Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Chín 2021
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30      
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 7
 Lượt truy cập: 19253206

 
Văn hóa - Giải trí 18.09.2021 12:45
Hậu quả khi đát nước bị bọn thủ cưụ lãnh đạo
13.04.2021 22:44

                   CŨNG MAY LÀ ĐƯỢC PHÁP ĐÔ HỘ CÒN HƠN NÔ LỆ CHO TÀU  1. Đúng là Pháp có đô hộ, khai thác tài nguyên và che đậy bằng chiêu bài "Văn minh khai hóa" nhưng suy cho cùng Pháp có ăn nhưng không ăn cả cứt như thằng Tàu. Bằng chứng là các công trình kiến trúc qui hoạch điển hình và đẹp nhất ở Việt Nam đến giờ vẫn mang đậm dấu ấn của người Pháp. 

    
Thử hỏi hàng ngàn năm thằng Tàu đô hộ, nó đã để lại gì hay chỉ chém giết đập phá cùng những u mê thống khổ và mặc cảm nhược tiểu, thần phục?
Có lẽ lúc bấy giờ nhiều nhân sĩ trí thức cấp tiến khi tận mắt Pháp tiến vào VN cùng những phương tiện văn minh phương Tây, cũng đã nhận ra rằng nếu cứ học và làm theo kiểu cũ thì chắc chắn sẽ lạc hậu và mất nước, vì vậy nhiều người đã ra nước ngoài du học như các cụ Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Lộ Trạch... và sau đó đã khẩn thiết trình lên vua và triều đình xin học theo phương Tây như người Nhật để canh tân đất nước.
Đặc biệt cụ Nguyễn Trường Tộ, một người cực kỳ tài giỏi, thông thạo Kinh tế, Quân sự, Chính Trị, Văn hóa, Khoa học kỹ thuật… đã gửi lên triều đình gần 30 bản điều trần, kế hoạch, đề nghị rất chi tiết để cải cách đất nước, không kém gì cuộc cải cách của Minh Trị Thiên Hoàng của Nhật Bổn, nhưng Vua và triều đình quá u mê nên tất cả các thỉnh cầu của cụ đều bị bỏ qua.
Nghe nói vua Tự Đức có gặp cụ, nói chuyện và khen ngợi, nhưng vua lại yêu cầu cụ phải bỏ đạo để có thể nắm quyền hành cao hơn, mà theo vua như vậy thì bọn quan lại hủ bại kia mới nghe theo. Tất nhiên, cụ từ chối.
 
2. Nhìn lại hệ thống giáo dục dưới thời Nguyễn so với thế giới bấy giờ là vô cùng lạc hậu và bảo thủ. Quanh đi quẩn lại cũng chỉ có 2 loại sách : Sách của người Việt soạn: Nhất thiên tự, Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, Sơ học vấn tân, và Ấu học ngũ ngôn thi.
Còn lại là sách của Tàu: Thiên tự văn, Hiếu kinh, Minh tâm bảo giám, Minh đạo gia huấn, và Tam tự kinh. Cao hơn là Tứ Thư, Ngũ Kinh và vài quyển Nam, Bắc sử. Có thể nói là lạc hậu cả ngàn năm.
Sau khi bị Pháp đánh tơi bời, triều đình ít nhiều cũng có nhận ra vấn đề tụt hậu của giáo dục nên đã cử học sinh sang Anh, Pháp, Hương Cảng học, nhưng kết quả thu được cũng không nhiều vì phe bảo thủ trong triều quá đông.
Năm 1878, cụ Phạm Phú Thứ, một đại thần yêu nước, mang tư tưởng canh tân, đã cho mở một trường học tiếng Pháp và Tây Ban Nha ở Hải Dương, đây có thể là trường đầu tiên ở miền Bắc.
 
3. Năm 1875, một phái đoàn ngoại giao Đức từ Hương Cảng đến VN, có đề nghị giúp triều đình cải cách giáo dục, kỹ thuật, in ấn (ra báo in). Đức lúc ấy cũng không ưa Pháp, muốn tạo ảnh hưởng ở VN, vua quan bàn tính tới lui rồi chả đâu vào đâu. Thất vọng, phái đoàn Đức quay vào Sài Gòn.
Sau khi phái đoàn Đức đi, một số quan đại thần có tư tưởng canh tân cũng nói với vua Tự Đức về vận mệnh nước nhà nếu không đổi mới, trước đó, cụ Phạm Phú Thứ và cụ Nguyễn Trường Tộ xin với một vị đại thần có uy tín trong triều về việc cử người sang Mỹ bang giao, Mỹ lúc này đang có chiến tranh với Pháp ở Mê-xi-cô nên chắc cũng sẽ giúp VN. Vua Tự Đức đồng ý và cử cụ Bùi Viện tìm đường sang Mỹ. Đáng tiếc là vua còn nước đôi, cử nhà ngoại giao đi nhưng không cấp quốc thư, vì một là sợ Pháp tóm được thì nguy; hai là theo kiểu tư duy láu cá của nhiều người Việt là đu dây chờ thời: cứ từ từ xem thế nào rồi hẵng tính.
Cụ Bùi Viện đến Hương Cảng (tháng 8/1873), gặp được Lãnh sự Mỹ, viên lãnh sự quý cụ, viết thư cho một người ở Mỹ, người này sẽ giúp cụ gặp Tổng thống Mỹ lúc ấy là Ulysses Grant (nhiệm kỳ 1868-1876).
Cụ Bùi Viện sau đó đã đi qua Yokohama (Nhật Bổn) để đáp tàu sang Mỹ, rồi lưu lại ở Mỹ mất một năm vận động mới được gặp Tổng thống Ulysses Grant. Cụ được chứng kiến người Nhật đã canh tân đất nước thế nào, cụ cũng đi nhiều nơi ở Mỹ để học tập, tiếp xúc với nhiều người Nhật sang Mỹ học tập. Cụ ghi chép và thấy điều quan trọng nhất phải làm là thay đổi ngay nền giáo dục quá lạc hậu lúc bấy giờ.
Nhưng khi gặp được TT Mỹ thì lại không có Quốc Thư, cơ hội ngàn năm đành bỏ phí. Cụ đành xin hẹn TT Mỹ quay về để lấy, hồi đó sang Mỹ đâu có dễ như bây giờ, nên cụ vội vã về, xin vua, vua cấp ngay Quốc Thư, cụ lại qua Mỹ, nhưng TT Mỹ do chiến thắng chiến tranh ở Mê-xi-cô nên hết ghét Pháp, không muốn giúp đánh Pháp nữa. Chỉ nhận đào tạo giúp như kiểu Nhật thôi. Thế mới biết bỏ lỡ cơ hội phí thế nào!
Sau chuyến đi cụ Bùi Viện tấu trình mọi thứ tai nghe mắt thấy với vua, vì thế, nhân khoa thi Đình, 1877, đích thân vua ra đề, như sau: "Nước Nhật Bản theo học các nước Thái Tây mà nên được phú cường. Vậy nước ta có nên bắt chước?".
Than ôi, có lẽ vì đã quen Tam tự kinh, giờ lại phải học thêm Toán, Lý, Hóa… thì ngại quá nên hầu hết thí sinh đều phản đối và viết rằng Nhật Bổn tuy hùng cường hơn nhưng lại học theo lối phương Tây, ăn bánh mì, uống sữa ống bơ, cắt tóc, mặc áo Tây hóa ra thành man di, mọi rợ. Nước ta là nước nhỏ nhưng giờ mà thay đổi thì dù có phú cường cũng lại hóa ra mọi rợ hay sao? Thế là toang!
 
