng. (Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua, Hà Nội: Nxb. Sự Thật, không đề tên tác giả, 1979, tr. 16.) Chắc chắn HCM đã học tập tài liệu nầy, nhưng vẫn làm kiểm điểm để xin Trung Cộng viện trợ. Việc HCM cầu viện Trung Cộng để chống Pháp di hại mãi cho đến ngày nay.

Nhờ viện trợ của Trung Cộng và của Liên Xô, đảng Lao Động thành công năm 1954. Hiệp định Genève ngày 20-7 chia hai đất nước ở vĩ tuyến 17. Bắc Việt Nam (BVN) là VNDCCH do đảng Lao Động cai trị. Nam Việt Nam (NVN) là Quốc Gia Việt Nam, đổi thành Việt Nam Cộng Hòa ngày 26-10-1955. 

Sau khi cầm quyền ở BVN, HCM và đảng Lao Động tiếp tục cầu viện Trung Cộng và Liên Xô, mở cuộc tấn công NVN. Vừa để trả nợ trong chiến tranh 1946-1954, vừa để vay nợ mới nhằm động binh lần nữa, Phạm Văn Đồng, theo lệnh của HCM và Bộ chính trị đảng Lao Động, ký công hàm ngày 14-9-1958, công nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh hải Trung Cộng. 

Như thế, HCM đã hai lần cầu viện Trung Cộng. Lần đầu vào năm 1950 trong chiến tranh 1946-1954, và lần hai sau năm 1954 trong chiến tranh 1954-1975. 

2. Giai đoạn sau năm 1975

Nhờ sự viện trợ lớn lao của khối CS, đảng LĐ chiếm được miền Nam Việt Nam năm 1975. Trong việc cai trị sau năm 1975, về đối nội, đảng Lao Động đổi tên thành đảng CS Việt Nam (CSVN) năm 1976, độc tài toàn trị, theo chính sách kinh tế chỉ huy, làm cho dân tình đói khổ. Người ta cho rằng đây là chính sách “tự thực dân”, hay thực dân nội địa, nghĩa là thực dân ngay trên quê hương mình, với dân tộc mình. (autocolonisation). Xin chú ý là Phát xít Ý, Quốc xã Đức hay Quân phiệt Nhật chỉ bóc lột và độc ác với người nước ngoài, chứ không độc ác với người đồng chủng trong nước họ.

Về đối ngoại, CSVN quay lưng với Trung Cộng, và năm 1978 gia nhập tổ chức Council for Mutual Economic Assistance (COMECON) tức Hội đồng Tương trợ Kinh tế do Liên Xô đứng dầu, đồng thời xâm lăng Cambodia vào cuối năm 1978. Lúc đó, Khmer đỏ ở Cambodia do Trung Cộng bảo trợ và Trung Cộng muốn sử dụng đường Cambodia xuống Đông Nam Á. 

Vì CSVN phủi ơn Trung Cộng, xâm lăng Cambodia, Trung Cộng tức giận, tấn công Việt Nam đầu năm 1979 mà Đặng Tiểu Bình gọi là “dạy cho Việt Nam một bài học”. Chiến tranh biên giới tuy ngắn ngày, trong vòng một tháng, nhưng 6 tỉnh biên giới phía bắc bị hoàn toàn tàn phá.

Cuối thập niên 80, CSVN gặp ba khó khăn cùng một lúc: 1) Thứ nhứt, trong nước kinh tế suy thoái. 2) Thứ hai, ngoài nước, bộ đội CSVN sa lầy ở Cambodia. 3) Thứ ba, trên chính trường quốc tế, các chế độ CS Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, CSVN mất nguồn viện trợ và điểm tựa quốc tế. Nền kinh tế CSVN đang yếu kém, suy sụp, cần viện trợ để đứng vững, nên CSVN không còn con đường nào khác, quay qua cầu thân trở lại với Trung Cộng.

Đảng Lao Động bí mật liên lạc với Trung Cộng. Dấu hiệu đầu tiên là Trung Cộng đánh chiếm Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa một cách dễ dàng tháng 3-1988. Người ta biết được CSVN bí mật nhượng bộ Trung Cộng ở Gạc Ma, vì một số bộ đội CS còn sống sót sau trận Gạc Ma kể lại rằng họ được bộ Quốc phòng CSVN ra lệnh không được nổ súng chống cự quân đội Trung Cộng. Người ra lệnh nầy là bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh. (Chuyện nầy được viết rõ trong sách Gạc-Ma, vòng quay bất tử mới xuất bản ở trong nước liền bị tịch thu.) 

Chắc chắn phải có quyết định của Bộ chính trị đảng CS, Lê Đức Anh mới dám ra lệnh không nổ súng. Điều nầy chứng tỏ CSVN đã bí mật liên lạc (còn gọi là đi đêm) và nhượng bộ Trung Cộng để cầu thân.

Dấu hiệu cầu thân tiếp theo là tháng 1-1989, thứ trưởng Ngoại giao Đinh Nho Liêm bí mật đến Bắc Kinh. Bề ngoài thì phái bộ Đinh Nho Liêm lo việc thảo luận về vấn đề Cambodia, nhưng bên trong thì Liêm bí mật ngỏ ý Việt Nam muốn bình thường hóa quan hệ với Trung Cộng. 

Hai bên mới đánh nhau, tiếp tục tranh chấp, đối đầu nhau, viết sách báo đả kích nhau, nay CSVN gởi phái bộ đến đất nước của đối thủ, tự động đề nghị xin bình thường hóa, có nghĩa là CSVN xin chịu xuống nước, chịu nhượng bộ. 

Theo yêu cầu bình thường hóa của CSVN, Trung Cộng triệu tập hội nghị Thành Đô trong hai ngày 3 và 4-9-1990. Phía Trung Cộng có Giang Trạch DânLý Bằng. Phía CSVN có Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng. Xin chú ý các điểm sau:

- Đây không phải là cuộc họp giữa hai chính phủ, vì nếu là cuộc họp giữa hai chính phủ, thì kết quả phải được đưa ra trước Quốc hội hai nước phê chuẩn. 

