Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Tám 2022
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31        
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 6
 Lượt truy cập: 21438576

 
Vietnam News in English 17.08.2022 15:27
Thân phận dân Việt thời đại HCM: Chính quyền CSVN dung dưỡng bọn TQ toa rập với Campuchia dụ phụ nữ VN qua làm nô lệ bắt đòi tiền chuộc
27.06.2022 22:11

Nhức nhối lừa bán lao động qua Campuchia: Bộ Công an giả bộ chỉ đạo xử lý nghiêm
Nạn nhân bị trừng phạt theo kiểu xã hội đen

Nhức nhối lừa bán lao động qua Campuchia: 'Địa ngục trần gian' ở xứ người 


Không ít những lao động bị lừa bán qua Campuchia đã phải đối mặt với 'địa ngục trần gian' ở xứ người.

 
Sau khi theo dõi loạt bài điều tra Nhức nhối lừa bán lao động qua Campuchia đăng trên Thanh Niên (từ 19 - 24.6), nhiều gia đình nạn nhân và nạn nhân ở Campuchia thông qua mạng xã hội chuyển nội dung kêu cứu đến Tòa soạn Báo Thanh Niên nhờ giải cứu.
 
Trước thực trạng này, PV Thanh Niên trực tiếp gặp nạn nhân, ghi nhận lại cuộc sống “địa ngục trần gian” của họ bên xứ người để cảnh báo người dân tránh né chiêu trò “việc nhẹ lương cao” này.
 
Bị trói, treo ngược lên đánh đập
 
Sáng 26.6, theo sự chỉ dẫn của lực lượng cảnh sát hình sự, Công an tỉnh Quảng Ngãi, chúng tôi vượt cả trăm cây số lên tận xã vùng cao Sơn Dung, H.Sơn Tây (Quảng Ngãi), mới gặp được anh T.P.V (tên đã thay đổi theo yêu cầu của nhân vật, 21 tuổi) sập bẫy đường dây lừa đưa qua Campuchia làm việc. “Việc nhẹ lương cao” đâu không thấy, V. chỉ toàn bị ép buộc lao động, đi lừa đảo thiên hạ và bị hành hạ tàn nhẫn nhiều tháng ngày.
 
Cuối năm 2021, qua mạng xã hội “Kiếm việc Quảng Ngãi”, V. thấy công việc làm bên Campuchia hợp với mình nên đăng ký. Theo hướng dẫn, V. ra Đà Nẵng, bay vào TP.HCM và có người đón, đưa đến một nhà nghỉ. Hôm sau, có người đến đưa V. cùng 20 người khác đi làm hộ chiếu, sau đó được một tài xế lái ô tô 16 chỗ ngồi chở đến cửa khẩu Mộc Bài (Tây Ninh). Sau khi làm thủ tục đi bộ qua cửa khẩu Mộc Bài, V. cùng nhóm lao động VN được đưa lên ô tô chở về một tòa nhà cao chừng 7 tầng và bị thu lại hộ chiếu. V. được đưa lên tầng 4, ở cùng 5 người VN khác, bên ngoài cửa có những người Campuchia bặm trợn cầm dùi cui và cả súng canh gác. Do V. sử dụng máy tính rành nên được bố trí đến 3 máy tính, 3 điện thoại và bắt đầu học “công thức lừa đảo”, đóng nhiều vai để dụ người Việt nhiều nơi đóng tiền vào tài khoản...
 
Nạn nhân T.P.V kể lại vụ việc với PV Báo Thanh Niên. Ảnh: Hải Phong
Nạn nhân T.P.V kể lại vụ việc với PV Báo Thanh Niên. Ảnh: Hải Phong
 
Trầm tư và ánh mắt có phần thất thần khi nhớ về khoảng thời gian bị ép lao động bên Campuchia, V. nhớ mình được phát 1 cái tô, chén và 1 đôi đũa, làm việc từ 8 - 22 giờ mới được nghỉ. “Ăn sáng 9 giờ, ăn trưa 11 giờ và chiều 17 giờ, nhưng tự ra hành lang lấy về bàn làm việc để ăn. Ai không lấy đồ ăn, bọn họ dẹp liền, đói thì đành chịu”, V. kể. Ngoài thời gian làm việc quá sức, nhóm người Việt không được đi ra khỏi tòa nhà. Khi làm việc, ngồi sát nhau cũng không được nói chuyện, trao đổi tin nhắn qua vi tính, chỉ cần có động thái nhỏ đều bị phát hiện, nhẹ thì bị phạt tiền, nặng thì bị đánh.
 
Do bị ép đóng nhiều vai để lừa đảo, mỗi tháng phải đem về lợi nhuận 380 triệu đồng, lại không được trả đồng lương nào nên V. không chịu nổi. Hôm đó, tên môi giới người Việt gọi V. qua phòng, bắt quỳ xuống và dùng dùi cui đánh. V. kể bị đánh hộc máu miệng, mặt mày sưng húp, đau đớn vô cùng. Tại đây, V. từng chứng kiến 2 người bỏ trốn bị bắt lại, rồi ăn đòn bầm dập. Thấy cảnh này, V. đành hoãn ý định bỏ trốn, dù đứng trên lầu nhìn qua thấy đất Tây Ninh trước mặt. Vài ngày, bọn người trong tòa nhà còn tung tin khủng bố: “Thằng này bị chết, thằng kia bị bán đi nơi khác”, mục đích khủng bố và dằn mặt những ai có ý định bỏ trốn.
 
Một lần V. thổ lộ mẹ bị bệnh nặng, muốn về nhà, tên môi giới báo lại cho chủ người Trung Quốc, thế là V. bị trói treo ngược lên, bị đánh một trận tơi bời. Không bỏ ý định trốn đi, V. lén trộm một điện thoại, sim và tiền, rồi vờ đau bụng, về phòng tìm cách liên lạc với người thân bên ngoài. “Sợ bọn họ bắt được khi nhắn tin nên lưng em dựa vào cửa phòng, nhưng chỉ 10 phút là phải dừng”, V. nói.
 
Anh N.C.T (38 tuổi, ngụ Q.Bình Thạnh, TP.HCM) vừa được người thân chuộc về từ Campuchia. Ảnh: Trác Rin
Anh N.C.T (38 tuổi, ngụ Q.Bình Thạnh, TP.HCM) vừa được người thân chuộc về từ Campuchia. Ảnh: Trác Rin
 
Đến đầu năm 2022, chủ Trung Quốc bất ngờ cho V. về, nhưng phải đóng tiền chuộc 60 triệu đồng mới được thả. Do gia đình trễ hẹn đóng tiền, có một ngày V. bị tra tấn hai lần. Qua thỏa thuận, người thân của V. yêu cầu phải đưa V. ra cửa khẩu giáp Mộc Bài mới đóng tiền nên V. được chở ra cửa khẩu nhận mặt. Tại cửa khẩu này, V. liều mạng chạy đến nơi có lực lượng biên phòng Campuchia và VN ở đó, trình báo vụ việc, rồi ngồi lì trong đó, cuối cùng cũng được về đoàn tụ với gia đình. “Do không biết em đã chạy trốn nên gia đình cũng chuyển cho bọn họ 60 triệu đồng. Có điều, nếu em chưa bỏ trốn thì chưa chắc đóng tiền xong em được về”, V. cho biết.
 
Không đạt chỉ tiêu sẽ bị tra tấn bằng roi điện
 
Ngày 26.6, Công an tỉnh Phú Yên cho biết đã tiến hành xác minh 6 vụ với 6 người dân trên địa bàn tỉnh liên quan đến việc bị dụ dỗ, lôi kéo sang nước ngoài làm việc với mức lương, hoa hồng cao và mất tích. Trong đó, có 1 trường hợp bỏ ra 69 triệu đồng để chuộc người.
 
Bức ảnh hiếm hoi về cảnh làm việc của lao động VN tại Campuchia. Ảnh: DO ANH T.P.V CHỤP LÉN CUNG CẤP
Bức ảnh hiếm hoi về cảnh làm việc của lao động VN tại Campuchia. Ảnh: DO ANH T.P.V CHỤP LÉN CUNG CẤP
 
Trong số những trường hợp Công an tỉnh Phú Yên xác minh có câu chuyện giải cứu em Đ.H.C (18 tuổi, ngụ TP.Tuy Hòa). Trước đó, C. vào Bình Dương tìm kiếm việc làm nhưng công việc không ổn định nên đầu tháng 5.2022, C. tìm việc làm trên mạng xã hội và được một người giới thiệu đến làm việc gần cửa khẩu Campuchia với mức lương hấp dẫn. Kể từ đó, cuộc sống đầy ám ảnh của C. bắt đầu. C. nhớ rõ ngày khởi đầu chuyến hành trình tìm việc mới là 6.5. Trên đường đi, C. thấy có nhiều bất thường và khi đến Campuchia, người môi giới bán C. cho một người Campuchia với giá khoảng gần 2.000 USD và được giao công việc bấm máy tính lừa đảo qua mạng xã hội. Theo C., bọn họ bố trí công việc cho người bị lừa sang đây là ngồi làm việc trên máy tính để lừa đảo tiền của người VN qua các link cá độ đã được tạo sẵn. “Hằng ngày, họ bắt em phải lừa từ 60 - 180 triệu đồng, nếu không hoàn thành mức này sẽ phải chịu các hình phạt như 50 USD cho mỗi lần không đạt và bị tra tấn bằng roi điện…”, C. nói và kể tiếp, có nhiều người VN cũng bị lừa. Nghe thông tin làm đủ 6 tháng mới được về VN, nhưng nhiều người đã làm đủ 6 tháng vẫn không trả hết nợ cho công ty. Có người chưa làm đủ 6 tháng thì bị bán sang nơi khác; cũng có người không chịu được nên đã bỏ trốn nhờ Đại sứ quán VN tại Campuchia liên hệ với người thân nhờ giúp đỡ. Trong thời gian làm việc tại Campuchia, C. nhiều lần bị đe dọa và tận mắt chứng kiến một người không hoàn thành công việc bị các đối tượng dùng roi điện chích, bị đánh đập…
 
Biết mình đã bị bọn lừa đảo lừa bán sang Campuchia làm chuyện phi pháp nên chỉ sau 5 ngày làm việc, C. liên lạc với ông Đ.M (ba của C.) cầu cứu. Sau khi về được nhà, đến giờ C. vẫn còn ám ảnh. “Giờ ai muốn tìm việc làm thì phải tìm hiểu kỹ công việc có phù hợp hay không. Tuyệt đối không nghe lời dụ dỗ của môi giới việc nhẹ lương cao, ăn ở miễn phí… ham mà qua Campuchia”, C. nhắn nhủ.
 
Vết bầm còn trên đùi anh T.P.V. Ảnh: Hải Phong
Vết bầm còn trên đùi anh T.P.V. Ảnh: Hải Phong
 
Vừa quỳ xuống đất vừa làm việc
 
Sau sự cố chết người tại một sòng bạc ở Campuchia, anh N.V.C (19 tuổi), T.N.T (18 tuổi, cả 2 đều ngụ Thanh Hóa) may mắn được lực lượng chức năng của Campuchia giải cứu và đã trở về quê nhà. Dù đã về được gần 2 tháng qua, nhưng những ngày tháng bị cưỡng bức lao động nơi xứ người thì anh C. và T. vẫn chưa hết khiếp hãi.
 
Bố mẹ ly dị và mỗi người đều đã lập gia đình riêng ở miền Nam, N.V.C từ nhỏ đã sống với bà ngoại ở Thanh Hóa. Đầu năm 2022, C. được một đối tượng ở cùng phường dụ dỗ sang Campuchia làm việc nhẹ nhàng, đơn giản, chỉ ngồi máy tính ngày mấy giờ đồng hồ là có thu nhập 500 USD/tháng. Tin lời, đầu tháng 3, C. cùng 3 người khác vào TP.HCM, vượt biên sang Campuchia.
 
“Sang đó ít hôm, em bị ép làm việc, bị dọa không cho về, và nhìn thấy người khác bị phạt, bị đánh đập thì em nghĩ chắc không còn sống nổi mà trở về nhà nữa. Em đã từng gọi cho người thân, nói là có khi sẽ không trở về nhà được nữa. Họ bắt làm việc mỗi ngày từ 12 - 15 tiếng đồng hồ. Họ nhốt 10 người ở chung một phòng nhỏ suốt 2 tháng không được ra khỏi khu vực của sòng bạc”, C. kể và cho hay, họ chia thành từng tổ, mỗi tổ khoảng 10 người. Mỗi ngày, những người thuê mướn họ giao cho một tổ phải mời gọi được 20 người tham gia chơi, hoặc nạp tiền chơi bạc, hoặc đăng ký tài khoản chơi bạc. Khi không mời đủ người là phải tăng ca. Còn ai mà một tuần hoặc mấy ngày liên tục không mời được ai chơi thì bị bắt quỳ xuống nền nhà, vừa quỳ vừa phải làm việc. Nặng hơn là bị nhốt vào phòng tối để đánh đập.
 
Khu vực nơi các lao động người Việt bị giam lỏng. Ảnh: DO NẠN NHÂN N.C.T CUNG CẤP
Khu vực nơi các lao động người Việt bị giam lỏng. Ảnh: DO NẠN NHÂN N.C.T CUNG CẤP
 
Còn T.N.T nhớ lại: “Khu em ở có khoảng 300 người VN; làm việc có hôm từ 17 - 23 giờ mới được ăn. Có một lần em bị người quản lý tát vào mặt vì không hoàn thành chỉ tiêu. Em còn từng chứng kiến một anh người VN bị đánh bằng dùi cui điện đến ngất, sau đó tỉnh dậy lại bị đánh tiếp”.
 
Cả T. và C. đều cho biết trong quá trình làm việc ở sòng bạc, không ai được chụp ảnh nơi ở hay nơi làm việc, nếu bị phát hiện sẽ bị thu máy điện thoại, bị đánh đập. Và cũng không ít lần cả T. và C. thấy những người ở cùng phòng bị thâm tím mình mẩy, sưng tay, mặt, thậm chí bị còng tay vào ghế do không hoàn thành chỉ tiêu.
 
Qua điều tra, ngày 16.6, Công an tỉnh Thanh Hóa đã bắt tạm giam bị can Trần Ngọc Chung (19 tuổi, ngụ TP.Sầm Sơn) để điều tra về tội “tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép”. Chung chính là đối tượng đã dụ dỗ, lôi kéo, lừa bán anh T. và anh C. qua Campuchia lao động trái phép. Chung khai nhận đã bán mỗi người cho các sòng bạc với giá 650 USD/người.
 
Đàn ông bị ép lừa đảo, phụ nữ bị ép “tiếp khách” ?
 
Chiều 26.6, tiếp xúc với PV Thanh Niên, anh N.C.T (38 tuổi, ngụ Q.Bình Thạnh, TP.HCM) cho biết vì thất nghiệp nên anh lên trang Chợ Tốt để kiếm việc làm. Sau khi thấy dòng thông tin đăng tuyển qua Campuchia làm văn phòng, lương từ 23 - 28 triệu đồng/tháng, anh liên hệ tìm hiểu. Sau đó, anh T. kết bạn qua mạng xã hội Zalo với một “đầu nậu” tuyển việc làm để nhắn tin trao đổi về công việc. “Người này nói với tôi cứ qua đó tham quan cho biết, rồi sau đó về lại VN bổ sung hồ sơ sau. Ngày 22.6, tài xế lái ô tô đón tôi tại Q.Tân Bình cũng khẳng định sẽ chở tôi qua Campuchia rồi sẽ đợi tôi tham quan công ty, xong sẽ chở về lại VN. Vì vậy tôi mới dính bẫy của bọn chúng”, anh T. nói về thủ đoạn xảo quyệt của đường dây lừa bán lao động.
 
Anh T. kể ô tô chở anh đến khu vực giáp biên giới thuộc tỉnh Long An, sau đó có xe ôm chờ sẵn chở anh vượt biên trái phép qua Campuchia. Vừa qua Campuchia, có ô tô đợi sẵn chở anh T. đến thẳng công ty, nằm gần cửa khẩu Mộc Bài. “Vừa vào cổng, có một phụ nữ xưng là quản lý công ty nói tôi đã bị lừa bán qua Campuchia, công ty đã mua với giá 2.800 USD. Giờ ở lại làm chứ không có chuyện trở về VN như nội dung mà người môi giới đã hứa hẹn trước đó”, anh T. nhớ lại. Lúc này, anh T. bị một nhóm bảo vệ người Campuchia có trang bị roi điện, còng số 8… áp tải lên nơi ở. “Rất khó để chạy thoát vì bảo vệ trong khu vực này rất đông. Họ chia thành nhiều nhóm nhỏ để canh gác 24/24. Ai bỏ trốn nếu bị phát hiện sẽ bị nhóm này chích điện, đánh đập…”, anh T. nói lý do không thể kháng cự.
 