4. Như vậy là mọi cố gắng học theo người Nhật để canh tân đất nước của các cụ nhà ta không thành, nhưng trong cái rủi vẫn có cái may. May là được Pháp đô hộ mà ta có cả một hệ thống đường sắt, đường bộ, cầu cống, nhà máy điện, sân bay, bến cảng… cho đến nay vẫn còn hữu dụng. Và quan trọng là hệ thống giáo dục đào tạo rất bài bản từ phổ thông, dạy nghề đến Cao đẳng, Đại học cùng một đội ngũ trí thức Tây học làm nòng cốt trong xây dựng đất nước ở cả 2 miền Nam Bắc. Và cũng đừng quên cái “dã tâm” của Pháp là đã bắt buộc đưa chữ Quốc ngữ vào thay cho chữ Hán trong các văn kiện chính thức và dạy trong các trường học. Thử nghĩ nếu không phải là Pháp mà vẫn là thằng láng giềng "4 tốt, 16 chữ vàng" thì chắc chắn ta đã khóc bằng tiếng Tàu từ lâu rồi!



Một ngàn năm nô lệ giặc tầumột trăm năm đô hộ giặc tâyhai mươi năm nội chiến từng ngàygia tài của mẹ, để lại cho congia tài của mẹ, là nước Việt buồnNột ngàn năm nô lệ giặc tầumột trăm năm đô hộ giặc tâyhai mươi năm nội chiến từng ngàygia tài của mẹ, một rừng xương khôgia tài của mẹ, một núi đầy mồDạy cho con tiếng nói thật thàmẹ mong con chớ quên màu dacon chớ quên màu da, nước Việt xưamẹ mong trông con mau bước về nhàmẹ mong con lũ con đường xaôi lũ con cùng cha, quên hận thùMột ngàn năm nô lệ giặc tầumột trăm năm đô hộ giặc tâyhai mươi năm nội chiến từng ngàygia tài của mẹ, ruộng đồng khô khangia tài của mẹ, nhà cháy từng hàngMột ngàn năm nô lệ giặc tầumột trăm năm đô hộ giặc tâyhai mươi năm nội chiến từng ngàygia tài của mẹ, một bọn lai cănggia tài của mẹ, một lũ bội tình -- TRỊNH CÔNG SƠN


1000 năm nô lệ giặc Tàu, 100 năm đô hộ giặc Tây, 45 năm đô hộ giặc Cộng...

< A >
Nguyễn Dân (Danlambao) - Lịch sử đất nước VN, trải qua trên 4.000 năm, kể từ khi dựng nước - thời thưở Hùng Vương cho đến tận hôm nay - Một lịch sử oai hùng, dù trải lắm gian truân khổ ải, nhưng không thể bị tận diệt.

“Dẫu cường nhược có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có - Thế giặc mạnh, ta yếu, mà ta địch nổi, quân giặc nhiều, ta ít, mà ta được luôn...” (Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trải).

Dân tộc Việt Nam, một dân tộc chưa bao giờ yếu hèn, khuất phục. Đó là truyền thống bất khuất chống xâm lược tự ngàn đời để lại. Thì tại vì sao, hiện nay, nước Tàu Cộng không ngừng lấn chiếm mà ta lại khuất phục ươn hèn?

Câu hỏi không khó trả lời: Vì đất nước này, dân tộc ta đang dưới sự đô hộ của đảng CSVN.

Chủ đề bài viết trải dài lịch sử nước nhà thì quá xa, quá rộng. Xin chỉ được tóm tắt để đi vào ý chính: đảng CSVN, kẻ đô hộ dân tộc xuyên suốt 45 năm.

Nô lệ giặc Tàu:

VN - qua bao lần đổi thay quốc hiệu: từ Văn Lang, Việt Thường, Âu Lạc... dài đến sau này, trải qua trên 4.000 năm, lần lượt đã bị xâm lăng và nô lệ từ phương Bắc - nói chung là giặc Tàu - không biết bao lần bị chiếm, bị nô lệ. Và rồi dân tộc vùng vẫy chống xâm lăng, đuổi giặc ngoại xâm giành độc lập, tự do, giữ yên bờ cõi xuyên suốt qua thời đại lịch sử.

Giặc Tàu đông, giặc Tàu mạnh, và giặc tàu tàn bạo ác độc khôn lường, và với dã tâm thôn tính, tiêu diệt một xứ sở nhỏ bé. Vây mà, vẫn không diệt được. Dân tộc vẫn tồn tại vững vàng.

Đô hộ giặc Tây:

Thời đại về sau, trước văn minh cơ khí, trước tham vọng chinh phục đô hộ từ khá nhiều cường quốc phương Tây, thực dân Pháp xâm chiếm và đặt nền đô hộ VN cả trăm năm (từ 1858...)

Một dân tộc cũng rất là thảm thương dưới gót giày quân xâm lược: bao nỗi thống khổ đọa đày, bao lầm than cơ cực, bao chết chóc khổ nghèo, dù rằng thực dân cũng xây dựng cho một đất nước lạc hậu trở nên phát triển với dụng tâm dễ bề thống trị dài lâu - thực dân Pháp rồi đến đế quốc Nhật - Vậy mà... quân xâm lược cũng bị đánh đuổi ra đi, dân tộc VN thu hồi độc lập.

Độc lập có lại được là do ai? Không ai ban phát, không ai rộng lượng cho không. Tình thế đã mang lại. Cũng từ sự lâu bền quật khởi, nhờ ý chí kiên cường, không yếu hèn, không khuất phục. Do nhờ cả một dân tộc vẫn luôn là bất khuất, vùng lên.

Người CS, nói chung là đảng CSVN, với tham vọng nhận làm tay sai cho cộng sản quốc tế, (thừa gió bẻ măng) xách động hô hào kêu gọi làm cách mạng dân tộc, đánh đuổi giặc Pháp để giành lấy độc lập tự do, như họ nói, là một luận điệu bỉ ổi, một cướp công trạng, công lao, và đặt vào đất nước, dân tộc (VN) một nền đô hộ mới, xuyên suốt ròng rã mấy mươi năm chưa dứt.

