Vietnamville http://www.vietnamville.ca

Những điệp viên CS nằm vùng thời VNCH
08.08.2008

Từ Phạm Ngọc Thảo Đến Phạm Xuân Ẩn


Cùng ôm khối hận đời mang xuống tuyền đài

Trong "Lịch Sử Hoạt Động Tình Báo" của Đảng CSVN, trên chiến trường miền Nam Việt Nam (1946-1975), có rất nhiều bi kịch cá nhân của các tình báo viên cộng sản, mà hai điển hình được nêu ra đây là bi kịch của Phạm Ngọc Thảo và Phạm Xuân Ẩn!


Phạm Ngọc Thảo (PNT) và Phạm Xuân Ẩn (PXA) đều là Cán bộ Tình báo Chiến lược của Đảng CSVN, trong suốt hai thời kỳ 1945-1954 (kháng chiến chống Pháp) và 1955-1975 (chống Mỹ cứu nước) nhưng PNT là thế hệ đàn anh, còn PXA thuộc thế hệ đàn em. Về vai trò và vị trí chiến lược của hai người trong hoạt động gián điệp cũng khác nhau! Chỉ có một điểm giống nhau là Họ Cùng Ôm Khối Hận Đời Mang Theo Xuống Tuyền Đài!

I- Người Hùng Thời Thế Phạm Ngọc Thảo (1922-1965)

Sinh vào năm 1922 (ngày 14 tháng 2), PNT là đứa con thứ Chín trong gia đình đại điền chủ và là công giáo toàn tông. (Gốc ở Long Xuyên, sau năm 1930 về sống ở tỉnh Vĩnh Long - miền Tây Nam Bộ). Năm 1931, học xong chương trình Tiểu Học ở tỉnh nhà, PNT được gửi lên Sàigòn để vào học ở trường Trung Học Chasseloup Laubat (dân Sàigòn thường gọi là trường Tây, vì chỉ có con của các quan Tây và của người Việt vô dân Tây mới được học tại trường này). Năm 1937, PNT đã tốt nghiệp bằng Tú Tài II (gồm cả 2 Ban Toán và Triết). Sau đó, PNT ra học trường Kỹ sư Công chánh ở Hànội. Năm 1942, PNT đã đậu bằng Kỹ sư Công chánh và về làm việc ở Sàigòn từ năm 1943!

Trong cuộc Cách Mạng Tháng Tám (1945), là thanh niên trí thức yêu nước, PNT đã hăng hái tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở Sàigòn (9-1945). Khi quân đội Pháp nương theo quân đồng minh (Anh-Ấn) trở lại chiếm Sàigòn (23-9-1945), PNT liền tham gia Đoàn quân Nam bộ Kháng chiến! Nhờ có trình độ học vấn cao, thông thạo ngoại ngữ (Pháp-Anh) nên PNT đã được tướng Nguyễn Bình cử đi học khóa đào tạo Cán Bộ Lãnh Đạo Tình Báo Nam Bộ, do Trung ương mở cấp tốc trong thời gian 9 tháng. Học xong, trở về Nam Bộ, PNT đã được Ban Quân Sự Nam Bộ - sau này đổi là Bộ Tư Lệnh Nam Bộ (BTLNB), cử giữ chức Phó Ban Đặc Vụ Nam Bộ (năm 1948 đổi tên là Ban Mật Vụ Nam bộ. Năm 1950 được đổi tên là Ban Quân Báo Nam bộ) dưới quyền của tướng Hoàng Đạo, Cục trưởng Cục Tình Báo trung ương vào làm Trưởng Ban.

Điều khó khăn nhất của PNT là: Dù rằng, mang danh nghĩa là Phó Ban Mật Vụ Nam bộ (MVNB), tương đương cấp trung đoàn, và có khả năng chuyên môn, nhưng PNT chưa phải là Đảng viên Cộng sản, nên gặp rất nhiều khó khăn trong công tác lãnh đạo cấp dưới trực thuộc, mà hầu hết họ là Đảng viên Cộng sản! Bởi vì thành kiến thành phần xuất thân của PNT (Địa chủ-Công giáo), nên Chi bộ Đảng cơ quan MVNB không chịu kết nạp PNT, mặc dù đã có sự chỉ đạo của Đảng bộ BTLNB là phải kết nạp PNT sớm, để tráng tình trạng bất mãn, bỏ ngũ, như trường hợp Trịnh Khánh Vang, Lê Văn Viễn… (!) Nhưng cho đến năm 1949 PNT vẫn còn là người ngoài Đảng!

Trong thời gian làm việc ở chiến khu Nam bộ vùng Đồng Tháp Mười, PNT quen được một Cán bộ của Hội Phụ Nữ Cứu Quốc Nam bộ, cùng tuổi với PNT, tên là Phạm Thị Nhiệm. Cha của bà Nhiệm là cụ Phạm Thân, người Nghệ An, là cử nhân Hán học, đã từng làm Huấn Đạo, Thị Độc… của triều đình Huế. Giáo sư Phạm Thiều, nguyên là Đốc học trường Tiểu học Cai Lậy (Mỹ Tho) và Thanh Tra Giáo Học các tỉnh miền Tây Nam Kỳ, là anh ruột của bà Phạm Thị Nhiệm. Sau Cách mạng Tháng 8-1945, ông Phạm Thiều là Ủy viên Ủy Ban Hành chánh Kháng chiến Nam bộ. PNT đã chính thức kết hôn với chị Nhiệm vào ngày 1 tháng 6 năm 1949.

Đầu năm 1950, để kết nạp PNT vào Đảng trước năm 1951 (nhân dịp Đảng CSVN ra công khai, lấy tên là Đảng Lao Động Việt Nam, Đảng bộ BTLNB quyết định đưa PNT ra thử thách ở chiến trường, bằng cách giao cho PNT làm chỉ huy trưởng Tiểu Đoàn 404 - Tiểu đoàn chủ lực của Nam Bộ (không phải Tiểu đoàn 402 như một số sách đã viết!). Trong chiến dịch 1950 - tập kích tiêu diệt các đồn bót của quân Pháp trên các tuyến giao thông, hưởng ứng chiến dịch biên giới 1950 ở Việt Bắc, PNT đã chứng tỏ là người chỉ huy có tài, chỉ huy Tiểu đoàn 404 lập được nhiều chiến công. Cho nên, PNT đã được Đảng ủy Tiểu đoàn 404, do Trần Văn Tiên làm Bí thư, kiêm Chính trị viên Tiểu đoàn, kết nạp PNT vào Đảng ngay ngoài mặt trận!

Năm 1951, sau khi trở thành Đảng viên chính thức, PNT đã được thăng cấp Trung Đoàn Phó Trung đoàn chủ lực Nam Bộ (Trung đoàn Tây Đô), hoạt động trên chiến trường miền Tây Nam bộ.

Năm 1953, để chuẩn bị cho "hậu chiến", theo lệnh của Trung ương, Xứ ủy Nam bộ bí mật cử một phái đoàn Đảng - Quân - Dân –Chánh, đi ra Việt Bắc, trong đó có PNT- đại diện cho Ban TBNB! Sau khi Hiệp định Đình Chiến (7-1954) đã được ký tại Genève, PNT trở về chiến trường Nam bộ, qua đường hàng không Bắc Kinh-Cambodge, vào chiến khu U Minh, đúng lúc quân đội Việt Minh đang tập trung về các khu tập kết, để chuyển quân ra Bắc (từ tháng 11-1954…) theo tinh thần nghiêm chỉnh thi hành Hiệp Nghị Genève!

Vào một ngày sau Tết Ất Mùi (cuối tháng 1-1955) trong một căn nhà lá 3 gian, tọa lạc giữa khu vườn cây ăn trái, tại kênh 9 thuộc xã Biển Bạch, huyện Thới Bình (Cà Mau), có một cuộc họp đặc biệt chỉ có 3 người: Lê Duẩn Bí Thư Xứ ủy Nam bộ, Lê Đức Thọ Phó Bí thư Xứ ủy kiêm chánh ủy Bộ Tư Lệnh Nam Bộ và Trung tá Tình báo Phạm Ngọc Thảo. Trong cuộc họp đặc biệt này, Lê Duẩn đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho PNT như sau:

"Trở về Vĩnh Long với tư cách bỏ Việt Minh, về với Quốc Gia, bắt liên lạc với Giám mục Giáo phận Vĩnh Long Ngô Đình Thục. Và thông qua cảm tình của ông ta với gia đình, tìm cách chui sâu, trèo cao trong chế độ Ngô Đình Diệm,nắm nắt những mưu đồ chiến lược của Mỹ-Diệm báo cáo kịp thời cho Trung ương; đồng thời chuẩn bị lực lượng ngầm để phối hợp "nội công ngoại kích" cho công cuộc lật đổ chế độ Mỹ-Diệm trong tương lai, nếu việc Thống nhất Bắc Nam bằng con đường hòa bình thi hành Hiệp Nghị Genève không thành công!" (Theo hồ sơ "Tối Mật" của Cục Tình Chiến lược, tập 1955-1959, lưu trữ tại văn phòng riêng của Phan Triêm-Phó Ban Tổ Chức TW Đảng, đặc trác Tình Báo Chiến Lược).

Tháng 3-1955, PNT cho vợ về giáo phận Vĩnh Long để liên lạc với Đức Giám mục Ngô Đình Thục, trình bày việc PNT "quyết tâm bỏ Việt Minh, trở về hợp tác với Chính quyền Quốc gia, và nhờ sự giới thiệu của Đức Giám mục! Vì có giao tình thân thiết với thân sinh PNT, và ngài cũng biết rất rõ vợ chồng PNT, nên Đức Giám mục Ngô Đình Thục (1897-1984) sẵn lòng giới thiệu PNT cho người em trai Ngô Đình Diệm (1901-1963) [Đầu năm 1955 ông Ngô Đình Diệm đang làm Thủ tướng của chính quyền Quốc gia do Quốc trưởng Bảo Đại cầm đầu. Sau tháng 10-1955, khi đã truất phế Bảo Đại, ông Diệm mới lên làm Tổng thống của Đệ nhất VNCH]

Tháng 4-1955, PNT và vợ đã về ở tại giáo phận Vĩnh Long dưới sự bảo hộ của Đức Giám mục Ngô Đình Thục, nên an ninh hay cảnh sát địa phương đâu dám ra mặt làm khó, cho dù đã biết PNT mới từ trong chiến khu trở về!

Để tạo điều kiện sinh hoạt tại Sàigòn trong buổi đầu cho PNT, Đức Cha Ngô Đình Thục giới thiệu PNT cho người học trò cũ của Ngài là ông Huỳnh Văn Lang (HVL) và nhờ HVL giúp đỡ! Lúc này, ông HVL đang giữ chức Tổng Giám Đốc Viện Hối Đoái Quốc gia Việt Nam. Do đó, trong thời gian từ giữa năm 1955 đến đầu năm 1956, PNT đã làm việc tại Viện Hối Đoái, và chị Nhiệm đi dạy học ở một trường tư thục. Vì mối quan hệ thân tình đó mà khi ông HVL chủ trương xuất bản tờ Tạp chí Bách Khoa, PNT đã đóng góp công sức không ít trong Ban Biên Tập của nguyệt san Bách khoa, mà ông HVL là Chủ nhiệm!

Khi ông Ngô Đình Diệm chính thức lên làm Tổng thống Đệ nhất VNMCH, Đức Cha Ngô Đình Thục mới giới thiêu và tiến cử PNT cho Tổng thống, rằng: "Hắn là một nhân tài, thành tâm về với Chính nghĩa Quốc gia, đề nghị Tổng thống nên tin dùng, cho hắn một vị trí xứng đáng với tài năng sẵn có, với tinh thần chiêu hiền đãi sĩ!" Nhờ sự nhiệt tình tiến cử đó mà Tổng thống Ngô Đình Diệm mới ra lệnh cho Bộ Quốc Phòng ký quyết định đồng hóa cấp Đại úy. Và cũng theo sự gợi ý của Đức Giám mục Ngô Đình Thục, Tổng thống Ngô Đình đã quyết định đưa Đại úy PNT đi làm Tỉnh Đoàn trưởng Bảo An của tỉnh Vĩnh Long (1956-1957). Như vậy, trong bước đầu, con đường "trèo cao" của điệp viên PNT, coi như đã thành công! Chỉ còn tìm cách "chui sâu" và trèo cao hơn, để đạt mục đích lâu dài về vai trò của Tình báo Chiến lược!

Cuối năm 1957, PNT được thăng chức Thiếu tá, và được cử là Tỉnh trưởng Tỉnh Bến Tre. Vì sao PNT được cử làm Tỉnh trưởng Bến Tre? Và vì sao PNT lại "nhờ" Bác sĩ Trần Kim Tuyến (TKT) - Giám Đốc Sở Mật Vụ - mang tên giả là Sở Nghiên Cứu Chính trị-Xã hội vận động để khỏi đi làm Tỉnh trưởng Bến Tre?

Theo tin tức tình báo của VNCH (cũng như của CIA) thì "bọn Cộng sản nằm vùng ở Bến Tre đang chuẩn bị nổi dậy!" Do đó, phủ Tổng thống mới chọn người có khả năng trấn áp cuộc nổi dậy của bọn cộng sản nằm vùng, để cử về làm tỉnh trưởng Bến Tre. Cho nên, Đức Giám mục Ngô Đình Thục liền tiến cử Thiếu tá PNT, vì PNT "hiểu biết chiến thuật nổi dậy của bọn cộng sản nằm vùng hơn ai hết!", đồng thời cũng để thử thách thêm "lòng trung thành đối với chánh phủ Quốc gia" của PNT, mà ông Tư Lệnh quân khu IV Huỳnh Văn Cao vẫn "nghi ngờ PNT là gián điệp của cộng sản trá hàng?" Đó là lý do chính để chọn PNT đi làm Tỉnh trưởng Bến Tre!