Sau khi lên phòng, anh T. được quản lý người Việt hướng dẫn công việc mỗi ngày là sử dụng các tài khoản Zalo ảo, rồi nhắn tin lôi kéo người dân tham gia đánh bạc. “Lúc này, tôi nói với quản lý là muốn về VN, thì được người này ra giá chuộc là 2.600 USD. Sau đó, tôi gọi điện về cho người thân cầu cứu và gia đình chuyển tiền nên ngày 25.6 mới được thả về”, anh T. cho hay rồi chia sẻ ở đây có rất nhiều người VN bị lừa bán qua Campuchia. Mỗi ngày có hàng chục người VN bị sập bẫy. “Tôi nghe “đồng nghiệp” khác kể đàn ông con trai chỉ bị ép làm các công việc lừa đảo, còn phụ nữ thì bị ép cả việc đi “tiếp khách”. Nếu không chấp hành sẽ bị các quản lý người Trung Quốc chích roi điện, đánh đập”, anh T. ớn lạnh nhớ lại....

Còn nữa

“Cạm bẫy” sang Campuchia làm việc nhẹ, lương cao. Kỳ 3

22/06/2022, 05:45 - Lượt đọc: 5,196

Kỳ 3: Bóc trần chiêu thức và xử lý nghiêm

Trong tất cả các cuộc đưa người sang Campuchia làm việc nhẹ, lương cao đều có sự tiếp tay của người Việt Nam. Việc tổ chức này được thực hiện rất tinh vi và khó xử lý, khi có vấn đề phát sinh với người dân ở nước bạn.

Được điều hành từ bên kia biên giới

Theo những thông tin mà phóng viên có được thì hầu hết các nạn nhân bị lừa sang Campuchia làm việc nhẹ, lương cao đều có tuổi đời rất trẻ. Học vấn thấp, kinh nghiệm sống chưa nhiều nên các em dễ bị kẻ xấu dụ dỗ. Hiện nay, các phòng nghiệp vụ Công an tỉnh đã làm việc với nhiều trường hợp được gia đình chuộc về từ Campuchia. Và cũng từ đây, cách thức hoạt động của các đối tượng này dần lộ diện.

giai-cuu-1.jpg
Hình ảnh các em ở Bắc Giang được Công an tỉnh ngăn chặn kịp thời

Theo đó, các đối tượng thường sử dụng các tài khoản facebook, zalo ảo để vào các trang mạng xã hội chuyên về đăng thông tin tìm kiếm việc làm để tìm những người có nhu cầu tìm việc làm. Bọn chúng thường dùng những từ ngữ ngon ngọt, kèm những lời hứa hẹn công việc tốt để dụ dỗ các nạn nhân. Việc tổ chức đưa người sang kia biên giới cũng được thực hiện rất tinh vi. Sau khi dụ dỗ được các nạn nhân, bọn chúng đều chủ động đặt xe để đưa nạn nhân đến TP. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, chúng chỉ cho địa điểm đón người còn các thông tin khác đều được giấu kín ngay cả với những nạn nhân. Ngày 31/5, Phòng Cảnh sát hình sự đã phối hợp với Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh dừng chiếc xe đang lưu thông đi TP. Hồ Chí Minh theo đề nghị của Công an tỉnh Bắc Giang. Chuyến xe này đang vận chuyển 5 em có tuổi đời rất nhỏ từ 13 - 15 tuổi. Làm việc với cơ quan công an, các em khai nhận biết thông tin tuyển dụng làm việc tại Campuchia qua mạng xã hội facebook với mức lương từ 15 - 20 triệu đồng/tháng và không yêu cầu chi phí nên đã chủ động liên hệ. Người môi giới đã cho người liên lạc với các em để hướng dẫn đi đến cửa khẩu Mộc Bài, tỉnh Tây Ninh. Sau đó có người sẽ dẫn các em qua Campuchia làm việc. Điều đáng nói là trong quá trình làm việc với cơ quan công an, trong 5 em thì chỉ có 1 em có 20.000 đồng, còn lại 4 em đều không một xu dính túi. Cá biệt có 1 em người dân tộc Mông ở huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái còn chưa nói rành tiếng phổ thông và không biết đường để về nhà. Trong khi các em đang làm việc với cơ quan công an thì những đối tượng môi giới vẫn gọi điện cho các em nói “nếu trốn được thì trốn đi rồi sẽ có người liên hệ để đưa các em sang Campuchia làm việc”. Điều này thể hiện mong muốn thực hiện hành vi lừa đảo đến cùng của các đối tượng.

Việc tổ chức của những đường dây đưa người sang Campuchia làm việc trái phép không chỉ là cách thức đưa người sang, mà còn cả sự phối hợp của các đối tượng trong việc tổ chức cho chuộc người. Trong đó, trường hợp của em N.L.T (ở TP. Phan Thiết) là một ví dụ. Sau khi em T điện thoại về nói người nhà mang số tiền 64 triệu đồng qua Campuchia chuộc về, nên người thân đi đến cửa khẩu Mộc Bài, tỉnh Tây Ninh. Khi người thân em T vừa đến cửa khẩu Mộc Bài chưa biết làm cách nào để liên hệ với bên kia, thì đã có đối tượng lạ mặt tiếp cận và nói “anh đi chuộc người ở Campuchia phải không?”. Nhận được câu trả lời của người thân, các đối tượng này đã hỏi tên tuổi nơi cư trú của em T tại Campuchia rồi nói “chờ đi, ngày mai sẽ có”. Đúng 1 ngày sau, các đối tượng đưa em T ra cửa khẩu cho người nhà xác nhận. Sau đó chúng nhận tiền và đưa em T cho người thân đưa về. Điều này chứng tỏ các đối tượng ở 2 bên cửa khẩu đã có sự liên hệ với nhau rất chặt chẽ.

campuchia.jpg
Em N.Q.K ở thị xã La Gi bị nhân viên công ty bên Campuchia đánh.

Khó hỗ trợ pháp lý khi có vấn đề phát sinh

Như báo Bình Thuận đã thông tin, các đối tượng sau khi lừa được các nạn nhân đều đưa sang Campuchia bằng các đường mòn, lối mở ở biên giới. Việc này có dấu hiệu của tội đưa người xuất cảnh trái phép. Khi các nạn nhân sang Campuchia sau đó được bán cho các công ty chuyên về game, bán hàng lừa đảo qua mạng xã hội. Rồi tiếp đó, các công ty dùng chiêu thức nâng cao mức chỉ tiêu để các nạn nhân không làm được rồi hành hạ, đánh đập yêu cầu gọi điện về gia đình mang tiền qua chuộc hoặc bán cho công ty thứ 2 đã có dấu hiệu của tội mua bán người. Mặc dù hành vi của các đối tượng đã có dấu hiệu tội phạm nhưng việc bắt quả tang là không dễ dàng. Bởi các nạn nhân đều được yêu cầu giữ kín, không nói cho người thứ 2 việc mình đi TP. Hồ Chí Minh để sang Campuchia làm việc nên việc theo dấu là rất khó khăn. Cùng với đó, việc thực hiện mua bán, ký hợp đồng giữa các nạn nhân và công ty đều diễn ra ở Campuchia nên việc xử lý theo luật pháp Việt Nam là điều không dễ dàng. Bên cạnh đó, các nạn nhân sang Campuchia làm việc trái phép nên việc áp dụng biện pháp bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài là rất khó khăn, còn tùy thuộc vào sự hợp tác hỗ trợ của chính quyền nước sở tại.

286115171_576615327335259_2356856559753531831_n.jpg
Một khu lao động của người Việt tại Campuchia (ảnh: nhân vật cung cấp) 

Thượng tá Nguyễn Quyết Nghị, Phó Trưởng phòng Cảnh sát hình sự, Công an tỉnh cho biết: Thời gian vừa qua, Phòng Cảnh sát hình sự và công an các địa phương đã ghi nhận nhiều trường hợp người dân trình báo việc có con, em bị các đối tượng lừa sang Campuchia làm việc nhẹ, lương cao rồi sau đó gọi điện yêu cầu gia đình phải bỏ ra số tiền lớn để chuộc về. Phòng Cảnh sát hình sự đã ghi nhận, lập danh sách, cũng như báo cáo Ban Giám đốc Công an tỉnh nắm tình hình báo cáo ra Bộ Công an. Hiện Phòng Cảnh sát hình sự đang phối hợp chặt chẽ với các đơn vị nghiệp vụ của Bộ Công an để có hướng xử lý tình trạng này. Tuy nhiên, việc xử lý các đối tượng môi giới này cần nhiều thời gian, vì hầu hết các đối tượng cầm đầu đều ở Campuchia. “Người dân, đặc biệt là các bạn trẻ cần nâng cao cảnh giác, tuyệt đối không tin theo thủ đoạn môi giới đưa đi lao động tại Campuchia với mức lương cao, công việc nhẹ của các đối tượng; khi phát hiện các trường hợp bị lôi kéo, môi giới đi lao động trái phép tại Campuchia hoặc đối tượng, đường dây có hoạt động môi giới, tổ chức đưa người xuất cảnh lao động trái phép thì cung cấp thông tin cho Công an tỉnh hoặc cơ quan công an nơi gần nhất để kịp thời xác minh, đấu tranh, xử lý”, Thượng tá Nghị khuyến cáo.

Trao đổi về trường hợp anh Nguyễn Xuân Đ (đã đề cập ở bài trước) tử vong tại Campuchia, ông Đặng Văn Đào, Phó Giám đốc Sở Tư pháp cho biết: Liên quan việc người Việt Nam tử vong ở nước ngoài thì có trách nhiệm của nhiều ngành. Trong đó, người thân của nạn nhân nên trình báo với chính quyền địa phương và làm đơn đến Phòng Tư pháp để được xác nhận trước khi sang nước bạn đưa thi thể người thân về nước. Bên cạnh đó, người thân nên liên hệ với các cơ quan ngoại giao trong và ngoài nước. Tại Bình Thuận là Phòng Ngoại vụ thuộc Văn phòng UBND tỉnh. Khi đó, người dân sẽ được hướng dẫn, hỗ trợ, liên hệ với Đại sự quán Việt Nam tại Campuchia để được hỗ trợ pháp lý cần thiết.

Tình trạng các đối tượng lôi kéo, dụ dỗ người dân sang Campuchia làm việc nhẹ, lương cao, rồi sau đó sử dụng chiêu trò yêu cầu người nhà gửi số tiền rất lớn để chuộc về không chỉ xảy ra trên địa bàn tỉnh Bình Thuận mà còn nhiều địa phương khác trong cả nước. Vì vậy, người dân đặc biệt là các bạn trẻ không nên tin vào những lời dụ dỗ rồi làm khổ mình và khổ cả gia đình.

“Nhiều trường hợp biết con em mình bị lừa sang Campuchia đã chọn cách im lặng, tự mang tiền qua chuộc. Nhưng tôi nghĩ cần phải cung cấp thông tin cho báo chí, các ngành chức năng. Nếu mình cứ im lặng sẽ có thêm nhiều trường hợp khác bị đối tượng xấu lừa đảo. Mình phải lên tiếng để mong các ngành chức năng vào cuộc xử lý tình trạng trên và cũng mong muốn không còn trường hợp nào như con tôi”, chị H, mẹ em A (chúng tôi đã đề cập ở số báo trước) chia sẻ”.

NGUYỄN LUÂN



Lừa sang Campuchia làm việc lương cao rồi đòi tiền chuộc 

Cảnh báo của Đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia về lời mời chào việc nhẹ lương cao đi làm tại Campuchia

Đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia đưa ra lời cảnh báo về các đường dây lừa đảo, mua bán người diễn ra gần đây về các trường hợp công dân Việt Nam bị lôi kéo, lừa sang Campuchia làm việc bất hợp pháp. 

1. Thời gian qua, các cơ quan đại diện Việt Nam tại Campuchia đã nhận được rất nhiều thông tin về việc công dân Việt Nam bị lôi kéo, bị lừa sang Campuchia theo con đường hợp pháp hoặc bất hợp pháp để làm việc trong các sòng bài, cá độ, xổ số hoặc cơ sở game o­nline. Theo đơn tố cáo, cầu cứu của các nạn nhân, chúng tôi được biết hoạt động lôi kéo, đưa người Việt sang Campuchia do số các đối tượng người Trung Quốc cầm đầu, có sự tham gia của cả người Việt Nam, Campuchia. Số này đã tổ chức thành các đường dây lôi kéo, đưa đón người, hoạt động rất tinh vi để tránh sự theo dõi, phát hiện của lực lượng chứng năng của Việt Nam và Campuchia.

Zalo

Thủ đoạn của chúng là đưa thông tin quảng cáo về công việc nhẹ nhàng, lương cao ở Campuchia (800-1000 USD/tháng). Sau khi nạn nhân đồng ý muốn làm việc, các nhóm tội phạm sẽ liên hệ và tổ chức cho họ nhập cảnh Campuchia. Khi sang đến Campuchia, những người này được đưa đến các khách sạn hoặc cơ sở sòng bài (tập trung nhiều ở tỉnh Sihanoukville). Tại đây, họ sẽ được huấn luyện cách thức để tìm kiếm, mời chào, lôi kéo các khách hàng tham gia đánh bạc trên mạng. Lúc này, các nạn nhân mới biết công việc, đãi ngộ không như quảng cáo, họ bị giám sát chặt chẽ, bị bóc lột sức lao động, bị cưỡng bức làm việc (từ 15-16 tiếng/1 ngày) nếu không sẽ bị đối xử tồi tệ. Nhiều người đã bị tra tấn, đánh đập rất tàn bạo khi tìm cách trốn ra khỏi nơi làm việc, giam giữ. Những người từ chối làm việc và muốn quay trở về Việt Nam thì bị đánh đập, bắt ký khống giấy nợ và yêu cầu bồi thường hàng ngàn đô la (1.000-8.000 USD) mới được thả hoặc bị bán cho công ty khác.

Zalo

Trên cơ sở tin báo của các nạn nhân, các cơ quan đại diện Việt Nam tại Campuchia đã khẩn trương liên hệ, đề nghị cơ quan chức năng của Campuchia tiến hành giải cứu và hỗ trợ được một số nạn nhân về nước. Tuy nhiên, tình trạng trên vẫn diễn biến phức tạp và chưa thực sự được giải quyết triệt để.

2. Nhân “Ngày toàn dân phòng, chống mua bán người” 30/7/2021 sắp tới, Đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia khuyến nghị mọi công dân đề cao tinh thần cảnh giác, tự bảo vệ bản thân và gia đình mình:

- Cảnh giác với các mối quan hệ qua mạng xã hội, hứa hẹn công việc có thu nhập cao, cá nhân hoạt động tuyển dụng trên mạng không có địa chỉ hoặc tư cách pháp nhân ở Việt Nam, tổ chức nhập cảnh Campuchia qua đường tiểu ngạch…

- Từ chối mọi sự giúp đỡ về tiền bạc, lợi ích vật chất của người khác, nhất là những người lạ, người không thân quen.

- Hãy tuyên truyền, cảnh báo cho những người xung quanh về thủ đoạn của tội phạm buôn bán người: hứa hẹn việc làm nhàn hạ, thu nhập cao để lừa bán nạn nhân ra nước ngoài nhằm cưỡng bức lao động, tổ chức nhập xuất nhập cảnh bất hợp pháp, hứa hẹn giúp đỡ những phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn nhằm lừa bán ra nước ngoài để cưỡng ép kết hôn, bóc lột tình dục, sinh con ở nước ngoài rồi bán trẻ sơ sinh…

- Hiểu rõ hậu quả khi là nạn nhân của mua bán người: bị bóc lột sức lao động, bị hành hạ, đánh đập tàn nhẫn, bị bóc lột tình dục, nguy cơ lây nhiễm bệnh truyền qua đường tình dục, bị sang chấn tâm lý, bị giam giữ trái phép, bị bắt làm con tin đòi tiền chuộc từ gia đình… Hãy cùng nhau tích cực phòng, chống mua bán người vì sự an toàn của mỗi người và mọi người!.

3. Trường hợp cần hỗ trợ hoặc cung cấp thông tin liên quan đến tội phạm buôn bán người tại Campuchia, đề nghị liên hệ với số điện thoại: + 855-974056789 hoặc Tổng đài bảo hộ công dân +84-981 84 84 84.

Mong mọi người dành thời gian đọc kỹ nội dung thông báo này và đề nghị chia sẻ đến người thân và những người khác - vì sự bình yên, an toàn, hạnh phúc của bản thân, gia đình và xã hội./.

"Việc nhẹ, lương cao" ở Campuchia: Phòng tra tấn nơi "địa ngục trần gian"

(Dân trí) - Ngày tháng làm việc tại Campuchia, nhân viên ở casino bị giám sát 24/24h. Người lao động bị giam lỏng và phải hứng chịu những màn tra tấn rợn người mỗi khi mắc lỗi.

