Thu nhập trung bình của người Việt Nam vẫn còn khoảng cách rất xa so với các nước trong ASEAN và Trung Quốc, dù đã được cải thiện nhiều do đổi mới và mở cửa cách đây hơn một phần tư thế kỷ.

Một góc vùng quê Bạc Liêu

Trong khi đó, cơ hội để Việt Nam đuổi kịp Trung Quốc và các nền kinh tế ASEAN sẽ vẫn là viễn cảnh xa vời, nếu thiếu đi những động lực cải cách hơn nữa.

Đây là cảnh báo của một đề tài khoa học cấp nhà nước mang tên “Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020: từ nhận thức với hành động” do ĐH Kinh tế Quốc dân thực hiện. Báo cáo này, thực hiện theo yêu cầu của Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội, trích dẫn số liệu về thu nhập của Việt Nam và các quốc gia khu vực do Quỹ Tiền tệ Quốc tế thực hiện năm 2010.

Theo đó, tính theo tỷ giá hối đoái, GDP đầu người của Việt Nam đã tăng từ mức 114 USD năm 1991 lên 1.061 USD năm 2010. Trong khi đó, GDP đầu người của Trung Quốc tăng từ 353 USD lên 3.915 USD trong khoảng thời gian trên.

Như vậy, thu nhập đầu người của Việt Nam tương đương 32% của Trung Quốc năm 1991 đã giảm xuống còn 27% năm 2010.

Mặt khác, tính theo sức mua tương đương (PPP), GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt 706 USD năm 1991 và lên tới 2.948 USD năm 2010. Trong khoảng thời gian đó, con số này của Trung Quốc tăng từ 888 USD lên 6.786 USD.

Như vậy, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam bằng 80% của Trung Quốc năm 1991 đã giảm xuống còn 43% năm 2010.

Bên cạnh đó, so với các quốc gia ASEAN khác, dù thu nhập của người Việt Nam đã dần được thu hẹp trong 20 năm qua, khoảng cách vẫn còn rất lớn ở vào thời điểm hiện tại.

Tiến sĩ Phạm Hồng Chương và các đồng sự ở ĐH Kinh tế Quốc dân cho biết, GDP bình quân đầu người của Việt Nam theo PPP chưa bằng 1/2 của Philippines, hay Indonesia, khoảng 1/5 của Thái Lan, 1/10 của Malaysia năm 1991.

Con số này đã vượt qua mức 3/4, 1/3 và 1/5 của các nước trên sau gần 20 năm.


Tóm lại, quy mô GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2010 đạt 1.061 USD tính theo tỷ giá hối đoái, và 2.948 USD theo PPP.

Tiến sĩ Phạm Hồng Chương nhận xét: “Đây là những chỉ số còn thấp xa so với mức bình quân chung của khu vực, của châu Á và thế giới”. Ông nhận xét, sau hơn một phần tư thế kỷ đổi mới và mở của, Việt Nam đã chuyển từ nhóm nước có thu nhập thấp sang nhóm thu nhập trung bình, theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới.

Tuy nhiên, theo ông Chương, xét về nhiều mặt, động thái tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chưa thể hiện rõ quyết tâm và khả năng thoát khỏi nguy cơ tụt hậu phát triển. Trong khi đó, trong một vài năm gần đây, nền kinh tế còn bộc lộ nhiều rủi ro tiềm ẩn về tính bền vững của quá trình tăng trưởng.

Báo cáo của ĐH Kinh tế Quốc dân chỉ ra thêm về thực trạng thất nghiệp ở mức 4,6% ở thành thị và 20% lao động ở nông thôn chưa được sử dụng; báo cáo nhận xét: “Như vậy, tỷ lệ trên tương đương với trên 10 triệu lao động thất nghiệp hoàn toàn ở Việt Nam”.

Thu nhập của người Việt Nam bị bỏ lại quá xa bởi các nước trong khu vực không phải là vấn đề mới.

Theo Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore.


Báo cáo này căn cứ vào tốc độ tăng trưởng thu nhập trên đầu người tính theo giá cố định trong giai đoạn 2001 – 2007 của các quốc gia và kết luận “thực tế là Việt Nam sẽ phải rất lâu mới theo kịp được”.Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn

VN: Thông điệp năm mới 2020 - 'đột phá' thể chế

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân PhúcBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionThủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đánh dấu sự kiện nắm giữ ghế Chủ tịch luân phiên ASEAN vào năm 2020 trong lễ bế mạc Hội nghị cấp cao Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á lần thứ 35 tại Bangkok hôm 04/11/2019

Nếu thông điệp cải cách là cần thiết cho năm mới 2020 thì 'đột phá thể chế' sẽ là một lựa chọn.