Đô hộ giặc Cộng:

Giặc Cộng đây là: giặc cộng sản Tàu và CSVN - một đảng được thành lập từ 90 năm trước đây (1930) - xuyên suốt cả gần thế kỷ, mang về và thực thi một chủ nghĩa ngoại lai, không ngừng gieo rắc khổ đau và tàn hại cả một đất nước, dân tộc.

Toàn dân VN đã nhận chịu không biết bao nhiêu là lừa phỉnh, dối gian, bạo tàn, ác độc. Sự ác độc cho đến bây giờ, được biết là: vô cùng khủng khiếp, tàn bạo ác độc vô vàn, vượt xa bao thời đại.

Nói mà chẳng sợ nói ngoa: xin được phần nào so sánh, liệt kê, dẫn chứng qua dòng lịch sử:

- Ngày xưa, nô lệ Tàu: Tàu bắt dân ta lên rừng, xuống biển tìm lấy của quí đem dâng nạp cho Tàu. Đày ải và bắt dân làm mọi thứ, cuộc đời khổ cực, lầm than, với đủ mọi thứ ác độc... Tuy nhiên, so với bao cái ác vẫn còn sơ khai, chưa tinh xảo, chưa giết cùng, diệt tận, chưa sưu tra tìm kết tội lý lịch ba đời, người dân vẫn còn kẻ hở mà trốn chạy, tồn sinh? Bây giờ, nhìn “tận diệt” của CSVN thì phải biết.

- Cũng ngày xưa, thời kỳ đô hộ Pháp - như đã nói - thực dân Pháp giết nhưng còn tha, bóc lột nhưng cũng còn có kiến thiết xây dựng (bằng chứng với bao công trình phát triển tồn tại đến ngày nay).

“Bản án chế độ thực dân Pháp” mà HCM phổ biến, có lẽ còn thua xa kết tội “Địa chủ ác ghê” (tội ác do đặt điều, bịa chuyện), để từ đó mà cứ cho chặt đầu không thương tiếc 172.008 người bị thác oan. Cũng không ngừng tại đó, mà 20 năm sau, hằng bao triệu người chết thảm thê khắp cùng đất nước.

- Vụ cướp đất ở “đồng nọc nạn”, dẫu sao cũng còn được xử lại để được minh oan, trị tội. Thời thực dân là vậy. Thời đô hộ CSVN, cướp đoạt, oan khiên khắp cùng đất nước. Có vụ nào được xét xử công minh? Không hề có!

- Thời Pháp đô hộ là: sưu cao thuế nặng. Đô hộ ngày nay: nhũng lạm khắp cùng.

- Thực dân Pháp khi xưa: bắt dân đi phu xứ người. Ngày nay: “xuất khẩu lao động”, “lấy chồng, làm điếm” nước ngoài - ai khổ hơn ai?

- Đô hộ thực dân Pháp là: bốc lột. Bây giờ là: cướp - cướp đêm, cướp ngày, cướp lớn, cướp nhỏ, cướp bằng chính sách: cướp đất đai, tài sản, cửa nhà, cướp tài nguyên, quặng mỏ... cướp sạch sành sanh mọi thứ. Ai bốc lột và cướp bóc hơn ai?

- Đô hộ thực dân là ác. Đúng! Ác kinh khủng, ác vô cùng. Nhưng rồi, CS ta chẳng những “ác” mà “gian”: gian dối, gian manh, gian lận, gian tham... Gian kinh hoàng, giang vô cùng tận - đã gian mà xảo - “Xảo” trong thời “đô hộ mới” là nói:“yêu nước thương dân”: Vì dân phục vụ, vì dân hy sinh để dân chết dần và bán nước.

- Lòn cúi, rước giặc (Tàu cộng) vào nhà để củng cố lợi quyền, để tiếp tục giàu có vinh sang, để giữ vững ngôi vị, và để cùng đô hộ, giết cả dân tộc.

Lời cuối:

Hỡi những người đang cai trị đất nước - hay đúng hơn là một đảng cầm quyền đang đô hộ dân tộc hiện nay - Qua trên 45 năm, từ ngày được gọi là “thắng lợi hoàn toàn” và thống nhất đất nước, các người cai trị bằng sự “đô hộ”.

Một đất nước, dân tộc do các người đô hộ: ác ôn và tàn độc gấp trăm lần đô hộ thực dân. Ngày hôm nay, đất nước, dân tộc đang trước đà tận diệt tiêu vong. 45 năm, các người đã tận thu hết sạch: cướp sạch, lấy sạch (và còn toa rập với Tàu để rồi... giết sạch). Một đất nước tan hoang, còn chăng là bao cảnh điêu tàn, tan tác (nhìn vào đồng ruộng hiện nay, nhìn vào biển đảo, sông ngòi...). Còn chăng là những xác thân, người dân đói khát đang vất vưỡn lê la kiếm sống từng ngày?

Các người vẫn cứ rắp tâm nhu nhược, yếu hèn, cúi lòn mong thỏa hiệp với kẻ thù truyền kiếp (Tàu cộng) để chuyển giao dân tộc biến thành nô lệ!

Biển Đông dậy sóng, quân giặc ngập tràn, các người đành phó mặc. Biên giới bỏ ngõ, kẻ địch lấn chiếm, các người thản nhiên - Thản nhiên để lo củng cố đảng, thản nhiên mà bán nước, hại dân...

Và... toàn thể dân tộc Việt Nam sẽ phải làm gì? Bất khuất, vùng lên hay cam tâm khuất phục?

21.07.2020


1.000 năm chống Tầu, 100 đô hộ Tây: Thực chất và huyền thoại (4a)

Nguyễn Văn Lục

Pagode De MOT COT couleurNếu so với cuộc sống ngoài Bắc bữa no bữa đói, lo từng bữa thì đây phải nói là thiên đàng. Những điều gì khác với điều tôi viết thường là do cộng sản lúc bấy giờ tuyên truyền. Không có sốt rét, ngã nước cái con mẹ gì hết!

Trước 1975, có một bài hát của Trịnh Công Sơn (TCS), Gia tài của mẹ, do Khánh Ly hát thấm đẫm tình tự dân tộc, nói lên tâm trạng tủi nhục của người dân trong một nước nhược tiểu.

Bài hát với nội dung như sau:

“Một ngàn năm nô lệ giặcTầu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngăy
Gia tài của mẹ để lại cho con
Gia tài của mẹ một nước Việt buồn…”

Tuy nhiên, bên cạnh tiếng nói thốt lên từ bom đạn của một người nghệ sĩ, còn có tiếng nói của lịch sử, và lịch sử có tiếng nói riêng của nó, và đó là trọng tâm của bài viết này.

