Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Mười hai 2019
T2T3T4T5T6T7CN
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30 31          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 10
 Lượt truy cập: 14551899

 
Tin tức - Sự kiện 13.12.2019 04:54
Sự thật về chủ nghĩa CS và thực chất nhửng đảng viên cuồng tín trục lợi trên xương máu đồng bào của họ
02.12.2019 17:10

Người cộng sản làm cách mạng không phải để mang đến hạnh phúc cho người dân , mà họ làm cách mạng để người dân mang hạnh phúc đến cho người cộng sản.   (Đức Đạt Lai Lạt Ma)

30 câu nói bất hủ về chủ nghĩa cộng sản

1).Người cộng sản làm cách mạng không phải để mang đến hạnh phúc cho người dân , mà họ làm cách mạng để người dân mang hạnh phúc đến cho người cộng sản.

   (Đức Đạt Lai Lạt Ma)

2). Cộng sản là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh và là loài trùng độc sinh sôi nẩy nở trên rác rưởi của cuộc đời.

    (Đức Đạt Lai Lạt Ma)

3).Cộng sản sinh ra từ nghèo đói và ngu dốt , lớn lên bằng dối trá và bạo lực và sẽ chết đi trong sự khinh bỉ và nguyền rủa của nhân loại .

      (Đức Đạt Lai Lạt Ma)

4).Cộng sản đã làm cho người dân trở thành gian dối .

       ( Thủ tướng Đức Angela Merkel )

5).Tôi lớn lên trong chủ nghĩa cộng sản tại Đông Đức và tôi hiều rõ về họ : cộng sản là chủ nghĩa gian trá và man rợ nhất của nhân loại ! Chủ nghĩa cộng sản là một vết nhơ của loài người và thế giới văn minh !

         ( Thủ tướng Đức Angela Merkel )

6).Bất cứ nơi nào chủ nghĩa xã hội hay cộng sản được thực sự áp dụng , thì chỉ mang đến đau thương , tàn phá , và thất bại.

         (Tổng thống Mỹ Donald Trump )

7).Tôi mà làm Tổng thống Hoa Kỳ thì bọn độc tài cộng sản sẽ chết .

          (Tổng thống Mỹ Donald Trump )

8).Chủ nghĩa cộng sản là giấc mơ của vài người , nhưng là cơn ác mộng của nhân loại .

           (Nhà văn , nhà thơ, nhà viết kịch ,…Victor Hugo)

9).Khi thấy thằng cộng sản nói láo , ta phải đứng lên và nói nó nói láo . Nếu không có can đảm nói nó nói láo , ta phải đứng lên ra đi , không ở lại nghe nó nói láo . Nếu không có can đảm bỏ đi , mà phải ngồi lại nghe , ta sẽ không nói lại những lời nó nói láo với người khác .

           (Nobel lauréat /laureate ,  Văn hào Nga Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn)

10).Những người theo xã hội chủ nghĩa muốn làm mọi việc tốt hơn bằng cách lấy hết tiền mọi người , và có những người cộng sản muốn làm mọi việc tốt hơn bằng cách giết hết mọi người trừ họ ra .

            ( Văn hào Richmal Crompton )

11).Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản . Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng : đảng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá .

             ( Cựu Tổng bí thư đảng cộng sản Liên Xô , awarded Nobel prize in 1990 , Mikhail Sergeyevich Gorbachev) .

12).Cộng sản không thể nào sữa chữa mà cần phải đào thải nó .

             ( Cố Tổng thống Nga Boris Nicholalevich Yeltsin )

13).Chủ nghĩa xã hội là một hệ tư tưởng của sự thất bại , là tiếng kêu của sự ngu dốt , là lời truyền giáo của sự ganh tị , ưu điểm của nó là chia xẻ đồng đều sự nghèo khổ .

              ( Cố Thủ tướng Anh , Sir Winston Leonard Spencer Churchill)

14).Chủ nghĩa tư bản không chia đều sự thịnh vượng , nhưng chủ nghĩa xã hội lại chia đều sự nghèo khổ !

                ( Cố Thủ tướng Anh , Sir Winston Leonard Spencer Churchill)

15).Chủ nghĩa cộng sản là logic cuối cùng khi nhân loại không còn tồn tại .

                 ( Đức cố Tổng giám mục Fulton John Sheen )

16).Vấn đề của chủ nghĩa xã hội là tới lúc nào đó nó sẽ xài hết tiền của người khác !

                  ( Cố Thủ tướng Anh Margaret Hilda Thatcher )

17).Nền kinh tế  chủ nghĩa xã hội hoạt đông dựa trên tư tưởng rằng : sự hiểu biết của một nhóm người cao rộng hơn sự hiểu biết của hàng trăm triệu người . Đây là một sự suy nghĩ cực kỳ kiêu ngạo .

                    (Nhà kinh tế học Friedrich August von Hayek )

18).Chủ nghĩa xã hội nói chung đã thất bại rõ tới độ chỉ có những nhà trí thức mù mới có thể không nhìn thấy ( xin phép dịch thoát ý một chút).

                    (Nhà kinh tế học Thomas Sowell —> Socialism in general has a record of failure so blatant that o­nly an intellectual could ignore or evade it. )

19).Tôi hiểu người cộng sản …hiểu sự xấu xa và gian dối của đảng cộng sản .

                     (Cố Thủ tướng Singapore , Lý Quang Diệu )

20).Chủ nghĩa tư bản không thể tồn tại nếu không có TỰ DO , chủ nghĩa cộng sản không thể tồn tại nếu cho phép TỰ DO .

                    ( Nhà kinh tế học , Milton Friedman , Nobel prize  for Economics in 1976 )

21).Hãy nhìn bao nhiêu người từ các xứ cộng sản đã liều chết vượt biên , vượt biển qua các xứ tư bản tự do , nhiêu đó cũng đủ cho chúng ta biết nhân loại đã lựa chọn ra sao .

                  ( Nhà kinh tế học , Milton Friedman , Nobel prize  for Economics in 1976 )

22).Khi bạn thấy một người mập đứng kế một người ốm , không có nghĩa là người mập lấy bớt phần ăn của người ốm . Nhưng đây là cách suy nghĩ của chủ nghĩa xã hội .

                  ( khuyết danh )

23).Làm thế nào để bạn biết người đó là một người cộng sản ? Đó là những người đọc Marx và Lenin . Và làm thế nào để bạn biết người đó là người chống cộng sản ? Vì người đó hiểu Marx và Lenin .

                   (Cố Tổng thống Mỹ Ronald Wilson Reagan )

24).Chủ nghĩa cộng sản chỉ có thể thành công ở hai nơi :

          – Thiên đường , nơi mà không cần có nó .

          – Địa ngục, nơi mà nó đã có rồi .

                    (Cố Tổng thống Mỹ Ronald Wilson Reagan )

25).Tôi có một câu hỏi cho các nhà lãnh đạo của các nước cộng sản : nếu chủ nghĩa cộng sản có tương lai , thì tại sao các ông phải xây những bức tường (điển hình là bức tường Berlin ) để giữ mọi người lại , và dùng quân lực và cảnh sát chìm để bắt công dân của các nước ông im lặng ?

                       (Cố Tổng thống Mỹ Ronald Wilson Reagan ) 

26).Chấm dứt chiến tranh không phải đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong  . Vì lẽ , cái giá phải trả cho hòa bình là hàng ngàn năm tăm tối cho các thế hệ Vietnam sinh về sau !  

                            (Cố Tổng thống Mỹ Ronald Wilson Reagan )

27).Nếu  Việt cộng thắng thì toàn thể Quốc gia Việt Nam sẽ bị tiêu diệt và sẽ biến thành một tỉnh nhỏ của Trung hoa cộng sản . Hơn nữa toàn dân Việt Nam sẽ mãi mãi sống dưới ách độc tài vong bản , vô gia đình , vô tổ quốc ,vô tôn giáo của cộng sản Việt Nam .

                             ( Cố Tống thống Đệ nhất Viêt Nam Cộng Hòa , Ngô Đình Diệm )

28). Đừng nghe những gì cộng sản nói  , mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm !

                             (Cố Tổng thống Đệ nhi Việt Nam Cộng Hòa , Nguyễn Văn Thiệu )

29).Đảng cộng sản Việt Nam đã hi sinh hơn 2 triệu cán binh của họ để biến toàn thể nước Việt Nam thành một nước cộng sản toàn trị . Nhưng cuối cùng họ lại dùng chủ nghĩa tư bản để làm giàu cho chính họ ! Vậy hơn 2 triệu người Việt Nam chết để làm gì ?

                             ( Nhà văn Dennis Mark Prager , o­ne of America ‘s most respected Radio Talk Show hosts )

30).Giải mã nhân vật Hồ Chí Minh chính là giải mã lịch sử bất hạnh của dân tộc Việt Nam 

Những lừa đảo lịch sử của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam

Cao-Đắc Tuấn
 

Tóm lược: Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) làm nhiều vụ lừa đảo lịch sử để gạt dân Việt Nam. Từ khi Hồ chết, ĐCSVN tiếp tục trò lừa đảo với những lời nói láo và dối trá vô nhân đạo để bao che những hành vi vô đạo đức và tội phạm hoặc đánh bóng hình ảnh mình cho mục tiêu tẩy não và nhồi sọ. Bài này phơi bày mười sáu hành động lừa đảo bởi Hồ và/ hoặc ĐCSVN trong nỗ lực họ sửa đổi lịch sử cho lợi lộc cá nhân từ năm 1930 cho đến 2014. Những vụ lừa đảo lịch sử này có hậu quả tàn phá trên người dân Việt, nhất là trẻ em.

***

"Một quốc gia mà không biết mình là gì ngày hôm qua, không biết mình là gì ngày hôm nay." Woodrow Wilson (1856 - 1924), Tổng thống Hoa Kỳ thứ 28.

Dẫn nhập

Lừa đảo là bản chất căn bản của Hồ Chí Minh và phương châm của Đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) trong nhiều thập kỷ (Cao-Đắc 2014c). Trong việc cai trị Việt Nam, Hồ và ĐCSVN dùng đủ mọi thủ thuật, hỗ trợ bằng bạo lực, để ép buộc dân đi theo đường hướng ngoại lai của họ. Một trong những trò lừa đảo tàn khốc và hèn hạ nhất của họ là trò lừa đảo lịch sử. 

Tuy những lừa đảo lịch sử này không trực tiếp ảnh hưởng các khía cạnh vật chất của nạn nhân trong ngắn hạn, sức tàn phá của chúng thật sâu rộng và tác động trên toàn dân cho nhiều thế hệ. Khi những lừa đảo lịch sử này được thiết kế, thực hiện, thúc đẩy, khuyến khích, và bảo vệ bởi chính quyền, chúng đưa đến một tội ác trầm trọng. Hồ và ĐCSVN là những kẻ tội phạm thực hiện tội ác này, hỗ trợ bởi bạo lực và sự tàn nhẫn.

Cái tội ác này khốc liệt hơn cả giết người trong máu lạnh, vì nó điều khiển ý chí nạn nhân và biến cái ý chí đó thành niềm tin mù quáng để các thủ phạm có thể khai thác khả năng sản xuất của nạn nhân cho lợi lộc chúng. Nó giết biết bao nhiêu thế hệ từ năm này qua năm khác một cách chậm chạp và nạn nhân thường không biết là họ đang bị tra tấn một cách thầm lặng để chết dần chết mòn. Nó hủy hoại trí óc người dân, làm suy yếu khả năng lý luận, và biến họ thành những công nhân ngoan ngoãn phục vụ kẻ thống trị. Chẳng bao lâu, niềm tin mù quáng biến thành cảnh nô lệ. Nạn nhân có thể hiện hữu vật chất nhưng linh hồn và trí tuệ họ thuộc về kẻ thống trị. Hậu quả cuối cùng của tiến trình này thật tàn khốc: dân tộc Việt từng bất khuất sẽ bị hủy diệt.

Cái tội ác này hèn hạ vì đa số nạn nhân là những em bé ngây thơ, thanh thiếu niên, hoặc những người hiền lành chất phác, những người không có phương tiện tự vệ vật chất hoặc tinh thần. Là lực duy nhất nắm quyền, ĐCSVN cưỡng hiếp tâm thần trẻ em bằng các kỹ thuật tẩy não và nhồi sọ trong trường học và các hoạt động xã hội. Họ sử dụng lực lượng an ninh để làm câm nín, với bạo lực và tàn ác, những người chống đối. Những người bất đồng chính kiến bị bỏ tù. Lưu thông tin tức bị cấm đoán. Tự do ngôn luận bị giới hạn.

Trong thế kỷ thứ 21, sự hiện hữu của những lừa đảo lịch sử và cái tàn bạo kèm theo là một thảm kịch nhân loại ở mức độ cao nhất. Mặc dù vài nạn nhân đã có thể thoát khỏi những tai hại tâm thần giáng vào họ, đa số dân, nhất là thế hệ trẻ, vẫn còn bị nhốt trong ngục tù tâm thần của lừa đảo lịch sử. Do đó, vạch ra những lừa đảo này là bước tiến cần thiết trong việc khôi phục chính nghĩa cho dân tộc Việt Nam. Phần sau đây phơi bày mười sáu vụ lừa đảo lịch sử đáng kể do Hồ Chí Minh và ĐCSVN thực hiện từ năm 1930 cho đến 2014. Những vụ lừa đảo này có các đặc tính tiêu biểu cho người cộng sản: tàn ác, hèn hạ, hiểm độc, ngu xuẩn, điên rồ, và ngạo mạn.

Mười sáu vụ lừa đảo lịch sử

Có đến hàng ngàn vụ lừa đảo lịch sử do Hồ và ĐCSVN tạo ra. Cần phải có một quyển sách dày hàng ngàn hoặc hàng chục ngàn trang mới liệt kê tất cả sự lừa đảo và gian manh đáng kinh ngạc bởi ĐCSVN và tiền thân của nó. Ngoài lừa đảo lịch sử, Hồ và ĐCSVN còn thực hiện các loại lừa đảo khác: chính trị, xã hội, kinh tế, ngoại giao, văn hóa. Một loại lừa đảo đặc thù là việc tôn thờ Hồ Chí Minh. Bài này sẽ không trình bày việc tôn thờ Hồ chỉ vì phải cần một quyển sách thật dày mới thảo luận hết được.

Mười sáu vụ lừa đảo sau đây đại diện mô hình lừa đảo, dối trá, và lừa gạt của cộng sản. Học giả và sử gia Tây phương đều biết hết những vụ này dưới nhiều mức độ sâu rộng khác nhau, nhưng dân Việt sống tại Việt Nam không biết hết tất cả. Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) đã đặt luật lệ khắt khe cấm đoán dân có được tài liệu, tin tức, và thông tin chống cộng ở thế giới tự do trong biết bao năm. Ngoài ra, họ có một ngân sách hầu như vô tận cho chi phí tuyên truyền gồm có việc sản xuất hằng hà sa số sách vở và tài liệu có các lừa đảo lịch sử và việc sử dụng một lực lượng khổng lồ nhân viên tuyên truyền, phân tích, phê bình, và học giả có ́công việc chính là thực hiện và bảo vệ các lừa đảo lịch sử này.

Nhiều vụ lừa đảo này được đưa vào sách giáo khoa trong trường học hoặc được trình bày trong các tài liệu phân phối hoặc có sẵn cho công chúng. Trẻ em học những sự kiện hoặc các câu chuyện lịch sử lừa đảo này tưởng là có thật. Ngay cả nhiều người lớn, đã trải qua cùng hệ thống trường học, cũng tưởng lầm như vậy.

Những lừa đảo lịch sử gồm các hành động có ý nghĩa lịch sử và có thể được phân loại thành các loại sau: (1) các hành động lừa gạt hoặc gian trá ngay lúc đầu; (2) các hành động bao che hoặc giấu giếm những hành động vô đạo đức do cộng sản làm; (3) các hành động xuyên tạc sự thật sự kiện lịch sử để tô điểm hình ảnh cộng sản hoặc mạ lị các lực đối thủ hiện tại hay quá khứ (thí dụ thể chế VNCH) cho mục tiêu tẩy não và nhồi sọ; và (4) các hành động làm ngơ, bỏ qua, làm giảm thiểu, hoặc tối thiểu hóa tác dụng các sự kiện lịch sử coi như có hại cho cộng sản.

1. Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930-1931) ban đầu là cuộc nổi dậy của nông dân, không có sự tham gia, chứ đừng nói là lãnh đạo, từ đảng cộng sản

Một trong những lừa đảo đầu tiên ĐCSVN thực hiện là cái gọi là Xô Viết Nghệ Tĩnh. Theo ĐCSVN, "[n]gay sau khi thành lập, Đảng đã lãnh đạo nhân dân trong cả nước đứng lên đấu tranh, đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh năm (1930-1931)" (ĐCSVN 2012). ĐCSVN tuyên bố rằng "Xô-viết Việt-nam đầu tiên trong lịch sử Đảng ta - là sự phát triển tất yếu cho cao trào đấu tranh cách mạng của công nhân và nông dân cả nước ta trong những năm 1930-1931" (ĐCSVN 1976, 205).

Thực ra, cuộc nổi dậy Nghệ Tĩnh ban đầu là một cuộc nổi dậy của nông dân, không có sự tham gia, chứ đừng nói là lãnh đạo, từ Đảng cộng sản Đông dương (ĐCSĐD), tiền thân của ĐCSVN (Duiker 1973, 198; Bernal 1981, 159; McLane 1966, 147-157). Cũng không có gì tương tự như chính quyền địa phương "Xô-viết."

Nguyên nhân chính của phong trào là "nông dân bất mãn về điều kiện kinh tế" (Duiker 1973, 192). Đặc biệt, ở Nghệ An, "mùa lúa gạo tháng mười năm 1929 và tháng năm 1930 đều tệ" (Bernal 1981, 157). ĐCSVN (hoặc ĐCSĐD - lúc ấy) có thể miễn cưỡng tham gia chỉ sau khi cuộc nổi dậy trở nên thịnh hành bởi vì "đảng không chuẩn bị vào năm 1930 về tổ chức và về mặt lý thuyết cho một cuộc đối đầu quan trọng với chính quyền Pháp và... ban lãnh đạo đã nhận thức rõ rằng một cuộc nổi dậy là quá sớm" (Duiker 1973, 197) Do đó, Đảng "bị ép buộc vào vị trí hỗ trợ một cuộc nổi dậy mà họ không thực sự muốn" (sđd.). 

Nông dân thậm chí không biết lá cờ đỏ búa và liềm tượng trưng cho cái gì. Nhiều người nghĩ rằng lá cờ này là cờ chính phủ (sđd., 190). "Bằng chứng dường như cho thấy lãnh đạo ĐCSĐD không khởi động các Xô viết, cũng không chấp thuận khi chúng xuất hiện, nhưng một khi phong trào được tiến hành, họ đành phải hỗ trợ chúng cho đến cùng" (sđd., 198). "Không có tài liệu ghi chép nào về chỉ thị đặc biệt gửi đến miền Trung, chứ đừng nói là Nghệ Tĩnh" (Bernal 1981, 159). "Tuyệt đối không có dấu hiệu cho thấy các lãnh tụ cảm thấy thời cơ đã đến" (sđd.). Sự tham gia cộng sản trong cuộc nổi dậy, do đó, chỉ đơn thuần là một phản ứng với một việc đã rồi (Duiker 1973, 197). 

Ngoài sự không chuẩn bị của Đảng cho cuộc nổi dậy, có một lý do thuyết phục tại sao ĐCSVN không muốn lãnh đạo một phong trào "cách mạng" như thế. Trong thời gian cuộc nổi dậy, ĐCSVN đổi tên thành ĐCSĐD trong tháng 10 năm 1930 đưới sự kiên quyết của Quốc tế Cộng sản (Duiker 2000, 187). "Tài liệu ấn hành của hội nghị rất ngạc nhiên là chú ý rất ít về các sự kiện diễn ra ở Nghệ-Tĩnh" (Duiker 1973, 193). Nhưng ĐCSĐD chỉ trích ban chấp hành ủng hộ các hành động đại chúng và nhận xét rằng liên minh giữa công nhân và nông dân trong vùng không được thống nhất cao (Duiker 2000, 188). Chuyện này rõ ràng phù hợp với chỉ trích của Quốc tế Cộng sản vào năm 1929 rằng vai trò trung tâm của giai cấp công nhân trong cuộc cách mạng Việt Nam không được nhấn mạnh đủ (sđd., 186).

ĐCSVN đã cố gắng mang kết nối giữa công nhân và nông dân trong phong trào, nhưng trên thực tế, cuộc nổi dậy Nghệ Tĩnh bản chất là một phong trào nông dân. Thống kê dân số cho thấy giới trí thức, nông dân, tư sản bao gồm 73% đảng viên cộng sản ở Nghệ Tĩnh trong tháng 12 năm 1930 (Bernal 1981, 164), một tỷ lệ phần trăm mà hầu như không được Quốc tế Cộng sản coi là thuận lợi. ĐCSĐD thừa nhận vấn đề này và đã đưa ra hướng dẫn "vì chưa nhận thức đúng đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn và mắc sai lầm hữu khuynh cho nên Nông hội đỏ đã kết nạp cả phú nông, thậm chí có nơi phú nông tham gia Ban chấp hành" (ĐCSVN 1976, 239).

Lý do tại sao nhiều thành viên cộng sản bị bắt hoặc bị giết trong giai đoạn này là "mọi người Pháp ở Đông Dương, từ nhiều năm đã quen với việc đặt nhãn hiệu Bolshevik trên tất cả các hình thức chủ nghĩa quốc gia ở Việt Nam, đã nhanh chóng thấy lãnh đạo cộng sản trong phong trào đình công" (Duiker 1973, 190). Ngoài ra, một thành viên ban chấp hành, Ngô Đức Trí, "bị bắt giữ bởi Pháp... và không những thú nhận những bí mật, mà còn tiết lộ vị trí của các đảng viên khác trong Ủy ban Trung ương" (sđd., 194; Dommel 2002, 44). Nói cách khác, các đảng viên cộng sản bị bắt và bị giết trong cuộc nổi dậy không phải vì họ lãnh đạo cuộc nổi dậy, nhưng vì Pháp tin mãnh liệt là cuộc nổi dậy được tổ chức bởi họ và do đó truy nã họ.