Sự lựa chọn này được khởi phát từ nhận định rằng kết quả tăng trưởng GDP cao hiện nay nhờ rút kinh nghiệm từ nhiệm kỳ 'bất ổn' kinh tế vĩ mô và cải cách thể chế chuyển 'dư địa' thành nguồn lực tăng trưởng chủ yếu.

Hơn thế, tình trạng kinh tế 'tụt hậu' hiện nay của đất nước là do thể chế gắn với ý thức hệ giáo điều đã không thích nghi với thay đổi kinh tế theo hướng thị trường, bởi vậy những thách thức do 'nghẽn thể chế' chỉ có thể được giải toả bởi tư duy và các chính sách đột phá.

Việt Nam 2020: Những chính sách mới có hiệu lực

Kinh tế VN 2019: 'Mặt trời' chỉ 'tỏa sáng' trên báo cáo?

Phạm Kim Ngọc: 'Một con người và kinh tế gia can đảm'

Thông điệp cho năm mới 2020 có ý nghĩa thiết thực trước thềm Đại hội 13 của Đảng Cộng sản Việt Nam dự kiến tổ chức vào đầu năm 2021 khi nó thể hiện sự quyết tâm chính trị về đổi mới vì sự thịnh vượng bền vững của đất nước.

Thể chế là dư địa tăng trưởng

Việt Nam liên tiếp tăng trưởng cao từ đầu nhiệm kỳ 12, hai năm gần đây đạt tỷ lệ tăng GDP hơn 7%, năm 2018 là 7,08 và năm 2019 đạt 7,02%. Cơ quan Thống kê nhà nước cho rằng đồng thời với mức tăng cao như trên, chất lượng tăng trưởng kinh tế cũng đang được cải thiện qua phân tích các chỉ tiêu năng suất, các nhân tố tổng hợp, năng suất lao động, hiệu quả đầu tư, chuyển dịch cơ cấu ngành, trong đó động lực tăng trưởng chính là ngành công nghiệp chế biến chế tạo…

Bỏ qua sự khả tín của số liệu, bởi nhiều chỉ tiêu, trong đó có GDP, thường được sử dụng trong kinh tế tư bản chủ nghĩa coi thị trường là phương thức phát triển. Những chỉ tiêu đo lường sức khoẻ của nền kinh tế chủ yếu, ngoài GDP, còn có số việc làm được tạo thêm, tỷ lệ thất nghiệp giảm, các chỉ báo của thị trường chứng khoán…

Việt Nam chưa được công nhận là nền kinh tế thị trường, lại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nên một số chỉ tiêu quan trọng được tính toán và áp dụng mang tính pháp lệnh trong việc lập và kế hoạch và thực thi bởi chính phủ với bộ máy chỉ đạo, điều hành tập trung. Đặc điểm này tạo ra những khác biệt, nguyên nhân của tranh luận về sự chính xác của số liệu.

Thí dụ, tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam năm 2019 chỉ là 2,25%, được coi là rất thấp trong một nền kinh tế kém phát triển với cung lao động lớn và nhu cầu việc làm cao, thấp hơn nhiều ở phần lớn các nước phát triển, bởi thế nó hoặc phản ánh năng suất lao động thấp hoặc do cách tính toán chứ không phải để so sánh. Ngoài ra, cũng trong năm 2019 các chỉ số chứng khoán VN-index và HN-index đi ngang và giảm, chỉ số tín nhiệm quốc gia bị Moody's hạ bậc… đang phản ánh mặt yếu kém của thị trường, nhưng đã không được phản ánh vào chất lượng tăng trưởng.

Tuy nhiên, việc hoàn thành và vượt mức 12 chỉ tiêu pháp lệnh cũng là kết quả đáng khích lệ trong bối cảnh ảm đạm và khó khăn của kinh tế thế giới. Hơn thế, mức tăng trưởng cao GDP sau nhiệm kỳ 'bất ổn' lại càng có ý nghĩa, nhất là về mặt chính trị với niềm tin dân chúng và tính chính danh của đảng cầm quyền.

Như đã biết, chính sách tăng trưởng nóng vội, sai lầm dựa vào các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và quản lý yếu kém của nhà nước trong nhiệm kỳ trước khiến cho tỷ lệ tăng trưởng giảm sút, bất ổn kinh tế vĩ mô và khủng hoảng thể chế, đã và đang để lại hậu quả nặng nề, đặc biệt là chất lượng tăng trưởng.

Trong bối cảnh đó Chính phủ kiến tạo nổi lên như sự đổi mới về điều hành kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng mà vẫn duy trì hệ thống chính trị, đặc biệt là bộ máy hành chính hiện hành. Hai nhóm giải pháp chính sách nổi bật trong cách thức điều hành của Chính phủ là khuyến khích tự do kinh doanh, thúc đẩy phong trào khởi nghiệp, tạo môi trường đầu tư… đồng thời với hoàn thiện thể chế, pháp luật, hành chính, loại bỏ các rào cản từ thực thi công vụ… đã tạo được động lực cho tăng trưởng.

