Hàng trăm hỏa tiển TQ nhắm thằng thủ đô HN - Quân đội nhân dân CSVN sắp bị thảm sát bởi các đồng chí đại ca TQ!
21.05.2014 15:13
Giặc đã vào nhà ... Việc phương Bắc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 ngay trong vùng đặc quyền kinh tế VN là hành động thêm nữa, qua nỗ lực thực hiện tham vọng bành trường bá quyền, ngày càng ra sức thôn tính một nước VN CS đàn em và coi thường luật pháp quốc tế. 
Công an bảo bảo vệ sứ quán TQ đàn áp biểu tình
Nhưng điều mà mọi người có thể tiên đóan được, đó là Bắc Kinh tiếp tục vào sâu trong “Ngôi Nhà VN” giữa lúc đã “án binh bất động” rồi trong khắp quê hương VN dưới hình thức này hay hình thức khác, khiến tổ quốc VN lâm cảnh “sơn hà nguy biến” mà người dân Việt yêu nước cáo giác là do giới cầm quyền trong nước từ lâu “ hèn với giặc ác với dân” – và cả sự thờ ơ của một số thành phần dân Việt “nhảy đầm”, “cưa đá”. Qua bài “Giặc đã vào nhà, bây giờ ai ra đánh?”, blogger Thục Quyên lưu ý rằng: Chúng ta bây giờ mới lồng lộn lên vì Trung Quốc cắm giàn khoan tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, nhưng chúng ta đã yên lặng khi “thực dân Vàng” nắm trọn đời sống kinh tế đất nước. Yên lặng trong khi nhiều vùng đất trên lãnh thổ Việt đã lọt vào tay người Hoa… Có bao giờ những người Hoa này trả lại những vùng đất của ta mà họ đang giữ ? Rồi tác giả nêu lên một loạt câu hỏi rằng “Tại sao ta yên lặng đằng đẵng bấy nhiêu năm?”, “ Tại sao một quốc gia có chính phủ, có gần 90 triệu dân, có cơ quan truyền thông, truyền hình... mà để Trung Hoa xâm nhập dễ dàng như vào nhà vô chủ cho tới ngày nay?”, “Đất, rừng, mỏ, đảo. Một phần giang sơn đắp xây bằng xương máu ông cha từ bao ngàn năm bây giờ đã được đánh đổi lấy chút cơm thừa canh cặn. Cho ai?”, “Tại sao phải chờ đến giờ phút này (mới có phản ứng phần nào thiết thực) sau khi đã ngăn cản mọi sửa soạn từ tinh thần đến sức lực của người dân để chống trả mộng bành trướng của họ?”. Và bloger Thục Quyên không khỏi thốt lên rằng “ Giặc đã vào nhà và đang tăng tốc độ xâm chiếm… Chủ nhà tỉnh giấc, giặc đã đứng đầu giường”. Chính sách thân TQ, bất chấp các xâm lăng từng phần lãnh hải VN của TQ, bất chấp các xâm lăng từng địa danh trên biên giới phía bắc VN của TQ, của lãnh đạo CS VN đã hoàn toàn thất bại… - Nhà báo Nguyễn Nghĩa Blogger Nguyễn Nghĩa nhận xét rằng “ Sự kiện TQ kéo giàn khoan 981 vào lãnh hải VN với hơn 80 tầu bảo vệ đã chấm dứt mọi lý lẽ có thể biện minh cho chính sách thân TQ của ĐCS VN”. Qua bài tựa đề “ Một cơ hội lớn để thoát Trung”, nhà báo Nguyễn Nghĩa phân tích rằng: Sự ngạo mạn của TQ không phải không có lý do. Chính chính sách thần phục TQ một cách vô điều kiện, chính sách đứng trên tầm cao quan hệ, dâng cả Biển Đảo Hoàng Sa, Trường Sa, các cánh rừng biên giới phía bắc… của VN cho TQ, để đổi lấy tình hữu nghị giữa hai đảng anh em Trung-Việt của ĐCS VN đã khuyến khích TQ dám gây nên cuộc xâm lăng dưới hình thức mới này… Chính sách thân TQ, bất chấp các xâm lăng từng phần lãnh hải VN của TQ, bất chấp các xâm lăng từng địa danh trên biên giới phía bắc VN của TQ, của lãnh đạo CS VN đã hoàn toàn thất bại…VN hôm nay, để trường tồn, nhất định phải thoát Trung. Kể từ khi ĐCS VN tình nguyện nhận viện trợ của TQ 1949 đến nay, ảnh hưởng của TQ đã gây bao tai họa cho dân tộc này. Do nhu nhược mà raTàu hải giám Trung Quốc neo đậu gần giàn khoan HD 981. AFP photo Giữa lúc quê hương đang trong cảnh “sơn hà nguy biến” như vậy thì từ Hà Nội, TS Phạm Chí Dũng không khỏi thốt lên rằng “ Nỗi lăng nhục dân tộc đối với Việt Nam lần này là quá lớn so với gần hai chục đợt gây hấn và hành hạ ngư dân Việt của chế độ độc đảng Trung Quốc từ năm 2011 đến nay”. Theo TS Phạm Chí Dũng thì “Nhu nhược là nguồn cơn của tội lỗi, đớn hèn là căn nguyên của mất nước”. TS Phạm Chí Dũng nhắc lại: Trong suốt ba năm qua, những gì mà chế độ một đảng ở Việt Nam dụng tâm thỏa hiệp với người bạn “Bốn Tốt” đã đổi lại được gì? 10 thỏa thuận của nguyên thủ quốc gia Trương Tấn Sang dưới bóng cờ sắc máu Tập Cận Bình vào mùa hè năm 2013 có làm cho tình thế bớt chút nào nóng bỏng và tủi nhục? Tại sao người được xem là một nguyên thủ quốc gia khác - Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng - lại khiến cho con dân nước Việt tuyệt vọng đến thế khi ông không dám đả động một lời về đợt xâm lăng Hải Dương 981 trong bài diễn văn mở đầu Hội nghị trung ương 9 ? Tất cả những im lặng còn kém xa tinh thần nhu nhược ấy quả là hoàn toàn bất xứng so với một quốc gia cũng được xem là nhỏ bé như Philippines. Blogger Nguyễn Hưng Quốc lưu ý tới tình trạng “chưa bao giờ VN cô đơn như hiện nay”. Qua bài tựa đề “Không ai cứu được VN cả!”, GS Nguyễn Hưng Quốc khẳng định về “điều ai cũng thấy nhưng Việt Nam không hề làm, hoặc nếu làm, chỉ là giả bộ làm” liên quan nỗ lực tìm kiếm đồng minh thực sự đủ sức giúp Việt Nam trong cuộc đối đầu với phương Bắc. GS Nguyễn Hưng Quốc lưu ý: Nhu nhược là nguồn cơn của tội lỗi, đớn hèn là căn nguyên của mất nước. - TS Phạm Chí Dũng
Nhưng dại dột nhất là Việt Nam đã không có đủ thiện chí để xây dựng một quan hệ tin cậy với Mỹ, nước duy nhất có khả năng giúp Việt Nam đương đầu với Trung Quốc. Chơi với Mỹ, họ chỉ tính toán những trò lặt vặt, kiểu bắt dân làm con tin, khi nào Mỹ yêu sách thì thả vài người rồi lại bắt vài người khác. Trên các phương tiện truyền thông, thậm chí, trên các diễn đàn chính thức của đảng, thỉnh thoảng vẫn chửi Mỹ, xem Mỹ như kẻ thù, người đứng đằng sau xúi giục cho âm mưu “diễn tiến hòa bình”. GS Nguyễn Hưng Quốc lưu ý rằng suốt bao nhiêu năm qua, giới cầm quyền VN đã từng “thẳng tay trấn áp một cách phũ phàng và tàn bạo tất cả những người yêu nước nào dám lên tiếng cảnh báo nguy cơ xâm lược của Trung Quốc”. Do đó, theo ông thì không phải ngẫu nhiên mà dư luận trong nước lâu nay vẫn xem chính quyền là nhu nhược hoặc thậm chí “ mãi quốc cầu vinh”. Khi vì sợ hay do muốn bênh vực Bắc Kinh, họ đã từng “giang chân đạp thẳng vào mặt” người yêu nước biểu tình chống Trung Quốc xâm lược và hoàn toàn tự cô lập với nhân dân. Nhắc đến chuyện “xây dựng một quan hệ tin cậy với Mỹ” như GS Nguyễn Hưng Quốc từ Úc vừa nói, thì tại Hà Nội, TS Phạm chí Dũng nêu lên một loạt câu hỏi rằng “tại sao sau gần hai chục năm bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ, giới lãnh đạo đầy bảo thủ ở Việt Nam vẫn không tiến nổi đến một hiệp ước quốc phòng với Hoa Kỳ - như kết quả mà người bạn Philippines vừa đạt được - để tạo nên một ‘lá chắn biển Đông’ vì sự an nguy của chính mình? Tại sao Chính phủ Việt Nam lại không đủ bản lĩnh khởi kiện hành vi xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc tại tòa án quốc tế như người bạn Philippines đã và đang làm? Tại sao nhà cầm quyền Việt Nam lại không dám thể hiện lòng can đảm ngoại giao tối thiểu như triệu hồi đại sứ tại Trung Quốc, hay mạnh mẽ hơn là cắt đứt quan hệ ngoại giao với kẻ đã nuốt gọn thác Bản Giốc ở mạn đầu Tổ quốc?”,… “ Tại sao họa xâm lăng đang cận kề mà một bộ phận quan chức no đủ ở các cấp vẫn ung dung thù tạc, với những cuộc mittinh lạc điệu cùng những cuộc ‘phản biểu tình’ thô thiển mà chỉ nói lên một ý nghĩa duy nhất: Hèn với giặc, Ác với dân?”