Vậy thì làm sao nhãn hiệu "Xô viết" được dùng để chỉ cuộc nổi dậy của nông dân? Đó là vì Hồ (Nguyễn Ái Quốc vào lúc đó) láu táu báo cáo với Quốc tế Cộng sản vào tháng 11 năm 1930, "Hiện nay ở một số làng đỏ, Xô-viết nông dân đã được thành lập" (trích dẫn trong Nguyễn 2001, 75). Trên thực tế, không có chính quyền địa phương Xô viết như vậy tại các làng Nghệ Tĩnh. Có những hội nông dân mới được thành lập, nắm quyền, và "thường tự xưng là xã bộ nông, cái danh xưng được giữ trong suốt phong trào" (Bernal 1981, 152). Tuy nhiên, các lãnh tụ Đảng cộng sản "lập tức gọi các tổ chức đó là ‘Xô viết’" (sđd.) Các sử gia Đảng Việt Nam thừa nhận rằng "về chủ trương thành lập chính quyền Xô-viết thì hồi đó không đồng chí nào nhận được chỉ thị hoặc nghe phổ biến" (trích dẫn trong Nguyễn 2001, 75). Nếu vậy, tại sao Hồ gọi cuộc nổi dậy nông dân là một phong trào Xô Viết? Có thể có hai lý do: (1) Hồ muốn làm hài lòng các cấp trên của mình trong Quốc tế Cộng sản, và (2) Quốc tế Cộng sản gợi ý cho Hồ ý muốn của họ thúc đẩy cộng sản ở các nước ngoài thực hiện theo các thí dụ thiết lập bởi cộng sản Việt Nam (Nguyễn 2001, 76).

Bất kể chuyện gì đã khiến Hồ gọi cuộc nổi dậy là Xô viết, nhãn hiệu Xô viết và sự mô tả các cuộc nổi dậy nông dân là phong trào tiền phong cách mạng Đảng là hư cấu thuần túy. ĐCSVN chỉ giành công cho cuộc nổi dậy của nông dân,"chính yếu là dưới dạng các bài viết bởi kẻ tuyên truyền tài ba Trần Huy Liệu" (Dommen 2002, 44).

Thực ra, cái gọi là Xô Viết Nghệ Tĩnh được gây ra bởi phong trào quốc gia bắt đầu bằng cuộc khởi nghĩa Yên Bái (McLane 1966, 147-157, gọi cuộc khởi nghĩa Yên Bái là binh biến "Enbay"). Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và các cuộc nổi dậy tiếp theo bởi Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) bị Pháp dập tắt nhanh chóng. Nhiều thành viên của VNQDĐ, kể cả vị lãnh tụ nổi tiếng Nguyễn Thái Học, bị bắt giữ, xử, và hành quyết. Các hoạt động cách mạng quốc gia được hoan nghênh bởi cộng sản Liên Xô (sđd., 148-149). Động lực của cuộc khởi nghĩa Yên Bái lan tràn sang các phần khác ở Việt Nam và dẫn đến các cuộc đình công ở Sài Gòn và các thành phố khác và các cuộc nổi dậy nông dân ở phần phía bắc miền Trung Việt Nam, đặc biệt là vùng Nghệ Tĩnh (sđd., 149-150).

Xô Viết Nghệ Tĩnh là một gian lận nghiêm trọng bởi vì không những cộng sản Việt Nam giựt công cho chuyện mà họ không xứng đáng, mà họ còn bỏ qua sự đóng góp và hy sinh đáng kể của nông dân Nghệ Tĩnh và VNQDĐ.

2. Việt Minh (1941) là bẫy dụ dỗ những người quốc gia đi theo cộng sản

Một vụ lừa đảo khác là sự hình thành Việt Minh, được Hồ và các đồng chí thành lập vào tháng 5, 1941 tại Pắc Bó dưới sự bảo trợ của ĐCSĐD. Hồ, một tác nhân Quốc tế cộng sản, và các đồng chí cộng sản tạo nên phần nòng cốt của lãnh đạo Việt minh, nhưng họ giấu giếm sự dính líu cộng sản của họ.

Ngay cả danh xưng Việt Minh (gọi tắt cho Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội) có tính chất lừa đảo. Hồ và các đồng chí ăn cắp danh xưng này từ tổ chức quốc gia không cộng sản của Hồ Học Lãm thành lập vào cuối thập kỷ 1930 (Duiker 1996, 71; Marr 1997, 165, 250). Mượn tên một tổ chức quốc gia cho tổ chức cộng sản là một sự lừa đảo đê tiện. Mục đích thật hiển nhiên: để lừa dân khiến họ tưởng Việt Minh là một tổ chức quốc gia.

Để cho phù hợp với danh xưng này, Hồ và các đồng chí giấu giếm chủ nghĩa cộng sản và xác định rằng "các đòi hỏi về ý thức hệ và chiến tranh giai cấp phải lệ thuộc vào các đòi hỏi của cuộc đấu tranh chống đế quốc giành độc lập quốc gia" (Duiker 1996, 71). Với chiến thuật mới này, Hồ và các đồng chí kêu gọi mọi thành phần ái quốc gia nhập Việt Minh chống kẻ thù chung. Không những giới tư bản và phú nông mà còn địa chủ giàu có, thương gia Tàu hải ngoại, và các người Pháp yêu nước đều là đồng minh (Duiker 1996, 72). Để ngăn ngửa nguy hiểm do việc nhận các nhóm khác biệt này, Hồ để Đảng nắm giữ quyền trong cơ cấu mặt trận. Tuy nhiên, "Hồ ráng che giấu vai trò Đảng để tối đa hóa việc thu hút những nhóm dung hòa" (sđd.)

Các lãnh tụ theo chủ nghĩa quốc gia Việt Nam "đủ khôn ngoan để nhận ra Việt Minh là một cái bẫy Cộng sản" (Buttinger 1967, 265) nên từ chối tham gia. Tuy nhiên, Việt Minh "không thiết kế để thu hút các lãnh tụ nhưng thu hút những người quốc gia đi theo họ... để vận động họ theo chính trị cho đến khi họ bị buộc phải hợp tác với đảng cộng sản" (sđd., 266). Bản chất lừa đảo của Việt minh đã nảy sinh "niềm tin rằng để được thành công chính trị, không những phải tàn nhẫn, mà còn phải gian dối và vô đạo đức như những người Cộng sản hình như lúc nào cũng vậy" (sđd.).

3. Cái gọi là Cách mạng tháng Tám (1945) chỉ là kết quả của nhiều biến cố bất ngờ tạo ra chính yếu bởi "khoảng trống quyền lực" đột ngột sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh.

Chính phủ CHXHCNVN gọi cuộc Cách mạng tháng Tám là "thắng lợi của sự chủ động chuẩn bị lực lượng, của nghệ thuật tạo thời cơ, chớp thời cơ và kiên quyết hành động" (Chinhphu 2014). Họ tuyên bố rằng "[t]hành công của Cách mạng tháng Tám không phải là giành ‘khoảng trống quyền lực’ như quan điểm của một số học giả nước ngoài,” mà là kết quả của quá trình chuẩn bị cho tới khi phát xít Nhật đầu hàng đồng minh và quân đội Pháp bạc nhược (sđd.).

Mặc cho lời nói hoa mỹ cộng sản, các sự kiện lịch sử không nói láo. Các sự kiện cho thấy việc cướp quyền thành công của cộng sản là do bởi "một số hoàn cảnh xảy ra tình cờ" (Duiker 1996, 104), gồm có: (1) "Các lực lượng chiếm đóng Đồng minh đến [Việt Nam] trễ nải nên tạo ra một khoảng trống chính trị ở các đòn bẩy quyền lực" (Duiker 1996, 104); (2) sự rối loạn toàn bộ về tương lai Việt Nam trong khoảng thời gian quanh việc Nhật đầu hàng (Vu 1986, 312); (3) nỗ lực của chính phủ Trần Trọng Kim để lấy độc lập hoàn toàn và thống nhất lãnh thổ (sđd., 313); (4) nạn đói năm Ất Dậu "tạo ra nỗi tuyệt vọng giúp cộng sản đến được làng thôn và hun nóng cuộc nổi loạn ở đồng quê" (Duiker 1996, 104-105); (5) trò xảo quyệt Việt Minh xưng là có Đồng minh hỗ trợ; (6) "các mối chia rẽ bè phái và địa phương" của mọi đảng quốc gia (Duiker 2000, 105); (7) và Nhật đảo chánh Pháp vào tháng ba 1945 tiêu diệt sự hiện diện quân sự Pháp tại Việt Nam cho tới 1946.

Vào thời điểm đó, Hoa Kỳ muốn thiết lập một mạng lưới ở Đông Dương để chiến đấu chống Nhật và xóa bỏ hệ thống thực dân Pháp (Lacouture 1968, 267-268). Chuyện Mỹ sử dụng Hồ là một hoạt động viên để cung cấp thông tin tình báo về Nhật được biết rõ (Xem, thí dụ như, Bartholomew-Feis 2006, 166, 209). Sự giúp đỡ Mỹ cho Việt Minh không đáng kể dưới quan điểm quân sự, nhưng nó cung cấp Hồ một vũ khí tâm lý mạnh mẽ để giành chiến thắng trong niềm tin và tín nhiệm của dân Việt Nam.

Hồ khai thác tối đa vũ khí tâm lý này kể cả dùng những thủ thuật rẻ tiền. Năm 1945, tại một cuộc họp với Thiếu tướng Hoa Kỳ Claire Chennault, Hồ xin một bức ảnh có chữ ký của tướng (Bartholomew-Feis 2006, 157-158; Logevall 2012, 84), để ông ta có thể dùng nó như là bằng chứng về hỗ trợ của Mỹ, ve vẩy nó "như một cây đũa thần trong các chuyến đi khắp vùng" (Logevall 2012, 84). Trong tháng tám năm 1945, "bức ảnh Tướng Chennault có ký tên của Hồ được hiển thị nổi bật" (Jamieson 1995, 193). Chuyện bên lề là thủ thuật ông ta dùng ảnh có chữ ký những người có quyền hành để hù thiên hạ không phải lúc nào cũng thành công. Năm 1950, ông ta xin Stalin ký một bức chân dung (hoặc một tờ tạp chí), nhưng Stalin, một bậc thầy cộng sản hiểm độc, dường như biết thủ thuật Hồ nên sai thủ hạ lấy lại những bức ảnh hay tờ tạp chí có ký tên (Brocheux 2007, 145; Duiker 2000, 421). Dầu sao chăng nữa, nếu không có tuyên bố về giúp đỡ của Mỹ, sự thu giữ chính quyền của Việt minh sẽ không nổi lên một cách nhanh chóng và mạnh mẽ như vậy (Lacouture 1968, 269).

Ngoài ra, chính phủ Trần Trọng Kim, thành lập ngày 17 tháng 4 năm 1945, đã mở đường cho một cuộc lấy quyền lực sau khi Nhật đầu hàng. Thực ra, "Hồ là người thừa hưởng chính cho các thành quả của Kim" (Vu 1986, 316). Trước ngày 17 tháng 8 và trước khi đầu hàng, Nhật quyết định cho Việt Nam độc lập hoàn toàn và thống nhất lãnh thổ. Tài liệu cho thấy là "Kim có được thống nhất lãnh thổ ngay trước khi Nhật bất ngờ đầu hàng, và, quan trọng hơn, Thuận Hóa và Nam Bộ đã có những bước chuẩn bị để thực hiện việc thống nhất đó" (sđd., 314). Cũng nên ghi chú là chính Kim đã từ chối các đề nghị bởi các cấp chỉ huy Nhật dùng quân Nhật để dẹp Việt Minh (sđd., 315).

Oái oăm thay, "sự đóng góp không chối bỏ được của chính phủ [Trần Trọng] Kim" cho cái gọi là Cách mạng tháng Tám là việc họ khuyến khích tham gia chính trị đại chúng "kể cả xuống đường, hội họp, và đi bộ phản đối, lan tràn tinh thần độc lập văn hóa và chính trị" (sđd.,313), Quan trọng hơn, "một thế hệ trẻ Việt được huy động dưới sự bảo bọc của chính phủ Kim và giới thẩm quyền Nhật" (sđd.). "Các dự án cho tuổi trẻ cho Việt Minh hàng chục ngàn thanh thiếu niên phục vụ lá cờ ĐCSĐD trên danh nghĩa độc lập và đoàn kết quốc gia thay vì trên danh nghĩa chủ nghĩa Marxist-Lenin" (sđd.).

Các diễn tiến thực sự xảy ra chẳng giống một cuộc cách mạng gì cả. Vào ngày 17 tháng 8, 1945, tại Hà Nội, cán bộ Việt Minh phá rối một cuộc biểu tình đông đảo tổ chức bởi Tổng Hội Công Chức, nhằm vào mừng độc lập và thống nhất lãnh thổ và hỗ trợ chính phủ Kim, và họ điều khiển thành công được cuộc biểu tình (Vu 1986, 313; Duiker 2000, 310-311; Marr 1996, 382-387). "Không bị cảnh sát Nhật hạn chế, các đám đông đi vòng đường phố, vẫy biểu ngữ và hò hét khẩu hiệu," nhưng ít ai "biết rõ tính chất phong trào Việt Minh, bây giờ xưng là đại diện cho mọi quyền lợi cho dân Việt" (Duiker 2000, 312).

4. Bản tuyên bố độc lập của Hồ (1945) lừa gạt dân Việt vì Hồ đã có ý định bán đứng Việt Nam cho Pháp hai tháng trước đó.

Vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ đọc diễn văn tuyên bố độc lập, mượn lời lẽ từ Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ và Bản Tuyên Ngôn Quyền Con Người và Dân từ cuộc Cách mạng Pháp. Ông ta lên án gay gắt "bản chất tàn bạo và thiếu dân chủ của chế độ thực dân Pháp" (Duiker 1996, 104).

Thực ra, Hồ đã sẵn sàng bán đứng Việt Nam cho Pháp ngay cả khi Pháp bất lực tại Việt Nam. Vào tháng 7, 1945, Hồ "đề nghị tái lập tạm thời cai trị của Pháp cho đến khi nền độc lập Việt Nam được đảm bảo... trong một thời gian 5-10 năm" (Huyen 1971, 72-73; Sainteny 1972 , 43, ghi chú dưới trang **). Đề nghị này ngay lúc Pháp vẫn còn dưới sự kiểm soát của Nhật, cho thấy rõ ràng tuyên bố độc lập của Hồ chỉ là lời bịp bợm của Hồ để lấy lòng người Việt. Nên nhớ rằng tuyên bố độc lập của Hồ là y như vậy, một lời tuyên bố, không hơn không kém. Không có nghĩa là nền độc lập của Việt Nam được đảm bảo. Hồ hiểu chuyện đó rất rõ, như các hành xử của ông ta với Nhật và Pháp sau này cho thấy. Cái đề nghị tháng 7, 1945, do đó, vẫn còn mới mẻ trong đầu khi ông ta đọc diễn văn ngày 2 tháng 9.

Ngoài ra, cùng với Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp lừa dối dân Việt bằng cách tuyên bố có sự hỗ trợ của quân Đồng minh. Giáp, ngay sau diễn văn của Hồ, đọc diễn văn mình, tuyên bố, "Hoa Kỳ... đóng góp lớn nhất cho sự tranh đấu Việt Nam chống lại phát xít Nhật, kẻ thù chúng ta, và do đó, Cộng hòa Mỹ vĩ đại là bạn tốt của chúng ta" (Xem, thí dụ như, Cao-Đắc 2014b cho danh sách tài liệu tham khảo). Nói sự giúp đỡ nhỏ nhặt của Hoa Kỳ là "đóng góp lớn nhất cho sự tranh đấu Việt Nam chống lại phát xít Nhật" là lời nói láo trắng trợn.

5. "Tuần lễ Vàng" (1945) là một cuộc trá hình cho việc cướp tài sản dân để hối lộ quân Tàu và tướng Lư Hán

Vào ngày 28 tháng 8 năm 1945, bốn quân đoàn Trung Hoa (Tàu) quốc gia "với tổng số 180.000 người dưới sự chỉ huy của tướng Lư Hán, vượt qua biên giới Bắc kỳ" với nhiệm vụ giải giáp Nhật (Huyen 1971, 97). Ngày 14 tháng 9 năm 1945, quân Tàu quốc gia vào miền Bắc Việt Nam (Willbanks 2009, 8). Hồ và các đồng chí, nhất là Võ Nguyên Giáp, lo lắng là lính Tàu đe dọa phe cộng sản vì các cấp chỉ huy Tàu "đã có mối liên hệ thân thiện với các đối thủ của ĐCSĐD là Đồng Minh Hội và VNQDĐ" (Duiker 1996, 115; Marr 1996, 499).

Hồ và các đồng chí tổ chức Tuần lễ Vàng vào ngày 22-26 tháng 9, "kêu gọi dân nộp vàng và các vật có giá trị khác để chính phủ có thể mua vũ khí từ Trung hoa" (Willbanks 2009, 8). "Tuần lễ Vàng" mang lại khoảng "400 kg hoặc 800 cân vàng và 20 triệu đồng [Đông Dương]" (Huyen 1971, 100). Tổng cộng giá trị của vàng và tiền mặt do "Tuần Lễ Vàng" đem lại cho Hồ và đảng cộng sản là khoảng 33 triệu đô la Mỹ theo thời giá năm 2014. Không nhiều, nhưng đó là tài sản kếch xù của người dân nghèo tại miền Bắc Việt Nam vào năm 1945. 

Số vàng và tiền dùng cho chuyện gì? Theo báo cáo cộng sản, "[s]ố tiền đó đã góp phần giúp Chính phủ khắc phục những vấn đề về tài chính trước mắt, mua sắm được một số vũ khí cần thiết xây dựng nền quốc phòng" (QĐND 2010). Thực ra, "phần lớn số lượng [tặng thu] được dùng để hối lộ những người Tàu đang chiếm đóng" (Huyen 1971, 100; Willbanks 2009, 8). Đặc biệt, khi "Lư Hán đến Hà Nội, Hồ đã chào đón ông với một món quà tuyệt vời, 'bộ hút thuốc phiện vàng' " (Huyen 1971, 100; cũng trong Buttinger 1967, 634 n79; Harrison 1989, 107).

Việc Hồ hối lộ Tàu giúp cho giảm căng thẳng giữa phe cộng sản và quân Tàu đang chiếm đóng. Nó cũng làm dễ dàng chuyện Hổ đối phó với các đảng phái quốc gia Việt Nam.

6. Việc giải tán ĐCSĐD (1945) chỉ là trá hình cho hoạt động cộng sản để trấn an Trung hoa quốc gia và những người quốc gia

Dưới áp lực của các người quốc gia đang có hỗ trợ của Trung hoa quốc dân đảng, Hồ giải tán ĐCSĐD vào năm 1945. Việc giải tán là để loại bỏ cái tên "cộng sản" ra khỏi hiệp hội của Hồ để tránh vẻ bề ngoài là có liên kết cộng sản. 

Trên thực tế, "việc giải tán ĐCSĐD chỉ là một mưu mẹo của Hồ" (Huyen 1971, 103). Đảng tiếp tục công việc dưới danh xưng Hội nghiên cứu chủ nghĩa Marx (Duiker 2000, 349-350). Đảng được chính thức tái thành lập với một tên mới, Đảng Lao Động Việt Nam vào năm 1951 sau khi Hồ vững chắc bảo đảm sự ủng hộ của Trung cộng và Liên Xô.

Việc giải tán ĐCSĐD năm 1945 là một hành động lừa đảo tuyệt vọng để "trấn an Trung hoa quốc gia về bản chất quốc gia của chính phủ Việt minh và để tạo ra thiện cảm hơn với những người không theo cộng sản Việt Nam" (Huyen 1971, 103). Chuyện đó cũng được dùng để kêu gọi Hoa Kỳ hỗ trợ. Sự gỉải tán ĐCSĐD "quả thực làm trơn tru các cuộc đàm thoại hòa bình" (Duiker 2000, 350). Tướng Xiao Wen tổ chức một phiên họp giữa đại diện đảng cộng sản và các thành phần các đảng quốc gia. "Các phe đồng ý trên nguyên tắc về sự thành lập một chính phủ liên minh rộng rãi gồm có thành phần của nhiều đảng phái" (Duiker 2000, 350).

Những nỗ lực phối hợp của Hồ và ĐCSVN giấu giếm sự liên kết với cộng sản thực sự của họ khi Hồ là người lãnh đạo phong trào cách mạng cho thấy rõ ràng bản chất lừa đảo của họ.

7. Thỏa thuận Sainteny (1946) giúp hợp thức hoá chính quyền cộng sản và dùng Pháp để tiêu diệt phe quốc gia

Thỏa thuận ký kết giữa Hồ và Jean Sainteny vào ngày 6 tháng 3, năm 1946 cho phép quân Pháp trở lại miền Bắc Việt Nam là một lừa đảo đôi. Bề ngoài, như thể Hồ nhượng bộ cho Pháp mang 25.000 lính tới Bắc Việt Nam để đổi lấy chuyện Pháp công nhận Cộng hòa Dân chủ Việt Nam là một nước tự do trong Liên bang Đông dương và Liên hiệp Pháp (Huyen 1971, 123, 131; Logevall 2012, 133). 

Trên thực tế, đó là một hành động lừa đảo thiết kế bởi Hồ và Đảng ông ta, hoạt động dưới danh nghĩa Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác, để đạt được hai mục tiêu chính: (i) có được công nhận là lực lượng hợp pháp chính trị Việt Nam duy nhất tại Việt Nam (Logevall 2012, 135), và (ii) dùng sức mạnh quân sự của Pháp trong việc loại bỏ các phe quốc gia đối thủ.

Hồ và Đảng ông ta biết sự cướp quyền của họ trong tháng 8 năm 1945 là bất hợp pháp vì nó không có hỗ trợ dân thực sự. Cuộc tổng tuyển cử ngày 6 tháng 1 năm 1946 được sắp đặt với quá nhiều bất thường (Huyền 1971, 107-110) đến nỗi Hồ và Đảng ông ta phải tìm cách để tuyên bố tính chất hợp lệ. Thỏa thuận Hồ-Sainteny cho thế giới và dân Việt Nam một cảm giác rằng chính phủ của Hồ không những hợp pháp, mà còn là lực lượng chính trị duy nhất đại diện cho Việt Nam. Ngoài ra, các phe quốc gia trở thành ngày càng đe dọa, nhất là với sự hỗ trợ của quân Trung hoa quốc gia đang chiếm đóng. Trong khi giả vờ thừa nhận 70 chỗ người quốc gia trong quốc hội, Hồ và Đảng ông ta ngấm ngầm chuẩn bị loại bỏ lực lượng họ. Pháp thích thú giúp một tay trong việc loại trừ này vì họ cũng sẽ dập tắt được một lực lượng đối lập.

Để ra vẻ ông ta miễn cưỡng ký thỏa thuận với Sainteny, Hồ nói rằng chẳng thà ông ta ngửi cứt Pháp trong một thời gian còn hơn ăn phân Tàu suốt đời (Logevall 2012, 133). Thực ra, ông ta đã biết Pháp sẽ quay trở lại miền Bắc Việt Nam có hoặc không có thỏa thuận giữa ông ta và Sainteny, và quân Tàu sẽ rời Việt Nam không bao lâu. Ông ta đã biết về cuộc đàm phán Trung-Pháp tại Chungking, dẫn đến một hiệp ước vào ngày 28 tháng 2 năm 1946 (Huyen 1971, 111). Theo hiệp ước Trung-Pháp này, để đổi lấy nhượng bộ rất nhiều từ Pháp, Tàu đồng ý rút quân đội ra khỏi Đông dương trong tháng ba năm 1946 (Huyen 1971, 111). Trên thực tế, một lực lượng khoảng 21.000 người thuộc sư đoàn 9 bộ binh thuộc địa và sư đoàn thiết giáp Pháp đã được gửi đi trên tàu chiến từ Sài Gòn đến Bắc Bộ vào cuối tháng Hai năm 1946 (Logevall 2012, 132). Thỏa thuận Sainteny, do đó, chỉ đơn thuần cho Pháp an tâm là lực lượng Việt Nam sẽ không tham gia vào các hoạt động thù địch với Pháp. 

