Hôm nay ngồi đọc bài viết “Cuộc Hội Ngộ Của Hai Thương Phế Binh” của Huỳnh Tú Anh trong Dân Làm Báo rồi xem luôn cái Video, của một độc giả post trong mục bình luận, về việc thượng nghị sĩ tiểu bang California Janet Nguyễn trả lời những câu phỏng vấn liên quan đến dự luật SJR-5 của bà đệ trình vừa được quốc hội tiểu bang California thông qua và đang chuyển lên quốc hội liên bang Hoa Kỳ nhắm mục đích xin chính phủ Mỹ tái thực hiện chương trình HO và ODP nhằm giúp đỡ tất cả thương phế binh VNCH được định cư tại Hoa Kỳ mà nước mắt khô cằn của tôi cứ như chực dâng trào. Một lát sau tôi mới bắt đầu hiểu thế nào là tình huynh đệ chi binh hoặc câu nói muối xát lòng ai nấy mặn mòi nên tôi ngồi vào bàn viết trình bày vài ý kiến của mình để góp một bàn tay may ra có thể đưa các chiến hữu kém may mắn của mình vào đất Mỹ.
Trước hết chúng ta nên cám ơn và biểu dương tinh thần bà Janet Nguyễn, thượng nghị sĩ tiểu bang California, một người Mỹ gốc Việt thuộc thế hệ thứ hai của Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản thành công trên chính trường nước Hoa Kỳ, đã có lòng nghĩ đến những chú bác kém may mắn trong Quân Lực VNCH đã hy sinh một phần cơ thể mình để bảo vệ tự do và MNVN đang bị bọn cộng sản hất hủi, đối xử thâm tệ và đói khát tại quê nhà nên đã đem hết tâm trí mình làm ra dự luật SJR-5 giúp các chú bác thương phế binh VNCH có cơ hội được định cư tại Hoa kỳ để thay đổi cuộc đời và nhất là thay đổi luôn cả cuộc sống của con cháu họ nếu có.
Dự luật SJR-5 vừa được quốc hội tiểu bang California thông qua đang trên đường đi đến quốc hội liên bang Hoa Kỳ. Để cho các vị dân biểu liên bang đồng thuận biến dự luật này thành được một đạo luật cộng đồng Người Việt Hải Ngoại cần phải bàn thảo góp ý và xăn tay áo bổ túc thêm những gì thiếu sót hủy những gì dư thừa để cho dự luật khi đến tay các dân biểu liên bang, họ cảm thấy nên thực hiện để xếp lại trang cuối của lịch sử đau buồn hợp với đạo đức con người mà không tốn kém và mang xáo trộn cho xã hội Hoa Kỳ.
Dự luật SJR-5 mới nhìn thì đã nhận ra được sẽ có nhiều vị dân biểu của cả hai viện của liên bang Hoa Kỳ ủng hộ vì ngưởi Mỹ đã hiểu rằng việc chính quyền Hoa Kỳ bán đứng Miền Nam Việt Nam cho cộng sản là một việc thất lương tâm, là tội ác đáng phỉ nhổ và bỏ rơi những người đã cùng chiến đấu chống làn sóng cộng sản bên cạnh mình đã hy sinh một phần cơ thể để bảo vệ mình thì không đúng với tinh thần thượng võ của người Hoa Kỳ nếu chống đối dự luật SJR-5 và cứ để mặc cho kể thù tiếp tục hành hạ chiến hữu của mình thì sẽ có tội cùng lương tâm và nhất là sẽ bị mất phiếu bầu của cộng đồng người Mỹ gốc Việt và kể cả phiếu bầu của các cựu chiến binh và cả những chiến binh Hoa Kỳ về tội bỏ rơi đồng đội.
Nhưng dự luật SJR-5 nếu được phân tích và nhìn sâu thêm thì sẽ thấy dự luật này có chiều hướng sẽ bị quốc hội liên bang Hoa Kỳ cho “ngâm tôm” cho đến lúc các “chú bác” thương phế binh VNCH qua đời để đi vào quên lãng bởi vì thiếu thực tế và khó thực hiện mà còn tạo nên những phiền toái khác cho xã hội Hoa Kỳ nếu cộng đồng Người việt Hải Ngoại không nhúng tay vào yểm trợ.
Lấy thí dụ dự luật được quốc hội liên bang thông qua thành một đạo luật thì đạo luật đó sẽ chuyển xuống cho các tổ chức di trú lo việc thủ tục giấy tờ và chuyên chở các thương phế binh VNCH và gia đình họ sang Hoa Kỳ, các tổ chức xã hội lo cung cấp cho các thương phế binh VNCH một số tiền vài trăm đô hàng tháng đủ sống và giấy tờ được tham gia các dịch vụ y tế miễn phí trong nước nhưng lấy ai để có thể lo cho các thương phế binh một chỗ ở trong xã hội Hoa Kỳ nơi mà người dân thường muốn thuê 1 căn phòng trong một apartment loại đẹt cũng phải trưng cái tấm ngân phiếu vừa lãnh lương không dưới 10 đô một giờ trong tháng để chứng minh là mình đang có công ăn việc làm mới được chủ apartment cho vào và lấy săn sóc các thương phế binh khi họ đau ốm.