… Qua bài “Không liên minh với Hoa Kỳ để chống TQ nhưng cần phải liên minh với Hoa Kỳ để giữ Biển Đông”, GS Nguyễn Thanh Giang dẫn chứng rằng liên minh Mỹ-Nhật giúp “ chặn dường” TQ đến Senkaku, liên minh Phillipine -Hoa Kỳ giúp “chặn đường đến Scarborough” khiến Bắc Kinh “đành chọc khe” Việt Nam. TS Nguyễn Thanh Giang khẳng định rằng “Trung Quốc chỉ có thể thẳng tay ức hiếp, bắt nạt Việt Nam khi thấy Việt Nam bị cô lập”, mà tình trạng cô lập này là do chính Hà Nội tự gây ra. GS Nguyễn Thanh Giang nhận xét: Cái trò láu cá vặt chỉ thả vài người: Cù Huy Hà Vũ, Vi Đức Hồi, Nguyễn Tién Trung … hòng đổi lấy TPP trong khi không những không chịu thả Trần Huỳnh Duy Thức, Điếu Cày, Đỗ thị Minh Hạnh, Nguyễn Văn Lý, Lê Quốc Quân … mà còn bắt thêm Trương Minh Đức, Nguyễn Hữu Vinh … làm cho thế giới tiên tiến vẫn thấy chính quyền Việt Nam là “cái mặt không chơi được”. Chẳng những thế, Hiến pháp sửa đổi vẫn không chịu thừa nhận tự do lập hội, không chịu thừa nhận tự do ngôn luận, không chịu thừa nhận quyền bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, không chịu thừa nhận đa sở hữu đất đai …
Phải làm gì bây giờMột sĩ quan bảo vệ bờ biển Việt Nam trên Biển Đông hôm 14/5/2014. AFP photo Như vậy, câu hỏi cần được nêu lên là VN ngay bây giờ phải làm gì để ứng phó với phương Bắc ? GS Nguyễn Thanh Giang đề nghị VN: Thứ nhất: Đệ đơn kiện ngay Trung Quốc ra Tòa Trọng tài Luật Biển Quốc tế. Không nên chần chừ, không việc gì phải e ngại đối với khả năng Trung Quốc trả đũa về kinh tế. Hãy noi gương Phillipine. Hơn một năm qua, từ ngày bị kiện (1-2013), Trung Quốc chưa đưa ra được một đòn kinh tế nào đáng kể đối với Phillipines. Chẳng những thế, uy tín của tổng thống Philippines đã lên cao, toàn dân càng xiết chặt khối đại đoàn kết để cùng đương đầu…Nhẽ ra, ta đã phải đưa vấn đề Hoàng Sa ra Liên Hiệp Quốc từ lâu, và nếu vậy thì hôm nay đã không có việc họ dám đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển Hoàng Sa này. Thứ 2: Nhanh chóng thiết lập liên minh quân sự với Hoa Kỳ…Thực tế lịch sử và phân tích logic cho biết Hoa Kỳ không có nhu cầu xâm lăng hoặc đô hộ Việt Nam như âm mưu của bè lũ Đại Hán, cho nên liên minh quân sự với Hoa Kỳ thông qua những ràng buộc bởi những cam kết chặt chẽ sẽ không thể uy hiếp nền độc lập của ta. Theo LS Nguyễn Văn Đài thì muốn bảo vệ được chủ quyền lãnh hải quốc gia, đồng thời phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế và trở thành một quốc gia hùng mạnh về kinh tế, quân sự, thì Việt Nam phải xây dựng được các mối quan hệ đồng minh chiến lược, chủ yếu với cường quốc, mà trong bối cảnh hiện giờ, chỉ có Nga và Mỹ. Nhưng dại dột nhất là Việt Nam đã không có đủ thiện chí để xây dựng một quan hệ tin cậy với Mỹ, nước duy nhất có khả năng giúp Việt Nam đương đầu với Trung Quốc. - GS Nguyễn Hưng Quốc
Nhưng, LS Nguyễn Văn Đài “Chắc chắn, Nga sẽ không bao giờ đồng ý xây dựng mối quan hệ đồng minh với VN” vì Nga “ đang bị sa lầy ở Ukraine, mâu thuẫn với Hoa Kỳ nói riêng và phương Tây nói chung và rất cần sự hợp tác với TQ nên không thể làm phật lòng Bắc Kinh, thậm chí “mong TQ và VN có mâu thuẫn, chiến tranh với nhau để Nga bán vũ khí và làm TQ suy yếu một phần”. Như vậy chỉ còn có Mỹ, là cường quốc mà LS Nguyễn Văn Đài nhận thấy “ luôn luôn muốn VN đứng về phía Mỹ” trong khi chính Hoa Kỳ “ đủ khả năng không chỉ giúp VN phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, mà còn bán vũ khí, viện trợ vũ khí, cung cấp thông tin tình báo, hỗ trợ hậu cần, huấn luyện,… Giúp VN có đủ năng lực đối phó với TQ trên biển Đông”; và qua liên minh Mỹ-Việt, VN sẽ dễ dàng xây dựng “quan hệ đồng minh với Nhật, Hàn Quốc, Úc, Canada, các nước phương Tây và NATO. Từ đó VN sẽ nhanh chóng phát triển về kinh tế, tăng cường tiềm lực quốc phòng đủ sức bảo vệ chủ quyền quốc gia”. Nhưng LS Nguyễn Văn Đài lưu ý, “trở ngại lớn nhất và duy nhất là vấn đề nhân quyền và dân chủ” tại VN hiện nay. Do đó, LS Nguyễn Văn Đài nhấn mạnh, “Giải pháp duy nhất mà VN có thể bảo vệ được chủ quyền quốc gia đó là đảng CSVN phải cải thiện và tôn trọng nhân quyền, dân chủ hóa xã hội. Xây dựng các mối quan hệ đồng minh chiến lược với Hoa Kỳ và các cường quốc phương Tây”. Trong khi bày tỏ nỗi “thất vọng về những người lãnh đạo VN”, GS Nguyễn Thanh Giang khi nhìn lại chính mình đã gần bát tuần, trong cái cảnh “ thù trả chưa xong đầu đã bạc”. Nhưng ông “hoàn toàn tin vào tuổi trẻ Việt Nam, hoàn toàn tin vào dân tộc VN”. Chận đường bành trướng Bắc Kinh chỉ có toàn dân
Võ Long Triều Trung Quốc đang thực hiện một kế hoạch lâu dài, từng bước chiếm trọn Biển Ðông. Khởi đầu Bắc Kinh xâm chiếm Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa, kế đến chiếm đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Rồi bãi cạn Scarborough của Philippines và đe dọa chiếm luôn Senkaku của Nhật Bản. Gần đây Trung Quốc lại đưa giàn khoan HD-981 đặt tại khu vực Hoàng Sa mà Bắc Kinh đã sáp nhập với Trường Sa lập thành huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam. Một việc làm có tính toán chặt chẽ và khẳng định khó lay chuyển. Thử hỏi tại sao Trung Quốc dám hành động ngang ngược, trái luật lệ quốc tế, bất kể dư luận thế giới như vậy? Ðể trả lời một cách tổng quát người ta có thể nêu hai lý do: Thứ nhứt là Bắc Kinh biết chắc rằng Mỹ sẽ không can thiệp mặc dù Hoa Kỳ chuyển 60% lực lượng quân sự về Châu Á Thái Bình Dương, có mục đích kềm hãm sự trỗi dậy và mưu đồ bành trướng của Bắc Kinh. Rất nhiều lần các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ tuyên bố Mỹ không đứng về phía nào trong việc tranh chấp chủ quyền ở Biển Ðông, Mỹ chỉ khuyến khích các bên nên giải quyết bằng đàm phán ngoại giao tránh xung đột gây bất ổn trong khu vực. Trong chuyến công du ngày 23 tháng 4, 2014, qua bốn nước Nhật Bản, Ðại Hàn, Malaysia và Philippines, Tổng Thống Barack Obama tuyên bố