Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Một 2021
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 7
 Lượt truy cập: 17571940

 
Tin tức - Sự kiện 17.01.2021 02:10
Phó thống đốc ngân hàng Na Uy mất việc vì ham của lạ lấy vợ TQ
04.12.2020 20:19

Quan chức cấp cao Na Uy từ chức vì vợ là người Trung Quốc
DT- Phó thống đốc Ngân hàng trung ương Na Uy Jon Nicolaisen đã nộp đơn xin từ chức sau khi ông không được thông qua thủ tục về mặt an ninh do cưới vợ là người Trung Quốc.

Quan chức cấp cao Na Uy từ chức vì vợ là người Trung Quốc - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Ông Jon Nicolaisen (Ảnh: Reuters)

Reuters đưa tin, ông Nicolaisen phát đi tuyên bố từ chức Phó thống đốc vào ngày 4/12. Trong thông báo, ông cho hay: "Cơ quan kiểm tra an ninh dân sự Na Uy thông báo với tôi rằng lý do tôi không được thông qua khi gia hạn thủ tục an ninh là vì vợ tôi là người Trung Quốc, sinh sống tại Trung Quốc, nơi tôi hỗ trợ tài chính cho cô ấy".

"Ngoài ra, cơ quan trên xác nhận rằng tôi không có yếu tố về mặt cá nhân nào khiến tôi không đủ điều kiện để được thông qua về mặt an ninh, tuy nhiên, điều này là không đủ. Giờ đây, tôi phải nhận hậu quả của việc này", ông Nicolaisen cho biết.

Đơn xin từ chức của Phó thống đốc Ngân hàng trung ương Na Uy có hiệu lực ngay lập tức. Hiện thời, chưa rõ ai sẽ lên thay vị trí của ông Nicolaisen.

Na Uy, quốc gia thành viên của NATO, trong những năm qua đang ngày càng siết chặt chính sách liên quan tới các vấn đề về an ninh. Điều này gây khó cho nhiều trường hợp người Na Uy kết hôn với một công dân ở quốc gia không có hợp tác an ninh với phía Oslo.

Trước khi từ chức, ông Nicolaisen phụ trách chính sách tiền tệ của Na Uy. Ông từng có trách nhiệm giám sát quỹ đầu tư quốc gia của Na Uy trị giá 1.200 tỷ USD - một trong những quỹ lớn nhất thế giới.

Ông Nicolaisen kết hôn năm 2010. Ông lần đầu được chọn vào vị trí Phó thống đốc Ngân hàng trung ương vào năm 2014 và được tái bổ nhiệm vào tháng 4 năm nay.

Cơ quan tình báo PST của Na Uy hôm 3/12 cáo buộc Trung Quốc là một trong những quốc gia sử dụng gián điệp để thu thập bí mật về ngành dầu khí của Na Uy.

Đức Hoàng


Chiêu thức “mỹ nhân kế” của TQ cực kỳ thâm độc chưa bao giờ lỗi thời trong tình báo hiện đại


Câu chuyện về một quan chức ngoại giao Hà Lan tại Trung Quốc đang bị điều tra vì bỏ bê nhiệm vụ, đam mê tình ái với một phụ nữ Trung Quốc đang là đề tài "nóng" trong giới tình báo vì nó bộc lộ một chiêu thức không bao giờ cũ trong nghề điệp viên - mỹ nhân kế - vừa xảy ra với ông Ronald Keller, Đại sứ Hà Lan tại Trung Quốc.



Lê Khả Phiêu: Công với Tàu – Tội với dân?

Nhà hoạt động đối lập Hòang Minh Chính khi sinh tiền đã tiết lộ rằng Lê Khả Phiêu bị Trung Quốc gài Mỹ Nhân Kế lấy cô Trương Mỹ Vân (Cheng Mei Wang) lúc Lê Khả Phiêu sang thăm Trung Quốc năm 1988 và sanh được một bé gái. Phiêu không đem con về vì sợ tai tiếng đưa đến nhiều lần Trung Cộng gửi văn thư đòi lấn vùng biển vào tháng 1 năm 1999. Đồng thời đòi đưa ra ánh sáng vụ nầy nếu Phiêu không hợp tác. Và buộc Lê Khả Phiêu phải hạ bút ký bản hiến biển ngày 30 tháng 12 năm 1999. 

Theo tin từ TQ  thì Lê Khả Phiêu đã bị sập bẫy của nữ điệp viên TQ trong khi ái ân có màn khẩu dâm cực khoái đã được thâu video và TQ đe dọa nếu không giao phần lãnh thổ biên giới và biển Bắc bộ thì sẽ tung video lên mạng. Vì danh dự của lãnh đạ otối cao đảng CSVN nên đành ngậm ngùi nhượng một phần giang san cho TQ.

Nhà văn Trúc Giang MN trong bài "Đầu năm điểm mặt lãnh đạo CSVN tham nhũng và mê gái" đã phân tích:
"Năm 1988, khi đi triều cống sang Trung Cộng, Lê Khả Phiêu bị sập kế mỹ nhân của bọn Tàu khựa. Người phụ nữ đó là Trương Mỹ Vân (Cheng Mei Wang) đã có đứa con gái với TBT/CSVN. Biết được Phiêu rất lo sợ vụ việc bị bại lộ, vì những đối thủ chính trị của Phiêu trong Bộ Chính Trị, sẽ tìm cách hạ bệ hắn, nên bọn Tàu khựa áp lực Phiêu ký Hiệp Định Biên giới, cắt đất dâng biển cho chúng. Vụ chơi gái không biết thật hư ra sao, nhưng việc Quốc hội phê chuẩn lậu Hiệp định là rõ ràng. Đó là chỉ có Ban Thường Vụ QH phê chuẩn, đáng lẻ khoáng đại QH làm việc đó."