Rõ ràng, điệp viên PNT đang đứng trước 2 nan đề: Làm thế nào vừa bảo toàn được "lực lượng cách mạng giải phóng" của Bến Tre, vừa giữ được sự an ninh cho chính quyền Quốc gia ở Bến Tre? Vì vậy, trước tiên PNT giả bộ sợ "nguy hại" cho bản thân, mới "năn nỉ" Bác sĩ TKT, xin ông Ngô Đình Nhu cho PNT ở lại Vĩnh Long. Đây chỉ là "chiến thuật lá chắn", để làm cái vỏ bọc che dấu mặt thật, nhằm tránh hậu quả xấu, khi không hoàn thành nhiệm vụ trấn áp bọn cộng sản Bến Tre của điệp viên giấu mặt PNT!

Năm 1958, khi làm tỉnh trưởng Bến Tre, PNT đã nổi danh là "Tỉnh trưởng sát cộng sản" - bắt được "tên cộng sản nằm vùng" nào là giết bỏ, không chùn tay súng (?) Nhưng, sự thật thì không đúng như vậy! Phải nói: PNT là "Tỉnh trưởng sát những người từ trong hàng ngũ Việt Cộng, về cộng tác với Chính phủ Quốc gia, tiêu diệt bọn cộng sản nằm vùng!" PNT ra lệnh giết họ với lý do thật là hợp lý rằng: "Hắn là tên cộng sản giả đầu hàng để ngầm đánh phá nội bộ của chính quyền quốc gia. Bắn bỏ đi để trừ hậu hoạn (!)". Chính vì lẽ đó mà một số người trong hàng ngũ cộng sản nằm vùng ở Bến Tre muốn về với Chính phủ Quốc gia, đều phải hoảng sợ, không dám ra "chiêu hồi" tại tỉnh Bến Tre, khi PNT còn làm tỉnh trưởng! PNT hành động như thế, vừa được cấp trên khen là "thẳng tay diệt trừ Cộng Sản, vừa bảo toàn được "lực lượng giải phóng" của Bến Tre!

[Giữa năm 1965, khi nghe tin PNT bị tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh giết chết, có một cán bộ làm việc tại văn phòng Bộ Tư Lệnh Miền, không biết thân phận thật của PNT, nên đã nói: "Đáng đời cho cái tên phản bội!" Bà Nguyễn Thị Định - Tư Lệnh phó quân giải phóng miền Nam, nguyên là Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre trong thời gian PNT làm tỉnh trưởng, rất tức giận! Bà ta ra lệnh tập họp tất cả Cán bộ của văn phòng Bộ Tư Lệnh lại, và tuyên bố rằng: "Đồng chí Phạm Ngọc Thảo là liệt sĩ anh hùng của dân tộc ta! Chính nhờ đồng chí ấy mà tôi và nhiều đồng chí ở Bến Tre, đã bảo toàn được lực lượng, để làm nên cuộc Đồng Khởi hồi đầu năm 1960 đó!" – Theo tiết lộ của chị Sáu Hồng, thư ký riêng của bà Nguyễn Thị Định trong những năm 1964-1966].

Cuối năm 1959, PNT nhận được tin "Mật" là Bến Tre sắp nổi dậy "Đồng Khởi" cướp chính quyền! Với "vai trò hai mặt", PNT phải làm thế nào, vừa để cho cuộc Đồng Khởi của cộng sản Bến Tre, do Nguyễn Thị Định lãnh đạo, tiến hành thành công; vừa làm tròn chức trách của một tỉnh trưởng VNCH? Suy tính mãi, PNT mới tìm ra được một kế sách vẹn toàn cho cả hai là: "Việt Cộng cũng thắng và Quốc Gia cũng thắng!" Kế sách đó là: Trong 2 tuần lễ đầu (từ 17-1-1960 đến 31-1-1960) để cho quân đồng khởi của Nguyễn Thị Định đánh chiếm được một số Xã thuộc các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri… Sang đầu tháng 2-1960, tỉnh trưởng PNT trực tiếp chỉ huy quân đội Quốc gia hành quân bình định, đuổi Việt Cộng ra khỏi những vùng đất gọi là "mới giải phóng"! Sau cuộc bình định cấp tốc đó, PNT đã được Ngô tổng thống khen thưởng và được thăng cấp Trung tá (9-1960).

Một lần nữa, PNT có cơ hội lập công với Ngô Tổng Thống. Đó là, nhân cuộc binh biến ngày 11-11-1960, do nhóm cấp tá của Lữ đoàn Nhảy Dù - Nguyễn Triệu Hồng, Vương Văn Đông chủ trương và tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đại tá Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy Dù Nguyễn Chánh Thi, đang trên đà diễn tiến, có cơ nguy hiểm cho gia đình trị Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu! Trong thời gian nguy hiểm đó, nếu gọi được Đại tá Trần Thiện Khiêm, Tư Lệnh Sư đoàn 21 bộ binh, cấp tốc đưa sư đoàn từ Mỹ Tho về, thì kịp thời đảo ngược thế cờ! Nhưng, Bác sĩ TKT biết Trần Thiện Khiêm sẽ không nghe lời ông ta! Vì thế, TKT mới nhờ PNT ra mặt, trên tinh thần "bằng hữu chi giao" từ trước 1945 với Trần Thiện Khiêm, động viên ông ta, cấp tốc đem quân từ Mỹ Tho về Sàigòn "cứu giá" Ngô tổng thống! Và Đại tá Trần Thiên Khiêm đã kéo quân về Sàigòn kịp thời đẩy lui cuộc binh biến tự phát của Lữ đoàn Nhảy Dù, góp công lớn, bảo vệ được chế độ gia đình trị họ Ngô! Nhờ đó, mà hai năm sau, ngày 6-12-1962, Trần Thiện Khiêm được thăng cấp Thiếu tướng, và được giữ chức Tham Mưu Trưởng Liên quân/Bộ Tổng Tham Mưu (thay cho thiếu tướng Nguyễn Khánh, để Khánh chuyển lên Pleiku làm Tư lệnh Quân đoàn II)

Trung khi đó, việc ra công động viên Trần Thiện Khiêm đưa quân "cứu giá" của PNT đã trở thành câu chuyện riêng tư giữa 3 người (Tuyến-Thảo-Khiêm). Nhưng, vì để thực hiện cho được kế hoạch "trèo cao" và "chui sâu" vào đầu não trung ương của nền Đệ I VNCH, nên PNT đã viện hai lý do không thể tiếp tục ở lại Bến Tre: Một là, PNT đã giết nhiều Việt Cộng, nên đã bị Tỉnh ủy Cộng sản Bến Tre lên án tử hình PNT (?) Hai là, tướng Tư Lệnh quân khu IV Huỳnh Văn Cao đã thành kiến và muốn đẩy PNT vào chỗ chết (?). PNT đem hai lý do này nói với Bác Sĩ TKT, và nhờ ông TKT đề nghị với ông Cố vấn Ngô Đình Nhu, xin cho PNT thuyên chuyển về Sàigòn! Mặt khác, PNT cho vợ đến Vĩnh Long trình bày hai lý do đó cho Đức Cha Ngô Đình Thục, và nhờ Đức Cha cứu PNT, bằng cách Đức Cha giùm nói với tổng thống Ngô Đình Diệm ra lệnh cho người thay thế chức tỉnh trưởng Bến Tre của PNT! Cuối cùng Ngô tổng thống nể lời Đức Cha Thục. và nghe lời cố vấn của Ngô Đình Nhu, đã quyết định thăng chức Trung tá cho PNT và rút về làm việc tại Sàigòn! Và điều trung tá Trần Ngọc Châu về làm tỉnh trưởng Kiến Hòa (tức Bến Tre) thay cho PNT vào tháng 12 năm 1960.

Khi về Sàigòn làm việc (1961-1962), PNT dựa vào thế của Đức Cha Ngô Đình Thục, và nhờ sự giúp đỡ của Bác sĩ TKT; nhưng PNT vẫn chưa được ông Ngô Đình Nhu tin cậy hoàn toàn, nên PNT chỉ được bố trí vào chức "Công Cán Ủy Viên" của Bộ Xây Dựng Nông Thôn (trực thuộc Phủ Tổng Thống), và đi thanh tra công việc xây dựng nông thôn ở các địa phương! Trước khi làm Thanh tra Xây Dựng Nông Thôn, PNT được cử đi "nghiên cứu chính sách bình định" theo lời mời của chính phủ Kennedy (?)

Trong thời gian này, tên của PNT đã xuất hiện thường xuyên trên nguyệt san Bách Khoa, với những bài nghiên cứu về các hình thái chiến tranh nhân dân của Cộng sản Việt Nam trong thời kháng chiến chống Pháp! Nếu xét về bề ngoài, đây là cung cấp những kinh nghiệm chiến tranh của các Lực lượng Vũ trang của Cộng Sản, cho những nhà Quân sự cũng như các sĩ quan chỉ huy tác chiến của Quân lực VNCH biết, để chống lại một cách hữu hiệu. Đồng thời, PNT cố tình cho các nhà lãnh đạo VNCH cũng như Hoa Kỳ biết: Phạm Ngọc Thảo là một nhà quân sự tài năng. Nhưng, nếu xét về mặt Tình Báo, thì đây là một hình thức Thông Tin Công Khai một cách hợp pháp, cảnh báo cho những nhà lãnh đạo Quân Sự của Cộng Sản biết rằng: Không thể áp dụng chiến thuật chiến tranh thời chống Pháp, để đánh lại cuộc chiến tranh hiện đại của quân lực Mỹ-Việt! Bởi thế, trong Phòng Tư Liệu Nghiên Cứu của Bộ Chỉ Huy Quân Sự Miền của Việt Cộng, cũng như của Bộ Tổng Tham Mưu QĐND của Cộng Sản ở Hànội, mua không thiếu một số nguyệt san Bách Khoa nào, có bài viết của Phạm Ngọc Thảo!

Trong những năm 1961-1963, mặc dù Phạm Ngọc Thảo vẫn chưa "chui sâu" vào được trong cơ quan đầu não của chế độ Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu, nhưng với quan hệ rộng rãi trong các giới quân sự, chính trị và báo chí, nhất là ông rất thân với người cầm đầu Sở Mật vụ (TKT), nên có điều kiện thu thập nhiều tin tức, công khai cũng như bí mật, Cho nên PNT biết được mưu đồ chiến lược của Mỹ đối với Miền Nam Việt Nam, để báo cáo cho Lê Duẩn ở Hànội. PNT đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một Điệp viên Chiến lược! Nhờ đó, mà tập đoàn lãnh đạo Đảng CSVN – Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp… mới kịp thời chỉ đạo cuộc chiến tranh được gọi là "chống Mỹ cứu nước" trong giai đoạn 1961-1965!

Giữa năm 1963, PNT được thăng cấp Đại tá, vì "có công trong công vụ xây dựng nông thôn" (?) Kỳ that, vì ông Ngô Đình Nhu muốn dùng PNT trong việc thực hiện "chiến dịch BRAVO I"

Bởi vì vào lúc đó, thông qua các nguồn tin của Tình báo Quốc ngoại, ông Ngô Đình Nhu đã được biết: Chính Phủ Kennedy (Hoa Kỳ) đang có ý định "thay ngựa giữa đường" - Nghĩ là bỏ ông Diệm, đưa người khác lên thay để "chống Cộng hữu hiệu hơn" (?) Thật ra, Mỹ nghi ngờ ông Diệm "muốn bắt tay với Hồ Chí Minh". Do đó, ông Diệm đã tỏ ý không chấp nhận để cho quân đội Mỹ vào tham chiến ở Miền Nam Việt Nam (?) Cho nên, ông Nhu định ra tay trước bằng cách làm một cuộc chính biến gia đình. Theo dự định, kết quả của cuộc chính biến này là đưa ông Nhu lên thay ông Diệm. Nhưng, vì ông Diệm không đồng ý (!) Thế là, PNT mất cơ hội lập công để "trở thành vị tướng kế cận Tân tổng thống Ngô Đình Nhu (?)

Tương kế tựu kế, Bác sĩ TKT bàn với Đại tá PNT về việc lợi dụng một số tướng lĩnh đang có mưu đồ đảo chính chế độ gia đình trị Diệm-Nhu, để tiến hành một cuộc "đảo chánh hòa bình", làm thế nào vừa "giữ được sinh mạng cho gia đình họ Ngô", vừa "cải cách được chế độ VNCH, không lệ thuộc vào Mỹ" (?) Tuy nhiên, để tránh cho các tướng lĩnh nghi ngờ "có bàn tay của Cộng sản ở phía sau", nên trong khi hội họp với các tướng lĩnh chỉ có Bác sĩ TKT ra mặt. Còn Đại tá PNT thì núp trong "bóng tối" để quan sát, theo dõi, phân tích và đánh giá thái độ của từng người tham gia đảo chánh (?) Nhưng, công việc đang tiến hành thì Bác sĩ TKT bị cách chức Giám đốc Sở Mật Vụ, và bị đày đi làm Tổng Lãnh Sự ở Cairo-Ai Cập (9-1963). Cho nên PNT đành phải bỏ kế hoạch đảo chánh đang còn trong thời kỳ trù tính (!) Và một lần nữa, PNT lỡ dịp tạo thế và lực, cho CSVN có cơ hội lật đổ chế độ VBCG trước năm 1965 (?)