Sau khi mắc bẫy của "chim mồi", các nạn nhân sang Campuchia tìm "việc nhẹ, lương cao" bị đưa vào sào huyệt của ổ nhóm buôn người. Lúc đó biết là bị lừa nhưng không còn cách nào khác, những lao động cưỡng bức buộc phải nghe theo sự sắp đặt của chủ nếu không muốn bị tra tấn.

Nơi "địa ngục trần gian" ấy chỉ có hai sự lựa chọn "làm việc hoặc chết".

Ám ảnh về tầng 8 và tầng 2

Với T.T.D. (19 tuổi, ở phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, Thanh Hóa), những ngày tháng bị lừa bán sang Campuchia làm nhân viên casino là khoảng thời gian khổ cực, ám ảnh.

Việc nhẹ, lương cao ở Campuchia: Phòng tra tấn nơi địa ngục trần gian - 1

T.T.D. ám ảnh mỗi khi kể về những ngày tháng sống nơi "địa ngục trần gian" ở Campuchia.

Khu vực nơi D. làm việc nằm biệt lập với bên ngoài, không có dân cư sinh sống. Xung quanh khuôn viên casino này là tường rào, thép gai, có bảo vệ canh gác, chỉ có một cổng duy nhất để khách vào chơi. Tổng thể khu vực này gồm 4 tòa nhà, trong đó có siêu thị, casino, nhà ở nhân viên và khu "thác loạn" với nhiều dịch vụ giải trí như bar, karaoke, mại dâm.

Sau khi bị bán cho bà chủ tên Âu với giá 2.500 USD, D. được đưa lên tầng 5 làm công việc bưng bê nước, dẫn khách vào bàn chơi bài. Có gần 40 nhân viên như D. làm việc tại đây, chủ yếu ở lứa tuổi từ 17 đến 26.

Mỗi ngày D. làm việc từ 9h-23h, có ngày đến 1-2h sáng hôm sau. Kết thúc buổi làm, D. trở về tầng 9 của tòa nhà bên cạnh casino ngủ. Để điều hành, quản lý nhân viên, bà chủ tên Âu lập một nhóm làm việc trên ứng dụng telegram. Nhóm này có 38 thành viên là nhân viên làm việc tại casino.

Việc nhẹ, lương cao ở Campuchia: Phòng tra tấn nơi địa ngục trần gian - 2

Quá trình làm việc, nhiều nhân viên ở casino phải lừa khách hàng vào app để kiếm tiền cho chủ.

D. cho biết, không chỉ lập nhóm để quản lý công việc, bà chủ tên Âu còn thường xuyên gửi những đoạn clip ghi lại cảnh nhiều nhân viên bị tra tấn kinh hoàng khi có biểu hiện không nghe lời và mắc lỗi trong quá trình làm việc.

"Thi thoảng chị Âu lại gửi clip vào nhóm đe dọa các nhân viên. Chị ấy bảo "có ai thích lên tầng 8 không?". Lúc đầu em không biết tầng 8 là gì, thời gian sau mới biết đây là tầng tra tấn. Đến giờ em vẫn thấy sợ khi nghĩ về cảnh ở đó, đội bảo vệ của casino dùng dùi cui điện và dây sắt tra tấn, quất vào lưng những nhân viên không nghe lời. Em có quen một anh ở tầng 12, anh ấy đã từng bị đánh đến tím tái, suýt chết", D. kể.

Theo D. tiết lộ, không chỉ bị tra tấn, nhiều nhân viên nữ tuổi đời từ 16-25, có vóc dáng, xinh xắn còn bị ép làm "nô lệ tình dục".

Tương tự, N.V.C. (19 tuổi, ở phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn) bị một người bạn thân lừa bán sang Campuchia với giá 650 USD vào hồi tháng 3 vừa qua. Mỗi ngày C. có nhiệm vụ ngồi máy tính để kéo khách vào các game bài, tăng lượng tương tác trên mạng xã hội…

Việc nhẹ, lương cao ở Campuchia: Phòng tra tấn nơi địa ngục trần gian - 3

Không làm việc, cãi lại ông chủ, chạy trốn... các nhân viên tại casino sẽ bị tra tấn, chích điện (Ảnh minh họa).

Nơi C. làm việc khác với D. nhưng quy cách làm và hình thức tra tấn nhân viên vi phạm cũng tương tự. C ở tầng 2 của một tòa nhà. Tại đây có khoảng 300 nhân viên là người Việt Nam. Hơn một tháng làm việc tại đây, C. chứng kiến nhiều nhân viên bị đánh đập thậm tệ.

"Chuyện bị đánh hộc máu mũi, dùi cui điện "kêu đèn đẹt" và những tiếng la hét diễn ra thường xuyên, ngày nào cũng có người bị đánh", C. mặt nhăn rúm khi nhớ lại.

N.V.C. cho biết, tại tầng 2 nơi em làm việc có một căn phòng được gọi là "phòng tối". Đây là nơi tra tấn với những nhân viên có ý định bỏ trốn, không chịu làm việc, cãi lại chủ.

"Mỗi lần đi vệ sinh qua căn phòng tối, em chỉ nghe tiếng la hét. Tiếng dùi cui điện, tiếng đòn roi vang lên liên tục. Có nhiều anh bị đánh đến gần chết. Em chưa bị lần nào nhưng thấy các anh đồng nghiệp kể lại, ai có ý định bỏ trốn sẽ bị đội bảo vệ dùng còng số 8 còng tay lại, sau đó đưa vào phòng tối chích điện, đánh đập", C. vẫn còn ám ảnh khi kể về "phòng tối".

Ông chủ Trung Quốc dùng "sát thủ" Việt "trị" lao động 

Công việc của N.V.C. bắt đầu từ 17h đến 5h sáng hôm sau. Mỗi buổi làm việc, C. phải nhắn tin, lôi kéo được 2 khách hàng vào app game và đánh bài... nạp tiền, 2 khách tạo tài khoản, 2 khách làm nhiệm vụ trên app.

Công ty của C. làm có ông chủ là người Trung Quốc. Để quản lý nhân viên, ông chủ giao một người đàn ông tên Tạ Duy Khánh (tên thường gọi là "Khánh Sky" - khoảng ngoài 30 tuổi, quê Hải Phòng) cai quản.

Việc nhẹ, lương cao ở Campuchia: Phòng tra tấn nơi địa ngục trần gian - 4

N.V.C bàng hoàng và sợ hãi kể lại những ngày làm việc tại Campuchia.

"Khánh Sky" cũng chính là nỗi ám ảnh đối với C. và những nhân viên ở đây. N.V.C. nhớ nhất về "Khánh Sky" bởi cách quản lý hung tợn và những trận đòn vô cớ.

"Nhân viên nào không hoàn thành nhiệm vụ trong buổi làm việc sẽ không được về ngủ, phải ở lại tăng ca. Khi tăng ca vẫn chưa hoàn thành nhiệm vụ thì sẽ bắt quỳ gối làm việc. Hình phạt cứ thế tăng dần, đến khi vào căn phòng tối thì chẳng ai dám cự cãi gì nữa", C. kể.

Theo C., trong tổ của em có 10 người, có một người bạn cùng quê vì không nhắn tin trả lời khách hàng đã bị "Khánh Sky" bắt quỳ gối làm việc cả buổi, không cho ăn cơm.

Ngoài những hình phạt man rợ, "Khánh Sky" còn thường xuyên đánh nhân viên thay vì nhắc nhở làm việc. "Cứ hở ra là bị "Khánh Sky" đánh. Có những lúc nhân viên bị đạp thẳng vào mặt, vả hộc máu mũi, thậm chí là bị chích điện", C. nói.

Kế hoạch trốn chạy

Những màn tra tấn dã man, cách thức "bóc lột" sức lao động của bà chủ tên Âu và "Khánh Sky" khiến cho T.T.D. và N.V.C. cùng các đồng nghiệp của mình luôn rơi vào trạng thái khủng hoảng về cả tinh thần lẫn thể xác.

Sau khi làm được gần một tháng, vì không thể chịu được nữa nên C. đã nảy sinh ý định trốn khỏi hang ổ buôn người. Mặc dù toàn bộ khu vực làm việc được canh gác rất cẩn mật. C. nhớ rất rõ về kế hoạch trốn chạy đó.

Việc nhẹ, lương cao ở Campuchia: Phòng tra tấn nơi địa ngục trần gian - 5

Khu vực làm việc tại Campuchia được cảnh giới nghiêm ngặt (Ảnh: Công an tỉnh Thanh Hóa).

Đó là một ngày tháng 4/2022, khoảng 5h sáng, C. và 3 người bạn cùng phòng vừa hết giờ làm việc, trở về nơi nghỉ. Trên đường về phòng, họ rủ thêm 2 người khác lên kế hoạch chạy trốn.

Quá trình làm việc, C. và nhóm bạn tranh thủ từng phút, từng giây để ý những sơ hở. Thậm chí, nhiều khi C. còn tận dụng máy tính để tra bản đồ, định vị lại địa hình nơi mình đang ở để tìm cách trốn thoát.

Công việc của C thi thoảng phải gửi vị trí của công ty cho khách hàng vào chơi và nạp tiền. Những lúc như thế, C. tranh thủ từng giây vào xem mình đang ở đâu. C. còn dò từng khoảng cỏ trống quanh bức tường bảo vệ, lên kế hoạch tìm lối đào tẩu.

"Sau nhiều ngày quan sát, em phát hiện có một đường ống sắt ở tầng 2 nối ra phía ngoài khu vực bờ tường thép gai. Ở tầng 3, chúng em xác định, đã bỏ trốn nhất định phải thành công, nếu không chỉ có con đường chết. Lúc đó, nhóm bọn em định nhân lúc quản lý, bảo vệ sơ hở sẽ bám theo đường ống sắt để thoát ra ngoài, đến bờ rào gai sẽ dùng vải cuốn để vượt qua. Tuy nhiên, do trời mưa quá to, bờ tường thép gai lại có điện nên không ai dám trốn nữa", C. nhớ lại.

Việc nhẹ, lương cao ở Campuchia: Phòng tra tấn nơi địa ngục trần gian - 6

Sau khi bị bán, các nạn nhân được đưa vào Casino để làm việc (Ảnh minh họa).

Còn D., những đoạn video về căn phòng tra tấn khiến chàng trai trẻ không dám nghĩ đến ý định bỏ trốn, ngoan ngoãn làm việc theo sự sắp đặt của chủ và đợi ngày được giải thoát. Tuy nhiên, sau nhiều ngày làm việc chăm chỉ, bà chủ tên Âu đã không giữ lời hứa, bán D. cho một công ty khác với giá cao gấp đôi thời điểm mua ban đầu.

Tại đây, D. đã may mắn sống sót trở về sau gần 100 ngày chịu cảnh "địa ngục trần gian" nơi xứ người... Còn nhiều nữ... không hết nước mắt dân VN thời XHCN ...

Con từ Campuchia gọi về nhờ nhà gom trăm triệu chuộc thân: Làng nghèo khóc cạn nước mắt

6 gia đình ở làng nghèo Kloong, xã biên giới Ia O, H.Ia Grai (Gia Lai) có 7 người thân bị lừa sang Campuchia với lời đường mật thu nhập 18 triệu đồng/tháng đang khóc cạn nước mắt.

Thu nhập khủng chẳng thấy đâu nhưng hung tin nhận về là con em họ bị đánh đập, bị đòi tiền chuộc thân trong khi gia đình họ chẳng có nổi vài triệu đồng dằn lưng.

Ngóng con, khóc cạn nước mắt

Những ngày này bà Ksor B. ở làng Kloong, xã biên giới Ia O, H.Ia Grai (Gia Lai) chẳng thiết gì ăn uống. Nhắc đến đứa con vì lời đường mật đang lưu lạc sang tận Campuchia, bị người ta hành hạ, nước mắt bà lại ứa ra. Người mẹ nghèo thương khóc con suốt mấy hôm nay khi những người lạ điện thoại báo tin muốn chuộc con về phải có đủ 150 triệu đồng.

Con từ Campuchia gọi về nhờ nhà gom trăm triệu chuộc thân: Làng nghèo khóc cạn nước mắt - ảnh 1
Gia đình T. và Đ. đang hoang mang khi thuộc diện hộ nghèo, không biết xoay tiền ở đâu để chuộc thân

TRẦN HIẾU

Bà Ksor B. nghẹn ngào: “Thằng Ksor C. (19 tuổi) con mình nó dại lắm! Nó nghe ông V., một người ở tỉnh khác ngụ cư ở xã Ia O mấy năm nay nói là qua bên Campuchia làm gì đó lương cao, đến 18 triệu đồng/tháng. Mình nói nó không có giấy tờ gì cả, đừng đi nhưng nó nói là có người ta lo hết. Mình cản không nổi! Nó đi từ đêm 19.6, bốn hôm sau thì gọi về khóc lóc, kể bị người ta đánh đập, lúc thì cho ăn, lúc thì bỏ đói”.

Tối 19.6, C. cùng với 6 thanh niên khác trong làng lên một chiếc taxi đợi sẵn hướng ra TP.Pleiku rồi lên xe khách di chuyển đến biên giới Tây Nam để sang Campuchia. Từ đây, tai hoạ bắt đầu đổ xuống họ và gia đình!

Xã Ia O chỉ còn cách biên giới Campuchia trên dưới chục km, giáp tỉnh Rattanakiri nhưng họ lại ngược về biên giới Tây Nam để sang nước bạn. Đường về lại miền quê nghèo xa dần bởi sự nhẹ dạ cả tin. Giờ đây ngày về mịt mù. Còn người thân của họ từ quê nhà đang khóc cạn nước mắt. Ksor C. học chưa hết lớp 7, bao năm không bước ra khỏi làng bỗng chốc trở thành “món hàng” của bọn lừa đảo.

Con từ Campuchia gọi về nhờ nhà gom trăm triệu chuộc thân: Làng nghèo khóc cạn nước mắt - ảnh 2
Gia đình bà Ksor B., có con trai tên là C. bị đòi tiền chuộc thân 150 triệu đồng

ẢNH: TRẦN HIẾU

Nhắc đến con, bà Ksor P. không nói nổi, khóc nấc lên. Ksor G. (23 tuổi, con trai bà P.) cũng theo nhóm thanh niên trong làng tìm “miền đất hứa” với thu nhập cao. Anh Rơ Lan Lước, người nhà của G. kể: “Nó gọi về xin người nhà kiếm tiền chuộc thân, không thì bị chuyển chỗ khác. Nghe mọi người nói chỗ khác là bị bán cho nơi khác nữa rồi. Nó bảo người ta nói nó làm gì trên máy tính nhưng nó không biết làm, khó lắm. Nó không đi học ngày nào, biết làm gì! Người ta bảo nó trả tiền chuộc rồi về đi chứ tốn nơi ở, nuôi tốn cơm. Nó khóc bảo gia đình nhanh kiếm tiền chuộc về, nếu không là nó chết chứ khổ quá chịu không được. Mẹ nó nghe tin thì khóc ngất đi”.

Những ngày buồn ở Kloong

Cuộc sống người dân làng Kloong bao năm qua dẫu còn nhiều khó khăn nhưng yên bình. Người làng mưu sinh bằng nghề nông, đi làm công nhân cho các công ty đứng chân trên địa bàn hay làm công nhật. Đại hoạ ập xuống làng khi nhiều thanh niên nhẹ dạ nghe lời đường mật của những kẻ buôn người, bị đưa qua Campuchia.

Bà K.Ph có 2 người con trai là T. (28 tuổi) và Đ. (24 tuổi) cùng đi theo nhóm thanh niên trong làng sang Campuchia. Cả hai đều đã có gia đình, làm quần quật quanh năm nhưng cái đói, cái nghèo vẫn đeo đẳng họ. Riêng Đ. mới lập gia đình 2 năm nay, vợ đang có thai 5 tháng. Nghe tin có việc tốt, lương cao, họ đã dứt áo rời làng. Và giờ đây là chuỗi ngày cay đắng, âu lo cho cả họ lẫn gia đình.

Sáng 29.6, chúng tôi đã đến làng và tận thấy những câu chuyện buồn. Trong căn nhà sàn cũ kĩ, xiêu vẹo, hai bên vách được thưng những tấm ván đã bị mưa nắng, mối mọt làm cho hư hỏng. Tôn lợp nhà thủ lỗ chỗ. Chỉ một cơn mưa to đổ xuống, cả nhà như…ngồi ngoài trời. Căn nhà chực đổ xuống bất cứ lúc nào. Bà K.Ph nghe tin phải có đến 80 triệu để chuộc con về thì tay chân rụng rời.

Bà nói: “Mình nghèo quá! Không có nổi mấy trăm ngàn. Nhà chỉ có vài sào rẫy trồng mì. Tiền đâu mà nhiều thế. Mấy hôm nay, cả nhà chả ăn cơm nổi”.

