Mã Kiến (Ma Jian -马建) là một nhà văn quê ở Thanh Đảo (Qingdao -青岛), Trung Quốc. Ông rời Bắc Kinh chạy sang Hương Cảng vào năm 1987, xin tị nạn với tư cách là một nhà bất đồng chính kiến; và sau khi bán đảo này bị bàn giao lại cho Trung Quốc, ông chuyển đến London. Tất cả sách của ông đều bị cấm ở Trung Quốc.

Trên tờ The Guardian của Anh, ông đã viết một bài có nhan đề “Xi Jinping has buried the truth about coronavirus” nghĩa là “Tập Cận Bình đã chôn vùi sự thật về coronavirus.”

Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.


Trong 70 năm qua, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã hết lần này đến lần khác đẩy đất nước vào các thảm họa do con người gây ra, từ trận Đại đói kém kinh hoàng, đến cuộc Cách mạng Văn hóa và vụ Thảm sát Thiên An Môn; từ việc đàn áp mạnh mẽ nhân quyền ở Hương Cảng và Tây Tạng, đến việc giam cầm người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương trong các trại tập trung khổng lồ. Các vụ che đậy và tham nhũng của các quan chức đã nhân lên gấp bội số người chết vì thiên tai, từ virus Sars đến trận động đất ở Tứ Xuyên.

Giờ đây, việc đối phó sai lầm trước dịch bệnh coronavirus của Tập Cận Bình phải được thêm vào danh sách các tội ác nhục nhã của đảng cộng sản. Với những vụ bùng phát nghiêm trọng xảy ra ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Iran và Ý, rõ ràng con virus là chế độ toàn trị của Tập đang đe dọa sức khỏe và quyền tự do không chỉ của người dân Trung Quốc, mà của tất cả chúng ta ở khắp mọi nơi.

Tầm nhìn ngớ ngẩn, tự phóng đại huênh hoang của Tập nằm ở trung tâm của cuộc khủng hoảng toàn cầu này. Khi được bổ nhiệm làm lãnh đạo đảng vào năm 2012, hắn tuyên bố “giấc mơ Trung Quốc” xoay quanh khái niệm trẻ hóa quốc gia, hứa hẹn rằng đất nước sẽ khá giả vào dịp kỷ niệm bách chu niên thành lập đảng cộng sản vào năm 2021, và hoàn toàn tiên tiến đến mức bá chủ kinh tế toàn cầu trước dịp kỷ niệm bách chu niên thành lập cộng hòa nhân dân Trung Quốc 2049. Tập thề rằng, đến lúc đó, thế giới sẽ phải cúi đầu nhìn nhận rằng chế độ độc tài độc đảng của hắn vượt trội hơn so với mớ hỗn độn của nền dân chủ tự do.

Bằng cách tự bổ nhiệm mình thành “đại đế suốt đời”, Tập hiện nay có quyền lực hơn bất kỳ nhà lãnh đạo đảng nào kể cả Mao Trạch Đông, và đã nghiền nát tất cả những thành phần bất đồng chính kiến bằng cách cố gắng để xây dựng một nhà nước độc tài công nghệ cao. Đảng Cộng sản là một mầm bệnh xảo quyệt đã lây nhiễm cho người dân Trung Quốc kể từ năm 1949. Nhưng dưới sự cai trị của Tập, nó đã đạt tới hình thức độc ác nhất của nó, cho phép chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ trong khi tái khẳng định sự kiểm soát xã hội của chủ nghĩa Lênin. Lời hứa về sự giàu có và vinh quang quốc gia đã khiến nhiều người dân Trung Quốc mù quáng không nhìn thấy những sợi xích quanh chân họ, và những hàng rào dây thép gai quanh các trại tập trung ở các vùng xa xôi hẻo lánh.

Trong một bài phát biểu hôm 31 tháng 12 năm 2019, Tập báo trước một năm mới đầy hân hoan như “một cột mốc đầy ý nghĩa trong việc thực hiện mục tiêu một trăm năm đầu tiên!” Đương nhiên, hắn không đề cập gì đến dịch viêm phổi bí ẩn được báo cáo trước đó bởi cơ quan y tế ở Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc. Mặc dù Tổ chức Y tế Thế giới đã được thông báo, nhưng người dân Trung Quốc phần lớn bị giữ chặt trong bóng tối. Làm thế nào những con siêu vi vô hình có thể được phép làm giảm bớt vinh quang trong giấc mơ Trung Quốc của Tập?

Trong bất kỳ thời kỳ khủng hoảng nào, đảng luôn luôn đặt sự sống còn của mình lên trên phúc lợi của người dân. Lý Văn Lương, một bác sĩ nhãn khoa tại bệnh viện trung ương Vũ Hán, đã trở thành biểu tượng bi thảm của thảm họa này. Vào ngày 30 tháng 12, anh ta đã thông báo cho các bạn học cũ của mình trên WeChat rằng bảy người bị nhiễm coronavirus bí ẩn, khiến anh ta nhớ đến Sars (loại virus đã giết chết gần 800 người vào năm 2003), đang bị cách ly tại bệnh viện của anh ta và khuyên họ nên tự bảo vệ mình. Trong bất kỳ xã hội bình thường nào, điều này sẽ không thể bị coi là âm mưu lật đổ chính quyền - nhưng ở Trung Quốc, ngay cả một hành động nhỏ của lòng tốt, một cảnh báo thận trọng và riêng tư cho đồng nghiệp, có thể khiến một người gặp nguy hiểm chính trị. Vào ngày 3 tháng Giêng, bác sĩ Lương bị cảnh sát cảnh cáo - sau đó anh ta quay trở lại làm việc và trong vài ngày bị nhiễm virus.

Trong hai tuần sau đó – tức là thời gian mong manh của cơ hội ngăn chặn dịch bệnh- bọn cầm quyền tuyên bố vấn đề đã được kiểm soát. Nhưng coronavirus lạnh lùng với những ham muốn duy ý chí của những kẻ đê tiện. Không bị khống chế, nó tiếp tục lây lan. Tới lúc mà Tập quyết định cho dân chúng biết về các ổ dịch, tức là ngày 20 tháng Giêng, và ra lệnh “kiên quyết ngăn chặn”, tình trạng đã trở nên quá muộn.

Vào ngày 23 tháng Giêng, Vũ Hán đã bị cô lập. Tuy nhiên, cùng ngày hôm đó, tại một buổi tiếp tân tại Bắc Kinh, Tập chỉ nhấn mạnh sự cần thiết phải “chạy đua với thời gian và theo kịp với lịch sử để thực hiện mục tiêu một trăm năm đầu tiên của giấc mơ Trung Quốc là trẻ hóa dân tộc”. Các videos trên WeChat và Weibo đã tiết lộ sự rỗng tuếch trong tham vọng của Tập. Có những thước phim về những đại lộ vắng vẻ trong những thành phố bị ảnh hưởng. Các xác chết trên hè phố. Một phụ nữ trên ban công của một tòa nhà sang trọng gõ vào một cái chiêng và kêu la hốt hoảng giữa thinh không: “Mẹ tôi đang hấp hối, cứu chúng tôi với!”

Khi bác sĩ Lương nằm trên giường hấp hối vào ngày 30 tháng Giêng, anh đã tiết lộ sự thật về trải nghiệm của mình đối với dịch bệnh. Anh đã nói chuyện với tờ New York Times về thất bại của các quan chức trong việc công bố các thông tin quan trọng về virus cho công chúng, và nói với tờ Tài Tân có trụ sở ở Bắc Kinh rằng: “Một xã hội lành mạnh không thể chỉ có một tiếng nói.” Trong chỉ một câu đó thôi, anh đã xác định được nguyên nhân gốc rễ của bệnh tật Trung Quốc. Tập ngăn chặn sự thật và thông tin để tạo ra hoang tưởng về một xã hội “hài hòa”. Nhưng sự hòa hợp chỉ có thể nổi lên từ một số lượng lớn các tiếng nói khác nhau, chứ không phải từ lời độc thoại của một tên bạo chúa.

Sau sự bùng nổ nỗi đau và sự tức giận của công chúng trước cái chết của bác sĩ Lương, vào ngày 06 tháng Hai, bọn cầm quyền nhượng bộ, và ca ngợi chính vị bác sĩ mà họ đã từng bịt miệng như “một anh hùng”. Nhưng đằng sau hậu trường, sự bách hại vẫn tiếp tục: một số người đã lên tiếng về cách thức bọn cầm quyền đối phó với dịch bệnh đã bị giam giữ.

Trong màn sương dày đặc của thảm họa, mọi người cuối cùng cũng hiểu rằng nếu bọn cầm quyền không quan tâm đến cuộc sống hay quyền tự do của con người, thì có tiền cũng không thể cứu được mạng sống mình. Cơ man các gia đình đã bị virus giết chết hết khi hơn 70 triệu người bị giam giữ trong nhà. Các quan chức Trung Quốc hôm nay đã báo cáo 78,500 ca nhiễm trùng và 2,744 trường hợp tử vong, chủ yếu ở Hồ Bắc. Nhưng không ai tin tưởng vào các số liệu của đảng. Điều chắc chắn duy nhất về những con số, do nó đưa ra, là chúng chỉ là những con số mà đảng cộng sản muốn bạn phải tin. Trong một nỗ lực để thay đổi câu chuyện sau cái chết của bác sĩ Lương, đảng đã kêu gọi chiến tranh nhân dân chống lại virus, và đã hô hào các nhà báo hãy thay thế các “nội dung tiêu cực” trên các phương tiện truyền thông xã hội với những “câu chuyện cảm động từ tuyến đầu của cuộc chiến chống căn bệnh này”. Đã từng chôn vùi sự thật về tai họa của Cách mạng Văn hóa và các tội ác khác trước đó, giờ đây đảng lại đang lôi kéo quốc gia trở về quá khứ Maoist của mình.