rõ ràng: “Ðiều 5 trong Hiệp Ước An Ninh Mỹ-Nhật được áp dụng cho tất cả các vùng lãnh thổ do Nhật Bản kiểm soát bao gồm quần đảo Senkaku.” Ông nói thêm rằng, cam kết bảo vệ Nhật là “một vấn đề lịch sử chứ không phải nhằm gây hấn với Trung Quốc.” Tại Nam Hàn, ông Obama khẳng định: “Sự cam kết của Hoa Kỳ đối với Hàn Quốc không bao giờ lay chuyển, Mỹ và Nam Hàn sẽ sát cánh bên nhau.” Tại Manila, Hoa Kỳ và Philippines vừa ký thêm một thỏa thuận cho phép Mỹ tăng cường sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Philippines trong 10 năm. Những điều nói trên cho Trung Quốc thấy việc bảo vệ các đồng minh là trách nhiệm của Hoa Kỳ do những hiệp ước có tính lịch sử đã được các bên ký kết từ xưa. Trong khi Việt Nam chưa phải là đồng minh và Hoa Kỳ cũng không có một quyền lợi gì đối với Việt Nam có tính ràng buộc một sự can thiệp khi nước này bị cưỡng hiếp hay bị tấn công. Thứ hai là Trung Quốc nắm chắc từ lâu cộng sản Hà Nội đã công khai hay ngấm ngầm dâng hiến Việt Nam cho Trung Quốc qua những sự kiện xảy ra trong nhiều năm, cho phép Trung Quốc hiểu rằng Việt Nam sẽ thuận theo những gì Bắc Kinh quyết định. Bằng cớ: - Công hàm của thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Phạm Văn Ðồng, “tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958, của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.” - Cựu đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, ông Dương Danh Di cho biết, Lê Ðức Thọ nói: “Trung Quốc giải phóng Hoàng Sa giúp ta thì sau này họ cũng trả lại cho ta thôi.” Ðại Tá Bùi Tín thú nhận: “Tôi cảm thấy xấu hổ khi phụ họa sự giải thích của ông Lê Ðức Thọ và Ban Tuyên Giáo Trung Ương rằng: ‘Hãy yên tâm, Hoàng Sa trong tay các đồng chí Trung Quốc còn hơn là trong tay ngụy quyền tay sai của đế quốc Mỹ.’” - Tại hội nghị bí mật Thành Ðô ngày 3 tháng 4, 1990, giữa Nguyễn Văn Linh, Ðỗ Mười, Phạm Văn Ðồng, và Giang Trạch Dân, Lý Bằng phía Trung Quốc. Kết quả không được phổ biến cho quần chúng Việt Nam. Về sau Giang Trạch Dân còn bịa ra 16 chữ vàng và 4 cái tốt, do đó về mặt ngoại giao chính thức, Việt Nam luôn luôn cam kết tuân theo phương châm 16 chữ vàng. - Cứ mỗi lần một viên chức Trung Quốc viếng thăm Việt Nam cũng nhắc nhở 16 chữ vàng và ca ngợi 4 cái tốt, lập tức các tổng bí thư Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng hùa theo hô hào 16 chữ vàng và khẳng định hợp tác toàn diện để tiến tới tương lai! - Cô Phạm Thanh Nghiên bị bắt tháng 9, 2008 vì ngồi trước nhà có viết 6 chữ HS-TS-VN, nghĩa là Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Cô bị tòa tuyên án 4 năm tù ở và 3 năm quản chế. - Hai tàu khảo sát đáy biển của Việt Nam, Bình Minh 2 và Viking II bị tàu Trung Quốc cắt đứt dây cáp. Hà Nội không dám sử dụng thông lệ ngoại giao để triệu kiến đại sứ Trung Quốc đến nghe lời phê bình và chính thức lãnh công hàm phản đối. - Dân chúng biểu tình chống Trung Quốc xâm lăng hàng chục lần, nhà nước vẫn ra lệnh cho công an đánh đập tàn nhẫn. - Nhạc sĩ Việt Khang viết bản nhạc “Anh Là Ai” với tinh thần chống Trung Quốc xâm lăng bị bắt lãnh án 4 năm tù giam và 2 năm quản chế. - Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn sang Trung Quốc lãnh lệnh phải “điều hướng dư luận trong nước,” trở về ông không dám phổ biến nội dung, mãi đến khi phái đoàn trí thức và đảng viên cao cấp đến Bộ Ngoại Giao hạch hỏi mới loan tin. Tóm lại những sự kiện trên cho thấy Hà Nội phục tùng Trung Quốc, đàn áp dân mình cho nên dân gian truyền khẩu: “Nhà nước hèn với giặc, ác với dân.” Một sự thật mà đảng cộng sản Việt Nam phải mang lấy tiếng nhơ muôn đời trong lịch sử. Trước tình thế nguy ngập, giặc Tàu lấn lướt, toàn thể Bộ Chính Trị và Trung Ương đảng cúi mặt âm thầm chấp nhận, người Việt Nam chúng ta, đảng viên, quân đội và nhân dân không thể để giặc Tàu “ngàn năm Bắc thuộc” một lần nữa. Một cách thôn tính kiểu mới thời đại thế kỷ 21. Tàu Cộng mượn tay người Việt, gọi là đồng chí tốt, lãnh đạo đảng cộng sản anh em, xem họ như một bọn thái thú tay sai cai trị dân mình theo lệnh của Bắc Kinh. Từ nay dân chúng phải biểu tình tỏ thái độ, đông đảo hơn, mạnh bạo hơn. Trí thức, quân nhân, công an cùng toàn dân xuống đường, áp lực, buộc nhà nước phải thay đổi, không hèn nhát nhu nhược, đối đầu với giặc, đoàn kết với dân. Biểu tình để buộc nhà nước phải thả ngay những tù nhân bị bắt vì tội chống Trung Quốc. Biểu tình để buộc nhà nước mời gọi tất cả phe nhóm, đảng phái, tổ chức trong và ngoài nước, thân hay chống chính phủ, đoàn kết lại, không phải dưới bóng cờ của đảng cộng sản mà với lòng yêu nước, với tinh thần bảo vệ tổ quốc. Ðã đến lúc nhà nước phải thay đổi, chấp nhận đa nguyên đa đảng, từ bỏ độc quyền, cùng các đảng phái trong và ngoài nước hợp nhau bàn thảo kế hoạch chống xâm lăng. Nhân dân đang chờ ban lãnh đạo đảng giác ngộ trở về với dân tộc lập mưu cứu quốc. Nhược bằng đảng cộng sản không tỉnh ngộ, một lòng phản dân bán nước tiếp tục làm tay sai cho giặc, thì con đường chận bành trướng Bắc Kinh, cứu nước chỉ duy nhứt còn có một, đó là toàn dân đoàn kết đứng lên lật đổ chế độ Hà Nội phản quốc buôn dân bán nước, để mở ra con đường đa nguyên dân chủ cho Việt Nam. Vào thời đại nguyên tử lực và khoa học phát triển không ngừng, những cường quốc trên thế giới tranh nhau áp đặt một trật tự mới. Chúng ta sẽ phải lựa chọn đứng về phía tự do dân chủ. Nghĩa là hợp tác với các cường quốc tự do để tránh tình trạng một nước nhược tiểu như Việt Nam bị cường quốc láng giềng lấn áp. Trong tương lai nhà nước Việt Nam tự do cũng phải ký kết hiệp ước an ninh quân sự với các đồng minh. Và nếu cần cũng sẽ để cho quân đội nước ngoài đóng quân trong xứ để phòng chống kẻ mạnh hiếp yếu. Úc Châu cũng là một cường quốc vẫn chấp nhận cho 2500 binh lính Mỹ đóng tại Darwin. Cơ hội đã đến, vận nước đổi thay, tình hình chính trị đòi hỏi những ai có đủ tài sức, đội ngũ đảng phái nào đoàn kết được có khả năng lôi cuốn hàng chục triệu dân Việt trong và ngoài nước cùng vào cuộc chiến chống giặc Tàu giữ lấy giang sơn.
Chỉ là chiến tranh tâm lý
Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)
Chung quanh vụ Trung Quốc mang giàn khoan HD-981 đến khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam trên Biển Ðông, nhiều người hốt hoảng tưởng một cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc đang hoặc sắp sửa bùng nổ. Chưa biết vài ngày hay vài tuần hay vài tháng nữa thế nào, chứ hiện nay, theo tôi, đó chỉ là một cuộc chiến tranh tâm lý.
Vâng, chỉ là chiến tranh tâm lý.