Con từ Campuchia gọi về nhờ nhà gom trăm triệu chuộc thân: Làng nghèo khóc cạn nước mắt - ảnh 3

Căn nhà chỉ chực sập của nạn nhân T.

ẢNH: TRẦN HIẾU

Chị S.N, vợ của anh Đ. nói: “Mình không biết chồng đi làm ăn xa vì chồng giấu cả mình và gia đình. Chỉ đến khi đi rồi mới gọi điện về nói là đi TP.HCM để làm việc gì đó với mức lương cao, ai ngờ cả nhóm thanh niên trong làng sang tận Campuchia. Khoảng 9 giờ đêm, anh ấy lẳng lặng cùng nhóm thanh niên đi. Giờ mình chẳng biết làm sao. Nhà nghèo, đến 1 triệu cũng không có, nghe đến cả trăm triệu mới về được là mình sợ lắm, không biết làm sao”.

Trao đổi với PV Thanh Niên, ông Ksor Tương, Phó chủ tịch UBND xã Ia O cho biết: “Khi biết được những thanh niên trong làng nghe lời dụ dỗ của những đối tượng buôn người đi sang Campuchia, chúng tôi đã khẩn trương báo cáo lên cấp trên. Chúng tôi cũng tuyên truyền cho bà con trong xã không nghe theo nữa kẻo tiền mất tật mang. Hiện cơ quan chức năng đã vào cuộc để hỗ trợ các gia đình. Họ đều thuộc diện hộ nghèo, khó khăn. Tiền đâu mà chuộc thân”.

Đường dây buôn người

Vài ngày gần đây, những kẻ buôn người liên tục cho những thanh niên trong làng gọi về cho người thân, thúc giục gửi tiền chuộc thân.

Chị S.L, chị gái của anh Đ. kể: “Có một thanh niên tự xưng là H., đại diện cho công ty T.S.V.N nói là muốn đưa Đ. về thì phải chuyển 80 triệu đồng cho họ. Ngoài ra còn phải gửi thêm 10 triệu để họ đưa sang biên giới về đến đất VN và tự về nhà. Họ nói chỉ cho thời gian 2 ngày để gia đình lo liệu. Chúng tôi toàn là hộ nghèo, làm gì mà có số tiền lớn như thế”.

Con từ Campuchia gọi về nhờ nhà gom trăm triệu chuộc thân: Làng nghèo khóc cạn nước mắt - ảnh 4
Nhắc đến con, bà P. (áo xanh) chỉ biết khóc

TRẦN HIẾU

Theo tìm hiểu của chúng tôi, những thanh niên này hầu hết là không biết chữ hoặc ít học, ít ra khỏi làng. Trong những cuộc điện thoại về gặp người thân, họ khóc lóc và xin gia đình kiếm tiền chuộc mình về. Chắc chắn rằng họ biết gia đình mình khó khăn, khó có số tiền lớn như vậy. Có lẽ, vì sự thúc ép, doạ dẫm hay bị những kẻ buôn người đánh đập nên phải cầu cứu người thân.

Từ lúc nhận tin phải lo đủ 150 triệu C. mới được về, bà Ksor B. không thể ngủ được, ban đêm cứ ngồi trên ngạch cửa khóc rấm rứt. Nhà nghèo, cái ăn còn lo chưa đủ. Tiền đâu mà chuộc con!

Những ngày này, mọi người có người thân sang Campuchia bị đòi tiền chuộc thân cứ tụm lại hỏi xem tin tức. Nhưng họ cũng chỉ nhận được tin mà con em họ gọi về hối thúc gửi tiền chuộc qua các cuộc điện thoại ngắn ngủi. Tất cả thất thần, buồn bã.

Trung tá Đinh Văn Sơn, Phó trưởng Phòng An ninh mạng và Phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Công an tỉnh Gia Lai) cho biết đã nhận và xử lý thông tin khi tìm hiểu hay được nhiều người trình báo về thủ đoạn mới là lừa đi làm việc tại Campuchia với mức lương 800 đến 1.000 USD/tháng.

Theo thông tin trình báo của một số nạn nhân khi sang Campuchia, họ được đưa vào sống trong các căn hộ chung cư do người Trung Quốc quản lý. Công việc hàng ngày là qua mạng xã hội gọi điện về VN lừa đảo người trong nước bằng các hình thức tuyển cộng tác viên bán hàng, kêu gọi đầu tư, lôi kéo dụ dỗ đi làm việc tại Campuchia… Nếu không đạt chỉ tiêu, họ sẽ bị phạt ít nhất 1.000 USD, bị đánh đập, bỏ đói rồi sau đó buộc phải gọi điện cho người nhà đòi tiền chuộc. Họ chỉ được thả khi gia đình đã nộp số tiền không nhỏ để chuộc thân.

“Những người dân khi có nhu cầu tìm việc làm cần phải tìm hiểu kỹ, muốn tìm việc và thực hiện các thủ tục theo quy định về hợp đồng lao động. Đồng thời, tìm hiểu công việc, nơi làm thông qua chính quyền địa phương hoặc cơ quan của ngành LĐ-TB-XH để được hướng dẫn, tư vấn cụ thể. Những người dân phải thật sự tỉnh táo trước những thông tin trên mạng xã hội, cần có kiểm chứng để tránh việc bị lừa đảo”, ông Sơn nói.

Contừ Campuchia gọi vềnhờ nhà gom trăm triệu chuộc thân: Làng nghè o khóc cạn nước mắt--ảnh 4
Nhắc đến con, bà P. (Áoxanh) chỉ biết khóc


TQ là chủ nhân trên đất nước VN người Tàu tự do phạm pháp bóc lột người VN có khi đánh giết không bị tù tôi  vì họ được hưởng quy chế tối huệ quốc nhờ sức mạnh TQ đảng và chính quyền CSVN mới chiến thắng VNCH và độc chiếm toàn vẹn lãnh thổ ngày nay nên họ thề kết cỏ ngậm vành trả ơn cho ân quôc. 

CSBV đã ngoan ngoãn thành chư hầu TQ và làm đàn em Campuchia nên luôn giữ lễ không bao giờ can thiệp vì  không dám xúc phạm  vì thua kém họ về mọi mặt nên không dám xúc phạm vì chính phủ và nhân dân Campuchia rất khinh thường VN

Thân phận Việt kiều tại Cambodia

375px-vietnamese-floating-village-siem_reap_floating_village1

Một làng nổi người Việt tại Siem Reap, Campuchia

Paulle

Chúng ta thường xuyên nghe tin tức, những mẫu chuyện về Việt kiều (VK) Mỹ, Pháp, Úc, Canada, vv, nhưng ít khi bàn đến VK ở Cambodia (Cao Miên: CM), dù rằng cộng đồng người Việt ở Cambodia là cộng đồng lâu đời nhất ở nước ngoài, (đã có thời) đáng hãnh diện nhất, thành công nhất và hiện nay: nghèo khó nhất. Sách vở viết về VK ở CM một cách đầy đủ cũng không được xuất bản nhiều. Lâu lâu xuất hiện một vài câu chuyện/ tường thuật du lịch hay đời sống VK ở CM, nhưng những chuyện tế nhị, các chi tiết sâu xa gián tiếp hay trực tiếp dẫn đến tình hình hiện tại của hầu hết VK tại Cambodia thường hiếm khi được nhắc đến và luôn có giới hạn.

Bài viết trích dẫn nhiều dữ liệu thông tin từ cuốn sách: “Việt kiều ở Kampuchea” của soạn giả, nhà văn, nhà Miên ngữ học Lê Hương – sống 20 năm liền trên đất CM . Cùng một số sách như: Phnom Penh, a cultural history; Cambodia: report from a tricken land; và từ nhiều nguồn tài liệu, thông tin khác, đính kèm cuối bài viết.

Chú ý: bài viết này không có ý gợi lên sự thù hận giữa hai dân tộc, Việt và Khmer, mà nó chỉ phản ảnh hậu quả do sự thiếu đoàn kết của dân tộc Việt Nam.

Pháp phải dùng vũ lực cưỡng chiếm Việt Nam và đối phó với hàng chục cuộc vùng lên trong suốt gần 100 năm cai trị. Tuy nhiên, nhờ đội ngủ truyền giáo người Tây Phương đã hoạt động tại VN trong suốt vài thế kỷ, đào tạo được hàng ngàn tín đồ và cảm tình viên người Việt, nên việc thiết lập bộ máy cai trị của thực dân Pháp diễn ra nhanh chóng và tương đối suông sẻ. Trong khi đó, tình hình ở Cambodia (Cao Miên: CM) xảy ra một cách trái ngược. Nơi đây, Phật giáo được xem là quốc giáo, mọi công dân đều là Phật tử; sư sãi, nhà chùa có ảnh hưởng rất lớn đối với Hoàng gia và dân tộc Khmer (K). Bởi vậy, cho dù các Quốc vương CM luôn luôn chào đón sự hiện diện của người Pháp, nhằm thoát khỏi sự lệ thuộc vào hai lân quốc hùng mạnh – Việt Nam và Siam (Thailand) – thì các sư sãi K vẫn không bao giờ khuyến khích Phật tử của họ hợp tác với người Tây phương ngoại đạo và đa số tín đồ Công giáo tại Cambodia, từ gần 160 năm qua cho tới ngày nay, vẫn là người Miên gốc Việt Nam.

Vừa rồi là lý do tại sao người Pháp không gặp sự kháng cự, nhưng họ phải nhờ người Việt giúp họ thiết lập bộ máy chính quyền và truyền bá văn hóa Tây phương đến với người K. Trong khuông khổ giới hạn của bài viết , tôi chỉ nêu lên một số sự kiện đã xảy ra ở CM ảnh hưởng trầm trọng tới đời sống Việt kiều ở CM. Từ một cộng đồng sung túc được nể trọng bởi người Khmer, người Tàu và được cưng chìu bởi người Pháp, bổng trở nên cộng đồng nghèo mạt, không ngóc đầu lên nổi, nhất là kể từ khi CM trở thành một quốc gia độc lập. Cho tới ngày hôm nay, Việt kiều ở CM vẫn còn là nạn nhân của những kẻ quá khích. Họ phải sống âm thầm, luôn luôn cảnh giác và lắm khi phải nhịn nhục để giử lấy thân.

I. THỜI KỲ BẢO HỘ, TRƯỚC 1945

1. Thành phố Phnom Penh:

Dưới thời Cao Miên được Việt Nam bảo hộ, VN khuyến khích vua CM dời thủ đô từ Udong về Phnom Penh (PP). Sau khi vua Ang Chan II mất, VN lập con gái lên ngôi làm bù nhìn nhằm đặt ách đô hộ. Sau đó, Ang Duang được quân Siem đưa về và lên ngôi vua. Ang Duang dời thủ đô về lại Udong, lúc đó Hoàng thành chỉ là những ngôi nhà sàn được làm bằng cây và tre. Sau khi ký kết hiệp ước bảo hộ, cuối tháng 12, 1865, người Pháp khuyên Quốc vương CM dời đô đến PP.

Lúc đó, ở ngoại ô là nơi định cư của mấy ngàn người Công giáo VK , mấy ngàn người Chàm; hàng trăm tàu cá cuả người Việt, người Chàm dưới sông; người Tàu cũng đông không thua người V; người K rất ít và không có một kiến trúc lịch sử nào trước khi Pháp đến.

Theo lời truyền khẩu thì người Việt đặt tên Nam Vang có nghĩa là người Việt “Nam vang“ dội trên đất CM. Truyền thuyết khác cho rằng vì ông Trương Minh Giảng khuyên vua CM dời đô về Nam Vang nên VK gọi nó theo tên thân mật của ô. TMG là thành phố Năm Giảng (ông Giảng thứ 5). Năm lần lần đọc thành Nam, còn Giảng đọc thành Giang, mà người Nam đọc giang thành vang. (Tôi ghi luôn vào đây chỉ là giúp vui).

Việc đọc trại tên xảy ra rất nhiều ở các cộng đồng VK lâu đời: Lào, CM và Thái. Ví dụ: thời cấm đạo, đạo Công giáo (bây giờ) được gọi là Hoa Lang đạo. Ai bị bắt thì bị xâm trên trán: ‘Học Hoa lang đạo.” Xóm người Việt ở khu cầu Sài Gòn tại PP có tên Gọi là xóm Hoà lang, tức xóm Công giáo thay vì tên Hoa lang như lúc ban đầu.

2. Người Việt cần thiết cho chính quyền thực dân:

Ngay từ lúc đầu, Pháp đã nhờ hàng ngàn VK theo đạo Công giáo đang lánh nạn cấm đạo, gia nhập vào guồng máy của chính quyền thực dân tại Lào và Cambodia. Sang thế kỷ 20, người Pháp bắt đầu nhập người V sang CM và Lào. Bắt đầu những năm 1920, nhu cầu cần có trí thức người Việt gia tăng, nên học sinh học xong tiểu học là có thể sang CM làm công chức, tư chức. Học xong một hay 2 năm ở trường trung học sư phạm thì có thể làm giáo viên cấp thấp.

Nhờ biết tiếng Pháp nên các công ty tư nhân chủ người Tây chỉ nhận nhân viên VK. Người Tàu, người Ấn cũng tìm nhân viên VK để lo việc sổ sách cho họ, đồng thời giúp họ giao tiếp với quan chức người P trong chính quyền. Lúc này người Pháp bắt đầu mở trường, vì vậy giáo viên VK rất cần thiết. Họ phải học tiếng K để có thể dạy tiếng Pháp cho trẻ em người K. Cần biết là lúc bấy giờ, dân K vẫn còn tôn trọng lối học truyền thống, tức là đến chùa để học tiếng Khmer, do các sư sãi chỉ dạy. Thời này, học sinh VK học đầy trường công ở CM.

3. Nghề nghiệp của Việt kiều ở Cambodia:

Người Việt Nam từ Việt Nam sang Cambodia làm ăn đông. Làm ăn mưu sống ở CM rất dễ phát dạt, vì người K không ham làm, ham học. Ngoài làm công chức, tư chức, giáo viên, giáo sư, họ còn buôn bán nhỏ và làm nhiều nghề khác:

Những nghề điển hình khác của VK: thợ in, chài lưới, làm nước mắm, bán sách báo, phu cao su, làm ruộng rẫy, phá rừng khai hoang, thợ mộc, thợ may, thợ máy, đóng giày, thợ điện, thợ hồ, hớt tóc, mở tiệm vàng. Ngoài ra, VK còn chuyên luôn nghề giúp việc cho hàng ngàn gia đình người Pháp và Âu Mỹ đang sống ở CM : quản gia, tài xế, làm vườn, vú em. Những công trình xây dựng lớn, nhỏ của chính phủ (và phần lớn nhà cửa hiện đại ở CM) đều do bàn tay VK xây lên: Royal Palace, viện bảo tàng, các dinh thự, bệnh viện, cơ quan chính phủ, khu nghĩ mát trên núi Bokor, vv, ở Phnom Penh và khắp nơi, cho đến bàn, ghế, tủ, giường, vv, từ xa xưa đến cả nay.

Nói chung, trước chiến tranh Indochina I, VK ở CM là lực lượng lao động chính của chính phủ, trong các văn phòng, trường học và trong các dinh thự của người Âu Mỹ. Có nhiều người có chức vụ chỉ huy cơ quan hay chỉ đứng dưới một người Pháp. Có người giàu có nổi tiếng, đóng góp nhiều tiền bạc hay công sức cho chính phủ Hoàng gia CM nên rất được trọng vọng. Những người sống bằng nghề thủ công, tiểu công nghệ đều có cuộc sống sung túc. Cộng đồng VK ở Nam Vang là một CĐ rất tưng bừng vào các dịp lễ của người V. Thời này nhiều người T, K cũng học tiếng V, vì nhu cầu và vì nể phục.

Người Việt có tiếng vang về sự cần cù, thông minh, xốc vác, năng nỗ và đa tài. Đó là lý do tại sao người Pháp có một expression nỗi tiếng trong thời gian sống ở Đông Dương: “The Vietnamese plant rice, the Cambodian watch it grow and the Lao listen to it grow.” Người Việt ít để ý đến thành ngữ này. Người Khmer thì không muốn nghe ai bảo họ thua người Việt. Còn người Lào thì luôn vui vẻ, dễ dãi, hiền lành, an phận, thành thật – nhiều công ty du lịch Lào thích sử dụng thành ngữ này để nói lên bản tính đặc trưng của người Lào.

Thật ra, vào năm 1936, sự xuất hiện của tờ báo “Nagara Vatta” chuyên môn chống người Việt đã bắt đầu gieo mầm mống bài Việt trở lại trong lòng người K, sau gần 90 năm. Đề tài này được trình bày ở phần IV: Nạn cáp duồn.