Cũng vào thời gian này, đã có một âm mưu đảo chánh quân sự để lật đổ chế độ gia đình trị Diệm Nhu, do trung tướng Trần Văn Đôn, tham mưu trưởng lục quân, đang quyền chức Tổng Tham mưu trưởng (thay cho Đại tướng Lê Văn Tỵ đang chữa bệnh ở Hoa Kỳ), cùng với các tướng Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiên, Lê Văn Kim… tiến hành theo kế hoạch của C.I.A. (được Tổng thống Kennedy chấp thuận). Đó là cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, với cái chết thê thảm của Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu (!)

Trong cuộc đảo chánh 1-11-1963, PNT giữ cái thế như "lục bình trôi" nghĩa là "có mặt trong hang ngũ tướng tá theo nhóm chủ trương đảo chánh, nhưng không làm gì hết". Sau đảo chánh, PNT cũng được thăng cấp Đại tá theo "dòng nước chảy xuôi" (Miễn là ai có tham gia đảo chánh là có thăng cấp!?) Nhưng, PNT không muốn ở lại trong nước để chấp hành nhiệm vụ "chui sâu trèo cao" của Đảng giao nữa, vì hai lý do: Một là, quá chán chường "tình người quốc gia" trước cái chết của hai anh em Ngô Đình! Hai là, PNT biết Đại tướng đắc thế nhất sau đảo chánh (Dương Văn Minh) đã có thành kiến và nghi ngờ PNT. Do đó, PNT mới vận đồng, xin Hội Đồng Quân Lực Cách Mạng cho ông đi du học ở Hoa Kỳ - học tại Fort Lewenworth.

Lần đi du học này PNT không xin phép Lê Duẩn trrước, mà khi học ở Mỹ, PNT mới thông báo cho ông ta biết, thông qua người anh là ông Phạm Ngọc Thuần, đang giữ chức Chủ nhiệm Ủy Ban Liên lạc Văn Hóa với nước ngoài ở Hànội. Lê Đức Thọ, Trưởng Ban Tổ chức TW Đảng trực tiếp chỉ đạo Cục Tình báo Chiến lược, đã kết tội PNT về việc "làm trước báo cáo sau là hành vi vô tổ chức"! Đồng thời Lê Đức Thọ còn nghi ngờ PNT "đã cộng tác với C.I.A."? (Theo tiết lộ của Phan Triêm, Phó Ban Tổ chức TW, đặc trách ngành Điệp báo).

PNT vừa rời Sàigòn vào giữa tháng 12-1963, thì ngày 30-1-1964, nhóm tướng Nguyễn Khánh-Trần Thiện Khiêm đã tiến hành lật đổ Dương Văn Minh (gọi là "Chỉnh Lý I"). Và tướng Nguyễn Khánh lên làm Thủ tướng kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Lực VNCH.

Đầu tháng 8-1964, PNT về nước, thì ngày 27-8-1964, Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm thực hiện cuộc "Chỉnh Lý II", lập ra "Tam Đầu Chế": Quốc trưởng Dương Văn Minh, Thủ tướng Nguyễn Khánh, Tổng trưởng Quốc phòng Trần Thiện Khiêm. Và Nguyễn Khánh đã kéo PNT về phủ Thủ tướng, giữ chức Giám đốc Báo chí. Sau cuộc âm mưu đảo chánh vào ngày 13-9-1964 của các tướng Lâm Văn Phát và Dương Văn Đức không thành, thì trong hang ngũ tướng tá Quân Lực VNCH lại lan truyền tin đồn là: "Tướng Trần Thiện Khiêm với sự cố vấn của Đại tá PNT, đang âm mưu tiến hành đảo chánh nhóm Minh-Khánh"? Do đó, để ngăn ngừa hậu họa,, Nguyễn Khánh quyết định tống PNT đi Mỹ dưới hình thức "cử đi làm tùy viên báo chí cho tòa Đại sứ VNCH tại Hoa Kỳ, vào đầu tháng 10-1964. (Lần này vợ con ông PNT cũng theo sang Mỹ và định cư tại Mỹ cho tới ngày nay).

Đến ngày 24-10-1964, Trần Thiện Khiêm cũng bị Nguyễn Khánh đưa đi làm Đại sứ ở Hoa Kỳ. Một nghi vấn được đặt ra là: Vô tình hay cố ý, Nguyễn Khánh đã tạo cơ hội cho Phạm Ngọc Thảo và Trần Thiện Khiêm gặp nhau ở Mỹ, để họ có điều kiện bàn chuyện đại sự sắp tới của quốc gia VNCH?

Sau khi Chánh phủ dân sự Trần Văn Hương ra mắt (4-11-1964), và "Hội Đồng Quân Lực" ra đời (18-11-1964), thì tướng Nguyễn Khánh tuy không còn làn Thủ tướng, nhưng với quyền hành của Chủ tịch Hội Đồng Quân Lực, kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng, tướng Khánh vẫn làm mưa làm gió một thời! Nguyễn Khánh đã nghĩ ngay đến chuyện triệt hạ PNT, để đập vỡ "bộ óc tham mưu" của tướng Trần Thiện Khiêm, nên đã nhân danh Bộ Ngoại Giao VNCH, đánh điện triệu hồi PNT về nước ngay, với ý đồ là bắt Đại tá PNT tại sân bay Tân Sơn Nhất!

PNT chấp hành lệnh triệu hồi của Bộ Ngoại Giao một cách nghiêm chỉnh, nhưng với dự mưu (đã bàn với tướng Trần Thiện Khiêm) là sẽ "tương kế tựu kế" lật đổ Nguyễn Khánh (?) Nhưng, khi PNT về đến Hongkong, được tin tình báo là Nguyễn Khánh đã bố trí quân cảnh đón bắt PNT vào đúng giờ hạ cánh tại Tân Sơn Nhất của chuyến máy bay mà PNT có mặt! Biết vậy, PNT quyết định bỏ chuyến bay đúng theo quy định, ở lại Hongkong một đêm. Và ngày hôm sau, bất thần đi chuyến bay khác về Sàigòn, làm cho kế hoạch bắt PNT của Nguyễn Khánh bị thất bại! Nhưng, chính đây cũng là bước ngoặt kết thúc bi thảm cuộc dời của một điệp viên thượng thặng của Đảng CSVN (!)

Đó là vào cuối tháng 12-1964, khi thoát khỏi bàn tay của Nguyễn Khánh, PNT vẫn sống, tới lui loanh quanh trong nội thành Sàigòn, để tìm hiểu tình hình, tìm cách nóc nối với bạn bè, thân hữu. Nhưng, đến đầu năm 1965, Nguyễn Khánh cho an ninh quân đội truy lùng PNT ráo riết! Cho nên PNT phải tạm thời rút vào bí mật, nay ở biệt thự này, mai ở phố khác, khi thì ở ngay trung tâm Sàigòn, khi thì ở trong con hẻm nào đó ở Chợ Lớn, lúc lên Thủ Đức lúc xuống Phú Lâm, hay sang Thủ Thiêm hoặc đến khu Phú Thọ Hòa… Bọn an ninh của Nguyễn Khánh theo bén gót, nhưng không tài nào chộp được PNT! Trong thời gian rút vào bí mật của Đại tá PNT, cũng là thời gian đề PNT chuẩn bị kế hoạch đảo chánh vào ngày 19-2-1965!

Trước khi tiến hành kế hoạch đảo chánh, PNT có dự mưu ám sát Nguyễn Khánh để dẹp cái chướng ngại lớn nhất của cuộc đảo chánh, nhưng không cơ hội để thực hiện! Vì vậy, ngày 12-2-1965, Đại tá PNT mới cùng nhóm cấp tá đồng mưu, như Trung tá Lê Văn Tư, Trung tá Đặng Như Tuyết, Trung tá Lê Hoàng Thao… và Đại tá Cao Hảo Hớn, họp bàn kế hoạch đảo chánh, trước hết là bắt Nguyễn Khánh, khống chế Bộ Tổng Tham Mưu. Cuộc họp đặt tại một địa điểm bí mật trong Chợ Lớn, PNT và các chiến hữu của ông cùng nhất trí hành động vào ngày 19-2-1965! Về danh nghĩa cầm đầu cuộc đảo chánh là thiếu tướng Lâm Văn Phát.

Nhưng, đại sự không thành vì nhiều lý do, trong đó có một lý do là không bắt được Nguyễn Khánh, vì Khánh đã chuồn khỏi Sàigòn trước khi PNT đưa quân đội đến bao vây tư dinh của Khánh ở bến Bạch Đằng, và ở Bộ Tổng Tham Mưu (?) Có mấy nghi vấn chung quanh sự kiện Nguyễn Khánh chuồn khỏi Sàigòn trước giờ G. ngày 19-2-1965: Ai, trong nhóm đảo chánh đã mật báo cho tướng Nguyễn Khánh? Nhân vật nào của Sở Tình Báo Mỹ (CIA) ở Sàigòn đã thông báo cho Nguyễn Khánh về kế hoạch bắt Nguyễn Khánh của đại tá PNT? (Ông PNT có báo cho Trưởng Sở CIA ở Sàigòn kế hoạch đảo chánh, để tranh thủ sự ủng hộ của Chánh phủ Mỹ?)

Có một câu hỏi quan trọng mà cho đến nay vẫn còn là ẩn số: Kế hoạch đảo chánh của PNT có liên hệ gì tới dự mưu tấn công Sàigòn vào tháng 5-1965 của Cộng sản miền Bắc?

Tình hình chính trị của VNCH từ sau cuộc đảo chánh 1-11-1963 đến đầu năm 1965, đã thường xuyên không ổn định! Tình thế đảo chánh liên miên sẽ mang đến một hậu quả tai hại cho chế độ VNCH, mà làm lợi cho Cộng sản! Chính Robert S. McNamara, Bộ trưởng Quốc phòng của Mỹ lúc ấy, phải than phiền rằng: "Tình hình ở Việt Nam đang xấu đi và nếu Mỹ không có hành động mới, thì thất bại là tất yếu. Nguy cơ thất bại của Mỹ ở Việt Nam là cực kỳ cao." ("In Retrospect, The Tragedy and Lessons of Vietnam" của Robert S. McNamara. Times Books, New York, USA, 4-1995, trang 171). Do đó, Cộng Sản Miền Bắc định lợi dụng thời cơ này, để tấn công Sàigòn, mở màn cho cuộc Tổng Công Kích và Nổi Dậy toàn miền Nam, bắt đầu từ 19-5-1965 (theo dự định). Cho nên vào tháng 9-1964, Bộ Chính Trị Trung ương Đảng LĐVN đã cử Đại tướng Nguyễn Chí Thanh vào Miền Nam trực tiếp chỉ đạo thực hiện 'kế hoạch 19-5-1965". Nhưng Hànội đã thất bại, vì Mỹ đã quyết định ồ ạt ném bom miền Bắc, nhằn hủy diệt tiềm lực chi viện cho Cộng Sản Miền Nam, bắt đầu từ 17-2-1965! Đồng thời trên chiến trường Miền Nam, quân lực Hoa Kỳ cũng mở những cuộc hành quân quy mô "Tìm và Diệt" để đập tan đầu não chỉ huy của Việt Cộng tại mật khu Dương Minh Châu (Tây Ninh).

Sau khi tiến hành cuộc đảo chánh 19-2-1965 thất bại, PNT và những người đồng mưu đều phải lẩn trốn, vì Hội Đồng Quân Lực do Nguyễn Khánh là chủ tịch, đã kết tội họ là "những phần tử phản quốc!", trong đó đối tượng chính mà Nguyễn Khánh quyết diệt cho được là Phạm Ngọc Thảo! Kể từ tháng 3-1965, Đại tá PNT coi như là "Tôi Phạm Tại Đào". Cảnh sát Quốc gia và An ninh Quân đội đã tung nhân viên đi lùng sục ông PNT khắp nơi!

Trong những tháng 3, 4, 5-1965, Đại tá PNT vẫn cải trang, thay đổi phương tiện di chuyển, thay đổi chỗ ở, nhưng không ra khỏi thành phố Sàigòn-Chợlớn-Giađịnh, để tìm cách thực hiện phương sách "thua keo này bày keo khác"! Cuối tháng 5-1965, Đại tá PNT cùng với nhóm cấp tá đồng mưu, đã tiếp xúc với ông giáo Trần Văn Hương, bày tỏ ý mời ông nhận chức Thủ tướng, nếu cuộc đảo chánh vào ngày 20-6-1965 thành công (theo dự định) (?).

Nhưng…

Ngày 19-6-1965, các tướng Thiệu-Kỳ đã tiến hành đảo chánh, được sự ủng hộ của chính phủ Mỹ, lật đổ và tống Nguyễn Khánh ra khỏi Hội Đồng Quân Lực và Bộ Tổng Tham mưu, ép Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát trao chính quyền dân sự cho chính quyền quân phiệt; với Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch "Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia" (tương đương Quốc trưởng), Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch "Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương" (giống như thủ tướng). Cuối tháng 6-1965, Chính quyền quân phiệt Thiệu-Kỳ đã lập tòa án quân sự để xử những sĩ quan tham gia 2 cuộc đảo chánh không thành, do tướng Lâm Văn Phát và Đại tá Phạm Ngọc Thảo cầm đầu (trên 150 sĩ quan). Bốn người bị xử tử vắng mặt là: Thiếu tướng Lâm Văn Phát, Đại tá Phạm Ngọc Thảo, Trung tá Lê Hoàng Thao và Nguyễn Bảo Kiếm (tức Nguyễn Kim Bảo).