- Đây là cuộc họp thượng đỉnh trong hai ngày, giữa đại diện hai đảng CS mà thôi. 

- Hội nghị bàn những gì, kết quả như thế nào, hoàn toàn không có thông báo công khai.

- Vì nội dung hội nghị Thành Đô được giữ bí mật tuyệt đối, nên tất cả những bài viết về kết quả hội nghị Thành Đô trên báo chí, trên Wikileaks, kể cả nguồn tin Việt Nam sẽ thành khu tự trị của Trung Cộng năm 2020, đều là những lời phỏng đoán.

- Với thế mạnh, Trung Cộng yêu sách. Lòng tham con người không đáy. Nếu hội nghị không ấn định giới hạn yêu sách cụ thể bằng văn bản, thì những đòi hỏi của Trung Cộng sẽ không cùng, đòi hỏi dần dần liên miên bất tận.

- Trong thế yếu, CSVN đành phải nhượng bộ, nhượng bộ hoài, chấp nhận tất cả những đòi hỏi của Trung Cộng, nhưng CSVN có gì để nhượng bộ?

- Chỉ khổ một điều. CSVN nhượng bộ nhưng dân tộc Việt Nam phải gánh chịu những nhượng bộ đó, dần dần tài sản của tổ tiên để lại lọt vào tay Trung Cộng.

Khác với những cuộc xâm lăng trước đây, lần nầy Trung Cộng không sử dụng võ lực, mà áp lực chính trị và kinh tế càng ngày càng mạnh, đưa Việt Nam dần dần đi vào quỹ đạo của Trung Cộng. Sách lược nầy rất thâm độc, khống chế và khuynh loát CSVN vừa chính trị vừa kinh tế, nhằm phục vụ mưu đồ Hán hóa của Trung Cộng. Đây là sách lược xâm lăng không tiếng súng, được gọi là “xâm lăng hòa bình” (pacific invasion) hay còn gọi là “xâm lăng thầm lặng” (silent invasion).

Như thế, trước năm 1975 là HCM và sau năm 1975 là đảng CSVN cầu viện Trung Cộng, chính là nguồn gốc đưa đến hiểm họa mất nước vào tay Trung Cộng ngày nay. Trung Cộng cho vay thật dồi dào, đến lúc nước vay không trả nổi, nên đành phải chịu cấn nợ, bằng những hiệp định nhượng đất, nhượng biển, hay nhượng những khu vực, thị trấn cho Trung Cộng lập đặc khu kinh tế. Đây là cái bẫy nợ. Chết vào tay Trung Cộng.

(Toronto, 08-12-2018)


Ngoài khoản nợ thời chiến tranh chiếm miền Nam phải trả bằng lãnh thô, Việt Nam mượn của Trung Quốc bao nhiêu hiện tại?




Việt Nam hiện nợ Trung Quốc bao nhiêu là câu hỏi đáng hỏi, bởi vì chính Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam đã cảnh báo về các điều kiện không ưu đãi khi vay “tín dụng ưu đãi” của Trung Quốc.

Báo cáo “Cập nhật định hướng thu hút, và sử dụng vốn vay ODA và vay ưu đãi giai đoạn 2018-2020 và tầm nhìn 2021-2025” (3-8-2018) đã viết như sau (trích nguyên văn): “...tín dụng ưu đãi của Trung Quốc tương tự như các khoản tín dụng xuất khẩu, là các khoản vay có điều kiện (chỉ định thầu cho các doanh nghiệp Trung Quốc) và có điều kiện vay kém ưu đãi hơn so với vốn ODA của các nhà tài trợ khác tại Việt Nam. Lãi suất khoảng 3%/năm, phí cam kết 0.5%, phí quản lý 0,5%, thời hạn vay 15 năm, thời gian ân hạn năm năm... Tuy nhiên, một số dự án sử dụng vốn vay, nhà thầu, thiết bị Trung Quốc cũng thường xuyên chậm tiến độ, không đảm bảo chất lượng, tăng tổng mức đầu tư... ảnh hưởng hiệu quả đầu tư. Do đó, định hướng trong thời gian tới đối với việc vay nguồn tín dụng ưu đãi của Trung Quốc cần được xem xét, cân nhắc”.

viet nam muon cua trung quoc bao nhieu
Kể từ năm 2017, Việt Nam đã ra khỏi danh sách các nước nghèo được ưu tiên nhận vốn ưu đãi từ tổ chức quốc tế, do đó cần thay đổi chính sách phát triển dựa vào vốn nước ngoài. Ảnh: Internet

Lãi suất vay từ Trung Quốc như vậy là rất cao so với lãi suất 0% của Đan Mạch, 0,2% của Tây Ban Nha, 0,6-1,2% của Nhật, 1,04% của Pháp, 0,75% của Đức, 1,75% của Ấn Độ... Còn với các tổ chức quốc tế, lãi suất là 0,9% (Libor 6 tháng + 0,4-0,9%) tức là hiện nay vào khoảng 1,3-1,8%/năm và với thời hạn vay rất dài có thể tới 30 năm, thời gian ân hạn ít nhất là 5 năm.

Như vậy, câu hỏi quan trọng vẫn là cho đến nay số nợ của Việt Nam với Trung Quốc là bao nhiêu? Tại sao Việt Nam tiếp tục vay Trung Quốc để phải nhập công nghệ phế thải với điều kiện rất không ưu đãi? Và tình hình chính trị sẽ ra sao nếu công ty Việt Nam vay mượn tiền Trung Quốc phải chấp nhận chuyển giao sở hữu công trình cho ngân hàng chủ nợ của họ, một giải pháp bình thường trong thương mại, khi không trả được nợ?

Mặc dù số nợ Trung Quốc cần theo dõi, nhưng rất tiếc không thể tìm thấy câu trả lời trong báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư nói đến ở trên. Bản báo cáo chỉ nói đến số tiền vay ODA từ Trung Quốc là 250 triệu đô la Mỹ, tức là chỉ khoảng 3,7% so với tổng số vay ưu đãi của Việt Nam là 6,78 tỉ đô la trong thời gian 2016-2017.