Như tôi đã phân tích trong bài “Trung Quốc đã thắng trên Biển Ðông”, mục tiêu chính của Trung Quốc khi mang giàn khoan HD-981 đến khu vực được xem là thuộc đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam không phải để đánh nhau. Với Trung Quốc hiện nay, một cuộc chiến tranh với Việt Nam, dù có thắng, cũng chưa chắc đã có lợi, đặc biệt, về phương diện kinh tế và quan hệ quốc tế, trong đó có hình ảnh phát triển trong hòa bình mà Trung Quốc đã đổ rất nhiều tiền bạc và công sức ra để xây dựng. Làm thế, có lẽ Trung Quốc chỉ nhắm đến hai mục tiêu chính: Một, trắc nghiệm phản ứng của Việt Nam, ASEAN và Mỹ; và hai, khẳng định chủ quyền của họ trên Biển Ðông.
Về phía Việt Nam, chính quyền có một quyết định, tuy bị phê phán nặng nề, nhưng theo tôi, thành thật mà nói, khá hợp lý là cố gắng kiềm chế, không sử dụng bạo lực để dẫn đến chiến tranh với Trung Quốc. Một cuộc chiến tranh như thế, Việt Nam không thể thắng được. Hơn nữa, còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế vốn còn rất èo uột của Việt Nam. Nhưng, có điều, nếu Việt Nam không sử dụng bạo lực thì họ làm gì? Trên thực tế, như các bản tin được phát cho báo chí, họ chỉ cho tàu cảnh sát biển vờn tới vờn lui, húc qua húc lại và bắn súng nước... chơi. Làm như vậy, dĩ nhiên không thể thắng được Trung Quốc. Họ không thể đuổi được giàn khoan. Cũng không thể nhảy lên chiếm giàn khoan.
Tất cả đều bất khả. Vậy thì tại sao người ta phải tốn tiền, tốn sức để làm một chuyện không có mục tiêu như vậy? Thật ra, hai mục tiêu mà Việt Nam nhắm tới và có thể làm được là: Một, lôi kéo sự chú ý của thế giới, từ đó, may ra, nhận được sự đồng cảm và/hoặc sự ủng hộ của các cường quốc hoặc các nước trong khu vực; và hai, chứng minh với dân chúng Việt Nam là chính quyền không... hèn: Họ cương quyết bảo vệ chủ quyền trên Biển Ðông. Cả hai mục tiêu ấy đều có tính chất tuyên truyền.
Dĩ nhiên, trò chơi tuyên truyền như vậy cũng nguy hiểm lắm. Chỉ cần húc nhau mạnh một chút, một chiếc tàu nào đó bị đắm, những người còn lại không thể kiềm chế, phản ứng theo bản năng, bất chấp mệnh lệnh từ trên, nổi điên bắn vài phát súng, làm chết vài người bên phe đối phương. Khi có máu đổ, chiến tranh cũng rất dễ bùng lên. Không ai biết trước được. Trên thế giới, từ xưa đến nay, có rất nhiều cuộc chiến tranh nổ ra một cách rất... lãng xẹt. Hy vọng đó không phải là trường hợp của chúng ta. Lần này.
Nếu xem cuộc tranh chấp hiện nay chỉ là một chiến tranh tâm lý và trên thực tế, nó chỉ là một cuộc chiến tranh tâm lý, có hai điều cần được ghi nhận ngay:
Thứ nhất, như tôi đã từng phân tích trong bài “Trung Quốc đã thắng trên Biển Ðông,” cho đến nay, Trung Quốc đã thành công trong tất cả các mục tiêu họ đặt ra.
Thứ hai, điều đó cũng có nghĩa là Việt Nam đã thất bại: Họ không thể nào đuổi được Trung Quốc ra khỏi Biển Ðông và cũng không thể tìm bất cứ đồng minh nào có thể giúp Việt Nam làm được điều đó.
Nhưng như vậy không có nghĩa là Việt Nam hoàn toàn tuyệt vọng. Nếu khôn ngoan, Việt Nam có thể lợi dụng tình thế hiểm nghèo và khá nhục này để chuyển bại thành thắng.
Bằng cách nào?
Có nhiều cách, nhưng cách thứ nhất là sử dụng hình ảnh ngang ngược của Trung Quốc trong cuộc xâm lăng thô bạo vùng biển của Việt Nam để giúp thế giới hiểu rõ những hiểm họa mà Trung Quốc có thể gây ra cho các quốc gia trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, và, về lâu về dài, cho cả thế giới. Nhận thức được hiểm họa ấy, người ta sẽ đoàn kết hơn để cùng chống lại Trung Quốc. Với sự đoàn kết ấy, may ra Việt Nam mới có thể xây dựng liên minh chiến lược với một số nước trong khu vực.
Trong cái gọi là liên minh trong khu vực này, hầu hết các nhà bình luận chính trị trên thế giới đều có hai ý kiến giống nhau: Một, Việt Nam nên loại bỏ ý định sử dụng Hiệp Hội Các Quốc Gia Ðông Nam Á (ASEAN) như một liên minh để đối đầu với Trung Quốc. Lý do đơn giản: đó là một điều bất khả. Hầu hết các quốc gia trong khối đều có liên hệ kinh tế rất chặt chẽ với Trung Quốc. Sẽ không bao giờ có sự thống nhất nào cả, trừ phi Trung Quốc gặp khủng hoảng về kinh tế dài hạn. Hai, thực tế hơn, Việt Nam nên liên kết với các nước hiện đang có sự tranh chấp về biển và đảo với Trung Quốc: Malaysia, Philippines và Brunei (và có thể, Indonesia). Thật ra, Việt Nam và các quốc gia này cũng có những tranh chấp về lãnh hải, nhưng những tranh chấp ấy có những phạm vi khá nhỏ, không nghiêm trọng bằng những tranh chấp giữa họ với Trung Quốc (bao trùm đến 90% diện tích Biển Ðông). Nếu khôn khéo và biết nhân nhượng nhau, họ có thể lập thành một mặt trận chung để đối đầu với Trung Quốc, từ đó, đòi hỏi Trung Quốc phải giải quyết vấn đề theo chiều hướng đa phương thay vì song phương như hiện nay. Nhờ thế, Việt Nam mới có thể quốc tế hóa các tranh chấp với Trung Quốc được.
Thứ hai, Việt Nam phải cấp tốc đẩy mạnh quan hệ với Mỹ. Thích hay không thích Mỹ, chúng ta cũng phải thừa nhận với nhau sự thật này: Hiện nay, chỉ có một nước duy nhất có thể giúp Việt Nam thoát khỏi hiểm họa Trung Quốc: đó là Mỹ. Không còn nước nào khác.
Thứ ba, trong suốt thời gian chờn vờn với nhau ngoài Biển Ðông, chính quyền Việt Nam cần lấy lại niềm tin của dân chúng. Từ nhiều năm nay, rõ ràng nhận định phổ biến của dân chúng Việt Nam đối với chính quyền là: hèn. Không ít người đi xa hơn, cho chính quyền Việt Nam đã bị Trung Quốc hoàn toàn mua chuộc. Công việc đầu tiên mà chính quyền cần làm là chứng minh các nhận định ấy hoàn toàn sai và cũng chứng minh là họ thực sự đang lãnh đạo đất nước trong cuộc đối đầu với Trung Quốc xâm lược.
Nhưng để làm được ba điều trên, điều chính quyền cần phải làm là xác định lại quan hệ với Trung Quốc. Dĩ nhiên, sẽ không khôn ngoan chút nào nếu chính quyền công khai và thẳng thừng cắt đứt mọi quan hệ ngoại giao với Trung Quốc.
Là nước nhỏ, nằm ngay sát nách của Trung Quốc, Việt Nam rất khó làm được điều đó. Ngay từ xưa, cha ông chúng ta đã biết rõ như vậy. Ngay sau chiến thắng nhà Minh vào năm 1428, Lê Lợi đã chủ trương làm hòa ngay với Trung Quốc.
Ngay sau khi đuổi bọn giặc nhà Thanh khỏi bờ cõi năm 1789, Quang Trung cũng đã làm hòa với Trung Quốc. Bây giờ, thời đại khác, nhưng số phận của đất nước chúng ta cũng không thay đổi. Nhưng làm hòa với Trung Quốc không có nghĩa là nhu nhược và dại dột đến mức cứ ra rả tụng niệm 4 Tốt và 16 Chữ Vàng.
Cứ khư khư ôm giữ những khẩu hiệu mù quáng ấy, sẽ không có ai tin và muốn làm bạn với Việt Nam.
Ngay cả dân chúng cũng không thể tin và kính trọng chính quyền. Điêu Tàn
Cộng sản bản chất nó là vậy mà.Ôi Luật Pháp quốc tế sao giờ này được cộng sãn VN tôn trọng dữ vậy. "Mất nước mất biển sau này con cháu ta sẽ đòi lại"bây giờ chúng ông ngồi trên hưởng cái đã ,một ngàn năm nữa bị TC cai trị các cháu ráng chịu cực,nhục nhã sau đó các cháu cố gắng đấu tranh giống Tây Tạng để đòi lại giang sơn tổ quốc.Đúng là một lũ vc vô nhân đạo.
 Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đang trả lời nhà khoa học trẻ Viêt Nam vê giàn khoan HD – 981 Ông vừa xuất hiện trên trên vòm trời chính trị Việt Nam. Gương mặt ông đỡ lem luốc bởi khói lửa chiến tranh, đỡ hốc hác của thời đói khát, đỡ nhàu nát bởi hận thù nghi kị, đỡ căng thẳng vì không lo diễn biến hòa bình, đỡ hung hăng bởi không phải chống thế lực thù địch. Tôi cũng như bao nhiêu người Việt khác đặt lên vai ông vài tia hy vọng. Nhưng chiều nay, đọc được lời ông phát biểu về một giàn khoan “Lạ” ngoài biển Đông, thì những tia hy vọng mong manh kia lịm tắt.
Một nhà khoa học trẻ hỏi: Việt Nam có nên xây dựng quan hệ đồng minh với nước nào không? Ông trả lời: “Không liên minh với nước nào để chống lại một nước thứ ba.”
Ôi thưa ông! Tôi muốn khóc. Khóc cho sự suy tàn trí tuệ. Chống xâm lăng và chống nước thứ ba là hai hành động khác biệt. Nó khác nhau như bóng tối và ánh sáng. Nó rạch ròi như trắng với đen. Lẽ nào ông không phân biệt nổi. Lẽ nào ông lầm. Hay ông định bao che, dung túng. Hay ông định đánh tráo khái niệm.
Một nhà khoa học trẻ khác hỏi: Có nên kiện nước “Lạ” ra tòa án quốc tế không? Ông trả lời: “Mang nhau ra tòa, như bát nước đổ xuống lấy lại rất khó”.
Họ “dạy cho Việt Nam một bài học”. Họ “cho Việt Nam nếm mùi tan vỡ”. Họ chửi: “Chúng mày là lũ du côn của phương Đông”, “Bọn tiểu bá. Quân ăn cháo đái bát”. Không chỉ bằng lời nhục mạ, mà bằng bạo lực. Họ hất đổ bát cơm trên tay dân. Họ đập vỡ hộp sọ dân ông. Giờ đây, họ không những lấy lại được bát nước chan chứa tình đồng chí, mà còn được thêm cả một nồi nước lèo hầm bằng xương thịt của anh chị em ông.
Kiện nhau và giết nhau là hai cung bậc rất xa nhau của tình cảm và hành động. Không lẽ ông lầm.
Kiện họ ư? Ông sợ họ buồn, họ giận. Ông muốn giữ gìn “đại cục”. Ông muốn hiếu hòa. Ông muốn vớt lại chút nước cặn. Nhưng họ phá nhà ông. Họ giết đồng bào của ông. Mà ông vẫn không giận không hờn, vẫn cười tươi, ôm hôn, thắm thiết, vẫn nâng niu, dâng hiến tình đồng chí, cao hơn cả xương cốt của tổ tiên.
Ôi! Đấng Bồ Tát hay Chúa Giê-su cũng chưa thể có lòng từ bi cao thượng được bằng ông.
Bài phát biểu của ông chỉ khoảng chừng 500 chữ, mà có đến sáu lần ông nhắc nhở: “Phải tuân thủ luật pháp quốc tế”, “Trung Quốc vi phạm luật pháp quốc tế”, “Con cháu chúng ta sẽ đòi được theo đúng luật pháp quốc tế”, “Từ trước tới nay luôn theo luật pháp quốc tế”, “Tất cả các giải pháp theo luật quốc tế”.
Chưa bao giờ luật pháp quốc tế lại được tôn trọng ở Việt Nam như hôm nay.
Cách đây không lâu, quốc tế nhắc: Phải tôn trọng nhân quyền. Ông chửi: Câm mồm. Nước ông có định chế riêng. Quốc tế bảo: Không được bắt người, tra tấn, xét xử tùy tiện. Ông cãi: Đừng chúi mũi vào ống khóa nhà riêng. Quốc tế khuyên: Nên có tự do tôn giáo. Ông phủ nhận: Xứ sở ông có tập quán riêng. Quốc tế phàn nàn: Nên tôn trọng tự do ngôn luận. Ông bào chữa: Đất nước ông có nền văn hóa đặc thù
Thì ra ông chỉ dùng luật pháp quốc tế khi nó mang lại lợi lộc cho ông, còn khi mang lại quyền lợi cho người khác thì ông chỉ việc ngồi xổm lên tất cả. Hơn nữa, ông là người ỉa vào luật pháp, đái vào quốc tế, vậy mà bây giờ ông lại kỳ vọng anh bạn vàng chấp hành luật pháp quốc tế sao.
Họ hung hăng, ngang ngược vi phạm luật pháp quốc tế xâm lược biển Đông. Còn ông cũng hung hăng, ngang ngược đàn áp người biểu tình chống quân xâm lược. Hai hành vi này đâu mấy khác nhau.
Có lẽ, tôi đã không viết những dòng này, nếu người nghe ông bữa đó, không phải là những nhà khoa học trẻ. Tôi cũng không viết nếu những nhà khoa học trẻ không khóc xúc động khi nghe ông nói.
Tôi viết vì nỗi xót xa cho tuổi trẻ quê hương tôi tin vào một nền chính trị vừa Điêu trá vừa Tàn bạo.
18 tháng Năm, 2014 © Trần Hồng Tâm © Đàn Chim Việt
Trang sức Trung Quốc nhiễm độc ngập chợ Hà Nội(Dân trí) - Ngay tại thủ đô Hà Nội, các loại nữ trang độc hại này vẫn được bán nhan nhản với giá 50 nghìn đồng/kg.
Theo lời hướng dẫn của một số tiểu thương chuyên bán nữ trang xi mạ ở Hà Nội, muốn mua các loại nữ trang này chỉ cần đến chợ Đồng Xuân loại gì cũng có. Không chỉ thế, giá của các loại nữ trang xi mạ độc hại này cũng rất rẻ.
Hà Nội: Mánh khoé của gái mại dâm tại “phố đèn đỏ” giá bèo (Kỳ 2) Trong vai một tiểu thương đi mua đồ nữ trang xi mạ về bán, phóng viên Dân trí đã được một số tiểu thương tại chợ Đồng Xuân chào bán rất nhiệt tình với giá vài nghìn một dây trang sức. Tuy nhiên, khi phóng viên hỏi về nguồn gốc xuất xứ của các loại nữ trang xi mạ, tiểu thương này lại ấp úng, chối quanh.
Trước đó, theo kết quả kiểm nghiệm của Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3, tất cả các mẫu nữ trang xi mạ xuất xứ từ Trung Quốc mà Trung tâm này kiểm định đều bị nhiễm chì và chứa cadmium (một loại kim loại nặng được xếp hàng thứ 7 trong 275 chất cực độc).
Các chuyên gia y tế cảnh báo, khi đeo các món đồ trang sức xi mạ, mồ hôi từ cơ thể tiết ra có thể phản ứng với các chất hóa học có trong đó và gây kích ứng cho da. Đặc biệt với những người có làn da nhạy cảm, cơ địa dễ dị ứng, có thể rơi vào tình trạng dị ứng từ nhẹ đến nặng với các triệu chứng như mẩn đỏ, ngứa ngáy, sưng tấy, nổi mụn nước. Về lâu dài, nó còn dẫn đến nhiều căn bệnh da liễu nguy hiểm và rất khó điều trị.
Xuân Ngọc
Ngay sau đó Đảng Nhà Nước VNCS cấm biểu tình toàn quốc, “định hướng dư luận”, cô lập những nhân vật từng đấu tranh chống TC xâm lấn VN ngay tại nhà, trong xóm, giải tán mọi tụ tập, bắt nguội, bắt nóng cả sáu trăm người gọi là bạo động, hôi của trong các cuộc biểu tình.
Vấn đề đặt ra là, ai là những người mà Đảng Nhà Nước CSVN đã gọi là bạo động, bạo loạn đốt nhà, cướp của trong các cuộc biểu tình của công nhân trong các khu kỹ nghệ có người ngoại quốc đến làm ăn – để gây tiếng oán cho phong trào biểu tình chống TC hầu Đảng Nhà Nước có lý do để cấm dân chúng biểu tình chống TC.
Dư luận trong nước, Bộ Công an nói do lực lượng thù địch gốc hải ngoại tổ chức sách động. Tổng Liên Đoàn Lao Động của Nhà Nước nói những người kích động có tổ chức rất chặt chẽ: chuẩn bị sẵn cờ, áo thun để phát cho công nhân, photocopy bản đồ tất cả các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, có bộ đàm liên lạc, sử dụng bom xăng để đốt các nhà máy. “Chuyên gia” trí thức ngoại vi của Đảng CS nói do TC tổ chức để phản tuyên truyền chống VNCS.