Từ khi bị chính quyền quân phiệt kết án tử hình, PNT lúc đầu còn lẩn trốn trong nội thành Sàigòn, nhưng ngày qua ngày, bị bọn an ninh, mật vụ, cảnh sát đua nhau truy lùng PNT để lấy món tiền thưởng lớn (3 triệu). PNT đành phải rời khỏi nội thành Sàigòn, lên ẩn trú tại biệt thự của bà Dược sĩ Nguyễn Thị Hai, ở làng Đại Học Thủ Đức. Nhưng, Đại tá PNT vẫn không thể ẩn trú ở lâu hơn nữa, tại tòa biệt thự sang trọng cỉa bà Dược sĩ nổi tiếng là "có quan hệ đặc biệt với tướng Thiệu" (?), bởi vì bọn an ninh quân đội đã lảng vảng chung quanh ngôi biệt thự này, ngày càng nhiều! Do đó, Đại tá PNT quyết định vào ẩn trú trong Dòng Tu Đa Minh (Thủ Đức), mặc áo tu sĩ để cho người ngoài không để ý!

Nhưng, có một tu sĩ Đa Minh biết PNT là một tử tội, mà chính quyền đang treo giải thưởng 3 triệu đồng, nếu ai báo cho ngành an ninh bắt được, nên sinh lòng tham, đã mật báo thẳng cho ông Chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (?) Tướng Thiệu lập tức ra lệnh cho Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia và Nha An Ninh Quân Đội, phối hợp tổ chức một cuộc hành quân vây ráp Dòng Tu Đa Minh. Nhưng, ngay trong đêm vây ráp đó, PNT đã được sự giúp đỡ của nhiều tu sĩ Đa Minh, nên mới thoát ra khu Rừng Chồi, và chuồn thẳng về trú ẩn tại xứ Đạo Hố Nai (Biên Hòa), nơi có giáo dân cơ sở của PNT, và đặc biệt là cha xứ cai quản nhà thờ Tân Mai (Phạm Văn Hùng) là vị linh mục rất thân tình với Đại tá PNT.

Đầu tháng 7-1965, Đại tá PNT đã quyết định đánh một ván bài liều lĩnh (không hiểu PNT suy nghĩ lợi hại của ván bài này như thế nào?) bằng cách viết thư cho tướng Nguyễn Văn Thiệu, đề nghi: Nếu ông Chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia ra lệnh xóa bỏ bản án tử hình cho PNT, thì ông sẵn sang hợp tác, và hết lòng phục vụ cho nền Đệ nhị VNCH (?) Đại tá PNT đã nhờ linh mục Phạm Văn Hùng chuyển bức thư quan trọng đó cho ông Thiệu. Ván bài liều lĩnh này đã thay đổi số phận của "người hùng thời thế"!

Tướng Nguyễn Văn Thiệu đã "chấp nhận" lời đề nghị của Đại tá Phạm Ngọc Thảo, không một chút do dự (?) (Ông Nguyễn Văn Thiệu đã hẹn gặp Đại tá PNT tại nhà hàng Đường Sơn Quán ở giữa vườn cao su Thủ Đức - nơi ăn chơi của các tướng tá). Nhưng, đó chỉ là cái bẫy để cho PNT sa vào lưới của an ninh quân đội (!) "Thông minh cả đời, dại khờ trong một lúc" chính là trường hợp này của Đại tá Phạm Ngọc Thảo!

Đúng ngày giờ hẹn (9 giờ đêm 15-7-1965), do tướng Nguyễn Văn Thiệu định, Đại tá PNT đã đến nhà hàng Đường Sơn Quán, nhưng vắng mặt ông Thiệu mà chỉ có mấy sĩ quan cấp tá quen mặt (?), Đại tá PNT sinh nghi, nhưng chưa kịp rút lui thì đã bị một trong 4 viên cấp tá, nả hai phát đạn súng lục vào ngay quai hàm, xuyên từ má này sang má kia, làm gẫy cả hàm răng. Nhưng do bản năng sinh tồn còn kịp rút súng ra bắn trả lại, và thừa cơ chạy trốn thoát khỏi vòng vây trong đêm tối, ẩn núp trong một cái hố, tại vườn cao su! Những sĩ quan được tướng Thiệu giao nhiệm vụ hạ sát PNT, đồng nhận định "PNT trốn được nhưng chắc không sống được" vì thấy một vũng máu của nạn nhân để lại (?) Do đó, họ không lùng xục tiếp! Nhờ vậy mà PNT mới có cơ hội, ráng sức lết về tới xóm Đạo thì trời đã gần sáng.

Sáng hôm sau, khi đã được một giáo dân, vốn là cơ sở của PNT, cầm máu và băng bó vết thương, nhưng vì mất máu quá nhiều, nên PNT rất yếu, lúc hôn mê lúc tỉnh… nếu không được tiếp máu và chữa trị ngay, thì PNT khó kéo dài sự sống. Cho nên, lúc tỉnh táo Đại tá PNT có nhờ một giáo dân cơ sở về Sàigòn báo cho người chị thứ Sáu của ông (tức bà Josephine Phạm Ngọc Thuần), đem xe lên chở PNT về chữa trị gấp! Nhưng, rủi thay người chị lại đi vắng (!) Trong khi đó, số sĩ quan nhận lệnh tướng Thiệu đi hạ sát Đại tá PNT, về báo cáo thực trạng PNT đã bị bắn nát mặt, không thể sống mặc dù đã chạy thoát trong đêm tối (?) Tướng Thiệu nói: "Nếu hắn chết thì phải thấy xác của hắn!" Thế là đám đàn em của ông tướng Chủ tịch "Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia", sáng sớm hôm sau, dẫn theo mấy con "quân khuyển", trở lên vườn cao su truy lùng tiếp… Bọn họ đã lần theo vết máu và sự đánh hơi của mấy con chó săn nhà nghề… và cuối cùng bọn họ truy lùng tới ngôi nhà mà PNT đang ẩn trú. Lúc đó, Đại tá PNT đã kiệt sức, không còn đủ lực để phản kháng! Đám sĩ quan truy lùng PNT tức tốc gọi Ty An Ninh Quân Đội Biên Hòa đưa xe đến chở "tên tử tội PNT" về Nha An Ninh Quân Đội ở Sàigòn, ngay trưa ngày 16-7-1965!

Tại sao Đai tá Phạm Ngọc Thảo không rút vào chiến khu D ở cách Thủ Đức không xa lắm, mà để phải bị rơi vào cảnh thảm hại như vậy? Đây chính là một bí ẩn trong cuộc đời của "người hùng thời thế" Phạm Ngọc Thảo!

Trong những năm 1964-1965, Lê Duẩn (Tổng Bí Thư Đảng CSVN ở Hànội) đã trực tiếp giao cho Nguyễn Văn Linh (Bí Thư Trung ương cục Miền Nam), trách nhiệm "chỉ đạo đơn tuyến" với Đại tá Điệp viên Lê Minh (tức Phạm Ngọc Thảo). Việc PNT hợp tác với CIA cũng được sự chấp thuận của Nguyễn Văn Linh. Ngay mưu đồ cùng tướng Lâm Văn Phát tiến hành đảo chánh (19-2 và 20-6-1965) cũng được sự đồng ý của Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) (Theo sự tiết lộ của Mười Quảng - tức Lê Xuân Tùng - làm Bí thư riêng cho Mười Cúc từ 1964 đến 1976. Sau này có thời gian Lê Xuân Tùng đắc cử vào Bộ Chính Tri, và được cử làm Bí thư Thành ủy Hànội).

Có một sự thật về tướng Lâm Văn Phát là: Cha của tướng Phát là Lâm Văn Phận cũng là Đảng viên CSVN! Chị của tướng Phát là Lâm Thị Phấn, đảng viên CSVN, Cán bộ Tình Báo Chiến Lược của Ban Quân Báo Nam bộ. Bản thân tướng Phát cũng có một thời (1946-1948) là Trung đội trưởng Vệ Quốc Đoàn của Việt Minh!

Vì vậy, nếu trong những ngày tháng lâm nạn "thập tử nhất sanh" này, Đại tá PNT muốn rút vào chiến khu thì đâu có khó khăn gì? Nhưng, tại sao ông PNT không chịu rút vào rừng? Hay là Mười Cúc không cho rút vào chiến khu mà phải "bám trụ" để "tiếp tục sứ mệnh vinh quang của Đảng giao"? Điệp viên Lê Minh không thể tiết lộ với ai trước khi chết! Nguyễn Văn Linh chắc chắn đã báo cáo cho Lê Duẩn, nhưng cả hai lão già này đều mang theo bí mật phức tạp đó xuống âm phủ, thì còn ai biết được?

Tuy nhiên, căn cứ vào kinh nghiệm thực tế của nhiều cán bộ hoạt động trong lòng địch, khi bị lộ không còn hoạt động được nữa, hoặc đã bị địch bắt nhốt vào nhà trì, khi trở về chiến khu đều bị Đảng CSVN đình chỉ công tác, giam lỏng bằng hình thức "kiểm thảo tự phê bình khuyết điểm", "học tập, chỉnh huấn cải tạo tư tưởng"… Sống trong hoàn cảnh bị giam lỏng trong rừng sâu, lại bị "Tổ chức Cách mạng" không tin và nghi ngờ: "Nặng thì đã bị địch mua chuộc, trở về làm nội gián cho địch! Nhẹ thì đã biến chất, dao động, không còn ý chí cách mạng!" - Sống mà bị nghi ngờ như thế, thà chết còn có ý nghĩa hơn! Có lẽ vì quá hiểu cái thực tế phũ phàng đó, nên chi Đại tá Phạm Ngọc Thảo không rút vào chiến khu, mà kiên quyết bám trụ, nếu cơ may còn sống thì có thể làm nên sự nghiệp lớn, nhưng rủi mà chết thì cũng chết một cách oanh liệt, để tiếng muôn đời!

Khi viết bộ tiểu thuyết tình báo "Ván Bài Lật Ngửa" (gồm 6 tập) tác giả Nguyễn Trường Thiên Lý (tức là Trần Bạch Đằng) đã hư cấu đến gần hai phần ba về nhân vật Nguyễn Thành Luân (tiểu thuyết hóa hình tượng "người hùng thời thế" Phạm Ngọc Thảo.

Ngày 16-7-1965, Đại tá PNT đã bị đưa về Nha An Ninh Quân Đội. Tại đây, Đại tá PNT đã bị thẩm vấn, tra tấn liên tục… nhằm bắt buộc Đại tá PNT khai ra những tá, tướng tham gia, mưu đồ đảo chánh còn sống ngoài vòng pháp luật (?) Nhưng ông PNT chẳng hề khai ai, mà chỉ luôn miệng chửi Thiệu-Kỳ… Thiếu úy An Ninh Quân Đội tên là Hùng Xùi là người trực tiếp tra tấn Đại tá PNT, đã báo cáo lên trên về "thái độ ngoan cố" của PNT! Ông Chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia liền ra lệnh cho PNT "đi chầu Diêm Vương", nhưng "không được để lại chứng tích gì"!

Đêm 17-7-1965, Hùng Xùi đã dùng thủ thuật lưu manh, "bóp dái" ông PNT cho đến khi hồn lìa khỏi xác (!). Sau đó, xác của PNT, chỉ mặc có cái quần đùi, được bỏ vào bao ny-lông, cho vô quan tài rẻ tiền nhất, đem chôn tại nghĩa trang quân đội ở Gò Vấp. Trên đầu mộ có tấm bia gỗ, trên đó có viết 4 chữ: "Vô Danh Đặc Biệt".

Sau khi tác phẩn "Ván Bài Lật Ngửa" của Trần Bạch Đằng ra đời, và theo đó báo chí của chế độ CHXHCNVN đua nhau viết bài suy tôn Phạm Ngọc Thảo là một Liệt Sĩ Anh Hùng trên mặt trận tình báo chiến lược của CSVN, đối đầu với tình báo của đại siêu cường Hoa Kỳ (CIA). Rõ ràng, cái mũ vinh quang đem đội lên đầu người đã chết, chỉ là sự che đậy chính sách vắt chanh bỏ vỏ đối với những trí thức theo Đảng CSVN, khi họ không còn giá trị lợi dụng nữa!

Khối hận đời của Người Hùng Thời Thế Phạm Ngọc Thảo là ở chỗ khi Đảng cần ông thì ông tận tâm phục vụ, không ngại hy sinh đời sống riêng tư và hạnh phúc cá nhân! Nhưng, đến khi ông cần đến sự hỗ trợ của Đảng CSVN để thoát khỏi sự nguy hiểm đến tính mạng thì Đảng CSVN lại làm ngơ, để cho Phạm Ngọc Thảo tự sanh tự diệt!

II – Nhà Báo Tài Ba Phạm Xuân Ẩn (1927-2006)

Phạm Xuân Ẩn (PXA) sinh vào năm 1927 tại Biên Hòa, trong một gia đình viên chức hạng trung. PXA bước vào nhà trường Tiểu học từ năm 1934, và khi anh tốt nghiệp Tiểu học đúng vào năm 1939. Vào thuở tuổi 13 (1927-1939) PXA đã có ý thức về "nỗi nhục mất nước" của dân tộc mình. Bởi vậy, từ khi bước vào bậc Trung học, PXA đã cố công sưu tầm những bài viết của Nguyễn An Ninh, đã đăng trong các tờ báo "Tiếng Chuông Rè", Anh thường nói với bạn học rằng: "Lớn lên tôi phải viết báo như ông Nguyễn An Ninh".

Năm 1943, PXA đã đậu bằng Thành Chung. Nhưng, vì hoàn cảnh gia đình và tình hình thời cuộc (Nhật đã đưa quân vào chiếm Đông Dương, Chiến tranh thế giới lần thứ 2 đã tràn đến Việt Nam), nên PXA không thể tiếp tục học lên Ban Tú Tài. Năm 1944, PXA vừa tròn 18 tuổi, anh đã xin được việc làm "sửa chữa bản in" ở một nhà in "Minh Châu" trên đường Sabourain (Saigon).