Ngôn ngữ chính thức đang bị ô nhiễm một lần nữa với những biệt ngữ quân sự; xã hội đang bị chia rẽ một lần nữa thành các nhóm đối kháng - không phải là giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, mà là những người bị nhiễm chống lại những người chưa bị nhiễm bệnh. Cảnh sát nông thôn hãnh diện đăng các videos về các cuộc tấn công tàn bạo của họ vào những công dân dám mạo hiểm ra khỏi nhà mà không đeo khẩu trang y tế.

Các phương tiện truyền thông nhà nước đã đăng tải hình ảnh một y tá mang thai trong bộ đồ hazmat phục vụ ở tiền tuyến. Rồi cũng có những bệnh nhân đeo khẩu trang y tế trong một bệnh viện dã chiến khác được kết nạp đảng trên giường bệnh của họ, vui vẻ giơ nắm đấm lên trời khi họ cam kết trung thành với Tập. Đối với bất cứ ai có lương tâm, những cá nhân buồn thảm này trông giống như nạn nhân của một giáo phái vô nhân đạo. Chính cái niềm tin mù quáng cho rằng những hình ảnh như thế có thể thúc đẩy một “năng lượng tích cực” nào đó, cho thấy cái vực thẳm đạo đức mà chủ nghĩa toàn trị đã dìm dân tộc Trung Hoa vào.

Trong khi dịch bệnh vẫn đang tiếp tục hoành hành, Tập đã ra lệnh cho đất nước phải quay trở lại làm việc, tất cả nhằm bảo đảm rằng các mục tiêu kinh tế trong kế hoạch cho thế kỷ 21 của hắn ta phải được được đáp ứng. Tất nhiên, tên bạo chúa vẫn đang cố giữ cho giới tinh hoa chính trị được an toàn, bằng cách hoãn Đại hội Nhân dân Toàn Quốc vào tháng Ba. Có còn cần thêm bằng chứng nào nữa không, để cho thấy giấc mơ Trung Quốc cho mọi người dân của Tập chỉ là một sự giả tạo?

Bản Án Kết Tội Cộng Sản Việt Nam Bán Nước

Nhưng trước biến cố nầy, đã có một công hàm, đính kèm theo đây (1), của Phạm Văn Đồng gửi Đồng Chí Tổng Lý Chu Ân Lai vào ngày 14/09/ 1958, và tiếp theo là một trận hải chiến tại Hoàng Sa vào năm 1974 giữa Trung Cộng và QLVNCH. Trong trận đánh ấy. Bộ đội CSVN án binh bất động hay có thái độ a dua với quân xâm lăng Trung Cộng.

JPEG - 207.9 kb

Tiếp theo công hàm ấy là hai ký kết vào ngày 30/12/1999 và ngày 25/12/2000 giữa Trung Cộng và CSVN. Với ký kết đầu, CSVN cúng Bắc triều 720 km2 đất liền ở biên giới hai nuớc. Làm mất luôn hai di tích lịch sử ngàn năm của Việt Nam. Đó là Ải Nam Quan và thác Bản Giốc. Với ký kết thứ hai, lần nầy không mất đất liền. Nhưng lại mất cả hàng ngàn km2 lãnh hải của Việt Nam tại vịnh Bắc bộ có diện tích 123’ 700 km2. Nói chung chỉ có mất mát di sản của cha ông để lại.

Thấy mất mát quá nhiều (2), Đảng viên với 54 tuổi đảng Đỗ Việt Sơn lo lắng và công phẫn đã gửi một bức thư cho TTK Nông Đức Mạnh, chủ tịch nhà nước Trần Đức Lương, chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An và thủ tứơng Phan Văn Khải, yêu cầu quốc hội, đang nhóm họp khóa 10 từ ngày 20/11/2001, không thông qua hai thỏa ước trên. Ông Đỗ Việt Sơn tố cáo lỗi lầm trầm trọng bán nước và phản quốc của đàng CSVN đã ký vào hai thỏa ước ấy. Sau đó 20 trí thức gửi thêm một lá thư nữa cho các đại biểu quốc hội để phãn đối. Nhưng vô ích.

Cũng nên nhắc lại, vào năm 1958, CSVN cần khí cụ và quân viện của Trung Cộng để tạo nồi da xáo thịt giữa nguời Việt với nhau. Mục đích phục vụ Đệ III Quốc Tế CS mà ông Hồ là một công cụ. Cho nên công hàm ấy là văn kiện dâng đất lấy khí cụ chiến tranh. Còn hai ký kết sau có mục đích nhường đất để cứu đàng CSVN. Tất cả ba nhượng bộ đều thiệt thòi cho đất nước Việt Nam. Nhưng đã mang lại cho CSVN hai món lợi: cộng sản hóa đuợc Việt Nam và bảo đàm cho tới nay sự tồn của đàng CSVN trên đầu và trên cổ dân Việt.

Địa lý quần đảo Hoàng Sa

Theo Pierre-Bernard Lafont (3), người ta tìm thấy tên gọi ấy trong các văn kiện của các thủy thủ phương tây viết trẹ (Parcels) trên bản đồ của người Bồ Đào Nha. Người Tàu gọi là Xisha. Trong văn chương Việt Nam gọi là Cát Vàng hay Tây Sa và nay gọi là Hoàng Sa. Một quần đảo gồm 15 đảo và bại cát cũng như đá ngầm san hô. Cách Đã Nẵng và cách đảo Hải Nam 314.84 km (170 milles, 1 mille = 1852 m).

Địa lý quần đảo Trường Sa

Quần đảo nầy có tên Nam Sa (4). Nằm phía nam quần đảo Hoàng Sa. Chiều dài 810 km từ bắc tới nam, và 900 km từ đông sang tây. Gồm 300 trăm đảo, cồn, bãi cát và đá ngầm san hô. Chỉ có vài đảo ở được. Nhưng không có nước ngọt và cây cối. Hàng năm thường có từ 9 đến 10 cơn bão tố. Các đảo thường rất nhỏ và thủy triều làm ngập. 1’100 km cách đảo Hải Nam, 1’700 km cách Đài Loan, 800 km cách Sài Gòn, 400 km cách đảo Palawan Phi Luật Tân.

Vai trò kinh tế:

Các tài nguyên nhiều và đa dạng (4). Phosphate khoảng 10 triệu tấn khai thác đuợc. Nhiều phân chim. Nhiều cá do đáy biển không sâu. Nhất là quần đảo Trường Sa chứa rất nhiều dầu lửa và khí đốt. Các cuộc thăm dò khởi sự bắt đầu vào năm 1968. Bột trưởng địa chất và quặng mỏ Trung Cộng tiên đoán có tiềm năng về dầu hỏa nguyên chất khoảng 17.7 tỉ tấn, trong khi Koweit chỉ có 13 tỉ thôi.

Vị trí chiến lược:

JPEG - 98.4 kb
Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang mất dần vào tay Trung Quốc.

Không kể lợi ích kinh tế của hai quấn đảo nầy. Một địa điểm chiến lược liên quan tới vận chuyển, phòng thủ và tấn công từ hai quần đảo nầy thật vô giá.

Hai quần đảo nầy nằm trên hải lộ ngắn nhất giữa Bắc Thái Bình dương và Ấn Độ dương. Nơi qua lại của một phần tư trao đổi hàng hải thế giới và nhất là của 70% nhập cảng dầu của Nhật. Các đường bay của Nam Thái Bình duơng thường bay xuyên qua các đảo của hai quần đảo nầy. Nhất là khi quân lực Mỹ hay Nga đã bỏ Cam Ranh, căn cứ hải quân Subic Bay và căn cứ không quân Clark Phi Luật Tân. Thì sự Trung Cộng chiếm cứ hai quần đảo nầy sẽ là một tai ương cho các quốc gia lân cận. Các căn cứ quân sự, các đài quan sát sẽ được xây trên mồt số đảo của hai quần đào nầy. Một hệ thống tiền đồn liên tục bảo về phía nam cho Trung Cộng và đẩy ra xa hạm đối số VII Thái Bình dương của Mỹ vế phía các đào Carolines hay Mariannes.

Nếu vì một lý do nào đó, Trung Cộng, chủ các quần đảo nầy, phong tỏa bằng phi đạn và tàu ngầm các lộ trình chuyển vận qua hai quần đảo nầy. Một nguy ngập sẽ tới cho nhiều nước trong vùng. Nhất là việc tiếp tế dầu hỏa và khí đốt cho Nhật từ Trung Động về.

Ngay từ hồi triều Nguyễn, Vua Gia Long đã thân hành ra dựng cờ tại quần đảo Hoàng Sa (5). Thời vua Minh Mạng đã bao lần phải dùng thủy quân săn đuổi bọn cướp nấp tại một số đảo của quần đào Hoàng Sa để tấn công ven biển của Việt Nam.

Khi người Pháp tới Đông Nam Thái Bình dương đã xô quân chiếm ngay một số đảo quần đảo nầy. Khi quân đội Thiên Hoàng xô quân chiếm vùng Nam Thái Bình dương đã chiếm trọn hai quần đảo nầy.