Mỗi khi một vị lãnh đạo tối cao của Đảng và Nhà nước ra đi, người ta thường nhắc đến di sản của người mới nằm xuống để nhân dân tưởng nhớ, ghi công. Cố Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã qua đời hôm 07/08 mới đây. Đảm nhận vị trí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, chức vụ được cho là tối cao tại đất nước độc đảng độc tài Việt Nam trong một thời gian ngắn ngủi từ tháng 12/1997 đến tháng 04/2001 nhưng di sản mà ông để lại chứa chất những tai hại cho đất nước và cho nhiều thế hệ người dân Việt Nam.

Theo nhà quan sát Đỗ Ngà, nếu Nguyễn Văn Linh – Đỗ Mười – Phạm Văn Đồng có “công lớn” đưa Việt Nam trở lại vòng tay của Trung Quốc với Hội nghị Thành Đô 1990 thì Lê Khả Phiêu lại là người có “công lớn” cắt đất nhượng cho quốc gia láng giềng với “Hiệp ước hoạch định biên giới đất liền” năm 1999 và “Hiệp Định Vịnh Bắc Bộ” năm 2000.

Hội nghị Trung ương 4 của kỳ đại hội 8 là một kỳ họp khá đặc biệt khi không chỉ ra chủ trương cho Quốc hội bù nhìn thông qua mà tại hội nghị này, Đỗ Mười nhường chức Tổng bí thư cho Lê Khả Phiêu và rút về làm cố vấn cùng với Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt.  Theo nhà báo kì cựu Nguyễn Công Khế: “Trước khi làm Tổng bí thư, ông (Lê Khả Phiêu) được ông Lê Đức Anh và ông Đỗ Mười ưu ái, chuẩn bị kỹ càng để ngồi vào chiếc ghế quyền lực cao nhất nước này. Ông Đỗ Mười nhiều lần đánh giá rằng chỉ có ông Lê Khả Phiêu và ông Nguyễn Hà Phan là lập trường vững vàng nhất, là thứ gạo bỏ vào cối giã không bao giờ bị bể vụn.”Có lẽ “lập trường vững vàng” như “thứ gạo bỏ vào cối giã không bao giờ bị bể vụn” mà ông Nguyễn Công Khế nói đến là tinh thần thần phục hoàn hoàn vào Trung Quốc không màng đến chủ quyền lãnh thổ của quốc gia mà biết bao thế hệ cha anh đã ngã xuống để bảo vệ.
Ảnh: Lãnh đạo Việt Nam gồm Nguyễn Văn Linh – Đỗ Mười – Phạm Văn Đồng và lãnh đạo Trung Quốc tại hội nghị Thành Đô, Tứ Xuyên, năm 1990. Kể từ hội nghị Thành Đô, Trung Quốc chi phối Việt Nam

Với 2 bản hiệp ước biên giới mà ông Phiêu ký với Trung Quốc, Việt Nam đã mất trắng 15.000 km2 lãnh thổ tương đương với diện tích của đất nước Đông Timor.

Facebooker Trần Thanh Cảnh viết: “Đất đai của ông cha, giao cho ai đó thay mặt nhân dân quản lý mà tùy tiện đem xén, đem cho, đem bán cho nước người cứ như không! Cứ như là những tấc đất mét núi dặm sông biển trời kia chưa từng ngấm máu và mồ hôi của con dân Việt trải từ Triệu, Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn cho đến nay khai phá bồi đắp giữ gìn mà nên được non sông gấm vóc này!

Ôi, Ải Nam Quan xưa đã vĩnh viễn chỉ còn trong sử sách! Mỗi lần muốn chiêm ngưỡng dấu tích cổ xưa của biên giới nước Việt ta lại phải mua vé du lịch sang nước “bạn”, mới được ngắm cảnh xưa và mong gặp lại hồn cố nhân…Ai làm ra nỗi này?”

Có lẽ vì công lao to lớn của ông Phiêu đối với đất nước anh em “4 tốt 16 chữ vàng” mà lãnh đạo tối cao Tập Cận Bình đã gửi điện cho đồng nhiệm Nguyễn Phú Trọng, ca ngợi ông Phiêu là “lãnh đạo tiền bối xuất sắc” và “cũng là người đồng chí thân thiết và bạn bè thân mật của Đảng và nhân dân Trung Quốc”…

Ông Tập cũng ca ngợi ông Phiêu là người “dẫn dắt nhân dân Việt Nam đạt thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới”. Không nói thì ai cũng biết là “công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới” là bám theo mô hình của Trung Quốc thì mới được ông Tập ca ngợi như vậy.

Nhà quan sát Trương Nhân Tuấn mới đây đã tiết lộ ông Phiêu đã cản trở làm cho Việt Nam “lỡ chuyến tàu”. Nếu Việt Nam tuyên bố “trung lập” và theo tư bản chủ nghĩa từ thời đó tức là thời điểm năm 1995 khi ông Võ Văn Kiệt trình lên Bộ Chính trị đề xuất loại bỏ “định hướng xã hội chủ nghĩa”, “bỏ điều 4 Hiến pháp”, chủ trương trung lập và “thực hiện dân chủ triệt để” thì hiển nhiên bây giờ Việt Nam đã được “Phần Lan hóa”, số phận Việt Nam chắc chắn khá hơn, không nằm trong thế “bi đát”, trong gọng kềm ý thức hệ của Trung Quốc hôm nay.
Ảnh: Bức ảnh chụp Ải Nam Quan từ thời Pháp thuộc còn lưu lại cho thấy cửa ải và những bức tường chạy dài về hai bên, phân định rõ ràng biên cương lãnh thổ theo Công ước Pháp – Thanh đã ký năm 1887 và ký bổ sung năm 1895

Cũng theo ông Tuấn, di sản chính trị của Lê Khả Phiêu “kiên định con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa” đã làm cho Việt Nam đến nay không thể hội nhập hoàn toàn với thế giới văn minh.

Phiêu chủ trương hoãn ký Hiệp ước kinh tế với Mỹ. Ông Khế cũng đã thừa nhận “chính ông (Phiêu) là người đã cản trở việc Việt Nam ký Hiệp định hợp tác song phương với Mỹ tại New Zealand năm 1999, làm cho ông Phan văn Khải phải đi và về tay không sau khi phải giải thích rất khó khăn với Tổng thống Clinton. Và cũng chính ông đã tổ chức một cuộc đón tiếp Tổng thống Mỹ Bill Clinton thiếu những nghi thức ngoại giao sơ đẳng và nhất là trong nội dung các cuộc trao đổi là thiếu chuẩn mực khi Clinton đến Hà Nội. Cuộc trao đổi với bà Ngoại trưởng Madeleine K. Albright cũng tương tự như vậy.”