Bởi vậy, cũng cần nhắc lại ở đây, về phía người cộng sản, sau 1975, họ cũng nhắc lại quá khứ lịch sử Việt Nam, cũng 1000 năm chống Tầu, cũng 100 năm chống Tây.

Dĩ nhiên, tiếng hát của TCS và quan điểm trình bày của người cộng sản không cùng tần số: một bên tình tự dân tộc, một bên là tham vọng chính trị.

Vậy thì đâu là sự thật lịch sử? Sự thật lịch sử có thể không nằm ở cả hai phía! Một bên coi là nô lệ, bên kia coi là chiến đấu!

Người ta còn nhớ Tổng Bí thư đảng CSVN Đỗ Mười, một trong những nhân vật Việt Nam quan trọng hàng đầu của cộng sản, ngay cả khi ông ta đã về hưu, đã có dịp ghé Singapore vào tháng 10-1993. Ông đã than thở với ông Lý Quang Diệu như sau:

Đỗ Mười. Nguồn: o­ntheNet
Đỗ Mười. Nguồn: o­ntheNet

“He spoke with sorrow about Vietnam’s unhappy past – 1.000 years spent fighting China, another 100 years fighting French colonialism and imperialism, then fighting for independence after world war II. They have had to fight the Japanese, the French, the Americans, and later the Pol Pot clique. He did not mention China’s attack in 1979. For 140 years, the Vietnamese had successfully waged wars to liberate their country. Their war wounds were deep, their industries weak, their technology backward, their infrastructure deplorable.”(1)

“Ông ta [Đỗ Mười] buồn rầu phàn nàn với tôi về số phận không may của Việt Nam trong quá khứ. 1.000 năm phải lo chống Tầu, còn lại 100 năm nữa lo chống thực dân và đế quốc Pháp, rồi tranh đấu dành độc lập sau thế chiến thứ hai. Họ phải lo chống Nhật, chống Pháp, chống Mỹ và sau này chống tập đoàn Pol Pot. Ông ta đã không đả động gì đến cuộc tấn công của Trung Quốc năm 1979. Trong suốt 140 năm, người Việt Nam đã thành công tiến hành một cuộc chiến tranh giải phóng xứ sở của họ. Vết thương chiến tranh còn lâu mới lành được, kỹ nghệ của họ còn yếu kém, kỹ thuật còn lạc hậu, cơ cấu hạ tầng thật đáng tội.”

Đây là một luận điệu quá quen thuộc của người cộng sản.

Một mặt đổ vấy cho chiến tranh mọi hậu quả tai hại của nó, một mặt tránh né mọi trách nhiệm mà họ là kẻ chủ chốt gây ra. Mặt khác, họ lại tự hào đến lố bịch về khả năng chiến thắng mọi thế lực thù địch trên thế giới, ngay cả Trung Hoa nếu Trung Quốc xâm phạm đến chủ quyền của Việt Nam.

Ông Lý Quang Diệu, trong lần gặp gỡ lần đầu tiên với thủ tướng Phạm văn Đồng đã đưa ra một vài nhận xét vắn gọn, cho thấy sự kiêu căng đến vô lý cũng như lý luận cứng nhắc cù nhầy của người cộng sản như sau:

Phạm Văn Đồng đến Singapore gặp Lý Quang Diệu. Nguồn: kinhnghiemsingapore.wordpress.com
Phạm Văn Đồng đến Singapore gặp Lý Quang Diệu (1978). Nguồn: kinhnghiemsingapore.wordpress.com

“He came o­n 16 October 1978. I found him arrogant and objectionable. […] Now, Pham Van Dong, an old man of 72, showed that he was tough as nails. (…) Singapore had benefited from the Vietnam war, selling the Americans war material, hence it ours duty to help them. I was dumbfounded by their arrogant and belligerent attitude.”(2)

Ông ấy đến thăm Tân Gia Ba vào ngày 16-10-1978. Tôi nhận thấy ở ông một thái độ trịch thượng đến chướng mắt. […] Phạm Văn Đồng lúc ấy là một ông già đã 72 tuổi mà vẫn còn tỏ ra cứng như đinh. (…) Ông cho rằng Tân Gia Ba đã được thừa hưởng những lợi nhuận từ chiến tranh Việt Nam, như bán các vật liệu chiến tranh cho Mỹ, nay thì đến lượt Tân Gia Ba có bổn phận phải giúp đỡ họ. Tôi thật điếng người đi trước thái độ trịch thượng và hiếu thắng của họ.

Bài này viết nhằm nhìn lại, bạch hóa những ngộ nhận nhằm xóa trắng lịch sử, che đậy những ý đồ đen tối về lịch sử dân tộc Việt.

Về 1000 năm nô lệ giặc Tầu

Nước ta và nước Tầu trong 2000 lịch sử, ta ở phương Nam, Tầu ở phương Bắc. Thật sự cái biên giới nó không phân định đơn giản và cố định như thế. Không có cái kiểu phân định rõ rệt: Nam Quốc sơn hà Nam đế cư. Nói như thế, ta nói lấy được mà thôi!

Ngược lại, lịch sử cho thấy các vùng địa lý hai bên Bắc-Nam thay đổi từng thời kỳ, thay đổi liên tục.

Nếu may ra có được một cái gọi là biên giới thì đó là một thứ biên giới không phân định (amorphous boundary) giữa Nam Bắc.

Nhưng nói chung hai bên đã có những liên hệ sống còn-vital region- liên ngành không tránh được về mặt địa lý, về xã hội, về văn hóa và nhất là về chủng tộc.

Người Tầu có cách phân định dòng giống Tầu -Hán tộc – Sinitic chính gốc và vùng biên địa – thuộc dòng man di, mọi rợ (non-Sinitic).

Nước ta thuộc vùng biên địa được kể là giống dân còn man di, mọi rợ!

Hãy khoan bàn đến đúng sai về nhận định của người Tầu!

Mới đây, tôi được đọc một tài liệu nhan đề Imperial China and Its Southern Neighbours(3) Cuốn sách có sự cộng tác của nhiều nhà sử học trên thế giới. Nhờ cuốn sách này đã giúp người đọc như tôi có những điểm nhìn trung thực hơn về sử học và về mối quan hệ Việt-Trung.

Và cũng hy vọng những người viết sử Việt Nam có cái nhìn khiêm tốn và khách quan hơn về sử Việt – tránh lối viết khống, khoác lác, không tài liệu dẫn chứng – viết cái gì ta cũng nhất, ta “đứng vững ngàn năm” như kiểu tác giả Ngô Nhân Dụng.