Để phục vụ tham vọng xâm chiếm theo chiến lược vết dầu loang tiến thật sâu về phía nam. Trung Cộng đã lợi dụng được sự ngu dốt của đám lãnh đạo CSVN để làm chủ trên hai quần đào nầy. Đối với Việt Nam, không những mất mát từ kinh tế tới vận chuyển, mà còn là một mối nguy về quân sự. Một dao nhọn chọc vào sườn phía đông và một bao vây bọc hậu nhờ một số đường chiến lược mà Trung Cộng đã xây đắp ở Bắc Lào. Cũng như các cuộc đỗ bộ cắt Việt Nam ra thành nhiều mãnh; phía dưới, Campuchia cò thể là một đồng minh của Trung Cộng, vì qúa khứ hiềm khích giữa hai láng giềng, thì Việt Nam nên xem như con cá nắm trên thớt của Trung Cộng khi có binh biến.

Các sự kiện lịch sử tạo chủ quyền cho quốc gia Việt Nam
Hai quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa:

Hiện nay (5) quần đảo Hoàng Sa có dang díu tới các nước sau đây về vấn để chủ quyền: Việt Nam, Đài Loan, Mã Lai, Phi Luật Tân, Brunei, Indonésie. Trung Cộng muốn thay mặt Đài Loan. Còn quần đảo Trường sa có: Trung Cộng, Việt Nam, Đài Loan, Mã Lai, Phi Lật Tân, Brunei, Indonésie.

Trên phương diện lịch sử cũng như pháp lý chủ quyền. Cần nêu ra các sự kiện sau đây. Liên quan tới quần đảo Trường Sa, vào năm 1909, Tàu chính thức sát nhập quần đảo nầy (6). Nhưng không chiếm đóng thực sự – sự kiện chiếm đóng có lẽ đã cho Tàu chủ quyền – Tuy không chiếm đóng, nhưng không có quốc gia nào trong vùng phản đối cả. Nên Tàu xem như có sự chấp thuận việc sát nhập nầy.

Vào năm 1929, Pháp sát nhập quần đảo nầy vào quản lý của tỉnh Ba Rịa. Nước Pháp, qua công báo ngày 26/07/ 1933, tuyên bố làm chủ hai đảo Itu và Thi Tu của quần đảo. Mặc cho Tàu phản đối cho tới khi Nhật đầu hàng đồng minh năm 1945. Từ đó về sau cuộc tranh chấp bước vào giai đoạn mới vì lý do trống trải chính trị do Nhật bại trận, cũng như do chiến tranh lạnh và thái hóa chế độ thuộc địa. Vì các biến cố ấy, cũng như sự xuất hiện nhiều kép rất năng nổ, sự tranh cãi trở nên phức tạp hơn.

Lãnh hải tại vịnh Bắc bộ

Về lãnh hải ở vịnh Bắc bộ, vào cuối thể kỳ 18, đương quyền Việt Nam đã từ chối (6) không cho các tàu bè của Tàu tới gẩn bờ biển Việt Nam và đậu lại. Sau đó vào năm 1832, Vua Minh Mạng không cho phép đương cục Tàu (Guandong) cho tàu bè vào hải phận Việt Nam để săn đuổi các tên cướp biển tới từ nam nước Tàu. Vào năm 1833, vua Minh Mạng ra lệnh cho cho tàu bè của Tàu phải rới khỏi Vân Đồn.

Qua các biến cố trên, hồi ấy người ta có vẻ tin tường là vấn để lãnh hải giữa Tàu và Việt Nam tại vịnh Bắc bộ đã đuợc đề cập. Nhưng phải đợi Pháp mang tới cho Việt Nam các thói quen pháp lý Âu Tây.

Ngay vừa khi đặt nền đô hộ. Pháp lo lắng đặt vấn đề giới hạn lãnh hải giữa Tàu và Việt Nam tại Vịnh Bắc bộ. Tại đây có tới cả ngàn đảo nhỏ. Chỗ nấp của cướp biển. Không những cướp nầy tấn công các thương thuyển ở biển khơi, mà còn đột kích vào các làng ven biển. Các thương thảo dẫn tới ký kết quy ước Constan ngày 26/06/1887 mà Pháp nhân danh Việt Nam ký kết với Tàu. Việt Nam chiếm 62% và Tàu 38% của diện tích khoảng của vịnh Bắc bộ (123’ 700 km2). Nhưng trớ trêu, đường phân ranh không phải là một kinh tuyến thẳng, mà là một đường gãy lồi lõm không lợi cho Việt Nam (7). Ngày nay Trung Cộng đang khai thác điểm nầy.

Quốc gia Việt Nam thừa kế của Pháp

Qua hai thỏa ước 6/1948 tại vịnh Hạ Long và 3/1949 tại Paris ký kết giữa chính phủ Pháp và Hoàng Đề Bảo Đại, tượng trưng uy quyền quốc gia Việt Nam, Pháp trao trả độc lập và chuyển nhượng lại các thừa kế lãnh hải hay đất liền cho quốc gia Việt Nam. Lúc Pháp rút lui, lãnh thổ Việt Nam còn nguyên vẹn như từ hồi 1933 và thứa kế là VNCH.

CSVN bán nuớc

- Nay CSVN đã dâng cho Trung Cộng: Hai quần đảo TS-HS
- Mất Ải Nam Quan, Bản Giốc, 720 km2 đất đai dọc biên giới, hàng ngàn km2 lãnh hải của vịnh Bắc bộ (123’ 700 km2).
- Ngoài ra Việt Nam mất rất nhiều tài nguyên về hải sản cho chài lưới, quặng chất và dầu lửa cũng như khí đốt.

CSVN phản bội Việt Nam và chạy theo Trung Cộng

- Theo cách tổ chức của CSVN, Phạm Văn Đồng đã thi hành lệnh cũa Ông Hồ Chí Minh và Bộ Chính Trị của đàng CSVN, cho nên CSVN đã phản bội dân tộc.
- Theo tài liệu của Paoling (8) của Institut International pour les Études Stratégiques de l’Universíté Georgetown và tờ magazine de Pékin ngày 30/03/1979, ông Phạm Văn Đồng, bất chấp hiển nhiên, đã tuyên bố vào năm 1956 “Trên phương diện lịch sử, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc vế Tàu”. Một hành xử của một chư hầu tôi mọi.
- Ngày 15/06/1956, dựa vào tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng trước đó, các nhà trách nhiệm bộ ngoại giao CSVN, trong một buổi tiệc đón tiếp đại sứ Trung Cộng tại Hà Nội còn xác nhận: “Thể theo các tài liệu mà VN có, các quần đảo TS-HS thuộc về Tàu”.
- Từ đó các sách báo hay giáo khoa của Hà Nội có ghi nhiều lần chủ quyền của Tàu trên các quần đảo ấy.
- Các xác nhận liên qua tới các lãnh thổ khi ấy thuộc về VNCH là có hậu ý lôi kéo Tàu vào cuộc chiến chống Mỹ. Tố cáo Mỹ đã xâm phạm lãnh thổ Trung Cộng là hai quần đảo ấy.

CSVN giấu diếm dân tộc Việt Nam các nhượng bộ

- Vào ngày 01/06/2003, nhà nứớc CSVN, qua phát ngôn viên Phan Thủy Thanh, tuyên bố: “Bất kỳ việc làm nào của một nước khác đối với hai quần đảo TS-HS cũng như tron vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam mà không được sự chấp thuận của Việt Nam đều là vi phạm chủ quyền và các quyền của Việt Nam đối với các khu vực nầy”. Một tuyên bố gian trá nhằm khỏa lấp tội bán nước và giấu diếm dân chúng.

- Trước sự phẫn nỗ của đồng bào trong nuớc, CSVN bắt buộc phải giả vờ phản đối qua lời tuyên bố úp mở và gừi thư phản đối. Nhưng lại thêm một màn trò hề hỡm hĩnh: Thay vì gửi thư thẳng cho chính phủ Trung Cộng, lại gửi cho “Quốc Vụ Viện” như muốn nói việc sát nhập HS-TS vào Nam Sa là “không phù hợp với nhận thức của lãnh đạo hai nườc”. Một hành động xem như chó loãng hơi và vô nghĩa. Thực ra Trung Cộng luôn có thể phủ nhận bằng câu nói “Việt Nam hoàn toàn đồng ý với các quyết về hai quần đảo và hải phận của Trung Quốc”. Điều nầy đã đuợc ghi trên giấy trắng mực đen.
- Theo tin tức từ các sinh viên biểu tình. Chỉ có báo Tuổi Trẻ nói tới Trung Cộng xâm lăng hai quần đảo. Nhưng không nói là CSVN đã nhượng bộ hai quần đảo ấy cho Trung Cộng. Dân chúng không hay biết gì cả. Toàn bôi bác và dối trá cho qua chuyện.

Ý kiến của tác giả

- Dựa trên các sự kiện lịch sử, câu chuyện các đảo và vịnh Bắc bộ do Pháp tự đứng ra hay nhân danh Việt Nam tranh dành hay ký kết với Tàu.
- Theo hai thỏa ứơc mà cố Hoàng Đế Bảo Đại ký kết với Pháp. Quốc Gia Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Cố Hoàng Đế Bào Đại là thừa kế các quyền của Pháp để lại về các lãnh thổ ấy.
- Cho nên ông Phạm Văn Đồng đã nhượng cho Trung Cộng cái mà ông không có.
- Sau cuộc hải chiến năm 1974. Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, đó là xâm lăng đúng nghĩa. Sự xâm lăng bao giờ cũng sai trái về pháp lý.
- Nếu có chấp nhận ba nhượng bộ trên có một căn bản pháp lý. Thì không thể xem Trung Cộng là xâm lăng. Vì các nhượng bộ do CSVN làm có giấy tờ hẵn hoi, cho nên CSVN là kẻ bán nước.
- Cò lẽ phải có hậu VNCH mới có đủ tư cách pháp lý để đem vấn để ra trước HĐBA LHQ xin can thiệp. Vì trong vị trí nầy. Trung Cộng lả kẻ xâm lăng. Còn CSVN không làm gì được. Và chúng sẽ không làm gì. Vì là tôi mọi của Trung Cộng để bảo vệ đàng CSVN.