Chỉ hai năm ngồi ghế Tổng Bí thư, Phiêu đã khiến Đảng Cộng sản Việt Nam rập khuôn Đảng Cộng sản Trung Quốc, từ tư tưởng, hành động cho tới ý thức hệ. Tương lai chính trị Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Quốc.

Có thông tin cho rằng nếu ở Hội nghị Thành Đô, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng lấy danh nghĩa đảng và nhà nước để gặp Giang Trạch Dân và Lý Bằng, thì Lê Khả Phiêu lại dám lấy quan hệ cá nhân để bàn tính chuyện quốc gia đại sự với lãnh đạo Trung Quốc.

Ông Ngà viết: “Vốn là người xuất thân từ quân đội, Lê Khả Phiêu đã dùng Nguyễn Chí Vịnh điều khiển Tổng cục Tình báo Quân đội (tức tổng cục 2) để bắt liên lạc với tình báo Tàu của phía Giang Trạch Dân nhằm nhận lệnh riêng của ông này. Đây là cách làm việc vô lối và chắc chắn lịch sử sẽ ghi tội. Với lối quan hệ này, Lê Khả Phiêu đã xem đất nước Việt Nam này như là một thứ món hàng riêng của ông ta và muốn thỏa thuận với ai thì thỏa thuận. So với Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh và Phạm Văn Đồng thì phải nói rằng, Lê Khả Phiêu bán nước táo bạo hơn.”

Việc ông Phiêu tự ý làm việc trức tiếp với lãnh đạo Trung Quốc cũng được đề cập đến trong một nguồn khác.

Sách của tác giả Huy Đức dẫn lời ông Vũ Quốc Hùng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng, người được giao thẩm tra các sai phạm của ông Lê Khả Phiêu, cho biết: “Đầu năm 2001, Bộ Chính trị họp chuẩn bị Đại hội IX, chị Nguyễn Thị Xuân Mỹ (khi đó là Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng) đi họp về nói, Bộ Chính trị đang kiểm điểm anh Phiêu gay gắt nhiều chuyện: vấn đề Campuchia, quan hệ nam nữ, vô nguyên tắc khi ra Quyết định 234, ngành tình báo lâu nay chỉ nắm địch, nay được theo dõi nội bộ, gặp Giang Trạch Dân, đi không hỏi, về không trình.”

Việc sử dụng cơ quan tình báo để theo dõi các đối thủ chính trị như trong danh sách các tội trên cho thấy ông Phiêu là một người có tham vọng quyền lực rất lớn, muồn thâu tóm hết quyền lực vào tay mình. Lê Khả Phiêu đã ban hành Quyết định 234 cho tổng cục 2 theo dõi các đồng chí trong Đảng Cộng sản. Mục đích của Phiêu là muốn khai thác những chuyện thâm cung bí sử của các đồng chí mình để nắm thóp họ, và từ đó thâu tóm quyền lực về cho mình. Chưa hết, tiếp theo Quyết định 234 thì Lê Khả Phiêu còn có ý định bỏ luôn Ban Cố Vấn để mình rảnh tay thâu tóm quyền lực. Đây chính là sai lầm “chết người” của Phiêu góp phần đánh dấu chấm hết cho sự nghiệp chính trị của con người bán nước cầu vinh này.

Có lẽ vì lý do này mà đám tang của ông Phiêu trở thành vấn đề nhức nhối từ trong nội bộ Đảng Cộng sản cho đến quần chúng nhân dân.

Ảnh: Các lãnh đạo Việt Nam dự Quốc tang ông Lê Khả Phiêu, ngày 14/8/2020

Ông Nguyễn Doãn Đôn nhận định: “Ông Phiêu chết từ hôm 07/08/2020 nhưng Nhà nước ta chưa dám ra thông cáo cụ thể gì về tang lễ (cho đến 3 ngày sau đó).

Những người cùng quê với ông như Tô Huy Rứa, Phạm Quang Nghị v.v… được ông cất nhắc, cùng với đàn em thân tín đang ở Ba Đình thì muốn đòi hỏi tiêu chuẩn cho bằng chị, bằng em. Nên muốn tổ chức tang lễ cho hoành tráng và định xây cả lăng trong tỉnh Thanh cho ông.

Nhưng do tình hình diễn biến phức tạp về kinh tế, chính trị và xã hội ở Việt Nam vô cùng căng thẳng như bây giờ thì việc chi tiêu quá tốn kém tiền của và công sức của dân khó có thể phù hợp và đạt được. Mà Đảng dễ bị ăn đòn. Vì làm đám ma to cho một người có tội với non sông…”

Những ngày qua cộng đồng mạng lan truyền một câu hỏi lớn: Tại sao phải bắt dân để tang cho kẻ dâng đất cho ngoại bang?

Ông Nguyễn Văn Hùng viết: “Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, chưa có môt triều đại nào phải bắt dân để tang cho kẻ ‘dâng đất’ cho ngoại bang. Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới làm điều nghịch lý như thế!

Nếu Đảng Cộng sản Việt Nam xem việc dâng đất cho ngoại bang là đúng, xem việc làm đó là có công với Đảng thì nên gọi là “đảng tang” chứ đừng bắt dân phải để tang vì ông Phiêu chưa có làm gì có ích cho dân.

Ngày nào mà chế độ cộng sản Việt Nam vẫn còn tồn tại thì ngày đó dân tộc Việt Nam không bao giờ thoát khỏi “vòng kim cô” của Trung Quốc.

Các bạn nghĩ thế nào khi Đảng bắt bạn, gia đình của bạn để tang cho cho ông Lê Khả Phiêu?”