Nước Hoa Kỳ đã và đang mang quân tham chiến nhiều nơi, số lượng thương phế binh của Hoa Kỳ có lẽ là con số cao nhất thế giới, nay dự luật SJR-5 lại mang thêm vào đất nước họ con số khoảng 20.000 thương phế binh VNCH thì các nhà chính trị trong hai viện buộc lòng phải làm lơ nhất là 20.000 con người đó và gia đình họ có cơ thành người vô gia cư (homeless) lang bang trên đường phố với bất đồng ngôn ngữ.
Thế thì 2 triệu Người Việt Hải Ngoại phải làm thế nào để “lobby” cho các vị dân biểu liên bang thấy được dự luật không gây tốn kém cho ngân sách và khó khăn cho xã hội mà lại giúp cho nước Hoa Kỳ được cả thế giới cảm phục vì hành động đạo đức của những con người ngồi trong hai viện của quốc hội.
- Cho định cư tại Hoa Kỳ những Thương Phế binh có gia đình và có con cái có khả năng lao động để có thể kiếm việc làm hay để săn sóc thương phế binh khi đau ốm.
- Cho định cư tại Hoa Kỳ những Thương Phế Binh độc thân có mức độ tàn phế ít nếu họ muốn và cho định cư tại chỗ thương phế binh độc thân có mức độ tàn phế nặng với một số tiền lớn để họ đủ sống.
- Lập danh sách để biết tổng số lượng thương phế binh VNCH muốn hoặc không muốn định cư tại Hoa Kỳ.
- Phân loại mức độ thương tật từng thương phế binh và phân loại những gia đình thương phế binh có bao nhiêu con cháu trai gái đủ khả năng lao động.
- Gởi mẫu đơn bảo trợ đến các hội đoàn quân đội, CSQG, hội đồng hương, chùa, nhà thờ Việt Nam trên toàn nước Hoa Kỳ để nhờ các hội đoàn kêu gọi các đoàn viên giàu có, thành công, có cơ sở làm ăn cần người làm ký giấy bảo trợ những thương phế binh cùng đơn vị, cùng quê quán hoặc là đã quen biết từ trước.
- Hỗ trợ tài chánh trong việc lập thủ tục cho các thương phế binh được định cư tại Hoa Kỳ.
Những việc cấp bách trên cần làm nhanh trước khi các hội đoàn gặp mặt mừng xuân năm nay và trước khi dự luật SJR-5 được đưa vào quốc hội liên bang nước Hoa Kỳ thảo luận. Làm thế nào đó để cho dự luật SJR-5 hiện ra trong con mắt của các nhà lập pháp Hoa Kỳ như một dự luật đoàn tụ, trong các gia đình đoàn tụ có một người thương tật là thương phế binh VNCH. Sự đoàn tụ này được bảo trợ bởi những mgười Mỹ gốc Việt thành công trên nước Hoa Kỳ mà không làm hao tổn ngân sách quốc gia của Hoa Kỳ hiện nay không làm cho xã hội Hoa Kỳ xáo trộn mà còn làm cho Hoa Kỳ trở thành một quốc gia có đạo đức. Có như thế dự luật SJR-5 mới có hy vọng được hai viện quốc hội Hoa Kỳ biểu quyết thành một đạo luật.
Hỡi các anh em quân cán chính VNCH đã hội nhập và thành công ở xứ Hoa Kỳ, các thương phế binh cùng đơn vị và cùng chỗ làm với các anh em đang mong đợi các anh em ký giấy bảo trợ. Hỡi những người Mỹ gốc Việt giàu có, các anh chị em làm chủ tiệm nail, tiệm tóc ở Hoa Kỳ hãy ký giấy bảo trợ 1 gia đình thương phế binh, con cái họ đang mong sự trợ giúp của quí vị để có thể đổi đời và họ sẽ làm việc cho quí vị rất chăm chỉ . Các chùa và nhà thờ Việt Nam cũng nên bảo trợ một vài thương phế binh, họ sẽ làm vệ sinh hay canh giữ các cơ sở khi các người vắng mặt. Danh sách bảo trợ đính kèm cùng dự luật SJR-5 thì dự luật có cơ được thông qua thành 1 đạo luật. Thương phế binh VNCH rất xứng đáng được Người Việt Hải Ngoại giúp đỡ bằng việc bảo trợ. Thương phế binh VNCH cũng cần biết xã hội Hoa Kỳ cũng không phải là nơi dễ sống, rất cô đơn và lắm phủ phàng nếu may ra chính phủ Hoa Kỳ cho một số tiền để định cư tại Việt Nam thì cũng nên mừng rỡ vì có người cùng ngôn ngữ để cùng nâng ly rượu.
Họ là những người nghèo, nghèo đến độ không thể nào nghèo hơn, sống trong những căn nhà ọp ẹp, nhà không ra nhà, chòi không ra chòi… Họ tồn tại qua ngày đoạn tháng bằng đôi chân mệt mỏi và tiếng rao thở hắt giữa đời.