Trong thời gian làm việc tại nhà in Minh Châu (1944-1945) PXA đã được chú Ba Mạnh, người thợ xếp chữ của nhà in, đưa vào tổ chức Mặt Trận Việt Minh (Theo hồ sơ lý lịch của PXA, khi học lớp Tình Báo Nam Bộ, khóa 3, niên khóa 1951-1952)

Cách Mạng Tháng 8-1945 bùng nổ, PXA được Mặt Trận Việt Minh Đặc Khu Sàigòn - Gia Định giao trách nhiệm tham gia vào Ban Lãnh Đạo Học Sinh Sinh Viên Sàigòn-Gia Định, Khi quân Pháp theo chân quân đồng minh Anh-Ấn tái chiếm Sàigòn (23-9-1945) PXA có nhiệm vụ ở lại bám trụ, tham gia lãnh đạo Phong Trào Học Sinh-Sinh Viên Chống Pháp! Chính PXA là một trong số cốt cán lãnh đạo Phong Trào Học Sinh Trần Văn Ơn (1950).

Cuối năm 1950, do yêu cầu đào tạo Cán Bộ Tình Báo Chiến Lược, và hai tiêu chuẩn hang đầu là: Một, cán bộ đã được thử thách trong phong trào đấu tranh chống Pháp ở trong lòng địch, hay là trong chiến đấu ngoài mặt trận đối địch với giặc Pháp. Hai, phải có trình độ Trung Học, sử dụng được tiếng Pháp hoặc tiếng Anh! PXA có đủ 2 tiêu chuẩn hàng đầu đó. Đặc biệt, PXA còn sử dụng được 2 ngôn ngữ Pháp và Anh. Vì vậy, PXA đã được Khoa Mật Vụ Đặc Khu Sàigòn-Gia Định tuyển chọn, và đưa vào chiến khu Đồng Tháp để dự khóa đào tạo Cán Bộ Tình Báo Chiến Lược, do Ban Tình Báo Nam Bộ tổ chức và Cục Tình Báo Trung ương huấn luyện. Khi khóa học kết thúc (6-1952), cũng là lúc PXA được kết nạp vào Đảng CSVN, mang bí danh Hai Trung. Sau đó, PXA được đưa về chiến khu U-Minh để dự lớp "đào tạo phóng viên cấp tốc" trong vòng 3 tháng do Nhà báo-Giám đốc Sở Thông Tin Nam bộ - Lưu Quý Kỳ, trực tiếp huấn luyện. (Theo hồ sơ đã dẫn).

Từ nay, cuộc đời của chàng trai trí thức Phạm Xuân Ẩn (24 tuổi) đã bước sang một giai đoạn đặc biệt của người chiến sĩ vô danh!

Đầu năm 1953, PXA được đưa về Sàigòn hoạt động tình báo theo hệ thống đơn tuyến, thuộc mạng lưới Điệp Báo D.36, do Thiếu tướng Hoàng Đạo - Trưởng Ban Quân Báo Nam Bộ, trực tiếp chỉ đạo. Về mặt công khai hợp pháp, PXA là phóng viên thời sự của nhật báo Đuốc Nhà Nam do ông Trần Tấn Quốc làm chủ bút. (Tờ Đuốc Nhà Nam có khuynh hướng ủng hộ cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Minh!). Trong thời gian làm phóng viên thời sự cho nhật báo Đuốc Nhà Nam, PXA lấy bút danh là Trần Long Ẩn.

Sau tháng 7-1954. PXA được Cục Tình Báo Trung Ương, do Lê Đức Thọ chỉ đạo, bí mật đưa sang Đông Đức, để dự lớp huấn luyện Tình Báo Quốc Tế, do Sở Mật Vụ Liên Xô (KGB) tổ chức và huấn luyện cho khối XHCN. Khóa học kéo dài một năm, vừa học lý thuyết vừa thực hành. Năm 1956, sau khi hoàn thành khóa học đặc biệt này, PXA trở về Sàigòn qua con đường Paris-Phnompenh-Sàigòn. (Theo hồ sơ của Cục Phản Gián trung ương).

Năm 1956 là năm nền Đệ Nhất VNCH ra đời do ông Ngô Đình Diện làm Tổng thống, cũng là năm quân Pháp rút khỏi Việt Nam. Và từ đó là sự bành trướng thế lực của Mỹ. Do đó, trước đây đối tượng điều tra chính của Tình báo CSVN là Pháp, bây giờ đối tượng điều tra chính là Mỹ! Cho nên, nhiệm vụ đầu tiên của Tình Báo CSVN nói chung, Tình Báo Viên PXA (tức Hai Trung, tức Năm An, tức Z.21) là phải điều tra Hệ thống tổ chức, nội dung hoạt động và nhân sự của các tổ chức của Mỹ đã có mặt ở Nam phần Việt Nam, như USOM (United States Operations Mission – Đoàn Công tác Hoa kỳ) ), MAAG (Military Assistance Advisory Group - Đội Cố Vấn Viện Trợ Quân Sự), MACV (Military Assistance Command Vietnam - Bộ Chỉ huy Yểm trợ Quân sự cho Việt Nam) ...

Nhận thấy được sở trường của PXA là, thông qua môi trường báo chí để hoạt động tình báo, thì đạt được hiệu quả cao, Vì vậy, Cục Tình Báo Trung ương CSVN, đã đề nghị với Lê Đức Thọ - Trưởng Ban Tổ Chức trung ương Đảng, trực tiếp chỉ đạo Tình báo Chiến lược, cho PXA đi tu nghiệp về ngành báo chí ở Mỹ, từ 1957 đến 1959. Cái khó là làm sao xin được học bổng của chánh phủ Hoa kỳ cấp cho ngành báo chí của chính quyền VNCH (?) - Nghĩa là tạo điều kiện hợp pháp lâu dài cho PXA – "Người của VNCH nhận học bổng của đồng minh Hoa kỳ, để trở về đóng góp cho sự phát triển ngành báo chí quốc gia!" Và nhờ sự vận động của những nhà báo ủng hộ Việt Minh nằm trong Ban Chấp Hành Hội Ký Giả Nam phần của chế độ VNCH, nên Bộ Ngoại giao VNCH đã đồng ý cho PXA nhận học bổng của chính phủ Hoa Kỳ đi tu nghiệp 2 năm (1957-1959) về ngành báo chí, tại trường Đại học California. Chính lần đi tu nghiệp ngành báo chí ở Hoa kỳ trong hai năm 1957-1959, đã dọn đường cho PXA đi vào làng báo quốc tế, cũng có nghĩa là mở rộng đường cho PXA hoạt động tình báo!

Trong hai năm tu nghiệp ở Mỹ, PXA không chỉ có học tập, mà còn kết hợp việc học tập với công tác điều tra tình báo, trên cơ sở nghiên cứu những tài liệu đăng công khai trên các tờ báo lớn của Mỹ, như Washington Post, New York Times… cùng với việc sưu tầm tài liệu tồn trữ trang các thư viện Đại học, để Tìm hiểu Âm mưu Chiến lược của Mỹ đối với miền Nam Việt Nam. Theo kết quả điều tra, nghiên cứu của PXA, "đã góp phần quan trọng, làm sang tỏ "Âm mưu Chiền lược của Mỹ đối với miền Nam Việt Nam" trong giai đoạn 1961-1965!" (Theo sự đánh giá của Nguyễn Văn Linh, TBT Ban Chấp Hành TW Đảng CSVN khóa VI, nhận xéi một trong những thành tích của PXA, khi đề bạt PXA lên Thiếu tướng, tháng 12-1989 – Xem hồ sơ đề bạt cấp tướng của Ban Tổ chức TW, năm 1989-1990).

Đầu năm 1960, PXA trở về Sàigòn, với tư cách là phóng viên của Hãng Thông Tấn Reuters (Anh quốc), đồng thời là công tác viên của nhiều hãng thông tấn nước ngoài khác. Nhưng, sự thật đó, chỉ là cái vỏ bên ngoài của một điệp viên cộng sản mà thôi. Nhiệm vụ chính, quan trọng nhất của PXA là bằng mọi cách "nắm bắt cho được Âm Mưu và Kế Hoạch thực hiện Chiến lược Chiến tranh của Mỹ ở Miền Nam Việt Nam, trong giai đoạn 1961-1965!"
Để thực hiện "Việt Nam Hóa Chiến Tranh", đầu năm 1969, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Ledo đã yêu cầu Quốc Hội Mỹ tăng thêm 450 triệu USD (bổ sung vào số 1.100 triệu USD đã duyệt) để hiện đại hóa quân lực VNCH! Nhờ vậy, nên đến đầu năm 1970, quân lực VNCH đã tăng thêm 36 Tiểu đoàn Pháo binh và xe tăng, xe thiết giáp; 4 phi đoàn gồm 150 máy bay các loại, 308 tàu thuyền hải quân làm nhiệm vụ cơ động ở ven biển, trên sông. Một hệ thống gồm 20 trung tâm huấn luyện binh lính-hạ sĩ quan và 25 trường đào tạo sĩ quan các binh chủng đã được xây dựng hoàn chỉnh. Hàng ngàn sĩ quan chỉ huy, sĩ quan kỹ thuật đã được đưa đi đào tạo ở nước ngoài, chủ yếu là ở Mỹ. Tình hình trên đây đều được Z21 báo cáo kịp thời cho Cục tỉnh báo trung ương liệu định!

Sự thật, trong năm 1969, Mỹ không cần thực hiện "Việt Nam Hóa Chiền Tranh", thì Việt Công cũng đã mất hết những vùng nông thôn đông dân quan trọng nhất (như đã trình bày ở trên). Điều đó, chứng tỏ Mỹ không thấy hết thực trạng thất bại của Việt Cộng, mà chỉ nghe báo về việc Bắc Việt cứ dồn dập đưa quân đội và vũ trang vào Nam, để tiến hành đánh cho "Mỹ cút, ngụy nhào"! Rõ ràmg, Việt Cộng đã thua Mỹ trên chiến trường, nhưng họ đã thắng Mỹ trên mặt trận tuyên truyền, ngay cả trên nước Mỹ!

Bởi thế, chính quyền Nixon mới xúc tiến gấp việc thương lượng với cộng sản Bắc Việt. Tuy nhiên, lúc đầu Nixon muốn ép Cộng sản Bắc Việt chịu ở vào thế yếu. Cụ thể như: Ngày 14-6-1969, Nixon đưa đề nghị 8 điểm, trong đó có mấy điểm quan trọng như sau: Bắc Việt với Mỹ cùng rút quân ra khỏi Nam Việt Nam. Duy trì chính quyền VNCH. Chống việc thành lập Chính Phủ Liên Hiệp ở Nam Việt Nam…. Và trong cuộc họp riêng trưởng đoàn đàm phán giữa Mỹ và Bắc Việt, trong tháng 8-1969, Kissinger đe dọa rằng:" Nếu đến ngày 1-11-1969 mà không đạt được tiến bộ nào thì Mỹ sẽ tính đến thực hiện những biện pháp có hậu quả nghiêm trọng." Nhưng, tập đoàn lãnh đạo trung ương Đảng LĐVN đã nhận được tin tức do PXA cung cấp, rằng: "Nixon đang cố gắng tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Mỹ, để được thắng trong cuộc bầu cử Tổng Thống khóa 1971-1974, nên Nixon phải tìm cách "chấm dứt chiến tranh bằng mọi giá! Hơn nữa Nixon đang bị áp lực của Quốc Hội Mỹ đòi rút quân Mỹ ra khỏi chiến tranh Viêt Nam!" Do đó, Cộng sản Bắc Việt kiên quyết không chấp nhận đề nghị của Nixon, họ cũng không sợ lời đe dọa của Kissinger!

Trong thời gian 1970-1973, nhiệm vụ quan trọng nhất của PXA là theo sát "âm mưu và thủ đoạn thương lượng hòa bình" và "chiến thuật rút quân" của chính quyền Nixon (?)

Để hoàn thành nhiệm vụ quan trọng này, ngoài việc điều tra, tổng hợp tin tức từ nhiều nguồn, PXA cò phải dùng phương sách mua bán tin tức với CIA. Lẽ đương nhiên, muốn dùng phương sách con dao hai lưỡi này, PXA phải được sự cho phép của cấp trên! Cấp trên đơn tuyến của PXA vẫn là Sáu Búa (tức Lê Đức Thọ), nhưng do yêu cầu của chiến trường, nên phải có người lãnh đạo trực tiếp để kịp thời chỉ đạo, và giải quyết những yêu cầu của PXA. Do đó, Sáu Hồng (tức Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục) là người lãnh đạo đơn tuyến, trực tiếp tại chiến trường của Z21 (Theo tiết lộ của Đại tá Ba Nguyên, tức Trần Ngọc Thuận, nguyên phụ tá Tình Báo của Sáu Hồng, Sàigòn 1976).

Trong môi trường tình báo quốc tế, việc mua bán tin tức là chuyện xảy ra "như cơm bữa", không có gì phải ngạc nhiên! Vấn đề là giá trị của tin tức, chính xác đến mức độ nào, có giá trị nhất thời hay lâu dài, có tính chất quyết định cho đại cuộc hay tiểu cuộc?