Phải nói kể từ năm 2011, Bộ Tài chính chỉ công bố tổng số nợ nước ngoài và đã chấm dứt việc công bố nợ từng nước. Bản tin nợ nước ngoài số 7 công bố năm 2011 cho thấy tổng số nợ của Chính phủ Việt Nam với Trung Quốc tính đến hết năm 2010 lên đến 552 triệu đô la Mỹ và khoản nợ do Chính phủ bảo lãnh là 1,12 tỉ đô la. Như vậy tổng số nợ Trung Quốc tính đến cuối năm 2010 mà Chính phủ trách nhiệm là 1,64 tỉ đô la.

Theo một nghiên cứu chi tiết về các khoản nợ của các nước trong đó có Việt Nam với Trung Quốc, thì tổng số nợ của Việt Nam với Trung Quốc (bao gồm cả Chính phủ, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư) có thể đã lên tới 4 tỉ đô la Mỹ, chỉ có thể tính đến hết năm 2013 (xem biểu 1 đính kèm). Số liệu trên cũng chưa thể tính trừ đi khoản nợ gốc đã trả.

viet nam muon cua trung quoc bao nhieu

Tuy thế, nếu dựa vào số liệu nợ Trung Quốc là 4,1 tỉ đô la năm 2013, tính ra bằng 6,3% tổng số nợ nước ngoài của Việt Nam (kể cả nợ của doanh nghiệp) là 63,5 tỉ đô la vào năm 2013. Dựa vào cùng tỷ lệ trên, và với số nợ nước ngoài hiện nay ước là 100 tỉ đô la Mỹ, có thể ước nợ Trung Quốc vào năm 2018 đã trên 6 tỉ đô la. Ngân hàng Thế giới tính số nợ nước ngoài của Việt Nam là 86,9 tỉ đô la vào cuối năm 2016.

Số nợ Trung Quốc thật sự có thể lớn hơn số trên, vì từ sau năm 2010, Bộ Tài chính chỉ theo dõi và công bố nợ công tức là nợ của Chính phủ và nợ của doanh nghiệp do Nhà nước bảo lãnh, theo định nghĩa của Việt Nam. Từ 2011, bộ đã chấm dứt công bố nợ nước ngoài bao gồm cả nợ của doanh nghiệp tư nhân. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có bản hướng dẫn về nội dung quản lý nhà nước đối với vay và trả nợ của doanh nghiệp (03/VBHN-NHNN, 12-7-2017). Như thế về nguyên tắc, Ngân hàng Nhà nước nắm được thông tin nhưng không công bố.

Việc quản lý nợ nước ngoài là quan trọng, chứ không chỉ nợ công. Mất khả năng chi trả, có thể đưa đến khủng hoảng kinh tế ngay lập tức, khi các ngân hàng nước ngoài chặn tài khoản quốc gia để đòi nợ. Đó là chưa kể đến các doanh nghiệp nước ngoài đòi con nợ chuyển sở hữu (tức là vĩnh viễn, chứ không chỉ là 99 năm).

Kể từ năm 2017, Việt Nam đã ra khỏi danh sách các nước nghèo được ưu tiên nhận vốn ưu đãi từ tổ chức quốc tế, do đó cần thay đổi chính sách phát triển dựa vào vốn nước ngoài, thay vì dựa vào mình là chính, có thể đưa Việt Nam đến bẫy nợ Trung Quốc. Do đó, để có thể theo dõi kinh tế Việt Nam nhằm có chính sách đúng đắn, Bộ Tài chính cần theo dõi sát sao và công bố nợ nước ngoài của Việt Nam, dù là nợ của Chính phủ hay của doanh nghiệp. Nếu không tự nguyện, Quốc hội nên có nghị quyết yêu cầu Bộ Tài chính thực hiện việc làm trên.

Sri Lanka đã rơi vào bẫy nợ của Trung Quốc khi không thể trả nợ tiền mượn xây dựng cảng nên đã phải nhượng cảng nước sâu Hambantoba cho Trung Quốc trong 99 năm. Mới đây, Thủ tướng mới của Malaysia, ông Mahathir, đã yêu cầu Trung Quốc xóa bỏ các công trình đầu tư chung, từ làm xe lửa cao tốc, nới biển xây khu vực công nghệ, cảng, và dự án nhà ở cho người Trung Quốc. Ông Mahathir lấy lý do không muốn phải rơi vào thế nhượng địa khi mất khả năng chi trả (theo NYT ngày 20-8-2018).

Vũ Quang Việt

Thời báo kinh tế Sài Gòn o­nline



Họa mất nước & Con đường trước mặt

Mẹ Nấm (Danlambao) - Những ngày tháng 6 năm 2018 tại trại giam số 5, Yên Định - Thanh Hóa, tôi thao thức trằn trọc mãi sau mỗi lần xem ti vi và tin tức trên báo Nhân Dân về những cuộc xuống đường biểu tình chống luật An Ninh mạng và Luật Đặc khu. Khi cảm giác vui mừng, hãnh diện biết rằng bên ngoài mọi người vẫn đang tiếp tục tranh đấu trôi qua thì tôi lo lắng. Lo lắng không biết sau khi biểu tình có anh chị em nào phải rơi vào cảnh tù đày hay không? Lo lắng hơn nữa là với âm mưu dùng luật để chính thức dâng 3 địa bàn chiến lược của Việt Nam cho Trung cộng, đảng và nhà nước cộng sản đã thực sự chấp nhận làm thân chư hầu cho thiên triều phương Bắc để mãi quốc cầu vinh. Tôi trằn trọc nhiều đêm với câu hỏi rồi chúng ta sẽ ra sao trên chính quê hương mình khi đất nước đang đối diện với nguy cơ trở thành một Tây Tạng, một Tân Cương?