Đây chính là bài học kinh nghiệm được rút ra từ thời kỳ 'bất ổn'. 'Chính phủ kiến tạo' xuất hiện như một sự thay đổi phương thức điều hành tạo môi trường đầu tư, kinh doanh đã giải phóng các nguồn lực xã hội cho mục tiêu kinh tế.

Đột phá thoát 'tụt hậu'

Việt NamBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionMột gia đình đi sắm đồ trang trí Giáng sinh từ một người bán hàng trên phố Hàng Mã, Hà Nội, hôm 21/12/2019 (Hình minh họa)

Mặc dù có mức tăng trưởng cao như phân tích ở trên, nhưng kinh tế Việt Nam vẫn tụt hậu so với thế giới. GDP trung bình trên đầu người hiện nay ở mức trên 2500 đô la Mỹ chỉ bằng một phần tư so với mức trung bình của thế giới.

Việt Nam: 'Chính phủ kiến tạo' và những điểm nghẽn thể chế

VN: 'Bảo trợ chính trị' đang gây nguy hại cho chế độ?

Cải cách Việt Nam tùy thuộc Đảng ‘tự sửa sai’

Chính phủ kiến tạo được cho là 'cứu cánh' cho tăng trưởng sau khi đã suy giảm trong giai đoạn trước, nhưng liệu có thể trở thành mô hình chính phủ điều hành kinh tế hướng đến phát triển bền vững, thoát khỏi tình trạng kinh tế 'tụt hậu' tuỳ thuộc rất nhiều vào cải cách thể chế.

Các lãnh đạo Chính phủ kiến tạo đã nhìn nhận cải cách thể chế là 'dư địa lớn' để tăng trưởng. Tuy nhiên, các giải pháp trong nghị quyết 01 của Chính phủ trong các năm trước, tuy cụ thể nhưng vẫn dàn trải, chưa làm thay đổi tình trạng 'trên nóng dưới lạnh' và nhiều điểm nghẽn khác của thể chế. Chất lượng của thể chế chỉ có thể thay đổi bằng các chính sách đột phá.

'Thành tích' kinh tế năm 2019 đang tạo ra không khí 'phấn khởi' trong các hội nghị tổng kết của chính phủ và các bộ, ngành. Trên hầu hết các báo chí và truyền thông của nhà nước trích đăng câu nói của đại diện Ngân hàng thế giới 'Mây đen phủ lên toàn cầu nhưng mặt trời đang toả sáng ở Việt Nam' làm hình ảnh để mô tả sự phấn khích này… Các lãnh đạo dường như đang nắm trong tay 'phép màu' tăng trưởng kinh tế!

Chợt nhớ hình ảnh tương phản về cố Tổng thống Hàn Quốc Park Chung Hy qua câu chuyện được kể lại, rằng trong giai đoạn từ 1965 cho đến khi bị ám sát năm 1979, ông đã tham dự gần như mọi cuộc họp hàng tháng của ủy ban xúc tiến xuất khẩu nước này và tập hợp các doanh nhân trong các bữa ăn trưa. Năm 1964 xuất khẩu của Hàn Quốc vượt mức 100 triệu đô la, ông đã khóc khi công bố ngày lễ quốc gia được gọi là "Ngày xuất khẩu".

Kinh tế Hàn Quốc đã tăng trưởng hai con số nhờ mô hình dựa vào xuất khẩu trong thời kỳ dài, từ đầu những năm 1960 cho đến những năm 1990 và GDP bình quân đầu người dưới 10.000 USD trước năm 1970 tăng lên gần 60.000 USD năm 2017. Nguồn gốc dẫn tới thành công của Hàn Quốc và 'các con hổ châu Á' khác như Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Hong Kong được cho là sự kết hợp sự chỉ đạo năng động của mô hình 'nhà nước chuyên quyền duy lý' và vai trò của thị trường cạnh tranh. Hơn thế, mô hình này đã chuyển đổi thành các chế độ dân chủ như hiện nay.

Các quốc gia nêu trên với nhiều doanh nghiệp đang là những nhà đầu tư lớn ở nước ta. Họ sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm thành công trong quá khứ cho Việt Nam, nhưng thật khó để có lời khuyên rằng đảng cộng sản nên lãnh đạo kinh tế thị trường thế nào? 'Chính phủ kiến tạo' liệu có thể điều hành để tăng trưởng kinh tế nhanh và dài hạn trong điều kiện hệ thống chính trị hiện hành với ý thức hệ xã hội chủ nghĩa? Đó là câu hỏi lớn cho cải cách đột phá thể chế.