Trong thời gian này Z21 đã bán cho CIA những tin tức gì? Không có ai biết được! Nhưng, căn cứ theo những báo cáo của CIA ở Sàigòn gửi về cho Ngũ Giác Đài ở Washington DC. Thì các nhà nghiên cứu có thể đoán ra. Đó là tin tức về số lượng quân đội, phương tiện chiến tranh, lương thực… của miền Bắc đưa vào Nam, theo đường mòn Hồ Chí Minh. Đó là kế hoạch giải phóng những vùng nông thôn trù phú của Nam Bộ của Việt Cộng, để giành thế mạnh trên bàn hỏa đàm với Mỹ. v.v…Những tin tức mà PXA được phép bán cho CIA, thật ra chỉ co ½, hay nhiều nhất là 2/3 sự thật mà thôi – Nói chung là cường điệu: Ít nói thành nhiều. Yếu thành mạnh. Thắng nhỏ cho là thắng lớn…! Vì thế, CIA ở Sàigòn mới có báo cáo sai lệch như sau: "Quân cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục tăng cường lực lượng chủ lực, bằng cả việc xâm nhập vào từ miền Bắc và tuyển mộ ở ngay địa phương…Cộng sản có thể tiếp tục giữ vững được sức mạnh tổng hợp của họ trong những năm tiếp theo." (Theo CIA Memorandum SC… "The Situation in Vietnam. An Analyse and Estimate" pp. 1-2, CIA 80-82).

[Trong thực tế, sau năm 1968, chủ lực quân của Việt Cộng trên chiến trường Miền Nam, gồm có 4 sư đoàn (mật danh là Công trường: Công trường 1, Công trường 5, Công trường 7 và Công trường 9), đã bị tiêu diệt sinh lực gần hết, chỉ còn lại 1/10 quân số và một số cán bộ khung mà thôi. Do đó, trong những năm 1970-1973, Cộng sản Bắc Việt cố vơ vét tân binh, hạ đến tuổi 16-17, huấn luyện trong vòng 3 tháng là đưa ngay vào Nam, để lấp vào con số đã bị tiêu diệt, xây dựng lại 4 sư đoàn, như cũ về số lượng nhưng về chất lượng chiến đấu thì kém xa trước 1969! Và Việt Cộng đã lấy chiến trường Campuchia làm nơi rèn luyện tác chiến cho tân binh trước khi cho xâm nhập về chiến trường miền Nam! Còn việc tuyển dụng tân binh tại chỗ thì không bằng 1/100 số quân của miền Bắc đưa vào!].

Trái lại, PXA mua được nhiều tin quan trọng, trong đó cũng có tin giả, nhưng nhờ thu thập được nhiều nguồn tin để đối chiếu, đánh giá lại, nên tin của Z21 báo cáo cho cấp trên, hầu hết là chính xác!

Dưới đây là 2 thí dụ điển hình:

- Tin thứ nhất: Về cuộc hành quân tổng lực của Mỹ phối hợp với VNCH trên lãnh thổ Campuchia, nhằm mục đích: "Hủy diệt các cơ quan đầu não của Việt Cộng, phá hoại cơ sở hậu phương, tiêu hao phần lớn sinh lực chiến đấu và đẩy lực lượng vũ trang còn lại của Việt Cộng ra khỏi Campuchia, rút sang Lào, để diệt trừ mầm họa cho VNCH sau khi Mỹ rút quân về nước!"

Z21 đã nhận được hung tin này từ giữa tháng 1-1970, nhưng chưa biết chính xác ngày tháng bắt đầu của cuộc hành quân tổng lực (?) Trước hết, Z21 báo ngay cái tin "dự mưu" này, để cho Cục R chuẩn bị đối phó! Sau đó, Z21 liền tiến hành điều tra từ Bộ Chỉ Huy MACV (Mỹ) đến Bộ Tổng Tham Mưu (VNCH), đến sự điều binh của các quân khu (đặc biệt quân khu Thủ đô và quân khu 3) … Nhờ có mạng lưới mật vụ trải rộng và sâu đến các đầu não của quân lực Hoa Kỳ và quân lực VNCH, nên trong tháng 3-1971, Z21 đã xác định và báo cáo về cấp trên như sau: "Cuộc hành quân tổng lực trên đất K của kiên quân Mỹ-Việt sẽ bắt vào ngày 29-4-1970, với 5 vạn quân Mỹ và 5 vạn quân ngụy!" Nhờ có tin tình báo chính xác và biết trước nên các cơ quan đầu não của Việt Cộng như Trung ương Cục, MTDTGP, Bộ Chỉ Huy Quân Sự Miền, Ban An Ninh, Ban Binh Vận, Ban Tuyên Huấn, Ban Kinh Tài v.v… đều di tản vô trong rừng sâu, tránh được các mũi "Tìm Diệt" của liên quân Mỹ-Việt. Và các lực lượng vũ trang của Việt Cộng mới kịp thời phân tán nhỏ, để đánh du kích chiến, ở khắp các mặt trận… Kết quả, sau hai tháng "Tìm Diệt", liên quân Mỹ-Việt phải rút về, để lại hậu quả hoàn toàn có lợi cho Việt Cộng, vì Việt Cộng đã giúp cho Khờ Me Đỏ giải phóng hoàn toàn được 5 tỉnh: Ratanakiri, Stungtreng, Kratié, Mondunkiri và Prêtvihia! Đồng thời giải phóng phần lớn 6 tỉnh khác là: Kongpongcham, Preyveng, Soairiêng, Tàkeo, Cằngdan và Cambốt, gổm có tổng số hơn 3 triệu dân! Thành ra "hậu phương ngoài biên giới" của Việt Cộng càng được mở rộng thêm; "an toàn khu" và cơ sở hậu cần của Việt Cộng trên đất Campuchia càng được củng cố!

- Tin thứ nhì: Về ba cuộc hành quân quy mô của liên quân Mỹ-Việt trên mặt trận Hành Lang Chiến Lược của ba nước Đông Dương - Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra Đường số 9 Nam Lào – Cuộc hành quân "Toàn Thắng 01/71" đánh qua Congpongcham-Kratié (Đông Bắc Campuchia) –

Cuộc hành quân "Quang Trung 4" đánh thẳng vào vùng Ba Biên Giới (Tây Nguyên).

Cuối tháng 1-1971, PXA đã nhận được tin khẩn: Vào ngày 2-2-1971, sẽ có cuộc họp mật giữa tổng thống Nixon với các nhân vật có tầm chiến lược là: Kissinger, (Bộ trưởng Ngoại giao), Ledo (Bộ trưởng Quốc phòng) và Moorer (Tham mưu trưởng liên quân), để xét duyệt kế hoạch các cuộc hành quân "Lam Sơn 719", "Toàn Thắng 01/71" và "Quang Trung 4". Và theo kế hoạch đã được Nixon chấp thuận thì cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là cuộc hành quân lớn nhất, với lực lượng 55.000 quân (40.000 quân Việt, 15.000 quân Mỹ).

Z21 đã báo cáo khẩn lên cấp trên, nhưng về thời gian bắt đầu của mỗi cuộc hành quân đã làm cho Z21 đau đầu! Không thể chỉ trông mong vào "kẻ bán tin"! Z21 phải tự mình tiến hành theo dõi và điều tra tận gốc… Do đó, đến ngày 4-2-1971 (đúng ngày liên quân Mỹ-Việt bắt đầu cuộc hành quân "Toàn Thắng 01/71"), Z21 đã biết: Bộ Chỉ Huy Hành Quân Mỹ-Việt đã bắt điều động binh từ ngày 3-2-1971, và đến ngày 8-2-1971, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" sẽ bắt đầu! Nghĩa là PXA biết trước được 3 ngày. Và ngày 6-2-1971 Bộ Chính Trị Cộng Sản Bắc Việt đã nhận được tin khẩn cấp! Và ngày 7-2-1971, Bộ Chính Trị Đảng Bắc Việt liền họp khẩn với Bộ Chính Trị Đảng Lào, cùng quyết định Kế hoạch "phản công"… Đến ngày 23-3-1971 cuộc hành quân "Lam Sơn 719" kết thúc! Thắng bại như thế nào lịch sử chiến tranh Việt Nam đã ghi rõ rạng!

Cuộc hành quân "Toàn Thắng 01/71" bắt đầu vào ngày 4-2-1971, và kết thúc vào ngày 31-5-1971. Cuộc hành quân "Quang Trung 4" mở đầu vào ngày 26-2-1971 và chấm dứt vào ngày 16-4-1971. Trong thời gian diễn tiến của cuộc hành quân Quang Trung 4" , có thể nói là Việt Cộng đã chủ động được phần lớn, vì Z21 đã cung cấp tin tình báo hơn nửa tháng trước!

Chiến công thầm lặng của điệp viên Z21 trong việc bảo tồn lực lượng giải phóng, đồng thời tiêu hao sinh lực Mỹ-VNCH của Việt Cộng trong những năm 1970-1971, thật là không nhỏ! Do đó, cuối năm 1973, PXA được thăng vượt cấp từ Trung tá lên Đại tá (không qua cấp Thượng tá) (Theo Hồ sơ thăng cấp của PXA, lưu trữ tại Phòng Điệp báo của Cục Tình báo trung ương).

Trong những năm 1970-1973, Z21 còn thu thập được những "Tin Chiến Lược" rất quan trọng, góp phần quyết định cho sự thắng lợi vào 30-4-1975 của Cộng Sản Việt Nam! Đó là:

1- Tin về "chiến thuật rút quân nhỏ giọt" của Nixon.

Đầu năm 1970, PXA nhận được tin tổng thống Nixon đã quyết định rút quân Mỹ về nước, nhưng theo "chiến thuật nhỏ giọt" để có thời gian "Hiện Đại Hóa Quân Lực VNCH", đủ khả năng tự lực chống cộng hữu hiệu, thì quân Mỹ sẽ rút hết (?) Và theo dự định của ông Laird – Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, thì sẽ rút 400.000 quân trong vòng 42 tháng bắt đầu từ tháng 1-1970 đến tháng 6-1973 (?) Và, để lại tại Nam Việt Nam một lực lượng là 200.000 quân, làm nhiệm vụ hỗ trợ cho quân lực VNCH.

Sau khi kiểm tra nhiều nguồn tin, PXA báo cáo lên cấp trên như sau: "Tin rút quân nhỏ giọt là chính xác 100%, còn thời hạn rút quân có thể co giãn, nhưng con số 400.000 là phải rút hết trước tháng 6-1973!" (Theo Hồ sơ Báo cáo Tuyệt Mật của Z21, đã dẫn).

Nhờ nhận được Tin Chiến Lược này mà tập đoàn lãnh đạo Cộng sản Bắc Việt mới hoạch định khá chính xác "Chiến Lược mai phục" chờ Mỹ rút hết 400.000 quân, sẽ phản công giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam! Cụ thể: Trong 42 tháng Mỹ rút quân nhỏ giọt, thì Trung ương cục miền Nam phải cho cán bộ thâm nhập về những vùng giải phóng trước 1968, nay đã bị VNCH chiếm lại để xây dựng cơ sở Đảng và quần chúng, chờ đợi quân giải phóng về! Trong thời gian đó, Cộng sản Bắc Việt ráo riết đưa tân binh vào Nam, mà thực chất là đưa vào Campuchia để thực tập chiến đấu và xây dựng quân chủ lực, đợi thời cơ tràn về Nam Việt Nam. Thực tế lịch sử đã chứng minh "Chiến Lược Mai Phục" của Cộng sản Bắc Việt đã thành công!

2- Tin Chiến Lược về "âm mưu và thủ đoạn thương lượng hòa bình" của chính quyền Nixon.

Đầu tháng 5-1971, PXA nhận được tin: Henry Kissinger sẽ bí mật sang Trung Quốc trong tháng 6-1971, để tiếp xúc với Thủ tướng Chu Ân Lai, đặng chuẩn bị cho chuyến sang thăm Chủ tịch Mao Trạch Đông của tổng thống Nixon, vào đầu năm 1972. Trong chuyến đi này, Nixon sẽ đề nghị Mao Trạch Đông làm áp lực bắt ép Bắc Việt Nam phải chấp nhận "chấm dứt chiến tranh theo yêu cầu của Mỹ". Và nếu, Bắc Việt chịu tuân theo áp lực của Trung Quốc thì Mỹ sẽ "rút hết các lực lượng và cơ sở quân sự của Mỹ ra khỏi Đài Loan" (?) Sau khi xác minh và đánh giá nguồn tin này, có thể chính xác đến 8/10 PXA liền khẩn báo lên cấp trên! Kèm theo báo cáo, PXA đã nhận định rằng: "Trong thời gian hòa đàm với Ta ở Paris, nhất là sau chuyến đi Trung Quốc của Nixon (có thể vào tháng 2-1971) Mỹ sẽ mở rộng chiến tranh ở cả hai miền Nam,Bắc, đồng thời làm khó Ta trên bàn thương lượng! Đề nghị: Trung ương cần có đối sách "phản công chiến lược" trên cả hai mặt trận, tại chiến trường và trên bàn thương lượng!" (Theo Hồ sơ Báo cáo Tối mật, đã dẫn).

Tin trên đây của Z21 có thể nói là chính xác 100%! Lịch sử đã ghi nhận: Ngày 21-2-1972, Nixon đến Trung Quốc và cùng Mao Trạch Đông đưa ra cái gọi là "Thông Cáo Chung Thượng Hải"- và nội dung chính của Thông Cáo này đúng như tin của PXA đã báo cáo lên cấp trên! Còn đề nghị "phản công chiến lược" của PXA cũng đã được thể hiện bằng "cuộc tấn công chiến lược trên toàn miền Nam" bắt đầu từ ngày 30-3-1972 của Việt Cộng!

(Tham khảo thêm "VIETNAM A Historry" của Stanley Karnow, Bengun Bookss, New York, 1983, các trang 652-653).

