Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Mười một 2022
T2T3T4T5T6T7CN
  1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30        
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 5
 Lượt truy cập: 21956562

 
Văn hóa - Giải trí 29.11.2022 12:45
Bắc Kinh đã ngăn cản Võ Nguyên Giáp trở thành Tổng Bí thư như thế nào?
03.01.2022 15:45

Sau Hội nghị Trung ương 4 khoá XII diễn ra từ ngày 9 đến 14/10 và chuyến thăm Trung Quốc của Thường trực Ban Bí thư Đảng CSVN diễn ra từ ngày 19 đến 21/10 vừa qua,

 dư luận đang dấy lên đồn đoán là ông Đinh Thế Huynh đã được chọn làm người kế nhiệm Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Chưa biết tin đồn này có trở thành hiện thực hay không, nhưng dường như một lần nữa Trung Quốc lại nổi lên như một nhân tố quyết định ngôi vị lãnh đạo tối cao ở Việt Nam.

Không ít người cho rằng đây là một “thông lệ” bắt đầu từ Hội nghị Thành Đô năm 1990, hội nghị mà cố Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch từng cảnh báo là sẽ đưa Việt Nam bước vào “một thời kỳ bắc thuộc mới rất nguy hiểm”. Tuy nhiên trên thực tế, Bắc Kinh đã thò “bàn tay lông lá” của mình vào chính trường Việt Nam từ trước đó rất lâu.

Ngược dòng thời gian, sau thảm hoạ diệt chủng mang tên “Cải cách ruộng đất” do Đảng Cộng sản Việt Nam phát động, Trưởng ban Cải cách Ruộng đất Trung ương Trường Chinh bị biến thành con dê tế thần và mất chức Tổng Bí thư vào tháng 10/1956. Lúc bấy giờ, trong số những trợ thủ thân cận nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nổi lên như là ứng cử viên số một để tiếp quản chiếc ghế mà ông Trường Chinh để lại. Vậy nhưng, sau một thời gian ông Hồ Chí Minh (Chủ tịch Đảng) kiêm nhiệm chức vụ Tổng Bí thư, tại Đại hội lần thứ III Đảng CSVN năm 1960, nhân vật được bầu vào vị trí Bí thư Thứ nhất lại là ông Lê Duẩn, một người mới từ Miền Nam ra Hà Nội cuối năm 1957, chứ không phải là ông Võ Nguyên Giáp, người từng sát cánh với ông Hồ Chí Minh suốt mười mấy năm.

Bất ngờ nguyên mẫu Đại tướng Letrong Giap thế giới Marvel

Một số người, trong đó có Đại tá Bùi Tín, cựu Phó Tổng Biên tập báo Nhân Dân, cho rằng việc ông Võ Nguyên Giáp bị loại và ông Lê Duẩn được chọn xuất phát từ ý muốn của ông Hồ Chí Minh. Theo họ, sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở thành một tên tuổi nổi bật trên thế giới. Uy tín của ông Võ Nguyên Giáp trong nhân dân lớn tới mức, sau thất bại thảm hại của cuộc Cải cách ruộng đất, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị đã phải cử ông thay mặt họ nhận tội và xin lỗi nhân dân tại sân vận động Hàng Đẫy vào ngày 29/10/1956. Ông Hồ Chí Minh lo sợ trước viễn cảnh một vị Tổng Bí thư với vầng hào quang chói lọi sau chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” sẽ khiến hình ảnh của mình bị lu mờ.

Tuy nhiên, trong một cuộc trò chuyện mới đây giữa chúng tôi với Đại tá Đoàn Sự, một sự thật hoàn toàn khác lại hé lộ. Đại tá Đoàn Sự là em ruột của Đại tá Lê Trọng Nghĩa, nguyên Cục trưởng Cục Quân báo (nay là Tổng cục Tình báo Bộ Quốc phòng), trợ thủ đắc lực của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và bị bắt trong vụ án “xét lại chống đảng” tháng 2/1968. Đại tá Đoàn Sự là người phiên dịch tiếng Trung tại đại bản doanh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ, và có thời gian làm thư ký cho ông. Từ năm 1955-1959, ông là phó tuỳ viên quân sự tại Đại sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc. Ông cũng từng mấy lần tháp tùng và phiên dịch cho Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các cuộc gặp với lãnh đạo Trung Quốc.

Với vị thế đó, Đại tá Đoàn Sự là một nhân chứng lịch sử, một trong số ít người nắm được những bí mật thuộc hàng “thâm cung bí sử” của chế độ. Ông cho biết, sau khi ông Trường Chinh bị mất chức, ông Hồ Chí Minh tạm quyền Tổng Bí thư và chủ trương đưa ông Võ Nguyên Giáp lên ngồi vào chiếc ghế đó. Vì thế, ông đã bí mật cử ông Võ Nguyên Giáp sang Trung Quốc để “tham vấn” ý kiến của Bắc Kinh. Ông Hồ nói với ông Võ Nguyên Giáp: “Thôi bây giờ chú trút bỏ quân phục đi. Chú phải làm nhiệm vụ này. Nhưng trước hết là ta phải sang trao đổi với Trung Quốc, trên đường chú đi Tiệp Khắc dự Đại hội Đảng Cộng sản Tiệp Khắc.”

Sau khi trở thành đại tướng, tổng tư lệnh quân đội, ông Võ Nguyên Giáp luôn mặc quân phục mỗi khi tham gia các sự kiện hay các cuộc gặp gỡ, giao đãi. Thói quen này vẫn được ông duy trì cho đến những năm tháng cuối đời. Chuyến sang Tiệp Khắc lần đó là một dịp hiếm hoi ông mặc quần áo dân sự, mà mục đích là để tạo hình ảnh của một Tổng Bí thư tương lai.

Đoàn Việt Nam sang Tiệp Khắc dự Đại hội Đảng Cộng sản Tiệp Khắc lần thứ 11 năm 1958 gồm có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông Tố Hữu và một vài người khác. Cả đi lẫn về đoàn đều dừng chân ở Bắc Kinh. Mặc dù đoàn gặp Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông sau khi từ Tiệp Khắc trở lại Bắc Kinh, nhưng thực ra đó mới là mục đích chính của đoàn.

Đại tá Đoàn Sự đã gặp Mao Trạch Đông từ trước. Theo ông, đó là một con người cao to, hách dịch và ăn nói thì rất khó nghe. Tham dự cuộc gặp bên phía Trung Quốc còn có Phó Thủ tướng Lý Tiên Niệm. Phía Việt Nam còn có ông Nguyễn Khang, Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc. Đại tá Đoàn Sự làm phiên dịch cho đoàn Việt Nam. Trong cuộc gặp, Mao Trạch Đông hết lời khen ngợi ông Võ Nguyên Giáp, nào là “Võ Tổng tài ba lắm”, “Võ Tổng giỏi giang lắm”, v.v. Tuy nhiên, cuối cùng ông ta lại chốt một câu: “Nhưng tôi thấy hình như Võ Tổng chưa làm công tác lãnh đạo địa phương bao giờ cả thì phải? Chưa làm qua tỉnh uỷ… gì gì cả. Võ Tổng toàn là thân chinh bách chiến, toàn là đánh nhau cả. Cho nên tôi cũng e ngại là Võ Tổng có ít kinh nghiệm về chuyện này [làm Tổng Bí thư]. Tôi đã trao đổi với mấy người. Chúng tôi không dám có ý kiến gì về chuyện đồng ý hay không đồng ý. Nhưng chúng tôi thấy là ở Việt Nam còn nhiều đồng chí giỏi lắm mà, như đồng chí Lê Duẩn này, đồng chí Lê Đức Thọ này, v.v. Các đồng chí cũng nên cân nhắc xem thế nào.”

Đây là một cuộc gặp bí mật. Hai bên không ghi chép gì. Bên Việt Nam chỉ đến trao đổi rồi lẳng lặng ra về. Sau cuộc gặp, ông Võ Nguyên Giáp nói với ông Đoàn Sự: “Thôi thế là trật rồi. Mình giờ lại khoác quân phục rồi.” Và trước khi mặc lại quân phục, ông đã chụp ảnh kỷ niệm với người cộng sự thân tín một thời, ghi lại hình ảnh hiếm hoi của mình trong bộ quần áo dân sự.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tá Đoàn Sự sau cuộc gặp với Mao Trạch Đông tại Bắc Kinh năm 1958. Ảnh do Đại tá Đoàn Sự cung cấp.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tá Đoàn Sự sau cuộc gặp với Mao Trạch Đông tại Bắc Kinh năm 1958. Ảnh do Đại tá Đoàn Sự cung cấp.

Thời điểm diễn ra cuộc gặp giữa Mao Trạch Đông và ông Võ Nguyên Giáp thì bà vợ hai của ông Lê Duẩn là Nguyễn Thụy Nga cũng mới sinh người con trai út Lê Kiên Trung ở Bắc Kinh. Theo thông tin mà người ta rỉ tai nhau vào lúc đó thì ông Lê Duẩn phải đưa vợ bé sang Trung Quốc và tá túc trong Đại sứ quán Việt Nam vì bị bà vợ cả đánh ghen. Tuy nhiên, sau những gì đã xảy ra cùng tiết lộ của Đại tá Đoàn Sự thì rất có thể đây là chiêu mà ông Lê Duẩn nghĩ ra để lấy được lòng tin của Bắc Kinh.

Ông Lê Duẩn đem vợ con sang Bắc Kinh như một thứ “con tin” để đổi lấy sự ủng hộ của Bắc Kinh cho ngôi vị Tổng Bí thư. Vậy ông Đinh Thế Huynh lấy gì để “thế chấp” cho các ông chủ Trung Nam Hải?