II. THỜI KỲ THUỘC ĐỊA, SAU 1945

Hết chiến tranh thế giới II, Pháp được Hoàng gia CM mừng đón sự trở lại, trong khi tại VN kháng chiến giành độc lập bắt đầu bùng nổ và lan rộng. Hơn nữa, có một số công chức Việt kiều bỏ nhiệm sở, quay về VN tham gia kháng chiến chống P. Có 60-80 ngàn người Việt bỏ chạy sang Thái Lan để tránh sự trả thù của người Pháp – có VK từ Lào, CM, nhưng nhiều nhất là từ miền Trung và Bắc. Người P bắt đầu nghi ngờ, mất dần thiện cảm đối vơi VK và quay sang hợp tác với người K để kiềm chế mọi người V. Việc trước tiên là họ ban hành thẻ Việt kiều để kiểm soát sự cư ngụ, di chuyễn của người V và làm ngơ để mặc chính quyền CM bạc đãi người V. Chính quyền CM chụp lấy cơ hội, lập tức ngấm ngầm phát động phong trào trấn lột, hiếp đáp và hạ bệ VK. Bắt đầu là nạn cáp duồn và chiếm đất; hô hào phong trào: ” Đất Miên phải trả lại cho người Miên”. Nạn “cáp duồn” xuất hiện tại CM và ngay cả trên lảnh thổ VN: Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, vào cuối 1945, đầu 1946.

1. Cáp duồn:

Cáp duồn là gì?

Cáp : chặt đầu; duồn: yuon hay người Việt.

Tại sao gọi “yuon” ?

Người dân ở những nước bị ảnh hưởng văn hoá Ấn độ gọi dân khác văn hoá là yuon, yuan, vv. biến thể từ chữ yuavana, có nghĩa là man di – một hình thức tự cao tự đại, cho rằng văn hoá của mình là số một. Chính vì vậy mà người Thái, K, các dân tộc sống ở Mã Lai, người K, Bahnar, Stien, Rade các dân tộc thiểu số sống ở VN như: Bà Na, Stiêng, Ra Đê (Bahnar, Stien, Rade) đều dùng yuon để gọi người Kinh. Thời buổi văn minh, tên gọi yuon không còn phổ biến (ngoại trừ người K gọi người V), vì có ý nghĩa không lành mạnh. Nên biết thêm là người Miến Điện, một số dân tộc thiểu số sống ở Tây Nam Trung Quốc, cũng gọi người TQ là yuon.

Có thể gọi cáp duồn là cuộc thảm sát người Việt gây ra bởi người Khmer. Thông thường, cáp duồn đi kèm với nhiều tệ nạn như cướp bóc, hảm hiếp phụ nữ, chiếm đoạt tài sản.

Dân K họp thành từng đoàn có vũ trang dao gậy, xông vào đuổi VK ra khỏi nhà, không cho mang theo cái gì cả. Nếu chống cự thì họ chặt đầu hay bắt giữ phụ nữ để hảm hiếp tập thể. Dĩ nhiên là VK bị mất trắng tay. Có nhiều người nhanh chân chạy về hướng trụ sở huyện thì bị nhóm cáp duồn khác chận lại lột sạch luôn quần áo, nên sau đó phải lấy lá che thân.

Cáp duồn ở Cambodia chủ yếu là xua duổi để chiếm đoạt, tuy nhiên cũng có nhiều người chết vì chậm chân hay vì chống cự lại. Xác chết thường bị vức xuống giếng, ao, sông hay lạch. Ở VN, có hai loại cáp duồn: do người K đang sống ở VN thực hiện hay do người K từ CM xâm nhập vào lảnh thổ VN gây ra. Cả hai loại đều xảy ra ban đêm: bất ngờ tấn công, hôi của đem về làng của họ, gặp đàn ông là chặt đầu, gặp phụ nữ thì bắt hiếp tập thể – nhiều khi họ mang về CM và chỉ thả nạn nhân sau một vài ngày.

2. Chiếm đất của Việt kiều:

Tại những nơi không tiện cáp duồn thì người K áp dụng chính sách khủng bố đe dọa, đồng thời lấn chiếm từ từ. Số là dưới thời bảo hộ, Việt kiều từ miền Nam VN (thuộc Pháp) có quyền xin giấy phép khai phá đất hoang, đất rừng để trồng trọt. Sau đó họ nộp thuế để nhận quyền tư hửu. Cũng có nhiều người mua lại đất hay ruộng của người K để làm kế sinh nhai. Nhiều VK nhờ chăm chỉ mà có cả hàng trăm mẫu đất, ruộng.
Thế nhưng, người K đột ngột tung ra khẩu hiệu: “Đất Miên phải trả lại cho người Miên” và ngang nhiên lấn chiếm. Họ tự động cất nhà trước cửa nhà VK, phóng uế, quăng đồ vật dơ dáy xung quanh nhà để gây chuyện, khủng bố, đe dọa và đuổi khéo chủ nhà. Chủ nhà VK muốn cây trái, rau quả gì trong vườn phải “xin phép”. Họ tự do cày bừa ruộng rẫy. Nếu VK phản đối, họ đánh hoặc rướt chém.

Kết quả, hàng ngàn nông dân Việt kiều hồi hương về Việt Nam. Số còn lại phải đổi nghề hoặc đi làm công cho chính kẻ đã cướp mình. Đi trình làng, xã, huyện, ngay cả lên PP khiếu nại với đức vua (nhà vua tiếp xúc dân chúng mỗi tuần một lần) cũng chỉ được hứa sẽ giải quyết.

3. Việt kiều bắt đầu bị hiếp đáp:

Cũng từ đó, ở vùng nông thôn, mỗi lần có chuyện xích mích với người Việt Nam thì người Cambodia chỉ cần hô to: “An Nam đánh K” hay “Yuon đánh K” là có ngay cả chục người nổi lên vác gậy xông vào đánh, bất kể già trẻ lớn bé. Nếu xảy ra ở nhà, đàn bà con gái VK chậm chân bỏ chạy là có thể bị hiếp dâm tập thể.

Tại Phnom Penh, vì có nhiều tai mắt quốc tế, nên chỉ xảy ra những vụ hảm hiếp, trấn lột lẻ tẻ tự phát. Nhiều dân đạp xích lô cũng dám lên mặt với VK. Họ đòi VK phải trả tiền nhiều lần cao hơn bình thường. Nếu không trả, thì họ đánh và kêu lớn “cáp duồn” để đồng nghiệp hay một số người quá khích tiếp tay với họ. Sau nạn cáp duồn, chỉ có PP, Siem Reap và Sihanoukville là tương đối an toàn đối với người V, với điều kiện không gặp xích mích, va chạm với người K.

4. Truyền đơn khích động sự căm thù:

Cũng trong thời gian Pháp vừa quay lại này, xuất hiện những tờ truyền đơn vẽ hình các tướng VN (thời vua Gia Long sang bảo hộ CM) bắt ba người Khmer chôn đứng dưới đất chỉ ló cái đầu lên trên làm ba ông táo để nấu nước uống. P hay Hoàng gia CM hay cả hai cùng cấu kết để tung ra chiêu bỉ ổi này là chuyện còn giữ bí mật.

Ngày nay, đảng đối lập Sam Rainsy và những phần tử quá khích người Khmer vẫn thường dùng những bức hình nguỵ tạo đó để cũng cố sự căm ghét người Việt, để nhắc nhở sự độc ác mà người dân Miên sẽ chịu đựng nếu không cảnh giác sự có mặt của người Việt tại Cambodia. Một đòn tâm lý vô cùng thâm độc, góp phần làm cho VK lao đao khốn đốn và “gia hạn” tình thế bần cùng, mù mịt tối tăm và cô độc của cộng đồng VK ở CM và làm cho VK khó ngóc đầu lên được, ngoài trừ phải che dấu hay từ bỏ nguồn cội.

Một điều ngược ngạo: VN hay người Việt từng bị cáp duồn dã man thì thế hệ trẻ VN ít hay biết, vì bản tính dân tộc Việt Nam thường tha thứ, bỏ qua những chuyện đau lòng của quá khứ, chứ không cất giữ, thù dai. Trong khi VN cứu giúp Cambodia bao nhiêu lần, nhưng vì tự ti mặc cảm hèn yếu, thua kém, và tâm lý phủi ơn mà một số phần tử cực đoan hay bịa đặt, quảng cáo những câu chuyện, hình ảnh không thật về VN và con người VN. Hãy google “prayat kompup te o­ng” hay nhấn vào đây http://wn.com/Chau_Doc_massacre để xem trò tuyên tuyền thâm độc.

Trong sách “Phnom Penh, a cultural history”, trang 83, Milton Osborne có ghi: chính mẹ của Marguerite Duras từng kể rằng bà đã có chứng kiến cảnh những convict labourer người Việt xây hill station retreat ở Bokor bị trừng phạt dã man – họ bị chôn sống tới cổ. (Nhà văn Pháp Marguerite Duras, sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn và có thời gian sống ở Cambodia cùng mẹ. Bà có tác phẩm nổi tiếng được dựng thành phim tên là “L’ amant” hay “the lovers” (1992) kể chuyện tình của bà cùng một người Tàu giàu có và chuyện xảy ra tại Nam Việt Nam.)

III. TỪ KHI CAMBODIA ĐỘC LẬP

Sau khi Cambodia được trả lại nền độc lập, Việt kiều càng lo lắng, vì đã có kinh nghiệm đau thương vào thời gian người Pháp bỏ chạy do Nhật gành lấy chính quyền vào năm 1945. Thật vậy, tai họa thi nhau đổ ập xuống đầu người V, không phân biệt giàu nghèo, thân Bắc hay Nam (VN). Trước khi đi vào chi tiết, hãy bàn sơ về vua Norodom Sihanouk và tâm lý của dân Khmer đối với Hoàng gia CM.

Quốc vương Sihanouk:

Sihanouk và vua cha, Quốc vương Suramarit đều là dân học trường Chasseloup Laubat ở Sài Gòn nên cả hai đều nói tiếng Việt rất giỏi. Vợ vua Sihanouk là bà Hoàng hậu Monique, lai Pháp, sinh ra tại Sài Gòn. Sau khi lật đổ S vào năm 1970, báo chí Cambodia thi nhau chửi rủa ông S, Hoàng gia Khmer và gọi bà Hoàng hậu Monique “con điếm người Việt,” hằng ngày trên các phương tiện truyền tin. Cho tới hôm nay, nhiều người Khmer vẫn còn tin là bà Monique, một người yuon, đã đầu độc vua S và vì vậy mà S đã làm nhiều điều có lợi cho VN và ngược lại với quyền lợi của Cambodia. Cũng có nhiều người bảo bà M là người Pháp lai Khmer hay lai Tàu.

Trong khi Pháp mệt mỏi vì chiến tranh ở VN thì Sihanouk ra lệnh giải tán chính phủ, bỏ sang Thái Lan sống lưu vong và tuyên bố sẽ không về lại CM nếu Pháp không chấp nhận nền độc lập của CM. S còn phàn nàn rằng Pháp kỳ thị, Pháp chỉ biết tinh thần đấu tranh giành độc lập của người Việt chứ không chịu nhận ra rằng người Khmer cũng muốn độc lập. Sihanouk và nhiều học giả, lãnh tụ người Khmer vẫn luôn tỏ lòng biết ơn sự bảo hộ của Pháp vì đã cứu Cambodia thoát khỏi sự lấn lướt của Thailand và Việt Nam.

Sau khoảng 5 tháng, vào đầu tháng 11, năm 1949, thì Pháp nhượng bộ và công nhận chính phủ Cambodia là một chính phủ nằm trong Liên hiệp Pháp. November 9, 1949 là ngày mà các chính phủ Cambodia luôn luôn chọn làm ngày lễ Độc Lập (Independent Day) và vì vậy mà dân Cambodia bình thường không biết nhiều về ngày độc lập thật sự – người có hiểu biết thì từ chối hay tránh né vấn đề.

Thật ra, sự độc lập này của Cao Miên cũng giống như sự độc lập của Quốc gia Việt Nam ( l’Etat du Viêt Nam) của vua Bảo Đại được thành lập vào năm 1948, tức là Pháp vẫn nắm quân đội, tài chánh và ngoại giao. Mãi cho đến khi ký Hiệp ước Geneve, sau khi thua trận Điện Biên Phủ, thì Pháp mới công nhận nền độc lập hoàn toàn của Cambodia, Lào và Việt Nam.

Ông Sihanouk thần tượng, trung thành với Trung Quốc từ lúc trẻ cho đến bây giờ, và có cảm tình với Bắc VN. Từng từ chối nhận viện trợ của Mỹ và chửi Mỹ, tố cáo Mỹ âm mưu hại ô cùng gia đình. Từ năm 1966, vì CM quá thanh bình nên S ngủ trên chiến thắng, không lo việc nước mà lo viết nhạc, viết truyện phim, làm phim và thỉnh thoảng đóng phim. Trong phim còn có mặt Hoàng hậu và vài bộ trưởng, bạn bè thân thiết. Chất lượng phim tồi tệ, nhưng S luôn đọat giải thưởng lớn tại 2 lần tổ chức lễ hội film quốc tế Pnom Penh, 1968 và 69. Theo tôi, Sihanouk là người đã quyết tâm đánh đổ giá trị, danh vọng và nồi cơm của người Việt tại Cambodia, bằng nhiều thủ đoạn và chính sách.

Những năm 1960, quân đội của S đã giúp chuyễn vũ khí từ cảng biển CM (từ Tàu TQ, LX và vài nước CS khác) vào căn cứ cho quân đội Bắc V, theo tỉ lệ giữ 1 chuyễn 9. Ngoài ra, BV giúp huấn luyện một vài đơn vị của quân đội CM; và vì để giữ lời với S, BV đã từ chối giúp đở Khmer Rouge, khi Pol Pot lặn lội đến Hà nội nhờ vã. Sau khi bị Lonnol lật đổ, S thường trú tại TQ, có một lần bí mật về lại CM để thăm chiến khu của KR, dù trước đó không lâu S rất thù ghét Pol Pot. S cho rằng khi KR chiến thắng thì thế nào ông cũng được sang sẽ quyền lực. 12/ 1975, S về thăm PP vài ngày, rồi tháng 4/76, S đưa cả gia đình cùng cận thần, tôi tớ về sống ở PP dưới sự quản thúc của KR (tin tức trong 2 paragraphs vừa rồi, nằm trong sách “Pnom Penh: report from a stricken land”).

Dân Khmer chỉ biết có vua:

Một biến cố quan trọng xảy ra suốt thời bảo hộ: dân K không bằng lòng với sưu cao thuế nặng và lao động cưỡng bách áp đặt bởi chính quyền thực dân, đã lủ lượt kéo nhau từ khắp mọi miền đất nước về PP để tâu lên vua – vua có thông lệ tiếp xúc với dân hai lần mỗi tuần. Theo vài tài liệu thì đã có khoảng 10 ngàn người K kéo về kinh thành trong vòng 2 tháng cuối năm 1915, và có đến 100 ngàn nông dân trên toàn quốc lên tiếng phản đối. Người Pháp ngạc nhiên khi thấy dân quê người K vào Hoàng cung, đã tỏ ra coi thường đến sự hiện diện của họ – chỉ thấy và chỉ biết vua .

Sau đây là những tai họa và chính sách trấn lột Việt kiều:

1. Vào quốc tịch, đổi thẻ căn cước, thẻ cư trú:

Năm 1945 Nhà Vua có kêu gọi ngoại kiều nhập quốc tịch CM với mọi điều kiện dễ dãi và không tốn tiền. Rất tiếc là có rất ít người tham gia, ngoài trừ một số VK Công giáo đã sống ở Nam Vang từ thời chạy nạn – tránh vụ cấm và giết người Công giáo tại VN – hay những người Tàu làm trong ngành xuất nhập khẩu vì quyền lợi của công việc. Dĩ nhiên là nhà vua không vui. Nay, CM đã độc lập, nhà vua đưa ra những luật lệ rất nghiêm khắt:

#1. Phải đóng 10 000 riels (Tôi nghĩ sách in lộn thêm một con số không) tiền cước phí gia nhập quốc tịch. Lúc này, giá chính thức cho việc thay đổi căn cước VN sang căn cước VK (Việt kiều) chỉ tốn 50 riels.

#2. Phải biết nói, đọc, viết chữ K, ít nhất là những chữ trong các thông báo dán ở nơi công cọng. Sau hai năm kiểm tra lại, nếu không đạt được có thể bị trả lại quốc tịch cũ.

#3. Trong năm năm, phải tập sống theo phong tục, tập quán của người K; không được vi phạm mọi luật lệ; không được xúc phạm tới người K chính cống và văn hóa K; không được trộm cắp, ăn cướp, làm chính trị, hiếp đáp người khác.