Trong lời đề tựa của cuốn sách, người chủ biên tập sách – ông Victor H. Mair, giáo sư đại học Pennsylvania đưa ra một vài nhận xét chủ chốt giúp người đọc hiểu được mối liên hệ Bắc-Nam như sau:

Thứ nhất, có một sự lấn lướt tiệm tiến của phía Bắc dần xuóng phía Nam vì có sự tranh chấp nội bộ mà có xu hướng chuyển dịch xuông phía Nam tìm một sự ổn định hơn. Dựa trên tài liệu của Harold J. Wiens trong cuốn: China’s March toward the Tropics – xuất bản 1954 và một tài liệu khác: C.P. Fitzgerald với cuốn The Southern Expansion of the Chinese People (1972).

Tác giả Victor H. Mair giải thích lý do tại sao có sự bành trướng của người Tầu xuống phía Nam. Đó là lý do vì có sự thay đổi quyền lực từ sự sụp đổ của nhà Tây Tấn (265-316, Western Jin, 西晉) sang nhà Đông Tấn (317-420, Eastern Jin, 東晉). Sự khủng hoảng quyền lực ở trung nguyên, đưa đến việc điều chỉnh địa-chính trị khiến một một thiểu số dân phương Bắc cũng nhân dịp đó xuôi Nam trong mưu cầu bành trướng và đồng hóa..

Thứ hai, nhìn lại nhu cầu bành trướng xuống phia Nam về mọi mặt, từ địa lý chính trị đến văn chương, nghệ thuật, thương mại đến văn hóa vật thể (material culture) cho thấy nó không nhất thiết tác động một chiều – từ Bắc xuống Nam – mà có tác động nhiều mặt khác nhau – từ Nam tác động đến Nam – xuyên qua các vùng Đông Á và Đông Nam Á và xa hơn nữa.

Tác giả dưa ra hai bằng chứng là đạo Lão và thuật uống trà tưởng rằng đó là sản phẩm từ phía Bắc – nhưng thật sự là sản phẩm của người phương Nam – thường bị người Tầu coi là dân mọi rợ – nhập vào phía Bắc.

Công việc của các nhà nghiên cứu sử là đi tìm hiểu tại sao người phương Nam đã nhìn nhận văn hóa phương Bắc và đồng hóa nó, đòng thời nhìn nhận có một dòng chảy của văn hóa phương Nam đã sát nhập vào dòng chảy chính từ phía Bắc.

Nói tóm lại, sự bành trướng xuống phía Nam của nước Tầu là điều hiển nhiên được nhiều tác giả xác nhận.

Charles Patrick Fitzgerald trong cuốn The Southern Expansion of the Chinese People trong lời mở đầu viết, “Chinese influence, Chinese Culture and Chinese power have alwways moved southwward since the first age of which we have reliable historical evidence.”(4)4

“Ảnh hưởng của Trung Hoa, Văn hóa của Trung Hoa và quyền lực của Trung Hoa luôn luôn đi về phía Nam ngay từ thời kỳ đầu của niên đại khi mà chúng ta có được các bằng cớ lịch sử hiển nhiên đáng tin cậy.”

Ở một chỗ khác, ông viết:

“Vietnam is the country most open to Chinese expansion and occupation by land. The frontier, although passing along a mountains chain, afford more than o­ne accessible pass, and the sea coast is but an extension the sea coast of the southern Chinese province of Kuangtung. The red river delta, the heart of northern Vietnam, is also the best and largest fertile plain south of the Yangtze estuary. Every circumstance seem to dictate that this adjacent country would become, and remain, a part of the Chinese world, and an integral part of the Chinese state.”(5)

“Việt Nam là nước mở rộng nhất cho sự bành trướng và xâm chiếm của Trung Quốc trên đất liền. Biên giới mặc dầu phải vượt qua dọc theo những rặng núi vẫn có nhiều đường đèo có thể qua được, và đường biển chỉ là đường nối dài của bờ biển phía Nam nước Tầu của tỉnh Quảng Đông. Đồng bằng sông Hồng – trái tim của miền Bắc Việt Nam – cũng là đồng bằng phì nhiêu và lớn nhất ở phía nam Trường Giang (sông Dương Tử). Cứ mỗi trường hợp được nêu ra thì hình như lại chỉ ra rằng cái xứ sở sát nách với nước Tầu sẽ trở thành một phần và sẽ mãi của Thế giới Trung Hoa, và một một thành tố không thể cách ly ra khỏi nước Tầu..).

Tuy nhiên, khi tìm đọc lại sử Việt, chúng ta gặp một khó khăn khó có thể vượt qua là tính tổng quát hóa sự kiện mà thiếu bằng chứng sử liệu. Hầu như người ta khó có thể tìm ra bất cứ sự thật nào trong các tài liệu sử Việt.

Việc truy tìm ra sự thật không phải dễ dàng gì.

Theo sử gia K.W. Taylor viết trong cuốn A History of the Vietnamese, ông cũng nhìn nhận như vậy:

“The Vietnamese past is full of personalities and events both obscure and famous, and often the obscure have had greater effect upon the direction of culture, society, and politics than have the famous. I have tried to move beyond the propaganda of memory and memorializing to display a thicker layer of information that has accumulated about people and events. My purpose in doing so is to evoke a sense of the past as alive in its old time.”

“Quá khứ của người Việt Nam thì đầy những nhân vật và những sự kiện rất lu mờ và nổi danh, và thường thì những sự kiện còn chưa rõ ràng thì lại có ảnh hưởng lớn đến lãnh vực văn hóa, xã hội và chính trị hơn là thứ nổi danh. Tôi đã phải cố gắng vượt lên trên các loại tuyên truyền ấy và trình bày bằng những dữ kiện có bề dày khả tín đã được thu tập về người và các dữ kiện. Mục đích của tôi khi làm như vậy là để khơi dậy một ý thức về quá khứ một cách sống động như thể nó đã là như thế ở trong quá khứ.”

Sau đây là những bằng chứng về việc chống lại sự xâm lược của Tầu trong suốt nhiều thế kỷ. Nó vừa chứng tỏ sức đề kháng kiên trì, sụ vận dụng được quần chúng tin tưởng và noi theo. Nhưng nó cũng cho thấy ngay sau đó lại có sự tranh chấp, các cuộc nổi dậy tranh dành quyền lực xảy ra liên tục giữa các triều đại.

Thật vậy, ba triều đại nhà Ngô (939-965), rồi nhà Đinh (968-980) rồi nhà Tiền Lê (980-009) được coi là độc lập sau cả ngàn năm Bắc thuộc mà cộng lại chỉ được hơn 70 năm.

Trong 70 năm ấy xảy ra nhiều loạn lạc nhiễu nhương mà theo tôi vì nước ta chưa thành hình một nhà nước có kỷ cương – một état đúng nghĩa có luật pháp, có uy quyền.

Ngô Quyền chức danh chỉ là một Tiết Độ Sứ do nhà Đường bên Tầu ban cho. Ông không bằng lòng rồi tụ xưng vương. Xưng vương rồi chưa kịp chỉnh trang, triển khai luật lệ của triều đại mới thì lại bị Đinh Tiên Hoàng xưng Đế vương.