Tôi vẫn nhớ trong bản kết luận điều tra vụ án “Nguyễn Ngọc Như Quỳnh tuyên truyền chống nhà nước CHXNCN Việt Nam”, đại tá Trương Vinh Quang, Phó thủ trưởng thường trực cơ quan ANĐT CA tỉnh Khánh Hòa đã kết tội tôi “triệt để lợi dụng các sự kiện nóng, nhạy cảm đế chống phá” như “sự kiện Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương (HD981) trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, sự kiện Formosa xả thải gây ô nhiễm môi trường... để phủ nhận các hoạt động đấu tranh giải quyết tình huống” của đảng và nhà nước. Bản kết tội này chỉ có một ý nghĩa: chống Tàu là có tội

Tôi vẫn nhớ ông Trần Hữu Viên - chủ tọa phiên tòa sơ thẩm ngày 29/6/2017 - đã gằn giọng hỏi tôi “Bị cáo có biết người Trung Quốc đến Việt Nam để làm gì hay không?”. Tôi vẫn nhớ những nụ cười mỉa mai của họ khi cho rằng tôi ngây thơ, khờ khạo không hiểu gì về chính sách ngoại giao “khéo léo” của đảng. Nụ cười này mang hàm ý: Bất kỳ một công dân Việt Nam nào nếu dám đặt vấn đề với những chính sách của đảng và nhà nước trong mối bang giao Việt-Trung là có tội

Có thể những người cộng sản bắt giữ và kết án tôi đã cố tình tỏ ra không biết tương lai của Việt Nam sẽ đi về đâu khi người Tàu tràn ngập khắp Việt Nam mà chính họ cũng không rõ mục đích. 

Có thể họ cố tình bịt mắt che tai trước hiện tượng người Tàu từng bước xâm nhập Việt Nam qua con đường du lịch và bộ máy cầm quyền tại Nha Trang, Phú Quốc, Quảng Ninh, Đà Nẵng... không thể kiểm soát được. 

Có thể đối với họ là chuyện bình thường khi dân Tàu nghênh ngang mặc áo in hình đường lưỡi bò tại sân bay Cam Ranh, thoải mái sử dụng đồng nhân dân tệ và chuyển tiền kinh doanh trái phép qua POS về lại Trung Quốc. 

Có thể họ xem chuyện người Tàu mua đất, làm nhà, kéo nhau đến các thành phố lớn tại Việt Nam ào ạt, để lại một đống hỗn loạn và ồn ào là chuyện nhỏ, không đáng quan tâm bằng việc xây một nhà hát giao hưởng cao cấp tại Thủ Thiêm. 

Có thể họ không tin rằng tin rằng từ kế hoạch khai thác tour du lịch tại quần đảo Hoàng Sa đến nay Trung Cộng đã bồi lấp đảo, xây dựng sân bay, đưa dân đến sống tại các đảo bị xâm chiếm của Việt Nam một cách công khai lại nằm trong chính sách "khéo léo" của đảng và nhà nước. 

Có thể họ cho rằng Formosa và hàng trăm công trình khác của Tàu đang trở thành những pháo đài với vũ khí sinh hóa tàn sát môi trường Việt Nam, làm cho dân tộc Việt Nam chết dần, chết mòn để Bắc Kinh dễ bề cai trị một dân tộc bạc nhược trong tương lai là nền tảng của "chính sách khéo léo" 16 vàng 4 tốt của lãnh đạo đảng mà đứng đầu là tổng bí thư kiêm chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. 

Các chuyến bay thẳng từ Bắc Kinh, Côn Minh, Đại Liên, Hàng Châu, Nam Kinh, Nam Ninh, Ninh Ba, Quảng Châu, Quý Dương, Thành Đô, Thẩm Quyến, Thiên Tân, Thường Châu, Thượng Hải, Tịnh Châu, Trùng Khánh, Hồ Nam, Vô Tích... đến Nha Trang, Phú Quốc được mở liên tục. Mở đường cho xe tự lái từ Trung Quốc về Lạng Sơn, Quảng Ninh... Theo những chuyến bay, những dòng xe made in China là những tờ giấy bạc Nhân dân tệ của Tàu đã được chính thức công nhận sử dụng tại khắp 7 tỉnh biên giới. Và không còn nghi ngờ gì nữa Luật Đặc khu cũng như "Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" của ông Nguyễn Phú Trọng chính là thỏa thuận cuối cùng nằm trong hoạt động biến toàn bộ Việt Nam từ đất liền ra đến biển đảo thành một đặc khu của Trung Cộng. 

Đối chiếu bản án 10 năm tù của mình và những bản án nặng nề của chế độ dành cho những anh chị em khác, dựa vào nội dung kết tội, tôi thấy rõ viễn cảnh lệ thuộc và nô lệ cho Trung Cộng là hoàn toàn có thật. Điều đáng kinh sợ là viễn cảnh đó lại nằm trong "chính sách khéo léo" của đảng CSVN. 

Tại Ba Đình, trung tâm quyền lực chính trị của Việt Nam, chúng ta đều thấy có bóng dáng của quan chức Bắc Kinh ở đằng sau. Trước mọi diễn biến, mọi quyết định thay đổi nhân sự, chức vụ quan trọng, ngay đến cái chết của Chủ tịch nước đều có mặt những lãnh đạo cao cấp đến từ phương Bắc. Sự việc ông Nguyễn Phú Trọng thống lĩnh cả 2 chức vụ cao nhất của đảng và của nhà nước cho thấy Bắc Kinh đã hoàn thành việc dựng lên một Lê Chiêu Thống tại Việt Nam. 

Ai chống Trung Cộng thì phải vào tù? 

Và tôi, một người đã từng tuyên bố “dù chỉ có một mình tôi vẫn chống Trung Quốc đến cùng”, một người lãnh bản 10 năm tù với đa số tội danh đều liên quan đến việc chống lại bá quyền phương Bắc có lẽ là câu trả lời, là bằng chứng xác thực nhất cho câu hỏi "Ai chống Trung Cộng thì phải vào tù?". Trong nhiều lần làm việc với cơ quan ANĐT họ cố thuyết phục tôi phải tin rằng tôi có cái nhìn bi quan khi cho rằng họa mất nước đang diễn ra. Họ khéo léo bịt miệng và che mắt những người dân thờ ơ với chính trị rằng đừng để lòng yêu nước bị lợi dụng khi cất tiếng chống Trung Cộng. Họa Mất Nước không những chỉ đến từ ngoại xâm mà còn đến từ những kẻ đang cầm quyền trên đất nước chúng ta. 