Hoàng Trung – Thoibao.de (Tổng hợp)


Tiến trình bị mất đất

Lữ Giang

Chúng ta nhớ lại, nhân dịp Đại Hội Đảng Toàn Quân từ ngày 3 đến 11.1.2001, Lê Đức Anh đã đứng lên tố Lê Khả Phiêu 10 tội, trong đó có một tội rất quan trọng là “Bán đất, bán biển cho Trung Quốc” trong chuyến đi Trung Quốc chầu Giang Trạch Dân. Người đầu tiên đưa sự tố cáo này ra công luận là Đỗ Việt Sơn, một đảng viên đảng CSVN về hưu và có lẽ là đàn em của Lê Đức Anh. Sau đó, Luật sư Lê Chí Quang viết bài “Hãy cảnh giác Bắc Triều” nói rõ rằng phần đất bị “bán” là 720 cây số vuông. Nguyễn Chí Trung, thư ký của Lê Khả Phiêu, nói với báo chí rằng Lê Khả Phiêu là “nạn nhân của những âm mưu đánh phá của 3 vị cố vấn là các ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt.”

Dĩ nhiên, nhóm Lê Khả Phiêu phải phản pháo. Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh đã cho Thượng Tướng Nguyễn Nam Khánh dùng tài liệu vụ án chính trị T-4 tại Tổng Cục II thuộc Bộ Quốc Phòng để chơi lại nhóm Lê Đức Anh.

Khởi sự từ đó, một phong trào tố đảng CSVN làm mất đất mất biển được phát động ở hải ngoại, nhưng người Việt chống Cộng không dùng những chữ “Bán đất, bán biển cho Trung Quốc” của Lê Đức Anh, mà đổi thành “Dâng đất dâng biển cho Trung Quốc”. Chiến dịch này đã trở nên rầm rộ khi Trung Quốc thành lập huyện Tam Sa thưộc tỉnh Hải Nam bao gồm cả hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, sau đó phong toả Biển Đông.

Thật ra, người Việt đã bị Tàu cướp đất dài dài trong tiến trình lịch sử, bắt đầu từ thời mới lập quốc cho đến ngày nay, do đó người Việt phải tiến dần xuống phía Nam. Tuy nhiên, cha ông chúng ta cũng đã chiếm đất của Lâm Ấp, Chiêm Thành và Chân Lạp để lập thành một nước mới.

Trong bài này chúng tôi chỉ nói về tiến trình bị mất đất trong lịch sử. Trong bài sau, chúng tôi sẽ bàn đến chuyện đòi đất của tiền nhân để rút kinh nghiệm.

BÀI HỌC LỊCH SỬ?

Chúng tôi xin nhắc lại, trong cuộc phỏng vấn của đài RFA ngày 24.7.2009 về đề tài “Việt Nam cần làm gì trước thái độ lấn lướt của Trung Quốc?”, Giáo sư Trần Văn Đoàn dạy học ỏ Đại Học Quốc Lập Đài Loan có nêu lên hai đề nghị: (1) Đọc lại bài học của tất cả những triều đại Việt Nam. Cái gì đã mất rồi thì không bao giờ đòi lại được. (2) Cách hay nhất, cái chiến lược của mình là làm thế nào để không mất đất nữa mà thôi.

Ông nói rõ: “Tôi không nói để bảo vệ nhà nước Việt Nam…”

Nhưng với nhiều người Việt chống cộng ở hải ngoại, đề nghị này rất khó nghe. Lý do thứ nhất: Người Tàu có “Tam thập lục kế” (với người Tàu, con số 36 có nghĩa là nhiều lắm), nhưng một số người Việt đấu tranh ở hải ngoại chủ trương chỉ có “biểu dương khí thế” là thượng sách, không cần biết kết quả như thế nào. Mọi kế khác gần như không được chấp nhận. Như vậy học sử để làm gì? Lý do thứ hai: Sử đâu mà học?

Trong bài Tựa của bộ “Việt Nam Sử Lược”, cụ Trần Trọng Kim (1882 – 1953) có than phiền: “Sử mình đã không hay, mà người mình lại không mấy người biết sử. Là vì cách học tập của mình làm cho người mình không có thể biết được sử của mình”.

Bài Tựa này được viết vào năm 1919, khi bộ “Việt Nam Sử Lược” lần đầu tiên được xuất bản, nhưng đến nay vẫn còn đúng. Không những thế, một số “sử gia” đời nay khi viết sử, thường không dựa theo chính sử như cụ Trần Trọng Kim, mà chỉ ghi lại những phần mình thích, bỏ đi những phần bị coi là mất “khí thế” hay không oai hùng, biến hoá nhiều đoạn và thêm huyền thoại vào làm cho sử không còn là thực sử nữa! Một vài thí dụ cụ thể:

(1) Khi viết về vua Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, các “sử gia” ta chỉ ghi lại “Bình Ngô Đại Cáo” và giấu đi tờ biểu thê thảm mà Lê Lợi dưng lên vua Minh xin phong vương. Trong vụ Nguyễn Huệ đánh thắng quân Thanh, các “sử gia” ta cũng chỉ ghi lại “Hịch Đánh Trịnh” của Nguyễn Hữu Chỉnh và “Hịch Gọi Đò” của Nguyễn Huệ, còn tờ biểu được Nguyễn Huệ dưng lên vua Thanh năn nỉ xin ban sắc phong được coi như không có. Họ cho rằng những tở biểu đó làm mất “khí thế” nên phải loại ra khỏi sử, không nên cho con cháu đọc.

(2) Thiền sư Lê Mạnh Thát đã sửa lại sử, cho rằng không có chuyện Bắc Thuộc lần thứ nhất và Mã Viện đem quân đánh hai Bà Trưng. Trái lại, các đời vua Hùng Vương đã kéo dài ra đến sau Công Nguyên, tức đến khi Phật giáo được truyền vào đất Việt! Việc sửa sử này nhắm mục tiêu chứng minh: “Phật giáo là dân tộc” vì đã du nhập vào Việt Nam từ đời Hùng Vương!