12 năm sau, quyền bính lại rơi vào tay nhà Tiền Lê!

Tiếng là đã độc lập, đã tự chủ. Nước Tầu hầu như không can thiệp gì vào những biến động chính trị của Việt Nam. Nhưng liệu trong thời gian 70 năm với sự thay đổi ba triều đại, liệu người dân có được yên ổn làm ăn không?

Một điều nhận xét nữa là không chỉ nước ta mới có loạn, mà nước Tầu cũng vậy. Hết nạn Tam Quốc thì lại đến Ngũ Đại Thập Quốc (Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu và Ngô, Nam Đường, Ngô Việt, Mân, Bắc Hán, Tiền Thục, Hậu Thục, Kinh Nam, Sở, Nam Hán) nên cho dù họ có muốn can thiệp vào nước ta cũng không được. Điều nay cắt nghĩa tại sao ta được yên?

Tiền đề thứ nhất: Nước ta được yên vì bên Tầu có loạn

Bả đồ Trung Hoa và láng giềng thời Hậu Đường. NguồnBy 玖巧仔 – Tác phẩm do chính người tải lên tạo ra, CC BY-SA 3.0, https://commons.wikimedia.org/w/./?curid=18168309
Bản đồ Trung Hoa và láng giềng thời Hậu Đường. NguồnBy 玖巧仔 – Tác phẩm do chính người tải lên tạo ra, CC BY-SA 3.0, https://commons.wikimedia.org/w/./?curid=18168309
Tĩnh Hải Quân Tiết Độ Sứ là
Tĩnh Hải Quân Tiết Độ Sứ là  Khúc Thừa Dụ của Giao Chỉ

Sự kiện vắn vỏi của ba triều đại trên đã giúp chúng ta nhìn lại Sử Việt một cách khác hơn. Căn cứ vào cuốn sách của giáo sư Nguyễn Phương – giáo sư sử của đại học Huế – cuốn Việt Nam thời khai sinh giúp triển khai chi tiết hơn.

Nói chung, hướng đi của lịch sử Việt Nam giống như nhiều nước khác: Một mặt chống ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi trước mọi cuộc xâm nhập. Mặt kia tìm cách bành trướng mở rộng biên cuong xuống phía Nam.

Tuy nhiên, Việt Nam xem ra bận tâm hơn với việc chống xâm lăng hơn là bành trướng xuống phía Nam.

Cuộc xâm lăng của đời nhà Tống sang Việt Nam là năm 981

Kể từ khi nhà Ngô dấy nghiệp, thời gian cũng đã trên nửa thế kỷ.

Đây là lần đầu nhà Tống sang quấy nhiễu nước ta vào năm 981. Họ mang theo hai đại quân, đường bộ vào Lạng Sơn, đường thủy vào Bạch Đằng. Và cả hai đạo quân đã bị quân ta đánh tan.

Lần thứ Hai, dưới thời nhà Nguyên. Năm 1285-1288

Khoảng cách giữa cuộc xâm lăng giữa đời nhà Tống sang đời Nhà Nguyên là gần ba thế kỷ – một khoảng thời gian khá dài so với đời người. Sở dĩ có một thời gian dài như vậy vì vua nhà Tống có biệt lệ không muốn kéo quân sang Việt Nam. Họ chỉ phủ dụ và khuyên răn vua quan Việt Nam mà thôi.

Tiếp đến nhà Lý lên ngôi – do Lý Công Uẩn cướp ngôi của vua ngọa triều. Triều Lý sau đó kéo dài được 9 đời từ 1010 đên 1224. Đây cũng đánh dấu thời đại thịnh trị của vua quan nhà Lý với sự phát triển mạnh của đạo Phật.

Tiền Đề thứ hai: Cái lý do chính yếu để cho người Tầu kéo quân sang chinh phạt Việt Nam, bởi vì phía Việt Nam có nội loạn, xâu xé lẫn nhau, tranh quyền đoạt vị. Trừ trường hợp nhà Nguyên ra, tất cả các lần họ kéo quân sang đều do hoàn cảnh chính trị Việt Nam đã mở đường cho nạn Bắc phạt.

Cái tấm gương thượng bất chính gây nên sự chia rẽ, hận thù giữa dòng tộc hay ngoài dòng tộc là cái cớ sự cho người Tầu dòm ngó vào Việt Nam. Đó là trường hộp Lê Hoàn thoán đoạt ngôi vị của nhà Đinh, thời Lê Quý Ly tiêu diệt nhà Trần, thời Tây Sơn hoành hành mỗi lần ra Bắc.

Nếu ta không cử người qua cầu viện, năn nỉ thì không có vấn đề quân Tầu sang nước ta.

Cái điều ấy xảy ra nhiều lần cho một tiểu quốc và trở thành như số phận nhược tiểu rồi sau đó lại than vãn oán trách. Cộng sản Việt Nam huênh hoang 1000 năm chống Tầu mà họ quên rằng chính Hồ Chí Minh đã một mình lặn lội sang Moscou, rồi sang Tầu để năn nỉ họ giúp chống Pháp. Chống Pháp hay chống Mỹ sau này cũng là nhờ Tầu. Bài học lịch sử rõ ràng và rành rành ra đấy thế mà họ quên được sao?

Và lịch sử đã chứng minh là trong những tinh huống hỗn độn như thế thì người Tầu bất kể là nhà Tống hay nhà Minh hay nhà Thanh hay Mao Trạch Đông đều lợi dụng tình thế cất quân sang đánh.

Gánh nặng lịch sử trước sự đe dọa của Tầu Cộng bây giờ là bọn lãnh đạo cộng sản Việt Nam chứ không phải nhân dân Việt Nam.

Hồ Quý Ly đã lừa đảo Trần Nghệ Tông, đã giết Trần Thuận Tông, đã cướp ngôi Trần Thiếu Đế. Tất cả những việc làm vô đạo – lừa đảo ấy đều ứng vào Hồ Chí Minh cả.

Lịch sử đất nước ta có hai họ Hồ thì đều là loại xây đắp quyền lực bằng sự lừa đảo chứ không phải thực tài.

Làm sao có thể có một Lê Lợi thứ hai trong hoàn cảnh đất nước sôi sục này? Dân chúng đã mất niềm tin vào lãnh đạo. Trong khi đó, Tầu cộng chỉ cần không mở vòi nước đập thượng nguồn đủ biến đồng bằng sông Cửu Long khô cạn.

Và nay, nếu ta ngồi làm một con tính cộng sẽ cho thấy thời gian dành để chống Tầu và thời gian để chống nhau, thời gian chống nhau gần như chiếm phần lớn.