Cần thiết và là cơ hội

Việt NamBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionQuốc phòng là một lĩnh vực cần được quan tâm, bên cạnh nhiều ưu tiến chính sách khác, theo tác giả

Đột phá thể chế là cần thiết trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ - Trung leo thang thành đối đầu chế độ xã hội và ý thức hệ khi Mỹ đặt vấn đề về dân chủ ở Hong Kong và nhân quyền ở Tân Cương Trung Quốc… Liệu đây có là cơ hội thoát khỏi sự phụ thuộc vào Trung Quốc khi quan hệ kinh tế dựa trên sự tương đồng chế độ chính trị đã không mang lại hiệu quả, mà ngược lại.

Các nhà máy điện than với công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm nghiêm trọng, dự án đường sắt trên cao kéo dài thời gian hoàn thành nhiều năm tạo bẫy nợ… là những hình ảnh tiêu cực, phản cảm trong công chúng. Những dự án đầu tư kém hiệu quả, thâm hụt thương mại… là cái giá rất đắt phải trả. Ngoài ra, sự kiện 'Bãi Tư chính' cũng như chính sách quân sự hoá nhiều hòn đảo ở Biển Đông, xâm phạm chủ quyền lãnh hải nước ta đang thách thức an ninh và quan hệ đa phương.

Đột phá thể chế thúc đẩy sự linh hoạt về ý thức hệ tạo ra sự chuyển biến từ kiến trúc thượng tầng của chế độ chính trị. Chiến dịch chống tham nhũng vẫn được tăng cường với việc xét xử các đại án, như AVG, các lãnh đạo cấp cao cố ý vi phạm các quy định hay lợi dụng chức quyền gây thiệt hại cho nhà nước…;

Sửa sai tư pháp trong các vụ án như Hồ Duy Hải; Thay đổi cách giải quyết các xung đột sở hữu đất đai như vụ Đồng Tâm, Thủ Thiêm… bằng cách duy trì đối thoại và một số sự kiện khác hướng đến các giá trị tích cực của chế độ dân chủ. Liệu đây có là những điểm sáng trong quá trình cải cách thể chế?

Đột phá thể chế trong năm 2020 tuỳ thuộc rất nhiều vào sự thay đổi nhân sự lãnh đạo qua đại hội đảng các cấp, kể cả việc chuẩn bị chuyển giao vị trí tứ trụ của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Đại hội 13. Đây là công việc nội bộ của Đảng, nhưng với cơ chế Đảng toàn trị chắc chắn sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế xã hội của đất nước.

Cuối năm 2018, khi tham dự Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương triển khai nhiệm vụ năm 2019 Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh rằng tăng trưởng "… là thử thách! … Nếu sang năm GDP tụt xuống là các đồng chí phải chịu trách nhiệm, chí ít phải bằng, còn không thì phải hơn năm nay. Nếu không đạt, gần sát Đại hội có khi người ta không bầu nữa đâu...".

'Đột phá' thể chế rõ ràng là công việc vô cùng thách thức, nhưng chẳng lẽ một dân tộc với gần một trăm triệu dân cần cù và thông minh, có truyền thống hào hùng có khát khao thịnh vượng và dân chủ lại cam chịu mãi tụt hậu!

Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả, nguyên Chủ nhiệm Khoa Chính sách công, Học viện Chính sách & Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Nhìn Lại Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa


* * *

Kinh tế ảnh hưởng không ít trên đời sống chính trị và kinh tế thị trường, kinh tế tự do của tư bản chủ nghĩa đã đánh bại, đã vượt qua kinh tế chỉ huy của cộng sản chủ nghĩa, bằng chứng là sau sự sụp đổ dây chuyền của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cùng cái nôi, thành trì xã hội chủ nghĩa Liên Bang Sô Viết, khiến Trung Hoa Cộng Sản, Việt Nam Cộng Sản bắt buộc phải “đổi mới” kinh tế để bảo vệ quyền lực chính trị, bảo vệ chế độ độc tài đảng trị của họ. Thật ra, đổi mới kinh tế được đặt cho cái tên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đánh tráo khái niệm, là dối trá bởi cái được gọi đổi mới kinh tế chỉ là sự trở lại cách làm ăn buôn bán thuận lẽ tự nhiện của xã hội loài người. Nó không là đổi mới mà trở về cái cũ, cái đã có từ trước khi bị kinh tế chỉ huy của các tín đồ Cộng Sản cuồng tín áp đặt lên đời sống kinh tế của loài người.

Ngày nay sau hơn hai mươi năm áp dụng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khoảng thời gian chưa đủ dài để có kết luận là hữu hiệu hay bất khiển dụng cho ý tưởng kinh tế, mô hình kinh tế hiện hành này. Dù chưa, nhưng với thời gian nhiều chục năm vận hành kinh tế cũng đủ để lộ ra những yếu kém, bệnh tật tiềm ẩn trong chính cơ thể kinh tế đó. Thế cho nên để có nhận xét chính xác, khách quan cần quan sát, phân tích, ghi nhận cái được, cái chưa được cũng như kết quả khả quan và gây hậu quả nghiêm trọng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của cộng sản Việt Nam.