Pháp nạn kinh hoàng (gần như làm cỏ) mà Nguyễn Huệ đã gây ra cho Phật Giáo để có phương tiện tiến đánh quân Thanh, không được ai ghi lại một vài dòng, kể cả các “sử gia” Phật Giáo! Họ chỉ nói đến “Pháp nạn” dưới thời Ngô Đình Diệm!

(3) Tàu xây Ải Nam Quan như thế nào và các diễn biến về sau ra sao, đã được ghi rất tỉ mỉ trong chính sử của Tàu cũng như của ta. Công Ước Thiên Tân ngày 9.6.1885 giữa Pháp và Trung Hoa và các văn kiện đính theo đã gọi Ải Nam Quan là “Porte de Chine” (cửa của Trung Hoa) và vẽ nó nằm trên đất Trung Hoa. Ấy thế mà để “tố cộng”, các “sử gia” và các chiến sĩ chống cộng đã coi những văn kiện lịch sử và pháp lý đó như không có, cũng nhau ngồi “khóc Nam Quan”! Có “đại sử gia” còn biến hoá Ải Nam Quan ra hai phần, một phần nói là của Tàu và một phần nói là của ta, để cho “hợp với lòng dân”!

Bây giờ người Việt ở trong cũng như ngoài nước, gần như nhà nào cũng xem phim Đại Hàn, trong đó có nhiều phim lịch sử, chẳng hạn như Thời Đại Anh Hùng, Những Ngày Đen Tối, Jumong, Bài Ca Sơ Đông, Đại Hiệp Sĩ, v.v. Qua các bộ phim này, chúng ta thấy người Đại Hàn đã diễn tả rất trung thực lịch sử của họ: thời kỳ nào cường, thời kỳ nào nhược, những sự rối loại trong cung đình, những thủ đoạn gian ác áp chế dân lành của các quan lại phong kiến, những phương thức mà cha ông họ đã dùng để chống ngoại xâm… Nhờ diễn tả lịch sử một cách trung thực như vậy, người Đại Hàn ngày nay đã rút được kinh nghiệm lịch sử để xây dựng một đất nước Đại Hàn tốt đẹp hơn. Trái lại, sử của người Việt đã bị hai bên đối nghịch biến chế theo sở thích và theo nhu cầu chính trị, làm sao có thể dựa vào đó để rút kinh nghiệm của cha ông được?

NƯỚC TA KHỞI TỪ BÊN TÀU?

Theo truyền thuyết và dã sử, thời kỳ Hồng Bàng bắt đầu từ năm 2879 trước Tây lịch, thuộc niên đại vua Kinh Dương Vương, với quốc hiệu Xích Quỷ. Địa bàn của Việt Nam dưới thời Kinh Dương Vương nằm ở tận bên Tàu, rất rộng lớn: Phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía đông là Đông Hải, phía tây là Ba Thục (Tứ Xuyên), và phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành).

Nước Chiêm Thành lúc đó nằm ở đâu? Bộ “Phương Đình Dư Địa Chí” của Nguyễn Văn Siêu đã ghi lại như sau:

“Chiêm Thành: phiá đông giáp bể, phía Tây đến Vân Nam, phía nam giáp Chân Lạp, phía bắc liền Annam, phía đông bắc đến Quảng Đông...

Thật ra, phải đến thế kỷ thứ 13, nước ta mới có quan viết sử, nên những điều xẩy ra trước đó đều được chép lại theo tục truyền, không biết đúng được bao nhiêu phần trăm. Nhưng chắc chắn người Việt ngày xưa ở tận bên Tàu, sau đó trụt dần xuống phía nam. Tại sao như vậy? Cụ Trần Trọng Kim giải thích:

“Người nòi gióng Việt Nam ta mỗi ngày một nẩy nở ra nhiều, mà ở phía bắc đã có nước Tàu cường thịnh, phía tây thì lắm núi nhiều rừng, đường đi lại không tiện, cho nên mới theo bờ biển lấn xuống phía nam, đánh Lâm Ấp, dứt Chiêm Thành, chiếm đất Chân Lạp, mở ra bờ cỏi bây giờ.”

Đây là kiểu “Dùi đánh đục thì đục đánh săng (gỗ)” hay “Cá lớn nuốt cá bé”.

ĐỒNG TRỤ NẰM Ở ĐÂU?

Nước ta có ranh giới đầu tiên với nước Tàu là do Mã Viện ấn định. Lịch sử kể lại rằng dưới thời Đông Hán, năm 41 sau Tây lịch, vua Quang Vũ của Tàu sai Mã Viện làm Phục Ba Tướng Quân, sang đánh Trưng Vương, đem đất Giao Chỉ về lại cho nhà Hán (Thiền sư Lê Mạnh Thát nói chuyện này không có!). Mã Viện dời phủ trị về Mê Linh và dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới, khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”. Nghĩa là cây đồng trụ gãy thì người Giao Chỉ mất. Người Giao Chỉ đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá bồi đắp lên mãi thành gò đống cao, vì sợ cột đồng ấy bị đổ gãy.

Nhưng cột đồng này đã được dựng ở đâu?

Theo “Lĩnh Ngoại Đại Đáp” của Tàu (đời Đường) và “An Nam Chí Lược” của Lê Tắc, cột này được dựng ở Khâm Châu, trong vùng hang động Cổ Sâm.

Khâm Châu là một châu của Tàu nằm sát biên giới với Giao Chỉ, còn Cổ Sâm là một động của ta nằm sát biên giới Tàu.

Sách “Vân Đài Loại Ngữ” của Lê Quế Đường (tức Lê Qúy Đôn) có ghi: “Giữa đỉnh núi Phân Mao ở Khâm Châu có cột đồng to độ hai thuớc. Có lẽ đây là Mã Tống dựng lên.

Núi Phân Mao (Phân Mao lĩnh) ở đâu?