Kể từ sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, cuộc đời ông Khổng – ngưởi đạp xe thồ ở Thăng Bình, Quảng Nam – chuyển sang một số phận mới, mất trắng, mọi thứ bị tịch thu sung vào cộng quĩ nhà nước, đất đai cũng bị biến thành đất tập thể, nhà ông dắt díu ra đường sống dựa vào bữa rau bữa cháo kiếm được nhờ làm thuê, ai kêu gì làm nấy, không quản nắng mưa.
Dần dà, vợ chồng ông dành dụm mua được chiếc xe đạp, ông chuyển sang nghề đạp xe thồ. Thời bao cấp, nghề xe thồ ăn nên làm ra bởi chưa có xe ôm, xe bus cũng hiếm nên mỗi ngày ngoài chuyện mua gạo, mua thức ăn, nhà ông còn để dành được một ít phòng khi đau ốm, kiếm được miếng đất, xây được nhà… Thế rồi vợ ông bệnh nặng, bán mọi thứ trong nhà và cuối cùng bán cả căn nhà, vẫn không cứu được vợ.
Ông Khổng mỗi ngày càng già đi và ốm yếu rồi đổ bệnh, chiếc xe thồ trở thành kỷ vật cho mấy người con cũng chẳng sung sướng gì của ông.
Ông Nguyễn Công Mỹ, ngụ tại tổ 6, thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam cũng có cuộc đời không không may mắn gì hơn ông Khổng.
Nhưng với thâm niên 36 năm ôm tay lái xe thồ, nuôi hai đứa con ăn học, đứa đầu thuộc diện “không được thi vào đại học,” đứa thứ nhì nản quá, tham gia bộ đội Campuchia, bị thương, cụt mất một chân, đứa út là niềm hy vọng lớn nhất của ông, vừa học giỏi, thông minh lại vừa hiếu thảo, biết thương người…
Nhưng, lên 10 tuổi, đứa con trai út của ông bị chó cắn, phải đi chích thuốc phòng dại, chích xong mũi kim thứ 7 thì nó hoàn toàn mất trí nhớ, đi đứng cứ lơ ngơ như người mất hồn. Niềm hy vọng của ông cũng tắt ngấm từ dạo ấy.
“Sau năm 1975, từ một người lính, tôi trở thành kẻ trốn tránh, sợ sệt, sau khi được về, phục hồi sức khỏe, tôi dành dụm vốn liếng mua chiếc xe đạp thồ”
Cuộc đời, số phận vẫn chưa hết nghiệt ngã với ông khi vợ ông bị chứng gai cột sống, vậy là mình ông lủi thủi đạp xe đi, về mà kiếm tiền mua gạo, mua dầu, mua mắm…
Lúc chúng tôi trò chuyện với ông, đã hơn 12 giờ trưa nhưng ông chưa ăn uống gì, mới vừa bốc xong ba chục tấn xi măng cho người ta, kiếm được sáu chục ngàn đồng.
Ông hồ hởi vừa quệt mồ hôi nặng nhọc vừa vui mừng nói: “Bữa nay trúng mánh, chứ đâu dễ dầu gì kiếm được sáu chục ngàn đồng trong vòng buổi sáng chứ, nghề xe thồ mà, bữa nay có tiền thì người ta đi taxi, ít tiền thì đi xe ôm, chỉ có nghèo lắm mới đi xe thồ, nghèo chở nghèo, mình đâu có lấy mắc được, ngày nào chở kinh khủng lắm thì kiếm được bốn chục ngàn đồng là cùng chú ơi!”
Cùng chạy xe thồ với ông Mỹ, có 14 người khác, đất chật người đông, có khi ngồi chơi cả ngày rồi lại về không, những người kia có điều kiện khá hơn ông Lại và ông Mỹ nên đôi khi ngồi đánh cờ, nhường khách cho hai ông này chạy kiếm cháo qua ngày.
Ông Phan Lại, năm nay 60 tuổi, có số phận may mắn hơn ông Mỹ một chút, con trai đầu của ông đang là giảng viên đại học, nhưng do phải nuôi bầy em ăn học nên không giúp được cha mẹ, ông vẫn đạp xe thồ mỗi ngày để nuôi vợ, bà nhà bị bệnh tai biến não.
Ông Lại kể: “Sau năm 1975, từ một người lính, chúng tôi trở thành kẻ trốn tránh, sợ sệt mọi thứ, sau một thời gian cải tạo, tôi được thả về, phục hồi sức khỏe, tôi dành dụm vốn liếng mua chiếc xe đạp thồ, khi nghe tin người đi cải tạo trên ba năm là được đi Mỹ, lúc đó tôi sợ quá, sợ y như hồi vào trại, họ hứa… Bây giờ họ cho đi Mỹ, biết khi nào về quê… Vậy là đốt sạch giấy tờ, người ta đốt giấy tờ nhiều lắm anh à!”.