Với giúp đỡ của Pháp, Việt minh dưới sự chỉ huy của Võ Nguyên Giáp giết chết hàng ngàn người quốc gia một cách có hệ thống vào năm 1946 (Huyen 1971, 163). Cuộc tàn sát những người quốc gia và các lãnh tụ quốc gia tương lai được ghi rõ (Xem, thí dụ như, Cao-Đắc 2014b). Khi chiến tranh bùng nổ giữa Pháp và Việt Minh trong tháng 12 năm 1946, "không ngạc nhiên là Hồ đã trở thành lãnh tụ của lực lượng kháng chiến quan trọng duy nhất" vì "ông ta đã giết chết gần như tất cả những người khác" (Nixon 1985, 35).

8. Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) có được là nhờ sự giúp đỡ Tàu cộng và đóng góp của dân Việt vì được hứa hẹn cho ruộng đất

Trận Điện Biên Phủ (1954) được chính phủ cộng sản hoan hô là chiến thắng long trời lở đất. Theo chính phủ cộng sản, chiến thắng này “được ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX" (Chính phủ CHXHCNVN). Câu này là lời xuyên tạc trắng trợn các sự kiện lịch sử. Đổ đồng Điện Biên Phủ với Bạch Đằng, Chi Lăng, và Đống Đa là một sự khinh thường tột đỉnh lịch sử Việt Nam và lăng mạ Ngô Quyền, Lê Lợi, và Nguyễn Huệ một cách không thể tha thứ được. Trận Điện Biên Phủ lu mờ so với các trận này về mọi phương diện.

Trận Điện Biên Phủ chỉ là một trận do Tàu cộng chỉ đạo đổi lấy hàng chục ngàn mạng dân Việt. Sự hỗ trợ của Tàu cộng cho Việt Minh trong trận Điện Biên Phủ đã được biết rộng rãi (Xem, thí dụ như, Cao-Đắc 2014b). 

Để huy động lực lượng hỗ trợ hậu cần, Đảng của Hồ dựa vào nông dân nghèo với lời kêu gọi lòng yêu nước và hứa hẹn cho đất trong chiến dịch cải cách ruộng đất (Zhai 2000, 38). Cuối cùng, phe cộng sản huy động một lực lượng cung cấp khổng lồ gần 300.000 người nhờ vào cuộc kêu gọi lừa đảo cho lòng yêu nước buộc giới trí thức và công nhân hợp tác nhau để đánh Pháp (Xem, thí dụ như, Cao-Đắc 2014b cho danh sách tài liệu tham khảo). Với 47.500 quân tổ chức thành năm sư đoàn và giúp đỡ quân sự vĩ đại từ Tàu cộng, hỗ trợ bởi lực lượng cung cấp khổng lồ, Việt Minh bao vây Điện Biên Phủ, phòng thủ bởi một lực lượng kết hợp khoảng 20.000 quân chiến đấu trong 55 ngày. Điện Biên Phủ xụp đổ ngày 7 tháng 5 năm 1954. Thương vong Việt Minh được ước tính là 7.900 chết và 15.000 bị thương trong khi thương vong Pháp là 2.204 chết, 6.452 bị thương và 3.610 mất tích (Fall 2002, 484, 487).

Với những con số như vậy, làm sao mà ĐCSVN dám so sánh Điện Biên Phủ với Bạch Đằng, Chi Lăng, hoặc Đống Đa? Người nước ngoài không biết về trận Bạch Đằng, Chi Lăng, hoặc Đống Đa có thể tưởng là các trận lịch sử này tương tự như trận Điện Biên Phủ về tính chất trận đánh (bao vây đồn lũy trong 55 ngày), cuộc huy động lực lượng cung cấp và binh lính vĩ đại so với lực lượng địch nhỏ nhoi (350,000 so với 20,000), thương vong (23,000 so với 9,000), và trợ giúp ngoại bang dồi dào. Kẻ ngu xuẩn nào lại có thể nghĩ ra cách hạ nhục dân Việt và các anh hùng dân tộc Ngô Quyền, Lê Lợi, và Nguyễn Huệ như vậy?

Trận Điện Biên Phủ còn là dịp cho ĐCSVN vinh thánh Võ Nguyên Giáp. Tính chất tàn bạo, coi thường sinh mạng con người (kể cả lính mình), bất tài, và hèn nhát của Giáp đã được biết rõ (Xem, thí dụ như, Cao-Đắc 2014b cho các nguồn tài liệu; Đặng 2013).

Ngày 13 tháng 10, 2013, đám tang Võ Nguyên Giáp được tổ chức linh đình. Hàng vạn người đứng bên lề đường khi quan tài ông ta được mang ra phi trường để được bay về Quảng Bình, quê ông ta. Cả ngàn người khóc lóc công khai. Gần một năm sau, ngày 2 tháng 9, 2014, cuốn phim "Sống Cùng Lịch Sử" do "hoàn toàn bằng kinh phí Nhà nước cấp" ở 21 tỷ đồng (khoảng 1 triệu đô la Mỹ) với nội dung ca ngợi chiến thắng Điện Biên Phủ và Võ Nguyên Giáp được trình chiếu tại Hà Nội. Chỉ sau vài ngày, cuốn phim đã phải ngừng chiếu vì số lượng khán giả tới xem chỉ có 2, 3 người mỗi ngày (Tuổi 2014b). Nhiều người tự hỏi tại sao hàng vạn người chịu khó đứng bên lề đường khóc lóc trong đám tang Giáp mà chỉ có 2, 3 người đến coi phim vinh danh ông ta. 

9. Cuộc nổi dậy Quỳnh Lưu là một cuộc nổi dậy rộng lớn cần cả một sư đoàn quân đội đàn áp nhưng ĐCSVN làm giảm cường độ, xuyên tạc các lý do, và không đề cập đến sự đàn áp tàn bạo.

Trong tháng 11 năm 1956, nông dân từ huyện Quỳnh Lưu ở Nghệ An, phần lớn theo Công giáo, khởi đầu một cuộc nổi dậy kéo dài vài ngày. Nông dân phản đối "việc giam giữ thân nhân và tịch thu tài sản cho là dính líu tới chương trình cải cách ruộng đất, việc từ chối không cho quyền đi vào Nam..., và sự trừng phạt nặng nề những người đã cố đi" (Nutt 1970, 3). Vấn đề thực ra "bắt đầu xuất hiện từ 1955, khi dân làng chống đối là họ đã bị các viên chức chính phủ ngăn cản không cho di cư vào Nam" (Duiker 2000, 486-487). "Dân trong vùng có tiếng là tự trọng và độc lập" (JUSPAO 1966, 1), nhưng "cán bộ Đảng thường tố cáo các lãnh tụ Công giáo địa phương là những kẻ phản động và phá hoại" (Duiker 2000, 487).

Trong khoảng thời gian nhiều ngày, nông dân, "khoảng 20.000 người tổng cộng, trang bị gươm kiếm và nông cụ, đột kích lính gác cộng sản, lấy vũ khí họ, và nắm giữ các cơ sở chính quyền huyện" (JUSPAO 1966). Các khẩu hiệu họ, giống một cách lạ thường như các khẩu hiệu hiện đang dùng ở Việt Nam, gồm có "Đả đảo lũ cộng sản bán nước!" và "Chúng ta hãy đuổi bọn Tàu cộng ra khỏi Bắc Việt!" (Moyar 2006, 63). Tuy nhiên, không giống như tình trạng hiện nay tại Việt Nam khi lực lượng an ninh và cảnh sát ngoan ngoãn tuân theo chỉ thị chính quyền, tại Quỳnh Lưu, "nhiều binh sĩ, chính họ cũng từ gia đình nông dân, công khai hoặc ngầm theo phe dân nổi loạn" (JUSPAO 1966, 2). Vài đơn vị vũ trang từ huyện Quỳnh Lưu "gia nhập dân nổi loạn hàng loạt" (sđd.).

Hà Nội lập tức phái cả một sư đoàn quân đội tới vùng, trước là sư đoàn 304, sau đó có thêm các đơn vị tiểu đoàn pháo binh và hai trung đoàn (JUSPAO 1966, 3). Cũng có báo cáo là "Giáp phái đơn vị thân nhất của mình, sư đoàn 325, để đàn áp cuộc nổi loạn" (Currey 1999, 222). Lực lượng quân đội đàn áp cuộc nổi loạn nhanh chóng. "Các đơn vị tàn bạo của Giáp giết hoặc gây thương tích hơn một ngàn nông dân" (Currey 1999, 222). Họ còn "bắn bừa bãi vào đàn ông, đàn bà, và trẻ em" (Nutt 1970, 3). "Vào đỉnh cao chiến dịch, khoảng 20.000 quân tác chiến Bắc Việt truy nã độ 2.000 dân nổi loạn trốn chạy trên đồi núi" (JUSPAO 1966, 3). "Sau cùng, đa số dân nổi loạn bị giết hoặc bị bắt mặc dù vài trăm người tìm được cách chạy thoát vào Nam" (JUSPAO 1966). Ngoài ra, lực lượng chính quyền còn bắt và tống khứ hơn sáu ngàn người tới các trại lao động và cải tạo (Currey 1999, 222).

Tuy tính chất tàn bạo của cộng sản không hoàn toàn bất ngờ, phản ứng lẹ làng và to lớn hơi đáng ngạc nhiên. Thì ra lý do cho sự đàn áp nhanh chóng và tàn bạo là để cho Tàu thấy là mọi chuyện êm thấm. "Vào ngày 18 tháng 11, Chu Ân Lai dẫn một phái đoàn Tàu tới Hà Nội" (Ang 1997, 42). Dù chuyến thăm của Chu không được loan báo rầm rộ, chuyến đi "đã được biết trước" (sđd.). Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH), sốt sắng làm vui lòng quan thầy Tàu, không muốn Chu phải bận tâm tới một cuộc nổi dậy nào đó.

Với lý do hiển nhiên, ĐCSVN làm giảm cường độ của cuộc nổi dậy. Một bài báo cộng sản báo cáo là cuộc nổi dậy được dàn dựng bởi Mỹ và chính quyền Nam Việt. “Mỹ-Diệm chỉ huy bọn phản động đội lốt tôn giáo lợi dụng tự do tín ngưỡng xuyên tạc chủ trương sửa sai cải cách ruộng đất của ta, kích động giáo dân gây bạo loạn ở Quỳnh Lưu” (Lê 2004). Không có báo cáo về chuyện giết nông dân và việc tống hàng ngàn dân nổi loạn bị bắt tới các trại lao động và cải tạo.

Cuộc nổi dậy Quỳnh Lưu năm 1956 giống cuộc nổi dậy Nghệ Tĩnh năm 1930 trên nhiều khía cạnh: địa danh (Nghệ An), dân nổi loạn (nông dân), cường độ, bạo lực, và sự đàn áp tàn bạo. Tuy nhiên, trong thế giới cộng sản, cuộc nổi dậy Quỳnh Lưu đã đi vào quên lãng trong khi cuộc nổi dậy Nghệ Tĩnh được xưng với vinh quang là do bởi lãnh đạo sáng suốt của ĐCSVN.

10. Công hàm của Phạm Văn Đồng gửi đến Tàu cộng (1958) lộ tính chất phản bội hoặc trò lừa đảo ngay cả với đồng bọn của ĐCSVN

Vụ công hàm Phạm Văn Đồng gửi cho Tàu đồng ý tuyên bố Tàu về lãnh hải đã được biết rộng rãi. Sự hiệu lực của lá thư Đồng vẫn còn trong tranh chấp, nhưng giá trị pháp lý của lá thư đó không phải là vấn đề ở đây. 

Sự tranh chấp các đảo có thể được diễn giải theo hai cách, tùy theo ý tin của Hồ và các đồng chí về tình trạng sở hữu của các hòn đảo lúc đó. Nếu họ tin rằng các đảo thuộc về Bắc Việt lúc đó, thì lá thư của Đồng rõ ràng là bằng chứng về hành vi phản quốc của họ bí mật bán một phần lãnh thổ đất nước cho ngoại bang để có được "tình hữu nghị tốt đẹp" giữa hai nước. Nếu họ không tin rằng các đảo thuộc về Bắc Việt lúc đó và thay đó thuộc về Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), thì lá thư của Đồng rõ ràng là bằng chứng về hành vi lừa đảo của họ đối với người khác, ngay cả với người bạn thân nhất của họ. Trong cả hai trường hợp, Hồ và các đồng chí ông ta đã hành động thiếu đạo đức và vi phạm các yếu tố cơ bản của sự tin cậy và trung thực trong việc đối phó với dân họ hay với các nước khác trong vấn đề quốc tế.

Chính phủ CHXHCNVN có thể hoặc không thể thắng vụ tranh chấp các đảo về phương diện pháp lý, nhưng họ không thể thắng về phương diện đạo đức.

11. Mặt trận Giải Phóng miền Nam (1960) là một công cụ của cộng sản Bắc Việt nhưng ĐCSVN chối bỏ cho tới khi họ chiếm đoạt miền Nam năm 1975

Năm 1960, cộng sản Bắc Việt thành lập và điều khiển Mặt trận Giải Phóng (MTGP) và Chính phủ Cách mạng Lâm thời nhưng chối bỏ là có liên kết với Mặt trận Giải Phóng trong nhiều năm (Joes 2001, 49). Chỉ sau khi Bắc Việt chiếm được Nam Việt Nam, họ mới công khai thừa nhận rằng "Chính phủ Cách mạng Lâm thời luôn luôn chỉ đơn giản là một nhóm phát ra từ VNDCCH" (trích dẫn trong Truong 1986, 268). 

Có lẽ một trong những sự lừa đảo tồi tệ nhất của ĐCSVN là sự trở mặt với chính người của họ, MTGP và CPLT (Chính phủ lâm thời). "Sau chiến thắng 1975, Mặt trận và CPLT không những không có vai trò gì hơn nữa, họ còn trở thành một trở ngại tích cực trong sự củng cố quyền lực nhanh chóng" (Truong 1986, 268). Theo lời của cựu bộ trưởng tư pháp của CPLT, "với quyền lực trong tay, họ bắt đầu cho thấy bộ mặt thật của họ trong kiểu tàn bạo nhất" (sđd.).

12. Chiến tranh Việt Nam (1954 – 1975) được tiến hành bởi Hồ và ĐCSVN bằng cách lừa đảo dân miền Bắc và tạo chia rẽ hận thù trong dân Việt để phục vụ ngoại bang

Cái lừa đảo tồi tệ nhất, và cái bạo lực dùng để che đậy sự lừa đảo và / hoặc để đạt được các mục tiêu cộng sản, mà Hồ và ĐCSVN thực hiện, là kế hoạch hiểm ác của họ trong việc tiến hành chiến tranh chống lại miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ. Kế hoạch này hiểm ác vì nó lợi dụng tình huynh đệ thiết tha của dân Việt Nam và biến nó thành một mối thù sâu đậm với đế quốc và chính phủ ngụy tưởng tượng đưới danh nghĩa tinh thần yêu nước. Kết quả là sự phí phạm hàng triệu sinh mạng.

Hồ và ĐCSVN thực hiện sự lừa đảo của họ bằng những lời nói láo trắng trợn và bịp bợm. Đối với dân Bắc Việt, Hồ và ĐCSVN vẽ ra bức tranh miền Nam Việt Nam là một quốc gia bị áp bức bởi một chính phủ ác độc sử dụng một quân đội to lớn phục tòng đế quốc Mỹ. Nhiều người Bắc Việt tin rằng miền Nam Việt Nam là một nước nghèo vì dân bị lính Nam Việt Nam cướp bóc và họ có nhiệm vụ cao cả giải phóng anh em họ ra khỏi sự đàn áp và chấm dứt nỗi đau khổ của dân (Herrington 1982, 192). "Những kẻ lãnh tụ Hà Nội thực hiện một việc đáng kể là bán dân Bắc Việt cái sứ mệnh thiêng liêng cứu anh em miền Nam của họ khỏi nanh vuốt chủ nghĩa đế quốc" (sđd., 264).

Dương Thu Hương, một nhà văn và người bất đồng chính kiến, kinh ngạc về các lừa dối cộng sản khi bà chứng kiến tình trạng miền Nam so với miền Bắc vào năm 1975. Bà nói, "Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người" (Đinh 2012).

13. Vụ Lê Văn Tám (1945) và Nguyễn Văn Bé (1967) cho thấy đầu óc ngu muội của người cộng sản trong việc bịa đặt hình ảnh anh hùng để phục vụ mục tiêu họ.

Câu chuyện về Lê Văn Tám và Nguyễn Văn Bé được biết rõ (Xem, thí dụ như, Nguyên 2013; Southerland 1971; Phan 2009). Cộng sản coi họ là anh hùng hy sinh tính mạng trong chiến tranh chống Pháp và Mỹ, và đưa họ lên hàng liệt sĩ. Vấn đề là có những yếu tố hư cấu trong các câu chuyện đó. Lê Văn Tám là một nhân vật bịa đặt với hành động anh hùng tưởng tượng dựa vào một sự kiện có thật, và Nguyễn Văn Bé là một người thật với câu chuyện hư cấu. Cộng sản Việt Nam nói láo và tạo dựng các chuyện đó. Không có người thật nào chết và không có hành động anh hùng nào được thực hiện.

Mặc cho chứng cớ không chối cãi được về các dối trá, chính phủ CHXHCNVN vẫn giữ hình ảnh anh hùng của họ. Câu chuyện Lê Văn Tám được kể trong sách giáo khoa trong trường tiểu học. Nhiều trường học, quỹ học bổng, tượng đài, công viên, đường xá, và nhiều địa danh trên khắp Việt Nam được đặt tên anh ta. Vài đường có tên Nguyễn Văn Bé được đổi lại sau 1975, nhưng vẫn có nhiều trường mang tên Nguyễn Văn Bé.

Đầu óc cộng sản không thể hiểu được. Qua việc giữ tên các anh hùng bịa đặt cho trường học, đường xá, và công viên, chính phủ CHXHCNVN khuyến khích lừa đảo, dối trá, và lừa gạt. Họ gợi ý cho dân là những câu chuyện về các anh hùng hoặc liệt sĩ cộng sản khác cũng có thể bịa đặt. Một mặt, sự ngu xuẩn này thực ra tốt vì quả thật nhiều câu chuyện về các anh hùng cộng sản là bịa đặt. Mặt khác, cái tai hại thật khủng khiếp vì những anh hùng thực sự trong lịch sử bị vạ lây. Thông điệp rõ ràng họ muốn gửi tới trẻ em là, "Nói láo không sao, miễn là chuyện đó phục vụ mục tiêu cách mạng và ca ngợi tinh thần hào hùng của dân Việt." Thảo nào học sinh Việt Nam ghét học sử. Đối với các em, Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ và các anh hùng dân tộc khác chắc chỉ là những nhân vật bịa đặt, y như Lê Văn Tám; hoặc họ có thể là người thật nhưng hành động anh hùng của họ là hư cấu, y như hành động của Nguyễn Văn Bé.

14. Sự kiện UNESCO (1989) không những lừa bịp dân Việt mà còn là một quốc nhục khi Hồ Chí Minh bị so sánh tệ mạt hơn một học giả Thái Lan.

Vào năm 1987, chính phủ CHXHCNVN thông báo UNESCO là Việt Nam sẽ kỷ niệm sinh nhật thứ 100 của Hồ vào ngày 19 tháng 5 năm 1990, và nói rằng Hồ là một người vĩ đại cho nền văn hóa Việt Nam (Bùi 2006, 82). UNESCO chỉ thông qua một kiến nghị đề nghị các nước thành viên tham gia trong lễ tưởng niệm sinh nhật thứ 100 của Hồ, ghi nhận rằng "năm 1990 sẽ đánh dấu 100 năm sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc và người vĩ đại trong nền văn hóa Việt Nam" ("the year 1990 will mark the centenary of the birth of President Ho Chi Minh, Vietnamese hero of national liberation and great man of culture") (Bùi 2006, 81-83; UNESCO 1987). 

Bằng cách rõ ràng dùng tính từ "Việt Nam" ở đầu nhóm chữ để mô tả toàn bộ nhóm chữ, UNESCO chỉ đơn giản lập lại những gì mà chính phủ CHXHCNVN đòi hỏi rằng Hồ Chí Minh là một anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và một người vĩ đại trong nền văn hóa Việt Nam. Tất nhiên ông ta là anh hùng và người vĩ đại với cộng sản của Cộng sản Việt Nam, cùng một cách như Hitler là anh hùng và người vĩ đại với Nazi của Đức Quốc Xã Nazi, Kim Jong Il với người Bắc Hàn của Bắc Triều Tiên, Mao Trạch Đông với người Tàu cộng của Trung Quốc, và Stalin với người Soviet cộng sản của Liên Xô trong lúc họ sống.

Mặc dù sự chỉ định này thật rõ ràng, các viên chức cộng sản Việt Nam, không biết vì ngu dốt, thiếu hiểu biết, hoặc cố tình bóp méo sự thật, giải thích nhóm chữ của UNESCO là "anh hùng giải phóng quốc gia Việt Nam và người vĩ nhân quốc tế về văn hóa." (Nhấn mạnh thêm.) Chỉ định Hồ là một trong "những người văn hoá vĩ đại trên thế giới" được bao gồm trong sách giáo khoa dùng trong các trường học Việt Nam ("Hồ Chí Minh còn là một Danh nhân văn hoá thế giới, một nhà thơ lớn") (BGDĐT 2011, 141). Lời tuyên bố Hồ là một "người văn hóa nổi tiếng thế giới" được công bố trên các phương tiện truyền thông của chính phủ (Chinhphu 2010; Trương 2014).

UNESCO rõ ràng từ chối thừa nhận Hồ là người văn hóa quốc tế. Thay vì vậy, UNESCO thừa nhận một công dân Thái Lan là một học giả văn chương thế giới trong cùng phiên họp và gồm câu đó trong cùng đoạn văn. Việc này là bằng chứng cụ thể là Hồ, một lãnh tụ quốc gia, bị coi là tệ hơn một công dân Thái.