Sách “Dư Địa Chí” của Nguyễn Trãi viết:

Vân Cừ, Kim Tiêu, Phân Mao ở về Yên Bang (sau tránh húy đổi làm Yên Quảng). Vân Cừ là tên sông, tên khác của sông Bạch Đằng, Tiền Ngô Vương bắt Hoằng Tháo, Hưng Đạo Vương bắt Ô Mã Nhi đều ở đây. Phân Mao là tên núi, Kim Tiêu là cột đồng. Ở phía Tây lộ Hải Đông 300 dặm có đèo Phân Mao, ở nửa đèo có cột đồng của Mã Viện dựng, lớn chừng ba thước.

(Dư Địa Chí, Nguyễn Trãi toàn tập, bản dịch của NXB KHXH – Hà Nội, tr. 202)

Sách “Gia Khánh Trùng Tu Nhất Thống Chí”  của Nhà Thanh cho biết: Núi Phân Mao ở phía Tây Khâm Châu (nay là đất tỉnh Quảng Đông). Năm Tuyên Đức thứ 2 (1427) thời Minh, núi ấy thuộc vào châu Tân An của Giao Chỉ. Đến năm Gia Tĩnh thứ 21 (1542) Mạc Đăng Dung hàng, mới thuộc về nước Tàu.

Đồng trụ nếu to 2 thước ta (theo Lê Qúy Đôn) hay 3 thước ta (theo Nguyễn Trải) thì cũng rất lớn. Mỗi thước ta bằng 0,425 mét. Như vậy 2 thước là 0,850 mét và 3 thước là 1,275 mét.

Về sau, cả người Tàu lẫn người Việt đều không biết rõ đồng trụ nói trên nằm ở đâu. Sách “Khâm Định Việt Sử Thương Giám Cương Mục” có cho biết năm 1272, nhà Nguyên đã sai Ngột Lương sang Việt Nam hỏi giới mốc đồng trụ ngày trước ở đâu. Vua Trần Thánh Tôn đã sai viên phái Lê Kính Phu đi hội đồng khám xét. Lê Kính Phu tâu với Nhà Nguyên: “Chỗ cột đồng do Mã Viện dựng lên lâu ngày bị chìm lấp, nay không thể biết ở chỗ nào được”. Việc đó sau cũng thôi. (Quyển VII, tr. 219).

Thật ra, Mã Viện không phải chỉ dựng một đồng trụ ở Cổ Sơn. Ông đã mở mang bờ cỏi của nhà Hán, dựng lên một đồng trụ ở Đèo Ngang (giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình) và hai đồng trụ ở Bình Định. “Phương Đình Dư Địa Chí” của Nguyễn Văn Siêu cho biết: Sách Tần Thư Điạ Lý Chí ghi: Ở quận Nhật Nam có cột đồng từ đời Hán dựng làm địa giới. Sách Lâm Ấp Ký chép: Phía tây quận Nhật Nam có nước Tây Đồ Di, Mã Viện qua đất này dựng hai cột đồng nêu bờ cỏi nhà Hán.

Quận Nhật Nam lúc đó gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay (có tài liệu cho là đến tận cửa Đại Lãnh, Phú Yên). Vùng này là bắc Chiêm Thành.

Nhìn lại, nếu đồng trụ do Mã Viện dựng để phân ranh giới Việt – Trung mà còn thì nó cũng đã nằm trên đất Tàu, vì năm 1540 Mạc Đăng Dung đã giao vùng đất Cổ Sơn, nơi có đồng trụ, cho Trung Hoa rồi.

MẤT ĐẤT DƯỚI THỜI PHONG KIẾN

Nhiều người tưởng rằng, trong lịch sử, cha ông chúng ta luôn kiên cường dựng nước và giữ nước, không để mất một tấc đất nào. Thực tế không phải như vậy. Ngoài việc bỏ Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây chạy xuống Bắc Việt hiện nay, cha ông chúng ta còn phải chịu bị mất đất rất nhiều lần.

Mặc dầu Mã Viện đã dựng đồng trụ ở Phân Mao để đáng dấu ranh giới giữa Giao Chỉ và nước Tàu, những việc phân định ranh giới giữa hai nước không dễ dàng vì biên giới rất rộng lớn. Mỗi lần có tranh chấp, vua hay quan Tàu đều giàng quyền quyết định phần nào thuộc Tàu và phần nào thuộc ta.. Thí dụï năm 1442, nhà Minh gởi dụ cho vua Lê Thái Tông, nói rằng Chiêm Lãnh và Như Tích là thuộc Châu Khâm của Trung Quốc, do Hoàng Khoan cai quản, nên phải trả lại cho Trung Quốc. Năm 1547, Đô Đốc Mã của nhà Thanh gởi thư cho Chúa Trịnh và nói: “Từ Sa Châu trở ra ngoài đến Phân Mao - Đồng Trụ là đất của quý quốc cày cấy chăn nuôi từ lâu, cho về An Nam”.

Ngoài chuyện tranh chấp về vùng biên giới, các vua và quan Tàu luôn tìm cách chiếm thêm đất của nước ta. Tạm bỏ qua “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu” đi, chúng ta thấy từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 18, dưới các triều đại của Trung Quốc từ Tống, Nguyên, Minh đến Thanh đều đem quân xâm lấn Đại Việt. Nhà Tống xâm chiếm 2 lần, nhà Nguyên 3 lần, nhà Minh và nhà Thanh mỗi vương triều một lần. Ngoài những cuộc xâm chiếm đại quy mô như thế, các triều đại Trung Quốc cũng thường tìm cách cướp đất của người Việt ở vùng biên giới. Sau đây là một số thí dụ cụ thể:

1.- Mất hai động Vật Ác và Vật Dương.

Dưới thời nhà Tống, Quách Quỳ đã chiếm 4 châu và một huyện của Đại Việt là Quảng Nguyên,  Quang Lang, Tô Mậu, Môn, và Thuận châu. Sau đó, năm 1057 Nùng Tôn Đàn nộp động Vật Ác và năm 1064 Nùng Trí Hội nộp thêm động Vật. Dương. Vua Lý Nhân Tông phái sứ qua thương lượng nhiều lần, vua Tống chỉ chịu trả cho 4 châu và một huyện, nhưng không trả hai động Vật Ác và Vật Dương.