“Nhưng cũng may là tôi đẻ con muộn, khi nó thi đại học thì không bị xét lý lịch nữa, nó thi đậu, học giỏi và bây giờ đang là giảng viên đại học. Nó nuôi đứa em ruột nó học cao đẳng kinh tế ở Ðà Nẵng và nhận nuôi thêm hai đứa bé mồ côi khác ăn học. Tuy nó không giúp gì được cho tôi và bà nhà nhưng thấy nó làm vậy, tôi rất vui, rất hãnh diện về nó!”
Một “cựu chiến binh xe đạp thồ” khác là ông Nguyễn Văn Long, nhưng hiện giờ sức khỏe ông xuống dốc, vợ ông chết, hai đứa con đang tuổi ăn học, ông đi bán vé số mà nuôi con.
Ông tâm sự: ”Tôi là một thương binh VNCH, giờ tôi khó khăn quá, tôi vẫn nuôi hy vọng những đồng đội cũ của tôi ở nước ngoài nhìn thấy tôi trên Internet, họ sẽ liên lạc và chia sẻ với tôi. Tôi có quyền hy vọng vì các con và vong linh vợ tôi mà cậu!”
Những người xe thồ khác nói rằng ông Nguyễn Văn Long hoàn cảnh rất tội nghiệp, trước đây là một người lính VNCH, sau 1975 đi cải tạo, rồi về đạp xe thồ.
Nhìn những người phu xe với chiếc xe đạp cọc cạch, không có cả phanh, trơ hai bánh với sườn cùng miếng ván dài làm yên sau, tự dưng tôi liên tưởng đến số phận của họ, cũng giống như chiếc xe họ đang đạp kiếm cơm, trơ trọi, mất đà và chẳng biết bao giờ nằm hỏng hóc, cô đơn!
Hồng Hạc (Lao Động Việt gửi đăng)
Người Việt:
Phim ‘Terror in Little Saigon’: Con trai Ðạm Phong lên tiếng
LTS – Phim tài liệu “Terror in Little Saigon” do phóng viên điều tra A.C. Thompson thực hiện, trình chiếu trên chương trình Frontline của hệ thống truyền hình PBS, và phổ biến trên trang mạng ProPublica, tối ngày Thứ Ba, 3 Tháng Mười Một, gây xôn xao tranh cãi trong dư luận.
Người cho rằng thông tin trong phim không có gì mới. Người cho rằng các nguồn tin giấu tên thì không đáng tin cậy. Có người đặt câu hỏi tại sao cuốn phim lại ra đời vào lúc này, khi chuyện đã xảy ra hơn 30 năm. Ðặc biệt hơn, ông Nguyễn Xuân Nghĩa, từng là thành viên cao cấp của Mặt Trận, người được phỏng vấn và xuất hiện trong phim, nói rằng “lời dẫn giải của phim bị bẻ quặt, cố tình tạo hiểu lầm.”
Ðể rộng đường dư luận, hôm 7 Tháng Mười Một, nhật báo Người Việt đăng tải ba bài phỏng vấn người trong cuộc, gồm phóng viên A.C. Thompson, người thực hiện phim, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, cựu vụ trưởng Vụ Tuyên Vận của Mặt Trận, và ông Hoàng Cơ Định, cựu vụ trưởng Tài Chánh của Mặt Trận.
Hai ngày sau khi những bài phỏng vấn nói trên được phổ biến, ông Nguyễn Thanh Tú, con trai nhà báo Nguyễn Ðạm Phong, chủ nhiệm tờ Tự Do, bị ám sát năm 1982, tại Houston, Texas, viết thư cho tòa soạn báo Người Việt.
Thư viết:
“Tên tôi là Nguyễn Thanh Tú. Tôi là một nhân vật trong phim Terror in Little Saigon. Mặt Trận cứ việc tha hồ phủ nhận rằng không hề biết có đơn vị K9. Tôi có thể nói với quý vị rằng gia đình tôi ngày nào cũng liên tiếp phải nhận những lời hăm dọa từ Mặt Trận…
…Cha tôi, Nguyễn Ðạm Phong, đã dành số báo Tự Do cuối cùng của ông để phơi bày sự gian lận của các lãnh đạo Mặt Trận. Ðiều trớ trêu là, nhiều người quay lưng với cảnh sát của thành phố Houston, và cơ quan FBI khi cha tôi bị ám sát vào năm 1982, rất có thể giờ đây đồng ý là quan điểm của bố tôi đúng. Vấn đề là, ông đã đúng, nhưng ông đi trước mọi người những 33 năm. Tôi là nhân chứng cho “sự thực” còn sống, chứ không phải những lời đồn đãi. Tôi từng tham dự những buổi gặp gỡ thành viên Mặt Trận với bố tôi và chứng kiến những chiến thuật họ sử dụng, từ mua chuộc đến hăm dọa.”