Sau ngày 27 tháng 1 năm 1973 – ngày các Bộ trưởng Ngoại giao của Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, Việt Nam Cộng Hòa và Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, cùng ký tên vào bản "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam". Đến cuối tháng 3-1973, toàn bộ số quân viễn chinh còn lại của Hoa kỳ và một số quân của các nước chư hầu, đều rút hết về nước. Ngày 29-3-1973, Bộ Chỉ Huy Quân Sự Mỹ ở Sàigon đã làm lễ hạ cờ, là đơn vị cuối cùng của Hoa Kỳ rút khỏi Nam Việt Nam!

Từ nay, PXA đã được cấp trên giao cho một trọng trách mới. Đó là trọng trách: Theo dõi và báo cái kịp thời về việc "Mỹ và chính quyền Sàigòn có thi hành đúng những điều khoản đã ghi trong Hiệp Định 27-1 hay không? Và chính sách của Mỹ đối với chính quyền Sàigòn sau khi ký hiệp định như thế nào? Đặc biệt chú ý đến mạng lưới tinh báo của CIA cài lại ở Việt Nam!"

Như vậy, phạm vi đặc vụ và đối tượng trinh thám của Z21 đã mở rộng hơn trước! Tuy nhiên, do cái thế hợp pháp và chính uy tín của nhà báo có tầm cỡ quốc tế, nên PXA vẫn không gặp trở ngại nhiều trong hoạt động tình báo! Về "những người bạn CIA" thì vẫn không có gì thay đổi; nhưng đối với "những người bạn ở số 3 Bạch Đằng" (tức Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo của VNCH, do tướng Nguyễn Khắc Bình cấm đầu) thì Z21 phải tìm cách "kết nghĩa bằng hữu" với một số nhân vật quan trọng, có khả năng trở thành "nguồn tin có giá trị nhất" (như ông Nguyễn Phát Lộc, hàm Đại tá đặc trách Kế Hoạch của Phủ Đặc Ủy, như ông Nguyễn Thúy, hàm Trung tá, Trưởng Ban R tức Ban Nghiên Cứu của Phủ Đặc Ủy…)

Đúng vào ngày ký Hiệp Định Paris (27-1-1973), PXA đã nhận được tin từ "số 3 Bạch Đằng", cho biết về quan hệ căng thẳng giữa Nguyễn Văn Thiệu và Nixon, nên PXA đã báo cáo lên cấp trên như sau: "Khi Nguyễn Văn Thiệu không chịu ký bản văn thứ nhất của thỏa hiệp Paris, Nixon đã tức giận nói với Kissinger rằng: "Sự tàn nhẫn chẳng là gì hết. Ông hãy đi gặp tên chó đẻ ấy xem nó có chịu theo không?"

[Khi đọc đến cách nói kiểu cao bồi (tên chó đẻ) của Nixon, tôi không tin là thật, nên quyết tìm cho ra sự thật. Khi đọc cuốn "Crue Avril 1975 –La Chute De Saigon" của Olivier Todd, Éditions Robert Laffont S.A Paris, 1987, nơi trang 44, có ghi lại nguyên văn câu nói của Nixon, tôi mới tin là PXA không có bịa đặt!]

Ngay cuối tháng 1-1973, Z21 đã nhận được tin: "Tổng thống Nixon dự định viện trợ 3 tỷ 250 triệu dollars US cho Bắc Việt để tái kiến thiết sau chiến tranh." Z21 liền báo cáo lên cấp trên, kèm theo ý kiến nhận xét như sau: "Nếu tin này là thật thì chắc chắn Mỹ sẽ buộc Ta chấp nhận điều gì đó có lợi cho Mỹ!"

Quả thật, ngày 1-2-1973 Thủ tướng Phạm Văn Đồng có nhận được thư của tổng thống Nixon, trong thư Nixon hứa sẽ viện trợ cho Bắc Việt 3 tỷ 250 triệu Mỹ kim. Đến ngày 10-2-1973, Ngoại trưởng Kissinger đã tới Hà nội và nhắc lại lời hứa viện trợ của Nixon (?) Và lời nhận xét của Z21 hoàn toàn chính xác! (Theo Hồ sơ Báo cáo Tối Mật của Z21, đã dẫn).

Cũng trong thời gian Nixon viết thư cho Phạm Văn Đồng hứa hẹn viện trợ cho Bắc Việt, PXA cũng được tin Nixon đã viết thư hứa hẹn với Nguyễn Văn Thiệu như sau: "Ông có thể tuyệt đối yên tâm rằng chúng tôi sẽ tiếp tục cung cấp cho chính phủ của ông sự yểm trợ đầy đủ nhất, kể cả sự viện trợ kinh tế lâu dài và sự giúp đỡ quân sự phù hợp với các qui định của cuộc ngừng bắn… Ông có sự bảo đảm tuyệt đối của tôi là nếu Hà nội không tôn trọng đầy đủ các điều khoản của thỏa hiệp này, tôi sẽ trả đũa mau lẹ và nghiêm khắc," PXA đã nhận xét rằng: "Nixon chỉ muốn làm cho Thiệu an tâm, chớ trong thực tế Nixon không thể hành động theo ý muốn của ông ta! Mỹ đã xuống thang rồi thì không thể nào leo thang trở lại được. Chắc chắn là như vậy!" (Báo cáo đã dẫn). Và thực tế lịch sử đã chứng minh rõ ràng: Trong hai năm 1973-1974, Cộng Sản Bắc việt đã tăng cường lực lượng chiến đấu trên chiến trường Nam Việt Nam, và tiến hành Lấn Đất Giành Dân kiên tục, không nghiêm chỉnh chấp hành các điều khoản đã quy định trong Hiệp Định 27-1-1973! Nhưng, chính quyền Nixon đã làm gì để ngăn chặn thảm họa Cộng sản cho VNCH (?) Ngay khi Trung Cộng, được sự "đồng tình" của Hà nội, đã đưa hạm đội đến đánh chiếm Trường Sa của VNCH (10-1-1974) thì tổng thống Nixon lại ra lệnh cho Hạm Đội Mỹ ở Thái Bình Dương phải tránh xa khu vực Trường Sa (!)

Đầu tháng 8-1974, PXA nhận được MẬT LỆNH bán "tin thất thiệt" cho CIA (?) Đó là tin về "cuộc họp đặc biệt bí mật của Lê Duẩn với một số tướng lãnh đạo Quân ủy Trung ương, tại thị xã Đồ Sơn (Hải phòng) vào ngày 21-7-1974, để bàn Kế Hoạch Giải Phóng Hoàn Toàn Miền Nam Việt Nam trong năm 1975!." Nhưng phải biến thành tin: "Kế hoạch Giải Phóng Miền Nam chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn I, trong năm 1975, cố gắng tập trung toàn lực để giải phóng hoàn toàn vùng lãnh thổ từ vĩ tuyến 13 trở ra, nghĩa là bao gồm các tỉnh Pleiku, Kongtum, Quảng Ngãi, Quảng Nam và Bình-Trị-Thiên. Giai đoạn II, trong hai năm 1976-1977, phải dốc toàn lực của cả nước để giải phóng hoàn toàn vùng lãnh thổ từ vĩ tuyến 13 đến mũi Cà mau!"

"Tin Thất Thiệt" này đã đến tay CIA (Mỹ) và Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo (VNCH), đã tạo nên sự "chủ quan khinh địch" về thời gian giải phóng miền Nam (1 năm thành 3 năm) của Cộng sản Bắc Việt, để cho các tướng lãnh Mỹ-Việt thấy không cần phải vội vã bố trí phòng ngự lại trên chiến trường Nam Việt Nam (!)

PXA đã thành công trong đặc vụ bán TIN THẤT THIỆT!

Và vào đầu tháng 12-1974, PXA nhận được tin: Tổng thống Thiệu đã họp với các Tư lệnh Quân khu, có sự tham dự của các cố vấn Mỹ. Trong cuộc họp này các tướng lãnh VNCH và các cố vấn Mỹ đã nhất trí rằng: "Năm 1975, Cộng sản Bắc Việt có thể mở những trận tấn công với quy mô lớn hơn trong năm 1974, nhưng không có khả năng như Tết Mậu Thân 1988! Do đó, không thể hoàn thành mưu đồ giải phóng hoàn toàn vùng lãnh thổ từ vĩ tuyến 13 trở ra được! Mặt khác, cần phải cảnh giác Việt Cộng có thể xuất kỳ bất ý đánh chiếm Tây Ninh, để dùng làm Thủ đô của Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Cho nên, không thay đổi thế bố trí lực lượng mạnh ở hai đầu là Trị-Thiên (quân khu I) và miền Đông Nam Bộ (quân khu III). Còn ở Quân khu II thì chỉ tập trung lực lượng phòng thủ chính là Bắc Tây Nguyên (Pleiku-Kongtum)…" (Theo Báo Cáo của Z21, đã dẫn)

Nhờ biết được tin quan trọng này, Công sản Bắc Việt đã đổi hướng tấn công vào chỗ phòng thủ yếu nhất của quân lực VNCH ở Nam Tây Nguyên – Thị xã Buôn-Ma-Thuột. Đây là mục tiêu chính trong chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 1-3-1975 đến 25-3-1975). Phối hợp với chiến dịch Tây Nguyên, Quân khu Trị-Thiên và Quân khu V của Việt Cộng, được sự yểm trợ của quân đội Bắc Việt, cũng mở chiến dịch Xuân-Hè đánh chiếm vùng lãnh thổ quân khu I của VNCH. Thế mới biết: Tin tức tình báo không chính xác thật là vô cùng nguy hiểm, hậu quả không thể lường được!

Trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, trong khi quân lực VNCH đang tăng cường phòng thủ Tây Ninh, thì Việt Cộng lại tấn công chiếm lấy các quận lỵ Dầu Tiếng, Chơn Thành và giải phóng tỉnh Bình Long, để mở thông đường 13 – 14 từ Nam Tây Nguyên đến Miền Đông Nam Bộ, chuẩn bị bàn đạp tiến đánh thẳng vô thủ đô Sàigòn! Đây là một bất ngờ đối với các "bộ óc tham mưu" của Mỹ-VNCH (?)

Sau khi quân Bắc Việt đã chiếm được thị xã Phước Long (6-1-1975) PXA nhận được tin: Trong một phiên họp đặc biệt tại Dinh Độc Lập, tổng thống Thiệu tuyên bố rằng: "Quân lực của chúng ta khó có thể thu hồi lại thị xã Phước Long!" Tập đoàn Lê Duẩn ở Hà nội đã nhận được tin này, sau cuộc họp đặc biệt đó, chỉ sau có 6 tiếng đồng hồ! Cộng sản Bắc Việt đã lợi dụng tinh thần thất bại chủ nghĩa của Nguyễn Văn Thiệu, để mở rộng thế tấn công bao vây Sàigòn! Trong lúc đó, PXA lại nhận được tin: Hoàng Đức Nhã có lời khuyên ông Thiệu là "nên trực tiếp nói chuyện với Chính Phủ lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam" (?) Nhưng, ông Thiệu không muốn, vì ông cả tin vào lời hứa của Nixon (!)

Chính trong thời gian thủ đô Sàigòn sắp sửa đối diện thật sự với chiến tranh khốc liệt, thí nhà báo Phạm Xuân Ẩn, và hai người bạn của ông, đã được nhà báo Olivier Todd (Pháp) đề cập đến như một nhân vật rất ư là "nhàn hạ", như sau:

"Đối diện với khách sạn Continental, những ký giả mà Sàigòn quen gọi là Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ đang quây quần bên ly cà phê hảo hạng tại nhà hành Givral: Ông Vượng duyên dáng, Phạm Xuân Ẩn khả kính, và Cao Giao với chòm râu dê… Ẩn là ký giả duy nhất của Việt Nam lãnh lương Mỹ của tạp chí Time, biết rất nhiều tin tức và được kính nể! Ba Chàng Ngự Lâm trao đổi tin chiến sử.

Cao Giao nói:

- Người bà con của một người bạn đang làm việc cho đồn điền Michelin nói rằng, quân Bắc Việt có chiến sa, loại T-72 và TY-54.

Ẩn tỏ ra nghi ngờ:

- Tôi nghĩ rằng Cộng quân đang chuẩn bị đánh vào Tây Ninh." (Sách đã dẫn, các trang06-20).

Ai biết đâu, trong đầu của PXA đang tính toán việc đánh lạc hướng nhận định của Bộ Chỉ Huy liên quân Mỹ-VNCH (?)

Khi phi công Nguyễn Thành Trung lái máy bay F-5E ném bom xuống Dinh Độc Lập (8-4-1975). Ngày hôm sau (9-4-1975) quân đoàn IV của Bắc Việt xua quân tấn công thị xã Xuân Lộc, thì PXA đoán biết là: "Chiến dịch Giải Phóng Sàigòn sắp mở màn!" PXA đã quyết định cấp tốc đưa vợ con sang cư trú ở Hoa ký! Chính quyết định này đã tạo sự nghi ngờ của Cục Phản Gián cộng sản đối với Z21 (!?). Rõ ràng, các đồng chí cộng sản của PXA đâu hiểu thấu lòng trung thành của ông đối với Đảng. Sở dĩ PXA đưa vợ con sang sống ở Mỹ, là để tạo điều kiện hợp pháp cho việc hoạt động tình báo của ông ngay sào huyệt của "tên đế quốc đầu sỏ" của thế giới tư bản!