Trong cả phân đoạn (phân đoạn 18.65) trong nghị quyết, UNESCO chỉ dùng những từ như "quốc gia (national)," và "Việt Nam" để mô tả Hồ. Ngoài ra, UNESCO cẩn thận dùng từ cho hành động là "ghi chú (noting)," và "xem xét/ cân nhắc (considering)." Ngược lại, trong phân đoạn dành cho kỷ niệm một trăm năm sinh nhật của Phya Anuman Rajadhon, một học giả Thái Lan, UNESCO phát biểu, "Thừa nhận rằng Phya Anuman Rajadhon là một học giả vĩ đại, những đóng góp của ông cho thế giới văn học sẽ luôn luôn được nhớ và quý, và là tia sáng hướng dẫn những người đương thời với ông và các thế hệ theo sau tiến đến chân lý, tốt lành và đẹp đẽ" ("Recognizing that Phya Anuman Rajadhon was a great scholar whose contributions to the literary world will always be remembered and appreciated, and was the light that guided his contemporaries and succeeding generations towards truth, goodness and beauty") (UNESCO 1987, 133. Nhấn mạnh trong nguyên tác.)

Sự dùng các từ "thừa nhận/ công nhận (recognizing)" và "thế giới văn học (literary world)" trong phần mô tả Phya Anuman Rajadhon khác hẳn với những từ "ghi chú (noting)," "xem xét/ cân nhắc (considering)" và "quốc gia (national)" mô tả Hồ. Vì UNESCO dùng "thừa nhận/ công nhận" và "thế giới văn học" cho Phya Anuman Rajadhon nhưng không dùng những từ ngữ đó cho Hồ Chí Minh trong cùng một đoạn và trong cùng một phiên họp, rõ ràng là UNESCO từ chối "thừa nhận/ công nhận" Hồ về đóng góp của ông ta trong lãnh vực văn hóa, giáo dục, và nghệ thuật, cho dù ở trong Việt Nam, chứ đừng có nói là xem xét Hồ cho tầm vóc đó ở mức thế giới. Chắc chắn, thừa nhận Hồ về đóng góp của ông ta cho thế giới văn hóa là một chuyện không thể có được. 

Thật là quái đản khi chính phủ CHXHCNVN không hiểu được các sự khác biệt đơn giản như vậy. Vì Phya Anuman Rajadhon chỉ đơn thuần là một học giả Thái Lan và Hồ Chí Minh là một lãnh tụ quốc gia, chuyện này nên coi như một tủi nhục quốc gia. Thay vì vậy, chính phủ CHXHCNVN xuyên tạc lời UNESCO, hãnh diện về chuyện đó, và loan báo cho cả nước. Trong khi thế giới, và đặc biệt là Thái Lan, đang chê cười Việt Nam, nhân dân Việt Nam khoe khoang Hồ là "người văn hóa nổi tiếng thế giới." Ngoài việc dùng một kẻ không xứng đáng để đại diện cho nền văn hóa Việt Nam, chính phủ CHXHCNVN lại còn làm tình trạng tệ hơn qua việc xuyên tạc sự thật để lừa gạt dân.

Còn có cái ô nhục nào nghiêm trọng hơn mà chính phủ CHXHCNVN có thể mang đến cho dân Việt Nam?

15. Bộ phim "Mậu Thân 1968" (2013) của đạo diễn Lê Phong Lan là một nỗ lực tuyệt vọng trong việc xóa bỏ tội ác không tả xiết của cộng sản.

Ngày 25 tháng 1 năm 2013, Đài Truyền hình Việt Nam VTV1 khởi đầu phát hình bộ phim "Mậu Thân 1968" gồm 12 tập, do đạo diễn Lê Phong Lan thực hiện (Lê 2013). Theo Lê Phong Lan, bà ta đã đi đi về về giữa Việt Nam và Mỹ trong suốt 10 năm, "đã gặp và phỏng vấn khoảng 200 nhân chứng" cả mọi bên (cộng sản, Mỹ, và Việt Nam Cộng Hòa) để đi tìm sự thật (Lê 2013). Đáng buồn thay, cái sự thật mà Lê Phong Lan đi tìm, thực ra chỉ là một nỗ lực tuyệt vọng trong việc xóa bỏ tội ác không tả xiết của cộng sản. Một cách khôi hài, bộ phim "Mậu Thân 1968" dường như cho thấy sau 45 năm im lặng, đã đến lúc phe cộng sản đem "sự thật" ra ánh sáng. Có ai tin là người cộng sản chịu im lặng trong 45 năm khi họ bị "vu oan"? Tuyên truyền là tài năng họ hãnh diện mà họ chịu im lặng trong 45 năm?

Một cách trắng trợn, tập 8, nhan đề "Khúc ca bi tráng," chối bỏ cuộc thảm sát tại Huế do Việt Cộng, và đổ lỗi cho bom đạn Mỹ và quân đội VNCH. Trong một khúc phim, Lê Phong Lan phỏng vấn Nguyễn Đắc Xuân, kẻ nói rằng cuộc thảm sát là do phản kích tâm lý chiến của phe VNCH. Đoạn phim trích dẫn lời các học giả Hoa Kỳ Noam Chomsky, Edward S. Herman, và D. Gareth Porter cho rằng những người chết trong các hầm chôn tại Huế là do bom đạn Mỹ, do quân VNCH trả thù những cảm tình viên cộng sản khi tái chiếm Huế, và là những người lính cộng sản bỏ xác tại chiến trường. Luận điệu chống đỡ này chẳng có giá trị gì cả. Ai cũng biết Nguyễn Đắc Xuân là một trong những tên sát nhân đã giết những người dân Huế. Những kẻ sát nhân khác gồm có Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, và Nguyễn Thị Đoan Trinh. Phỏng vấn một chiều một kẻ bị coi là sát nhân về tội ác mà hắn coi là gây ra là một chuyện ghê tởm trong phim tài liệu lịch sử. Trích dẫn lời của những học giả phản chiến về cuộc chiến quả thật là một nỗ lực ngu xuẩn của những kẻ muốn sửa lại lịch sử.

Do đó, không ngạc nhiên khi bộ phim "Mậu Thân 1968" không hề đề cập đến một nhân chứng vả tài liệu quan trọng nhất về vụ thảm sát Mậu Thân: Bác sĩ Alje Vennema và cuốn sách ông, nhan đề "Cuộc Thảm Sát tại Huế bởi Việt Cộng" xuất bản năm 1976 (Vennema 1976). Bác sĩ Alje Vennema, một cảm tình viên cho phong trào phản chiến, là nhân chứng đáng tin cậy nhất về vụ thảm sát Mậu Thân vì ông đích thân tham gia trong việc tìm các hầm chôn nạn nhân và khám xét hài cốt nạn nhân để xác định nguyên nhân chết với cặp mắt chính xác của một bác sĩ. Chính D. Gareth Porter, sử gia phản chiến Hoa Kỳ và là kẻ bênh vực cộng sản, công nhận Bác sĩ Vennema là nhân chứng. Porter, tuy nhiên, dùng những báo cáo tương phản với những báo cáo của Bác sĩ Vennema.

Trong sách ông, Bác sĩ Vennema mô tả rất chi tiết các hầm chôn, số nạn nhân, cách thức họ chết. Ngoại trừ một số it có thể chết vì súng đạn, đa số bị chết vì hành quyết, tay trói ngược ra sau, giẻ nhét vào miệng. Bác sĩ Vennema tự hỏi, "Phải chăng người Mặt Trận [Giải Phóng] và đám đỡ đầu ở Hà Nội nghĩ rằng họ có quyền giết, như thể bất cứ ai cũng có quyền giết người?" (Vennema 1976, 183). "Bất cứ họ muốn đạt được chuyện gì, thảm kịch Huế sẽ mãi mãi là bản cáo trạng hành vi họ" (sđd.). Bác sĩ Vennema nhấn mạnh là không có lẫn lộn trong việc giết người. "Các cuộc giết người không phải do bởi nóng giận, hoảng hốt, hoặc trước khi rút lui; chúng được cân nhắc kỹ lưỡng trước đó. Đa số nạn nhân là những người được đánh dấu có tên trên danh sách những người bị tiêu diệt, còn những người khác là vì họ có dính líu với quân đội hoặc chính quyền Sài gòn" (sđd., 184).

Ngoài cuốn sách của Bác sĩ Vennema, có hàng trăm nhân chứng và tài liệu cho thấy cuộc thảm sát Mậu Thân năm 1968 là một cuộc giết người tập thể dã man của cộng sản Việt Nam theo chính sách cộng sản Bắc Việt. Chi tiết về những hầm chôn nạn nhân và nguồn các tài liệu này được ghi chép tỉ mỉ (Xem, thí dụ như Vennema 1976; Cao-Đắc 2014a, 356-362).

Bác sĩ Vennema từ trần năm 2011 tại British Columbia, Canada. Nếu quả thật Lê Phong Lan là người muốn tìm hiểu sự thật "trong suốt 10 năm" thì bà ta nên phỏng vấn ông lúc ông còn sống, hoặc it nhất bà ta lẽ ra tham khảo cuốn sách ông. Lê Phong Lan tuyên bố, "Có người hỏi tôi làm phim tài liệu lịch sử có công bằng không, tôi xin trả lời, tôi phải công bằng vì đó là nghề nghiệp, là thanh danh của tôi” (Lê 2013). Lê Phong Lan quả thật đã cho một định nghĩa mới cho "công bằng" hoặc bà ta đã coi thường chính thanh danh mình, nếu bà ta có thanh danh.

16. Cuộc triển lãm Cải Cách Ruộng Đất (2014) toan tính lấp liếm tội ác giết hơn 170.000 dân vô tội

Ngày 8 tháng 9 năm 2014, Viện Bảo tàng Lịch sử quốc gia mở cuộc triển lãm Cải Cách Ruộng Đất 1946 - 1957 với thông cáo: "Cuộc trưng bày chuyên đề Cải cách ruộng đất 1946-1957 là một hoạt động góp phần tuyên truyền, giáo dục cho đông đảo tầng lớp nhân dân, đặc biệt thế hệ trẻ nhận thức đúng hơn về cuộc cách mạng ruộng đất trong tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta những năm 1946-1957" (Dân 2014a). Cuộc triển lãm trưng bày gần 150 hiện vật, tài liệu gốc, và hình ảnh về cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc trong thập kỷ 1950, nhưng không có cái gì trưng bày về cuộc hành quyết hơn 170.000 nạn nhân.

Cuộc triển lãm dự trù mở cửa cho công chúng cho tới cuối năm 2014 nhưng chỉ sau bốn ngày, cuộc triển lãm đóng cửa với lý do kỳ lạ là "sự cố điện" (Tuổi 2014a). Sự đóng cửa bất ngở của cuộc triển lãm cho thấy ĐCSVN nhận ra cái dại dột của họ khi cố gắng che đậy tội ác giết hơn 170,000 dân vô tội. Lần này, ĐCSVN không còn lừa gạt dân với những lởi lẽ lừa đảo vì sự thật của cuộc CCRĐ đã được phổ biến khắp nơi qua các phương tiện truyển thông và Internet.

Cuộc triển lãm khơi lại vết thương của cuộc thảm sát dã man dân vô tội trong một trong những giai đoạn đen tối nhất trong lịch sử Việt Nam. Nó nhắc nhở thân nhân còn sống của những nạn nhân về mối thương đau mà họ đã chịu đựng trong hơn nửa thế kỷ. Tại sao chính phủ CHXHCNVN muốn làm vậy?

Kết luận

ĐCSVN hiện hữu hơn tám mươi năm nhờ vào ba yếu tố: lừa đảo, tàn bạo, và may mắn. Ta chẳng làm gì được với may mắn. Cũng khó thay đổi bản chất tàn bạo của người cộng sản. Nhưng lừa đảo là cái móc nối yếu nhất của họ. Nó có thể bị phơi bày.

ĐCSVN không bao giờ thực sự thừa nhận họ đã phạm những hành vi lừa đảo. Điều này cho thấy họ sẽ tiếp tục lừa đảo và vi phạm hành vi tội phạm. Thực ra, đó chính là những gì đang xảy ra ngay bây giờ tại Việt Nam. Ngoài ra, cần có thời gian cho một sự lừa đảo được khám phá. Bất cứ những gì ĐCSVN đang làm bây giờ có thể không được biết đến cho đến khi hai mươi, ba mươi, hay năm mươi năm sau. Hai mươi năm sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, tổng số thương vong của Bắc Việt cuối cùng mới được tiết lộ. Năm mươi năm sau cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu, ĐCSVN mới tiết lộ tổng số địa chủ bị hành quyết. Sáu mươi năm sau vụ Lê Văn Tám, câu chuyện thật mới lộ ra. Dưới hệ thống độc đảng không có cơ chế kiểm tra và cân bằng, không có cách nào mà dân Việt biết những gì chính phủ đang làm.

Phong trào "Chúng Tôi Muốn Biết," phát động bởi Mạng Lưới Blogger Việt Nam vào tháng 9, 2014 (Dân 2014b), đòi hỏi chính quyền đáp ứng với công chúng về những việc ảnh hưởng đến chủ quyền đất nước. Với cái văn hóa lừa đảo và dối trá sâu đậm, cộng với bản chất tàn ác và hiểm độc, xác suất cho việc ĐCSVN thỏa mãn yêu cầu này hầu như là con số không. Tuy nhiên, phong trào "Chúng Tôi Muốn Biết" có vẻ là một hóa trang tài tình, vô tình hay cố ý, cho một phong trào hay chiến dịch mạnh mẽ hơn, hoặc là một chiến thuật làm chia trí hay đánh lạc hướng ĐCSVN. Bất cứ ý định họ là gì, ĐCSVN chẳng làm gì được với người dân muốn biết chuyện gì đang xảy ra với đất nước. Ít nhất nó là một thông điệp to và rõ cho ĐCSVN là dân Việt Nam không còn là đàn thú ăn cỏ sợ đám linh cẩu hiểm ác.

Phong trào "Chúng Tôi Muốn Biết" ngầm có một phong trào em bổ sung đồng hành: phong trào "Chúng Tôi Không Muốn Biết" hoặc "Chúng Tôi Không Thèm Biết." Phong trào em này nhắm vào những lừa đảo lịch sử bao che cho các tội ác quá khứ của ĐCSVN hoặc xuyên tạc sự thật để tô điểm hình ảnh cộng sản.

Cả hai phong trào đều có thông điệp to và rõ cho ĐCSVN.

Thực vậy, dân Việt đã quát to và rõ thông điệp "Chúng Tôi Không Muốn Biết" hoặc "Chúng Tôi Không Thèm Biết" vào những lừa đảo lịch sử của phim "Sống Cùng Lịch Sử" và cuộc triển lãm Cải Cách Ruộng Đất.

Kế tiếp sẽ có những tiếng quát to và rõ của tuổi trẻ Việt Nam.

Tuổi trẻ Việt Nam vẫn thường bị chê trách là vô cảm với tình hình hiện tại ở Việt Nam và ít lo nghĩ đến tương lai đất nước. Sự chỉ trích này còn sâu đậm thêm bởi các chống đối cho dân chủ do sinh viên học sinh dẫn đầu tại Hồng Kông, gọi là chiến dịch Chiếm Trung Tâm (Occupy Central) hoặc Cách Mạng Dù (Umbrella Revolution). Tuy chỉ trích này có phần đúng ở chỗ nó phản ảnh sự có vẻ thờ ơ hoặc không hành động của tuổi trẻ trong các cuộc chống đối xâm lược Tàu tại Biển Đông hoặc các biểu tình dân chủ khác, nó có thể không công bình. Là nạn nhân, tuổi trẻ Việt Nam phải trước hết phá vỡ xiềng xích gông cùm đã nhốt trí tuệ các em và giải thoát mình ra khỏi ngục tù tâm thần của cộng sản. Cái tiến trình này cần có thời gian. Nó có thể nhanh, vài tuần, vài tháng, hoặc chậm, vài năm. Nhưng chuyện đó có thể làm được. Thật vậy, nhiều người trẻ đã cho thấy các em đã thoát khỏi ngục tù tâm thần của cộng sản và đang tranh đấu cho dân chủ.

Một khi các em được giải thoát, các em sẽ biết quý ý nghĩa của lòng yêu nước. Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ sẽ không còn chỉ là các tên trong sách sử hoặc các nhân vật trong kịch, phim. Hội Nghị Diên Hồng, các trận Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa sẽ không còn chỉ là những biến cố nhàm chán từ quá khứ xa xôi. Các em sẽ chợt nhận ra lịch sử Việt Nam là một phần của đời các em, là cái gì tạo nên các em bây giờ, và con cháu các em mai sau.

Bấy giờ, không cần phải ai nói, các em sẽ đứng lên và hành động.

Đúng vậy, sẽ có những tiếng quát to và rõ của tuổi trẻ Việt Nam. Tiếng quát của các em sẽ như là những tiếng gầm hùng vĩ của các con sư tử trẻ trở về để lấy lại đất đai mình từ lũ linh cẩu hiểm ác. 

Và các em sẽ không chỉ quát thông điệp. Các em sẽ kèm theo thông điệp mình với hành động cụ thể.

Cao-Đắc Tuấn
danlambaovn.blogspot.com
_______________________________

Tài liệu tham khảo

1. Ang, Cheng Guan. 1997. Vietnamese Communists’ Relations with China and the Second Indochina Conflict, 1956-1962. McFarland & Company, North Carolina, U.S.A

2. Bartholomew-Feis, Dixee. 2006. The OSS and Ho Chi Minh: Unexpected Allies in the War against Japan. University Press of Kansas, Kansas, U.S.A.

3. Bernal, Martin. 1981. The Nghe-Tinh Soviet Movement 1930-1931. Past and Present, No. 92 (1), 148-168.

4. BGDĐT (Bộ Giáo dục và Đào tạo). 2011. Ngữ Văn 7 tập 1 (Language, Grade 7, vol. 1). Nguyễn Khắc Phi (Chief Ed.). Eighth edition, Giáo dục Việt Nam, Hanoi, Vietnam.

5. Brocheux, Pierre. 2007. Ho Chi Minh: A Biography. Translated by Claire Duiker, Cambridge University Press, New York, U.S.A.

6. Buttinger, Joseph. 1967. Vietnam: A Dragon Embattled. Volume I – From Colonialism to the Vietminh. Frederick A. Praeger, New York, U.S.A.

7. Bùi Tín. 2006. Bùi Tín tâm tình với tuổi trẻ Việt Nam (Bùi Tín in heart-to-heart talk with Vietnamese youth). Vietnamese Publishers Consortium, Virginia, U.S.A.

8. Cao-Đắc Tuấn. 2014a. Lửa Cháy Trong Mưa. Hellgate Press, Oregon, U.S.A. 

9. Cao-Đắc Tuấn. 2014b. “Không Cờ Trắng.” 7-5-2014.
http://danlambaovn.blogspot.com/2014/05/khong-co-trang.html (truy cập 20-9-2014).

10. Cao-Đắc Tuấn. 2014c. Tài đóng kịch của Hồ Chí Minh dưới mắt học giả Tây phương. 21-8-2014.
http://danlambaovn.blogspot.com/2014/08/tai-ong-kich-cua-ho-chi-minh-duoi-mat.html (truy cập 30-9-2014).

11. Chính phủ CHXHCNVN. Không rõ ngày. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ toàn thắng, hiệp định Giơnevơ được ký kết.
http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungchinhsachthanhtuu?categoryId=698&articleId=10001574 (truy cập 20-9-2014).

12. Chinhphu. 2010. Trao tặng bản Nghị quyết UNESCO tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. 2-10 2010.
http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Trao-tang-ban-Nghi-quyet-UNESCO-ton-vinh-Chu-tich-Ho-Chi-Minh/201010/37063.vgp (truy cập 25-9-2014).

13. Chinhphu. 2014. Cách mạng tháng Tám: Bài học lịch sử, giá trị tương lai. 1-9-2014.
http://baodientu.chinhphu.vn/Tin-noi-bat/Cach-mang-thang-Tam-Bai-hoc-lich-su-gia-tri-tuong-lai/207489.vgp (truy cập 24-9-2014).

14. Currey, Cecil B. 1999. Victory at Any Cost. Potomac Books, Inc, Washington, D.C., U.S.A.

15. Dân Làm Báo. 2014a. Cuộc triển lãm những oan hồn. 11-9-2014.
http://danlambaovn.blogspot.com/2014/09/cuoc-trien-lam-nhung-oan-hon.html (truy cập 19-9-2014).

16. Dân Làm Báo. 2014b. Thư ngỏ của MLBVN về Chiến dịch Chúng Tôi Muốn Biết. 17-9-2014.
http://danlambaovn.blogspot.com/2014/09/thu-ngo-cua-mlbvn-ve-chien-dich-chung.html (truy cập 27-9-2014).

17. Dommen, Arthur J. 2002. The Indochinese Experience of the French and the Americans: Nationalism and Communism in Cambodia, Laos, and Vietnam. Indiana University Press, Indiana, U.S.A.

18. Duiker, William J. 1973. The Red Soviets of Nghe-Tinh: An Early Communist Rebellion in Vietnam. J. of Southeast Asian Studies, Vol. 4, No. 2 (Sept. 1973), 186-198.

19. __. 1996. The Communist Road to Power in Vietnam. Westview Press, Colorado, U.S.A.

20. __. 2000. Ho Chi Minh – A Life, Hyperion, New York, U.S.A.

21. Đặng Chí Hùng. 2013. Những sự thật cần phải biết (phần 19) - Sự thật về Võ Nguyên Giáp. originally posted 5-9-2013, reposted 24-9-2014.
http://danlambaovn.blogspot.com/2013/09/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-19-su.html (truy cập 24-9-2014).

22. ĐCSVN (Đảng cộng sản Việt Nam). 1976. Những Sự Kiện Lịch Sử Đảng, Tập I (1920-1945)(Accounts/Facts o­n the Party History - Volume I (1920-1945)). Ban nghiên cứu lịch sử Đảng trung ương (Research committee o­n the history of Party Central). Sự Thật, Hà Nội, Vietnam.

23. ĐCSVN. 2012. Kỷ niệm 82 năm Xô Viết Nghệ Tĩnh, khánh thành khu di tích lịch sử Xô Viết ngã ba Nghèn (Celebrating the 82nd anniversay of the Soviet Nghệ Tĩnh, unveiling the Soviet historical site of the Nghèn road fork). 12-9-2012.
http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30106&cn_id=542908 (truy cập 21-9-2014).

24. Đinh Quang Anh Thái. 2012. Dương Thu Hương: “30 tháng Tư 75, nền văn minh đã thua chế độ man rợ.” 17-4-2012.
http://www.viet-studies.info/DuongThuHuong_DQAT_2.htm (truy cập 28-9-2014)

25. Fall, Bernard B. 2002. Hell in a Very Small Place: The Siege of Dien Bien Phu, Da Capo Press, U.S.A.

26. Harrison, James P. 1989. The Endless War: Vietnam's Struggle for Independence. Columbia University Press, New York, U.S.A.

27. Herrington, Stuart A. 1982. Stalking the Vietcong – Inside Operation Phoenix: A Personal Account. Presidio Press, New York, U.S.A.

28. Huyen, N. Khac. 1971. Vision Accomplished? The Enigma of Ho Chi Minh. The Macmillan Company, New York, U.S.A.

29. Jamieson, Neil L. 1995. Understanding Vietnam. University of California Press, California, U.S.A.

30. Joes, Anthony James. 2001. The War for South Vietnam, 1954-1975. Praeger Publishers, Connecticut, U.S.A.

31. JUSPAO. 1966. The Quynh Luu North Vietnam Uprising, November 13, 1956. Added 16 May, 2002.
http://www.vietnam.ttu.edu/virtualarchive/items.php?item=0720124004 (accessed 29-9-2014).