Điều lệ #2 và #3 như cái án treo đối với VK. Nó tạo điều kiện cho các quan làm tiền VK lâu dài và dễ dàng hơn. Rõ ràng, điều kiện quá khó và lệ phí quá đắt, chưa kể nạn hối lộ, làm tiền. Vì vậy, đa số VK không thể nhập tịch được. Giấy tờ như căn cước riêng dành cho VK và thẻ tạm trú, thường trú cũng hay bị thay đổi. Ngoại kiều nào cũng bị ảnh hưởng bởi thủ tục mới, nhưng chỉ có VK là bị khổ nhiều và khổ dài dài. Hiếm có VK nào chỉ trả đúng giá chính thức hay gặp mọi điều suông sẽ mà không tốn nhiều tiền thêm.

Thông cáo thì đưa ra đột xuất mà thời hạn thì luôn có giới hạn ngắn ngủi vài ngày. Quan chức thì ung dung chờ VK đưa tiền mới tiến hành giải quyết. Nhiều VK ở tỉnh lẻ hay tin chậm. Thế là bị bắt giam. Có khi bị sạt nghiệp hay bị trục xuất về VN.

Nói chung, vì các quan làm việc có chính sách, có tổ chức, có hệ thống và có phối hợp các cấp chính quyền. Các quan thường tỏ ra hung hản, quyết liệt, chỉ biết có tiền nên lúc nào VK cũng sợ các quan hù dọa, truy tố, sợ bị tống về VN và là nạn nhân của mọi đổi thay, mọi luật lệ mới. Công chức VK là thành phần ngoại lệ, họ gần như được mời nhập tịch, vì CM cần sự phục vụ của họ.

2. Luật cấm nghề:

Tháng 6 năm 1957, CM đưa ra luật cấm ngoại kiều làm 24 nghề. Lúc đầu cấm người không có quốc tịch làm 18 nghề, ba tháng sau cấm thêm 6 nghề. Mỗi tỉnh còn có quyền cấm thêm 6 nghề hay 6 cách sinh hoạt kiếm sống, tuỳ vùng, ví dụ: ở các tỉnh có nhiều sông rạnh như ở Kandal, Preyveng, VK còn bị cấm đặt lờ, đặt lọp, kéo vó (làm đó), mỗi gia đình VK chỉ được quyền có một cần câu cá.

Đối với thời buổi lúc ấy, cấm như vậy cũng đồng nghĩa với cấm hết mọi nghề. Có những nghề mà người K sẽ không thể nào thay chổ cho người V hay ít ra đòi hỏi một thời gian dài, vẫn bị cấm: Thợ mộc, thợ hồ, đánh cá ở Biển hồ, phu cao su, thợ sửa xe, thợ in, thợ vàng, thợ điện, thợ may, thợ hớt tóc, dược sĩ, công chức, tư chức, vv. Không chỉ cấm nghề mà còn cấm làm chủ và cấm bán nhà cửa, đất đai cho người không phải là K, cũng làm điêu đứng cho VK, vì người K được dịp ép giá tối đa – lúc này nhiều VK đã bắt đầu bán đổ bán tháo nhà cửa, tài sản để hồi hương.

Dù luật cấm tất cả mọi nghề đối với ngoại kiều là không thực tế và không thể nào thực hiện được, nhưng nó mở cánh cửa cho người K có cơ hội vươn lên; mới là chủ của CM; nâng cao giá trị của người Miên: sang sẽ sự giàu có từ người Việt và người Tàu cho người K; đồng thời tất cả đều nằm trong kế hoạch ngấm ngầm bần cùng hoá người Việt. Trong khi đó, các quan chức K có thêm nhiều cơ hội làm giàu túi tiền một cách công khai hơn. Ngoại kiều chưa vào quốc tịch được sẽ còn bị làm tiền thường xuyên và gặp khó khăn đủ điều.

3. 70% nhân viên Khmer:

Vua Sihanouk liên tục kêu gọi dân chúng canh tác ruộng đất bỏ hoang khắp nước, nhất là vùng gần Battambang, đất đai rất màu mở. Chính phủ sẽ hổ trợ mọi thứ, nhưng không ai hưởng ứng. Vua nhận ra dân K lười quá, không có trách nhiệm và có nhiều tật xấu nên chủ Tây, Mỹ, Tàu và Việt không chịu mướn. Vì vậy, ông quyết định ra luật đòi hỏi mọi cửa hiệu, cơ sở, công ty, phải mướn ít nhất 70% nhân viên người K.

Tháng 7/1958, một năm sau khi cấm nghề, sắc luật được ban hành. Vậy là, ví dụ: Trong một tiệm sửa xe, có ba thợ V nay phải thuê thêm bảy thợ K. Bảy thợ K chỉ có nhiệm vụ quét rửa, dọn dẹp hay ngồi chơi, chứ không dám để họ mó tay vào việc làm – sợ hư đồ. Nếu chủ tử tế cho họ học nghề thì vừa mới biết sơ sơ đã đòi lên lương, rồi muốn làm thì làm, nghỉ thì nghỉ, hễ đuổi thì họ đi thưa, chủ sẽ bị phạt.

Theo ô Lê Hương, người từng sống 20 năm ở CM, 1946-66: người Khmer làm biếng, hay ăn cắp, không có lương tâm, không nể sợ người mướn mình, nên nhiều ông chủ thường thuê họ cho lấy có, chứ thợ V và T vẫn giữ lại. Vì vậy, chủ phải đóng lệ phí, nộp tiền phạt mỗi khi quan đến khám (vì dễ có tiền nên quan rất chăm đi khám xét) hay lùa thợ V thợ Tàu đi trốn và dùng thợ “dỏm” người K đóng kịch đổi vai đúng lúc.

Ở những nơi, những nghề mà V kiều bị cấm làm chủ như tiệm vàng, nhà in, tiệm thuốc Tây… thì phải thuê một người K đứng tên làm chủ. Ngoài ra phải giỏi tổ chức các màn kịch nhằm che mắt các quan. Một hiệu may có 3 người V phải thuê 7 phụ nữ K nấu nướng, giặt giũ, giữ con ngay trong tiệm. Khi quan đến thì thợ V và K đổi vị trí cho nhau.

4. Những cách làm tiền Việt kiều:

Hầu hết các quan người K có danh sách VK đang sống hay hành nghề tại khu vực dưới quyền. Hạng VK tai to, mặt lớn, có tên tuổi, trình độ trí thức cao thì do quan lớn “phụ trách, còn hạng bình dân, lao động thì thuộc vào phạm vi của các quan nhỏ địa phương.

+ Thật ra, loại quan nào cũng có thể kiếm được tiền nếu biết đó là VK. Ví dụ: nhân viên ty vệ sinh làm lơ khi thấy người Tàu quậy phân tưới rau cải – mùi hôi thúi bay khắp xóm nhằm ngay giờ cơm chiều. Trái lại, vào nhà VK kiểm tra vệ sinh thì hạch xách đủ điều, chẳng hạn như, thấy lót gạch dưới sàn thì đòi xem giấy phép, doạ tố cáo trước toà án nếu chủ nhà không chịu đưa tiền. Vừa rồi là một dẫn chứng làm tiền đối với VK bình dân.

+ Việt kiều khá giả có sự nghiệp, có cửa hàng thì quan áp dụng chiến thuật có bài bản hẳn hoi. VK được mời đến văn phòng, quan đưa ra một cái cớ nào đó (đâu có ai dại gì bảo quan nói xạo hay cải lại), tạm giử vài ngày, rồi cho đám tay chân thông báo thân nhân nộp tiền chuộc. Số tiền nhiều ít tuỳ quan ấn định dựa vào gia tài của VK. Cứ thế xảy ra mỗi vài ba tháng.

+ Đối với Việt kiều làm ăn lớn, có tiếng trong xã hội thì khi đến văn phòng, quan đệ nghị thẳng: hội từ thiện này, đoàn thể nọ mới thành lập, công trình lớn kia đang tiến hành, nhờ ông ký tên đóng góp vào sổ vàng. Trường hợp quan chưa vừa lòng với số tiền ký sổ thì khó mà xin về.

5. Câu chuyện điển hình về nạn hội lộ và vô lương tâm:

Đây là câu chuyện mà người Việt, người Tàu nào cũng thuộc lòng vào những năm 1960 ở CM. Ở góc đường Piquet và Charles Thompson, có một xe bán hủ tiếu. Mỗi buổi sáng có một quan cảnh sát có nhiệm vụ trực khúc đường ấy đến ăn một tô. Quan hay gọi nước uống, người bán hàng phải bó tiền túi đi mua nước hầu quan. Ăn xong quan gọi thêm một tô để đem về cho vợ. Sự việc cứ thế diễn ra hết tháng này sang tháng khác và quan không bao giờ trả tiền. Một hôm, sau khi quan và vợ ăn xong, quan bảo: “lâu quá, không phạt anh lần nào, bửa nay xin phạt một lần”. Người bán hàng tưởng quan đùa, nên mỉm cười. Quan nổi giận, trợn mắt lớn tiếng nạt: “Bộ tao giỡn với mày sao, hả? Giấy tờ đâu, đưa đây coi!”

6. Vụ ám sát hụt Quốc vương và Hoàng hậu:

Vào đầu tháng 5/1959, có hộp quà, có chứa chất nổ bên trong, được gởi tặng Hoàng hậu. Hoàng thân Norodom Rakkrivan, vì mở quà dùm cho HH, bị nổ chết tan xác cùng 4 cận vệ. Vua và HH thoát chết nhờ vừa bỏ đi tiếp khách. Qua sự mô tả của bé hầu 10 tuổi, ô chủ báo Phan Vĩnh Tòng bị bắt. Ra toà, đứa bé không xác nhận ô T sau 3 lần tra hỏi. Lần thứ tư, sau khi dắt vào trong đánh cho một trận, mặt mày đỏ ửng, nước mắt ước mi, con bé nói: “nưng hơi”, tức là phải rồi.

Vậy là, ô T bị tịch thu 2 nhà in, 6 căn phố và bị xử tử hình, nhưng bản án (hình như) không bao giờ thi hành. Trong tù, hằng ngày ô T dạy đám con các vị bộ trưởng và con giám đốc trại tù, cả mấy con của ô cũng được phép vào học.

Hơn 1000 VK bị mang họa lây. Có nhều người bị oan. Ví dụ: Có một ông chú hơi điên điên từ Sài Gòn sang thăm đứa cháu, đang mở tiệm bán nước giải khát, ở quá 15 ngày phép mà chưa gia hạn thêm 15 ngày nữa. Một đêm, ô chú đi dạo trước nhà bị CA bắt đem về đồn để điều tra lý lịch và hỏi về thân nhân tại Nam Vang. Ô nói, ông thấy người cháu đóng thùng gỗ, ý nói, đóng thùng gỗ đựng mấy chai nước. Vậy là người cháu bị buộc tội đóng hộp gỗ đựng bom cố sát vua. Người cháu và vợ lập tức bị bắt tù, Chiếc xe hơi bị tịch thu; nhà cửa cũng bị tịch thu và mọi vàng bạc cất dấu hay đổ quí giá trong nhà đều bị các quan vơ vét.

Những sinh hoạt cộng đồng của người Việt

1. Trường dạy tiếng Việt:

Như đã trình bày ở trên, những năm 1920, người V đổ xô sang CM tìm việc và làm ăn. Lúc này, nơi nào có đông VK là trẻ em có thể chỉ học tiếng V và tiếng P ở bậc tiểu học, lên trung học sẽ từ từ học thêm tiếng K. Năm 1945, trong khi Pháp chưa kịp quay trở lại thì Hoàng gia CM ra lệnh cấm dạy tiếng V ở trường công. Lập tức, vô số trường tư được mở ra cho con em VK. Chính phủ liền đòi hỏi phải có giờ học tiếng K. Vậy là, theo thời gian, giờ tiếng K càng tăng, tiếng V càng giảm dần cho đến khi tiếng V chỉ còn dạy vài giờ một uần, giống như là một môn ngoại ngữ tại trường tư Việt ngữ. Vã lại, giám đốc và chủ trường cũng thường bị các quan chức CM hay kiếm chuyện. Cuối cùng, hệ thống trường tư hay việc dạy tiếng V ở nhà trường bị thất bại hoàn toàn; tụ tập học tiếng V ở nhà cũng không được quá 5 học sinh. Trong khi đó trường tư của người Tàu với chương trình riêng đặc biệt của họ vẫn luôn được duy trì.

2. Sinh hoạt báo chí tiếng Việt:

Dưới thời bảo hộ, Việt kiều tha hồ xem sách báo từ Sài Gòn gởi sang. Sau ngày độc lập, sách báo từ SG bị cấm. Nếu bị phát hiện có, ngay cả một tờ giấy báo cũ rách đang gói đồ cũng có thể bị ngồi tù nếu không đưa hối lộ. Báo chí tiếng Việt đua nhau phát hành, hết tờ này đến tờ khác. Tuy nhiên, bài viết thường nịnh chính phủ Hoàng gia (bài viết nịnh cũng như tấm bùa hộ mệnh) và chủ yếu là đánh đá giữa hai nhóm VK với nhau: thân miền Nam hay thân miền Bắc. Chủ báo, chủ bút nhiều khi vào tù vì bị VK khác truy tố bài viết có nội dung bất lợi cho Hoàng gia hay văn hoá CM. Thời này có một ít VK xấu tính chuyên đi theo dỏi, ghi thành một cái list VK bất đồng chính kiến rồi báo cáo với các quan chức người K để họ tiêu diệt dùm người mình ghét. Dĩ nhiên, đây là những dịp tốt để quan “làm nghèo” cho VK.

3. Sinh hoạt văn nghệ của Việt kiều:

Thời Pháp thuộc, các đoàn cải lương từ Việt Nam tấp nập sang trình diễn ở Nam Vang và các tỉnh còn thường xuyên hơn là ra Trung và Bắc. Sau 1945, vì sự gây khó dễ của chính quyền CM và bị làm tiền một cách trắng trợn nên chỉ có một số đoàn hát nhỏ liều mạng sang CM và ê chề thất bại, lủng túi mò về lại VN. Sau khi Cambodia độc lập, 1953, họ cấm hẳn đoàn hát từ VN sang.

Sau một thời gian vắng bóng, năm 1959 một VK có quốc tịch CM là ông Tang Long thành lập gánh hát VK thành công suốt 7 năm, nhưng gần bị bại sản. Gánh hát này được hưởng ứng khắp cỏi CM. Chương trình có cả tiết mục múa truyền thống kiểu K để tỏ ra thông cảm và ngưỡng mộ văn hoá K.

Có lẻ vì thấy ông chủ giàu có, nên chính quyền đề nghị ghi vào đơn xin phép là tự nguyện “dâng cúng” 50% tiền thu được, để giúp đở tài chính vào việc xây cầu bắc ngang sông Tonle Sap ở ngoại ô Nam Vang.

Thế là chính phủ gởi người đến bán vé, thu tiền. Hết xuất hát, các quan đưa cho đoàn hát 50%, nhưng thật ra chỉ 10-20%, tuỳ ý quan. Khi cầu xây xong, chủ gánh hát tưởng đã thoát nợ, từ nay sẽ tự do bán vé thâu tiền, gở gạc lại phần nào, nhưng không phải vậy. Các quan có chiến dịch khác: hát giúp cho hội từ thiện này, đoàn thể xã hội nọ. Cứ thế cho mọi buổi hát.

Nhiều Việt kiều giàu có cũng đua nhau mở gánh hát. Đôi lúc có tới 3 gánh cùng diễn trong một đêm tại Nam Vang. Lúc này đã có luật rõ ràng là mỗi xuất hát phải đóng góp vào công quỷ 30%. Tuy nhiên, các quan có nhều cách gây khó dễ để làm tiền nên gần chục gánh thay nhau bị sụp tiệm. Cuối cùng, vào khoảng đầu năm
1967, có luật mới: VK không được lập gánh hát cải lương.

4. Tổ chức cộng đồng của người Việt Nam:

Vào thập niên thứ hai của thế kỷ 17, Quốc vương Chey Ches Da II cưới công chúa Ngọc Vạn, con chúa Sãi. 500 cô gái và 500 lính đã được phái theo để bảo vệ và phục vụ công chúa. Đây là những người Việt Nam chính thức đầu tiên trên đất Cambodia. Vào đầu thế kỷ 19, theo ghi nhận của những nhà truyền giáo Tây phương thì đã có ba ngàn ngư phủ người Việt hành nghề trên Biển hồ, giữa Battambang và Siêm Reap (Năm 1954, khoảng 100 ngàn VK sống trên Biển hồ và toàn CM khoảng 350 ngàn người). Rồi hàng ngàn người trốn vụ bắt đạo Công giáo ở VN định cư tại Nam Vang. Thế nhưng cho đến năm 1938 mới xuất hiện tổ chức đầu tiên của người Việt Nam.