Nhưng dựa theo thói quen biến thành thành bản tánh thứ hai ( l’habitude est une seconde nature) của công an CSVN chống phá biều tình, có nhiều lý do, căn cứ để tin chính Đảng Nhà Nước CSVN cho công an tổ chức bạo loạn để cấm dân chúng VN biểu tình mà họ lo ngại phong trào đang phát triễn vượt vòng kiểm soát của họ.
Một sự kiện tuy nhỏ nhưng hé lộ trước kế hoạch mật lớn của Đảng CSVN do Đoàn Thanh Niên CS Hồ chí Minh thực hiện trong cuộc biểu tình mấy ngàn người chống TC ở TP HCM. Theo hai chuyên viên biểu tình chuyên nghiệp từ thời Việt Nam Cộng hoà là Huỳnh tấn Mẫm và Huỳnh kim Báu tố giác cán bộ, đoàn viên của Thành Đoàn dùng cờ che những biểu ngữ, bích chương quyết liệt chống TC của dân chúng, dùng loa công suất cực đại át lời phát biểu của các nhân vật tổ chức biểu tình chống TC.
Trò mượn tay người khác làm việc cho mình, “tá tha nhơn chi thủ” của CS trong chiến tranh chánh trị xưa nay không có gì mới lạ, rất tầm thường. CS Trung Quốc và Việt Nam dùng công an giả dạng thường dân hay du đảng để đánh đập, trấn áp người dân biểu tình hay những nhà đấu tranh, bất đồng chánh kiến đi xe gắn máy trên đường phố, là “chuyện hàng ngày ở huyện” như người dân trong nước ví von. Người Việt trong nước gọi những người ác với dân, hèn với giặc này là “xã hội đen” hay “du đảng đỏ”.
Người dân chân chính biểu tình chánh yếu là để bày tỏ lòng yêu nước, chống quân Tàu xâm lăng. Còn xã hội đen hay du đảng đỏ đánh phá, phản biểu tình là làm “nhiệm vụ chánh trị” do Đảng “chỉ đạo” cho công an cánh tay mặt của Đảng, công an giao nhiệm vụ cho họ và họ được “bồi dưỡng” bằng tiền bạc hay điều kiện dễ dàng, châm chế khi chúng làm bậy.
Phân tích cho thấy trước hành động TC đưa giàn khoan không lồ vào thêm lục địa VN, Đảng Nhà Nước VNCS nhận thấy phải làm một cái gì đó nếu không người Việt nghĩ là Đảng Nhà Nước đã thông đồng cắt đất dâng biển cho TC. Đảng Nhà Nước làm lơ, mặc thị để cho dân chúng biểu tình một mức độ nào đó hầu tránh tiếng cho mình và để cho TQ thấy phản ứng của dân để Đảng có điều kiện can ngăn TC nhẹ tay hơn.Chớ Đảng CS hơn ai hết thừa biết làm sao chống nổi TC vì Đảng Nhà Nước quá bị lệ thuộc TC về kinh tế, chánh trị, quân sự.
Nhưng khí thế biểu tình chống TC lan ra khắp nước, toàn dân, Đảng Nhà Nước thấy không thể để cho phong trào vượt ngoài vòng kiểm soát của mình. Đảng thêm lo sợ khi tin tình báo, công nhân ứng lên chống TC tại các khu kỹ nghệ của ba miền nơi TC đến làm ăn nhiều nhứt, cũng là nơi toạ lạc kinh tế xương sống của Đảng Nhà Nước. Thế là theo thói quen đã biến thành bản tính thứ hai, Đảng Nhà Nước cho cánh tay mặt của mình là công an chỉ đạo cho đám xã hội đen, du đang đỏ giả dạng công nhân trà trộn hành động bạo loạn như đã thấy. Để từ đó Đảng Nhà Nước có lý do cấm biểu tình. Cấm biểu tình để lấy điểm “ định hướng dư luận” mà TC đã lịnh từ lâu cho CSVN và để an toàn cho Đảng Nhà Nước.
Cấm biểu tình là một mũi tên bắn ba con chim của Đảng Nhà Nước CSVN. Đối với TC, Hà nội chứng tỏ với quan thầy TC, rằng Đảng Nhà Nước CSVN không có “thông đồng” cho người dân VN biểu tình như báo chí TQ nói. Đó là hành động tự phát của dân. Bằng cớ là Đảng Nhà Nước điều hàng vạn công an, cảnh sát ra trấn áp.
Đồng thời dùng cuộc biểu tình tự phát của dân để ‘than nghèo kể khổ” với quan thầy TC, dân chúng VN đã quá bất mãn, kẹt lớn cho đàn em, xin quan thầy sớm rút giàn khoan, thay vì để tới tháng 8 như đã công bố, cho “chúng em” nhờ.
Đối với người dân Việt, Hà nội mặt này chứng tỏ Đảng Nhà Nước không có thồng đồng với TQ; mặt khác, nhơn cơ hội biểu tình này Đảng Nhà Nước xem xét coi ai lộ mặt lãnh đạo, ai đứng phía sau, nơi nào chống đối mạnh nhứt để bắt nóng, bắt nguội trừ hậu hoạn sau này.
Đối với bàn cờ vùng, Hà nội nhóng thử coi Mỹ phản ứng ra sao sau khi TT Obama công du 4 nước để trấn an một số nước Nhựt, Nam Hàn, Phi, và Mã lai và khẳng định không có gi thay đổi trong chiến lược Mỹ chuyển trục quân sự sang Á châu. Nhưng TT Obama không ghé VN, không nói gì về VN là nước bị TC xâm lấn nhiều nhứt khiến TQ yên tâm tung tàu thăm dò vào vùng đặc quyền kinh tế VN ngay sau đó. Trong biên cố này của VN, Mỹ có lên tiếng nhưng không mạnh, không căng, không phản ứng hành động cụ thể cho máy bay Mỹ bay qua vùng này không cần báo cho TC, sau khi TC tuyên bố lập vùng nhân dạng phòng không trên đảo Senkaku của Nhựt.
Còn người dân VN cố gắng còn nước còn tát, thừa cơ hội làm lơ của Đảng Nhà Nước, tương kế tựu kế, biểu tình khắp các thành phố lớn. Để khích động tình yêu nước của đồng bào. Để huy động nội lực dân tộc. Để tỏ cho Đảng Nhà Nước CSVN đang thống trị thấy tinh thần bất khuất của người dân Việt. Để cho TC thấy thế nước lòng dân bảo vệ giang sơn gấm vóc của người dân Việt. Để cho quốc tế thấy lập trường rõ rệt của dân chúng VN là chống Trung Cộng xâm lăng VN
Nhưng đối với CSVN, mưu thâm thì hoạ diệt thâm. Cái trò CSVN dùng xã hội đen, du dảng đỏ bạo loạn để viện lẽ cấm biểu tình “dâng công” cho quan thầy, bị phản tác dụng, trở thành gậy ông đập lưng ông. TC cao tay ấn hơn CSVN, không tin kiểu tráo bài ba lá của CSVN. TC làm tới, cho tàu rước hàng 3000 người TQ di tản về nước. Khuyên dân TQ ở VN không ra khỏi nhà, không du lịch VN, ngưng một số giao lưu với VN. Mở mặt trận tuyên truyền quốc ngoại đồng loạt biến VN thành một nơi bất an, nguy hiểm. Làm mờ hành động TC ngang ngược đưa giàn khoan vào VN./.( Vi Anh)
Âm mưu phá hoại nhắm vào doanh nghiệp Đài Loan?Tỉnh Bình Dương và Đồng Nai, doanh nghiệp Đài Loan bị các đối tượng phá hoại nhắm đến nhiều nhất.Sáng 21/5, UBND tỉnh Đồng Nai đã thông báo, 131 doanh nghiệp Đài Loan bị tổn thất, chiếm 83% trong tổng số các doanh nghiệp bị thiệt hại trên địa bàn tỉnh trong vụ lợi dụng tuần hành phản đối Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm vùng biển đặc quyền kinh tế Việt Nam để kích động gây rối. Tại Bình Dương, trong số 20 doanh nghiệp bị đốt, doanh nghiệp Đài Loan bị các phần tử xấu kích động và đốt 16 công ty, Việt Nam bị đốt 2 công ty và Trung Quốc cũng chỉ 2 công ty. Phải chăng, kẻ chủ mưu trong vụ gây rối tại Bình Dương có chủ đích nhắm đến các doanh nghiệp Đài Loan? Số liệu của Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Đài Loan là đối tác nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam đứng hàng thứ 4 chỉ sau: Nhật Bản, Singapore và Hàn Quốc. Tổng số vốn đầu tư của Đài Loan đăng ký trên 27,9 tỉ USD. Trung Quốc xếp thứ 9 với số vốn đầu tư gần 7 tỉ USD.  