Nhìn lại giai đoạn người Việt Nam xuống đường chống bành trướng Bắc Kinh từ năm 2009 đến nay, nhìn những bản án nặng nề dành cho người yêu nước, nhìn những ống khói Formosa vẫn ngạo nghễ đe doạ môi trường... có lẽ nhiều người sẽ nhận ra đất nước chúng ta đang phải chịu sự xâm lấn từ bên ngoài và được tiếp tay cho sự xâm lược từ bên trong một cách trắng trợn. 

Chúng ta đã từng chung vai sát cánh tranh đấu cho nhân quyền, cho dân chủ, cho môi trường, cho tự do. Nhưng chúng ta liệu có thể tìm thấy tự do, dân chủ, nhân quyền khi quê hương không còn? Tự do nào dành cho một công dân hạng hai trong một tổ quốc đã bị xoá tên. Giấc mơ dân chủ liệu có thật sự đến với 90 triệu người dân đã mất căn cước và không còn làm chủ được bản thân mình. Quyền con người có thật sự hiện hữu nếu con cái chúng ta đến trường không còn được học hành bằng tiếng mẹ đẻ. 

Mối lo về Họa Mất Nước luôn luẩn quẩn và ám ảnh tôi trong nhiều đêm trằn trọc nghĩ về tương lai của đất nước mình. 

Ngồi ngắm nhìn hai con chơi đùa trong một buổi chiều đầy nắng vàng tại nước Mỹ tôi nghĩ về Việt Nam, nghĩ về những người thân, bạn bè, anh em tranh đấu còn ở lại. Nước Mỹ đã cho tôi cơ hội chạm tay đến tự do mà tôi mơ ước, rồi nước Mỹ liệu có giữ được ngọn lửa khao khát trong tôi được nhìn thấy một Việt Nam cường thịnh - nơi mà mọi người dân đều được thụ hưởng quyền tự do thực sự như hàng triệu công dân tại các nước văn minh tiến bộ khác trên trái đất này? 

Tôi buộc phải rời bỏ quê hương nhưng ước mơ vẫn còn ở lại trên đất nước lầm than. Việt Nam trong trái tim tôi vẫn còn có nhiều người dân cơ cực phải lầm lũi gánh chịu những chính sách bất công, những quyết định oan khiên. Formosa vẫn còn đó, dân oan ngày càng nhiều. Việt Nam nơi mà tôi tranh đấu vẫn còn đó những khát khao tự do cháy bỏng đang bị đàn áp, bị bịt mắt chặn miệng. Càng nghĩ về Việt Nam, nghĩ về hoàn cảnh hiện tại tôi tự nhủ với lòng: giấc mơ không bao giờ tàn lụi nếu ta dám sống, dám phấn đấu để biến nó thành sự thật. 

Sự thay đổi vị trí địa lý sẽ không thể làm tàn lụi giấc mơ của tôi, bởi trước đây tôi đã từng có những người anh, người chị dù không ở Việt Nam nhưng luôn bên cạnh các thành viên Mạng Lưới Blogger Việt Nam khác trong những lần xuống đường. Chúng tôi đã cùng nhau lên những kế hoạch cho nhiều chiến dịch, đã cùng nhau thảo luận về những phương cách đơn giản nhất để từng bước xoá bỏ sự sợ hãi của đám đông. Chúng tôi đã tranh đấu, bảo bọc nhau để giữ lửa, để nuôi dưỡng những ước mơ tươi xanh trong trái tim mình cho Việt Nam, vì Việt Nam. Vị trí và khoảng cách địa lý sẽ không bao giờ có thể thay đổi khao khát tự do và công bằng của tôi và hàng triệu người Việt Nam yêu quê hương khác đã bị bứng ra khỏi quê hương. 

Mối họa mất nước mà tôi lo lắng sẽ bị dẹp bỏ khi bạn bè và anh em chúng ta biết nuôi dưỡng gìn giữ ngọn lửa đấu tranh trong lòng mình. Vì sự sống còn của dân tộc, vì một Việt Nam cường thịnh, vì tương lai của thế hệ mai sau, giấc mơ này sẽ trở thành sự thật - tôi tin là như vậy. 