Hội nghị Trung ương 4 khoá XII kết thúc, người ta nhận thấy Bí thư Thành uỷ Hà Nội Hoàng Trung Hải, một người Hán trá hình, “cha đẻ” của Formosa Hà Tĩnh cùng hàng loạt hiểm hoạ Trung Quốc khác ở Việt Nam và là người bị tố cáo những tội ác khủng khiếp suốt hơn 8 năm nay nhưng vẫn không được giải quyết đúng pháp luật, lại xuất hiện nổi bật trên truyền thông sau một thời gian khá trầm lắng: phát biểu trong chương trình thời sự VTV 19h về tái cấu trúc nền kinh tế, chỉ đạo công an Hà Nội xử lý vụ nhân viên Vietnam Airlines bị hành hung… (Theo một nguồn tin của chúng tôi, ông Hoàng Trung Hải vẫn thường lui tới nhà ông Đinh Thế Huynh từ hồi ông ta còn làm Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương).

Tối 28/10 vừa qua, buổi lễ kỷ niệm 5 năm ngày thành lập Câu lạc bộ bóng đá No-U FC, nơi tập hợp những tiếng nói đấu tranh ôn hoà chống bá quyền Trung Quốc, dù đã phải diễn ra trong khuôn viên Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà để đảm bảo an toàn nhưng vẫn bị chính quyền Hà Nội huy động một lực lượng an ninh hùng hậu đến bao vây và tiến hành cắt điện, ngắt Internet, phá sóng điện thoại di động. Một số nhà hoạt động thậm chí còn bị công an ngăn cản tại nhà, không cho đến địa điểm tổ chức.

Phải chăng cặp bài trùng Hoàng Trung Hải - Nguyễn Phú Trọng sắp sửa nhường sân chơi cho cặp bài trùng cũng đặc biệt nguy hiểm cho tương lai đất nước là Hoàng Trung Hải - Đinh Thế Huynh? Và “con ngựa thành Troy” Hoàng Trung Hải lại tiếp tục kiểm soát ban lãnh đạo tối cao của Việt Nam hòng tiếp tục gieo rắc tai ương cho dải đất hình chữ S này?

* Blog của nhà báo Lê Anh Hùng là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

  • 16x9 Image

    Lê Anh Hùng

    Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.

Nhơn kiến nghị của Bà 7 Vân

Nhìn lại sự nghiệp của Lê Duẩn

 

Tướng Quân Đội Nhân dân Hà Nội Võ Nguyên Giáp mất năm nay được một năm. Đám tang trọng thể. Mồ mả hoành tráng. Có lính bồng súng đứng hầu.Truyền thông nhà nước Hà Nội hết mực đánh bóng. Mà phải làm như vậy để vớt vát sự thất sủng dài hạn của ông? Hay phải làm cho phù hợp với tuyên truyền trước kia đã lỡ gây dấu ấn đậm nét trong dư luận thế giới cho rằng Tướng Võ Nguyên Giáp là một vĩ nhơn của chìến tranh Việt Nam? Nhứt là dư luận phản chiến của tây phương. Sự đề cao Tướng Giáp là nhơn vật lịch sử Việt Nam thứ hai, sau Hồ Chí Minh, đã làm cho Bà 7 Vân nổi tam bành.

Những điều tốt đẹp cực kỳ về Tướng Giáp có đúng hay không, người ta phần lớn, chưa biết và cũng chưa tin hoàn toàn.

Ngày mai sẽ có không ít người nói lại cho rõ. Cũng như về Hồ Chí Minh. Nhưng giờ đây, hào quang của Tướng Giáp đã thật sự làm cay mắt, chảy nước mắt ở Bà 7 Vân, vợ bé (vì lúc Lê Duẩn chôm bà thì bà vợ chánh thức của Lê Duẩn hãy còn sống ở quê) của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn nên bà đã viết kiến nghị yêu cầu Trung ương đảng cộng sản Hà Nội khôi phục địa vị cho Lê Duẩn xứng đáng đúng với địa vị và sự nghìệp của ông. Bà thề đời của bà làm không được thì đời con, đời cháu, đời chắt của bà sẽ tìếp tục tranh đấu.

Nhưng Ông Lê Duẩn là người anh hùng vĩ đại như thế nào? Sự nghiệp của ông to lớn cỡ nào đối với dân tộc Việt Nam? Có đáng khôi phục hay không?

Thư gởi TW đảng của bà không được hồi đáp nên nay bà chọn cách công bố.

 

Rìêng về Bà 7 Vân

Bà 7 Vân, với tư cách là vợ bé của Lê Duẩn, chịu khó viết một bức thư khá dài đòi cái đảng của bà mà bà được 65 tuổi đảng, phục hồi địa vị và sự nghiệp cho chồng của bà. Vợ đòi hỏi quyền lợi cho chồng con là chuyện bình thường. Làm điều này còn nói lên phẩm hạnh và tình nghĩa của người phụ nữ. Nhưng ở đây, trong trường hợp của Lê Duẩn, điều mà bà đòi hỏi có đáng làm trước lịch sử Việt Nam hay không? Bà lên án những người theo Ông Giáp, tức theo Liên-xô là phản quốc. Theo Tàu mới ái quốc vì theo Tàu làm chiến tranh biển người kiểu Mao Trạch Đông để thống nhứt đất nước. Và cho Tàu. Không thấy có Việt Nam trong đó.

Riêng về bức thư, sau khi đọc qua, chắc nhiều người đã không khỏi ngạc nhiên trình độ kiến thức của bà như vậy mà đã làm Phó Tổng Biên tập nhựt báo Sài gòn Giải phóng. Bà viết một câu “Anh Ba”, hai câu “Anh Ba” làm như Anh Ba của bà là Anh Ba của mọi người. Bà sợ mất Anh Ba vì thân phận vợ bé chăng? Bà không nghĩ người đọc sẽ ngượng đến khó chịu. Nhưng nay, bà đã trên 80 tuổi rồi còn gì nữa?

Ông Xuân Hồng, ký giả BBC, trong cuộc phỏng vấn, có hỏi bà “Nghe nói Ông Lê Duẩn có nhiều vợ, nhiều nhơn tình lắm, phải không?”. Bà biến đổi sắc mặt và trả lời lảng đi. Chính cái tâm lý “hoạn thư” này, ngày nay biến thành sự ganh tỵ, đã thúc đẩy bà viết thư yêu cầu đảng cộng sản phục hồi sự nghiệp lớn “giải phóng Mìền nam và thống nhứt đất nước” chăng? Hay cánh gia nô Tàu, vốn không ưa Võ Nguyên Giáp, như Lê Đức Anh, Đỗ Mười,… bảo bà làm việc này để tiếp tục hán hóa Việt Nam cho trọn sự thiên chức hán ngụy của họ?

Trong thư, Bà 7 Vân, đề cao Lê Duẩn cũng như Hồ Chí Minh, là người khiêm tốn, đơn giản, vì mọi người quên mình, không hề viết hồi ký hay bất kỳ một câu nào nói riêng về bản thân. Vì già cả hay không đọc sách mà bà đã quên Hồ Chí Minh có hai Hồi ký tự bốc thơm mình dưới tên Trần Dân Tiên, đó là “Vừa đi đường vừa kể chuyện” và “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”. Hai hồi ký này được Hà Minh Đức, nhà văn học của đảng, công bố là “Tác phẩm Văn của Hồ Chí Minh” (NXB Khoa Học Xã hội) Hồ Chí Minh viết để “Đáp lại tình cảm mong muốn của đồng bào và của bạn bè trên thế giới.” Số sách in để phát hành khá lớn, lên tới 8200 quyển. Còn “Những sự kiện lịch sử đảng” xuất bản tới cả 100.000 quyển. Tức phổ biến khá rộng trong đảng. Dân chúng thì chẳng mấy ai để ý tới chuyện của đảng cộng sản.

Lý do của Hà Minh Đức phổ biến là chánh thức, nói bằng lưỡi gỗ. Lý do kín đáo nhằm tác dụng chánh trị là của Lê Duẩn, chủ yếu bêu xấu Hồ Chí Minh, đánh mất uy tín Hồ Chí Minh được đảng cộng sản tuyên truyền là “con người trong suốt như pha-lê”, mà phơi bày rõ Hồ Chí Minh chỉ là một con người tầm thường ham danh tuy 2 quyển hồi ký này, về mặt văn chương, khó có thể xếp vào loại Văn.

Chuyện kín này, chỉ có những người trí thức, tương đối có suy nghĩ độc lập, ở Hà Nội mới biết. Năm 1987, Ông Phan Đinh Diệu qua Paris, với vài người bạn, nói rõ việc công bố Trần Dân Tiên chính là Hồ Chí Minh do Lê Duẩn chủ trương. Đây là một “cú ân huệ” Lê Duẩn ban cho bác sau khi đã hạ bác sát ván từ mấy năm trước rồi. Sau 30/04/75, Lê Duẩn mang não trạng “đỉnh cao trí tuệ loài người” nên đạp hết mọi người để chỉ còn mình làm vua một cõi.

Bà 7 Vân không đủ trình độ để biết những chuyện này tuy là vợ bé của Tổng Bí thư đảng.

Một chút quan hệ gia đình. Bà 7 Vân là em gái thứ 7 của Bảy Bốp Nguyễn Ngọc Tân, Ủy viên Trung ương đảng Tân Đại Việt, Đại Việt Quốc Dân Đảng, Dân biểu VNCH, Trưởng Khối Dân quyền trong Quối Hội VNCH trước 30/04/1975. Khi nhắc tới 7 Vân, Bảy Bốp chửi thề “ĐM. Tao mà bắt được con nhỏ đó, tao xé xác nó ra!”. Sau 75, ông đi tù, Bà 7 Vân lãnh ông ra sớm. Sau đó, ông ở tù trở lại hơn mười năm nữa.