Ngày 13/6/1938 hội Nam Kỳ Ái Hữu (Amicale Cochinchinoise du Cambodge). Lúc này, do nạn kỳ thị Bắc Nam được người Pháp khai thác nhiều, nên hội NKAH chỉ nhận VK quê ở miền Nam hay có quốc tịch Pháp gia nhập. Vài tháng sau, hội Việt Kiều Tương Tế (Mutuelle des Annamites du Cambodge) được thành lập. Hội này nhận tất cả mọi người, không phân biệt Nam, Bắc, Trung. Rất tiếc cả hai hội đều chỉ hoạt động trong phạm vi: phúng điếu hội viên hay tứ thân phụ mẫu từ trần. Vì vậy, hai hội này thật ra chỉ có hư danh trong suốt 12 năm trời.

Năm 1950, ông khâm sứ Pháp De Raymond ở CM kêu gọi hai hội nhập thành một và khuyên nên bỏ chữ Cochinchinoise và Annamites, Vì hai chữ này không còn thích hợp với hoàn cảnh VN đã thống nhất trở lại. Hai, ba tháng tranh cải quyết liệt – một bên quyết tâm giữ chữ Ái hữu, bên kia thì chữ Tương tế. Khi trình lên toà khâm để xin đăng ký hoạt động thì ông khâm gạch bỏ cả hai, Ông ghi là Association des Vietnamiens du Cambodge, tức là: Hội Việt kiều tại Cambodge.

Từ nay, hội mở rộng hoạt động, giúp đở kiều bào nghèo, mở phòng khám bệnh miển phí không phân biệt K, V, T, lào, chàm, Thái…, phát học bổng cho trẻ em nghèo và đại diện cộng đồng tham gia nhiều hoạt động xã hội. Rất tiếc, vì tình hình chính trị tại VN và vì chính sách kiềm chế của chính phủ CM mà sau 7 năm hoạt động tích cực hội bị tan rã.

5. Một vài khác biệt giữa cộng đồng Tàu kiều và Cộng đồng Việt kiều:

Có thể nói người Tàu nắm mọi hoạt động kinh tế: nhà buôn lớn, nhỏ; đại lý phân phối, thu mua; kể cả kiểm soát phần lớn việc xuất nhập khẩu. Họ cũng chuyên nghề bồi bàn, nấu ăn, phục dịnh trong Hoàng cung. Một điều đáng lưu ý: trong một cuộc hội chợ triển lảm quốc tế ở PP vào cuối thập niên 50, tất cả mọi sứ quán đều nhờ người Tàu phục trách về ẩm thực cho gian hàng của quốc gia họ, ngoại trừ gian hàng Việt kiều.

Đa số người T tại CM đến từ chợ Lớn. Kinh nghiệm lâu năm nơi xứ người đã dạy cho người Tàu cách sống có hội, có tổ chức và sống phù hợp với người K, văn hoá K. Lúc mới đến định cư, người T (người V) đều nghèo, người Tàu thường chụp cười liền một cô vợ K (mặc dù nhiều người đã có vợ bên Tàu và sẽ đưa sang sau đó) để học hỏi ngôn ngữ, phong tục tập quán và tạo bộ mặt thân thiện, hoà đồng với người bản xứ. Khi có con, thì họ quyết tâm biến con họ thành Tàu hoàn toàn. Con gái họ nhất định không gả cho người bản xứ. Nếu có thì chỉ gả cho nhà giàu hoặc quan lớn người K để có cơ hội nhờ vả khi cần.

Không như nhiều VK, họ cư xử khôn ngoan, không để lộ cho người K (bình thường) nhận thấy cái xấu, cái sự khinh khi và kỳ thị người K của họ. Lúc tiếp xúc, mua bán với người Miên họ cũng hay hạ mình gọi ông chủ, bà chủ. Họ ý thức rằng quyền lợi của mỗi người T đều có liên hệ với nhau, nên họ luôn luôn quyết tâm đấu tranh và che chở cho nhau một cách đồng nhất. Có thể nói: sức mạnh, tài năng của Tàu kiều là sức mạnh, là tài năng của cả một công đồng hàng trăm hay ngàn người T.

Thế nhưng, cộng đồng 3- 400 ngàn VK, thật ra, không có sức mạnh tập thể, bởi vì không thành lập những tổ chức đại diện, không đồng nhất, không có/được hướng dẫn cụ thể về đời sống mới nơi xứ người: cách hội nhập vào đời sồng văn hoá K, cách đối phó với những tình huống phức tạp, nên khi gặp nạn thì phần ai nấy lo, nấy chạy. Có quá ít VK tìm hiểu, để ý, và ý thức đúng mức những chuyện tế nhị, nhạy cảm đã xảy ra giữa CM và VN trong lịch sử nhằm tránh tạo thêm sự hiểu lầm giữa hai dân tộc và những rắc rối có thể xảy ra nếu VK hành xữ kém khéo léo, nhưng tin tức, tài liệu, bài viết liên quan cũng hiếm thấy xuất hiện trên các báo chí tiếng Việt – ngay cả thời buổi ngày nay, hình như việc này cũng chưa được chú ý lắm.

Là dân viễn xứ, sống trên đất người ta, không những coi thường văn hoá và màu da sậm của người K, VK còn hiếm khi lấy vợ hay chồng người K. Có thể vì có vị trí huy hoàng trong xã hội dưới thời Pháp thuộc và vì đã có công trong việc giáo hoá người K nên đa số VK an phận, cảm thấy như đang sống ở quê nhà, mặc nhiên xem người K thấp hèn, ngu dốt không bằng người mình (có lẻ một phần bị ảnh hưởng tâm lý từ người P). Cái bậy nữa là, dưới thời Pháp thuộc có một số ít người Việt lên mặt, bắt nạt người K. Chuyện gì sẽ xảy ra đã xảy ra: VK đã trở tay không kịp, khi người K có cơ hội ra tay.

Một điều đặc biệt khác mà chỉ xảy ra trong cộng đồng người Việt: nạn bất đồng chính kiến một cách quá khích và không cần thiết (với mức độ như vậy) cho một cộng đồng xa xứ. Điều này vô tình đã làm hao tổn biết bao nhiệt huyết, tinh thần & tài chính; làm chia rẽ VK và quên đi chuyện lớn trước mắt cần có sự đoàn kết để đối phó. Nói một cách khác, trong khi hiểm hoạ đang chụp xuống toàn thể VK thì nhiều người ham mê chính trị, những khuông mặt sáng của cộng đồng lại chỉ lo bận rộn, tìm cách hơn thua giữa VK với nhau.

IV. Nạn cáp duồn

Năm 1930, Pháp cho mở trung tâm Phật giáo học tại PP. Từ nay, các sư sãi (tu theo phái tiểu thừa) tại CM, Lào và người K ở đồng bằng sông cửu Long (VN) không cần phải đi Bangkok để học các lớp học cấp cao. Một nhóm người thuộc lớp đầu tiên của trường này, trong đó có nhân vật chính trị (sau này) nổi tiếng: Sơn Ngọc Thành, đã xuất bản tờ báo “Nagara Vatta (Angkor Wat) vào năm 1936. Nội dung của tờ báo là đã kích Việt kiều. Nhìn vào #5 sau đây, thì các bạn sẽ thấy rằng đây là mầm móng của sự kích động bài xích người Việt lần đầu tiên tái xuất hiện sau gần 90 năm (từ 1844-45 đến 1936).

Danh sách những vụ cáp duồn được ghi chép trong lịch sử:

#1. Sử Miên ghi: năm 1730 một người Lào tị nạn, tự xưng là tiên tri đã xúi giục một nhóm người K cuồng tín hạ sát tất cả người Việt nào mà họ bắt gặp trong vùng Banam. Đây là vụ cáp duồn đầu tiên.

#2. Theo nhà văn Pháp Louis-Eugene Louvet, viết trong cuốn sách “Đức cha Adran”: ngày 13/11/1769, một toán cướp K và Tàu kéo nhau đánh phá ngôi nhà của GM Bá Đa Lộc ở hòn Đất, ngoài khơi Hà Tiên. Họ chỉ chém giết, hảm hiếp con chiên người Việt, vì kỳ thị chủng tộc.

#3. Vẫn trong quyển sách của ông Louvet, giữa năm 1778, một toán cướp K đánh phá nhà thờ Pinha-leu do Giám mục Bá Đa Lộc vừa xây xong ở vùng Hà Tiên và giết mọi người Việt mà chúng bắt gặp.

#4. Sử Miên ghi: Quốc vương Ang Non II ( 1775-79) rất ghét người Việt, đến nỗi có lần ngài nghĩ sẽ tàn sát tất cả người Việt trên đất CM.

#5. Sử Miên ghi: Dưới triều Ang Chan II (1796-1834), năm 1818, một số người Việt bị tàn sát ở tỉnh Baphnom và quân VN đang đóng ở CM đã đến nơi can thiệp.

#6. Suốt thời gian bảo hộ CM, VN sửa đổi cơ cấu hành chánh, vi phạm phong tục tập quán của người K đã khiến giới sư sãi và dân chúng phẫn uất nên họ vùng lên chống lại. Những năm từ 1841 đến khi quân VN rút khỏi CM (1845), nhiều cuộc tàn sát VK đã diễn ra ở khắp nơi tại Cao Miên và tại miền Tây VN.

#7. Chiến dịch cáp duồn 1945-46 đã được trình bày trong phần I. Sau vụ này chỉ có PP, Seam Reap và thành phố biển Sihanoukville là tương đối an toàn đối với người Việt trên toàn cỏi Cao Miên – dĩ nhiên là với điều kiện không xảy ra đụng chạm, tranh chấp với người K.

#8. Năm 1970, chính phủ Cao Miên (Lon nol) phát động chiến dịch cáp duồn toàn quốc. TV, radio, báo chí đua nhau kể tội, nói xấu người Việt mỗi ngày. Bức hình “ba cái đầu người K chụm lại làm ba ông táo” lại tái xuất hiện và nhiều bài viết kích động có tính bịa dặt được tuyên tuyền liên tục nhằm dấy lên làn sóng bài Việt, vốn luôn âm ỉ trong lòng người dân K, sẵn sàng bùng lên khi có cơ hội hoặc bị khích động. Có từ hàng chục đến cả trăm xác chết Việt kiều trôi trên sông Mekong và hồ Tonle Sap mỗi ngày. Người Việt bị ruồng bắt để nhốt tù hay để bắn giết một cách dã man.

Giới ngoại giao quốc tế đang có mặt ở Nam Vang can gián chính phủ CM, nhưng không được, nên dân ngoại giao và ngoại kiều lục tục rời bỏ CM. Do đó, đã có cả trăm ngàn Việt kiều bỏ của chạy lấy người về Việt Nam. Theo thống kê của VNCH thì có khoảng 400 ngàn VK đang sống tại CM vào năm 1969. Tôi không tìm thấy con số nào, nhưng có tài liệu cho rằng Pol Pot đã xua đuổi gần 200 ngàn người V về nước, vậy phải có từ 100 đến 200 ngàn chạy về VN vào năm 1970.

Lý do tại sao còn nhiều người Việt không chịu hồi hương về VN:

 Tại vì đa số VK thân với miền Bắc nên nhiều người sợ bị rắc rối khi về miền Nam.

 Lúc này chiến tranh đang leo thang ở VN, vì vậy nhiều người sợ về VN sẽ bị bắt đi lính.

 Sống ở CM quá lâu, ngay cả nhiều người sinh ra và lớn lên tại CM và không còn thân nhân tại VN.

 Sự nghiệp xây dựng được nơi xứ người quá lớn nên tiếc, không nỡ bỏ.

 Một số có vợ hay chồng là người Khmer nên hy vọng sẽ được để yên.

 Năm 67 hay 68, VNCH có chương trình giúp đở cho VK hồi hương, nhưng sự thất bại, thất tín của nó đã làm mất lòng tin cho những VK khác. Lý do thất bại cũng có nhiều điểm giống như khoảng 35 ngàn VK Thái về miền Bắc (VNDCCH).

 Có nhiều gia đình VK sống dựa vào sự che chở tạm thời của ông bà chủ người ngoại quốc.

 Một số chạy vào rừng theo quân dội miền Bắc.

 Nhiều người trong số còn lại phải cải trang, thay tên, đổi họ, đổi nơi cư trú, để tồn tại.

Chúng ta cũng nên hiểu rằng: hầu hết VK ở CM là những người nghèo hay có học chút đỉnh từ VN sang; do dễ làm ăn sinh sống nên họ trở nên khá giả, vì vậy, dù cho bị bạc đãi, bị làm tiền và nhiều lúc nguy hiểm đến tánh mạng họ cũng quyết tâm bám trụ vì họ vẫn còn hy vọng, mà nếu không vươn lên được thì cũng đã quen nước quen cái; sống nghèo ở CM còn hơn là hồi hương – chỉ được cái an toàn chứ làm sao vươn lên nổi trong cái môi trường cạnh tranh khốc liệt mà 2, 3 thập kỷ trước hay lâu hơn nữa, chính họ hoặc cha mẹ của họ đã chào thua. Còn số công chức VK thì đa số trở thành công dân và bị đồng hoá thành người K. Tuy nhiên, họ đã không thoát khỏi bàn tay đẩm máu của chế độ Pol Pot, 5 năm sau.

#9. Chế độ Pol Pot xua đuổi từ 150 đến 200 trăm ngàn Việt kiều còn lại về Việt Nam. Năm 1977-78, đã có nhiều vụ cáp duồn từ bên kia biên giới tràn vào lãnh thổ Việt Nam, làm thiệt mạng khoảng 5-10 (?) ngàn người.

Nói chung, vào những thế kỷ trước, cáp duồn chỉ xảy ra lẻ tẻ, tự phát bởi người dân tại một vài đia phương và mức độ thiệt hại không lớn lắm. Tuy nhiên, từ lúc Cambodia trở nên độc lập; dân trí của người Cambodia càng cao; VK ở CM càng đông; quyền lợi trong xã hội của người K càng bị đụng chạm – vì tài năng và sức cạnh tranh trong cuộc sống của người Khmer yếu kém, thua xa VK – thì nạn cáp duồn càng xảy ra quy mô trên toàn quốc do chính quyền Cambodia ngấm ngầm (1945-46) hay công khai phát động (1970).

Rất tiếc, tôi không tìm thấy có thông kê nào ghi nhận bao nhiêu VK và bao nhiêu người V tại VN đã bị giết một cách dã man trong suốt chiến dịch cáp duồn năm 1945-46 và 1970. Tôi nghĩ, dù không nói ra, nhưng nhiều người có quan tâm đến thời cuộc, gần như đều có chung suy nghĩ: Cáp duồn chắc chắn sẽ xảy ra lần nữa, với mức độ không nghiêm trọng như trong quá khứ, nếu Sam Raíny lên ngôi lãnh đạo tại Cambodia.

V. Đôi nét về tình hình người Việt tại Cambodia

Khó biết được có bao nhiêu VK đang sống ở Cambodia, ước đoán từ 200 đến 500 ngàn. Tuy nhiên, những người K quá khích theo chủ nghĩa dân tộc và nhất là người gốc K đang sống ở nước ngoài (Long Beach, CA) vẫn không chấp nhận sự tồn tại của VK trên lảnh thổ CM. Họ cho rằng con số VK thật sự là hàng triệu người và phải đuổi hết về lại VN. Họ không ngừng phát động, kêu gọi sự bài xích VK; bịa đặt đủ điều để vu khống, nói xấu người VN thông qua báo chí, internet và bằng miệng với du khách/ người nước ngoài – hung hăng nhất là vào những dịp tranh cử. Họ còn thường xúi dục nhóm người Việt gốc Khmer nổi loạn. Họ cố tình không công nhận những sự nhượng bộ đất hạ Chân Lạp của các Quốc vương Khmer đối với các vua VN và nhà Mạc.

Có quá nhiều người Việt chưa bao giờ có đủ điều kiện để đến trường và không biết viết, không biết nói tiếng Khmer. Có ít nhất là một nữa ở nhà thuê. Nhiều người không có lấy một tờ giấy khai sinh hay một giấy tờ hợp pháp. Vì không có lối thoát, vì tương lai tăm tối, nên có hàng chục ngàn phụ nữ và trẻ em nghèo gốc Việt trở thành nạn nhân của kỹ nghệ tình dục.

Cá nhân tôi, tôi cho rằng bài học về hậu quả của sự thiếu đoàn kết của cộng đồng lâu đời nhất của người Việt nơi xứ người – cộng đồng người Việt tại Cambodia – là bài học vô giá đối với mọi Việt kiều và cả người trong nước. Tuy nhiên, rất buồn là ít người biết, ít người để ý đúng mức để có thể thấy được giá trị học hỏi cần thiết của nó.