Hồng Lĩnh

Tham chiếu:
(1)- Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam. Ngô Nhân Dũng, thongtin.brinkster.net, trang 5.
(2)- Việt Nam: Paracels et Spratley dans le cadre des frontières maritimes sino-vietnamiennes, www.lmvntd.org, page 1.
(3)- Việt Nam: Paracels et Spratley dans le cadre des frontières maritimes sino-vietnamiennes, www.lmvntd.org, page 7.
(4)- Les îles Spratleys: Une Source de Conflit en Asie du Sud-Est. Instiut de Stratégie Comparée, Commision Française d’Histoire Militaire, Institu d’Histoire des Conflits. Audrey Hurel, page 1.
(5)- Le serveur de “Sources d’Asie”. Les sources de conflitd en Asie, asie.espace.free, les pages (1,2).
(6)- Les îles Spratleys: Une Source de Conflit en Asie du Sud-Est. Instiut de Stratégie Comparée, Commision Française d’Histoire Militaire, Institu d’Histoire des Conflits. Audrey Hurel, page 2.
(7)- Việt Nam: Paracels et Spratley dans le cadre des frontières maritimes sino-vietnamiennes, www.lmvntd.org, page 6.
(8)- vietnam: l’éternel conflit des archipels de Paracels et Spratley. www.lmvntd.org, page 1.

Duyệt lại giá trị pháp lý của công hàm Phạm Văn Đồng

< A >
Luật sư Đào Tăng Dực (Danlambao) - ...Khi thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ký công hàm 1958 thì văn kiện này gặp trở ngại lớn lao về pháp lý. Đó là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, như một quốc gia, không có tư cách pháp lý, nhường một phần lãnh thổ (Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc chủ quyền của một đệ nhị quốc gia là nước Việt Nam Cộng Hòa, cho một đệ tam quốc gia là nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa...

*

Đại dịch Vũ Hán đang tàn phá Trung Hoa Lục Địa và toàn thể nhân loại. Tuy thế, tai họa này vẫn không giảm thiểu tham vọng bá quyền xâm lược của đảng CSTQ đối với Việt Nam qua các hoạt động tập trận, xâm phạm lãnh hải và vùng kinh tế cũng như hiếp đáp gây thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.

Nhà cầm quyền CSVN gần đây đã gởi 3 công hàm (30/3, 10/4 và 14/4) cho Liên Hiệp Quốc khẳng định chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Phía Trung Quốc trả đũa bằng cách trưng ra Công Hàm của cố thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958 như là một biện minh cho chủ quyền TQ tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Hầu đả phá toàn diện biện minh này của TQ, chúng ta cũng phải duyệt lại một lần nữa giá trị pháp lý của công hàm Phạm Văn Đồng. Tôi đã nêu ra lập luận này ngày 3/8/2016:

Nội dung của công hàm này là gì?

Công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958, gởi cho Chu Ân Lai, Tổng Lý Quốc Vụ Viện, tương đương thủ tướng Trung Quốc, nội dung như sau:

“Thưa Đồng chí Tổng lý, 

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.


Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.

Phạm Văn Đồng

Thủ tướng chính phủ

Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”.

Câu hỏi mà mọi công dân Việt Nam yêu nước luôn nêu ra là: liệu công hàm Phạm Văn Đồng có giá trị pháp lý, trước một pháp đình nghiêm chỉnh hay không?

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải qua một quá trình phân tách như sau.

Trước hết, người CSVN cho đến bây giờ, vẫn luôn biện minh rằng, công hàm này chưa từng nhắc đến Hoàng Sa và Trường Sa. Vì thế không thể kết luận rằng công hàm xác nhận hai quần đảo này thuộc TQ. 

Tuy nhiên người TQ sẽ phản biện rằng, công hàm này tán thành tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Trung Quốc “quyết định về hải phận 12 hải lý” của họ. Tuyên bố của TQ ghi rõ:

“Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nay tuyên bố: 

1. Bề rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.” 

Hoàng Sa thì TQ gọi là Tây Sa và Trường Sa thì TQ gọi là Nam Sa. 

Người CSVN có thể lập luận rằng, công hàm này chỉ giới hạn ở vấn đề hải phận 12 hải lý. 

Trong khi đó, người CSTQ sẽ lập luận rằng, trong một văn kiện quan trọng như thế, nếu muốn giới hạn thì ông Phạm Văn Đồng đã ghi rõ rằng Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Khi Phạm Văn Đồng không làm điều đó thì đã chứng minh sự công nhận chủ quyền TQ trên hai quần đảo này.

Điểm thứ nhì cần phân tích là một văn kiện nhường chủ quyền của một thành phần máu huyết của tổ quốc, cho một ngoại bang như TQ, như công hàm này, đã thông qua những thủ tục hiến định cần thiết hay chưa?

Để giải quyết vấn nạn này, chúng ta cần duyệt lại nội dung hiến pháp có hiệu lực vào thời điểm ông Phạm Văn Đồng ký công hàm. Người CSVN kinh qua nhiều hiến pháp khác nhau. Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013.

Thời điểm ký phù hợp với Hiến Pháp 1946 vì Hiến Pháp 1959 chỉ được Quốc Hội thông qua ngày 31 tháng 12, 1959 và Ông Hồ Chí Minh công bố ngày 1 tháng 1, năm 1960.

Khi phân tích Hiến Pháp 1946, thì Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa theo quốc hội chế. Quốc hội lúc đó gọi là Nghị Viện Nhân Dân và theo điều 23 có trách nhiệm chuẩn y các hiệp ước ký với nước ngoài. Theo điều 32 Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý. Sau cùng theo điều 49 chỉ có chủ tịch nước, tức ông Hồ Chí Minh mới có quyền “ký hiệp ước với các nước”. 

Trong Hiến Pháp 1946, chức vụ thủ tướng hoàn toàn chịu sự lãnh đạo của chủ tịch nước và không có quyền ký một văn bản quan trọng liên hệ đến vận mệnh hoặc chủ quyền quốc gia. Ngay cả trong trường hợp ông Hồ Chí Minh đích thân ký công hàm này, cũng không thể có hiệu lực vì nhân dân chưa có phúc quyết theo điều 32 và Nghị Viện Nhân Dân chưa chuẩn y.

Dĩ nhiên cả hai ông Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và Bộ Chính Trị lúc đó đều ý thức điều này. Nếu muốn công hàm có hiệu lực, họ phải khơi động (invoke) các điều khoản hiến pháp liên hệ và thông qua những thủ tục hiến định. Sau đó đích thân ông Hồ Chí Minh, thừa ủy nhiệm của Nghị Viện Nhân Dân, theo điều 49 hiến pháp, ký vào công hàm. Tuy nhiên, một là lãnh đạo các đảng CS kể cả CSTQ có thói quen coi thường hiến pháp. Thói quen này này của họ vô hình trung trở thành một lợi điểm pháp lý cho chúng ta. Hai là cả Hồ Chí Minh lẫn Phạm Văn Đồng muốn lập lờ đánh lận con đen với cả Trung Quốc lẫn nhân dân Việt Nam, hầu nhận sự Viện trợ của Trung Quốc.

Dĩ nhiên Trung Quốc có thể vin vào điều 27 của Công Ước Vienna về Luật các Hiệp Ước (Vienna Convention o­n the Law of Treaties) quy định rằng một quốc gia không thể viện dẫn một luật nội địa để không thi hành một hiệp ước. Tuy nhiên điều 27 có thể bị điều 46 phủ quyết và điều 46 ghi rõ như sau:

“Một quốc gia không thể viện dẫn sự kiện rằng sự đồng ý của mình để bị ràng buộc bởi một hiệp ước đã được thể hiện qua sự vi phạm một điều khoản của luật nội địa liên hệ đến thẩm quyền ký kết hiệp ước, như là yếu tố vô hiệu hóa sự đồng ý này, trừ khi sự vi phạm là hiển nhiên và liên hệ đến một quy luật nội tại có tầm mức quan trọng nền tảng”. (A State may not invoke the fact that its consent to be bound by a treaty has been expressed in violation of a provision of its internal law regarding competence to conclude treaties as invalidating its consent unless that violation was manifest and concerned a rule of its internal law of fundamental importance.)

Hiến pháp 1946 là luật nền tảng và sự vi phạm nó là là hiển nhiên và sẽ bị điều 46 Công Ước nêu trên chế tài và sẽ bị cho là vô hiệu lực.

Đó là chưa kể lập luận của chúng ta sẽ là: vì vi phạm những nguyên tắc căn bản nêu trên, không có một hiệp ước nào được thành lập ngay từ khởi thủy (ab initio) nhường Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc cả.

Tức là lập luận của chúng ta sẽ vững chãi trên cả hai bình diện nêu trên và một bình diện quan trọng thứ 3: 

1. Một là không có hiệp ước công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc ngay từ đầu; 

2. Hai là nếu có, thì sẽ bị vô hiệu hóa chiếu theo điều 46 của Công Ước Vienna nêu trên;

3. Điểm thứ ba vô cùng quan trọng là vào thời điểm đó, Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia có cương thổ, quân đội, chủ quyền pháp lý lẫn thực tế trên Hoàng Sa và Trường Sa. VNCH được Hoa Kỳ và 87 quốc gia khác công nhận. Nếu Liên Bang Xô Viết không phủ quyết thì năm 1957, VNCH đã trở thành một quốc gia thành viên của LHQ. Tuy thế VNCH đã là thành viên của nhiều Ủy Ban của Liên Hiệp Quốc.