2.- Mất 59 thôn ở Cổ Lâu

Năm 1401, khi Hồ Hán Thương được Hồ Quý Ly nhường ngôi, đã sai sứ sang xin vua nhà Minh phong vương. Vua Thánh Tổ nhà Minh nghe tin ở An Nam đang có chuyện lộn xộn nên cho điều tra và biết được Hồ Quý Ly đã cướp ngôi nhà Trần. Nhà Minh muốn nhân cơ hội này đem quân sang chiếm nước An Nam, lấy lý do là để hạch tội Hồ Quý Ly. Khởi đầu, vào năm 1405 nhà Minh sai sứ sang đòi lại đất Lộc châu, tức Lộc Bình thuộc tỉnh Lạng Sơn ngày nay, viện lý do đất này trước đây thuộc châu Tự Minh của tỉnh Quảng Tây. Lúc đầu Hồ Quý Ly không chịu, nhưng thấy áp lực của nhà Minh quá nặng nên Hồ đã sai quan hành khiển là Hoàng Hối Khanh đến dàn xếp. Hoàng Hối Khanh quyết định cắt 59 thôn ở Cổ Lâu nhường cho Tàu. Hồ Quý Ly thấy cắt nhiều quá, có mắng Hoàng Hối Khanh. Tuy đã nhún nhường như thế, nhà Minh vẫn không chịu, đem binh qua chiếm nước ta.

3.- Mạc Đăng Dung giao hai châu và 4 động cho Tàu

Theo cuốn “Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí” của Phan Huy Chú, năm 1540 khi Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh, đã trao trả 2 châu và 4 động cho nhà Minh. Hai châu là Như Tích và Chiêm Lãng, và 4 động là Tê Phù, Kim Lạc, Cổ Sâm và Liêu Cát. Các lãnh thổ này được sát nhập vào châu Khâm của Tàu. Nhưng Mạc Đăng Dung không được nhà Minh phong vương mà chỉ phong làm Đô Thống Sứ.

4.- Mất 13 châu và 3 động.

Năm 1684, thổ quan huyện Khai Hóa của tỉnh Vân Nam đem quân chiếm ba động Vị Xuyên, Bảo Lạc và Thủy Vĩ thuộc tỉnh Tuyên Hưng của ta. Chúa Trịnh Thuận Đức cho sứ qua đòi lại nhưng nhà Thanh không trả.

Năm 1698 thổ quan tỉnh Vân Nam lại chiếm thêm ba động Ngưu Dương, Hồ Điệp và Phổ Viên thuộc tỉnh Tuyên Quang. Sứ thần Nguyễn Đăng Đạo đến Trung Quốc xin vua Khang Hy trả lại, nhưng vua từ chối. Chúa Trịnh Bính lại phái sứ khác qua nhà Thanh xin xem lại vụ này, nhưng quan Tuần Phủ Quảng Tây không cho đi. Từ đó, ba động này kể như mất luôn.

Năm 1781, dưới thời Tây Sơn do Nguyễn Nhạc lãnh đạo, Hoàng Công Thư đã đem 10 châu của nước Việt nộp cho Tổng Đốc tỉnh Vân Nam. Triều đình ta gởi thư yêu cầu Tổng Đốc Vân Nam xét lại biên giới. Tổng Đốc Vân Nam trả lại thư và nói rằng biên giới tự nhiên không cần vạch lại.

Trên đây là một số vụ mất đất điển hình trong thời phong kiến.

MẤT ĐẤT DƯỚI THỜI XHCN

Có thể nói, nếu không có Pháp xâm chiếm và đô hộ nước ta, khó mà ấn định được đường ranh giới hợp lý và khoa học trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và Trung Hoa.

Sau nhiều lần thương lượng rất gay cấn, kể cả dùng sức mạnh quân sự, ngày 9.6.1885 nhà cầm quyền Pháp và Trung Hoa đã ký Công Ước Thiên Tân về biên giới Việt – Trung được gọi là “Hiệp Ước Hòa Bình, Hữu Nghị và Thương Mại” (Traité de Paix, d'Amitié, et de Commerce). Công ước này đã được bổ túc do công ước ngày 26.6.1887 và công ước ngày 20.6.1895.

Mặc dầu có những hiệp ước ấn định ranh giới một cách rõ ràng nói trên, kể từ năm 1954, sau khi Pháp rút khỏi miền Bắc, Trung Quốc bắt đầu xâm phạm biên giới Việt Nam. Những vụ xâm phạm này đã được nhà cầm quyền Hà Nội ghi rõ trong tập “Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc”, do nhà xuất bản Sự Thật của Hà Nội xuất bản năm 1979, sau khi Trung Quốc đem quân “dạy cho Việt Nam một bài học.” Trong “Lời Nhà Xuất Bản”, nhà xuất bản Sự Thật nói rõ đây là toàn bộ “Bị vong lục của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc nhà cầm quyền Trung Quốc gây khiêu khích, xâm lăng lãnh thổ Việt Nam ở vùng biên giới”.

Vì tập sách khá dài, chúng tôi chỉ ghi lại những điểm chính. Trong phần “Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay”, nhà cầm quyền Hà Nội cho biết thủ đoạn lấn chiếm đất của Trung Quốc như sau:

(1) Từ xâm canh, xâm cư, đến xâm chiếm đất (tr. 8).

(2) Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữa nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam (tr. 10).

(3) Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam (tr. 11).

(4) Từ mượn đất của Việt Nam đến biến thành lãnh thổ của Trung Quốc (tr. 12).

(5) Lợi dụng việc vẽ bản đồ giúp Việt Nam để chuyển dịch đường biên giới, điển hình là đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53), nơi chúng định chiếm một phần thác Bản Giốc và cồn Pò Thông (tr.14)...

Sau đây là một số trích đoạn được trích dẫn:

1.- Từ xâm canh, xâm cư đến xâm chiếm đất.

Tài liệu cho biết:

“Lợi dụng đặc điểm là núi sông hai nước ở nhiều nơi liền một dải, nhân dân hai bên biên giới vốn có quan hệ họ hàng, dân tộc, phía Trung Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh thổ Việt Nam để làm ruộng, làm nương rồi định cư những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng nương, cuối cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ngang ngược coi những khu vực đó là lãnh thổ Trung Quốc.”