Con trai của bà là Lê Kiến Thành giàu sụ ngay sau 30/04/75 nhờ Lê Duẩn vào Sài Gòn kiểm tra trở về. Nay là một doanh nhơn vĩ đại ở Việt Nam. Cha làm Tổng Bí thư, con Đại gia!

 

Sự nghiệp của Lê Duẩn

Ngay sau ngày 30/04/75, Lê Duẩn vào Sài gòn tuyên bố “Ta giải phóng Mìền nam, thống nhứt đất nước là cho Trung quốc và Liên-xô”.

Ngày nay đa số người dân trong nước có để ý ít nhiều đến tình hình đất nước đều khẳng định “Việt Nam đã mất cho Tàu rồi”. Khi nói như vậy là họ chỉ nhìn thấy thực tế. Cái mất nước – xin nói lại cho rõ là “mất nước” chỉ có ở những người còn Việt Nam, tức không cộng sản hoặc từ bỏ cộng sản – đã bắt đầu từ năm 1950 sau khi Mao Trạch-Đông chiếm trọn lục địa nước Tàu.

Ở Hội nghị 9, Lê Duẩn đã nói “Tư tưởng Mao Trạch-Đông là tư tưởng Lê-Nin của thời đại 3 dòng thác cách mạng Á-Phi-La (Á châu, Phi châu và Châu Mỹ La-tinh, tức Nam Mỹ). Chủ tâm của Lê Duẩn là suy tôn Mao để Mao mới đưa Duẩn lên thay Hồ Chí Minh.

Nội dung chủ yếu của Nghị quyết 9 là làm chiến tranh, tức đưa chiến tranh vào Miền nam. Mao chủ trương thống nhứt Việt Nam bằng võ lực được Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh chấp hành triệt để. Những ai trong đảng còn “suy nghĩ” đều bị Lê Duẩn gạt phăng ra ngoài và còn cho đi tù.

Từ nay, Hồ Chí Minh “được phép không phải tham dự những buổi họp của Bộ chánh trị” nữa vì sức khỏe. Còn những người khác như Võ Nguyên Giáp, Lê Liêm thì dành thì giờ trau dồi nghệ thuật, học dương cầm,… Ung văn Khìêm nghỉ Ngoại giao (Đèn Cù, trang 213, 275).

Hạ Tướng Giáp xong, thấy Tướng Giáp không phản ứng, Lê Duẩn còn chửi thêm là “Đồ hèn” (id, trang 270).

Tệ hơn nữa đối với đồng chí, Lê Duần còn ra lệnh cho Hoàng Tùng đục bỏ 2 chữ “Đại tướng” trên nhựt báo Nhân Dân. Một số đảng viên khác không thuộc phe cánh Lê Duẩn bị đi tù hoặc đi cải tạo. Nhưng cải tạo vẫn chưa phải như “ngụy quân ngụy quyền” đi cải tạo sau 30/04/75 cũng theo lệnh khoan hồng của Lê Duẩn vì lúc đầu Lê Duẩn làm dấu đưa bàn tay phát qua cổ (ý giết hết) để trả lời số phận của những người này!

Lê Duẩn không chỉ nhằm hạ những người thân Liên-xô, mà thật ra là hạ tất cả mọi người có thể là đối thủ với anh ta. Trường Chinh cũng là đảng viên kỳ cựu theo Tàu cũng bị cho yên phận. Tại Hội trường Ba Đình, tháng 1/1964, Trường Chinh, trước đảng viên cao cấp và trung cấp học tập Nghị quyết 9, giải thích “…Về cơ bản, đường lối đối nội và đối ngoại của ta đã thật sự thống nhất với Trung quốc”. Khi Mao Trạch-Đông đưa ra tập tài liệu “9 Đại phán xét lại của Liên-xô”, Trường Chinh đã tổng kết đó là “chín quả đấm thôi sơn đánh sập chủ nghĩa xét lại của Liên-xô”. Còn ai ở đất này theo Tàu hơn Trường Chinh!

Lê Duẩn hăng hái làm gia nô Tàu để Tàu cho thay thế Hồ Chí Minh. Tàu chủ trương làm chiến tranh đến người Việt Nam cuối cùng thì Lê Duẩn là người thi hành. Tàu cần gây ra chiến tranh ở Việt Nam để chiếm lấy biển đông và làm chủ Á châu khi “thiên hạ đại loạn” thì Lê Duẩn phất cờ giải phóng Miền nam. Nhơn dân Việt Nam 2 miền tử vong đến 10 triệu để xây dựng sự nghiệp Lê Duẩn. Điều này được Bà 7 Vân xác nhận trong phỏng vấn của BBC với ông Xuân Hồng. Bà còn nói thêm: Lê Duẩn cầu viện Bắc Kinh để nhơn dân khỏi phải hi sanh thêm nữa. Nếu Bắc Kinh từ chối thì ông sẵn sàng cho nhơn dân Việt Nam chết thêm nữa cho hoài bão giải phóng Miền nam của ông. Những người bộ đội cũ còn nhớ những cảnh tượng rùng rợn trên đường xâm nhập. Xác thanh niên, cả thiếu niên chất thành đống, trên những dòng suối làm tắc nghẽn dòng nước. Chim rừng ăn xác chết bay lên không nổi!

Lê Duẩn bám theo Tàu để được ủy nhiệm lo chánh trị thay thế Hồ Chí Minh, Nguyễn Chí Thanh lo quân sự thay thế Tướng Giáp. Nguyễn Chí Thanh chết bất ngờ đã làm cho Mao tức giận đã buột miệng “Các đồng chí đừng buồn nữa” khi đích thân đi tới Tòa Đại sứ Hà Nội ở Bắc kinh phúng điếu. Ngụ ý ta sẽ lấy Miền nam và cả Việt Nam, chớ không phải Liên-xô. Lúc Hồ Chí Minh chết, Mao không đi phúng điếu như đối với Nguyễn Chí Thanh.

 

Về Mao Trạch-Đông, thầy của Lê Duẩn

Khoảng 1964, Giáo sư Đặng Thai Mai đăng ở trang nhứt báo Văn Nghệ một bài ca ngợi “Thơ và Từ” bất hủ của Mao chủ tịch. Những bài này phản ảnh những vĩ đại này nọ ở Người (id, trang 234) để nâng bi Mao và tìm cho mình cây dù:  

“Trong tập “Thơ và Từ”, chúng ta có thể nhìn thấy một người anh hùng kiểu mới, người anh hùng của giai cấp vô sản, người anh hùng lý tưởng của thời đại chúng ta.

Đọc xong tập Thơ và Từ của Mao chủ tịch, chúng ta có lý do để mà nghĩ rằng: Phải là con người vĩ đại mới có thể viết được văn chương thật sự vĩ đại, vì một tác phẩm văn chương vĩ đại bao giờ cũng biểu hiện một cá tính vĩ đại”.

Mời đọc thơ của Mao Trạch-Đông :

Núi Côn-Lôn

Mà nay ta bảo Côn-Lôn:
Không cần quá cao, không cần bấy nhiêu tuyết.
Sao tựa được trời, rút bảo kiếm,
Đem ngươi chặt làm ba khúc,
Một gửi châu Âu,
Một tặng châu Mỹ,
Một trả về Đông quốc.  

(NXB Văn Học, 1966, trang 95-97)

Qua bài thơ Núi Côn-Lôn, phải chăng ý của Mao muốn chia thiên hạ ra làm 3, phá thế siêu cường Nga-Mỹ lãnh đạo thế giới. Mao phải nhảy vô và giành phần Á châu về mình. Bởi Mao không gọi Á đông mà gọi Đông quốc : Á châu là nước phía Đông của Tàu. Hay rõ hơn Đông ở đây là Mao Trạch-Đông, nước của Mao Trạch-Đông?Trong quyển Mao Tsé-toung, NXB Voix, Paris, 2003, do M.H. Bernard trích dịch:“Tần Thủy Hoàng không có gì siêu quần. Y chỉ chôn 460 nho sĩ; còn chúng tôi, chúng tôi chôn 46.000 người”.“Tất cả phe cộng sản lúc ấy là một chậu nước lớn, nhưng đã ngầu đục, bị Mao lắc cho nổi sóng cuộn gió, và bên trong chậu đó, các anh hùng hảo hán, các kẻ vệ đạo nghiêng ngửa hò hét hủy diệt nhau. Trong sóng gió tối tăm ấy của cộng sản (id, trang 215), mới thấy đúng “thiên hạ đại loạn Trung Quốc được nhờ”!

Những người cộng sản ở Hà Nội đánh nhau, giết nhau, vận dụng mưu lược, hoàn toàn không cho Việt Nam, mà chỉ nhằm quyền lợi bản thân là trên hết. Sự nghiệp của Lê Duẩn là làm chiến tranh giết 10 triệu người cho địa vị của anh ta và phục vụ chánh trị bá quyền của Tàu. Hoàn toàn không có Việt Nam. Đó là tội phản quốc, diệt chủng. Tội chống nhơn loại. Bà 7 Vân có thấy không?

Ai có thể chỉ dùm một người cộng sản chuyên chính là người Việt Nam thương nước! Hay chỉ gồm toàn gia nô cho Tàu hoặc cho Liên-xô?

 

Nguyễn thị Cỏ May

_____

Chú thích của BBT Cái Đình:


Trung Quốc im lặng về sự can thiệp trong Chiến tranh Đông Dương

Tác giả: RFI phỏng vấn Michel Bodin

“Nếu không được Trung Quốc giúp đỡ, Điện Biên Phủ đã không thành”, điều đã được các nhà sử học ghi nhận. Thái độ im lặng của tất cả các bên liên quan trong một thời gian dài về sự trợ giúp đó phản ánh hiềm khích lâu đời trong quan hệ Việt – Trung và bối cảnh địa chính trị của thế kỷ XX.  