Theo nhận xét khách quan sau hơn hai mươi năm “đổi mới”, Việt Nam đã mở mang cầu cống, đường xá rộng thoáng hơn hẳn ước mơ của Tố Hữu, đảng viên cao cấp của cộng sản ở thế kỷ trước là “đường ta đi rộng thênh thang tám thước”, với nhiều cao ốc,khách sạn nhà hàng sang trọng, mọc “nghênh ngang” trong nhiều tỉnh thành khắp cả nước, cùng những khu nghỉ dưỡng cao cấp trên cao nguyên với sân cù hiện đại hoặc dọc theo các bãi biển đạt tiêu chuẩn quốc tế và nhiều khu công nghiệp sản xuất chế biến, nuôi trồng thủy, hải sản “ hoành tráng” nằm dọc bờ biển, sông, suối... trên núi cao dưới đồng bằng khắp ba miền đất nước.

Tuy thế, bên cạnh thành quả vừa kể là hậu quả nghiêm trọng di hại lâu dài cho kinh tế nước nhà do đám tham quan ngu tối của đảng cộng sản Việt Nam. Bởi tham lam ngu tối làm sao chúng biết được công trình đầu tư nào giúp tạo bền vững cho kinh tế của nhà đầu tư thật lòng, công trình nào là chụp giựt gây tật bệnh cho kinh tế của đám tài phiệt, gian thương quốc tế. Ngoài ra, phần nhiều lợi nhuận thu được không được tái đầu tư, phục vụ công ích, phục vụ an sinh nhằm giữ mức chênh lệch giàu nghèo không quá xa, bất công không quá lớn nhằm ổn định xã hội, mà phần nhiều lợi nhuận chạy vào túi đám tham quan, tài phiệt và gian thương nước ngoài.

Thế mà các quan ta cứ hiu hiu tự đắc với thành quả kinh tế như kẻ điếc không sợ súng. Có mấy ai biết “sân sau”của các cao ốc, khách sạn nhà hàng sang trọng là hàng vạn vạn “ túp lều” của các thành phố Huế, Saigòn, Hà Nội một thời vang bóng... hở trước trống sau trong các con hẻm, ngõ ngách nồng nặc mùi cống rãnh quyện lẫn với phân người và những con người thiếu đói, suy dinh dưỡng sống nơi đó phải chạy ăn từng bửa từng ngày mà tương lai là ngỏ cụt, là bóng tối phủ trùm. Có mấy ai chạnh lòng nghĩ đến “bên cạnh” những khu nghĩ dưỡng cao cấp trên thảo nguyên xanh ngát, dưới bãi biển đẹp tuyệt vời của quê hương mình là nông dân bán mặt cho đất bán lưng cho trời bị cưỡng bức, chiếm đoạt bờ xôi ruộng mật đã bao đời gắn bó, họ bị cướp đi phương tiện sinh nhai, họ bị đẩy gần hơn đến bờ vực đói nghèo.

Cũng như bên cạnh cảnh “phồn vinh giả tạo” đó, có mấy ai quan tâm “bên trong” các cụm công nghiệp là đời sống bấp bênh của công nhân trên khắp cả nước, họ bị đối xử tệ bạc, làm việc trong môi trường khắc nghiệt, họ bị bóc lột, bị lường công bị cướp đi sức thặng dư lao động trong hảng xưởng, không được luật pháp bảo vệ, không được quyền bảo vệ quyền lợi chính đáng của chính mình. Họ sống lây lất trong các căn nhà trọ tồi tàn, chật chội hầm hập hơi người với mức lương chỉ nuôi sống người công nhân dè xẻn, tằn tiện chứ không nuôi nổi gia đình, trước mắt là bóng tối, là tương lai bất định.

Đó chỉ là hậu quả tức thời của nó gây ra cho những lớp người kế cận. Riêng “quái thai” kinh tế thị trường định hướng XHCN còn gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế lớn hơn nhiều do lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo nào là tập đoàn đóng tàu Vinashin, dầu khí VN Petrolimex, điện lực EVN, than khoáng sản TKV... cùng hàng ngàn công ty con hàng vạn công ty thuộc con cháu, tay chân của giai cấp “quý tộc” cộng sản, chúng thi nhau khuynh đảo kinh tế, rút ruột công quỹ, ăn cắp của công, dùng tiền nhà nước đầu tư bừa bãi kiểu đánh bạc như chứng khoán, bất động sản... mà hậu quả tệ hại dần lộ ra khá rõ.