(Hết thư)
 |
| Ông Nguyễn Thanh Tú, con trai nhà báo Nguyễn Ðạm Phong, trong một lần tiếp xúc với phóng viên A.C. Thompson, ProPublica. (Hình: Edmund D. Fountain/ProPublica) |
Ông Nguyễn Thanh Tú, năm nay khoảng 50 tuổi, kể lại diễn tiến dẫn đến sự việc thân phụ mình bị ám sát, những kỷ niệm với bố, và tâm tư của mình, trong cuộc phỏng vấn dưới đây, do ký giả Hà Giang thực hiện.
Hà Giang (NV): Cảm ơn ông đã tin tưởng nhật báo Người Việt để chia sẻ tâm tư của mình. Trước hết, là một ký giả, chúng tôi muốn bày tỏ niềm đau xót trước sự việc các nhà báo thuộc thế hệ trước mình bị ám sát.
Nguyễn Thanh Tú: Tôi thấy có nhiều người bàn luận về vấn đề nhưng không nắm rõ sự kiện, như cụ cựu đại tá gì đó, nói trên đài truyền hình ở bên Cali. Cụ nói là Mặt Trận ra đời năm 1982, thì làm gì mà dính líu đến chuyện giết người từ năm 1981. Ở trong phim, ông Ðỗ Thông Minh, một trong những người sáng lập Mặt Trận, nói là nhóm này [Mặt Trận – NV] thành lập năm 1980, họ không thông báo gì cho đến năm 1982. Họ giết bố tôi Tháng Tám ngày 24 Tây, năm 1982. Cái ngày họ lập giấy tờ không quan trọng. Sự kiện lịch sử nó quan trọng hơn.
NV: Vâng, xin ông cho biết ông là người con thứ mấy trong gia đình, và gia đình ông qua Mỹ định cư năm nào?
Nguyễn Thanh Tú: Tôi là Nguyễn Thanh Tú, tôi là con thứ sáu trong gia đình mười người con của bố tôi, nhà báo Nguyễn Ðạm Phong. Gia đình tôi qua Mỹ năm 1975.
NV: Ông có thể nói sơ về sự nghiệp làm báo của thân phụ ông trước khi gia đình ông qua Mỹ định cư?
Nguyễn Thanh Tú: Bố tôi ngày xưa là một ký giả có tiếng tăm ở Sài Gòn. Ông viết với bút hiệu Ðạm Phong. Lúc đó ông làm cho tờ báo Trắng Ðen của Việt Ðịnh Phương, báo Tiền Phong, Chính Luận, Văn Nghệ Tiền Phong. Ông vào nghề viết báo đã rất lâu rồi, không phải là một “novice” [tay mơ – NV].
NV: Xem cuốn phim Terror in Little Saigon thì thấy ông có vẻ gần gũi với thân phụ. Trong thời gian bố ông bị ám sát, ông bao nhiêu tuổi? Ông còn nhớ những kỷ niệm làm báo với bố không?
Nguyễn Thanh Tú: 19 tuổi. Lúc đó tôi đi học, nhưng ngày nào cũng phụ bố tôi đi bỏ báo thành ra hay nói chuyện với ông. Tôi biết những người như ông Hoàng Cơ Minh, ông Phạm Văn Liễu là những người bố tôi biết từ Việt Nam. Biết qua, không phải thân, mà quen biết. Lần đầu tiên Mặt Trận mời bố tôi tới tham dự buổi gây quỹ. Bố tôi thấy đông lắm, rất là đông. Họ gây quỹ nhiều tiền lắm. Họ nói là họ hy vọng bố tôi sẽ viết một bài để khen họ. Ðể tôi giải thích sơ về cái thời đó. Người ta gọi là thời “cởi truồng chạy khắp phố.” Cuối thập niên 70s, đầu thập 80s có rất nhiều tổ chức chống Cộng ra đời. Muốn nổi bật thì phải có báo chí viết, để người ta tò mò, để tạo ra huyền thoại. Có điều, có thể lãnh đạo của họ thì biết bố tôi là ai, nhưng những người mời bố tôi viết họ không biết bố tôi là một nhà báo nhiều kinh nghiệm, họ tưởng là người mới ra nghề. Khi thấy họ gây quỹ được rất nhiều tiền, thì bố tôi hỏi các anh gây quỹ được nhiều tiền như vậy thì có sổ sách gì không, để cho những người ủng hộ họ biết tiền của họ đi đâu, làm việc gì không. Thì có người, tôi quên tên rồi, nói có chứ anh, có gì chúng tôi làm sổ sách rồi sẽ cho anh biết. Bố tôi lại hỏi vậy người kế toán, người giữ sổ sách tên gì. Lúc đó khi bố tôi hỏi, thì họ mới đưa tên này tên kia. Nhưng theo kinh nghiệm và trực giác của nhà báo thì qua cách trả lời của họ, bố tôi lúc đó trong bụng bắt đầu thấy nghi nghi.
NV: Rồi sau đó việc gì xảy ra?