Đảng Cộng Sản Trung Quốc trước khi giành được chính quyền năm 1949 đã quyết định giúp đỡ Việt Minh giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của Pháp. Đối với Pháp, sự cấu kết giữa đảng Cộng Sản Trung Quốc với Việt Minh là một bước ngoặt trong chiến tranh Đông Dương (1945-1954) và giải thích cho căng thẳng trong bang giao giữa Paris với Bắc Kinh.

Audio Player

Trung Quốc đã hỗ trợ Việt Nam dưới những hình thức nào và với những mục đích gì? Tại sao Trung Quốc và Việt Nam đã cùng im lặng khá lâu về sự can thiệp của Trung Quốc vào Đông Dương? Đó là những câu hỏi mà nhà sử học Pháp Michel Bodin trả lời trong bài nghiên cứu L’aide de la Chine au Viet Minh (1947-1954): un aspect des relations franco-chinoises (Trung Quốc giúp đỡ Việt Minh (1947-1954): Một khía cạnh trong quan hệ Pháp – Trung). Bài viết đăng trên tạp chí quân sự Guerres Mondiales et Conflits Contemporains – số 187, tháng 7/1997, tức 6 năm trước sự kiện tại Pháp, lần đầu một nhà sử học Việt Nam có bài tham luận về đề tài Việt Nam đã được Trung Quốc hậu thuẫn như thế nào trong giai đoạn 1945-1954.*

1945, Pháp trở lại Đông Dương nhưng phải đợi đến năm 1950 Hoa Kỳ mới tích cực viện trợ quân sự trong nỗ lực ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản bắt rễ vào châu Á. Đến năm 1954, 85% chi phí quân sự tại Đông Dương do Mỹ đài thọ. Trong khi đó, Việt Minh đã được đảng Cộng Sản Trung Quốc tiếp sức trước khi Mao Trạch Đông giành được chính quyền. Một khi Bắc Kinh thiết lập bang giao với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Trung Quốc giúp chính quyền Hồ Chí Minh gây dựng đội quân chính quy hiện đại, trang bị vũ khí cho Việt Nam, đào tạo các cán bộ và kể cả nhân viên tình báo Việt Minh, điều các cố vấn quân sự đến tận Điện Biên Phủ. Đến giữa tháng 5/1954, mỗi tháng Trung Quốc cung cấp cho Việt Nam 4.000 tấn viện trợ và gần 3/4 trong số đó là vũ khí đạn dược.

Căn cứ vào tài liệu của Viện Lưu Trữ Ban Sử Học Quân Đội Pháp, vào những nhân chứng trực tiếp trong chiến tranh Đông Dương, hay hồi ký của những nhân vật chủ chốt của thời cuộc, giáo sư Michel Bodin, chuyên nghiên cứu về lịch sử quân sự Đông Dương khẳng định Trung Quốc giúp Việt Nam từ năm 1947. Trong buổi trả lời dành cho RFI Tiếng Việt, ông điểm lại và phân tích tầm mức quan trọng của sự can thiệp Trung Quốc trong cuộc chiến 1945-1954.

“Đông Dương, mặt trận nóng của chiến tranh lạnh”  

RFI: Kính chào Michel Bodin, cảm ơn ông dành cho RFI Việt ngữ buổi nói chuyện hôm nay để mở lại những trang sử trong chiến tranh Đông Dương, mà phía Việt Nam gọi là ”cuộc chiến chống Pháp”. Phần lớn các tài liệu từ phía Việt Nam xem 1949/1950 là thời điểm Trung Quốc bắt đầu giúp đỡ Việt Minh. Nhưng giáo sư chứng minh rằng Việt Minh đã được tiếp sức gần như ”ngay từ khi Pháp trở lại Đông Dương” và đấy không đơn thuần là một sự trợ giúp một dân tộc để giành lại độc lập. Câu hỏi đầu tiên xin ông điểm qua về toàn cảnh quốc tế ở thời điểm sau năm 1945 và Trung Quốc tính toán những gì khi viện trợ cho Việt Nam trong chiến tranh Đông Dương?

Michel BodinBối cảnh khi đó khá khó khăn bởi vì Mỹ không ưa gì các cường quốc thực dân và kể từ năm 1947, từng bước, thế giới lâm vào tình trạng chiến tranh lạnh. Xung đột tại Đông Dương là một mặt trận nóng của chiến tranh lạnh.

Trung Quốc theo đuổi mục đích gì qua việc giúp đỡ Việt Nam? Thực ra đây là một hình thức phục thù trả đũa phương Tây xâm lược một phần lãnh thổ Trung Quốc hồi thế kỷ XIX. Trung Quốc cũng không quên rằng sau Hòa Ước Thiên Tân (1885) Pháp đã gạt nhà Thanh ra khỏi đất Bắc Kỳ. Kế tới, có một sự liên đới giữa các dân tộc bị đô hộ. Tuy nhiên, ban đầu với tư cách là một tổ chức cộng sản, phe của Mao đã giúp đỡ Việt Minh. Từ tháng Giêng 1950, sau khi đảng Cộng Sản Trung Quốc giành được chính quyền, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Kể từ đó, với tư cách là một nhà nước, Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam chống lại một đế quốc vì ở phía bên kia, Pháp được Mỹ yểm trợ.   

Nhìn qua thì rõ ràng Trung Quốc giúp đỡ một phong trào giải phóng dân tộc nhưng thực chất của vấn đề phức tạp hơn thế. Thứ nhất, Bắc Kinh muốn khối xã hội chủ nghĩa công nhận Trung Quốc là một quốc gia có thể giúp ích cho những dân tộc khác để giành độc lập và mục tiêu đó không thể hoàn thành nếu không có Trung Quốc.    

Thứ hai, (ngay từ thời điểm đầu thập niên 1950), qua việc giúp đỡ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Trung Quốc muốn khẳng định vị trí của mình với Liên Xô và bắt đầu muốn được công nhận như một cường quốc trên thế giới.

Tuy nhiên Trung Quốc luôn áp dụng một phương châm đó là không bao giờ để nước láng giềng phương nam quá hùng mạnh, thành thử giúp Việt Nam cũng là cách để kiểm soát tình hình ngay sát cửa biên giới phía nam của chính họ. Giúp Việt Nam, Trung Quốc nhắm tới hai mục tiêu: được cộng đồng quốc tế công nhận và vì an ninh của chính mình.   

Viện trợ về mọi mặt nhưng có giới hạn  

RFI: Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam dưới hình thức nào?

Michel Bodin: Những hình thức được biết đến hơn cả là sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật. Có những trại tập huấn được lập ra tại các vùng Vân Nam và Quảng Tây trên lãnh thổ Trung Quốc để đào tạo lực lượng quân sự của Việt Nam. Lại cũng có những trường đào tạo cho các cán bộ Việt Minh về phương pháp tác chiến. Ngoài ra, Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam nhiều về mặt vật chất, cung cấp từ vũ khí hiện đại, đạn dược, đạn pháo, đến trang bị, khí tài, lương thực, trang phục… Hình thức trợ giúp Việt Nam thứ ba, đặc biệt là kể từ năm 1952 trở đi, là công tác xây dựng cơ sở hạ tầng, đường xá, nhà ga… đi thẳng từ lãnh thổ Trung Quốc đến Việt Nam.

Về mặt ngoại giao, Bắc Kinh cũng đã năng động, chẳng hạn như lính lê dương gốc Đông Âu đào ngũ khi trở về nguyên quán họ phải đi qua ngả Trung Quốc, rồi từ Trung Quốc đến Liên Xô.

Sau cùng, chắc chắn là có một sự hợp tác giữa ngành tình báo Trung Quốc với Việt Nam, nhân viên mật vụ Trung Quốc được cài đặt tại Pháp với nhiệm vụ cung cấp thông tin cho phía Việt Minh. Nhưng điều ít được biết đến, đó là một sự trợ giúp trực tiếp: Ngay từ năm 1948, phe cộng sản Trung Quốc đã có một sự cấu kết với lực lượng Việt Minh, rất cụ thể là ở những địa điểm như Móng Cái (năm 1948), ở Lai Châu (năm 1949 và 1951). Trong thời gian 1951-1952, Trung Quốc thường xuyên điều quân đội chính quy sang Bắc Kỳ với nhiệm vụ tiêu diệt các lực lượng vũ trang do mật vụ Pháp đào tạo để chống lại Việt Minh. Thế rồi trong trận đánh Điện Biên Phủ, điều chắc chắn là đã có nhiều sĩ quan Trung Quốc có mặt ở hiện trường. Một số tài liệu thậm chí còn nêu lên khả năng có đến một phần tư dân quân trong trận đánh này là người Trung Quốc.   

Tựu chung Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam về mọi mặt và các hình thức giúp đỡ đó đã thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, Trung Quốc giúp đỡ Việt Nam nhưng không để Việt Nam quá mạnh ở ngay sát cạnh cửa ngõ của họ. Tình báo Pháp qua các cuộc nghe lén, biết được là bộ tổng tham mưu Việt Nam than phiền Trung Quốc không cung cấp đủ đạn dược, súng cối, vũ khí phòng không như phía Việt Nam yêu cầu. Điều đó cho thấy Bắc Kinh luôn theo đuổi lôgic: giúp Việt Nam nhưng không thực sự đóng góp hết mình.   

RFI: Báo Le Monde ấn bản ngày 19/03/1954 đánh giá mùa thu 1950 là một bước ngoặt bất lợi cho phía Pháp trong chiến tranh Đông Dương: ”Viện trợ của Trung Quốc khiến Việt Minh trở thành một đối thủ càng lúc càng khó hạ gục”. Một cách cụ thể sự can thiệp của Trung Quốc gây ra những khó khăn nào cho bên quân đội Pháp?