Bắc Việt tức nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa bị phần lớn các quốc gia tự do tẩy chay. Chỉ được các nước cộng sản khác công nhận.

Chính vì thế khi thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ký công hàm 1958 thì văn kiện này gặp trở ngại lớn lao về pháp lý. Đó là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, như một quốc gia, không có tư cách pháp lý, nhường một phần lãnh thổ (Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc chủ quyền của một đệ nhị quốc gia là nước Việt Nam Cộng Hòa, cho một đệ tam quốc gia là nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. 

Phán quyết ngày 12 tháng 7, 2016 của Tòa Trọng Tài Thường Trực tại The Hague, Hà Lan, chiếu theo Công Ước Liên Hiêp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) trong cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines, vô hiệu hóa Đường Lưỡi Bò 9 đoạn của Trung Quốc và giới hạn các quyền lợi liên hệ đến các quần thể trên Biển Đông trong vòng hải phận 12 hải lý, cũng là một án lệ quốc tế vô cùng thuận lợi cho Việt Nam. 

Với các lý do nêu trên, chúng ta có thể kết luận rằng, trước một pháp đình có thẩm quyền nghiêm chỉnh, công hàm liên hệ đến chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của cựu thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958 sẽ không có giá trị pháp lý và nhà cầm quyền CSVN cần phải đưa Trung Quốc ra tòa càng sớm càng tốt, hầu bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc Việt Nam. 

Năm nay và một vài năm sắp tới sẽ là thời điểm mà uy tín trên chính trường cũng như vũ trường công pháp quốc tế của đảng CSTQ sẽ suy yếu rõ rệt và sẽ là thời điểm tốt nhất để khởi kiện CSTQ.

22.04.2020


Biển Đông: Các bản đồ cổ giúp gì VN trong cuộc chiến pháp lý với TQ?

Một tài liệu Hán Nôm từ thế kể 17-18 được trưng bày ở Hà Nội năm 2014 nhằm hỗ trợ tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ở Biển ĐôngBản quyền hình ảnhHOANG DINH NAM/GETTY IMAGES
Image captionMột tài liệu Hán Nôm từ thế kể 17-18 được trưng bày ở Hà Nội năm 2014 nhằm hỗ trợ tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông

Hàng chục năm qua chính phủ Việt Nam đã cho người đi khắp thế giới sưu tập bản đồ để có chứng cứ hỗ trợ cho tuyên bố chủ quyền của mình trên Biển Đông, nhưng giá trị pháp lý của chúng đến đâu?

Một trong những người từng được báo Mỹ gọi là "Người săn bản đồ", nhà nghiên cứu Trần Đức Anh Sơn, đã tìm thấy nhiều bản đồ quý hiếm, và bằng chứng trong hơn 50 cuốn sách bằng tiếng Anh, Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha - về việc một nhà thám hiểm Việt Nam thời Nguyễn đã cắm cờ ở Hoàng Sa và Trường Sa vào những năm 1850.

Tranh chấp Biển Đông: Bản đồ ‘có giá trị giới hạn’

Vì sao 'Đường lưỡi bò' của TQ nhiều lần lọt lưới kiểm duyệt VN?

Biển Đông: VN làm gì để giữ chủ quyền khi 'ở vào thế yếu'?

Một số nhà nghiên cứu khác, như ông Nguyễn Đình Đầu, cũng sưu tập được khoảng 200 bản đồ quý.

Những bản đồ này đã được chính phủ Việt Nam cho triển lãm trong và ngoài nước để dư luận được tận mắt nhìn thấy Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Nhưng nếu mang ra cuộc chiến pháp lý với Trung Quốc thì những bản đồ này có đủ sức nặng không?

'Cần kèm theo các văn kiện nhà nước'

Vietnam, South China SeaBản quyền hình ảnhHOANG DINH NAM/GETTY IMAGES

Trao đổi với BBC News Tiếng Việt, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc cho hay các bản đồ Việt Nam sưu tập được cho tới nay chủ yếu dùng cho mục đích tuyên truyền, động viên, để mọi người biết Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.

Nhưng nói về độ xác thực, ông cho rằng quan trọng nhất là bản đồ phải đi theo các văn bản pháp lý, các văn kiện của nhà nước thời bấy giờ.

"Các văn kiện này phải phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của một quốc gia đã chiếm hữu vùng đó một cách hòa bình, và khai thác liên tục một cách có hiệu quả," ông Đinh Kim Phúc nói.

"Không thể chỉ dùng mỗi bản đồ để đấu tranh pháp lý vì nếu vậy, mang ra tòa quốc tế thì không có giá trị."

"Ví dụ tờ Lệnh Lý Sơn do vua Minh Mạng ban năm 1834, điều động quân và dân các làng chài ở Quảng Ngãi đi coi sóc, thám sát vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam. Đó là văn kiện có tính chất nhà nước."

Vietnam, South China Sea, mapsBản quyền hình ảnhDINH KIM PHUC
Image captionMột bản đồ cổ

"Giả sử bây giờ chúng ta mang bản đồ ra tòa quốc tế, thì phải dùng các bản đồ được thừa nhận dưới góc độ của công pháp quốc tế. Như tôi nói ở trên, tức là phải đi kèm theo các pháp lệnh của nhà nước thời bấy giờ. Còn sử dụng bản đồ của các nhà hàng hải phương Tây hoặc của các thuyền nhân lúc bấy giờ đi ngang qua khu vực Biển Đông thì sẽ không có giá trị pháp lý."

'Bản đồ phải do bên thứ ba vẽ'

Trong khi đó, giảng viên luật, nhà nghiên cứu Biển Đông Hoàng Việt đưa ra một số nhận định khác về các yếu tố làm nên giá trị pháp lý của một tấm bản đồ.

Ông Hoàng Việt nói với BBC News Tiếng Việt: "Nói về bản đồ với ý nghĩa là bằng chứng pháp lý thì không đơn giản."

"Nó tuỳ thuộc nhiều thứ, như bản đồ đó được vẽ khi nào? Ai vẽ? Nó có các tỷ lệ chính xác như của phương Tây hay không?"

"Trong nhiều án lệ quốc tế về tranh chấp biên giới, lãnh thổ thì việc đưa ra bản đồ cổ chỉ là nhằm hỗ trợ thêm cho các bằng chứng pháp lý khác, chứ bản đồ không đóng vai trò quyết định."

Trong nhiều yếu tố khác nhau để xem xét giá trị pháp lý một tấm bản đồ, ông Hoàng Việt cho rằng quan trọng nhất là tính khách quan.

"Ví dụ, bản đồ phải được vẽ bởi một bên thứ ba, chứ không phải do hai bên tranh chấp vẽ. Nếu bên tranh chấp đưa ra bản đồ, thì nó phải dựa trên công ước hay hiệp ước nào đó đã ký kết giữa hai bên."

"Ví dụ, trong lịch sử, Pháp từng đại diện cho người Campuchia ký‎ với người Thái một hiệp ước công nhận một vùng đất gần biên giới hai nước là lãnh thổ Campuchia, trong đó có kèm theo một số bản đồ. Sau này người Thái đòi lại khu vực biên giới đó thì không được vì nó đã được thể hiện trong hiệp ước rồi."

"Tương tự như vậy, quá trình phân định biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc phải dựa chủ yếu vào biên giới đã được phân định thời Pháp-Thanh và các bản đồ kèm theo hiệp ước được ký kết lúc đó."

Vì sao dựa trên tiêu chuẩn phương Tây?

Vietnam, South China Sea, protestsBản quyền hình ảnhHOANG DINH NAM/GETTY IMAGES
Image captionMột biểu ngữ phản đối Trung Quốc của người biểu tình tại Việt Nam năm 2012

Lý giải vì sao lấy mốc thời Pháp-Thanh và tiêu chuẩn châu Âu để đánh giá độ tin cậy của bản đồ, ông Hoàng Việt phân tích:

"Trước khi bị đô hộ, nhiều quốc gia châu Á trong đó có Trung Quốc và Việt Nam không vẽ bản đồ theo chuẩn phương Tây. Cả Việt Nam và Trung Quốc thời đó đều chưa có tư duy về mốc giới hay đương biên giới, mà chỉ có khu vực biên giới."

"Sau khi phương Tây sang đô hộ, họ mang theo các tiêu chuẩn phương Tây chặt chẽ, khoa học hơn. Chẳng hạn người Pháp thời đô hộ Việt Nam, khi đại diện Việt Nam ký một hiệp ước phân định các quốc gia trên bộ, đã áp đặt tư duy phương Tây và đưa ra một đường biên giới rõ ràng, với các cột mốc có kinh độ, vĩ độ."

Về phân định đường biên giới trên Biển Đông, ông Hoàng Việt nhận định đây là câu chuyện 'phức tạp hơn nhiều'.

"Với các bộ sưu tập bản đồ của Việt Nam mà tôi được tiếp cận, như bộ 200 bản đồ của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, cá nhân tôi cho rằng chúng có giá trị nhất định."

"Theo đánh giá sơ bộ của cá nhân tôi, đa phần bản đồ trong 200 chiếc này là của các giáo sỹ phương Tây. Như vậy nó đảm bảo tính khách quan vì không phải của Việt Nam vẽ. Chúng cũng đảm bảo một số tiêu chí như tính chính xác, bởi được đo đạc bằng thiết bị và tư duy của các nhà khoa học phương Tây lúc đó."