32. Lacouture, Jean. 1968. Ho Chi Minh: A Political Biography. Translated from the French by Peter Wiles. Translation edited by Jane Clark Seitz. Random House, New York, U.S.A.

33. Lê Tâm. 2013. Lần đầu tiên khai mở bí mật về Mậu Thân 1968. 23-1-2013.
http://danviet.vn/hau-truong-giai-tri/lan-dau-tien-khai-mo-bi-mat-ve-mau-than-1968-87845.html (truy cập 18-9-2014).

34. Lê Văn Hối. 2004. Dẹp bạo loạn ở Quỳnh Lưu. Trích QĐND 25-10-2004.
http://nhandanvietnam.org/view.php?storyid=300 (truy cập 29-9-2014).

35. Logevall, Fredrik. 2012. Embers of War. Random House, New York, U.S.A.

36. Marr, David G. 1997. Vietnam 1945: The Quest for Power. First paperback printing. University of California Press, California, U.S.A.

37. McLane, Charles B. 1966. Soviet Strategies in Southeast Asia – An Exploration of Eastern Policy under Lenin and Stalin. Princeton University Press, New Jersey, U.S.A.

38. Moyar, Mark. 2006. Triumph Forsaken – The Vietnam War, 1954-1965. Cambridge University Press, New York, U.S.A.

39. Nguyên Anh. 2013. Anh hùng Nguyễn Văn Bé !? 14-11-2013.
http://danlambaovn.blogspot.com/2013/11/anh-hung-nguyen-van-be.html (truy cập 23-9-2014).

40. Nguyễn Minh Cần. 2001. Đảng Cộng Sản Việt Nam qua những Biến Động trong Phong Trào Cộng Sản Quốc Tế (The Vietnamese Communist Party during the Turmoil of the Comintern Movement). Tuổi Xanh. Unknown location.

41. Nixon, Richard. 1985. No More Vietnams. Avon Books, New York, U.S.A.

42. Nutt, Anita Lauve. 1970. o­n the Question of Communist Reprisals in Vietnam.
http://www.rand.org/content/dam/rand/pubs/papers/2008/P4416.pdf (truy cập 29-9-2014).

43. Phan Huy Lê. 2009. Trả lại sự thật hình tượng Lê Văn Tám. Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay số ra tháng 10 năm 2009.
http://daotao.vtv.vn/gs-phan-huy-le-tra-lai-su-that-hinh-tuong-le-van-tam/ (truy cập 23-9-2014).

44. QĐND. 2010. Nhớ “Tuần lễ vàng”, nghĩ về “lòng dân” (Remember the “Gold Week,” think about the “people's heart”). 28-8-2010.
http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/271/271/271/122209/Default.aspx (truy cập 27-9-2014)

45. Southerland, Daniel. 1971. Christian Science Monitor issue June 8, 1971. Also available as translated text “Vẽ và xóa anh hung,” translated by Trần Quốc Việt. 12-2-2012.
http://danlambaovn.blogspot.com/2012/12/ve-va-xoa-anh-hung.html (truy cập 23-9-2014).

46. Truong Nhu Tang. 1986. A Vietcong Memoir. With David Chanoff and Doan Van Toai. Vintage Books, New York, U.S.A.

47. Trương Tấn Sang. 2014. Diễn văn của Chủ tịch nước nhân Chiến thắng Điện Biên Phủ. 7-5-2014.
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140507/dien-van-cua-chu-tich-nuoc-nhan-chien-thang-dien-bien-phu.aspx (truy cập 25-9-2014).

48. Tuổi Trẻ. 2014a. Triển lãm Cải cách ruộng đất: Cần sòng phẳng với lịch sử. 9-9-2014.
http://m.tuoitre.vn/tin-tuc/Kinh-te/Du-Lich/Van-hoa/1059683173,Trien-lam-Cai-cach-ruong-dat-Can-song-phang-voi-lich-su.ttm (truy cập 21-9-2014).

49. ___. 2014b. Đầu tư tiền tỉ, phim “chết” khi ra rạp. 19-9-2014.
http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20140919/dau-tu-tien-ti-phim-chet-khi-ra-rap/647782.html (truy cập 20-9-2014).

50. UNESCO. 1987. Records of the General Conference, Twenty-fourth Session, Paris, Volume I – Resolutions. 1987.
http://unesdoc.unesco.org/images/0007/000769/076995E.pdf (truy cập 25-9-2014).

51. Vennema, Alje. 1976. The Viet Cong Massacre at Hue, Vantage Press, New York, U.S.A., 1976.

52. Vu Ngu Chieu. 1986. The other side of the 1945Vietnamese Revolution: The Empire of Vietnam (March - August 1945). Journal of Asian Studies XLV, No. 2 (Feb. 1986), 293-328.

53. Zhai, Qiang. 2000. China and the Vietnam Wars, 1950 – 1975. The University of North Carolina Press, North Carolina, U.S.A.

54. Willbanks, James H. 2009. Vietnam War Almanac. Facts o­n File, Inc., New York, U.S.A.

© 2014 Cao-Đắc Tuấn

http://danlambaovn.blogspot.com


CSVN bán nước cho Tàu làm giàu từ TBT đến lính: 1 triệu đô một giờ t do qua cữa khẩu.
                               SOS..!

Bán nước giá 1 triệu đô..!

         Hôm nay đi hẹn hò ăn chơi tới gần một giờ sáng mới buông nhau ra. Chẳng phải
         em mê gì anh ấy, nhưng tại anh ấy có “ông bạn đại gia” mới ở VN qua du lịch, mà 
         anh ấy có nhiều thông tin kể mà em muốn nghe. Càng nghe càng nổi da gà các
         thim ạ. Hôm nào quen thân Mã rủ anh lên LS kể trực tiếp. Trước mắt anh nói là:

Không phải chỉ có tứ trụ mới bán nước đâu Mã. Bọn quan chức tiếp tay bán nước mới nguy hiểm hơn nhiều ! Vì chúng quá đông nên không biết thằng nào làm.

 

Nhất là cái đám canh các cửa khẩu ở VN hết sức mất dạy. Chúng dã tâm bán rẻ đất nước VN mình cho TC, bằng cách nhận hối lộ, để mở các cửa khẩu trong 1h đồng hồ không kiểm soát. Nghiã là TC muốn chở bất cứ thứ gì vào Việt Nam cũng được, miễn sao phải giải quyết đúng trong vòng 1h đồng hồ đó với giá là 1 triệu đô la.

 

Các bạn không tin đúng không ? Dĩ nhiên ai mà làm 1h cho một triệu VND thì cũng đã thấy nhiều rồi, huống gì là 1h đến 1 triệu đô. Cho nên TC chẳng dại gì mà chở những thứ rẻ tiền vào VN ngoài vũ khí. Anh không bảo đảm TC đã đưa vào và hiện giờ có sẵn bao nhiêu loại vũ khí nguy hiểm ở Việt Nam. Vì những xe hàng, xe tải lớn của Trung Quốc khi qua các cửa khẩu đó đều được bọc kín, che đậy bằng 1 loại vải đặt biệt.

 

Chúng được trang bị kỹ lưỡng trước, và khi mua được 1h của cửa khẩu rồi, chúng cứ thế trong giờ đó nối đuôi nhau chạy vào Việt Nam, đưa hàng hoá đến địa điểm mà họ đã dự định.

1 triệu đô 1 giờ, số tiền quá lớn nên chúng chẳng cần suy nghĩ lại. Cùng nhau chia chác mà quên đi sự tai hoạ phía sau đó đối với đồng bào và đất nước như thế nào. Những chiếc xe đó, có thể là đạn dược, có thể là quân đội, có thể là các hàng hoá độc phẩm, các hoá chất pha chế, những ma tuý giết người, hoặc là có thể tất cả những thứ kể trên, đựoc “lén lút 1 cách công khai” đưa vào VN để rồi từ từ bán ra thị trường Việt, giết lần giết dần người Việt chúng ta một cách nhẹ nhàng không gươm dao. Chưa tính những chiếc xe này nếu có chở quá tải làm hư đường thì quan chức giao thông họ cũng mặc kệ.

Sau khi chở những “hàng quý” vào cửa khẩu VN rồi, những chiếc xe này tiếp tục dùng các xe này chở hàng đi khắp nơi trên địa bàn VN. Nếu lỡ chúng có bị bắt thì việc lập biên bản xử phạt đối với những xe vi phạm mang biển kiểm soát Trung Quốc và lái xe cũng là người Trung Quốc thường rất khó khăn, bởi toàn bộ các giấy tờ liên quan đến xe và hàng hóa đều không có. Thậm chí, trong số những chiếc xe này, đã có những chiếc vi phạm lần 2, lần 3 về chở quá tải trọng lưu thông ở sau vào trong nội địa VN.

 

Anh nói, bọn TQ nó không cần giấu diếm nhưng nó đã sắp đặc đầy đủ các loại vũ khí nguy hiểm khắp nơi ở VN, kể cả quân đội. Hiện họ giả làm dân sinh sống rãi rác, nhưng nếu quan chức VN bất phục là nó ra lệnh xử ngay và mình sẽ không có đường đở. Tứ trụ biết điểm yếu của chính mình, chúng ham sống sợ chết nên giờ TC nói gì họ cũng phải “Xin Vâng! Và Tuân Lệnh”.

 

Anh là một doanh nhân giàu có, cũng là một nạn nhân phải đóng tiền hối lộ vô lý cho quan chức CS để được yên thân làm ăn chân chính. Làm chủ các resort ở VN, anh nói bọn quan chức đâu phải nghèo, nhưng những ngày lễ lớn là ngày chủ resort làm ăn thì quan chức dẫn cả đại gia đình đến ở, ăn chơi, xả rác, chọn những phòng có quan cảnh đẹp nhất cho họ nhưng không bao giờ được tính tiền mà còn phải đưa bìa thư cho chúng đem về. Bằng không cả ngày nó kéo lực lượng an ninh đến bu quanh làm thủ tục kiểm tra abc, khách khứa ra vào thấy cảnh sát nhiều quá, họ sợ và không dám quay lại. Nó còn tàn nhẫn rỉ tai với khách là toà nhà xây dựng không có giấy phép. Không đạt tiêu chuẩn và có nguy cơ đổ sập bất cứ khi nào. Thử hỏi không chi cho chúng thì làm sao mình làm ăn?

Ôi thôi, còn nhiều và nhiều hơn nữa. Nhưng Mã kể sơ cho mọi người nghe. Uhm! Thì sẽ có nhiều bạn không tin và cho rằng Mã dựng chuyện. Dù sao Mã cũng thấy đất nước Việt Nam đã mất rồi, chứ không chờ chúng công khai tuyên bố thì lúc đó mới mất.

Muốn đòi lại hả??? Phải đổi máu rất nhiều !

Ca này khó quá, 100 triệu dân chắc sẽ bỏ qua.

Đau cái bộ lòng lắm!

            MTL 🦄



THIẾU TRÍ TUỆ

SỰ DIỆT VONG TẤT YẾU CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN

 PHẠM ĐÌNH TRỌNG

1. LƯƠNG TÂM VÀ TRÍ TUỆ KHÔNG CÓ CHỖ TRONG NHÀ NƯỚC THAM NHŨNG

Thể chế cộng sản đã biến đội ngũ quan chức nhà nước cộng sản thành những băng cướp mạnh, những băng cướp cấp nhà nước. Quan chức quản lí của cải, tài nguyên của nước thì cướp của nước như những vụ cướp diễn ra ở Vinashine thời Phạm Thanh Bình, Nguyễn Tấn Dũng, ở Vinalines thời Dương Chí Dũng, Nguyễn Tấn Dũng , ở Petrovietnam thời Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh, Nguyễn Tấn Dũng. Như băng nhóm Vũ Nhôm, Út Trọc. Như băng nhóm tướng lĩnh cướp đất sân bay Gia Lâm, sân bay Tân Sơn Nhất. . . Quan chức quản lí lãnh thổ dân cư thì cướp của dân như ở Cống Rộc, Tiên Lãng (Hải Phòng), ở Văn Giang (Hưng Yên), ở Dương Nội, ở Đồng Tâm (Hà Nội), ở Thủ Thiêm (Sài Gòn). . .

Hối hả ăn cướp, những băng nhóm cướp cộng sản đã đánh sập lòng tin của dân vào nhà nước cộng sản. Công khai ăn cướp, những băng nhóm cướp cộng sản còn đào ruỗng chân móng tòa nhà cộng sản. Cướp đã thành bệnh dịch hạ gục hàng loạt quan chức cộng sản từ cấp xã, phường lên tới cấp Bộ trưởng, Thủ tướng Chính phủ. Pháp luật chưa soi đến những vụ đại án tham nhũng tài sản của ông Thủ tướng Ba Dũng và gia đình nhưng việc ông tham nhũng quyền lực cho con cái ông thì đã quá rõ. Cướp đã thành trận lũ quét cuốn trôi của cải vật chất của đất nước, cuốn trôi cả những giá trị đạo đức, văn hóa của con người. Lúc này không diệt đám cướp ngày là đội ngũ quan chức nhà nước cộng sản tham nhũng, thể chế cộng sản sẽ mất người, mất lòng dân, đi vào suy tàn không thể đảo ngược. Nhưng quyền lực đảng tham nhũng cầm quyền còn sai khiến cả pháp luật, một kẻ đứng đầu những băng nhóm đầu trộm đuôi cướp cấp nhà nước như Nguyễn Tấn Dũng còn vênh váo là người tử tế thì làm sao có thể chống tham nhũng!

Mấy năm qua, Ủy ban Kiểm tra trung ương, cơ quan cảnh sát điều tra tội phạm trong nội bộ tổ chức cộng sản đã làm việc ráo riết và liên tiếp điểm mặt những băng cướp nổi cộm, đầy tai tiếng không còn giấu giếm được nữa. Nhưng ra đời bằng cướp chính quyền, tồn tại bằng cướp dân quyền, đặc tính cướp đã được cài đặt trong bản thể cộng sản, đã là bản chất của thể chế cộng sản. Chính thể chế cộng sản đã sản sinh ra những băng cướp cấp nhà nước được gọi bằng từ ngữ nhẹ nhàng, lịch sự, mĩ miều là tham nhũng. Chính thể chế cộng sản đã nuôi dưỡng, chăm bẵm những mầm mống tham nhũng để những mầm mống đó nảy nở thành những băng cướp lộng hành tàn bạo như những băng cướp đất ở Văn Giang, Hưng Yên, ở Dương Nội, ở Đồng Tâm, Hà Nội, Ở Thủ Thiêm, Sài Gòn.

Tham nhũng được thể chế cộng sản nuôi dưỡng vì vậy không phải cứ tham nhũng là bị nhà nước cộng sản diệt. Diệt tham nhũng để cứu thể chế cộng sản nhưng diệt tham nhũng còn là trận chiến ác liệt một mất, một còn trong cuộc đấu đá nội bộ ở cấp chóp bu cộng sản. Diệt tham nhũng còn là chiếc đầu dê treo trên bảng hiệu trước cửa tiệm, để trong bếp núc nhà hàng cộng sản chế biến món củng cố thế lực phe phái nắm quyền. Và cơ quan cảnh sát điều tra tội phạm trong nội bộ tổ chức cộng sản, Ủy ban Kiểm tra trung ương, đã quyết liệt truy diệt đến cùng những băng nhóm tham nhũng lớn nhỏ thuộc triều đại tham nhũng Nguyễn Tấn Dũng đã thất thế. Những đàn em trong đường dây băng nhóm tham nhũng Nguyễn Tấn Dũng dù xa chạy cao bay như Trịnh Xuân Thanh trốn sang tận trời Âu, nhà nước cộng sản vẫn chấp nhận đổ vỡ về ngoại giao với cả liên minh châu Âu, xuất cả tướng bộ trưởng công an cùng đội đặc nhiệm cấp cao và đông đúc do tướng tình báo chỉ huy sang tận trời Âu công khai chà đạp lên pháp luật nhiều nước châu Âu, tóm cổ Trịnh Xuân Thanh lôi về nước trị tội, diệt đàn em, diệt vây cánh của thế lực Nguyễn Tấn Dũng thù địch còn cài cắm trong bộ máy đương quyền.

Trong khi Võ Kim Cự rước đại họa Formosa về giết sự sống biển Việt Nam, giết chết cả nền kinh tế biển Việt Nam, gây bất ổn nghiêm trong về an ninh chính trị, an toàn xã hội. Số tiền Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh gây thất thoát tính bằng ngàn tỉ đồng thì số tiền Formosa – Võ Kim Cự gây thiệt hại cho nền kinh tế Việt Nam, gây thiệt hại cho cuộc sống người dân Việt Nam phải tính tới hàng triệu tỉ đồng, hàng tỉ tỉ đồng. Võ Kim Cự kí vượt thẩm quyền cho Formosa thuê 3300 ha đất tới 70 năm với giá rẻ như cho không. 5000 đồng chỉ mua được li trà đá nhưng thuê được tới 1450 m2 đất Vũng Áng trong một tháng. Biếu không Formosa 3300 ha đất trong 70 năm thì số tiền Formosa lại quả cho Cự cũng phải tính tới cả ngàn tỉ đồng. Thiệt hại về tiền bạc, về kinh tế, về lòng tin do những băng cướp Phạm Thanh Bình, Dương Chí Dũng, Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh gây ra, cộng lại cũng không lớn bằng thiệt hại về kinh tế cho nhà nước cộng sản và thiệt hại về lòng tin cho đảng cộng sản do Võ Kim Cự gây ra. Formosa – Võ Kim Cự tạo ra sự phẫn nộ sôi sục, bền bỉ không bao giờ chấm dứt của người dân với nhà nước cộng sản. Formosa – Võ Kim Cự đã phơi bày ra nhân cách nhếch nhác, nhem nhuốc, bỉ ổi của hàng loạt quan chức nhà nước cộng sản khi đám quan chức ở cấp bộ trưởng, bộ Thông tin Truyền thông, bộ Y tế, bộ Tài Nguyên Môi trường bày trò tắm biển Formosa, ăn cá biển Formosa để lừa bịp, ru ngủ, đầu độc dân.

Tội tham nhũng của Võ Kim Cự lồ lộ như vậy, lớn như vậy, nguy hại như vậy nhưng hãy nhìn tấm ảnh tràn lan trên truyền thông Võ Kim Cự chụp chung với đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng. Đó là hình ảnh đàn em về kêu cầu đại ca, núp bóng đại ca. Đôi mắt trố của Cự thành kính, khẩn khoản, van lơn, chờ đợi và đầy lòng biết ơn nhìn đảng trưởng Trọng. Cái nhìn của em út biết thân biết phận với đàn anh cánh hẩu. Cái nhìn của bề tôi có lỗi với thủ lĩnh quyền uy. Chưa khi nào, chưa có tấm ảnh nào đảng trưởng Trọng có khuôn mặt dịu dàng, hiền từ, thư thái như trong tấm ảnh đảng trưởng Trọng thân thiện, bao dung đứng bên Cự. Sự bao dung của đấng bề trên với đàn em thân tín. Sự bao dung của ông bố với thằng con đáng thương.

Với sự bao dung đó, dù tội tày trời, Cự vẫn ung dung rời Hà Tĩnh về Ba Đình, nghiễm nhiên làm Bí thư đảng đoàn, chủ tịch Liên minh hợp tác xã Việt Nam. Cự vẫn được đảng bảo lãnh nguyên vẹn tư thế chính trị và danh dự khi giới thiệu Cự ra ứng cử để trở thành đại biểu Quốc hội, ngồi ghế phó chủ nhiệm ủy ban kinh tế rồi bình yên về hưu, mang tiền bạc có được từ Formosa sang mua đất đai, lâu đài ở Canada sống vương giả suốt quãng đời còn lại của Cự và bảo đảm cuộc sống phè phỡn cho nhiều đời con cháu Cự.

Rồi Phí Thái Bình đứng đầu Vinaconex làm đường ống dẫn nước sông Đà – Hà Nội bằng đường ống hàng mã và độc hại của Tàu Cộng. Đường ống hàng mã đương nhiên giá cực rẻ nhưng vẫn được phù phép có đủ thông số kĩ thuật và được khai vống lên theo giá hàng xịn để có chênh lệch lớn. Đường ống hàng mã 18 lần vỡ gây điêu đứng cho đời sống người dân Hà Nội, gây thiệt hại hàng trăm tỉ đồng tiền thuế của dân nhưng Phí Thái Bình vẫn thản nhiên đứng ngoài vòng pháp luật. Rồi Trương Minh Tuấn, Bộ trưởng Thông tin Truyền thông bày trò mua bán công ty truyền thông AVG đút túi hàng ngàn tỉ tiền chênh lệch vẫn trên ghế ủy viên trung ương đảng, khinh bỉ pháp luật nhà nước cộng sản, vẫn nhâng nháo với chức phó ban Tuyên giáo trung ương, quản lí, dạy dỗ, ban phát chuẩn mực về văn hóa, đạo đức, về lí tưởng thẩm mĩ cho tất cả những hoạt động văn hóa, tinh thần của đất nước..

Những Võ Kim Cự, Phí Thái Bình, Trương Minh Tuấn và còn nhiều những đảng viên cộng sản cấp cao khác đang là những con sâu tham nhũng bự vẫn bình yên ngoài vòng ngắm của Ủy ban Kiểm tra trung ương, vẫn ung dung ngoài vòng pháp luật là minh chứng cho vở diễn chống tham những của nhà nước cộng sản mang bản chất tham nhũng.

Tham nhũng là cái bóng lồng lộng của nhà nước cộng sản độc tài . Đảng cộng sản cầm quyền tồn tại bằng tham nhũng và tài sản lớn nhất, quí nhất, tài sản vô giá của nhân dân mà đảng tham nhũng để tồn tại là quyền dân, quyền làm chủ đất nước của người dân. Viết ra Hiến pháp để tham nhũng quyền dân, đảng cộng sản đưa vào Hiến pháp điều 4: Đảng cộng sản là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Nước độc lập, người dân làm chủ đất nước bằng quyền bầu chọn ra lực lượng chính trị lãnh đạo nhà nước và xã hội. Với điều 4, nước độc lập trở thành nước bị đảng cộng sản chiếm đoạt, dân từ tư thế làm chủ đất nước thành dân mất nước, cam chịu thân phân dân nô lệ cộng sản.

Người dân lấy trộm, cướp giật của người khác là phường đầu trộm đuôi cướp. Quan chức nhà nước ăn cắp, ăn cướp của dân của nước là tham nhũng. Đảng tham nhũng cũng chỉ là đảng đầu trộm đuôi cướp, đảng mafia mà thôi. Trộm cướp là hành vi bất lương đen tối. Trí tuệ là ánh sáng. Một tổ chức đã phơi bầy đầy đủ bản chất bất lương, đen tối như đảng cộng sản Việt Nam hôm nay đương nhiên không thể dung hòa, thu nạp đươc những lương tâm và trí tuệ như nhà khoa học Chu Hảo và hàng ngàn hiền tài, trí thức chân chính mà đảng đã hãm hại, loại bỏ trong suốt quá trình lịch sử tồn tại của đảng.