Hậu quả điển hình là ước mơ “nhà ở” đối với công nhân lương thấp hay lương trung bình khá của người dân Việt Nam, là một ảo tưởng, là ước mơ không bao giờ thành hiện thực do các ông tiêu bạc giả nhưng nợ nước ngoài thì thật này. Trong khi đó những cao ốc có căn hộ trung, cao cấp thi nhau xây dựng chỉ đáp ứng nhu cầu nhà ở rất nhỏ cho lớp “nhà giàu” mới nổi, đa phần còn lại phục vụ cho các nhà đầu tư lẫn đầu cơ “bí ẩn”mà nguồn vốn rót vào, đủ thứ tiền nào là tiền đen, tiền trắng, tiền “trên trời rơi xuống” của các tập đoàn quốc doanh, đổ vào vô tội vạ, khuấy động tạo giá ảo chóng mặt cho thị trường bất động sản gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng cho nền kinh tế vốn hoang dã càng hoang dã hơn.

Hiện nay mầm bệnh bất động sản bắt đầu lộ ra biến chứng, thị trường đóng băng, vốn nóng, vốn không tạo nên do công sức trí tuệ, vốn không rõ nguồn gốc của nhóm đầu cơ “bí ẩn”, không còn bao biện nổi cho sức sống thực của thị trường. Giá trị “ảo” của đất đai vượt xa khu vực, ảnh hưởng đến “mái nhà đơn sơ”của đa phần dân chúng Việt Nam cũng như ảnh hưởng đến đầu tư xây dựng hảng xưởng kinh doanh sản xuất và nhất là không còn là thế mạnh thu hút đầu tư nước ngoài bởi cơ sở hạ tầng yếu kém, năng lực công nhân thấp từ tay nghề đến thể hình, sức vóc. Hậu quả nghiêm trọng này không phải sau một đêm thức giấc là xảy ra, nó đã nứt mầm chẻ đất vươn lên kể từ lúc các anh lãnh đạo gốc “nông dân” treo khẩu hiệu “công nghiệp hoá, hiện đại hoá” quen chỉ huy bằng nòng súng đi làm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghiã.

Thế cho nên sau hơn hai mươi năm treo khẩu hiệu “công nghiệp hoá, hiện đại hoá” khắp cả nước từ thành thị đến thôn quê nhưng Việt Nam vẫn còn xuất khẩu lao động, đi làm công, đi ở đợ cho các nước ngoài, trong số đó có các nước mà dân họ không hẳn hơn dân mình tính cần cù, tháo vát lẫn thông minh và trong nước thì không sản xuất được hàng hoá, nguyên vật liệu phụ trợ đủ chất lượng để phục vụ cho mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá.

Điển hình như phẩm chất chai thuỷ tinh không đồng nhất nên một doanh nhân sản xuất rượu Sake truyền thống của Nhật phải nhập phụ trợ “chai lọ” từ các nước Đông Nam Á và cũng không làm ra được đinh ốc, vít đúng tiêu chuẩn phục vụ cho ngành điện tử, ngành xuất khẩu có tiềm năng cao bên cạnh giày da may mặc, nuôi trồng nông, thủy, hải sản. Ba ngành chủ lực gồm điện tử, giày da may mặc, nuôi trồng nông, thủy,hải sản được tuyên truyền rầm rộ, nào là kinh tế mũi nhọn, kinh tế chiến lược cùng với những câu chữ, tiếng nói tung hê rất kinh hồn trên các phương tiện truyền thông nhà nước, cả thế giới đều nghe thấy.

Vậy mà trong bản kết luận của viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) của CSVN đã viết: “Ba ngành chủ lực này như những quả trứng mong manh dễ vỡ...” một là ngành điện tử xuất khẩu 100% vốn FDI, có 82% nguyên vật liệu phải nhập khẩu; hai là nuôi trồng nông, thuỷ, hải sản, phải tiêu tốn rất nhiều cho nguyên liệu đầu vào cho nhu cầu phân bón, thuốc trừ sâu bệnh, chế biến thực phẩm nuôi trồng; ba là giày da, may mặc phải nhập khẩu trên dưới 70% nguyên vật liệu phụ trợ cho nhu cầu sản xuất lẫn gia công.

Do đó, hơn hai mươi năm theo đuổi kinh tế thị trường định hướng XHCN, kinh tế Việt Nam vẫn còn phụ thuộc vào nguyên, vật liệu phụ trợ nhập khẩu của nước ngoài ngày càng nặng nề hơn nhưng vẫn chưa thấy kế hoạch nào cụ thể, bền vững, khả thi để vươn lên tự túc từng phần đến toàn phần nguyên, vật liệu trong tương lai! Toàn bộ nền kinh tế sau gần ¼ thế kỷ xây dựng, phát triển chỉ làm được việc đóng gói, vô bao bì, lắp ráp, gia công bán sức lao động từ trong nước ra đến ngoài nước, một công việc lao động thấp nhất trong chuổi dây chuyền lao động của nền kinh tế công nghiệp.