"Các bản đồ này bác bỏ quan điểm của Trung Quốc về chủ quyền của họ ở Hoàng Sa và Trường Sa rằng đó là lãnh hải của họ. Bởi cả các bản đồ của Trung Quốc và phương Tây mà chúng ta có đều không cho thấy như vậy. Chứng tỏ lập luận của Trung Quốc là không có cơ sở."

'Việc đưa ra tòa quốc tế còn hạn chế'

Việt Nam từng tổ chức triển lãm, trưng bày các bản đồ cổ để chứng minh chủ quyền đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng SaBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionViệt Nam từng tổ chức triển lãm, trưng bày các bản đồ cổ để chứng minh chủ quyền đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa

Bàn về mức độ ảnh hưởng của bản đồ nếu Việt Nam kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc nhận định rằng chúng đóng góp "20%" vào khả năng thành công.

"Tôi nghĩ rằng bản đồ đi kèm với văn kiện của nhà nước thì chiếm khoảng 20% giá trị pháp lý khi đấu tranh chủ quyền trước các nhà tài phán quốc tế."

"Cái quan trọng nhất là phải dựa vào Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, và Luật Biển của Liên Hiệp Quốc, thì mới có khả năng chiến thắng trước Trung Quốc," nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc nói.

Nhà nghiên cứu Hoàng Việt thì cho rằng dù Việt Nam đã sưu tầm được một bộ bản đồ đồ sộ, nhưng tính chính xác của chúng tới mức độ nào cần phải nghiên cứu thêm.

"Philippines trước khi kiện Trung Quốc ra tòa trọng tài thường trực năm 2013 đã xuất bản một tập bản đồ trong đó có các bằng chứng về chủ quyền. Và đã được tuyên thắng kiện năm 2016."

"Điều đó để nói rằng bản đồ có những giá trị nhất định trong cuộc chiến pháp lý, mang tính chất hỗ trợ các bằng chăng pháp lý khác. Chứ không phải là bằng chứng độc lập đủ sức chứng minh Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.

"Việc đưa ra tòa quốc tế còn rất hạn chế do Trung Quốc không chấp thuận vai trò của tòa quốc tế. Như thế tòa quốc tế sẽ không có thẩm quyền giải quyết. Cho nên hiện Việt Nam vẫn tập trung vào vấn đề tuyên truyền và tâm lý nhiều hơn."

"Đánh giá các bản đồ này đóng góp bao nhiêu phần trăm thành công thì khó vì chưa biết sẽ ra tòa nào. Nhưng tôi cho rằng, không chỉ bản đồ, Việt Nam cần xem xét lại tổng thể về mặt bằng chứng xem mình hiện đang có những gì."

"Còn riêng với bộ sưu tập bản đồ mà Việt Nam thu thập được qua nhiều dự án cử người đi nước ngoài sưu tầm, tôi cho rằng cần thành lập một ban đánh giá chất lượng."

"Ban này cần tập hợp các chuyên gia lịch sử, địa lý và luật pháp quốc tế. Đến nay tôi chưa rõ một ban như vậy từng được thành lập hay chưa."

Đảng bán nước cho TQ:

Công hàm 1958, ông Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị không thể vô can

< A >
Võ Ngọc Ánh (Danlambao) - ...Đảng Cộng Sản Việt Nam tôn ý thức hệ của mình lên trên tất cả, đưa chủ quyền quốc gia xuống hàng thứ yếu. Điều này đang mang đến nhiều bất lợi trong việc đấu tranh chủ quyền lãnh hải của Việt Nam trước sự tham lam lãnh hải của Trung Cộng. Vì thế, Bộ Chính trị đảng Cộng Sản, ông Hồ Chí Minh người có ảnh hưởng quyết định trong lúc này không thể vô can. Để mình ông Đồng gánh tội không chưa đủ. Cần nhìn nhận thẳng thắng đây là sai lầm nghiêm trọng của đảng Cộng Sản và cả Hồ...

*

Công hàm vào tháng 9/1958, do ông Phạm Văn Đồng, thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Việt Cộng) ký là sự tiếp tay cho Trung Cộng trong việc xâm chiếm lãnh hải của Việt Nam.

Ngày 17/4 vừa rồi Trung Cộng đã gởi công hàm gởi đến Tổng thư ký Antonio Guterres phản đối công hàm phía Việt Nam đã gởi vào ngày 30/3/2020. Một lần nữa lại đưa ‘bảo bối’ công hàm do ông Đồng ký vào năm 1958 để khẳng định Cộng Sản Việt Nam đã thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về họ. 

Công hàm 1958, không thể một mình ông Phạm Văn Đồng gánh tội

Ngày 4/9/1958 nhà cầm quyền Trung Cộng công bố quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc. Theo bản tuyên bố này, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về quốc gia này.

10 ngày sau nhà cầm quyền Việt Cộng nhanh chóng đồng ý với nội dung công bố trên của Trung Cộng. 

Trong cuộc chiến tranh ý thức hệ với người anh em miền Nam, chính quyền miền Bắc nghĩ rằng Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về các đồng chí Trung Cộng còn hơn để trong tay chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Có thể lãnh đạo miền Bắc trao lợi thế cho Trung Cộng để đạt được lợi thế chính trị nào đó với Việt Nam Cộng Hòa. Và có lẽ họ chưa nghĩ đến khi đất nước thống nhất lãnh hải sẽ rơi vào tay đồng chí láng giềng.

Với cách làm chính trị các lãnh đạo miền Bắc, rõ ràng ông Đồng không thể tự ý ký công hàm này mà chưa có sự đồng ý, chỉ đạo của ông Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị đảng Lao Động Việt Nam. (Đảng Cộng Sản lúc này đã tự đổi tên thành đảng Lao Động Việt Nam vào tháng 2/1951, và quay lại tên cũ vào vào tháng 12/1976).

Do đó, hành động chính xác cho công hàm này là bán nước trong sự ngây thơ của cả bộ máy lãnh đạo cao cấp nhất đảng Cộng Sản Việt Nam lúc đó. Đảng Cộng Sản Việt Nam tôn ý thức hệ của mình lên trên tất cả, đưa chủ quyền quốc gia xuống hàng thứ yếu. Điều này đang mang đến nhiều bất lợi trong việc đấu tranh chủ quyền lãnh hải của Việt Nam trước sự tham lam lãnh hải của Trung Cộng.

Vì thế, Bộ Chính trị đảng Cộng Sản, ông Hồ Chí Minh người có ảnh hưởng quyết định trong lúc này không thể vô can. Để mình ông Đồng gánh tội không chưa đủ. Cần nhìn nhận thẳng thắng đây là sai lầm nghiêm trọng của đảng Cộng Sản và cả Hồ.
< iframe id="aswift_5" name="aswift_5" sandbox="allow-forms allow-pointer-lock allow-popups allow-popups-to-escape-sandbox allow-same-origin allow-scripts allow-top-navigation-by-user-activation" width="691" height="250" frameborder="0" src="https://googleads.g.doubleclick.net/pagead/ads?client=ca-pub-2398794779417186&output=html&h=250&adk=3537496604&adf=3970220123&w=691&fwrn=4&fwrnh=100&lmt=1587740497&num_ads=1&rafmt=1&armr=3&sem=mc&pwprc=6625729929&psa=1&guci=2.2.0.0.2.2.0.0&ad_type=text_image&format=691x250&url=https%3A%2F%2Fdanlambaovn.blogspot.com%2F2020%2F04%2Fcong-ham-1958-ong-ho-chi-minh-va-bo.html&flash=0&fwr=0&pra=3&rh=173&rw=691&rpe=1&resp_fmts=3&wgl=1&fa=27&adsid=ChAI8JyK9QUQ-NSgnsDP1oA9EkwAjBJLNnpqUd2fex6vWzDE5WBJ_Q34EyBh6mmjygwpBNZje7qFlMXcdwXUBaMCnRXfYMMyJQzP5ShSUEf5lz7ucu3eQmcE9qid9Hqc&dt=1587754987348&bpp=7&bdt=2247&idt=7&shv=r20200422&cbv=r20190131&ptt=9&saldr=aa&abxe=1&prev_fmts=895x280%2C691x173%2C438x350%2C0x0%2C691x280&nras=3&correlator=30746285510&frm=20&pv=1&ga_vid=1910646605.1579142435&ga_sid=1587754986&ga_hid=486881835&ga_fc=0&iag=0&icsg=562995587448832&dssz=93&mdo=0&mso=0&u_tz=-240&u_his=3&u_java=0&u_h=1080&u_w=1920&u_ah=1040&u_aw=1920&u_cd=24&u_nplug=3&u_nmime=4&adx=289&ady=2053&biw=1730&bih=881&scr_x=0&scr_y=0&eid=21065473%2C21065475&oid=3&psts=AKB7eCKjSTX8CYylZ5dc-lPXl2RQWNuxouHM4oKZWa42yumYjwzQumYOx5WBwrZLLkZt%2CAKB7eCKjSTX8CYylZ5dc-lPXl2RQWNuxouHM4oKZWa42yumYjwzQumYOx5WBwrZLLkZt%2CAKB7eCKjSTX8CYylZ5dc-lPXl2RQWNuxouHM4oKZWa42yumYjwzQumYOx5WBwrZLLkZt%2CAKB7eCKjSTX8CYylZ5dc-lPXl2RQWNuxouHM4oKZWa42yumYjwzQumYOx5WBwrZLLkZt&pvsid=987328375112846&pem=699&ref=https%3A%2F%2Fdanlambaovn.blogspot.com%2F&rx=0&eae=0&fc=384&brdim=0%2C0%2C0%2C0%2C1920%2C0%2C1920%2C1040%2C1745%2C881&vis=1&rsz=%7C%7Cs%7C&abl=NS&fu=8336&bc=31&jar=2020-04-24-18&ifi=5&uci=a!5&btvi=4&fsb=1&xpc=tj5Fa9jTSs&p=https%3A//danlambaovn.blogspot.com&dtd=15" marginwidth="0" marginheight="0" vspace="0" hspace="0" allowtransparency="true" scrolling="no" allowfullscreen="true" data-google-container-id="a!5" data-google-query-id="CK3ouaDggekCFZOTGwod8lgNmg" data-load-complete="true" style="padding: 0px; border-width: 0px; border-style: initial; outline: 0px; vertical-align: baseline; background: 0px 0px; width: 691px; left: 0px; position: absolute; top: 0px; height: 250px;">< /iframe>

Cũng không thể giải thích mập mờ như ông Trần Duy Hải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia, thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam vào ngày 23/5/2014. Theo đó, ông Hải gọi công hàm của ông Đồng là “công thư”. Một văn bản ngoại giao mà không giải thích nó có tính pháp lý, thừa nhận gì không, hay chỉ hỗ trợ ngoại giao.