Vai diễn chống tham nhũng của đảng trưởng và của Ủy ban Kiểm tra trung ương chỉ để ra uy với những đảng viên có chức có quyền, những tiềm năng tham nhũng và chỉ để mị dân. Còn nỗi lo thực sự, nỗi lo mất ăn mất ngủ của ông đảng trưởng có học vị tiến sĩ bảo vệ đảng là ánh sáng tự do dân chủ, là sự thức tỉnh của người dân về quyền con người, quyền công dân đã bị đảng cộng sản cướp đoạt. Tham nhũng làm cho đảng cộng sản cầm quyền lo sợ một thì ánh sáng chân lí, ánh sáng lẽ phải, ánh sáng dân chủ, tự do, dân trí được khai sáng, dân khí được đánh thức làm cho đảng cộng sản và nhà nước cộng sản run sợ gấp trăm lần, ngàn lần. Như cú cáo sợ mặt trời. Như kẻ gian sợ công lí. Chống tham nhũng, Ủy ban Kiểm tra trung ương chỉ là một vai diễn nhưng chống ánh sáng của trí tuệ, ánh sáng của tự do dân chủ, của khai dân trí, chấn dân khí, Ủy ban Kiểm tra trung ương đã thực sự là một mũi xung kích, một đội “cải cách tư tưởng” trong trí thức như đội cải cách ruộng đất ở nông thôn miền Bắc Việt Nam giữa thế kỉ hai mươi.

 

2. THIẾU TRÍ TUỆ, TỰ TRỞ THÀNH NÔ LỆ CỦA Ý THỨC HỆ CỘNG SẢN

Thời nước mất dân nô lệ, dân hai mươi lăm triệu, những người cộng sản chỉ có vài ngàn là những thợ thuyền cùng khổ, những nông dân mù chữ và những học trò đang học dở năm đầu trung học. Nhờ quả cảm phất ngọn cờ yêu nước, ngọn cờ độc lập dân tộc, họ đã tập hợp được sức mạnh của người dân cả nước, mau lẹ cướp được chính quyền. Nhưng khi cướp được chính quyền rồi, những thợ thuyền cùng khổ, những nông dân mù chữ và những học trò chữ nghĩa dở dang liền phản bội lí tưởng độc lập của đất nước, phản bội lí tưởng tự do của hai mươi lăm triệu dân, phản bội Tổ quốc khi vất bỏ lá cờ độc lập dân tộc để giương lên lá cờ giai cấp vô sản, giương lên lá cờ xã hội chủ nghia. Khát vọng cháy bỏng độc lập dân tộc của hai mươi lăm triệu dân Việt đã bị vài ngàn người cộng sản đánh cắp và đánh tráo. Lí tưởng độc lập bị đánh tráo thành lí tưởng cộng sản. Dân tộc bị đánh tráo thành giai cấp. Độc lập dân tộc chỉ còn là phương tiện giúp những người cộng sản cướp chính quyền để họ thực hiện mục đích xã hội chủ nghĩa viển vông, mục đích cộng sản chủ nghĩa ảo ảnh của họ.

Ngày nay những người lãnh đạo cộng sản đều có học hàm, học vị rất cao. Quyền trong tay, họ muốn có bằng cấp nào đều được bằng cấp đó. Nhưng trí tuệ thực sự của họ thì vẫn tăm tối như thời “sáng ra bờ suối, tối vào hang”, như thời cách mạng bầy đàn, như thời kháng chiến ở rừng. Như chiếc bình vôi lăn lóc ở gầm giường, những bộ não ù lì không tiếp nhận được tri thức loài người, không tiếp nhận được triết học ánh sáng, bằng cấp chỉ cho họ mớ lí luận chết khô, mớ giáo điều mòn cũ. Trí tuệ thấp kém, đầu óc cuồng tín giáo điều, họ đã đi từ sai lầm này đến sai lầm khác. Sai lầm sau nguy hại gấp nhiều lần sai lầm trước. Đi từ cướp nước, cướp đoạt lòng yêu nước của người dân đến bán nước. Đi từ lừa bịp người dân đến chống lại người dân, coi người dân như kẻ thù, như thế lực thù địch.

Từ sai lầm của đại hội đảng lần thứ hai, năm 1951 trong rừng sâu Việt Bắc, lấy tư tưởng Mao Trạch Đông, lấy đường đi, nước bước của đảng Tàu Cộng làm tư tưởng, đường đi nước bước của đảng Việt Cộng, đến sai lầm ở Thành Đô trên đất Tàu Cộng năm 1990, kí giao kèo cột số phận giống nòi Việt Nam vào số phận Tàu Cộng là sự trượt dài trong tội bán nước, tội phản bội dân tộc Việt Nam.

Từ tội ác cải cách ruộng đất giữa thế kỉ hai mươi đẩy hơn chục triệu nông dân miền Bắc vào cuộc đấu tranh giai cấp man rợ, vào cuộc tự sát đạo lí, sự sát tính người và cuộc đấu tố, bắn giết đẫm máu, giết chết gần hai trăm ngàn nông dân ưu tú, phá tan nền văn minh làng xã cội nguồn sức mạnh Việt Nam, làm tha hóa, lưu manh hóa cả tầng lớp nông dân hiền lành chân chất. Đến tội ác sau tháng tư năm 1975 lùa gần triệu người Việt Nam yêu nước không chấp nhận ý thức hệ cộng sản vào những nhà tù trung cổ mang tên trại tập trung, đã phơi bầy bản chất nhà nước cộng sản độc tài, tước đoạt cả quyền yêu nước của người dân. Đó là sự trượt dài trong tội ác chống nhân dân, hủy diệt giống nòi của những người cộng sản Việt Nam.

Thiếu trí tuệ, tăm tối trong cuồng tín giáo điều, những người cộng sản cầm quyền đã dùng sức mạnh tổ chức và sức mạnh bạo lực nhà nước tước đoạt quyền con người, quyền công dân của người dân, thiết lập một nhà nước độc tài tàn bạo.

Phát động cuộc chiến tranh người Việt bắn giết người Việt núi xương sông máu để thâu tóm quyền lực, áp đặt ách thống trị cộng sản trên cả nước. Thực hiện chính sách ngu dân và chia rẽ dân tộc trong hận thù giai cấp để duy trì, củng cố quyền lực. Dìm đất nước vào những cuộc đấu tranh giai cấp đẫm máu, vào những cuộc đấu tố, truy bức triền miên.

Đấu tố người giầu của cải. Đấu tố người giầu tri thức. Đấu tố lẽ phải. Đấu tố lương tâm. Đấu tố ánh sáng. Đấu tố bằng bạo lực, bằng máu như trong Xô Viết Nghệ Tĩnh, năm 1930, như trong cải cách ruộng đất những năm năm mươi thế kì hai mươi. Đấu tố bằng khủng bố tinh thần, bằng đánh hội đồng trên truyền thông kết hợp với đày đọa bằng nhà tù và các chính sánh xã hội như vụ Nhân Văn Giai Phẩm những năm năm mươi, vụ Xét lại chống đảng những năm sáu mươi thế kỉ hai mươi, như với người dân sử dụng quyền tự do ngôn luận bày tỏ chính kiến khác với luận điệu của nhà nước cộng sản những ngày này.

Thiếu trí tuệ trở thành nô lệ của những tín điều cộng sản mất tính người, giữa nền văn minh tin học, đảng cộng sản cầm quyền đang duy trì một hình thái nô lệ hiện đại với dân tộc Việt Nam, nô lệ cộng sản.

Thiếu trí tuệ, tăm tối trong cuồng tín giáo điều, từ nô lệ ý thức hệ cộng sản chỉ có giai cấp, không có dân tộc đến bán nước chỉ còn là vấn đề thời gian. Và lịch sử Việt Nam đã phải ghi dấu mốc bán nước ô nhục của đảng cộng sản Việt Nam, nỗi ô nhục lớn nhất trong lịch sử Việt Nam. Chỉ khi đã thất thế, không còn quyền lực, chỉ là một cá thể trên đường trốn chạy, Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống mới rước giặc về cướp nước. Đảng cộng sản Việt Nam đương cầm quyền đã kéo cả bầy đàn chóp bu đứng đầu đảng sang tận đất giặc kí giao kèo bán nước ở Thành Đô 3.9.1990. Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống chỉ là những cá thể lẻ loi bán nước. Cả một đảng cầm quyền bán nước, nỗi ô nhục lớn đó chỉ đến thời cộng sản, thời giai cấp thống trị dân tộc mới có trong lịch sử Việt Nam.

Những dấu mốc ghi nhận đảng cộng sản Việt Nam cướp nước và bán nước là: 9.1945, cướp được chính quyền. 10. 1954, chiếm được nửa lãnh thổ, cướp dân quyền của dân cư ở phía Bắc Việt Nam. 4.1975, chiếm được cả lãnh thổ Việt Nam, cướp dân quyền của dân cư cả nước. Chỉ 15 năm sau khi có được cả nước, đảng cộng sản Việt Nam liền kí giao kèo Thành Đô 9.1990 bán nước.

 

3. ỦY BAM KIỂM TRA TRUNG ƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ TÒA ÁN DỊ GIÁO CỦA GIÁO HỘI

Trượt dài trong sai lầm về lí luận, thực chất là trí tuệ thấp kém và lí tưởng thẩm mĩ tồi tệ, méo mó, bệnh hoạn, đảng cộng sản Việt Nam cầm quyền đã dấn sâu vào con đường tội ác chống lại nhân dân, chống lại đất nước, chống lại dòng chảy tiến hóa của loài người, đưa dân tộc Việt Nam vào đêm tối độc tài trung cổ. Để áp đặt và duy trì được sự thống trị độc tài đầy tội ác với dân, đảng cộng sản đã triệt để thực hiện chính sách ngu dân.

Giáo dục ngu dân. Học sinh và tuổi trẻ phải mất quá nhiều thời gian học thứ “khoa học” đã bị loài người văn minh vất vào sọt rác là chủ nghĩa xã hội “khoa học”, càng học càng mụ mị, tăm tối rồi trở thành những tín đồ cuồng tín, ngu trung của một thứ tôn giáo của tội ác: tôn giáo Mác Lê.

Tín đồ cấp thấp trở thành công cụ bạo lực của nhà nước cộng sản như những công an còn đảng còn mình xông vào đoàn dân biểu tình chống Tàu Cộng xâm lược, đánh hộc máu phụ nữ, đánh chấn thương sọ não thanh niên. Như những dư luận viên mặc áo màu máu, màu cờ đảng, xông vào phá buổi lễ linh thiêng người dân Hà Nội, người dân Sài Gòn tưởng niệm chiến sĩ và đồng bào đã hi sinh trong cuộc chiến giữ đất biên giới phía Bắc năm 1979, giữ quần đảo Hoàng Sa năm 1974, giữ đảo Gac Ma năm 1988. Như những hội viên hội Cờ Đỏ ở Nghệ An xông vào nhà giáo dân đã tham gia biểu tình phản đối Formosa đầu độc biển Việt Nam, đập phá tài sản của dân, xông vào nhà thờ đập phá tượng Chúa. Tín đồ cấp cao thì thành công cụ tư tưởng, thành những giáo sĩ đi rao giảng, truyền đạo Mác Lê, thành những Sơn Đông mãi võ đi bán dạo món thuốc cao đơn hoàn tán gia truyền chủ nghĩa xã hội khoa học và thành những ông từ coi giữ ngôi đền lịch sử đảng như giáo sĩ Hoàng Chí Bảo, giáo sĩ Nguyễn Trọng Phúc, những chiếc bình vôi cóc cáy, lăn lóc ở hội đồng Lí luận trung ương, ở viện Lịch sử đảng.

Các tôn giáo chân chính đều gieo mầm yêu thương, hướng con người tới yêu thương, bao dung, vị tha, kiến tạo một thế giới hòa bình, trước hết là sự bình an, thư thái ở trong tâm hồn. Chỉ có yêu thương tính nhân đạo, giá trị nhân văn trong mỗi con người mới được nhân lên. Chỉ có hòa bình, trí tuệ con người, sức sáng tạo của con người mới được khai thác, phát huy cao nhất. Coi đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội, tôn giáo Mác Lê nuôi dưỡng, kích động hận thù giai cấp trong từng con người, biến con người thành những ác thú.

Coi hận thù là lập trường giai cấp, là phẩm chất cộng sản, các đảng cộng sản đều chọn con đường cách mạng bạo lực đẫm máu để đi tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa ảo ảnh mà cả trăm năm sau cũng không biết có hay không. Chọn con đường cách mạng bạo lực, các đảng cộng sản Mác xít Lê nin nít đều dìm đất nước mình, giống nòi của mình vào cuộc nội chiến thanh toán giai cấp đẫm máu và đều xuất khẩu cách mạng bạo lực, xuất khẩu súng đạn, dìm cả thế giới vào chiến tranh, đói nghèo, lạc hậu và tăm tối.

Tuyên truyền ngu dân. Tuyên truyền lừa bịp, dối trá, bưng bít sự thật. Cả ngàn cơ quan truyền thông nhà nước cộng sản câm miệng hến, không có một dòng tin khách quan trung thực về những đợt sóng dân cả nước sôi sục biểu tình phản đối dự luật đặc khu, dự luật An Ninh Mạng. Nhưng nhiều tờ báo lớn, đài truyền hình quốc gia của đảng cầm quyền lại đăng bài, phát phóng sự tầm thường hóa lòng yêu nước của người dân khi vu khống người dân nhận tiền của nước ngoài đi biểu tình thuê cho các thế lực chính trị thù địch của đảng cộng sản.

Luật pháp ngu dân. Nhà nước cộng sản xây dựng hàng loạt đạo luật ngu dân, tước đoạt quyền con người, quyền công dân của người dân. Điển hình của luật pháp ngu dân là điều 4 Hiến pháp và luật An Ninh Mạng.

Ngu dân, trói tay, bịt mắt người dân để đảng cộng sản tròng thêm vào cổ người dân Việt Nam ách nô lệ Bắc thuộc. Từ 1.4.1960, Liên Hợp Quốc đã ra nghị quyết 1514, đòi hỏi các nước có thuộc địa phải trả độc lập cho thuộc địa. Ngược dòng tiến hóa của loài người, ba mươi năm sau nghị quyết 1514 của Liên Hợp Quốc, ngày 3.9.1990 ở Thành Đô trên đất Tàu Cộng, nhóm lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam cầm quyền đã kí giao kèo với nhóm lãnh đạo đảng Tàu Cộng đưa giống nòi Việt Nam vào thân phận thuộc địa kiểu mới của Tàu Cộng.

Trong đêm tối của hai lần nô lệ, nô lệ cộng sản và nô lệ Bắc thuộc, trong thể chế độc tài cai trị bằng lừa dối, bạo lực và ngu dân mà lại có một tâm hồn thơm thảo với dân với nước, một trí sáng tiếp nhận được triết học khai sáng và một khí phách “thà làm ma nước Nam, quyết không làm vương hầu cho phương Bắc” dám hiên ngang lập một nhà xuất bản và liên tiếp đưa vào đời sống văn hóa đất nước những cuốn sách kinh điển mang trí tuệ nhân loại, mang ánh sáng dân chủ, tự do, mang sứ mệnh khai dân trí, chấn dân khí, mang đòi hỏi của thời đại giải phóng sức sáng tạo của con người, thời đại đưa những con người bình thường trở thành những người khổng lồ Goliath.

Cũng như thời trung cổ châu Âu dưới sự thống trị về tinh thần và tư tưởng của giáo hội Thiên Chúa, giáo lí nhà thờ dạy giáo dân niềm tin trái đất là trung tâm vũ trụ, mặt trời quay quanh trái đất thì nhà khoa học Galileo, chiên lành của Chúa người Italia nhưng với tư duy khoa học, với thiên tài sáng tạo ra ống kính thiên văn quan sát vũ trụ đã khẳng định ngược lại với nhà thờ rằng mặt trời là trung tâm của một vũ trụ nhỏ trong thiên hà và trái đất quay quanh mặt trời. Phát hiện ra chân lí khoa học trái với giáo lí nhà thờ, Galileo bị tòa án Giáo hội kết tội dị giáo, bị quản thúc tại nhà và sách công bố công trình khám phá khoa học của ông bị cấm xuất bản.

Nhà khoa học Chu Hảo, tín đồ cộng sản, giám đốc kiêm tổng biên tập nhà xuất bản Tri Thức đã tổ chức biên dịch và xuất bản những cuốn cách tinh hoa của tri thức nhân loại mang ánh sáng tự do, dân chủ thức tỉnh người dân nô lệ Việt Nam. Với tâm đẹp và trí sáng đó, nhà khoa học Chu Hảo và là tín đồ cộng sản đã bị Ủy ban Kiểm tra trung ương đảng của ông nghị tội là suy thoái tư tưởng. Nhà khoa học Chu Hảo suy thoái tư tưởng cũng như nhà thiên văn học Galileo dị giáo vậy. Thiếu trí tuệ, đảng cộng sản Việt Nam ở thế kỉ 21 của văn minh tin học mà vẫn như giáo hội La Mã thế kỉ 17 thời trung cổ và ủy ban Kiểm tra trung ương ra uy luận tội Chu Hảo cũng chỉ là tòa án dị giáo của Giáo hội mang thần quyền ra phán xét Galileo mà thôi.

Nhờ phát hiện khoa học vĩ đại của Galileo, khám phá ra bản thể của vũ trụ, của trái đất nơi con người sinh sống mà loài người đã tiến một bước dài từ bóng tối thần quyền, bóng tối trung cổ ra ánh sáng khoa học để bước vào thời công nghiệp với liên tiếp những cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật mà cuộc cách mạng mới nhất, kì diệu nhất là cuộc cách mạng tin học, đưa con người vào nền văn minh tin học, mỗi con người bình thường đều có sức mạnh và phép màu thần thánh. Những cuốn sách của nhà xuất bản Tri Thức do nhà khoa học Chu Hảo chủ trương xuất bản như: Triết Học Của Tự Do, Dân Chủ Và Giáo Dục, Khảo Luận Thứ Hai Về Chính Quyền, Đường Về Nô Lệ, Nền Dân Trị Mỹ . . . đã thức tỉnh người dân nô lệ Việt Nam về quyền con người, quyền sống, quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội và trách nhiệm công dân của mình. Sự thức tỉnh đó chính là khai dân trí, chấn dân khí, trả lại cho người dân sức mạnh làm nên lịch sử, sức mạnh để giành lại quyền làm chủ vận mệnh đất nước.

4.  LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN LÀ LỊCH SỬ LOẠI BỎ TINH HOA, TIÊU DIỆT TRÍ TUỆ, NÔ LỆ HÓA TRÍ THỨC VĂN NGHỆ SĨ THÀNH NHỮNG TRÍ NÔ, VĂN NÔ

Thời phong kiến, kinh tế Việt Nam hoàn toàn là kinh tế nông nghiệp. Công và thương chỉ có vài phường dệt vải với những khung cửi thủ công. Ở những vùng có núi đá vôi, lác đác vài lò vôi gia đình, nung đá lấy vôi xây nhà. Buôn bán là những gánh hàng xén, vài con thuyền nan chở nông sản của đồng bằng, chở lâm sản của miền núi, chở cá, mắm của miền biển đến phiên chợ quê, đến chốn kẻ chợ. 99% dân số sống bẳng nghề nông và nông nghiệp nuôi sống cả nước. Nông nghiệp ở vị trí hàng đầu trong đời sống kinh tế của xã hội phong kiến nhưng bảng giá trị xã hội lúc đó vẫn đưa kẻ sĩ, đưa trí thức lên cao nhất: Sĩ – Nông – Công – Thương.

Bảng giá trị này bất di bất dịch trong hàng ngàn năm. Mấy ông đồ, mấy thầy giáo làng, vì có chữ cũng được dân hết mực trọng vọng, tôn kính. Dẫn con đến nhà thầy xin học, người dân nói với thầy: Cháu xin đến ăn mày chữ thầy để cháu thành người. Phải có chữ, có trí tuệ mới thành người. Bảng giá trị của xã hội nào trước cộng sản cũng đưa kẻ sĩ lên cao nhất. Chỉ đến thời cộng sản, bảng giá trị này mới bị đảo lộn thành: Công – Nông – Binh – Trí. Trí tuệ đứng sau cùng, đứng sau cả người lính công cụ bạo lực. Còn thương nghiệp bị coi là buôn gian bán lận, kinh tế tư bản, chỉ chạy theo lợi nhuận, bị xóa sổ, loại khỏi đời sống xã hội!

Đảng cộng sản Đông Dương ra đời tháng 2 năm 1930. Chỉ bảy tháng sau, tháng chín, năm 1930 những người cộng sản đã làm cuộc bạo loạn Xô Viết Nghệ Tĩnh đẫm máu để xóa sổ bảng giá trị Sĩ – Nông – Công – Thương khi những người cộng sản kích động, tập hợp những người nông dân, tay cầm gậy gộc giáo mác, miệng gào thét: Trí, phú, địa, hào đào tận gốc, trốc tận rễ, tràn vào huyện đường, tỉnh đường, tràn vào nhà giầu, xông cả vào nhà thầy giáo, đập phá tài sản, lùng bắt trí, phú, địa, hào lôi ra giết.

Quân bạo loạn kéo đến huyện đường Nghi Lộc, Nghệ An. Trong huyện đường có một đội lính lệ hơn ba mươi quân bảo vệ an ninh trong huyện nhưng tri huyện Tôn Thất Hoàn không đưa quân ra đối đầu với những người nổi dậy sẽ gây đổ máu. Ông cùng một viên lục sự tay không ra gặp những người nông dân. Quan huyện Nghi Lộc Tôn Thất Hoàn cùng viên lục sự liền bị những mũi giáo, những lưỡi mác của lòng hận thù mù quáng xả thây, chặt đầu.

Trong cách mạng tháng tám năm 1945 nhiều trí thức hàng đầu của đất nước như Phạm Quỳnh đã bị những người sôi sục hận thù giai cấp, một phẩm chất cộng sản hàng đầu, thủ tiêu vô cùng hèn hạ. Gần hai trăm ngàn người dân miền Bắc Việt Nam bị xử bắn trong cải cách ruộng đất giữa thế kỉ hai mươi, phần lớn là những người ưu tú nhất, tài năng nhất trong sản xuất kinh doanh, làm ra của cải cho xã hội. Nhiều người đã có những đóng góp vô cùng to lớn, đóng góp sức người, đóng góp xương máu, đóng góp tiền bạc và tài sản cho cuộc kháng chiến chống Pháp của đảng cộng sản như bà Nguyễn Thị Năm đã bị xử bắn ngay khi mở đầu cuộc cải cách ruộng đất, cuộc nhảy múa của bóng đêm, của ác quỉ.