Nhân viên công ty TNHH Giày Duy Hưng (100% vốn Đài Loan) đang khắc phục thiệt hại. Đại tá Nguyễn Hoàng Thao, Phó Giám đốc Công an tỉnh Bình Dương xác nhận: “Trong số những người quá khích, chúng tôi tạm giữ 1.036 người. Sau khi phân loại, 753 đối tượng bị tạm giữ hình sự”. Đối tượng tạm giữ hình sự sẽ bị khởi tố với các hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, “Hủy hoại tài sản của người khác”, “Trộm cắp”, “Chiếm đoạt tài sản” và “Chống người thi hành công vụ”. Đại tá Thao khẳng định: “Dứt khoác những trường hợp này sẽ bị khởi tố và sớm bị đưa ra xét xử để răn đe, thể hiện tính nghiêm minh của luật pháp Việt Nam”. Công an tỉnh Bình Dương đã phân loại và kết quả cho thấy, đối tượng gây rối đến từ tỉnh Cà Mau chiếm phần lớn. Kế đến là các tỉnh: An Giang, Thanh Hóa và Hà Tĩnh. Tỉnh Bình Dương chỉ có 68 đối tượng tham gia vào vụ gây rối trên. Trong số 1.036 đối tượng bị tạm giữ, có gần 600 công nhân và còn lại là các đối tượng hành nghề tự do và bị nghỉ việc tại các công ty. Công nhân có nhận thức hạn chế và dễ bị lôi kéo bởi các thế lực kích động gây rối. Đợt xảy ra bạo động, đập phá và đốt các doanh nghiệp vừa qua, một số đối tượng cầm đầu còn sử dụng bản đồ Khu công nghiệp được vẽ sẵn. Bọn chúng dẫn đầu nhóm công nhân, liên lạc nhau bằng bộ đàm để “chỉ điểm” những nơi cần đập phá và đốt. Rõ ràng, đây là sự phá hoại có chủ đích. Ngay sau khi xảy ra vụ gây rối tại Bình Dương nhằm vào các doanh nghiệp Đài Loan, nhà máy thép Formosa 100% vốn của Đài Loan tại Khu công nghiệp Vũng Áng (tỉnh Hà Tĩnh) cũng bị đập phá và phóng hỏa đốt. Vụ giàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm vùng biển đặc quyền kinh tế Việt Nam, công nhân chỉ thể hiện lòng yêu nước trước hành động ngang ngược của Trung Quốc. Bọn cầm đầu đã lợi dụng cuộc tuần hành để kích động và nhắm vào doanh nghiệp Đài Loan phá hoại. Đài Loan đầu tư vào Việt Nam đã tạo việc làm cho hàng trăm ngàn lao động, góp phần to lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta. Nhất định, kẻ “giật dây” cho những vụ phá hoại trên phải có thù oán với Việt Nam và Đài Loan.
Thời sự trưa 21/5: Mỹ sẽ cung cấp 18 triệu USD cho lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam(VTC News) - Đây là khoản tiền này nằm trong ngân sách hoạt động giành cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Nhà Trắng.Trong phiên điều trần diễn ra tại Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ vào sáng nay (theo giờ Việt Nam), các nghị sỹ Mỹ đã bày tỏ mối lo ngại đặc biệt trước hàng loạt các hành động gây căng thẳng của Trung Quốc trong thời gian qua.
Ngay trong phần hỏi đáp đầu tiên với Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách khu vực Đông Á - Thái Bình Dương, Daniel Russel, nhiều Hạ nghị sỹ đã mạnh mẽ lên án việc Trung Quốc đặt giàn khoan dầu trong vùng biển của Việt Nam và khai hoang trái phép tại bãi đá Gạc Ma.
Ông Russel cho biết, chính phủ Mỹ đã đề xuất khoản ngân sách 1,2 tỷ USD dành cho các hoạt động tại khu vực Đông Á - Thái Bình Dương năm 2015, bao gồm hơn 800 triệu USD cho các chương trình hỗ trợ nước ngoài.
Mỹ dự kiến sẽ cung cấp 18 triệu USD để tăng cường năng lực của lực lượng tuần duyên Việt Nam trong lĩnh vực cứu hộ cứu nạn, ứng phó thảm hoạ và các hoạt động khác.
Mỹ cũng sẽ tăng hỗ trợ cho chương trình Quản trị vì tăng trưởng trọn vẹn (Governance for Inclusive Growth) nhằm giúp Việt Nam thực hiện các cam kết quan trọng trong khuôn khổ Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Để thắng được Trung Cộng
Trần Trung Đạo - Câu nói “Không có đế quốc nào tồn tại mãi mãi” thoạt nghe rất bình thường và hiển nhiên vì lẽ đơn giản trên đời này không có gì tồn tại mãi mãi, tuy nhiên quy luật đó đã được chứng minh rất nhiều lần trong lịch sử bằng bao máu xương của nhân loại. Một đế quốc vừa hình thành ở Á Châu và đang đe dọa cho hòa bình thế giới: Đế quốc Trung Cộng. Đế quốc này sẽ tồn tại thêm được bao lâu và sẽ sụp đổ bằng cách nào vẫn còn là chủ đề được các nhà phân tích chính trị, các sử gia bàn cãi không chỉ trên bên ngoài Trung Cộng mà ngay tại đầu não của cơ chế độc tài. Trung Cộng tồn tại được bao lâu?
Trên cả nước Trung Cộng có một nơi duy nhất được quyền phê bình đảng CS và một nhóm người rất nhỏ trong số hơn một tỉ dân được trao đặc quyền tự do tranh luận về ngày tàn của đảng CS mà không sợ trả thù, nơi đó là Trường Đảng Trung Ương trực thuộc Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSTQ và nhóm người đó là những cán bộ lý luận cao cấp của trường. Trong một biệt điện hoàng gia cũ ở phía tây Bắc Kinh được đổi thành Trường Đảng, một số nhỏ chuyên gia ưu tú nhất của trường dành trọn thời gian chỉ để làm một việc là phân tích mọi sai lầm của lãnh đạo đảng, mọi chiến lược ngắn hạn cũng như dài hạn của đảng, mọi kế hoạch kinh tế, các chính sách đối nội và đối ngoại của đảng. Và câu hỏi chính được đặt ra cho nhóm người có đặc quyền này “Đảng CS sẽ tồn tại bao lâu và những khả năng nào xảy ra sau khi đảng sụp đổ”. Dĩ nhiên mục đích tranh luận không phải để lật đổ chế độ mà nhằm tìm các biện pháp thích nghi ngăn chận kịp thời mọi sai lầm, sơ sót để cỗ máy độc tài khỏi rơi xuống hố như trường hợp Liên Xô. Hiện nay tồn tại hai quan điểm đối lập nhau về tương lai Trung Cộng. Một quan điểm của đảng CSTQ cho rằng Trung Cộng là một nước có biệt lệ về văn hóa chính trị nên làn sóng cách mạng dân chủ tại châu Âu trước đây cũng như Bắc Phi vừa qua không đập vào bờ Trung Cộng. Một quan điểm khác gồm những học giả chuyên về Trung Cộng, trí thức Trung Quốc có ảnh hưởng và ngay cả một số viên chức CS cao cấp có khuynh hướng tự do cho rằng đảng CS phải chết nhưng vấn đề là chết bằng cách nào mà thôi. Điều đó cũng cho thấy, nỗi lo sợ một ngày cơ chế độc tài CSTQ sẽ sụp đổ ám ảnh thường xuyên trong suy nghĩ của lãnh đạo CSTQ và hai yếu tố lớn nhất dẫn đến sự sụp đổ của Trung Cộng vẫn là chính trị và kinh tế. Về chính trị. Bài học Thiên An Môn cho lãnh đạo Trung Cộng biết nguy cơ hàng đầu vẫn là khát vọng tự do của con người. Dân chủ là hướng đi của thời đại. Năm 1900 mở đầu cho thế kỷ 20 trên thế giới chỉ có 12 phần trăm nhân loại sống trong các cơ chế chính trị được gọi là dân chủ. Đầu thế kỷ 21, 120 trong số 192 quốc gia được quốc tế công nhận là những nước được lãnh đạo bởi các chính phủ do dân bầu. Nhiều lãnh đạo CSTQ đổ lỗi sự sụp đổ của Liên Xô lên đầu Mikhail Gorbachev như Giáo sư Shen Zhihua, chuyên viên về Liên Xô của đại học Đông Hoa và cả cựu Chủ Tịch Trung Cộng Giang Trạch Dân từng phát biểu“Gorbachev phản bội cách mạng”. Tuy nhiên họ cố tình không quan sát đến tiến trình chuyển hóa không ngừng của xã hội con người. Giáo sư Archie Brown thuộc đại học Oxford, Anh quốc, trong tác phẩm Sự vươn lên và sụp đổ của chủ nghĩa Cộng sản (The Rise And Fall Of Communism) nêu ra 8 lý do khiến chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ, trong