Michel Bodin: Hậu quả trước tiên đối với quân đội là phía Pháp vẫn duy trì trên quốc lộ RC4 (từ Lào Cai đến Móng Cái) dọc biên giới Việt – Trung những lô cốt và quyết định đó đòi hỏi nhiều hy sinh. Pháp đã do dự không muốn rút lui khỏi khu vực này vì cho rằng sự hiện diện của quân đội Pháp sẽ ngăn cản viện trợ của Trung Quốc đi qua ngả biên giới trên bộ. Đương nhiên đó là một ảo tưởng. Ngoài ra ở phía bắc Bắc Bộ, hải quân được huy động để chặn viện trợ của Trung Quốc vào Việt Nam qua đường biển.

Thất bại của quân Pháp năm 1950 trên Quốc Lộ 4 – RC4 là thắng lợi đầu tiên của những tiểu đoàn được đào tạo tại Trung Quốc. Quân Việt Minh đã chiếm được một số đồn bốt của Pháp nhờ có vũ khí của Trung Quốc. Cuối cùng, đương nhiên Điện Biên Phủ là hậu quả rõ rệt nhất từ sự can thiệp của Trung Quốc.   

Những lý do để im lặng  

RFI: Mãi đến thập niên 1980, Bắc Kinh mới công bố một số tài liệu về sự gúp đỡ cho Việt Nam trong giai đoạn 1945-1954. Rồi lại phải đợi đến năm 2003, lần đầu tại Pháp mới thấy một bài tham luận của một nhà sử học Việt Nam đề cập đến viện trợ của Trung Quốc trong chiến tranh Đông Dương. Vì sao trong một thời gian dài các bên đều đã im lặng về tầm mức, về tác động của viện trợ Trung Quốc cho chính quyền Hồ Chí Minh?

Michel Bodin: Tất cả các bên liên quan từng cố gắng che giấu quy mô của sự đóng góp này. Phía Pháp mặc dù chưa từng che giấu viện trợ vật chất của Trung Quốc, nhất là sau cuộc hành quân Chim Én/Hirondelle (tại Lạng Sơn ngày 17-18/07/1953) khi quân đội khám phá những kho tiếp vận với nhiều khí giới, đạn dược của Trung Quốc và Liên Xô. Dụng ý của Paris là nhằm đòi Mỹ trợ giúp nhiều hơn nữa.

Tuy nhiên, điều mà tất cả các bên cùng tránh né, đó là sự trợ giúp về mặt nhân sự: Không ai nói đến sự can thiệp của Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc ở miền Bắc Việt Nam. Pháp muốn tránh để các quân nhân, kể cả những người lính Đông Dương chiến đấu bên hàng ngũ Pháp, thối trí. Cũng không ai muốn mở ra một cuộc chiến với Trung Quốc vì ý thức được rằng, với quân số hiện diện ở Bắc Kỳ, Pháp không cầm cự được lâu. Paris đành rằng muốn Mỹ hỗ trợ về vật chất, nhưng lại không muốn Washington can thiệp quá sâu vào Đông Dương, vì đây là sân sau của Pháp.   

Nhìn từ phía Trung Quốc, thái độ kín đáo của Bắc Kinh là do thứ nhất, chính quyền sợ Mỹ can thiệp trong bối cảnh Trung Quốc đang tiến hành một cuộc cách mạng xây dựng xã hội chủ nghĩa. Thứ nhì là về mặt quân sự, Trung Quốc đang phải đối mặt với Hoa Kỳ ở Triều Tiên, do vậy Bắc Kinh muốn tránh mở thêm một mặt trận thứ hai với Mỹ ở Đông Dương. Điểm thứ ba là Trung Quốc, do không giúp đỡ Việt Nam hết mình, nên muốn tránh để bị chỉ trích về điểm này.

Còn về phía Việt Nam, điều quan trọng là cần chứng minh chiến thắng chống Pháp là thắng lợi của nhân dân Việt Nam. Phải đợi đến năm 1978 mới bắt đầu có một số tiếng nói cho rằng chiến thắng năm 1954 “có thể cũng là một thắng lợi của Trung Quốc”. Sự chậm trễ đó thể hiện hiềm khích lâu đời trong quan hệ Việt – Trung. Ở đây, một mặt Việt Nam tham gia khối Xô Viết, giữ một khoảng cách nào đó với Bắc Kinh. Mặt khác, Việt Nam không muốn nhìn nhận là đã bất mãn vì đã không được Trung Quốc giúp đỡ như mong đợi.

Thêm vào đó, trong quá trình đàm phán hiệp định Genève năm 1954, chính Trung Quốc đã kềm hãm một số những đòi hỏi của chính quyền Việt Minh. Thành thử phải đợi đến năm 2003 mới có những bài tham luận đầu tiên về chủ đề này và điều đó cho thấy tính chất phức tạp về địa chính trị tại châu Á.     

RFI: Xin cảm ơn giáo sư Michel Bodin, chuyên gia về lịch sử quân đội, tác giả công trình nghiên cứu về Lực Lượng Viễn Chinh Pháp tại Đông Dương (1945-1954). Ông đã cho xuất bản nhiều cuốn sách nghiên cứu về những người lính tham gia chiến tranh Đông Dương – NXB L’Harmattan.

Bài nghiên cứu của Michel Bodin L’aide de la Chine au Viet Minh (1947-1954): un aspect des relations franco-chinoises (Trung Quốc giúp đỡ Việt Minh (1947-1954): Một khía cạnh trong quan hệ Pháp – Trung) đăng trên tạp chí quân sự Guerres Mondiales et Conflits Contemporains – số 187, tháng 7/1997 cho thấy sự can thiệp của Trung Quốc trong cuộc chiến Đông Dương từng đè nặng lên quan hệ giữa Paris với Bắc Kinh trong một thời gian dài. Còn sự im lặng trong nhiều năm của cả phía Việt Nam lẫn Trung Quốc trên hồ sơ này, giải thích phần nào xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 1979.

—–

* Bài tham luận của giáo sư Ngô Đăng Tri, trường Đại Học Khoa học Xã Hội và Nhân Văn – Đại Học Quốc Gia Hà Nội, mang tựa đề Le service logistique du Vietnam dans la bataille de Dien Bien Phu (Bảo đảm hậu cần của Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ) được công bố trong khuôn khổ hội thảo khoa học tổ chức tại Paris vào tháng 11/2003: “1954-2004 La Bataille de Dien Bien Phu, Entre Histoire et Mémoire” (1954-2004 Trận Đánh Điện Biên Phủ, Lịch Sử và Ký Ức).

Nguồn: RFI



Vợ tổng bí thư Lê Duẩn tố cáo đại tướng Võ Nguyên Giáp

Bạn đọc Danlambao – Người vợ thứ hai của cố tổng bí thư Lê Duẩn, bà Nguyễn Thị Vân (tên thường gọi Bảy Vân) vừa cho phổ biến công khai lá đơn tố cáo đại tướng Võ Nguyên Giáp đúng vào dịp giỗ đầu của ông này.

Trong đơn tố cáo dài 16 trang gửi cho 16 ủy viên bộ chính trị đảng CSVN, bà Bảy Vân đã dùng những lời lẽ hết sức gay gắt để tố cáo vị tướng được xem là ‘huyền thoại’ của quân đội nhân dân Việt Nam.

Nội dung lá đơn phần nào cho thấy mức độ triệt hạ gay gắt trong cung đình cộng sản, thể hiện qua cuộc chiến tranh giành quyền bính giữa phe Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và phe tướng Giáp.

Dù đã nhắm mắt suôi tay, nhưng dường như mối hận thù phe phái vẫn còn ảnh hưởng trực tiếp đến gia đình những người có liên quan.

Trong đơn tố cáo, bà Bảy Vân có gợi nhiều sự kiện mà cho đến nay vẫn còn bị đảng cộng sản che giấu như vụ án ‘xét lại chống đảng’ hồi cuối thập niên 60, vụ án Sáu Sứ… để cáo buộc tướng Giáp tội danh “làm gián điệp cho nước ngoài phản bội tổ quốc dân tộc”.
Cuối đơn, bà Bảy Vân kiến nghị bộ chính trị thành lập một tổ công tác do thường trực ban bí thư Lê Hồng Anh đứng đầu để điều tra về tướng Giáp. Trong thời gian điều tra, người vợ của cố TBT Lê Duẩn cũng yêu cầu bộ chính trị, ban tuyên giáo ra lệnh ‘không nên tùy tiện ca ngợi ông Giáp’.
Thời hạn điều tra không rõ bắt đầu từ lúc nào, nhưng bà Bảy Vân đòi hỏi bộ chính trị hoàn thành xong trước ngày 2/9/2014. Có lẽ do không được đáp ứng, bà Bảy Vân và gia đình đã quyết định công bố lá đơn rộng rãi do đảng viên và quần chúng ‘chân chính’ được biết rõ.
Bà Bảy Vân tên thật là Nguyễn Thụy Nga, sinh năm 1925, từng giữ chức phó tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng. Bà là vợ thứ hai của cố tổng bí thư Lê Duẩn khi ông này đã đạt tới đỉnh cao quyền lực trong chế độ CSVN.
Trong 26 năm giữ quyền lực tối thượng cho đến lúc chết, TBT Lê Duẩn có lúc được bộ máy tuyên truyền CS tô vẽ là nhân vật ‘vĩ đại’ ngang tầm ông Hồ Chí Minh.
Dù vậy, tướng Giáp sau khi chết đã được đảng cộng sản thánh hóa đến mức ‘vĩ đại’ hơn cả cố TBT Lê Duẩn. Đây có lẽ là nguồn cơn khiến mối hận thù phe phái bị trỗi dậy giữa những người có liên quan.
Dưới đây là toàn văn đơn tố cáo do facebook Ngàn Sâu Trần phổ biến:

VỢ LÊ DUẨN : 10 TRIỆU THANH NIÊN CHẾT TRONG CHIẾN TRANH :          
              BS.PHÙNG VĂN HẠNH : Cách mạng tháng tám có cần không ???
 Bài liên quan đến Sử cách mạng tháng tám có cần không ???
-Chính Phủ Trần Trọng Kim cũng sẽ  đem được Độc Lập,
-Pháp  đã ký trao trả Độc Lập với Vua Bảo Đại  năm 1949 và
ngày 25-04-1956 đã rút hết quân đội về Pháp thời TT. Ngô Đình Diệm
chấm dứt (1884-1956)

-Theo tiết lộ của bà Vợ Lê Duẩn đã nướng
10 triệu Thanh Niên  đã chết trong chiến tranh.   (Cảm ơn trí nhớ của Bác Nguyễn.... trước đây đã KỂ cho tôi nghe
tương tự như trong bài viết dưới đây...)
Bác sĩ Phùng Văn Hạnh

 
Cách mạng tháng tám
(trích Hồi ký “Tình yêu hiện sinh”)
 
Bác sĩ Phùng Văn Hạnh 
(vừa tạ thế tại Montréal, Canada cuối năm 2021)

 
 
Cách mạng tháng Tám có cần thiết hay không? Nếu không có đảng Cộng sản và Hồ chí Minh không sinh ra, thì liệu chính phủ Trần trọng Kim có đem lại nổi độc lập, thống nhất cho nước Việt nam hay không? Tôi nghĩ rằng được. Sau khi Nhật đầu hàng, chắc Pháp trở lại, song tôi nghĩ Bảo Đại và nhóm Trần trọng Kim có đủ sáng suốt để tạo một Việt nam độc lập trong khối Liên hiệp Pháp, hoặc kiểu Pháp-Việt đề huề như cụ Phan chu Trinh khởi xướng. Rồi từ từ với trình độ dân trí phát triển, thế giới tiến bộ, độc lập, tự do, thống nhất chắc chắn sẽ đến. Quả nhiên, khi chính phủ Pháp yêu cầu vua Bảo Đại về chấp chánh, đã phải ký với vua, bải bỏ các hiệp ước thời bảo hộ và thuộc địa, cả việc trả lại Nam Bộ, mà Pháp đã từ chối trong modus vivendi ký với Hồ chí Minh.
 
Năm 1953, ở Đà-lạt, tôi tình cờ nói chuyện với một cựu nhân viên trong phái đoàn Pháp. Ông nhắc lại chuyện gặp phái đoàn Phạm văn Đồng tại Đà-lạt năm 1946. Pháp nói là họ trở lại để hợp tác chứ không phải tạo lập lại chính sách thuộc địa. Pháp có khoa học kỷ thuật, Việt nam có tài nguyên và nhân công. Một phát triển chung trong khối Liên hiệp Pháp sẽ có lợi cho đôi bên. Song Đồng với đầu óc thiển cận và sô vin (chauvin) chỉ đòi độc lập, thống nhất hoàn toàn. Đồng lúc ấy trong đầu chỉ biết cách mạng vô sản, chứ đâu phải là một nhà chính trị mềm dẽo và có kiến thức cao. Cha của người bạn tôi, xưa kia có học chung với Đồng ở Hà-nội. Trong một cuộc chơi đá cầu, Đồng thua, trở nên cay cú và đá vào hạ bộ của ông. Ông kết luận một người không có “fair play”(ngay thẳng) như thế không thể là một nhà chính trị tốt. Mitterand, lúc sang Việt nam thăm Điện biên phủ, đã hối tiếc, nếu là ông, sẽ tránh được cuộc chiến tranh. Tạm ước Paris cũng xác định nước Việt nam mới, có chủ quyền đến tận Bình thuận. Pháp giữ Nam bộ trong 5 năm, sau đó sẽ có trưng cầu dân ý. Nếu dân Nam bộ thuận trở về trong lòng dân tộc sẽ có thống nhất. Hồ đã chọn giải pháp chiến tranh, nên khi ở Pháp về sau hội nghị Fontainebleau, đã xé tạm ước, đánh úp quân Pháp đêm 19-12-1946, vì Lénin đã dạy chỉ trong chiến tranh, rối loạn, đảng cộng sản mới diệt được phe quốc gia và vững mạnh lên. Sau 10 năm kháng chiến, năm 1954, Miền Bắc chỉ có chủ quyền đến sông Bến hải chứ không phải Bình thuận. Đúng là điên khùng, xem quốc tế CS là mục đích, còn quốc gia dân tôc là phương tiện.
 
Paul Bert, toàn quyền Pháp, là một trí thức nhân hậu và là một khoa học gia. Ông muốn thực hiện một chính sách khai hóa ở Việt nam. Chính ông đã có ý mở trường Đại học Hà- nội mà sau này Paul Doumer thực hiện. Ông nói với giới trí thức Việt nam là chế độ thực dân là một tất yếu lịch sử vì giá sử phương Đông tiến bộ hơn phương Tây thì Phương Đông sẽ chiếm cứ phương Tây để khai thác. Hung nô, Mông cổ đã chiếm đóng phương Tây trong quá khứ. Nếu nước Pháp trung thành với tinh thần nhân hậu cuả văn hóa Pháp, thì phải chia xẻ hiểu biết, kỹ thuật, cho Việt nam và đưa Việt nam đến phú cường. Có một bài báo Paris Match, tiếc rằng chế độ thực dân chấm dứt quá sớm. Khoa học gia Bỉ tìm ra một phương pháp làm cây chà là sản xuất dầu 10 lần hơn thường. Song không còn thuộc địa để ứng dụng. Nếu Tây phương còn giữ thuộc địa ở Phi châu, có thể là họ làm Phi châu phồn thịnh hơn hiện giờ, bởi vì các lãnh đạo mới của Phi châu mang tính cách độc tài cố hữu thời bộ lạc, lại tham nhũng. Dĩ nhiên với kinh tế thị trường, các công ty kỷ nghệ mẫu quốc sẽ mở công xưởng, ở xứ thuộc địa, đâu cần phải kêu gào đầu tư ngoại quốc như hiện nay.
 
Hồ huyênh hoang: “chúng ta quyết giành cho được độc lập, thống nhất dù cho phải sống 30 năm trong khói lửa”, khi đáp lời mời của Johnson mở hoà đàm. Đến nổi báo chí Tây phương phải ta thán: “Đệ nhất, đệ nhị thế giới chiến tranh cũng chỉ kéo dài 5, 6 năm, nhân loại đã vô cùng mệt mỏi. Thế mà già Hồ ung dung đưa dân tộc Việt Nam vào một cuộc chiến tranh trường kỳ 30 năm. Báo chí Mỹ đã chế giễu lời nói sắt máu ấy với câu chuyện hài hước: “Ông Mỹ cha sau khi chiến đấu 10 năm ở Việt nam về, kêu Mỹ con lên đường thế mình trong 10 năm nữa. Nhưng chưa hết. Phải một thế hệ Mỹ cháu lên đường, chiến tranh Việt nam mới chấm dứt”.
 
 
Hồ không ham hòa đàm, chỉ ham máu chảy. Máu thịt dân Việt Nam Hồ xem như là của riêng, đem ra phung phí thoả thích để đạt những mục tiêu của Quốc tế vô sản. Riêng Lê Duẩn, kẻ kế thừa cũng nướng 10 triệu thanh niên (theo tiết lộ của bà vợ) trong công cuộc “xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Theo nhà triết học Pháp Jean Francois Revel, Hồ đã lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. Mục tiêu của Hồ không phải là Việt Nam độc lập, mà sự hội nhập vào Quốc tế CS. Chủ đích của ông không phải là giành lại cho nhân dân quyền tự quyết, quyền bầu cử, quyền lựa chọn người lãnh đạo, quyền người dân chọn luật pháp và lối sống của mình. Ông chỉ nhắm cưỡng bức nhân dân chấp nhận chế độ toàn trị kiểu Stalin, với tất cả những đặc điểm của nó: giết người không cần luật pháp xét xử, trại tập trung, sự chà đạp nhân phẩm trong Goulag cải tạo, quần chúng chết đói và tham nhũng của lãnh đạo”.
 
“Hồ chí Minh là một trong những người cứng rắn nhất khi áp dụng phương pháp cai trị kiểu độc tài CS suốt thế kỷ 20. Nội dung phương thức ấy là khơi dậy những khát vọng tự nhiên của con người như là khát vọng tự do, phồn thịnh, tiến bộ, độc lập dân tộc để rồi hướng tất cả những ý nguyện ấy vào những mục tiêu trái ngược với những khát vọng nói trên: ông ta đã lợi dụng quần chúng”
 
Cách mạng tháng Tám thực không cần thiết. Kháng chiến chống Pháp có thể tránh được. Xem như các nước Phi luật Tân, Thái Lan, Mã Lai v.v được độc lập mà đâu phải đi qua biển máu như Việt Nam. Tứ cường sau đệ nhị thế chiến đã cam kết trong “Hiến chương Đại Tây dương” trả lại tự do độc lập cho các xứ thuộc địa. Anh, Pháp, Hòa Lan, đều giữ lời hứa. Năm 1949, Pháp đã trao chủ quyền độc lập, thống nhất cho Quốc gia Việt Nam, với sự toàn vẹn lãnh thổ từ ải Nam Quan, đên Mũi Cà Mâu cho Quốc trưởng Bảo Đại. Ngày 25-04-1956 người lính Pháp cuối cùng rời Nam Bộ (thời Ngô đình Diệm) chấm dứt chế độ thực dân Pháp sau 72 năm (1884-1956). Nếu không có họ Hồ phá đám, với chính phủ Trần trọng Kim, thì độc lập, thống nhứt nước ta sẽ hoàn thành vào khoảng 1948.
 