Những người bị nạn trong những vụ án ngụy tạo, Vụ Xét lại chống đảng, vụ Nhân Văn – Giai Phẩm đều là những nhân cách kẻ sĩ, những đảng viên trung thực hiếm hoi của đảng cộng sản như Vũ Đình Huỳnh, Hoàng Minh Chính, Đặng Kim Giang, Nguyễn Văn Vịnh. . . . Đều là những trí thức lớn không phải chỉ của Việt Nam mà còn của cả loài người như Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường. Là những nghệ sĩ tài năng, những tinh hoa quí hiếm của nền Văn hiến Việt Nam như Trương Tửu, Đặng Đình Hưng, Hoàng Cầm, Trần Dần, Văn Cao, . . .

Hung thần Sáu Búa Lê Đức Thọ ngụy tạo ra vụ án Xét lại chống đảng. Nhà cách mạng chuyên nghiệp Trường Chinh cùng nhà thơ tên Lành mà lòng dạ độc ác cộng sản dàn dựng ra vụ Nhân Văn – Giai Phẩm đều là những lãnh đạo hàng đầu của đảng cộng sản. Tội ác của họ không phải chỉ loại bỏ, đày đọa hàng trăm trí thức uyên bác, văn nghệ sĩ có tài đến chết rũ xương trong tù, đến thân tàn ma dại trong đời mà còn giết chết tư duy sáng tạo của cả đội ngũ những người có mặt trong cuộc đời chỉ với sứ mệnh duy nhất là sáng tạo. Đảng cộng sản đã biến những người có sứ mệnh sáng tạo chỉ còn là những trí nô, văn nô, những thư lại nịnh thần, vô liêm sỉ.

Hơn 100 hội viên hội Nhà Văn Việt Nam ở Sài Gòn mỗi kì ra Hà Nội họp đại hội đều được thành ủy miền đất Bến Nghé giầu có cho tiền vé máy bay đi về, lại cho mỗi nhà văn thêm một triệu tiền tiêu vặt. Trước khi các nhà văn bay ra Hà Nội, thành ủy gặp gỡ, chúc tụng và đãi bữa tiệc tiễn lên đường lai kinh. Trong lần phó bí thư thành ủy Nguyễn Văn Đua gặp gỡ, tiễn các nhà văn ra Hà Nội dự đại hội Nhà Văn Việt Nam lần thứ 8, năm 2010, một ông nhà văn già, nhỏ thó, hom hem và nhợt nhạt như một mẩu củi mục, vốn là giáo sư dạy văn ở trường đại học sư phạm, cũng là người lớn tuổi nhất trong cuộc gặp, đứng lên giọng run run xúc động: “Sự lãnh đạo của đảng chính là sự định hướng của thành ủy. Chúng tôi rất cần có sự định hướng kịp thời, đúng lúc của đảng. Mong thành ủy dành thời gian để mỗi năm cho chúng tôi được gặp thành ủy đôi lần, lắng nghe thành ủy!” Nhà văn đích thực là văn hóa, là kẻ sĩ. Kẻ sĩ là tâm hồn và khí phách của một dân tộc. Khí phách nhà văn Việt Nam sau trận đòn Nhân Văn – Giai Phẩm là như vậy đó, năn nỉ xin được gặp đảng để được đảng dạy bảo. Sau kì đại hội Nhà Văn Việt Nam lần đó, tôi đã từ bỏ mọi sinh hoạt, mọi tiếp xúc với hội nhà văn nài nỉ xin sự dạy bảo của đảng cộng sản.

Độc quyền lòng yêu nước của người dân. Độc quyền cả chân lí của cuộc sống, đảng cộng sản tự coi nghị quyết xơ cứng, giáo điều của đảng là tuyệt đối đúng. Coi cuộc sống phong phú, sinh động diễn ra không đúng với nghị quyết xơ cứng của đảng là cuộc sống sai trái, vi phạm, tự diễn biến, tự chuyển hóa. Trong khi sự sống là tự diễn biến, tự phát triển không ngừng. Chỉ những vật trưng bày trong viện bảo tàng không còn sự sống mới không tự diễn biến. Hiền tài và trí tuệ hiếm hoi của đảng không chịu bó mình trong nghị quyết xơ cứng cũng bị đảng trừng trị. Bảy mươi ba năm cầm quyền, ngoài những chiến dịch rầm rộ đấu tố, hãm hại, loại bỏ hàng loạt trí tuệ, tài năng của đất nước như vụ Xét Lại, vụ Nhân Văn còn có hai lần đảng cộng sản ra tay trừng trị, loại bỏ hiền tài của đảng muốn cứu đảng ra khỏi sai lầm về kinh tế, muốn cứu đảng ra khỏi tăm tối, bế tắc về tư tưởng triết học. Hai lần cách nhau 52 năm, năm 1966 và năm 2018 nhưng sự loại bỏ hiền tài thì vẫn độc đoán và hèn hạ như nhau.

Cung cách làm ăn tập thể, làm ăn bầy đàn của hợp tác xã nông nghiệp đã giết chết sự cần cù, sáng tạo, những phẩm chất quí báu nhất làm ra hạt lúa của người nông dân. Thâu tóm tư liệu sản xuất của nông dân, hợp tác xã nông nghiệp biến người nông dân từ người chủ đồng ruộng, thức khuya dậy sớm, một nắng hai sương với cây lúa thành những viên chức hành chính làm thuê cho hợp tác xã, ngày hai buổi nghe tiếng kẻng cắp nón ra đồng nhởn nhơ đợi tiếng kẻng báo hết giờ làm việc lại cắp nón về. Mặc cây lúa loi thoi, xơ xác giữa đám cỏ xanh tốt bời bời. Cung cách làm ăn đó cũng giết chết luôn cả nền nông nghiệp miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Nạn đói khủng khiếp của năm 1945 đã thập thò ló mặt trên khắp nông thôn miền Bắc. Năm đó 1966, cuộc chiến tranh mà đảng cộng sản phát động ở miền Nam đang tới đỉnh điểm, quyết định thắng thua. Nạn đói xảy ra. Hậu phương rối loạn. Người lính ngoài mặt trận cũng không còn sức chiến đấu.

Đúng lúc đó, bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú Kim Ngọc sáng tạo ra hình thức quản lí sản xuất nông nghiệp mới: Khoán hộ. Giao ruộng và khoán sản phẩm cho từng hộ nông dân. Nhà nước vẫn quản lí được con người, tư liệu sản xuất và sản phẩm nông nghiệp mà sức sản xuất được giải phóng. Người nông dân lại được làm chủ mảnh ruộng nuôi sống mình, lại thức khuya dậy sớm, lại một nắng hai sương, vắt mồ hôi, dồn tình cảm, chắt chiu sự cần cù và trí sáng tạo vào mảnh ruộng khoán. Cả tỉnh Vĩnh Phú năng suất lúa tăng vọt. Nhà nhà ấm no. Không cần đôn đốc, người dân vui sướng, mau lẹ nộp đủ thóc nghĩa vụ. Cung cách làm ăn mới mang lại sức sống cho cây lúa Vĩnh Phú làm nhiều nơi khác trên miền Bắc như Hải Phòng cũng học theo và cánh đồng lúa Hải Phòng đã bội thu.

Nhưng giao ruộng cho người nông dân là giao tư liệu sản xuất cho tư nhân, là trái với học thuyết Mác, trái với chủ nghĩa xã hội, trái với nghị quyết của đảng. Những cái đầu giáo điều đứng đầu đảng cộng sản coi chủ nghĩa Mác phản tự nhiên, phản con người còn quan trọng hơn, cần thiết hơn sự ấm no của người dân và sự giầu mạnh của đất nước. Với lí luận Mác Lê nin sắt máu, với lập trường giai cấp rạch ròi, nhà cách mạng chuyên nghiệp Trường Chinh đã đánh tan tác đội ngũ trí thức văn nghệ sĩ trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Nay nhà cách mạng chuyên nghiệp Trường Chinh lẫm liệt trong giáp sắt lí luận Mác Lê, tay cầm lá cờ lệnh đó chói đấu tranh giai cấp lại xuất trận chặn đứng khoán hộ ở Vĩnh Phú. Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú Kim Ngọc phải làm kiểm điểm và tự nhận "có sai lầm nghiêm trọng trong khoán hộ". Đồng đất Vĩnh Phú lại thuộc sở hữu của hợp tác xã. Cây lúa Vĩnh Phú lại xác xơ cùng cây lúa cả miền Bắc. Người dân Vĩnh Phú lại đói deo đói dắt cùng người dân cả miền Bắc.

Mãi đến năm 1988, khi đảng cộng sản phải chấp nhận kinh tế thị trường, chấp nhận kinh tế tư nhân để cứu vãn nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ thảm hại, khoán hộ trong nông nghiệp của bí thư tỉnh ủy Kim Ngọc mới lại được thực hiện ở hình thức triệt để hơn trên cả nước. Từ cảnh phải nhập hạt bo bo, thứ hạt nuôi heo ở xứ người về nuôi dân Việt Nam, khi người nông dân lại được làm chủ mảnh ruộng của mình, Việt Nam lập tức trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới. Nhưng khi đó hiền tài Kim Ngọc đã chết trong đau buồn 18 năm rồi!

Chủ thể của nông nghiệp là người nông dân. Người nông dân phải được làm chủ mảnh ruộng của mình, nông nghiệp mới khấm khá. Chủ thể của đất nước Việt Nam là người dân Việt Nam. Người dân phải làm chủ đất nước của mình, đất nước mới giầu mạnh. Độc quyền chính trị, coi đất nước là của riêng đảng, coi dân chỉ là bầy nô lệ, giáo điều và sắt máu, đảng cộng sản đang đưa đất nước đến những thảm họa như thảm họa nông nghiệp thời hợp tác xã lụn bại năm 1966.

Trên con đường chạy đua kinh tế, Việt Nam đang bị các nước bỏ lại phía sau ngày càng xa lắc xa lơ. Đất nước đang ngày càng tan hoang bởi sự xâu xé, vơ vét, tàn phá của các nhóm lợi ích được sự thao túng của đảng cộng sản. Khi đảng cộng sản đã đặt đảng lên trên đất nước, đặt lợi ích của đảng lên trên lợi ích dân tộc, coi sự sống còn của đảng còn cần thiết hơn sự sống còn của giống nòi thì đảng đã trở thành nhóm lợi ích lớn nhất, nguy hại nhất, mờ ám nhất, quyền uy nhất nên cũng khốn nạn nhất: Nhóm lợi ích làm ra pháp luật, đứng trên pháp luật vơ vét của cải, tài nguyên của nước, mồ hôi, xương máu của dân cho một nhóm người nhân danh đảng. Đất nước đang ngày càng chìm sâu vào đêm tối của bất công, bạo lực và tham nhũng. Người dân ngày càng bị áp bức về tinh thần, bóc lột về vật chất và thân phận nô lệ ngày càng bị trói chặt bởi chằng chịt những bộ luật tước đoạt quyền con người, quyền công dân của người dân mà bộ luật cướp đoạt man rợ nhất quyền con người của người dân là luật An Ninh Mạng.

Như bí thư tỉnh ủy Kim Ngọc nhận ra làng quê Vĩnh Phú của ông xác xơ nghèo đói là do người nông dân không được làm chủ mảnh ruộng của mình. Trái tim con người Chu Hảo cũng đau thắt khi con mắt nhà khoa học Chu Hảo nhận ra đất nước Việt Nam thân yêu đang tan hoang, đang bị xâm lăng đe dọa, người dân Việt Nam đang chịu bao cay đắng cơ cực, bất công vì người dân không được làm chủ đất nước. Lập nhà xuất bản Tri Thức, xuất bản những cuốn sách mang ánh sáng dân chủ, dân quyền, nhà khoa học Chu Hảo không phải chỉ nhằm thức tỉnh người dân về quyền con người, về trách nhiệm công dân trước vận mệnh, thịnh suy của nước. Là đảng viên cộng sản, nhà khoa học Chu Hảo chủ trương cho Tri Thức xuất bản tủ sách Tinh Hoa còn hướng tới đảng của ông về trách nhiệm lịch sử với dân với nước. Muốn đi tới nền văn minh công nghiệp, nước nào cũng phải đón nhận triết học khai sáng, giải phóng cá nhân, nhìn nhận quyền con người, quyền công dân của người dân, trả lại quyền làm chủ đất nước cho người dân. Triết học ánh sáng ở châu Âu thời phục hưng thế kỉ 17, giải phóng con người, tách cá nhân khỏi bầy đàn dẫn đến cách mạng tư sản dân quyền thế kỉ 18, long trọng khẳng định quyền con người, quyền công dân, quyền tư hữu tài sản, đưa châu Âu vào thời công nghiệp phát triển rực rỡ suốt mấy trăm năm cho đến tận hôm nay.

Đảng cộng sản Việt Nam cầm quyền đang làm điều ngược lại. Đầu thế kỉ 20, nước mất, dân nô lệ nhưng Tự Lực Văn Đoàn và Thơ mới đã ghi nhận một dấu mốc lịch sử: cái Tôi cá nhân không còn lẫn trong đám đông. Cái Tôi cá nhân đã tách ra khỏi bầy đàn, đã có mặt trong cuộc đời và được xã hội nhìn nhận. Một thế kỉ sau, đầu thế kỉ 21, nước độc lập nhưng trong nhà nước cộng sản độc tài với những điều 109, điều 116, điều 331 của bộ luật hình sự và luật An Ninh Mạng, cái Tôi cá nhân đã bị xóa bỏ! Không có cái Tôi cá nhân, cũng không có quyền con người, không có quyền công dân, không có quyền tư hữu. Đó là bước thụt lùi thảm hại, đau đớn, nhục nhã của dân tộc, của lịch sử Việt Nam và đảng cộng sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm.

Xuất bản tủ sách Tinh Hoa, nhà khoa học là đảng viên cộng sản Chu Hảo trước hết đã mang triết học khai sáng đến giúp những người lãnh đạo đảng của ông nhận ra ánh sáng tư tưởng mà dân tộc nào, đất nước nào muốn đi tới văn minh công nghiệp đều phải tiếp nhận. Xuất bản tủ sách Tinh Hoa, nhà khoa học Chu Hảo đã mang ánh sáng văn minh nhân loại cứu đảng của ông đang lạc lõng, bế tắc trong tăm tối triết học Mác Lê nin sai lầm và tội ác. Như hiền tài Kim Ngọc cứu đảng về kinh tế nông nghiệp thời hợp tác xã nông nghiệp lụn bại năm 1966.

Với “Khoán hộ”, hiền tài Kim Ngọc đã cứu đảng cộng sản về kinh tế nhưng Kim Ngọc đã bị đảng kiểm điểm. Phải nhận "có sai lầm nghiêm trọng trong khoán hộ" với đảng và xin rút khỏi chức bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú nhưng với những người thân cận chí cốt bên ông, người cộng sản hiếm hoi thực sự vì dân Kim Ngọc vẫn tha thiết nhắc nhở: Phải để nông dân làm chủ mảnh đất của mình. Không thể bỏ khoán hộ. Bỏ khoán hộ là đói. Phải tìm mọi cách duy trì dưới mọi hình thức khác nhau. Nhà khoa học Chu Hảo xuất bản tủ sách Tinh Hoa đã cứu đảng của ông về tư tưởng. Nhưng ủy ban Kiểm tra trung ương đảng đã luận tội và đề nghị cấp có thẩm quyền kỉ luật ông. Không thể để những rô bốt không tim, không óc xúc phạm danh dự con người, nhà khoa học Chu Hảo tuyên bố từ bỏ đảng cộng sản. Hai tuần sau khi nhà khoa học Chu Hảo đã ra khỏi đảng, đảng cộng sản vẫn cố làm việc hèn hạ là khai trừ ông và dùng truyền thông, dùng những rô bốt.đấu tố ông.

Từ nửa sau thế kỉ 20, loài người đang liên tiếp tiến những bước thần kì trong những cuộc cách mạng của trí tuệ. Bắt bí thư tỉnh ủy Kim Ngọc phải nhận “sai lầm nghiêm trọng trong khoán hộ" cũng như kỉ luật khai trừ đảng nhà khoa học Chu Hảo vì xuất bản những cuốn sách mang trí tuệ khai sáng, đảng cộng sản đang dấn sâu vào tội ác với nhân dân, với lịch sử Việt Nam, tội ác chống lại văn minh nhân loại. Bền bỉ và quyết liệt loại bỏ hiền tài và trí tuệ trong đảng, đảng cộng sản đang tự diệt vong trước khi bị nhân dân và thời đại ném vào sọt rác lịch sử. 


 Thống kê thế giới về Việt Nam                  

                          đỉnh cao trí tuệ

Dân số:
image
 
Việt Nam hiện nay có dân số ước tính khoảng hơn 93 triệu người, đứng hàng thứ 13/243 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Dân số là một trong những đơn vị chính được dùng để đánh giá độ lớn và nhỏ của một quốc gia. Việt Nam đứng hàng thứ 13 có dân số đông nhất thế giới.Bởi vậy, xét về mặt dân số, Việt Nam không phải kém.
 
Diện tích:
 
image
 
Việt Nam có tổng diện tích đất liền khoảng 331,210 km2, đứng hàng thứ 61/189 quốc gia trên thế giới. Diện tích quốc gia cũng là một trong những đơn vị chính dùng để đánh giá độ lớn của quốc gia. Ở vị trí thứ 61, Việt Nam thuộc nhóm 1/3 quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới.Bởi vậy, xét về mặt diện tích, Việt Nam không phải là kém.
 
Duyên Hải:
 
image
 
Việt Nam là một quốc gia có địa thế rất đặc biệt; vừa tiếp diện biển ở phía Đông, vừa dựa vào rừng cây và cao nguyên ở phía Tây. Việt Nam đứng hàng thứ 33/154 quốc gia có bề dài duyên hải dài nhất thế giới với chiều dài duyên hải 3,444 cây số. Nên biết rằng, có 47 quốc gia trên thế giới hoàn toàn nằm trong lục địa (không tiếp diện với biển) và 35 quốc gia có chiều dài duyên hải chưa đến 100 cây số. Bởi vậy, xét về mặt bề dài duyên hải, Việt Nam không phải là kém.
 
Rừng cây:
 
image
 
Việt Nam có tổng số diện tích rừng đứng hàng 45/192 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới với tổng diện tích rừng là 123,000 cây số vuông. Rừng Việt Nam được xếp loại rừng có hệ sinh thái đa dạng và đặc biệt.Mặc dù rừng cây ở Việt Nam bị khai thác một cách bừa bãi, nó vẫn nằm ở vị trí 1/3 các quốc gia đứng đầu về diện tích rừng.Bời vậy, xét về mặt diện tích rừng cây, Việt Nam không phải là kém.
 
Đất canh tác:
 
image
 
Việt Nam có tổng số đất canh tác là 30,000 cây số vuông, đứng hàng 32/236 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Tổng số lượng lúa được Việt Nam canh tác đứng hàng thứ 5 trên thế giới trong số 20 quốc gia canh tác lúa gạo. Xét về mặt đất canh tác (và đặc biệt canh tác lúa gạo), Việt Nam không phải là kém.
Việt Nam không nhỏ với đơn vị kích thước, dân số, đất đai, biển đảo, rừng cây v..v… nhưng lại yếu kém về phát triển kinh tế, giáo dục, xã hội, và văn hóa… do quản lý rất tồi:
 
1. Giáo dục:
 
image
 
Theo chỉ số Human Development, Việt Nam đứng hàng 121/187, có nghĩa là dưới trung bình.
Không có một trường đại học nào của Việt Nam được lọt vào danh sách trường đại học có danh tiếng và có chất lượng.
 
2. Bằng sáng chế:
 
image
 
Theo International Property Rights Index [8], Việt Nam đứng hàng 108/130 tính theo giá trị trí tuệ, có nghĩa là gần đội sổ.
 
3. Ô nhiễm:
 
image
 
Theo chỉ số ô nhiễm, Việt Nam đứng ở vị trí 102/124, gần đội sổ danh sách.
 
4. Thu nhập tính theo đầu người:
 
image
 
Tuy thu nhập quốc gia của Việt Nam đứng hàng 57/193, Việt Nam lại đứng hàng 123/182 quốc gia tính theo thu nhập bình quân đầu người. Có nghĩa là Việt Nam đứng trong nhóm 1/3 quốc gia cuối bảng có thu nhập đầu người thấp nhất.
 
5. Tham nhũng:
image
 
Theo chỉ số tham nhũng mới nhất của tổ chức Transparency International, Việt Nam đứng hàng 116/177 có nghĩa là thuộc 1/4 quốc gia cuối bảng.
 
6. Tự do ngôn luận:
image
 
Theo chỉ số tự do ngôn luận (freedom of press), Việt Nam đứng vị trí 174/180, chỉ hơn Trung Quốc, Bắc Hàn, Syria, Somalia, Turkmenistan và Eritrea, có nghĩa là nằm trong nhóm 1/20 thấp nhất thế giới.
 
7. Phát triển xã hội:
image
 
Theo chỉ số phát triển xã hội, Việt Nam không có trong bảng vì không đủ số liệu để thống kê. Trong khi đó, theo chỉ số chất lưọng sống (Quality of Life) thì Việt Nam có điểm là 22.58, đứng hàng 72/76, có nghĩa là gần chót bảng.
 
8. Y tế:
image
 
Theo chỉ số y tế, sức khoẻ, Việt Nam đứng hàng 160 trên 190 quốc gia, có nghĩa Việt Nam đứng trong nhóm quốc gia có tổ chức y tế tệ nhất.
 
Việt nam có đầy đủ tiềm năng nhưng tại sao tụt hậu ngày càng xa sau các nước khác? Câu trả lời trước hết xin dành cho đảng cộng sản Việt Nam, kế đến là các bộ môn văn hóa & xã hội, cũng như đạo đức học & giáo dục học.


Dân khí suy đồi và trách nhiệm con người

Người biểu tình Nguyễn Văn Phương bị tấn công trong lần biểu tình chống Trung Quốc mới đây nhất

Nhà văn Võ Thị Hảo nói ít người dám lên tiếng chống lại cái ác

"Dân khí nước ta bị suy giảm quá tệ… Khiếp sợ quen thói, nghe và thấy chật hẹp, tai như điếc, mắt dường mù…

"Người dưới phải làm điều đê tiện mà không biết hổ, phải chịu sự ô nhục mà không biết thẹn…"

(Phan Bội Châu –Bức thư viết bằng máu và nước mắt từ đảo Lưu Cầu)

Chuyện cướp bóc ở làng Vĩ Đại

Làng ấy nhỏ, nhưng có tính vĩ cuồng nên tự đặt tên là làng Vĩ Đại.

Ông Cột sống giữa làng Vĩ Đại gồm ba mươi ba người. Xung quanh có ông Kèo, bà Ninh, người làng cùng một số côn đồ.

Đám côn đồ chuyên hà hiếp cướp đoạt. Mỗi tháng tại làng có trung bình 9 vụ cướp bóc.