Đến tháng 2/1974, khi Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa từ tay Việt Nam Cộng Hòa, báo chí, sách vở, tuyên truyền của miền Bắc vẫn bịt mắt giữ vững lòng tin, lừa dân, “Trung Quốc lấy Hoàng Sa cũng vì lấy cho ta”

Công hàm không có giá trị pháp lý

Người Việt có thể vin vào điều kiện thực tế lúc đó để lý giải có lợi cho mình. Công hàm được chính quyền Việt Cộng đồng ý với Trung Cộng không thể có giá trị pháp lý. Bởi vì quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa lúc đó thuộc sự quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa theo hội nghị tại San Francisco, Mỹ vào tháng 9/1951 về lãnh thổ sau chiến tranh thế giới thứ hai.

Trên thực tế quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã đồn trú tại hai quần đảo trên. Trung Cộng chưa có gì. 

Do đó, tuyên bố của nhà cầm quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không thể có giá trị. Bởi Việt Cộng không thể thừa nhận cho cái đang không phải của mình. 

Để đấu tranh trong chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa hiện nay, nhà cầm quyền Việt Nam đương thời không thể phủ nhận Việt Nam Cộng Hòa không phải là một quốc gia. Tuy nhiên, việc thừa nhận này lại gặp phải một vấn đề khác. Hóa ra quốc gia miền Bắc đi xâm chiếm quốc gia khác chứ không phải là sự giải phóng như họ đã rêu rao suốt hơn 66 năm qua!?

Cho dù cho quốc gia có tính kế thừa, tiếp diễn điều đó không có nghĩa người dân Việt Nam phải chấp nhận việc chủ quyền do một nhóm người độc tài cai trị biếu không cho quốc gia khác để gia tăng lợi thế chính trị. 

Không ngừng xâm chiếm, quấy phá

Sau chiếm Hoàng Sa, Trung Cộng không ngừng mở rộng việc đánh chiếm thêm các đảo ở Trường Sa. Xây dựng, cơi nới thêm trên các đảo chiếm của Việt Nam để biến thành những tiền đồn vững chắc. Cùng với đó, Bắc Kinh gia tăng việc quấy nhiễu lãnh hải Việt Nam, bắn giết ngư dân. Từ đặt giàn khoan Hải Dương 801 vào năm 2014, đến tàu Hải Dương Địa Chất liên tục quấy phá trong những năm gần đây. 

Trong hơn 20 năm qua, chưa năm nào không có ngư dân Việt bị các lực lượng hung hăng hải cảnh, dân quân bán vũ trang của Trung Cộng vây bắt, đâm chìm. Của mất. Người thương tích. Nhiều xác người Việt vẫn vùi dưới biển sâu bởi sự tàn ác của Trung Cộng. Dân Việt bực tức, nhà cầm quyền Việt Nam chẳng dám gọi thẳng tên kẻ ác mà cứ “tàu lạ”, “nước lạ”. 

Ngày 18/4 vừa rồi Trung Cộng tuyên bố thành lập hai quận Tây Sa (tức Hoàng Sa của Việt Nam), và Nam Sa (tức thuộc Trường Sa của Việt Nam). Hai quận mới này thuộc thành phố Tam Sa đã được thành lập vào tháng 7/2012. 

Trước đó, Việt Nam đã hai lần gởi công hàm phản đối việc tự nhận chủ quyền lãnh hải quá mức của Trung Cộng lên các cơ quan của Liên Hiệp Quốc. Lần thứ nhất vào là Công hàm 257-HC năm 2016, lần thứ hai là Công hàm A/72/692 năm 2018. Và gần đây nhất vào cuối tháng ba vừa rồi. 

Ngay sau đó Trung Cộng cũng gởi lu loa bằng nhiều cách, theo cách vừa ăn cướp vừa la làng. Trưng ‘bảo bối’ Việt Nam từng tán đồng với chủ quyền lãnh hải của Trung Cộng tuyên bố vào năm 1958. 

Muốn bảo vệ chủ quyền, nhà cầm quyền CSVN phải để người dân lên tiếng về chủ quyền chứ không thể cấm người dân lên tiếng, phản đối theo cách của họ để làm đẹp lòng Trung Quốc.

Dân tộc Việt Nam quyết không để đảng Cộng Sản đem dân tộc này trói vào Trung Cộng như trong hội nghị Thành Đô vào năm 1990. Bởi khủng hoảng do virut Vũ Hán hiện nay trên thế giới đang trao thêm cho quốc gia Việt Nam cơ hội để thoát khỏi Trung.

24.04.2020


"Chiến lược phòng thủ" trong hồ sơ VN kiện TQ ra sao? Đến nay "trời biết"

< A >
Trương Nhân Tuấn (Danlambao) - Việc “leo thang” lý lẽ mấy hôm rày trong nội dung các công hàm giữa VN và TQ gởi Tổng thư ký LHQ làm “căng thẳng” khu vực Biển Đông. “Tiếng súng” có thể thay “tiếng nói” bất cứ lúc nào. “Leo thang” trong ngôn từ sẽ đưa “bàn cờ Biển Đông” vào thế “triệt buộc”. 

Việc này làm "nóng" lại công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng. TQ gởi công hàm ngày 17 tháng 4 năm 2020, vịn nội dung công hàm 1958 để khẳng định chủ quyền của TQ ở HS và TS. 

Công hàm 1958 có giá trị pháp lý như lập luận lâu nay của TQ hay không? Nếu có thì làm thế nào để "hóa giải" hiệu lực?

Giữa VN và TQ không đơn thuần chỉ có tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ HS và TS mà còn có những yêu sách đối nghịch như về "quyền lịch sử" của TQ ở biển Đông. VN còn gặp nhiều khó khăn, một mặt đối thủ là "đại cường", có thể sử dụng vũ lực để "cả vú lấp miệng em". Còn có việc yêu sách vùng biển và thềm lục địa sinh ra từ các đảo. Việc này cũng đặt VN vào tư thế bất lợi. 

Các đảo HS và TS hiển nhiên thuộc VN. Nhưng nếu VN yêu sách vùng biển và thềm lục địa phát sinh từ các đảo này rộng 200 hải lý như đất liền, thì VN có thể bị "gậy ông đập lưng ông". Nếu công hàm 1958 có hiệu lực, VN có thể mất cả chì lẫn chài, mất chủ quyền HS và TS là một. Mất vùng biển và thềm lục địa phát sinh chung quanh các đảo là hai. 

VN cũng kẹt nếu hủy bỏ yêu sách “vùng biển phát sinh từ đảo”. Bởi vì, nếu đảo đó của mình, thì rõ ràng là phi lý, chuyện này không ai làm. 

Ta thấy rõ sự lúng túng của VN trong các tuyên bố của VN về chủ quyền lãnh thổ và yêu sách hải phận. 

Thí dụ năm 1977 VN ra bản đồ (gọi là bản đồ bụng chữa). VN yêu sách vùng nước và thềm lục địa chung quanh HS và TS, theo đó các đảo HS và TS có đầy đủ hiệu lực “đảo”, theo điều 121 Luật biển 1982. 

So sánh ta thấy “bản đồ bụng chữa” của VN không khác mấy bản đồ chữ U chín đoạn của TQ.

Tuyên bố của VN ở các năm sau thông thường là "thả nổi", hiểu sao cũng được, kiểu "Luật Quốc tế về Biển 1982 là cơ sở pháp lý duy nhứt, toàn diện và triệt để, về phạm vi quyền được hưởng vùng biển giữa VN và TQ".

Theo tôi lựa chọn này là "thông minh". Bởi vì VN có thể bị vướng nguyên tắc "estoppel", nguyên tắc "không được nói ngược". VN không thế phản bác yêu sách đường chữ U của TQ trong khi VN cũng có yêu sách “bản đồ bụng chữa” tương tự. Ngay cả khi VN tuyên bố hủy bỏ yêu sách vùng biển 1977 thì việc bài bác yêu sách "đường chữ U" của TQ, trước một tòa quốc tế, cũng có thể làm VN phạm nguyên tắc "estoppel".

Anh không thể cấm người khác có quan điểm y chang như anh. 

VN còn có tranh chấp do chồng lấn vùng biển kinh tế độc quyền và thềm lục địa, bề rộng 200 hải lý phát sinh từ đường cơ bản ven bờ. 