Nguyễn Thanh Tú: Họ tiếp tục mời bố tôi đến ăn, mời ăn để phỏng vấn đó. Lần nào mời tới, họ cũng đối xử với bố tôi như một VIP vậy. Thức ăn đầy bàn. Nhưng mà bố tôi là nhà báo. Bố tôi thường hay nói, với người nhà báo, người ký giả, cái integrity [chính trực – NV] rất là quan trọng, không để bị compromised [tổn thương – NV]. Ông nói thôi bố con tôi ngồi bàn kia ăn được rồi, có bao nhiêu tiền thì kêu bao nhiêu thức ăn thôi. Họ cho người mang đồ ăn tới bàn, nhưng bố tôi từ chối, bố tôi không muốn bị tainted [hoen ố – NV]. Rồi từ từ bố tôi thắc mắc hỏi cách họ gây quỹ, thì họ mới đưa mấy tấm hình ra cho bố tôi coi. Họ nói mấy hình này là mấy hình chụp từ khu vực kháng chiến ở Việt Nam. Bố tôi nói cho tôi mang mấy tấm hình này về nhà. Về tới nhà bố tôi cầm hình lên ngắm kỹ, rồi chỉ cho tôi coi. Ông nói họ không biết bố là người kinh nghiệm, ở trong nghề lâu. Trong đám hình này, trước hết, mấy người lính trong rừng mà bộ đồ họ mặc quá sạch sẽ. Thứ hai, đằng sau lưng họ, cây cỏ này không đúng cây cỏ ở Việt Nam. Thứ ba, trong rừng cảnh không phải là như vậy. Thứ tư, chén dĩa giấy họ dùng bố tôi thấy dấu hiệu chén dĩa của Mỹ. Thứ năm, đi vào rừng mà có người mang Rolex. Sau đó, bố tôi gặp họ, nói, ờ mấy tấm hình này đẹp quá, chụp ở vùng nào ở Việt Nam. Họ nói mấy hình này chụp bên trong Việt Nam, và Mặt Trận đã chiếm được cứ điểm này, vị trí nọ ở Việt Nam rồi. Từ từ qua nhiều câu hỏi, thì họ nhận ra là bố tôi nghi họ rồi, thì họ bắt đầu tìm cách mua chuộc, rồi chuyển qua hăm dọa.
NV: Họ tìm cách mua chuộc và hăm dọa như thế nào, thưa ông?
Nguyễn Thanh Tú: Gia đình tôi lúc đó nghèo lắm. Mười đứa con. Hai bố mẹ đi làm, mấy đứa con cũng đi làm phụ, nhưng không có tiền. Bố tôi làm báo không có tiền. Làm báo mà, nghèo lắm. Nhưng bố tôi muốn làm báo để thông tin cho mọi người, để có tiếng nói cho người Việt Nam. Họ [Mặt Trận – NV] thấy vậy họ nói thôi để họ mua cho cái xe, hay là giúp tiền để làm báo. Ý họ là muốn bố tôi đừng hỏi những câu hỏi khó. Nhưng bố tôi từ chối. Và bố tôi tiếp tục viết, tiếp tục đặt những câu hỏi mà họ không trả lời được, hay trả lời không rõ. Thế là họ bắt đầu hăm dọa. Lúc đó không có ngày nào đêm nào mà họ không gọi điện thoại hăm dọa.
NV: Làm sao mà ông biết chắc chắn những người gọi điện thoại hăm dọa là người của Mặt Trận? Khi gọi hăm dọa, họ nói gì?
Nguyễn Thanh Tú: Chính tôi cũng nhiều lần nhận phôn. Họ nói rõ ràng, không giấu giếm. Họ nói họ là đại diện của Mặt Trận… giải phóng Việt Nam. Họ bảo nói cho bố tôi nghe nếu mà không ngừng, mà tiếp tục viết những bài có thể ảnh hưởng xấu tới Mặt Trận, thì bố tôi sẽ bị thủ tiêu. Ngày nào họ cũng gọi, gọi hoài. Nếu bố tôi không trả lời thì tôi trả lời. Tôi không trả lời thì mẹ tôi trả lời.
NV: Tôi muốn xác định một lần nữa là những người gọi điện thoại hăm dọa gia đình ông, họ tự xưng họ là Mặt Trận? Họ có xưng tên không?
Nguyễn Thanh Tú: Họ không giấu giếm. Họ nói họ là Mặt Trận, là đại diện cho Mặt Trận. Họ nói rõ ràng, không nói khéo gì cả. Họ không xưng tên, chỉ nói là người làm cho Mặt Trận, hay đại diện cho Mặt Trận. Bố tôi biết mà, biết là mình bị Mặt Trận dọa thủ tiêu. Khi gọi cho bố tôi, họ nói: “Nếu không dừng lại thì sẽ sắp là những giờ cuối cùng của đời mày.”
NV: Bố ông phản ứng ra sao sau khi bị hăm dọa?