Chúng ta có thể bác bỏ dễ dàng luận điệu của Mao là chính quyền thoát thai từ một thùng thuốc súng. Bạo động là cốt lõi của nguỵ quyền CS. Sao phải áp dụng những lề lối côn đồ, cướp của giết người? Gandhi đã giành độc lập cho Ấn độ bằng bất bạo động. Mandela giành tự do cho người da đen Nam Phi cũng bằng bất bạo động. Cụ Phan chu Trinh cũng dùng bất bạo động để tranh đấu người Pháp trả tự do độc lập cho nước nhà. Hiện nay nhiều thức giả đã tìm thấy chân lý nầy và ca tụng sự sáng suốt đi trước thời đại của cụ. Cụ Phan khi ở Pháp đã khuyên Nguyễn tất Thành là đừng theo thuyết CS, vì thuyết ấy còn mơ hồ, và chưa được thực tế kiểm nghiệm. Thành cho là cụ Phan thủ cựu, lạc hậu. Cụ Phan đã gọi Thành là “tử mã lộc thạch” nghĩa là ngựa non háu đá. Nói chung Đảng CS Việt Nam phần lớn trình độ văn hóa lớp ba ngu dốt, bị mê hoặc bởi một lý thuyết ảo tưởng, sắt máu. Giết hại các đảng phái đối lập, tiêu diệt tôn giáo, cải cách ruộng đất, đày ải trí thức, chôn vùi nhân tài, chủ động hai cuộc chiến tranh vô ích chống Pháp, chống Mỹ, đẩy hàng triệu thanh niên ưu tú vào chỗ chết.
 
Tóm lại nước ta thật bất hạnh rơi vào tay CS để chịu 30 năm điêu linh, chiến tranh, tàn phá, máu chảy thành sông, đống xuơng vô định. Người dân gánh chịu muôn vàn khổ cực. Tội này của Hồ chí Minh và tập đoàn CS, muôn đời bị nguyền rủa, lịch sử lên án.
 
                 Bác sĩ Phùng Văn Hạnh

Vai trò của Gorbachev với Đổi Mới ở Việt Nam từ Đại hội VI năm 1986 (BBC)

Gorbachev

NGUỒN HÌNH ẢNH,AFP

Chụp lại hình ảnh,

Vào năm 1987, ông Gorbachev và Tổng thống Mỹ lúc đó là Reagan đã ký hiệp ước giải trừ vũ khí hạt nhân

Một số nhân vật trong ngành lý luận của Đảng Cộng sản VN có thói quen tự khen đảng của họ và lên án Mikhail Gorbachev "bán rẻ Liên Xô" cuối 1991.

Tuy thế, nhà lãnh đạo người Nga đã đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho chính phủ Việt Nam tiến hành "Đổi Mới" từ 1986, theo các nghiên cứu quốc tế.

Năm 2017, nhân kỷ niệm Cách mạng Tháng 10 Nga (1917-2017) ở Hà Nội, một giáo sư lý luận tại Việt Nam nói sai lầm của Liên Xô dẫn tới sụp đổ là "đưa một loạt những kẻ cơ hội, đặc biệt là Gorbachev lên vị trí cao nhất". 

Phát biểu củaGiáo sư Tạ Ngọc Tấn hôm 26/10/2017 được VTV1 đăng tải, cho thấy đây là quan điểm chính thống của Ban lãnh đạo Việt Nam về sau khi nhìn lại Liên Xô.

GS Tạ Ngọc Tấn: 'Gorbachev là kẻ cơ hội'

GS Tạ Ngọc Tấn còn gọi ông Gorbachev là "kẻ phản bội Đảng, bán rẻ chế độ Xô Viết vĩ đại".

Tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng thường nói công cuộc Đổi Mới đến từ sáng kiến nội bộ của họ là chính.

Tác động của chính sách perestroika của Liên Xô đối với Đổi mới của Việt Nam:

Nhưng một số sử liệu nước ngoài cho rằng chính sách perestroika (cải tổ), glasnot (cởi mở), cùng nhiều tỷ USD tiền viện trợ của Moscow đã khiến Hà Nội vững tin hơn để cải cách có hạn chế cách điều hành kinh tế kiểu cũ, thực chất là bỏ dần các sai lầm tự gây ra, mà sau được gọi là "Đổi Mới".

Tạ Ngọc Tấn

NGUỒN HÌNH ẢNH,VTV1

Chụp lại hình ảnh,

Giáo sư Tạ Ngọc Tấn phê phán "kẻ cơ hội Mikhail Gorbachev" trên đài truyền hình Việt Nam năm 2017

Sally Stoecker trong về quan hệ Việt Nam-Liên Xô (Clients and Commitment: Soviet-Vietnam Relations, 1978-88) đăng trên trang Rand Publication Series (12/1989) nêu ra một số đánh giá sau:

1-Quan hệ Việt-Xô gia tăng cả về kinh tế và quân sự sau cuộc chiến Biên giới Việt-Trung

Giai đoạn sau khi Trung Quốc đánh Việt Nam (1979) được đánh dấu bằng các khoản viện trợ kinh tế và quân sự tăng mạnh cho Hà Nội.

Đây là việc tiếp nối "truyền thống của Liên Xô từ thập niên 1960, nước cấp viện hàng đầu cho (Bắc) Việt Nam", với các khoản tăng từ nửa tỷ lên 1 tỷ USD trong thập niên trước Đổi Mới tháng 12/1986", bà Sally Stoecker viết.

Sau khi Gorbachev lên nắm quyền (1985), Liên Xô phải hạn chế chi tiêu trong nước (cắt chi tiêu công) và chấn chỉnh lãng phí kinh tế, nhưng vẫn tăng viện trợ cho VN, theo nghiên cứu này.

CHXHCN Việt Nam được Moscow ưu tiên và là một trong ba nước, cùng với Cuba và Mông Cổ, nhận nhiều viện trợ quốc tế nhất của Liên Xô.

Con số thống kê cho thấy thời Gorbachev, ba nước này nhận tới 90% tiền Liên Xô cấp cho các nước thế giới thứ ba.

Moscow cũng hết lòng ủng hộ Hà Nội chống lại Trung Quốc.

2-Viện trợ kinh tế có điều kiện: Liên Xô bắt VN đổi mới vì chi tiêu tiền Liên Xô sai?

Sự hỗ trợ cho Mikhail Gorbachev cho cải tổ kinh tế ở Việt Nam là rất rõ ràng.

Tuy thế, việc chỉ cấp tiền cho đồng minh Việt Nam xem ra không làm Liên Xô hài lòng vì chính sách của Việt Nam quá tệ.

Từ 1980, trước khi Gorbachev lên cầm quyền, phía Liên Xô đã "tạm treo" việc giải ngân viện trợ (năm 1981) vì chính quyền CHXHCN Việt Nam "quản lý sai trái" (mismanagement).

Chính sách trợ giá cho sản xuất yếu kém, kinh tế mới, cải tạo công thương ở Nam VN được nhắc đến như các ví dụ tệ hại.

Một số nguồn châu Á cho rằng năm 1982, tiền Moscow chi cho Hà Nội, căn cứ vào khoản cam kết chi cho kế hoạch 5 năm một, giảm xuống 730 triệu USD.

Nhưng các nguồn Phương Tây khẳng định tiền không giảm, thậm chí còn tăng lên trên 1 tỷ USD năm 1982, theo nghiên cứu của Sally Stoecker.

Tính ra 1 tỷ USD thời đó - mà Liên Xô viện trợ cho VN bằng ruble, tương đương 2,88 tỷ bây giờ.

Bất đồng về việc chi tiêu tiền của Liên Xô làm sao cho hiệu quả (effective utilisation of Soviet aid) là lý do khiến Gorbachev nhấn mạnh đến nhu cầu buộc lãnh đạo Việt Nam phải đổi cách làm kinh tế.

"Tự phê và cởi mở chính là các nỗ lực cần thiết để làm bộc lộ ra các yếu kém và tìm ra các biện pháp chỉnh sửa."

Tại Đại hội VI của ĐCSVN (cuối 1986) đại diện của Ban chấp hành trung ương ĐCS Liên Xô dự họp báo về Moscow là kế hoạch 5 năm tiếp theo (1986-1990) Liên Xô sẽ còn tăng gấp đôi viện trợ cho Việt Nam so với giai đoạn 5 năm trước.

Đó là các khoản bên ngoài viện trợ quân sự và chi tiêu cho sự hiện diện thường trực của hải quân Liên Xô ở Cam Ranh, và chừng 2500 chuyên gia quân sự tại VN.

3-Các nhân vật mới từ Đại hội VI được Liên Xô ủng hộ

Tại Đại hội VI, các nhân vật như Võ Văn Việt, Nguyễn Văn Linh đã thừa nhận những sai lầm trong quá khứ và được Liên Xô ủng hộ.

Getty Images

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh,

Ông Nguyễn Văn Linh được Liên Xô ủng hộ kể từ Đại hội VI của ĐCS VN

Ban lãnh đạo HN nhận rằng chính sách bao cấp thực phẩm (chủ yếu là gạo) của họ đã "ăn vào một phần lớn viện trợ Liên Xô", và ông Võ Văn Kiệt đã nêu ra kế hoạch thay đổi.

Ông Kiệt, người từng phụ trách mảng kế hoạch của chính phủ, cũng nhắc lại ví dụ cải tổ thành công của Trung Quốc.

Từ sau ĐH VI, TBT Nguyễn Văn Linh đã có các trao đổi cao nhất với TBT Gorbachev về đường hướng thay đổi ở VN, và Liên Xô công bố các điều này trên trang Pravda ngày 20/5/1987.