Thật không mấy khó khăn để làm con tinh cộng xem Trịnh-Nguyễn phân tranh là bao nhiêu năm? Tây Sơn-Nguyễn Ánh đối đầu với nhau là bao nhiêu năm, giữa bọn cộng sản với người Quốc Gia là bao nhiêu năm?

Cho nên cái chuyện 1.000 năm hay 100 năm vẫn là chuyện nhỏ.

Chuyện chính không phải giữa Địch với Ta mà là Ta với Ta. Giữa Người Việt với người Việt.

Về lịch sử 100 năm chống thực dân Pháp

Để có một khái niệm tương đối chính xác về sự có mặt của người Pháp ở Việt Nam, thử làm một bảng tổng kết 100 năm triều đình nhà Nguyễn và 100 năm người Pháp sang cai trị nước ta như thế nào?

Khi viết những dòng này, tôi có được đọc cuốn sách của cụ Nguyễn Xuân Thọ, Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp tại Việt Nam, xuất bản năm 2002, Paris và mới đây nhất của tác giả Nguyễn Quốc Trị nhằm biện hộ cho Nguyễn Văn Tường, cuốn sách nhan đề, Nguyễn Văn Tường (1824-1886) – Cuộc chiến chống đô hộ Pháp của nhà Nguyễn. Tôi chỉ mới có cơ hội đọc bản giới thiệu của Thụy Khê.

Xem ra các tác giả vẫn muốn biện hộ cho một tinh thần yêu nước của giới quan lại trong triều đình, đồng thời gián tiếp nói tới một cái gì chưa tiện nói ra.

Như một cớ sự, họ nói xa gần đến một âm mưu muốn đồng hóa các giáo sĩ với các thế lực của thực dân nhờ thế hóa giải được trách nhiệm cũng như sự bất lực và yếu kêm của vua quan triều Nguyễn. Đồng thời muốn phủ nhận những đóng góp của Bá Đa Lộc đối với Nguyễn Ánh.

Tại sao phải làm như vậy thì tôi không được rõ.

Nhưng triều đình nhà Nguyễn, thay vì trực diện với người Pháp thì lại đi tìm một giải pháp dễ dãi là giết hại giáo dân và giáo sĩ.

Tôi có thể nói thẳng là giáo dân lúc bấy giờ phần đông đều là dân vạn chài, dốt nát, nghèo mạt rệp.

Họ không đủ tư cách để bán nước.

Theo tác giả Nguyễn Duy Chính thì “Quan điểm này còn nhiều điểm cân đánh giá lại.”(6)

Một quan điểm dựa trên một hai vị giáo sĩ mượn tay người Pháp để có cơ hội truyền bá đạo mà những người đi trước như Cao Huy Thuần cũng đã từng nêu ra trong cuốn luận án của ông.

Đã có hằng trăm giáo sĩ đủ quốc tịch đã đến Việt Nam giảng đạo từ thế kỷ 15 trước khi người Pháp có mặt. Nào chỉ có thừa sai người Pháp? Và chế độ thuộc địa đã có mặt trên cả trăm nước trên thé giới! Vậy thì ở những nước ấy, thực dân chẳng lẽ cũng mượn tay các thừa sai để có cớ chính đáng đi chinh phục các nước đó chăng? Xin nghĩ xa thêm một chút!

Bài viết của tôi không có mục đích tranh luận về sử học, về chính sách của người Pháp tại Việt Nam. Mà chỉ nhằm đưa ra một sô sự kiện mà tự nó nói lên giúp người đọc tự mình chọn lựa một thái độ thích hợp.

Đối với tôi, thế là đủ.

Nguồn: Université du Quebec
Nguồn: Université du Quebec

Chúng ta đều biết rằng Gia Long lên ngôi năm 1802 đã có một số liên lạc tốt đẹp với người Pháp – nhất là với giáo sĩ Bá Đa Lộc. Sau đó mối liên hệ càng ngày càng trở nên xấu đi. Nhưng ít nhất, cho đến năm 1862 (hòa ước Nhâm Tuất) và Hòa ước Giáp Tuất (1874) người Pháp mới thật sự có mặt.

Triều đình nhà Nguyễn – trong hơn nửa thế kỷ – từ 1802-1862 đã xây dựng được gì cho xứ Bắc Kỳ, Nam Kỳ và cả Trung Kỳ?

Đó là điều chúng ta phải cố mà tìm hiểu.

Người Pháp chỉ thực sự chủ động từ 1862.

Và từ thời gian này cho đến khoảng 1905 nghĩa là 43 năm.

Họ đã đem lại một bộ mặt hoàn toàn mới cho ít nhất xứ Bắc Kỳ và Nam Kỳ.

Tôi đã có dịp đọc cuốn La colonisation agricole au Viet Nam của Steve Déry (7). Trong đó tác giả trình bày bao quát về việc phá rừng, xử dụng nhân công người thiểu số sát nhập vào dân bản địa, hoặc đưa một số di dân từ Bắc vào Nam làm đân cạo mủ cao su.

Khu đồn điền cao-su của Pháp. Nguồn: http://www.quanloi.org/
Khu đồn điền cao-su của Pháp phía bắc Saigon (màu xanh, 1931). Nguồn: http://www.quanloi.org/

Đây là một chương trình kinh tế đồng thời để xóa đói, giảm nghèo.

Nếu ai đã có dịp sống ở nông thôn miền Bắc mới hiểu được sự nghèo đói nó như thế nào. Cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc. Người nông đân đôi khi chỉ có cái khố. Làm lụng vất vả, thay trâu cầy bừa. Chết không có đất chôn. Khổ sở trăm chiều!

Xin đừng có tự ái dân tộc. Xin nhìn vào hoàn cảnh thực tế lúc bấy giờ.

Dưới mắt tôi thì đây chỉ là một chinh sách kinh tế, giải quyết nạn nghèo đói. Chỉ có vậy.

Vua quan nhà Nguyễn có kế hoạch, có một chủ trương xóa đói giảm nghèo như thế không? Đầu óc vua quan nhà Nguyễn còn tối tăm, ngu đần – một chữ cũng Tầu – làm sao có những kế hoạch kinh tế như vậy?

Tôi đã có kinh nghiệm sống ở đồn điền cao su. Tôi nói có bằng chứng. Cảnh đánh đập công nhân trước đó có thể có, sau này tôi không thấy nữa. Thỉnh thoảng có các đoàn hát cải lương lưu động ở Saigon lên, ai có tiền thì đi coi hát. Nhà thờ cũng có. Thỉnh thoảng cũng có cha cố về. Cuộc sống về mọi mặt không phải lo. Cộng sản chẳng thể nào xâm nhập dụ đỗ được ai cả.