Nguyễn Thanh Tú: Tôi nhớ một lần đi bỏ báo, bố tôi nhìn tới nhìn lui, dặn tôi, nếu có chuyện gì con phải chạy trước. Tại vì họ chỉ muốn bố chứ không muốn con đâu. Có những lúc tôi mang báo xuống mấy tiệm, họ mang cả chồng báo họ vứt vào thùng rác. Nhiều chỗ họ phải giấu báo đi, vì tờ báo Tự Do của bố tôi lúc đó rất là nổi tiếng. Nổi tiếng không phải là vì bố tôi viết hay, mà nổi tiếng là vì bố tôi cả gan dám nói những sự thật mà không ai dám nói, những tờ báo khác không dám nói. Vứt báo xong, thấy vẫn còn có người đọc, họ từ từ hăm dọa những người quảng cáo trên báo. Bố tôi tự bỏ tiền túi ra làm mà, cho nên không có quảng cáo vẫn tiếp tục làm. Trước khi làm những số báo cuối cùng, bố tôi bay thẳng qua Thái Lan để điều tra. Bố tôi qua tới Thái Lan mới khám phá ra sự thật. Tại ngày xưa bố tôi là phóng viên quốc tế, đi nhiều lắm, từng đi qua đó phỏng vấn mấy ông tướng, mấy ông làm lớn bên Thái Lan, chứ không phải chỉ ở trong Việt Nam thôi. Bố tôi qua đó thì mới biết cái trại mà họ nói có 10 ngàn quân, là chỗ ở Thái Lan chứ không phải ở Việt Nam. Chẳng những không có 10 ngàn người, mà chỉ có vài trăm người, mà trong đó còn có người Thái và người Lào đứng vào đó để chụp hình, để quay phim, để đem về quảng cáo. Bố tôi tìm được sự việc này, bay về, chuẩn bị cho ra một số báo để vạch trần những việc đó. Biết như vậy, Mặt Trận gặp bố tôi để hăm dọa một lần cuối.
NV: Trong lần người hăm dọa gặp mặt bố ông lần cuối cùng ở một nhà hàng ở Houston, buổi tối hôm đó ông có mặt không? Bị hăm dọa bố ông có sợ không?
Nguyễn Thanh Tú: Không. Nhưng nghe bố tôi kể thì họ đông lắm, khoảng mười mấy người. Hôm đó họ nói cho bố tôi một cơ hội cuối cùng. Chuyện hăm dọa với bố tôi là chuyện thường. Ông quen rồi. Nhưng bố tôi không ngờ họ dám cả gan như vậy. Tại vì ông nghĩ họ hăm dọa công khai như thế thì nếu họ giết ông, ai cũng sẽ biết là họ giết. Bố tôi hay nói cái câu nhà báo mình chỉ có nhau thôi. Nếu có chuyện gì xảy ra cho một nhà báo thì các nhà báo khác sẽ xúm vào bênh vực, lên tiếng. Chắc họ không dám giết.
NV: Sau khi bố ông bị ám sát thì báo chí Việt Nam có lên tiếng, có đưa tin không?
Nguyễn Thanh Tú: Lên tiếng rất nhiều. Báo chí Việt Nam lên tiếng rất nhiều. Nhưng vấn đề là không ai dám đứng ra tố cáo họ. Sau khi bố tôi bị giết, họ còn để lại mảnh giấy cảnh cáo là sau bố tôi là ai nữa sẽ bị giết.
 |
| Nhà báo Nguyễn Ðạm Phong (phải) đứng đeo biểu ngữ phản đối Cộng Sản ở Houston, Texas, năm 1979. (Hình: Nguyễn Thanh Tú cung cấp) |
NV: Tôi có thắc mắc này, thứ nhất, khi giết người xong thì người ta phải sợ bị bắt, tại sao họ lại dám để tờ giấy lại, khai chính mình là tổ chức giết. Thứ hai, tổ chức để tên lại có tên là Vietnamese Organization to Exterminate Communists and Restore the Nation – VOECRN (Việt Nam Diệt Cộng Hưng Quốc Ðảng, vậy làm sao ông có thể cả quyết tổ chức đó chính là Mặt Trận?
Nguyễn Thanh Tú: Bố tôi bị giết xong là ai cũng biết ngay là Mặt Trận giết. Vì Mặt Trận dọa bố tôi ai cũng biết, họ vứt báo của bố tôi đi ai cũng biết. Nhưng mọi người ai cũng sợ, không ai dám lên tiếng tố cáo. Về việc tại sao họ dám nhận tội, những người này là những tay xạ thủ chuyên nghiệp. Họ không để lại dấu vết gì cả. FBI không lấy được dấu vết nào. Họ là chuyên nghiệp mà, cho nên rất khó có chứng cớ để mà buộc tội. Nhưng người mình dù biết, không ai lên tiếng, không ai làm chứng, vì ai cũng rất sợ.
NV: Mấy chục năm qua, trước khi phóng viên A.C. Thompson đến gặp ông để lật lại hồ sơ, ông sống với tâm trạng như thế nào?