Một thí dụ cụ thể: Từ năm 1956 phía Trung Quốc tìm cách nắm số dân Trung Quốc sang làm ăn ở Trình Tường bằng cách cung  cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường, vải và nhiều hàng khác, đưa họ vào công xã Đồng Tâm thuộc huyện Đông Hưng, khu tự trị Choang-Quảng Tây. (tr. 8 và 9)

2.- Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữu nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam.

“Năm 1955, tại khu vực Hữu Nghị Quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới Việt-Trung đến Yên Viên gần Hà Nội, lợi dụng lòng tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam trên 300m so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên giới giữa hai nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã đề nghị Chính phủ hai nước giao cho ngành đường sắt hai bên điều chỉnh lại điểm nối ray cho phù hợp với đường biên giới lịch sử nhưng họ một mực khước từ bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn bộ vấn đề biên giới thì sẽ xem xét...” (tr.10)

3.- Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam.

“Trên đoạn biên giới đất liền cũng như ở các đoạn biên giới đi theo sông suối, tại nhiều nơi, phía Trung Quốc đã tự tiện mở rộng xây dựng các công trình để từng bước xâm lấn đất.

“Tại khu vực mốc 53 (xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 20.2.1970 phía Trung Quốc đã huy động trên 2.000 người kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong, và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc... (tr.11 và 12).

Trên đây chỉ là một vài thí dụ cụ thể. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.

LỆNH PHẢI GIỮ ĐẤT

Năm 1473 khi Lê Duy Cảnh, Thái bảo kiến dương bá, đi trấn giữ ở vùng biên giới giáp với tỉnh Quảng Tây, vua Lê Thánh Tông đã trao cho ông một sắc dụ, trong đó viết:

Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.

Lữ Giang



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Happy New Year 2021 [31.12.2020 19:18]
Giáng Sinh buồn [24.12.2020 20:49]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Mỹ tăng cường cáo buộc COVID-19 thoát' từ phòng thí nghiệm Vũ Khí Sinh Học Quân ĐộiTrung Quốc, kêu gọi toàn nhân loại tẩy chay hàng hóa và người TQ [NEW]
TT Trump lên tăn-xông, trở nên nguy hiểm, đơn độc trong tòa Bạch Ốc, nổi giận vì bị luận tội lần 2, luật sư chê!
Mỹ ẩn ý khuyến khích VN giải phóng Hoàng Sa và Trường Sa khỏi TQ, ra đòn kinh tế trựng trị công ty Giàn khoan Hải Dương 981 của Tàu Cộng
Ông Trump bị gọi là ‘tổng thống tồi tệ nhât’ lịch sử nước Mỹ
Nước Mỹ trong giai đoạn đen tối từ khi bạo loạn do TT Trump xúi giục - Trump có thể kích hoạt chiến tranh hạt nhân để giữ ghế TT
Cả thế giới khiềp sợ virus SARS-CoV-2 vũ khí sinh họcTQ cực độc tàn sát hàng triệu người!
Thảm cảnh nô lệ tình dục xuát khẩu thời XHCN: Dâu Việt ôm con nhảy lầu 8 tự tử vì bị chồng bạo hành sống sốt bị toà án Hàn Quốc bỏ tù 3 năm
Thảm họa CoVid tại MỸ thời đại Trump: Gần 300,000 người nhiễm 4500 người chết mỗi ngày tiếp tục gia tăng, khu Nam Cali nơi đa số người Việt sống nhà quàn quá tải
Tap Cẩn Bình điện Putin chúc mừng bất chiến Mỹ tự nhiên thành, Nga và TQ ăn mừng có nội gián Trump phá hoại nền Dân Chủ Mỹ và thế giới tự do
Trump mất cả lưỡng Viện: Đảng Dân chủ thắng 2 ghế Georgia - Quốc hội tốc hành thủ tục luận tội cách chức Trump
Dự án xây dựng tượng đài Tội Ác CSVN
CHXHCN Việt Nam 2021: Bảy điều ước của người dân nhược tiểu
Cuồng nhiệt trung thành tham gia diễn hành ủng hộ TT Trump, công đồng người Việt tại California nhiễm CoVid nặng nhất tại Mỹ
Chống dịchTàu cứu nhân loại
Ca sỹ Lệ Thu nhiễm Covid, gia đình ‘cầu nguyện và hy vọng’

     Đọc nhiều nhất 
Ngoại trừ CĐVN, Người Mỹ gốc Á đặt hy vọng vào chính quyền Biden [Đã đọc: 525 lần]
Hải ngoại cùng lên tiếng cứu Tù nhân Trần Huỳnh Duy Thức đang 'tuyệt thực, gia đình lo lắng [Đã đọc: 452 lần]
Đám tang nghệ sĩ Chí Tài [Đã đọc: 401 lần]
Tin mới: Tối cao Pháp Viện bác đơn Trump sắp về vườn - CoVid tấn công: Tổng thống Trump nhận tin cực buồn, nhóm pháp lý ở các chiến dịch đối mặt nguy cơ như 'rắn mất đầu' [Đã đọc: 376 lần]
Nghị sĩ Mỹ nói Trung Quốc ‘có 5.000 năm lừa bịp’, người gốc Hoa và VC xuống đường phản đối [Đã đọc: 376 lần]
TT Trump và tam nhân bang tham mưu sáp thiết quân luật đảo chánh đảo ngược kết quả bầu cử [Đã đọc: 355 lần]
Tin buồn Trump: Thôi rồi, tòa án Tối cao Mỹ bác đơn kiện của Texas về bầu cử [Đã đọc: 350 lần]
Phó thống đốc ngân hàng Na Uy mất việc vì ham của lạ lấy vợ TQ [Đã đọc: 338 lần]
Hãy cẩn thận với các mỹ nữ điệp viên đa dâm TQ [Đã đọc: 336 lần]
Nhạc sĩ Lam Phương qua đời [Đã đọc: 301 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.