Sàigòn đang đối diện với sự sụp đổ của một chế độ chính trị đã bị 'siêu cường đàn anh" bỏ rơi giữa cơn giông bão! Thật vậy, trước năm 1975, nếu Mỹ viện trợ cho VNCH là 1 tỷ 500 ngàn Mỹ kim, thì giờ đây chỉ viện trợ 700 triệu Mỹ kim. Nỗi đau cũng là sự bạc nhược về ý chí tự cường của tổng thống Thiệu đã thể hiện ở câu nói bất hủ này: "Ngày trước với 1 tỷ rưởi Mỹ kim, chúng ta giữ được 4 quân khu. Vậy có 700 triệu Mỹ kim ta chỉ giữ được quân khu III và IV." Tại nhà hàng Givral, Cao Giao hỏi PXA rằng: " Chúng ta phải tính sao khi ông Thiệu đã bỏ 2 quân khu cho Cộng sản?" PXA cười nói tự nhiên rằng: "Chúng ta về đóng đô ở Cần Thơ…Tây Đô gạo trắng nước trong mà!" Nhưng, trong lòng PXA đang có một nỗi lo: "Khi Sàigòn mất thì một số bạn bè quốc gia của mình sẽ ra sao? Có cách nào giúp họ khỏi bị bắt đây?" (Tâm sự của PXA với người bạn Đại tá cùng học chỉnh huấn, đã dẫn).

Trong khi đó, PXA nhận đươc điện khẩn của cấp trên là "phải điều tra thật chính xác: Vì sao nhiều chiến hạm của Mỹ, từ hải phận Nhật Bản, từ Manila và từ Vịnh Subic... đang di chuyển về hướng bờ bể Việt Nam?" Điều đó chứng tỏ Hà nội đang lo Mỹ trở lại giúp VNCH, chơi đòn "Hồi Mã Thương" như khi vào đợt 2 năm 1968! Nhưng, khi PXA báo cáo rằng: "Các chiến hạm Mỹ đang tiến về biển Việt Nam là để làm nhiệm vụ sơ tán người Mỹ và một số người Việt có dính líu với Mỹ, khi đường hàng không bị cắt đứt!" PXA còn báo cáo là đã nhận được tin là: " Ngày 18 tháng Tư 1975, tổng thống Mỹ Gerald Ford sẽ ra lệnh di tản toàn bộ người Mỹ ra khỏi Việt Nam!"

Tình thế của VNCH càng bi đát, khi Ủy Ban Quân Lực của Thượng Nghị Viện Hoa Kỳ đã bác bỏ ngân sách viện trợ quân sự bổ sung cho VNCH (16-4-1975). "Nội các chiến đấu" của Nguyễn Bá Cẩn vừa tổ chức ra mắt quốc dân đồng bào (14-4-1975) đã phải ôm hậu quả quá nặng nề! Nhưng nội các NBC cũng chỉ "chiến đấu" được 8 ngày thì cũng từ chức theo sự ra đi đầy nước mắt của ông Nguyễn Văn Thiệu (21-4-1975). Tình hình chính trị của VNCH bước sang ngày 22-4-1975 coi như một người già yếu đang thoi thóp, cầu sống ngáy nào hay ngày đó. Vậy ma Đai tướng Dương Văn Minh còn yêu cầu ông giáo già Trần Văn Hương phải giao chức tổng thống lại cho ông ta (26-4-1975).

Buổi sáng ngày 27-4-1975, tại nhà hàng Givral, nhiều nhà báo quốc tế đã tiếp xúc với PXA. Họ cùng nêu một câu hỏi cho nhà báo tài ba này rằng: "Tại sao Minh Cồ đã thấy đường hầm không có ánh sang mà cứ lao vào, có khác gì con thiêu thân?" PXA mỉm cười và trả lời rất lịch sự với các bạn nhà báo rằng: "Thật ra, tôi không biết gì hơn các bạn đâu! Nhưng, tôi nghĩ ông Minh Cồ muốn làm một việc có ý nghĩa nhất, trong cuộc đời của một vị tướng đã hết thời!" Ẩn số trong lời giải đáp của PXA cũng thật có ý nghĩa đối với "lá bài Dương Văn Minh", nhằm đảm bảo cho Sàigòn tránh được sự tàn phá nặng nề của bom đạn!

Trong ba ngày cuối cùng của thủ đô Việt Nam Cộng Hòa (28, 29 và 30-4-1975), việc "thay chủ đổi ngôi" trong cái màn "múa rối chính trị" của "gánh hát Dương Văn Minh-Vũ Văn Mẫu", đã không còn là nỗi bận tâm của PXA nữa, bởi vì "bản nhạc giao hưởng đầu hàng và tiếp quản", giữa chánh quyền Dương Văn Minh và Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời CHMNVN, đã được sắp xếp xong về căn bản rồi! Nỗi bận tâm của PXA trong những ngày hỗn loạn này là tìm cách "giúp một số bạn bè quốc gia thoát ra khỏi Sàogòn" trước khi quân cộng sản vào !

Trong số bạn bè quốc gia đã được PXA tận tình giúp đỡ, có Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, nguyên Giám đốc Sở Mật Vụ của Đệ nhất VNCH.

Trường hợp ông Tuyến thật vô cùng nguy hiểm! Cho dù, Bác sĩ Tuyến đã mất chức từ hơn mười năm nay (1963-1975), và đã từng vào tù của nhà nước VNCH. Tuy nhiên, chắc chắn cộng sản vẫn không tha cho ông! Chính PXA đã khuyên ông Tuyến là phải đi khỏi Sàigòn trước khi Việt Cộng chiếm Nam Việt Nam! Nhưng, đến ngày 28-4-1975, ông Tuyến vẫn chưa có cách nào để di tản ra nước ngoài! PXA thấy vậy, nên đã khuyên ông Tuyến đừng đi đâu hết, cứ nghỉ tại "Phòng Thường Trú" của PXA ở khách sạn Continental, để PXA tìm cách cho ông Tuyến, vì ông quen nhiều người của tòa Đại sứ Mỹ, và PXA đã gọi điện thoại nhờ họ giúp "trường hợp sinh tử" này! Bạn bè không phụ lòng của PXA! Khoảng gần 6 giờ tối 29-4-1975, thỉ có điện thoại từ tòa Đại sứ Mỹ gọi cho PXA. Người gọi cho PXA là ông Southerland, ký giả của báo Christian Monitor, báo gấp cho PXA biết rằng: "Hiện còn một chuyến trực thăng chót của tòa đại sứ Mỹ, sẽ đến đón người di tản vào lúc 6 giờ tối nay, tại lầu 7 của cao ốc kế bên trụ sở Văn Hóa Pháp, trên đường Lê Thánh Tôn…" Không chần chờ gì nửa, PXA tức tốc lấy chiếc xe "deux chevaux" của mình, chở Bác sĩ Tuyến, lao nhanh đến cao ốc đó… Đến nơi, người lính Mỹ gác cổng không cho vô, nhưng, PXA nhanh trí, mượn lệnh miệng của Ngài Đại Sứ Martin cho vô. Thế là Bác sĩ Trần Kim Tuyến đã vào được cao ốc, và đã leo lên trực thăng di tản khỏi Sàigòn, đúng 6 giờ 10 phút tối ngày 29-4-1975! Nhìn chiếc trực thăng di tản cuối cùng cất cánh, trong dó có người bạn thâm giao một thời của mình, PXA thở phào, nhẹ nhõm… Nhưng, đó là một trong những "lỗi lầm" mà tổ chức đã kết tội PXA (!)

Ngày 30-4-1975, là ngày đại thắng của Đảng CSVN, cũng là ngày hoàn thành nhiệm vụ điệp viên một cách xuất sắc của nhà báo tài ba PXA, đúng như lời nhận xét của Jean-Claude Pomonti-phóng viên (đã về hưu) của tờ báo Pháp Le Monde, rằng: "Ông vừa là điệp viên vừa là nhà chiến lược… Ông có mạng lưới liên lạc sâu sát với người Mỹ và có khả năng phân tích tình huống xuất sắc. Họ (Mỹ) chưa bao giờ phát hiện được ông. Ông là một điệp viên hoàn hảo!" (BBC, 21-9-2006). Nhưng, PXA đã sống trong hoàn cảnh đầy bi kịch của số phận Nhị Trùng, như Terrence Smith - Trưởng phòng đại diện tờ báo New York Times ở Việt Nam trong thời gian 1968-1970, người bạn thân của PXA – đã nói: "Ông chịu bi kịch của người phục vụ hai chủ, và cả hai ông chủ đều nghi ngờ, không tin tưởng ông!" (New York Times, 5-2005).

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, tổ chức bắt buộc PXA xuất hiện công khai với quân hàm Đại tá. Điều đó cũng có nghĩa là bức tử cuộc đời hoạt động tình báo của PXA!

Với lý do nào mà Cục Tình Báo Chiến Lược Trung Ương phải quyết định như vậy?

"Bố Sáu Già" trùm tình báo CSVN (tức Lê Đức Thọ) đã trực tiếp giải thích cho PXA rằng: "Theo lệnh của các đồng chí lãnh đạo tối cao là nên chuyển đồng chí sang công tác trong thời bình. Suốt 15 năm qua, đơn độc chiến đấu trong lòng địch, đồng chí đã lập được nhiều chiến công và cũng hy sinh quá nhiều. Vì thế Đảng cho phép đồng chí nghỉ ngơi và hưởng hạnh phúc gia đình trong thái bình!" Đúng là những "lời ca" tuyệt tác của nghệ thuật tráo trở trong công tác tổ chức của CSVN!

PXA biết rằng: "Đó chỉ là những lời lẽ che đậy một sự thật phũ phàng đối với những cán bộ tình báo đã bi nghi ngờ, và Đảng không còn tin tưởng nữa!" Nhưng, sự thật phũ phàng và quá cay nghiệt này, khi PXA bị Đảng bắt buộc viết bản Kiểm thảo về việc đưa vợ con sang ở Mỹ trước ngày giải phóng miền Nam. PXA đã nói thật sự suy tư của một Điệp Viên Chiến Lược, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng rằng: "Tôi đưa vợ con sang ở Mỹ, trước hết là xuất phát từ công tác tình báo quốc ngoại lâu dài của Đảng ở ngay trong sào huyệt của chủ nghĩa đế quốc Mỹ! Tôi đã tự tin rằng đảng sẽ giao cho tôi làm nhiệm vụ quan trọng đó, vì tôi đã tạo được chỗ đứng khá vững chắc trong giới truyền thông Hoa Kỳ. Nhưng, nào ngờ, tôi đã hiểu biết quá ấu trĩ về đường lối tình báo quốc ngoại của Đảng?" Và PXA bắt buộc phải vâng lệnh Đảng: Kêu vợ con trở về sống ở Việt Nam!

Đã lăn lộn trong nghề tình báo mang tầm vóc quốc tế trong vòng 15 năm (1960-1975) không hề bị lộ, đã là một kỳ tích! Với kinh nghiệm và với cái thế công khai "Phóng viên báo Time", chắc chắn PXA còn làm nên những chiến công cho ngành tình báo của CSVN! Nhưng, PXA lại phải " ngồi chơi xơi nước" trong suốt hơn 30 năm (1975-2006), đóng vai trò một Thiếu tướng Tình báo để làm kiểng cho những cuộc phỏng vấn đầy tính hiếu kỳ của giới truyền thông. Đây chính là nỗi đau buồn về cuối đời của PXA!

Đặc biệt trong 13 năm đầu, từ năm 1975 đến 1988, PXA không được phép tiếp xúc với bất cứ người nước ngoài nào! Bởi vì PXA đã bị tình nghi là đang làm việc trong mạng lưới nhị trùng của CIA (?) "Tại sao cố tìm cách giúp cho trùm Mật Vụ Trần Kim Tuyến thoát ra nước ngoài? Tại sao không biết gì về số tình báo của Mỹ cài lại ở Việt Nam? Đã nhận nhiệm vụ gì của CIA ở Việt Nam, sau ngày 30-4-1975?"

Đó là những câu hỏi "đóng dấu phạm tội" cho PXA, mà lúc nào cũng phải kiểm thảo, mỗi khi đi dự lớp chỉnh huấn chính trị tại Hàmội (!)

Sau Đại Hội Đảng lần thứ VI (1986) mở đầu cho cái gọi là "công cuộc đổi mới", dưới trào của Nguyễn Văn Linh, PXA mới bắt đầu dễ thở, được tiếp bạn bè ngoại quốc tại tư gia ở cư xá làng báo chí tại Thủ Đức, nhưng vẫn bị sự kiểm soát chặt chẽ của an ninh chính trị. Và cũng từ đó, ông đã sống như một con người cô độc, đêm đêm ngắm cái bóng của mình lởn vởn trên tường, để hoài niệm, để suy tư và ôm hận về sự lầm đường theo chủ nghĩa Cộng sản!

Ngày 20 tháng 9 năm 2006, PXA đã qua đời tại Bệnh Viện Quân Y 175 ở Sàigòn, trong sự thương tiếc của bạn bè trong ngành truyền thông quốc tế, trong nỗi ngậm ngùi và xót xa của nhiều đồng chí lão niên, đang cùng cảnh ngộ bị vắt chanh bỏ vỏ!

---o0o---

Chúng tôi xin thắp một nến hương cầu siêu cho linh hồn của hai chiến sĩ vô danh - Phạm Ngọc Thảo và Phạm Xuân Ẩn, cho vơi niềm đau khổ ở bên kia thế giới, và cũng để cảnh tỉnh cho những chiến sĩ vô danh, cũng như hữu danh, còn đang phục vụ cho chế độ cộng sản Việt Nam.

New England-USA
Ngày 20-02-2007
Lê Tùng Minh

URL của bản tin này::http://www.vietnamville.ca/article.1596

© Vietnamville contact: admin@vietnamville.ca