Từ hậu quả kinh tế do nó gây ra và bản chất nền kinh tế đã dần hiện rõ, đã chỉ ra cho mọi người biết được kinh tế thị trường định hướng XHCN là sự kết hợp, là sự cộng sinh tệ hại của kinh tế thị trường hoang dã với xã hội chủ nghiã rừng rú nên sản sinh ra nền kinh tế mà trong đó, ngoài các tập đoàn quốc doanh làm chủ đạo còn có khu vực tư nhân, công ty tư doanh cao cấp...cấp xuất nhập khẩu, cấp gần gủi với giới đầu tư nước ngoài, cấp ngồi mát hưởng bát vàng, cấp phe phẩy trung gian, ngồi không hưởng sức thặng dư lao động của lớp dân nghèo trong xã hội đã có thời bị lên án gay gắt.

Cấp phe phẩy này, chỉ cần một cú điện thoại độc quyền giao dịch là kiếm chục ngàn, trăm ngàn đô, không phải đổ mồ hôi sót con mắt, không phải căng óc suy tính do cạnh tranh khắc nghiệt trong môi trường kinh tế thị trường lành mạnh. Chính tầng lớp được gọi là tư doanh “phe phẩy”này, làm biến thái kinh tế thị trường, đúng hơn là do cái đuôi “khu vực tư nhân” XHCN phá nát nền tảng kinh tế thị trường, giết chết nền kinh tế thị trường.

Thế họ là ai? Thực chất, khu vực tư nhân, tất cả các công ty, các doanh nhân mới, tư bản mới là bạn bè, thân nhân “con cháu các cụ cả” được đảng chỉ định, là thành viên của đảng, liên quan mật thiết với đảng, không thể tách rời khỏi đảng cộng sản Việt Nam. Chúng nói thì không ai hiểu, làm thì bất chấp hậu quả cho dân nước, miễn sao tiền vô đầy túi là được, là hả hê với thành quả kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa!

Với nền kinh tế mà cột trụ của nó là quốc doanh chủ đạo, khu vực tư nhân là phe cánh được chỉ định, cấu kết chia chát quyền lực lẫn quyền lợi cho nhau đã lộ ra khá rõ, từ hiện tượng “thú hoang man rợ” hiện lên trên bề mặt đến bản chất “thú tính hung bạo” tự thân của nền kinh tế được gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chắc hẳn, một lần nhìn lại, dù chỉ thoáng qua một góc hẹp nhưng vẫn thấy nhiều vết rạn báo hiệu nguy cơ sụp đổ trong một ngày không xa. Hy vọng nhìn lại kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ ít nhiều giúp cho chúng ta rút ra bài học hữu ích cho mình và cho tương lai đất nước, dân tộc Viêt Nam. Vậy, cộng sản Việt Nam có nên tiếp tục hay thẳng tay gạt bỏ ý tưởng kinh tế thị trường giao hoan xã hội chủ nghĩa quái đản này?

Hãy sớm từ bỏ cái đuôi ‘định hướng XHCN’!
Bùi Tín

127 đảng viên và nhân sỹ lão thành gửi thư cho đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) và các cấp lãnh đạo đảng đề nghị với Đại hội XII những vấn đề cực kỳ hệ trọng, liên quan đến sự sống còn của đất nước và vận mệnh của đảng CSVN.

Các đề nghị quan trọng nhất là: từ bỏ dứt khoát chủ nghĩa Mác - Lênin đã phá sản trên toàn thế giới, từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản không tưởng, mơ hồ, từ bỏ chế độ độc đảng độc đoán, thay tên nước Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), thay tên đảng CSVN vì chủ nghĩa CS đã phá sản hoàn toàn và chưa biết rõ mặt mũi nó ra sao. Một đề nghị nổi bật là cắt cái đuôi «định hướng XHCN» cho nền kinh tế thị trường. Tất cả các 6 nội dung này có quan hệ ràng buộc với nhau thành hệ thống tư duy già cỗi, cũ kỹ, giáo điều, phải sớm triệt để dứt bỏ thì đất nước mới có thể phát triển bình thường.

Các đề nghị tâm huyết, sáng suốt như thế nhưng xem ra Bộ Chính trị vẫn không nghe thủng, thậm chí không thèm nghiên cứu và trả lời trong tổng kết các góp ý cho văn kiện Đại hội, do cái tệ «kiêu ngạo CS» đã thành cố tật không sao sửa bỏ nổi.

Chỉ riêng về cái «nền kinh tế thị trường với định hướng XHCN» đã là một khái niệm quái dị, phi lý, thách thức trí khôn của con người, hiện không còn một nước nào khác chấp nhận, không một nhà lý luận chính trị nào trên thế giới thừa nhận ngoài Bộ Chính trị của đảng CSVN.