Mỗi công nhân cạo mủ được cấp một căn nhà gạch gồm hai gian, để ngủ, để ăn và tiếp khách. Đằng sau có bếp, có cầu tiêu. Bếp đun dầu hôi sạch sẽ gọn ghẽ. Gạo và các nhu yếu phẩm như nước mắm, cá khô, v.v. được sở đòn điền cung cấp với giá rẻ. Trẻ con có trường học, y tế miễn phí, lương phát mỗi kỳ dư ăn. Thịt cá, rau hoa quả có chợ, ai có tiền thì mua không thiếu. Chiều chiều, dân cạo mủ, các thày cô chú đi dạo trên những con đường quanh làng. Trẻ con, người lớn có sân đá banh và thường tổ chức thi đấu với các đội bạn. Có nghĩa địa dành cho người chết.

Nếu so với cuộc sống ngoài Bắc bữa no bữa đói, lo từng bữa thì đây phải nói là thiên đàng. Những điều gì khác với điều tôi viết thường là do cộng sản lúc bấy giờ tuyên truyền. Không có sốt rét, ngã nước cái con mẹ gì hết!

Khu chung cư của thợ mủ cao su (người từ miền Bắc) ở Đồ điền Quản Lợi. (1931). Nguồn:  http://www.quanloi.org/
Làng của thợ mủ cao su (người miền Bắc) ở đồn điền Quản Lợi. (1931). Nguồn: http://www.quanloi.org/
Nhà của công nhân đồn điền Lộ Ninh. Nguồn: http://belleindochine.free.fr/
Nhà của công nhân đồn điền Lộc Ninh (Circa 1930s). Nguồn: http://belleindochine.free.fr/

(Còn phần 4b)

© 2016 DCVOnline
Nếu đăng lại, xin đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net”


 Nguồn: Bài và chú thích của tác giả. DCVOnline hiệu đính và minh họa.

(1) Lee Kuan Yew, “From Third World to First”, trang 316
(2) Lee Kuan Yew, Ibid., trang 310-311
(3) Victor H. Mair và Liam C. Kelley, Ed., “Imperial China and Its Southern Neibourghs”, với sự cộng tác của nhiều sử gia khác, do Institute of Southeast Asian Studies, Singapore xuất bản 2015
(4) C.P. Fitzgerald, “The Southern Expansion of the Chinese People”, trang mở đầu.
(5) C.P. Fitzgerald, Ibid., trang 19.
(6) Nguyễn Duy Chinh, “Sự đóng góp của giám mục Pigneau de Beshaine vào công cuộc cải cách ở Gia Định”, trang 2
(7) Steve Déry, “La colonistion agricole au Việt Nam”, NXB Presses de l’Université du Québec, 2004.




 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Hạm đội Hải Quân TQ tiến qua biển Alaska âm mưu xâm lăng lãnh hải Mỹ
Giông NB Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng CSVN Phùng Quang Thanh đột ngột qua đời do thue tiêu nội bộ CSVN
Tình hình Covid tại VN và thế giới
Đầu tư toàn cầu bùng nổ đón sóng hậu Covid-19, thị trường chứng khoán sẽ tăng mạnh
Thanh niên gốc Việt Đinh Văn Đạt đột nhiên bị mất tìch hay bị thủ tiêu tại khu St Michel, Montréal?
Khi bọn khủng bố cướp được chínhquyền đều hành sử giống nhau: Taliban hành quyết anh trai của thủ lĩnh kháng chiến Afghanistan trong khi miệng hô hòa giải
Thời đại Hồ Chí Minh - thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam theo lồi đảng!
Thảm cảnh dân Việt thành Hò thời đại HCM CSVN
Covid TQ tần công VN tàn phá kinh tế, xã hội cận tử
Dân VN thời CS trở nên bất lương cả với người làm từ thiện : NS Việt Hương bị trộm bẻ khoá lấy cắp giấy tờ trên xe chở đồ từ thiện
Đại sứ Đức tại TQ bị đầu độc đột tử
Những người CS luôn cuồg tín lẫn mê tín: Tíên sĩ Cựu Bộ trưởng Tài chính Trung Quốc chết do hỏa hoạn tại nhà vì đốt vàng mãcầu thàn tài
Thủ tướng Chính kém khả năng lãnh đạo chống để lây lan khăp nướcgần nửa triệu gần chục ngàn dân chết - Ca sĩ Phi Nhung nhiễm Covid tình trạng nguy kịch phải chuyển bệnh viện đang thở oxygen
Quân đội Mỹ bị tần công, nổ bên ngoài sân bay Kabul, chết 13 lính Mỹ 15 bị thương nặng, gần 100 người tị nạn thiệt mạng, trong đó có cả trẻ em
Vũ Hán HCM: Sự thiếu trách nhiệm và kém khả năng lãnh đạo của CSVN chính là nguyên nhân để dịch lây lan nhiễm gần nửa triệu dân và tử vong trên 10 ngàn

     Đọc nhiều nhất 
CS chồng dịch khiến người dân SG phẫn uất, tự thiêu, Phạm Minh Chính bất tài vô tướng tai họa cho dân tộc làm tiêu tan thành tích chống dịch của Nguyễn Xuân Phúc được thế giới ca ngợi [Đã đọc: 1256 lần]
Đại lộ kinh hoàng 2021: Sài Gòn dân ùa chạy về quê tránh dịch Covid Delta [Đã đọc: 384 lần]
Tranh luận giữa nữ sinh viên gốc CSBK baỏ vệ chế độ và nữ giảng viên Anh ngữ Đai học Duy Tân phê phán chính quyên không giúp dân trong dịch Covid khiến nữ sinh viên thâu Video tố cáo giảng viên bị sa t [Đã đọc: 363 lần]
CS chồng dtịch khiến người dân SG phẫn uất, tự thiêu, Phạm Minh Chính bất tài vô tướng tai họa cho dân tộc làm tiêu tan thành tích chống dịch của Nguyễn Xuân Phúc được thế giới ca ngợi [Đã đọc: 352 lần]
Nhân loại phải đánh TQ vì Covid là vũ khí sinh học diệctchủng do TQ tạo ra để tiêu diệt nhân loại độc chiếm địa cầu [Đã đọc: 346 lần]
'Trùm an ninh' cảnh sát Hong Kong mất chức vì 'vào dịch vụ tình dục Viet Spa' [Đã đọc: 326 lần]
Không hèn nhát như dân VN, dân Cuba nổi lên làm cách mạng chống chế độ CM [Đã đọc: 324 lần]
Xác người đầy bệnh viện, có thêm hơn 1.000 F0 tại TP HCM nặng, nguy kịch sắp tử vong [Đã đọc: 321 lần]
Thành Hồ mắc dịch: Từ khi Sài Gòn đổi tên thành Hồ, tai họa liên tục ập lên thành phố hoa lệ! [Đã đọc: 302 lần]
Việt Cộng giải phóng miền Nam, Taliban giải phóng Afghanistan- Nước Mỹ thêm một lần bại trận! [Đã đọc: 284 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.