07.11.2018



HIỂM HỌA TRUNG CỘNG VÀ BÀI HỌC TÂY TẠNG
Image result for larung gar buddhist academy destroyed
Hôm nay, ít ra một nửa của học viện Larung Gar nổi tiếng thế giới đang bị phá hủy. Dù che giấu dưới bất cứ lý do gì, thực chất của việc phá hủy cũng chỉ nhằm xóa bỏ nền văn hóa lâu đời của Tây Tạng.
Chính sách đồng hóa Tây Tạng không chỉ bắt đầu mới đây mà từ năm 1950 khi Trung Cộng xua quân chiếm đóng nước này. Giống như các chế độ CS khác, chế độ CS tại Trung Quốc nói chung và Tây Tạng nói riêng tồn tại nhờ vào hai phương tiện được thực hiện song song và có tác dụng hỗ tương: trấn áp bằng bạo lực và tẩy não bằng tuyên truyền.
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, dân tộc nhỏ nhoi nhưng được xem như là "mái che" của thế giới với đỉnh Mt Everest cao 8,848 mét đang chịu đựng dưới chính sách trấn áp khắc nghiệt của Trung Cộng, nhất là tại các nhà tù.
Nếu nhà tù San Quentin được xây ở Tây Tạng
Đại sư Chagdud Tulku là một bậc cao tăng của Phật Giáo Tây Tạng. Trước khi viên tịch vào năm 2002, ngài được thỉnh giảng tại nhiều trường đại học danh tiếng ở Hoa Kỳ và Châu Âu. Đại sư rất được trọng vọng và những lớp giảng của ngài có hàng ngàn người tham dự. Tuy nhiên, ngài không quan tâm đến số đông hay danh dự dành riêng cho ngài nhưng sẵn lòng đi đến bất cứ nơi nào cần sự có mặt của mình dù nơi đó là một khu biệt giam dành cho tử tù và dù chỉ để làm lễ thọ giới cho một tù nhân. Nơi ngài đến là nhà tù San Quentin, tiểu bang California và người được ngài quy y là tử tù Jay Master bị kết án tử hình. Nghi thức diễn ra ngay tại phòng thăm viếng của nhà tù vào năm 1989.
Như Jay Master kể lại trong blog của anh. Hôm đó, đại sư Chagdud Tulku đến nhà tù San Quentin rất sớm. Ngài ngồi im. Những ngón tay nâu đậm đầy vết nhăn đang lặng lẽ lần tràng hạt. Đôi mắt ngài như đang chiêm nghiệm những gì đang xảy ra chung quanh. Vạt áo tràng với những nút màu xám phủ dài trên sàn phòng đợi rất ồn ào với đủ hạng người đang chờ giờ thăm viếng thân nhân. Có người bực dọc lớn tiếng vì chờ đợi quá lâu.
Để làm dịu không khí, đại sư Chagdud Tulku chia sẻ với mọi người một câu chuyện cũng về nhà tù, không phải San Quentin ở Mỹ mà một "San Quentin" trên quê hương Tây Tạng của ngài. Trong nhà tù ở Tây Tạng, tù nhân bị đày đọa thảm khốc và chịu đựng hình phạt nặng nề hơn tù nhân ở Mỹ nhiều.
Đại sư Chagdud Tulku kể rằng người Trung Quốc bắt tù nhân Tây Tạng đào một hố thật sâu. Cái hố sâu đó chính là nhà tù. Những người tù Tây Tạng sống, ăn ở và phơi bày thân thể dưới cả nắng mưa như thế cho đến chết. Ngay cả sau khi chết đi, tù nhân cũng bị chôn trong lòng hố sâu đó. Ngài kể rằng ở Tây Tạng có sáu mươi ngàn tù nhân bị giam giữ trong tình cảnh đau thương đó.
Nhân loại kết án Hitler, Pol Pot. Dĩ nhiên những ác nhân kia xứng đáng với mọi lời nguyền rủa của người đời. Nhưng nếu so sánh phương pháp giết người bằng lò hơi ngạt của Hitler hay bằng cuốc xẻng đánh vào đầu của Pol Pot, phương pháp của Trung Cộng còn tàn ác gấp nhiều lần. Tù nhân Tây Tạng chết lâu hơn, chết dần mòn hơn trong đói khát, nắng mưa, bệnh hoạn, lở loét, thối rữa và thân xác cuối cùng cũng bị chôn vùi dưới đáy hầm sâu.
Nhưng đó chỉ là một trong hàng trăm phương pháp đọa đày mà dân tộc Tây Tạng đã và đang chịu đựng sau khi cuộc "Nổi dậy Lhasa" vào tháng Ba, 1959 bị dập tắt.
Không giống như thập niên 1950 khi tội ác của Trung Cộng còn được dễ dàng che giấu, trong thời đại tin học ngày nay, những cảnh đàn áp dã man đã được tiết lộ ra ngoài bằng hình ảnh và cả phim ảnh. Thế giới bàng hoàng khi chứng kiến cảnh công an Trung Cộng đánh đập các nhà sư hay thường dân Tây Tạng không một phương tiện gì để tự vệ hay kéo lê lết họ trong máu me trên đường phố Lhasa. Cách phản kháng tuyệt vọng nhưng phổ biến nhất của tu sĩ và nhân dân Tây Tạng là tự thiêu để gây tiếng vang trước dư luận quốc tế.
Chỉ trong vòng sáu năm từ tháng 2 năm 2009 đến tháng 4 năm 2015 đã có 138 tu sĩ và thường dân Tây Tạng tự thiêu tại nhiều nơi để phản đối chính sách diệt chủng của nhà cầm quyền Trung Cộng. Riêng năm 2012 đã có 86 vụ tự thiêu. Ngọn lửa được thắp lên bằng xương thịt dường như chưa đủ sáng lương tâm loài người và đêm đen Tây Tạng.
Quan điểm "chủ quyền lịch sử" của Trung Cộng đối với Tây Tạng
Dù là văn hóa, lịch sử hay lãnh thổ, quan điểm chung của Trung Cộng là nơi nào các triều đại Trung Hoa từng đô hộ nơi đó thuộc về Trung Hoa. Đó là lý do một học giả Trung Cộng năm 1996 đã từng tuyên bố ở Hong Kong rằng trống đồng Đông Sơn là của Trung Hoa chứ không phải của Việt Nam vì trong thời kỳ văn hóa Đông Sơn Việt Nam thuộc Trung Hoa.
Quan điểm bá quyền hoang tưởng và ngang ngược của Trung Cộng đi ngược với các nguyên tắc về chủ quyền của thế giới. Napoleon từng là vua không chỉ của Pháp mà còn của cả một phần lớn châu Âu trong đầu thế kỷ 19 nhưng ngày nay không một học giả Pháp nào cho rằng Ý, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ v.v... phải thuộc vào nước Pháp.
Nhân Dân Nhật Báo tóm tắt quan điểm của Trung Cộng đối với vấn đề Tây Tạng trong bình luận vào tháng 4, 2008: "Trong hơn 700 năm, chính phủ trung ương Trung Hoa đã liên tục thực hiện chủ quyền của Trung Hoa tại Tây Tạng và Tây Tạng chưa bao giờ là một nước độc lâp. Không một chính phủ nào trên thế giới thừa nhận Tây Tạng... Kể từ khi giải phóng hòa bình năm 1951, Tây Tạng đã tiến hành các thay đổi xã hội sâu sắc bao gồm các cải cách dân chủ, mở cửa và đạt được các tiến bộ xã hội đáng kể.”
Không ai chối cãi trước 1950 Tây Tạng còn là một nước nghèo, lạc hậu về kinh tế, tuổi thọ thấp, thiếu thốn các phương tiện giao thông nhưng đó không phải là lý do để Trung Cộng xua 40 ngàn quân xâm lược một quốc gia mà quân đội chỉ có 4 ngàn.
Lý luận của Trung Cộng là lý luận của kẻ cướp