Khái niệm «xã hội» là một khái niệm tương đối mới, với một nội hàm là quan tâm đến toàn xã hội, quan tâm chu đáo đến các vấn đề giáo dục, y tế có tác động đến nền văn minh và sức khỏe của cộng đồng, quan tâm đặc biệt đến lớp người nghèo khổ nhất ở dưới đáy của xã hội, có các chính sách xã hội nhằm nâng đỡ những người dễ bị tổn thương nhất như trẻ mồ côi, người có bệnh hiểm nghèo, người thất nghiệp, người tàn tật, người cao tuổi cô đơn, nạn nhân thiên tai, tai nạn, phụ nữ góa bụa, gia đình đông con...

Tại VN, tất cả các tiêu chuẩn trên đều quá thấp, còn lâu mới có thể đạt mức trung bình. Nền giáo dục lạc hậu, không một trường nào được xếp loại trong số 100 đại học tiên tiến nhất thế giới. Y tế không đủ giường bệnh, 2 người bệnh phải nằm chung, có người nằm dưới gầm giường; tiêm thuốc khám bệnh phải có phong bì; trong xã hội ai bị bệnh hiểm nghèo, thất nghiệp, gặp thiên tai, trẻ mồ côi, người góa bụa, người cao tuổi ốm yếu cô đơn đều cảm thấy bị bỏ rơi, tự lo lấy để gắng sống trong đau thương tuyệt vọng.

Ở Việt Nam chưa có các chính sách xã hội, mà xã hội còn bị làm cho điêu đứng, thiếu thốn hơn bởi các chính sách «phản xã hội». Chế độ độc đảng toàn trị của đảng CS là nguồn gốc của vô vàn bất công, phi lý, lẫn lộn trắng đen, công tội. Kẻ gian xử người ngay, kẻ phạm tội nặng đối với xã hội vẫn ung dung hưởng thụ, người yêu nước bị đánh đập tra tấn đến chết trong các đồn công an, trại giam – hơn 200 nhân mạng trong hơn 2 năm… Tòa án bênh kẻ gian, trị người ngay theo lệnh trên. Tệ tham nhũng hoành hành rộng khắp. Đời sống xã hội lầm than, bất công, không có tự do ngôn luận trong toàn xã hội, chỉ có tiếng nói áp đặt của đảng CS trên hệ thống loa đài; đời sống xã hội của từng công dân, từng gia đình bị tra tấn, quấy nhiễu, hành hạ; như thế thì cái «định hướng XHCN» nằm ở đâu? lúc nào? ra sao? Xin mời hơn 100 vị tiến sỹ - thạc sỹ của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia giải thích cho toàn xã hội được sáng tỏ.

Xin nói rõ thêm không có gì phản CNXH, làm hại xã hội bằng cái phương châm quái đản «kinh tế quốc doanh là chủ đạo» tha hồ dùng ngân quỹ khủng đầu tư vào những thùng «quốc doanh» không đáy, khống chế kinh tế tư nhân đông đảo giàu sáng tạo trong cạnh tranh của giai cấp trung lưu, bịt đường sống các tiểu thương tiểu chủ, các nghề tự do, vốn phải là nền tảng vững chãi cho mọi nền kinh tế lành mạnh, đi đến ổn định, phồn vinh.

Trên thực tế hiện nay ở Việt Nam là một nền kinh tế kỳ lạ không giống ai, thực chất là một nền kinh tể tư bản chủ nghĩa biến dạng, có tư nhân làm kinh tế nhưng lại bị quốc doanh chèn ép, có kinh tế thị trường nhưng không có tự do kinh doanh, không có cạnh tranh bình đẳng, không có pháp luật nghiêm, tòa án bị cưỡng bức kiểu phát xít, nói thẳng ra là nó là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhưng là tư bản hoang dại rừng rú, phi pháp. Nhà kinh tế Mỹ gốc Trung Hoa Bùi Mẫn Hân gọi nó là kiểu «Nhà nước ăn thịt người», không mảy may có tính chất xã hội.

Nhiều người nói người lãnh đạo cộng sản là loại người riêng biệt, không giống ai. Điều khác biệt lớn là vì giáo điều mù quáng họ không có giây thần kinh hổ thẹn. Nhân Đại hội XII họ hãy suy ngẫm về họ đã và đang thực thi cái CNXH dị dạng ra sao.

Tất cả các điểm hệ trọng trong học thuyết, đường lối, chính sách của đảng CS, từ chủ nghĩa Mác-Lênin, chế độ độc đảng, xây dựng CNXH và CNCS xa lạ, lẽ ra phải là một nội dung tranh luận rốt ráo và nghiêm chỉnh nhất tại Đại hội này. Lẩn tránh việc này, đảng CS tỏ ra lo sợ lẽ phải và công lý, tự thú nhận không còn chính danh cầm quyền, để tiếp tục cai trị theo nếp độc đoán - độc quyền đất nước Việt Nam.

* Blog của nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Bùi Tín