Người Việt thường quên những chuyện thù hận và đau thương trong quá khứ. Vì vậy bài này chỉ giải thích phần nào nguyên nhân tại sao phần lớn người Việt tại Cambodia đã và đang lâm vào cảnh bần cùng, thất học, không có cơ hội vươn lên, rất đáng thương. Cũng như phản ảnh lý do tại sao mại dâm là con đường sống gần như duy nhất của một số gia đình.

Chú thích:

Thông tin trong bài được lấy ra từ nhiều nguồn tài liệu, sách vở và blog. Tôi đính kèm một số trang web để các bạn có thể tìm hiểu thêm.

http://www.nguyenhuynhmai.com/D_1-2_2-59_4-1328_5-4_6-1_17-3_14-2/#nl_detail_bookmark

http://thongtinberlin.net/thoisu1/nguoivietnamocampuchiadangchetmon.htm
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/64574/Thang-tram-phan-Viet.html

Sách “Vòng quanh thế giới – Người Việt tại hải ngoại (chương Cambodia)”

Sách hay tiếng Anh o­nline miễn phí về Cambodia và Việt Nam: 

Người Việt ở Campuchia: Ai sinh ra “khúc ruột thừa”?

Bình luận của Tony Phạm, từ California

Báo chí quốc tế không hề phóng đại khi khái quát, sau nhiều thập niên cưỡng đoạt, cả trên thực tế lẫn tưởng tượng, Việt Nam vẫn là “ông kẹ” chính của chủ nghĩa dân tộc Campuchia. Tuy nhiên, ván bài mà Việt Nam đã và đang “đánh” bao đời nay trên xứ Chùa Tháp, giờ đây đang đang trở thành game “bước nhảy Kangaroo” đầy phiêu lưu và nguy hiểm.

“Cái tát nảy đom đóm”

Qua báo chí thế giới, chúng ta được biết, từ đầu tháng 6 năm nay, chính quyền Campuchia tuyên bố sẽ trục xuất hàng ngàn người Việt ra khỏi những căn nhà nổi của họ trên bờ sông Tonle Sap [1]. Chưa có những phân tích thấu đáo nào về các nguyên nhân chìm nổi đằng sau vụ “thanh lọc sắc tộc” ác liệt này của chính quyền Hun Sen. Quả là không thể tìm được một từ nào xác đáng hơn, đây đúng là một cuộc “thanh lọc sắc tộc!” Điều đáng nói, hành động thách thức công khai này trên thực tế, là “cái tát” vào mặt chính quyền Việt Nam, từ một chính khách có não trạng phân biệt chủng tộc, tiếp nhận gen phát xít từ mồ ma Khmer Đỏ. Kẻ này có cái tên kèm theo danh hiệu loằng ngoằng (dài giống như các nhà độc tài khác ở Phi châu) là Samdech Akeakmohasenapadey Decho Hun Sen, bí danh tiếng Việt là Mai Phúc.

Nhưng điều đáng nói hơn, đó chính là thái độ “đem conbỏ chợ” của chính quyền Hà Nội, chính xác hơn là của ĐCSVN. Đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng dương dương tự đắc trước quốc dân và thế giới: “Đất nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Ông Trọng đang “selfie” về cái uy thế “ảo” ấy thì Hun Sen đã cho ông một cú “knocked-out” không thể nào đau hơn. Văng vẳng những lời “ngáo đá” vừa trích dẫn của ông Trọng, người nghe buộc phải hồi tưởng lại cái “giọng ca cải lương” từ một người sinh ra trên đất Kampong Cham: “Campuchia có niềm tin chỉ có tiên có Phật mới cứu giúp được những phận người khi gặp khó khăn khốn cùng. Đúng vào lúc người dân Campuchia sắp chết, chỉ còn biết chắp tay khẩn cầu Tiên Phật tới cứu thì bộ đội tình nguyện Việt Nam đã đến. Bộ đội Việt Nam chính là đội quân nhà Phật” (Tuyên bố của Hun Sen ngày 2/1/2012).

000_Hkg9538047.jpg
Một người phụ nữ Việt Nam trên thuyền ở làng nổi thuộc tỉnh Kampong Chhnang, cách thủ đô Phnom Penh 90 km. Hình AFP

Vẫn biết dân Việt, nhất là những người sống gần như tận dưới đáy xã hội Campuchia, chẳng đầu óc nào mà đi “ăn mày dĩ vãng” với một cộng đồng có “tượng Bayon bốn mặt” như người Khmer. Tuy nhiên, khi ngồi gõ những dòng này, tác giả không khỏi chạnh lòng nhớ đến lời cầu khẩn qua phiên dịch của một người Việt tên là Bach Bai: “Please show mercy!” (Xin hãy rủ lòng thương xót!) Ông Bai ngậm ngùi ngồi kể lại cuộc đời trôi nổi của bản thân và gia đình, trong khi ba đứa con nhỏ xì xụp bên tô mì và ngửa tay xin tiền phóng viên. Trường hợp của ông Bai chỉ là một trong hàng ngàn gia đình không quốc tịch đang sống dở chết dở, những người từng kiếm sống bằng nghề nuôi cá và đón khách du lịch trên sông Tonle Sap. Hàng trăm hộ dân đó hiện đang neo đậu ở một bờ sông cách Việt Nam vài cây số, với mong muốn được phép về nước, nhưng rồi họ cũng bị chính nhà nước cộng sản Việt Nam chối từ, với lý do COVID-19 [2].

Lạ lùng là nền báo chí “cướp – giết – hiếp” vừa mới kỷ niệm ngày ra đời một cách rềnh rang, tốn kém và đầy phản cảm lại không mấy quan tâm tới tình cảnh thê thảm nói trên từ chính những đồng bào của mình ở bên kia đường biên giới. Hình như báo chí được lệnh từ Ban Tuyên giáo Trung ương không được đả động đến đề tài cấm kỵ này. Vẫn “bổn cũ soạn lại”: Đoàn kết Đông Dương là quy luật thép của cách mạng ba nước, dù điều gì xẩy ra thì cũng không được làm mếch lòng những người anh em “sáng nắng chiều mưa”, kẻ thù giai cấp rất dễ lợi dụng để xuyên tạc tình đoàn kết Việt Nam – Campuchia. Nói cho công bằng, trên trang Facebook của mình, Đại sứ Việt Nam tại Phnom Penh Vũ Quang Minh có nhỏ nhẹ chỉ trích việc trục xuất này. Đại sứ Minh gọi đây là “một quyết định đột ngột”, với viện dẫn khả năng rủi ro của COVID-19, trước khi ông kêu gọi “người Việt hãy làm việc chăm chỉ hơn để hòa nhập ở Campuchia và không nên trông đợi các Quỹ từ thiện”.

Cõ lẽ trên đây là phản ứng “quyết liệt” nhất cho đến nay (sau khi consultations với trong nước và được Bộ Ngoại giao bật đèn vàng), từ người đại diện cho Chủ tịch nước trên đất Chùa Tháp. Trong khi đó, về phương diện quốc tế, ông Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền – một tổ chức cũng đang bị cáo buộc là đã xem nhẹ vấn đề thanh lọc sắc tộc đối với người Việt – cho biết, tổ chức của ông “lo ngại nghiêm trọng trước tình trạng phân biệt đối xử và lạm dụng liên tục đối với cộng đồng người gốc Việt ở Campuchia… Không còn nghi ngờ gì nữa, người dân Việt nằm trong số những người nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất ở Campuchia. Đó là lý do chính, tại sao họ thiếu tình trạng sống hợp pháp, vì chính sự phân biệt đối xử có hệ thống đã gây ra tình trạng nghèo khó và dễ bị tổn thương ấy của họ”.

Ai đứng đằng sau?

Vẫn biết, vấn đề người Việt Nam ở Campuchia rất phức tạp. Trong hơn một thế kỷ, người Việt là đối tượng công kích của những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc Campuchia, càng về sau này càng dày đặc. Theo số liệu điều tra dân số chính thức từ năm 2013, có khoảng 63.000 người gốc Việt sống trên đất Chùa Tháp, nhưng con số thực có thể cao hơn rất nhiều. Một tổ chức NGO khác lại ước tính, có từ 400.000 đến 700.000 người Việt ở Campuchia. Một số người Việt ở Campuchia ngày nay là những người mới di cư, trong khi có nhiều người đã sống ở đây qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, sự phân biệt đối xử không che đậy là, số đông trong những người này không hề được hưởng quyền công dân hoặc các giấy tờ hợp pháp. Con số họ lên tới khoảng 90%, theo Tổ chức Quyền của Người thiểu số (Minority Rights Organisation) có trụ sở ở Phnom Penh. Điều này có nghĩa là, một bộ phận bị từ chối các quyền bầu cử, quyền sở hữu đất đai, thậm chí cả quyền đi học và do đó về cơ bản, họ là những người vô tổ quốc.

Theo ông Sopham Ear, giảng viên về ngoại giao và chính trị quốc tế ở Occidental College, Los Angeles, rõ ràng trước đây, Việt Nam là nước đã tiến vào giải phóng, nhưng chính Trung Quốc mới là kẻ chiến thắng ở Campuchia và trở thành ông chủ ở đây. Hà Nội hiện nhìn về Phnom Penh một cách đầy tiếc nuối, đôi khi pha lẫn cả phức cảm oán hờn. Kẻ mà họ đã dựng lên từ tro tàn, nay lại nói lời chia tay và rơi vào vòng kiềm tỏa của Bắc Kinh... Thật ra, Việt Nam giải phóng Campuchia khỏi chế độ diệt chủng cũng là để tự vệ, chứ không phải vì lòng nhân từ. Hà Nội tung ra những đợt phản công quy mô chỉ trong vòng 13 ngày trước khi tiến vào Phnom Penh, đó là do bị Khmer Đỏ liên tục quấy phá vùng biên giới trong nhiều năm [4].

Nhớ lại thời gian ngắn ngủi ấy sau năm 1975, chính quyền Khmer Đỏ từng gây cho Hà Nội nhiều cơn choáng đột ngột. Chính một tướng An ninh Việt Nam từng tuyên bố, nếu không có Trung Quốc đứng đằng sau “hà hơi tiếp sức”, chỉ đạo, định hướng, thậm chí lên kế hoạch chi tiết đánh phá Việt Nam thì đến bố Pol Pot có sống lại cũng chẳng dám đụng đến đất đai của chúng ta [3].

< iframe height="314" src="https://www.youtube.com/embed/6HpATJ-bxZs" width="560" style="box-sizing: border-box; position: absolute; top: 0px; left: 0px; width: 620px; height: 348.75px;">< /iframe>

Thế nhưng ngày nay, Phnom Penh không còn muốn thuật lại câu chuyện dưới khía cạnh đen trắng phân minh như trong quá khứ. Một bộ phim nói về việc Hun Sen đào ngũ và chiến đấu chống lại Khmerr Đỏ đã được chiếu trên đài truyền hình quốc gia năm ngoái. Bộ phim không hề nhắc đến, dù chỉ một lần, rằng Trung Quốc chính là kẻ đã hậu thuẫn cho chế độ diệt chủng. Lịch sử rõ ràng đã bị bóp méo. Trong khi cuối những năm 80, chính Hun Sen từng tuyên bố: “Trung Quốc là gốc rễ của mọi điều ác ở Camphuchia”. Nhưng rồi một thập niên sau, Hun Sen lại coi Trung Quốc là “người bạn đáng tin cậy nhất” và nay thì từ ngữ được các viên chức chính quyền dùng là “người bạn sắt son”.

Để tránh các thuyết âm mưu dễ dãi, chúng ta chưa thể khẳng định một cách dứt khoát, ai đứng đằng sau cuộc “thanh lọc sắc tộc” đối với người Việt sống ở Camphuchia hiện nay? Liệu đây có phải là “một quyết định đột ngột” như Đại sứ Việt Nam Vũ Quang Minh viết trên FB? Hay chúng ta lại tin vào lời của người phát ngôn chính phủ Campuchia Phay Siphan: “Chúng tôi đã nói với họ trong nhiều năm (tức là nói với những người Việt sinh sống trên đất CPC) rằng, chính phủ không thể đợi cho đến khi đại dịch kết thúc mới thực thi luật pháp… Nhưng họ đã phớt lờ những lời cảnh báo và sau đó phàn nàn rằng họ chẳng có nơi nào để đi”? Trong khi bản thân Hun Sen từng thừa nhận trên báo “Khmer Times” ngày 2/11/2016, chính người Pháp đã khuyến khích và bắt ép người Việt Nam sang Campuchia. Cá biệt có thời điểm người Việt chiếm hơn 70% nhân lực trong ngành công nghiệp cao su ở nước này.

Trong khi đó, lời van nài của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam mỗi khi đề cập đến vấn đề này đều “mong các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương Campuchia quan tâm, tạo thuận lợi cho cộng đồng người Việt Nam sinh sống và làm ăn ổn định, đồng thời đảm bảo các quyền lợi hợp pháp trên mọi mặt đời sống”. Hoá ra chuyện “thanh lọc” nói trên là quyết định của chính quyền địa phương chứ không phải từ trung ương??? Buộc phải nhắc lại, sau 12 ngày chiếm đóng làng Ba Chúc (từ 18 đến 30/4/1978), Khmer Đỏ đã tàn sát 3.157 dân thường. Mãi tới lúc ấy, Hà Nội mới đi đến kết luận, vụ Ba Chúc cũng như các vụ thảm sát dọc biên giới trước đó, không phải chỉ là quyết định của chính quyền cấp địa phương.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng ao ước ta có độc lập thực sự để tiếng nói được láng giềng và quốc tế nể trọng. Đúng vậy, nếu có đường lối dân tộc và dân chủ thì không chỉ các nước phên dậu, mà ngay cả các cường quốc khác cũng không dễ bắt nạt ta như hiện nay. Singapore, Đài Loan, Israel… là những bài học nhỡn tiền. ĐCSVN đào tạo được mấy người, từ Tổng bí thư kiêm Thủ tướng Pen Sovann cho đến Tổng bí thư Pol Pot, từ đương kim Thủ tướng Hun Sen rồi cho đến không biết còn những ai nữa… tất cả họ đều “qua cầu rút ván” là tại làm sao? Chính sách của ta hay những người chúng ta lựa chọn có vấn đề? “Hoạ phúc phải đâu một buổi”. Cầu chúc ĐCSVN giải quyết rốt ráo vụ “thanh lọc” hiện nay. Từ những người được Đảng coi là “khúc ruột ngàn dặm”, nhìn về sông Tonle Sap, chúng tôi thực sự đau xót cho “khúc ruột thừa” của Đảng. Những kẻ tha phương cầu thực chúng tôi chỉ khác nhau ở một điểm: chúng tôi gửi hàng chục tỷ USD về nuôi Đảng mỗi năm; còn họ, đồng bào của chúng tôi, không những bị Hun Sen xua đuổi, mà trong thâm tâm, chắc Đảng cũng không muốn nhận trở lại quê hương, đúng không?

Đau thương lắm thay, Đảng ơi!



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Đưa nàng lên đỉnh [15.08.2022 19:48]
Quebec is the most racist [18.03.2021 13:37]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Tiếng lòng dân Việt năm châu [Đã đọc: 760 lần]
Con Công tử Bạc Liêu qua đời trong nghèo khó, dở dang ước muốn 'lọc sạn' giai thoại về cha [Đã đọc: 507 lần]
Khánh Ly mang họa vì hát Gia Tài Của Mẹ của TCS xúc phạm chế độ VC [Đã đọc: 418 lần]
Ukraine dồn dập tổng phản công ở Kherson quyết tâm tiêu diệt quân Nga xâm lăng [Đã đọc: 389 lần]
Chân dung Putin nhà độc tài thần tượng của CSBV [Đã đọc: 363 lần]
ĐẢNG VIÊN DÂM ĐẢNG NHẠC CA SĨ NỔI TIẾNG CỦA VN QUA TÂY BAN NHA HIẾP DÂM TẬP THỂ GÁI ANH BỊ CÂU LƯU [Đã đọc: 350 lần]
Ham lấy chồng Tàu nữ du học sinh 22 tuổi từ VN bị cắt cổ chết thảm tại Florida [Đã đọc: 328 lần]
Nhiều thanh niên Việt tòng quân Ukraine ra chiến trường, thêm một thiếu tá người VN bị tử trận, một binh sĩ sắp tử hình - Chính phủ VN có ra tay cứu mạng anh hùng Andy Huynh thanh niên Mỹ gốc Việt chống [Đã đọc: 289 lần]
Thân phận dân Việt thời đại HCM: Chính quyền CSVN dung dưỡng bọn TQ toa rập với Campuchia dụ phụ nữ VN qua làm nô lệ bắt đòi tiền chuộc [Đã đọc: 286 lần]
Dã man ngang nhau: Nga cố tình pháo kích Trung tâm thương mại Ukraine chìm trong biển lửa cả trăm dân lành thương vong, so với VC pháo kích trường học Cai Lậy năm 1974 [Đã đọc: 266 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.