Nguyễn Thanh Tú: Tôi có nói ra chăng nữa thì tôi không hiểu là chị hay mọi người có thấu hiểu được không. Cũng không biết dùng chữ gì tả được. Không có ngày nào mà tôi không buồn, không nghĩ đến bố, đến cái chết của bố tôi. Mỗi khi ai hỏi đến thì tôi lại buồn, lại thương bố. Vì tôi thấy bố tôi làm một việc tốt, không có hại gì cả. Tôi chỉ mong có một vài câu trả lời, rồi thôi. Vì tôi biết trong Mặt Trận một số người đã qua đời. Ông Hoàng Cơ Minh, ông Phạm Văn Liễu cũng mất rồi. Nhưng tôi muốn có câu trả lời để cho cái chapter này trong đời mình nó đóng lại, chị hiểu không? Tiếng Mỹ họ gọi đó là closure.
NV: Sau khi cuốn phim Terror in Little Saigon ra đời thì ông có cảm thấy có câu trả lời chưa, có được closure chưa?
Nguyễn Thanh Tú: Thưa chị chưa! Là tại vì mình chỉ biết là một đảng làm, nhưng không biết ai là người ra lệnh làm việc đó. Mặc dù ông kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa sau này ông ấy có nói là ổng có ngồi trong buổi họp mà họ bàn giết người này giết người kia đó. Ðối với tôi như vậy là mình biết rồi. Mà thật ra cũng đâu cần phải có ông A.C. làm cái phim này mình mới biết. Mình đã biết rồi, không cần thêm bằng chứng nào khác, vì ai cũng biết Mặt Trận họ là người hăm dọa sẽ thủ tiêu bố tôi. Nhưng làm sao mà có closure được chị. Khi nào biết đích xác ai là người giết, ai là người ra lệnh giết thì mới có closure được.
NV: Trước sự kiện FBI không có đủ bằng chứng để truy tố ai, ông có bao giờ có phút giây nào ngờ rằng người ám sát bố ông có thể không phải là người của Mặt Trận, mà là người của một nhóm quá khích nào đó không?
Nguyễn Thanh Tú: Không! Là vì mỗi khi hăm dọa, họ đều giới thiệu họ là người của Mặt Trận, và họ bảo tôi “nói bố cháu đừng phá nồi cơm của Mặt Trận.”
NV: Nhiều người sau khi xem phim Terror of Little Saigon tỏ ra thất vọng là vì cuốn phim điều tra này không đưa ra thêm được chứng cớ thuyết phục nào ngoài những gì FBI đã có. Ông có chia sẻ nỗi thất vọng đó của họ không?
Nguyễn Thanh Tú: Theo tôi nghĩ thì đây là một “cover up” của chính phủ. Họ có lý do của họ thời đó. Nhưng tôi nghĩ là từ từ rồi bắt đầu họ sẽ mở hồ sơ lại, vì có thêm chứng cớ mới. Vì một hồ sơ giết người thì không có ngày hết hạn.
NV: Ông muốn nói đến chứng cớ mới nào?
Nguyễn Thanh Tú: Khi ông Nguyễn Xuân Nghĩa lỡ miệng nói là ông ấy có tham dự một buổi họp mà Mặt Trận bàn chuyện ám sát, câu nói mà giờ đây ông chối là không nói, thì đó không chỉ là một chứng cớ, mà là một xác nhận là trong Mặt Trận có chuyện ám sát người.
NV: Nhưng ông Nguyễn Xuân Nghĩa phủ nhận là đã nói câu đó. Ông nói với nhật báo Người Việt trong một cuộc phỏng vấn rằng ông không hề nói như thế.
Nguyễn Thanh Tú: Giữa hai người, ông Nguyễn Xuân Nghĩa và A.C. Thompson thì tôi tin A.C. Thompson hơn. Vì ngoài ông A.C. còn có mấy người nữa cũng ngồi đó nghe câu ông Nghĩa nói. Mấy người đó họ nghe xong câu đó là họ lật đật báo cho boss biết liền. Vả lại, ông A.C. ông ấy là phóng viên, mấy người nghe cũng là phóng viên, là nhà báo, như nhà báo Hà Giang, như những nhà báo khác. Họ là nhà báo, họ cần gì phải nói dối, phải dựng chuyện? Danh dự và tiếng tăm của nhà báo nó quan trọng hơn chứ? Tại sao những nhà báo này phải hy sinh điều đó?
NV: Bây giờ nếu thủ phạm ra nhận tội, ông có tha thứ cho họ không?
Nguyễn Thanh Tú: Vâng, chỉ cần biết như vậy là đủ thỏa mãn rồi. Họ chắc cũng đã có gia đình, và họ phải sống với lương tâm của họ. Tôi tin là sớm muộn gì cũng có người đến khi họ gần đất xa trời, họ ăn năn hối lỗi, rồi họ sẽ nói ra thôi.
NV: Ông còn điều gì muốn tỏ bày nữa không?
Nguyễn Thanh Tú: Tôi mong ước những người đồng nghiệp của bố tôi sau này, những nhà báo trẻ, dám can đảm nói lên sự thật. Ðừng để cho những nhà báo bị giết bị chết oan ức. Tôi muốn nói ra những điều này không phải chỉ là vì bố tôi, mà nó liên quan đến tiếng nói của năm nhà báo đã bị ám sát, trong đó bố tôi chỉ là một.
NV: Cảm ơn ông.