Ông Gorbachev cho biết:

"Tôi và đồng chí Nguyễn Văn Linh đã thảo luận chi tiết về các vấn đề phức tạp của hợp tác Việt-Xô...và cùng nhau nhận định rằng các mặt yếu kém của quan hệ này đã hiện ra rõ ràng và không còn phù hợp với tình hình hiện tại. Chúng tôi đồng ý rằng cơ chế kinh tế và hình thức hợp tác phải tương ứng với nhu cầu và của thời cuộc và tăng tính hiệu quả."

Việt Nam trong quan hệ chính trị, ngoại giao khu vực và quốc tế

Về ngoại giao, cũng chính Gorbachev, trong tư duy mới về châu Á (new Asian thinking) đã khuyến khích Hà Nội thân thiện hơn với Asean.

Không phải nước Nga sau này mới quay sang châu Á-Thái Bình Dương. Giống như Vladimir Putin hiện nay xem ra phải dựa vào Trung Quốc, Liên Xô từng có chính sách hướng về châu Á, với VN đóng một vai trò quan trọng.

Sally Stoecker viết:

"Trong cái nhìn của Gorbachev, thời Brezhnev quá cứng nhắc và bị chiếm trọn bởi quan hệ (đối đầu Đông Tây) với Hoa Kỳ, còn Gorbachev nhìn thấy rằng châu Á mới là nơi có sự năng động có tiềm năng lớn nhất (greatest potential dynamism), và quan hệ liên thuộc giữa các quốc gia là thứ [ngoại giao Liên Xô] cần khai thác."

Gorbachev cũng tiên tri rằng ngoại giao của tương lai là giữa các quốc gia liên thuộc (interdepdendent states), chứ không phải là quan hệ ý thức hệ.

Cần chú ý đến các thời điểm quan trọng:

  • Chính sách châu Á mới được thông qua tại Đại hội 27 ĐCSLX vào tháng 3/1986.
  • Cuối năm đó, Việt Nam mới có Đại hội VI, tung ra chính sách đổi mới, gồm cả cách nhìn thân thiện hơn với các quốc gia từng là thù địch ở Asean.

Việc Hà Nội phải rút quân khỏi Campuchia cũng nằm trong chính sách lớn về châu Á của Liên Xô thời Gorbachev.

Logic của ông là với việc rút quân đội VN khỏi Campuchia và giảm căng thẳng với Trung Quốc, Liên Xô sẽ giảm được viện trợ cho Việt Nam, tạo điều kiện khả quan hơn cho việc cải thiện quan hệ với Asean và từ đó "các cơ hội thương mại sẽ mở ra" (commercial opportunities will unfold).

Trong bức tranh toàn cầu, việc rút quân đội VN khỏi Campuchia sẽ chứng minh cho Phương Tây thấy rằng Liên Xô thật lòng muốn giảm căng thẳng Đông-Tây.

Tháng 7/1987, hai ngoại trưởng VN (Nguyễn Cơ Thạch) và Indonesia (Mochtar Kusumaatmadja) ra thông cáo chung, đánh dấu chuyển biến về vấn đề Campuchia.

Tuy thế, bà Sally Stoecker cho rằng cũng khó có thể nói Hà Nội cuối cùng phải rút quân khỏi Campuchia là vì Liên Xô gây sức ép, hay vì họ không còn chịu nổi gánh nặng quân sự đó mà phải tập trung vào nền kinh tế trong nước.

Cuối cùng, Đổi mới ở VN cũng không đi xa đủ như perestroika ở Liên Xô mà bị "đóng khung" hơn, theo Sally Stoecker.

Đảng CSVN có mở ra về kinh tế nhưng vẫn nắm chặt truyền thông, và bác bỏ mọi phê phán nhằm vào chủ nghĩa Marx-Lenin. Vào thời điểm đó, Đảng này cũng tin rằng phải hạn chế quan hệ với Phương Tây.

Bài phân tích của Sally Stoecker dừng lại ở thời điểm cuối 1989 nên chưa ghi nhận các thay đổi sau này tại VN.

Ngày nay, Đảng CS VN đã thành công trong Đổi mới nền kinh tế và mở rộng nhiều phạm vi sinh hoạt văn hóa, xã hội.

Về đối ngoại, không chỉ gia nhập Asean và bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ và EU, Việt Nam còn đóng vai trò ngày càng quan trọng trong các định chế an ninh khu vực, tuy vẫn duy trì chính sách Ba không, bác bỏ liên minh quân sự.

Việt Nam thời 'hậu cộng sản'

Theo Archie Brown trong cuốn "The Rise and Fall of Communism" (2009), cùng tiến trình Đổi mới, Việt Nam đã chuyển hóa từ một xã hội cộng sản sang "hậu cộng sản" (post-communist country), giống Trung Quốc.

Điều này đặt ra câu hỏi là Đảng CSVN như thế có còn là "cộng sản", và đang đi theo chủ thuyết gì?

Một số quan chức cấp trung như GS Tạ Ngọc Tấn tiếp tục phỉ báng Gorbachev, như đổ lỗi cho ông về tầm nhìn xa liên quan đến các vấn đề châu Á và toàn cầu của Liên Xô thời gian đó.

Nhưng các lãnh đạo cao cấp hơn ở Việt Nam hiểu được "câu hỏi Gorbachev" về cải tổ chính trị là thứ họ không thể chạy trốn, mà chỉ có thể trì hoãn.

Ví dụ, một bài gần đây trên tạp chí Mặt trận Tổ quốc cho rằng Việt Nam cần đổi mới chính trị, nhưng phải làm sau đổi mới kinh tế.

Về "bài học Liên Xô sụp đổ", lãnh đạo VN cho rằng:

"Mikhail Gorbachev đã tuyệt đổi hóa cải tổ chính trị, không chú ý đúng mức tới cải tổ kinh tế, không lấy cải tổ kinh tế làm căn cứ, cơ sở cho cải tổ chính trị, trong cải tổ chính trị thì giải quyết không đúng quan hệ giữa giai cấp và nhân loại, tuyệt đối hóa cái nhân loại, đánh giá không đúng cái giai cấp trong quan hệ với cái nhân loại."

Bài viết hôm 31/08/2021 hứa rằng "Đảng từng bước hoàn thiện nhận thức về đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị."

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cũng nói rằng Việt Nam đang dịch chuyển từ mô hình "chuyên chính vô sản" sang Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mà dự kiến sẽ "hoàn tất" vào năm 2045.

Xem thêm:



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Xem tướng phụ nữ [21.01.2022 22:46]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Trọn đời trung thành với Nga, Tàu, Bộ trưởng Công an CS Việt Nam hội kiến thư ký Hội đồng An ninh Nga thảo luận về Ukraine
Liên hợp quốc thông qua nghị quyết yêu cầu Nga bồi thường thiệt hại cho Ukraine
Không phải TBT Nguyễn Phú Trọng là người toàn quyền cai trị đất nước mà chính là trong tay Thái Thú Tô Lâm, đại tướng CA gốc Hoa đượcTãp tín cẩn
Nhớ! Hôm Nay Đổi Giờ! Nhưng lần đổi giờ này, có thể là lần cuối! Thời Sự Thế Giới & Việt Nam
Nga - Ukraine tử chiến, bước vào trận chiến giằng co quyết liệt khi mùa đông đang đến gần
Tổng động viên đưa thanh niên vào chỗ chết Nga đưa lính chưa qua đào tạo tới chiến trường
Người VN cẩn trọng trước nạn kỳ thị Á Châu có hệ thống - Vì sao nhân chứng thờ ơ khi thấy người gốc Á bị đánh đập giữa phố?
Thừa thắng xông lên quân Ukraine tấn công vào lãnh thổ Nga
Chê chồng yếu sinh lý cặp bồ thanh niên da đen trẻ tuồi khỏe mạnh cả vợ lẫn chồng Việt gốc Hoa bị bắn chết thảm
Ukraine đánh đuổi Nga chạy té khói không kịp mặc quần áo thoát chết, Giới lãnh đạo CSVN buồn man mác
Cái khôn và nỗi quốc nhục của TQ chỉ giõi bắt nạt CSBK!
Ukraine tổng phản công diệt Nga cứu nước, nổ tung vang rền trong nội địa Ng. Đồng bào VN hãy ủng hộ chính nghĩa
CSVN ra lệnh tay sai hải ngoại thành lập Hội Con Cháu Bác Hồ toàn thế giới Tình hình kinh tế tại Nga sau 6 tháng chiến tranh
CHXHCNVN: Quốc gia nỗi tiếng buôn nô lệ VN trên thế giới do các lãnh đạo BK chủ mưu
Vẻ vang dân tộc Việt! Thân phận công dân CHXHCNVN thời đại HCM: Người nô lệ VN tại Campuchia chạy trí mạng bơi qua sông về nước nhiều người tử vong, bị bảo vệ đánh như chó

     Đọc nhiều nhất 
Nhớ! Hôm Nay Đổi Giờ! Nhưng lần đổi giờ này, có thể là lần cuối! Thời Sự Thế Giới & Việt Nam [Đã đọc: 367 lần]
Nga - Ukraine tử chiến, bước vào trận chiến giằng co quyết liệt khi mùa đông đang đến gần [Đã đọc: 278 lần]
Không phải TBT Nguyễn Phú Trọng là người toàn quyền cai trị đất nước mà chính là trong tay Thái Thú Tô Lâm, đại tướng CA gốc Hoa đượcTãp tín cẩn [Đã đọc: 159 lần]
Trọn đời trung thành với Nga, Tàu, Bộ trưởng Công an CS Việt Nam hội kiến thư ký Hội đồng An ninh Nga thảo luận về Ukraine [Đã đọc: 106 lần]
Liên hợp quốc thông qua nghị quyết yêu cầu Nga bồi thường thiệt hại cho Ukraine [Đã đọc: 100 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.