Những lời ngụy biện của thực dân đỏ Trung Cộng trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay không khác gì cách giải thích "đến để khai hóa" mà thực dân trắng Âu châu đã dùng với các nước Á châu và Phi châu từ thế kỷ thứ 15.
Từ nhiều ngàn năm trước, Tây Tạng đã là một dân tộc có một nền văn hóa cao, thuần nhất với các giá trị độc đáo riêng tồn tại song song bên cạnh các nền văn hóa khác. Các triều đại Tây Tạng ra đời từ thế kỷ thứ nhất sau công nguyên và vào thế kỷ thứ bảy đã xây dựng nên một quốc gia hùng mạnh với lãnh thổ trải rộng qua nhiều quốc gia vùng Trung Á, kể cả một phần của Trung Hoa. Nhiều trăm năm Tây Tạng đã là một nước hoàn toàn độc lập. Dĩ nhiên, giống như hoàn cảnh các nước nhỏ khác trong vùng, khi yếu kém Tây Tạng lại phải chịu lệ thuộc vào các nước mạnh không chỉ Trung Hoa mà có khi còn bị ảnh hưởng bởi Mông Cổ hay Nepal.
Các dân tộc, dù lớn bao nhiêu, trong lịch sử ít ra cũng một lần bị ảnh hưởng bởi ngoại bang nhưng không phải vì thế mà quốc gia đó thuộc về ngoại bang. Giống như lịch sử đầy hy sinh xương máu đã diễn ra tại Việt Nam suốt hàng ngàn năm, chặng đường bị lệ thuộc vào Trung Hoa của Tây Tạng cũng được đánh dấu bằng những cuộc nổi dậy anh hùng của các thế hệ Tây Tạng. Bởi vì trong máu huyết, Tây Tạng chưa bao giờ là một phần của Trung Hoa trước đây hay Trung Cộng ngày nay.
Sự sụp đổ của nhà Thanh là cơ hội để nhân dân Tây Tạng phục hồi toàn bộ chủ quyền đất nước chứ không phải đó chỉ là lần đầu tiên dân Tây Tạng vốn đã thuộc Trung Hoa bỗng dưng đứng lên đòi độc lập.
Và từ 1913, Tây Tạng là một quốc gia có chủ quyền, độc lập, có ngôn ngữ riêng, chính phủ riêng, hệ thống tư pháp riêng, bưu điện riêng, đơn vị tiền tệ riêng, hộ chiếu quốc tế riêng. Hộ chiếu do chính phủ Tây Tạng cấp năm 1947 được các quốc gia lớn như Ấn Độ, Mỹ, Anh, Pháp,Ý, Thụy Sĩ, Iraq, Hong Kong chấp nhận và đóng dấu cho phép thông hành.
Theo công pháp quốc tế, một quốc gia sẽ không chuẩn y và đóng dấu vào chiếu khán do chính phủ của một quốc gia khác cấp nếu không thừa nhận chính phủ của quốc gia đó. Khi đóng dấu thông hành, các cường quốc Anh, Mỹ, Ấn, Pháp, Ý trong thực tế đã thừa nhận vai trò lãnh đạo của chính phủ Tây Tạng. Việc công nhận hay chưa công nhận trong bang giao chỉ là thủ tục ngoại giao, nhất là trong giai đoạn từ 1913 đến 1950 Tây Tạng vẫn chưa được quốc tế biết nhiều và cả thế giới phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh vô cùng khốc liệt.
Trung Cộng tự hào là nước lớn nhưng không có nghĩa được mọi quốc gia công nhận họ. Hoa Kỳ không công nhận Trung Cộng mãi tới 1972 và chậm hơn nữa cho tới tháng 10, 1990 Singapore mới công nhận Trung Cộng. Ngay cả hiện nay vẫn có đến 21 quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc không công nhận Trung Cộng.
Tây Tạng có đủ bốn tiêu chuẩn quốc tế để xác định một quốc gia gồm chủ quyền, chính phủ, lãnh thổ và dân số, trong lúc Trung Cộng không đưa một lý do gì, một chứng minh gì ngoài "chủ quyền lịch sử" mà họ luôn bám vào trong mọi cuộc tranh chấp lãnh thổ.
Trung Cộng viện lý do "Tây Tạng đã là một phần của Trung Quốc suốt bảy trăm năm." Bảy trăm năm thì sao? Bảy trăm năm tại Tây Tạng hay một ngàn năm tại Việt Nam cũng chỉ là thời kỳ đô hộ, cưỡng chiếm và cai trị bằng sắt máu. Thời gian đó không có giá trị gì một khi dân tộc bị trị đủ mạnh để đứng lên giành độc lập.
Chính sách xóa bỏ Tây Tạng của Trung Cộng được thực hiện bằng hai cách, (1) diệt chủng văn hóa qua việc tàn phá chùa chiền, bôi nhọ đức Đạt Lai Lạt Ma, buộc Hoa Ngữ là ngôn ngữ chính thức, học sinh phải học lịch sử từ quan điểm Trung Cộng, và (2) đồng hóa chủng tộc qua việc định cư ồ ạt người Hán vào Tây Tạng, tập trung nền kinh tế Tây Tạng trong tay người Hán. Chính Mao Trạch Đông trong Tuyển Tập Mao Trạch Đông xuất bản có hiệu đính năm 1987, đã thừa nhận cho tới năm 1952 cũng "không có một người Hán nào ở Tây Tạng" nhưng hiện nay số người Hán tại Tây Tạng đông hơn chính người Tây Tạng.
Bài học cho Việt Nam
Ngoại trừ những buổi tiếp xúc đức Đạt Lai Lạt Ma một cách không chính thức của các tổng thống Hoa Kỳ hay một hai lá thư phê bình cách đối xử nặng tay của nhà cầm quyền Trung Cộng, chưa một lãnh đạo cường quốc nào có một biện pháp tích cực và hữu hiệu để ngăn chặn lưỡi đao Trung Cộng.
Đơn giản bởi vì Tây Tạng không có những mỏ dầu khí lớn như Iraq, không có những mỏ kim cương lớn như Nam Phi và cũng không giữ vị trí chiến lược như Thổ Nhĩ Kỳ. Các quốc gia Tây Phương không thể hy sinh các quyền lợi vật chất quá lớn với Trung Cộng chỉ để bảo vệ các giá trị tinh thần cho một nước nhỏ xa xôi. Cuộc đấu tranh, đầu tiên cho đến cuối cùng, vẫn là tranh đấu bằng máu xương, hy sinh và chịu đựng của dân tộc Tây Tạng.
Đối với trường hợp Việt Nam, không cần phải phân tích nhiều mà chỉ thay chữ Tây Tạng bằng chữ Việt Nam trong bài viết, sẽ thấy một viễn ảnh Việt Nam đen tối hiện ra.
Tập Cận Bình đang gấp rút xây dựng các căn cứ quân sự và dân sự trên Biển Đông nhằm mở rộng vòng đai an ninh và sự hiện diện ngoài lục địa. Nếu họ Tập thành công, Việt Nam có khả năng nằm bên trong "không gian sinh tồn" của Trung Cộng và đặt các cường quốc vào thế đã rồi như trường hợp Hitler chiếm Áo vào tháng Ba, 1938 trước sự làm ngơ của Anh và Pháp.
Việt Nam chỉ hơn Tây Tạng một điểm duy nhất là còn thời gian dù rất ngắn để quyết định số phận của mình. Chọn lựa của dân tộc Việt Nam hôm nay, do đó, là chọn lựa giữa tiếp tục sống dưới chế độ độc tài CS để rồi mất nước, hay dân chủ hóa, hiện đại hóa nhanh chóng để có thể ngăn chặn được bước chân Trung Cộng. Nếu chỉ biết nhịn nhục, cúi đầu, một ngày không xa họa diệt vong sẽ tới. Đến lúc đó, đừng oán trách chi ai, đừng đổ thừa cho ai khác, ngoài oán trách, đổ thừa cho sự ươn hèn, nhu nhược của chính mình.
Trần Trung Đạo
Jun 4, 2018 - Uploaded by N 10TV
Việt Nam Giao Đất Đặc Khu 99 Cho Trung Cộng Năm Hiểm Họa Mất ... Dự luật An Ninh Mạng và Đặc Khu 99 Năm 