Ngoài ra, làm như chưa đủ phức tạp, lại có vụ “thềm lục địa mở rộng”, theo điều 76 của Luật quốc tế về Biển. Quốc gia nào có thềm lục địa “có thể mở rộng được”, thì có thể mở ra đến 350 hải lý. Việc chống lấn vì vậy, ngoài vùng biển và thềm lục địa 200 hải lý, còn có chồng lần “thềm lục địa mở rộng”. 

Hiển nhiên câu hỏi cần phải đặt (mà không thấy ai đặt) là VN "phác họa" chiến lược tranh tụng với TQ ra sao?

Nếu kiện TQ thì kiện về cái gì? Kiện ở đâu?

Ải đầu tiên nếu VN muốn đi kiện TQ, là phải chắc chắn tòa “có thẩm quyền phân xử”. Việc này có hai cái khó. Thứ nhứt, hai bên phải ký nhận thẩm quyền của tòa. Thứ hai, nội dung phân xử không bị “loại trừ” do việc “bảo lưu” của một bên.

Vụ Phi đơn phương kiện TQ ra Tòa Trọng tài thường trực ở La Haye (Hòa lan). Tòa tuyên bố có thẩm quyền và ra phán quyết ra ngày 14 tháng 7 năm 2016. Theo nội dung “giải thích và cách áp dụng Luật Biển khu vực nam Biển Đông”, Phi thắng kiện. Vấn đề là TQ không tham gia, vì cho rằng Tòa không có thẩm quyền. TQ không nhìn nhận và dĩ nhiên không tuân thủ phán quyết.

Hoc giả VN luôn “lên gân” muốn VN “kiện” TQ. Nếu có ai đó hỏi “sách lược kiện tụng của VN ra sao, kiện ở đâu, kiện cái gì”? Câu trả lời coi bộ khó! 

Tuy nhiên, nói vậy là “hạ thấp” trình độ của học giả VN. Lâu nay học giả VN cũng rất siêng năng, rất chuyên chú ở việc tìm kiếm bản đồ. 

Làm như khi ra tòa, VN ôm một chồng bản đồ TQ trong đó không có vẽ HS và TS là đủ chứng minh TQ không có chủ quyền ở HS và TS vậy. 

Vụ “hiệu lực các bản đồ” từ 10 năm trước tôi đã có bài nghiên cứu, cho thấy là trước tòa, bản đồ không hề là một “bằng chứng”. Bản đồ chỉ có giá trị “thông tin”, giúp tòa làm rõ một vấn đề (còn mù mờ) nào đó. 

Ngay cả việc bất nhất trong lập luận, về tư cách pháp nhân các thực thể VNDCCH, VNCH, CPLTMTGPMN... các học giả vẫn lọng cọng. Trong khi việc lựa chọn “tư cách pháp nhân” của VNCH và VNDCCH mới là điều quan trọng nhứt, là “yếu tố nền tảng”, quyết định VN “thắng” hay “thua” trong vụ kiện. 

Chưa nói tới nội dung các “sách lược” phòng thủ và tấn công (vì đâu ai biết nó hình dáng ra sao?). Các học giả VN hiện nay hầu hết có quan niệm VNCH và VNDCCH là hai “quốc gia, độc lập có chủ quyền”. 

Việc này tôi có nói (vô số lần) là “nguy hiểm”. Làm vậy là toàn bộ lịch sử VN, kể cả giai đoạn 1954-1975, đều được xét dưới ánh sáng của luật quốc tế. 

Tôi có viết nhiều bài cảnh báo, trong đó có bài “Công hàm 1958: một vấn đề thuộc phạm vi công pháp quốc tế” và bài “Nếu công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng không hiện hữu”. Rõ ràng ý kiến của tôi trong hai bài này khó lòng phản biện. Vì những gì tôi viết chỉ phản ảnh luật lệ, hay giải thích luật lệ.

Tức là khi đặt nền tảng hồ sơ kiện, với VNDCCH và VNCH là “hai quốc gia”. Bất kể lập luận ra sao, bằng chứng “chắc như bê tông”, tôi nghĩ rằng VN thua kiện 99%, ở bất kỳ một mục đích nào ghi ở trên. 

Hồ sơ do tôi đề nghị từ nhiều năm nay, theo đó VNCH và VNDCCH là hai thực thể chính trị thuộc về một quốc gia “duy nhứt”, theo định nghĩa của hiệp định Genève 1954, khẳng định lại qua hiệp định Paris 1973. Tức là VN có tư cách pháp nhân là “quốc gia bị phân chia - divided state”. VNCH và VNDCCH là hai “quốc gia chưa hoàn tất”. Đây là cách nói khác của pháp nhân “quốc gia hai chế độ”.

Nếu ta xét thực tế lịch sử, từ 1954 tới 1975, VNDCCH chưa bao giờ là thành viên của bất cứ một định chế, một tổ chức nào thuộc LHQ. VNDCCH không có ghế đại diện LHQ đã đành. VNDCCH cũng không phải là thành viên của bất kỳ một công ước quốc tế nào hết cả. Không phải là VNDCCH “không muốn” gia nhập. Mà bởi vì VNDCCH không có “tư cách pháp nhân” để gia nhập. 

Thực tế lịch sử nó là như vậy. VNDCCH không phải là đối tượng của công pháp quốc tế. Điều này không thể phản bác.

Tức là tất cả những hành vi, thái độ bất kỳ của VNDCCH, trước một vấn đề “quốc tế” thể hiện từ 1954 đến 1975, hiển nhiên không thể soi sáng bằng luật pháp quốc tế.

Cũng nên nhắc lại chi tiết, sau khi TQ xâm lăng Hoàng Sa của VN tháng giêng 1974, VNCH vận động Hội đồng bảo an LHQ can thiệp cũng như lập hồ sơ “sách trắng” tung ta Đại hội đồng LHQ để kiện TQ lên tòa Công lý Quốc tế. Ngay cả có hay không có sự “chống lưng” của Mỹ, VNCH bất lực, thất bại trong tất cả các cuộc vận động.

Không quốc gia nào can thiệp, hay tỏ thái độ với VNCH, ngoại trừ các tuyên bố phản đối của LX và các quốc gia khác lên án việc sử dụng vũ lực của TQ. 

Đơn giản vì VNCH không có tư cách pháp nhân của “Quốc gia”. VNCH cũng như VNDCCH không phải là đối tượng của luật quốc tế.

Cả hai bên, VNCH và VNDCCH, đều không phải (hay chưa phải) là “quốc gia độc lập có chủ quyền”. 

Nhưng trước một tòa án, các học giả VN vẫn có thể khẳng định rằng VNDCCH là “quốc gia”, như ý muốn. Vì từ khi “lập quốc” lãnh đạo VNDCCH đã nói như vậy rồi. Hệ quả ra sao? Thì thử làm rồi sẽ biết.

Khi các học giả VN không phản biện được hai bài viết tôi dẫn trên, ý kiến của một “tay mơ” về luật, thì các học giả đỉnh cao vô phương “cãi” lại lập luận các học giả TQ.

“Chiến lược” phòng thủ của tôi hết sức đơn giản. Biết mình biết người. 

Biết mình đuối lý, không thể cãi với TQ bằng luật quốc tế. Thì mình kéo địch thủ qua một “mặt trận” pháp lý khác, mà trong đó luật quốc tế không thể áp dụng được, trong khoảng thời gian 1954-1975. Đâu ai có thể cấm mình được? Thực tế lịch sử nó là như vậy mà!

Tức là, chỉ cần “điều chỉnh” lại lập trường một chút, học giả đỉnh cao và đảng viên CSVN bớt “lên gân một chút”, khiêm nhượng một chút, can đảm một chút để nhìn thực tế lịch sử. Thì công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng không có hiệu lực trước công pháp quốc tế. 

Đơn giản chỉ có vậy. 

Nhưng sau khi tôi đăng lại hai bài viết về “giá trị pháp lý” của công hàm 1958, khối người phản biện bằng những lý do hết sức buồn cười. Có người hỏi rằng khi TQ ra công hàm 1958 khẳng định chủ quyền và hải phận 12 hải lý thì VNCH phản ứng ra sao? Điều tương tự cũng thường thấy, đặc biệt trên BBC. Khi không thể phản biện được các lập luận của TQ bèn đỗ thừa trách nhiệm VNCH làm mất HS. 

Cũng có người không thấy rằng các bài viết của tôi, các bài nói về hiệu lực pháp lý của công hàm 1958, có thể xem như là một hai miếng “puzzle” trên một tấm hình to lớn là “hồ sơ” chủ quyền lãnh thổ, hải phận và vùng biển của VN ở Biển Đông. Họ dẫn một vài đoạn trong bài viết đó rồi cho rằng đó là lập trường của tôi. Hiển nhiên là lấy chữ bỏ miệng người!

Trong khi chờ đợi công hàm của VN sẽ gởi tổng thư ký LHQ để phản biện các yêu sách của TQ. Tôi viết tóm lược ý kiến của tôi trong bài này. Hy vọng bộ ngoại giao VN tiếp nôi lập luận phản biện như đã thấy trong nội dung các công hàm năm 2016. Các học giả đỉnh cao cũng làm ơn bớt “lên gân”. Quí vị nói sướng cái miệng nhưng hệ quả có thể làm cho TQ có lý do trả lời bằng súng. 

24.04.2020


Ba Đình cũng đã thừa nhận Phạm Văn Đồng bán nước của người khác!

< A >
CTV Danlambao - Tài liệu sau đây do phái đoàn thường trực CSVN gửi Liên Hiệp Quốc vào ngày 25.08.2016 đã xác nhận Việt Nam Cộng Hoà là một quốc gia độc lập và Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hoà.


Do đó, chính Ba Đình đã công nhận rằng công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng và bán nước của quốc gia khác.