Người làng nhìn thấy nhưng lờ đi, chỉ đến khi mình là nạn nhân, mới kêu khóc thì đã muộn.

Không đành lòng, ông Cột, ông Kèo và bà Ninh bèn bênh vực những nạn nhân. Đám côn đồ phải chùn tay. Số vụ cướp bóc giảm còn 6.

Đám côn đồ ấy tức lắm, một hôm liền dựng ra một vụ đánh ghen, xúm lại đánh ông Cột, đã thế còn hô hào dân làng vào đổ tội, bêu riếu, làm nhục, làm chứng giả.

Ông Cột bị ném đá gẫy nát một chân, rồi từ đó cũng ê chề vì người làng xử ác, không dám lên tiếng nữa.

Số vụ cướp bóc tăng lên 1/3, lại trở thành 9 vụ.

Ông Kèo và bà Ninh vẫn liều mạng bênh vực người lành. Bọn côn đồ thấy chiêu dối trá bạo lực hiệu quả, liền đổ cho ông Kèo tội ăn cắp. Tòa án làng dẫu biết Kèo vô tội nhưng vẫn tống Kèo vào ngục.

Thế là chỉ còn bà Ninh đơn thương độc mã. Số vụ cướp bóc tăng lên thành 15. Thu nhập của đám côn đồ tăng theo. Mỗi tháng, tại làng Vĩ Đại có khoảng 15 nạn nhân.

Bọn chúng được đà, lại đổ tội làm giấy tờ giả, đưa tiếp bà Ninh vào tù. Số vụ cướp bóc tăng lên 20 rồi 25…

Bây giờ thì những người không phải côn đồ đều trở thành nạn nhân. Nhiều người trong đám côn đồ cũng bị kẻ mạnh hơn hà hiếp.

Lúc đó, có người dân làng Vĩ Đại mới đập đầu kêu khóc mà rằng: Bây giờ chúng ta dở sống dở chết, chẳng còn ai cứu giúp. Giá như ngày trước chúng ta dám kêu lên, không mặc kệ ân nhân bị hành hạ, không làm chứng dối, ném đá tiếp tay cho bọn cướp hãm hại người lành thì đâu đến nông nỗi này…”

Sự dối, bạo lực và dân khí suy đồi

Câu chuyện trên đây là thực tế đang có ở nhiều nơi tại VN, khi rất nhiều người trong chúng ta đã bỏ qua lương tri và sự thật, im lặng, vô cảm trước sự oan khuất của đồng bào mình.

Nhiều người đã từng chua chát tự hỏi, trong đám đông chen chúc kia, trong đồng nghiệp, trong hàng xóm, trong bạn bè, trong những nhà chức trách tại cơ quan đoàn thể… khi chúng ta làm điều đúng, khi bị oan khuất, liệu có bao nhiêu người trong số họ dám đứng ra nói sự thật và bênh vực ta?

Ai? Hy vọng nào ở đám người hoặc hèn nhát hoặc tham lam vô cảm chỉ sáng tối làm bóng lộn bộ da và căng đầy cái dạ dày của mình, sống chết mặc bay?

Hy vọng nào từ đa số dân biểu, quan chức, cơ quan đoàn thể, nhà báo, luật sư, văn nghệ sĩ, quan tòa, quân đội, công an, nhà khoa học, nhà giáo… – những người có công cụ ngôn ngữ, quyền lực hoặc vũ khí có thể bảo vệ công lý nhưng đã và đang cúi đầu khoanh tay câm lặng, chỉ lên tiếng khi đụng đến quyền lợi của chính họ?

"Đa phần mọi người đều nói rằng tìm người có dũng khí và trung thực bây giờ thật khó như tìm kim đáy biển."

Đa phần mọi người đều nói rằng tìm người có dũng khí và trung thực bây giờ thật khó như tìm kim đáy biển.

Chính bởi thế, chúng ta là số đông, gần cả trăm triệu người, nhưng lại bị gọi là một đám đông hèn yếu, thậm chí còn không dám mở miệng cất lời bảo vệ chính mình, cam tâm nô lệ, còn nói gì đến việc bảo vệ người khác!

Đó là sự suy đồi của dân khí.

Vấn đề thịnh suy của một đất nước, đương nhiên ở trách nhiệm nhà cầm quyền, nhưng không thể không tính đến nguyên nhân dân khí.

Khí chất và khí phách của người dân thể hiện trong tính cộng đồng, trách nhiệm xã hội, trong sự lựa chọn, dám tôn vinh sự thật, biết tri ân những người vì cộng đồng và công lý, dám chống lại bất công, bạo ngược.

Dân khí mạnh buộc kẻ ác phải chùn tay và phải cư xử đúng mực. Dân khí cũng khiến mỗi người có được sức mạnh tinh thần để thoát vòng nô lệ luôn chờ chực bủa vây.

Chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu từng xót xa khi bàn về dân khí.

"…Cái tệ ấy buổi đầu là do tính nhu nhược, theo mãi, hóa ngu hèn đến nỗi … có miệng lưỡi mà không biết trình bày,…u mê gàn dở, không chút căm giận, sao mà hèn nhát sút kém đến thế…( Phan Bội Châu toàn tập. Tr 145. NNXB Thuận Hoá Huế.1990.

Hãy ngẫm nghĩ tiếp những lời của Phan Bội Châu: " … Các người chỉ là một khối thịt sống, ù ù cạc cạc không biết cái gì, chỉ ngồi mà trách cứ lẫn nhau, trông mong lẫn nhau mà thôi….đến nỗi cùng xô đẩy dắt díu nhau xuống hồ cả một lũ, một đoàn… Ngó lại các ngươi, ta chỉ hổ thẹn với con chó của tên Đạo Chích…" (Thời thế và anh hùng- Phan Bội Châu toàn tập- tr175- 176- NXB Thuận Hóa- Huế- 1990)

Biểu tình chống Trung Quốc hồi đầu năm 2013

Ít người Việt Nam dám làm những điều khiến chính quyền bực mình

Những lời đó đã phản ánh tình trạng dân khí của người VN trong những năm đầu thế kỷ XX. Thời đó, với sự hà khắc của chế độ phong kiến, nếu dám trái ý triều đình, có thể bị tội tru di tam tộc.

Tệ thế, nhưng thời đó vẫn có những chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và đông đảo người ủng hộ… Đám tang người tù yêu nước Phan Chu Trinh ngày 4/4/1926 có tới khoảng sáu vạn người Nam kỳ (có tài liệu nói là khoảng mười vạn, tức là khoảng 1/3 dân số Sài Gòn) theo sau quan tài ông để bày tỏ lòng biết ơn và chí khí, bất chấp sự ngăn cấm của chính quyền, phong trào truy điệu để nối chí ông được tổ chức khắp ba kỳ.

Thật đáng buồn là sau hơn một thế kỷ, những nhận định của Phan Bội Châu vẫn mang tính thời sự, thậm chí thực tế còn đáng đau xót hơn hơn.

Làm sao tưởng tượng nổi là không khí quy chụp tư tưởng, vu oan giá họa, xét xử bất cần công lý thuở Cải cách ruộng đất những năm 50 của thế kỷ trước dường như đang sống lại ở thời này ở nhiều vụ việc, tạo vô số dân oan ở nơi nơi. Trong một số bài báo và phóng sự truyền hình, thật nhục nhã cho nghề nhà báo khi một số người thay vì làm rõ sự thật như sứ mạng, thì lại “gắp lửa bỏ tay người” chỉ để đổi lấy tiền bạc, chức vị hoặc sự yên ổn!

Trên thực tế, tỉ lệ người trộm cắp cướp đoạt không lớn so với dân số nhưng sự hoành hành của chúng thật không giới hạn. Chỉ có thể ngăn chặn bằng cải cách thể chế. Một mặt khác, mỗi công dân cũng không thể không nhìn lại trách nhiệm của mình trong việc đã để dân khí suy đồi.

Tù nhân lương tâm - những Tráng sĩ công lý

Những tù nhân lương tâm - những tráng sĩ vì đấu tranh cho lợi quyền chung mà phải giam cầm sau song sắt - lẽ nào ta không nợ họ?!

Khi tù nhân lương tâm Nelson Mandela khốn khổ vì bị nhà cầm quyền Nam Phi kết án chung thân, đày đọa ông trong tù tới 27 năm, mỗi người Nam Phi và người dân trên thế giới, kể cả người VN, đều nợ ông vì ông đã vì dám dũng cảm đứng lên chống lại chế độ phân biệt chủng tộc, bảo vệ quyền con người và tự do.

Mặc dù nhà cầm quyền đổ nhiều trọng tội, bôi nhọ bằng mọi cách, nhưng ông đã được tôn vinh là người anh hùng của Nam Phi và thế giới, lĩnh tới hơn 250 giải thưởng, trong đó có giải Nobel Hòa bình, trở thành vị tổng thống dân cử đầu tiên của Nam Phi và là một trong những vị cứu tinh của nhân loại.

Bà Aung San Suu Kyi tiếp xúc với người dân

Bà Aung San Suu Kyi đã bị giam cầm và quản thúc trong hơn 20 năm nhưng cuối cùng chế độ ở Myanmar phải thay đổi theo hướng bà kêu gọi

Tương tự, bà Aung San Suu Kyi đã bị chế độ độc tài quân phiệt Myanma nhục mạ, kết tội, giam cầm và quản thúc tới gần 21 năm chỉ vì bà lãnh đạo cuộc đấu tranh bất bạo động cho việc thiết lập một nền dân chủ và thể chế tiến bộ cho người Myanma. Bà cùng những đồng chí của mình đã thức tỉnh chế độ quân phiệt tàn bạo, khiến đất nước này gần đây phải chuyển đổi theo thể chế dân chủ và tự do. Bà là vị cứu tinh của Myanma, cũng được coi là vị anh hùng của thế giới.

Mỗi người Myanma, nếu có lương tri, đều biết rằng mình may mắn được nợ bà- nợ những nỗi thống khổ mà bà đã vì họ mà chịu đựng. Nợ những cử chỉ nhằm giải phóng chế độ độc tài quân phiệt mà bà đã bền gan thực hiện cho bà và cho họ.

Khi xã hội loài người tiến lên được một bước về phía tự do, bình đẳng và công lý thì thường lại có rất nhiều người phải hy sinh trong công cuộc đấu tranh chống lại những thế lực luôn lấy việc cưỡng đoạt hạnh phúc của người khác để phục vụ cho quyền lợi riêng của chúng làm lẽ sống.

Suy cho cùng, không ai sống trên đời mà lại có thể chối bỏ hân hạnh gánh trên vai những món nợ tinh thần phải trả cho mình và cho cộng đồng, cho niềm hạnh phúc của con người.

"Khi xã hội loài người tiến lên được một bước về phía tự do, bình đẳng và công lý thì thường lại có rất nhiều người phải hy sinh trong công cuộc đấu tranh chống lại những thế lực luôn lấy việc cưỡng đoạt hạnh phúc của người khác để phục vụ cho quyền lợi riêng của chúng làm lẽ sống."

Bởi thế bất kỳ công dân nào cũng có trách nhiệm đương nhiên phải đấu tranh cho tự do, nhân quyền và công lý cho mình và cho mọi người.

Đó là khí chất làm người, là dân khí, là nhân tố cốt lõi tạo nên nền công bằng và vững mạnh cho một đất nước.

Cần ý thức rằng, khi một người chối bỏ trách nhiệm đó, là đem lại tổn thương cho chính mình và cho xã hội. Trong nỗi oan khuất của người vô tội này bao giờ cũng hàm chứa mối đe dọa về nỗi oan khuất rồi cũng sẽ đến với những người khác.

Khi công dân ý thức được điều đó, nghiễm nhiên sẽ có phẩm giá của loài hiểu biết, hãnh diện về khí chất làm người của mình, sẽ không còn sợ hãi bóng tối và những sự đe dọa.

Khi nhận thức được như thế, sẽ có sức mạnh tinh thần để biết tạ ơn và biết hành động để trả nợ, để không chỉ sống cho ta, trong kiếp ngắn ngủi này, mà biết còn hân hoan sống cho cộng đồng.

'Thế lực thù địch'

Người VN, đương nhiên mỗi người cũng mang món nợ của mình.

Như người làng Vĩ Đại nợ những giọt máu, nợ cái chân gẫy, nợ sự oan khuất và tự do bị tước đoạt của ông Cột ông Kèo bà Ninh…

Ta hân hạnh nợ nần bao nhiêu người anh hùng bảo vệ đất nước, chống tham nhũng, ma túy, cướp bóc, những nhà tư tưởng và nhà khoa học vì con người. Ta nợ bao Tráng sĩ lương tâm – họ xứng đáng được tôn vinh là Tráng sĩ - vì có bản lĩnh dám chỉ ra những cái sai cho nhà cầm quyền biết- thực chất là họ đã giúp nhà cầm quyền để củng cố nền hòa bình, công lý và tự do.

"Những người dám nói lên sự thật, đòi quyền làm người, dám phản đối cái ác và bất công, hoàn toàn không hề là người đối lập với đảng và chính phủ VN, mà chính nhiều cá nhân, tổ chức nằm trong hệ thống quyền lực đã tự hành xử ngày càng đối kháng với quyền lợi chính đáng của nhân dân, đất nước."

Thật đau lòng là nhiều người trong số họ lại đang bị giam cầm và hành hạ sau song sắt nhà tù. Đa phần trong số họ là vô tội, giữ được bản lĩnh. Càng bị đàn áp, bôi nhọ, phẩm chất của họ càng tỏa sáng.

Những người dám nói lên sự thật, đòi quyền làm người, dám phản đối cái ác và bất công, hoàn toàn không hề là người đối lập với đảng và chính phủ VN, mà chính nhiều cá nhân, tổ chức nằm trong hệ thống quyền lực đã tự hành xử ngày càng đối kháng với quyền lợi chính đáng của nhân dân, đất nước.

Nhưng danh sách tù nhân lương tâm tại VN tăng theo mức độ đàn áp. Chỉ trong nửa đầu năm 2013 này đã có tới khoảng 50 người bị bắt giam. Theo công luận và nhiều luật sư, họ đã bị kết tội oan. Đặc biệt bất công là trường hợp quy tội “trốn thuế” cho Điếu Cày và luật sư Lê Quốc Quân để bỏ tù và đối xử tàn nhẫn với họ, trong khi vô số cá nhân, công ty, đại gia, người trong giới biểu diễn…thiếu thuế hàng chục, hàng trăm tỉ đồng, thì chỉ truy thu và được gọi là “kê khai thiếu chứ không phải trốn thuế,”(theo trả lời PV của bà Lê Thị Thu Hương, Phó cục trưởng Cục thuế TP HCM- Theo VNExpress- 27/7/2013)

Gần đây, việc bị dồn vào tình thế phải tuyệt thực liên tiếp của một số tù nhân lương tâm như Cù Huy Hà Vũ, Lê Quốc Quân, Điếu Cày…và cuộc nổi dậy bất đắc dĩ của tù nhân tại trại giam Z30 A Xuân Lộc – Đồng Nai ngày 30/6/2013 vừa rồi đã lại làm phẫn nộ thêm nhiều người có lương tri trong và ngoài nước.

Hiện trạng ấy khiến cho dư luận đặt ra nhiều câu hỏi nhức nhối. Có khôn ngoan không, khi nhà chức trách đang chọn cách giải quyết những vấn nạn chính trị - kinh tế- xã hội bằng súng và xiềng xích đe nẹt tự do ngôn luận thay vì cải cách thể chế và cải cách kinh tế?

Chỉ tìm cách đổ lỗi cho các “thế lực thù địch diễn biến hòa bình” bên ngoài chứ không cắt bỏ khối ung bướu ngay trong thể chế, đó thực ra là một sự “tự sát”, không những làm trầm trọng thêm các vấn đề cấp bách hiện nay mà còn khiến VN càng thêm giảm uy tín và khiến cộng đồng quốc tế không thể làm ngơ.

Gần chót về tự do

VN hiện đang bị xếp thứ gần chót hạng(172/179 quốc gia) trong bảng Chỉ số Tự do Báo chí thường niên 2013 do Phóng viên Không biên giới thực hiện.

Không phải vô cớ, không chỉ có sự đòi hỏi từ một số đồng bào VN, mà ngày càng dồn dập tăng số lượng cá nhân và tổ chức trung lập có uy tín trên thế giới bày tỏ sự ủng hộ đối với những nhà phản biện và tù nhân lương tâm VN, đòi phải lập tức trả tự do cho họ.

Ngày 18/4/2013, QH châu Âu thông qua nghị quyết tố cáo VN đàn áp tự do ngôn luận và hạn chế tự do tôn giáo.

Ngày 17/6/2013, có tới 12 tổ chức NGO, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Thế giới, Trung tâm nhân quyền Kennedy(Mỹ) và một đoàn gồm 12 nghị sĩ Mỹ… cũng lên tiếng mạnh mẽ yêu cầu chính phủ VN phóng thích ngay luật sư vô tội Lê Quốc Quân, đồng thời yêu cầu chấm dứt việc đàn áp các luật sư và các nhà chỉ trích chính phủ về vấn đề nhân quyền.

Ngày 27/6/2013, bản Dự thào về luật nhân quyền cho VN đươc được UB đối ngoại Hạ viện Mỹ thông qua, đưa ra cảnh báo dứt khoát cho VN là phải cải thiện về nhân quyền, nếu không muốn có những tổn hại về kinh tế và thương mại, hoặc những nguồn viện trợ nằm ngoài tính cách nhân đạo từ Mỹ.

Một Dự luật nhân quyền cho Việt Nam và Dự luật chế tài nhân quyền Việt Nam, hiện đang được trình cho Hạ nghị viện và rồi Thượng nghị viện Mỹ, là những hành động cảnh báo mạnh mẽ để VN cân nhắc lại và hành xử cho đúng với những văn bản đã ký cam kết về quyền con người cùng thế giới.

Trong hoàn cảnh Chủ tịch nước VN vừa ký văn bản cam kết hợp tác toàn diện với Mỹ, nếu VN không cam kết suông, thì vấn đề cải thiện nhân quyền tại VN lại càng cấp bách hơn bao giờ hết.

Chủ tịch Trương Tấn Sang và ông Barack Obama ở Nhà Trắng hôm 25/7

Việt Nam và Mỹ vừa cam kết sẽ tiếp tục đối thoại về nhân quyền

Mỗi người VN xin hãy tỉnh táo để tránh thảm họa đều trở thành nạn nhân của nạn côn đồ cướp bóc, như người dân làng Vĩ Đại. Hãy mở miệng bảo vệ chính chúng ta và các Tráng sĩ công lý.

Mỗi người VN vốn đều mang căn tính thiện và dũng khí trong mình, với lòng yêu công lý, hòa bình và hạnh phúc.

Vậy hãy để cho căn tính này được tự nhiên bộc lộ.

Hãy hồn nhiên “”mở miệng” như tạo hóa vốn tạo nên ta thế. Như một sự xác tín rằng ta là con người, xứng đáng được hưởng những quyền tối thiểu, đương nhiên của con người đã được tạo hóa ban cho. Nếu sống mà không có quyền tự do ngôn luận, quyền được hưởng công lý và bình đẳng, thì sống khác nào đang chết.

Mỗi công dân nếu cố gắng vượt qua sự sợ hãi và vô cảm thì chắc chắn sẽ chấn hưng được dân khí.

Người VN cũng biết hân hạnh mang nợ và trả nợ lương tâm. Như thế không phải là chống đối nhà cầm quyền, mà là thức tỉnh họ phải trở lại con đường đồng hành cùng nhân dân xây 



https://www.youtube.com/watch?v=F25MTP4w-sQ



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Khi Cộng đảng trở thành Dâm đảng!
Đại thắng trước U22 Indonesia, U22 Việt Nam lần đầu tiên vô địch SEA Gamescả nam lẫn nữ
Mỹ đi rồi Mỹ lại về: Cựu Tổng thống Mỹ Obama đáp chuyên cơ riêng xuống sân bay Tân Sơn Nhất
Đạo Phật thời đại bác Hồ: ‘Sư thầy’ đẹp trai giết bạn gái rồi phi tang xác
Nội gián VC trong guồng má VNCH: Nữ quận chúa đánh bom tòa Đại sứ Mỹ bây giờ ra sao?
Nhà văn Nguyên Ngọc: Tường Berlin đổ, trông người mà ngẫm đến ta
Gián điệp TC hoành hành khắp thế giới, đặc biệt nhám vào VN tiêu diệt nòi giống để chiếm lãnh thổ đồng hóa với sự đồng lõa CCSVN
Trung tá CSGT bị giáng cấp vì toa rập côn đồ “đứng nhìn” cô gái bị đâm chết
Cái giá của bán nước
Cái bang TQ đại náo thủ đô VN: Xuất hiện nhóm ăn xin TQ kì dị tại Hà Nội: Bôi đen mặt, ăn mặc như ninja,
Sự thật về chủ nghĩa CS và thực chất nhửng đảng viên cuồng tín trục lợi trên xương máu đồng bào của họ
CSVN cổ võ bỏ tiếng Anh và học tiếng Trung
TQ dùng chiến lược ma túy đầu độc dân VN thả trôi ngoài bờ biển, sản xuất và tổng phân phối trong nước không bị giới hạn - TQ làm độc nước biển VN đen ngòm chết người
Niềm hãnh diện thời đại HCM: Tôn sư học đạo, Việt Nam học Campuchia, cách làm đơn giản để có điện giá rẻ
Bản hợp đồng sinh tử của Cao Dĩ Tường với NST bất ngờ bị rò rỉ

     Đọc nhiều nhất 
Câu chuyện tình đẹp có thật thời trước 1975 – Chuyện cô Tiên [Đã đọc: 17006 lần]
Văn hóa chửi [Đã đọc: 15454 lần]
Phật dạy: Phụ nữ là báu vật quý giá nhất, 3 phúc báo vô lượng sẽ nhận được nếu biết trân trọng [Đã đọc: 14640 lần]
Thảm trạng Dân Tộc thời CS [Đã đọc: 13464 lần]
Làm gỉ có lãnh đạo không tham nhũng! [Đã đọc: 9733 lần]
Tìm thấy thi thể nữ sinh gốc Việt ở Pháp sau một năm mất tích [Đã đọc: 9452 lần]
Một ngư dân bị hải quân Campuchia tay sai TQ bắn chết gần quần đảo Trường Sa [Đã đọc: 9097 lần]
Thời đại XHCN quang vinh HCM, VN nổi tiếng ăn cắp khắp thế giới [Đã đọc: 8936 lần]
Hơn 50 người xông vào lục tung cơ sở nuôi trẻ mồ côi viện cớ tìm con đánh cướp tịnh thất Bồng Lai gần nửa tỉ đồng, đánh sư thầ y và người trong chùa thương tích nặng [Đã đọc: 8178 lần]
Viet Thanh Nguyen, nhà văn Mỹ gốc tị nạn đoạt giải thưởng cao quý Pulitzer với cuốn The Sympathiz [Đã đọc: 7604 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.