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
VN thuộc TQ! [26.03.2019 14:40]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Tại sao chỉ có những dân tộc hèn nhát mới bị CS cai trị đến thế kỷ 21? [NEW]
Thương chiến Mỹ-Trung: Nhiều công ty quốc tế sang Việt Nam để tránh thuế, những công ty TQ sẽ vẫn bị dầu sang VN
Đại hội anh hùng các cao thủ môn phái võ lâm thi đấu tại TQ - Võ sĩ VN thắng Võ sĩ Mủải Thai trận đấu Á Châu WBA
Thời đại HCM phụ nữ cũng trở thành kẻ sát nhân máu lạnh! Giế tngười đổ bê tông phi tang chưa từng có trong lịch sử VN
Mặc dầu TT Trump kêu gọi các công ty chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam làm ăn và dân chún gmua hàng VN thay vì TQ, lãnh đạo CSVN khiếp sợ xúc phạm sư phụ không dám hưởng ứng
Chiến tranh thương mại: Bắc Kinh kích động dân chúng chống Mỹ cứu nước
Băng đảng TQ gồm những cao thủ võ nghệ cao cường dọa chiếm thành phố Cam puchia, sắp tới VN
TQ vỡ nợ lớn nhất lịch sử kéo theo sụp đổ chế độ TC lẫn VC!
Noi gương anh cả TQ VN hí hửng đầu tư ở Venuela thất bại thảm hại !
Những lãnh đạo CSVN thi nhau bán nước đào thoát đều mang quốc tịch nước ngoài!
Khi quân khủng bố trở thành kẻ giải phóng
Nghịch lý CS: Nghĩ gì khi Đoàn Thị Hương được đón như một anh hùng
Sự thật làm mất chức, phó bí thư tỉnh Hà Tỉnh loan tin TBT Trọng đã ngỏm bị cách chức
Việt Nam chế tạo tổ hợp pháo - hỏa tiển phòng không: Hỏa lực mạnh!
George H. W. Bush bộc lộ đánh giá về Việt Nam qua nhật ký, VN qua suy nghĩ nhựng bộ trưởng Quốc Phòng của Mỹ

     Đọc nhiều nhất 
Nguyễn Phú Trọng đến thanh tra Kiên Giang sào huyệt NTD bị hạ độc stroke đang chờ theo bác Hồ [Đã đọc: 1001 lần]
Người Mỹ gốc Tàu Đài Loan tranh cử tổng thống Mỹ năm 2020 hứa chia mỗi người dân 12,000$US mỗi năm [Đã đọc: 767 lần]
Năng suất lao động Việt Nam đạt vị trí thấp nhất trong khu vực nhờ áp dụng kinh tế định hướng XHCN [Đã đọc: 757 lần]
Bí ẩn chùa Ba Vàng- Xử phạt bà Phạm Thị Yến 5 triệu đồng, tiếp tục điều tra hoạt động của chùa Ba Vàng [Đã đọc: 732 lần]
Nhàm chán tư tưởng bác Hồ chủ nghĩa Mác Lê Nin, dân Hmong rủ nhau theo đạo Tin Lành thờ Chúa Trời [Đã đọc: 708 lần]
Liên Hiệp Quốc chỉ trích thành tích nhân quyền của CS Việt Nam nghiêm trọng [Đã đọc: 705 lần]
Đoàn Thị Hương và nỗi nhục nhã khi cầm trên tay tấm Hộ chiếu Việt Nam [Đã đọc: 634 lần]
Cơ hội làm giàu cho người VN mua nhà rẻ tại Mỹ : Nhà trong thành phố bán nhà giá 1 USD [Đã đọc: 624 lần]
Tháng tư 75: Lệnh rút khỏi Huế của Tổng thống Thiệu [Đã đọc: 609 lần]
Thời đại HCM người Hoa được trọng đãi, buôn ma túy, mại dâm, hối mại quyền thế khắp nước [Đã đọc: 540 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.