đó lý do hàng đầu không phải là kinh tế hay quân sự mà là sự thay đổi xã hội. Sự chuyển hóa tri thức nhanh hay chậm tùy theo điều kiện mỗi nước nhưng là một tiến trình không thể bị ngăn chận bởi bất cứ một cơ chế độc tài nào. Những nguồn đối kháng từ bên trong các nước CS đã âm thầm lớn mạnh chỉ chờ cơ hội là bùng vở như được chứng minh qua việc 300 ngàn thanh niên Đông Đức tham dự buổi nhạc hội của Bruce Springsteen vào ngày 19 tháng Bảy 1988 và hàng ngàn thanh niên Đông Đức hô to khẩu hiệu tự do muôn năm trên bờ tường Bá Linh tối ngày 9 tháng 11 năm 1989. Sức sống của đất nước cũng như của xã hội là một dòng chảy không bao giờ ngừng nghỉ, các thế lực cầm quyền độc tài chỉ là những khe đá, có thể làm chậm dòng thác văn minh nhưng không thể ngào ngăn chận được. Tóm lai, yếu tố chính tác động vào sự sụp đổ của Liên Xô, hệ thống CS tại châu Âu và sẽ diễn ra tại Trung Cộng cũng như Việt Nam chính là nội lực phát xuất từ xã hội, kết quả của các phong trào xã hội và sự chuyển hóa không ngừng của xã hội. Về mặt kinh tế xã hội. Như lịch sử đã chứng minh sự phát triển của giai cấp trung lưu là nguồn thúc đẩy của cách mạnh dân chủ vì đó là giai cấp có học thức, có phương tiện và có nhiều nhu cầu vật chất cũng như tinh thần cần được thỏa mãn. Cách đây 20 năm, giai cấp trung lưu này không tồn tại nhưng nay là một lực lượng đông đảo và phát triển theo lũy thừa. Thành phần trung lưu chiếm 14 phần trăm dân số thành thị tại Trung Cộng và có lợi tức bình quân từ 17 ngàn đô la đến 37 ngàn đô la. Với hướng phát triển xã hội có tính quy luật đó, theo giáo sư David Shambaugh, giám đốc Chương trình Chính sách Trung Quốc thuộc đại học George Washington sự suy thoái của đảng CSTQ đang diễn ra sẽ giống như các triều đại Trung Hoa trước đây, chiếm đoạt, hưng thịnh và sụp đổ. Trong một tổng kết mới đây The World Bank's International Comparison Program cho rằng Trung Cộng với GDP 2011 là 13.5 ngàn tỉ đô la, sẽ qua mặt Mỹ nhanh hơn dự đoán. Thống kê này dựa trên việc so sánh sức mua tương đương (purchasing power parity) của hàng hóa giữa hai quốc gia. Tuy nhiên nhiều nhà kinh tế không đồng ý vì không thể dùng giá cả của những ổ bánh mì, bao thuốc lá để làm thước đo cho mức độ giàu nghèo giữa hai nước trong lúc những món hàng quan trọng nhất lại không thể mua tại Trung Cộng. Tom Wright của Wall Street Journal ví dụ một cách chính xác và cụ thể, Trung Cộng không thể mua một chiếc tàu, một giàn hỏa tiển hay một chiếc xe Đức đắt tiền mà phải trả bằng một giá hối suất cao gấp nhiều lần. Nếu tính trên phạm vi cả nước, theo phân tích của Global Public Square staff, Trung Cộng không đứng nhất, nhì hay thậm chí 30 mà đứng sau cả Peru. Nhưng dù phát triển kinh tế nhanh, sự phát triển đó vẫn phải đồng hành với các phát triển chính trị, văn hóa để tạo nên một xã hội thịnh vượng hài hòa. Điều đó không tồn tại tại Trung Cộng. Các thành tựu kinh tế của Trung Cộng được đổi bằng sự chịu đựng, hy sinh, mồ hôi, xương máu của nhiều dân tộc khác và ngay tại Trung Cộng hàng trăm triệu dân thiểu số vẫn phải tiếp tục sống trong xã hội tham nhũng, độc tài, nghèo đói, bất công, bạc đãi. Hai nhà lý luận CS Lin Zhe và Chen Shu, thành viên trong nhóm nhỏ của trường đảng có đặc quyền phê phán, mặc dù tin rằng đảng CSTQ sẽ tồn tại lâu cũng thừa nhận tham nhũng kinh tế có thể làm sụp đổ đảng. Bà Lin Zhe dành 20 năm để nghiên cứu phương pháp diệt tham nhũng tại các cấp đảng vì theo bà “Tham nhũng là mối đe dọa nguy hiểm có thể dẫn đến sự sụp đổ của đảng và nhà nước”. Ngọn núi lửa Trung Cộng Tuyệt đại đa số con người không ai muốn chiến tranh và là người Việt Nam lại càng không muốn có chiến tranh. Tuy nhiên, chiến tranh và hòa bình không phải là chuyện muốn hay không muốn mà đó là hai mặt biện chứng nhân quả của một quá trình mang tính lập lại của phát triển xã hội loài người. Sau khi hiệp ước Versailles được ký kết, Thống chế Pháp Ferdinand Foch nhận xét “Đây không phải là hòa bình mà chỉ là cuộc đình chiến hai mươi năm”. Thế chiến thứ hai bùng nổ 20 năm và 65 ngày sau đó. Nhận xét của danh tướng Ferdinand Foch không phải là lời tiên đoán của các ông thầy bói nhưng vì các nguyên nhân kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội dẫn đến thế chiến thứ nhất chẳng những không giải quyết mà còn tác động vào nhau để tạo thành nguyên nhân cho thế chiến thứ hai đẫm máu hơn. Tương tự, Trung Cộng với chính sách cực đoan về cả đối nội lẫn đối ngoại đang là mầm mống cho một chiến tranh khốc liệt tại Á Châu. Đảng Cách Mạng Thể Chế Mexico (Mexico’s Institutional Revolutionary Party) cầm quyền được 71 năm và chế độ độc tài CS Liên Xô tồn tại được 74 năm nhưng cả hai đều đã mất quyền lãnh đạo. Trung Cộng tồn tại đến nay được 65 năm nhưng liệu sẽ thoát ra ngoài sự chi phối của quy luật “không có đế quốc nào tồn tại mãi” hay không. Câu trả lời dĩ nhiên là không. Một khi ngọn lửa chủ nghĩa dân tộc cực đoan Đại Hán như giòng nham thạch đang cuồng cuộn sôi trong lòng núi, khả năng chuyển hóa từ độc tài sang dân chủ một cách hòa bình tại Trung Cộng là một chuyện khó xảy ra. Với các mâu thuẫn bên trong và thù địch bên ngoài vô cùng sâu sắc, không có cách mạng nhung, cách mạng da cam nào mà chỉ có máu chảy ngập đường phố Bắc Kinh, Thượng Hải và các vùng Tân Cương, Ninh Hạ, Nội Mông, Tây Tạng. Việt Nam với quan hệ hữu cơ về chính trị tư tưởng và với vị trí chiến lược trong vùng biển Đông cũng khó thoát khỏi ảnh hưởng đầy tai họa của cách mạng máu. Giáo sư Yuan-kang Wang thuộc đại học Western Michigan viết trong tạp chí Foreign Policy “Nếu quyền lực tiếp tục gia tăng, Trung Quốc sẽ mở rộng ảnh hưởng đến vùng Đông Á. Chính sách này sẽ không tránh khỏi tạo nên sự cạnh tranh an ninh với Mỹ trong khu vực và các vùng chung quanh. Washington đang bước ra khỏi mối bận tâm Iraq và Afghanistan và đang là ‘mấu chốt’ hướng tới Á Châu. Như người Trung Quốc thường nói “Một núi không thể có hai cọp”, nhớ ráng hết sức mình, trò chơi còn tiếp tục”. Ngọn núi lửa Trung Cộng sẽ phun tuy chưa biết chính xác ngày nào. Bài học cho Việt Nam Lịch sử để lại nhiều bài học về chính sách đối ngoại khôn ngoan, nhưng đáng học nhất vẫn là bài học về cách giải quyết xung đột giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Liên Xô. Từ khi thành lập nền cộng hòa Thổ năm 1923, Thổ Nhĩ Kỳ là một nước cô đơn. Chiến tranh với Anh vừa chấm dứt bằng chiến thắng nhưng bị các quốc gia dân chủ Tây Phương cô lập. Quân đội không nhỏ nhưng chỉ được trang bị võ khí còn lại từ thời đế quốc Ottoman và thế chiến thứ nhất. Để được an toàn, chính phủ Thổ kết thân với một anh láng giềng bên kia Hắc Hải cũng đang bị cô lập, đó là Liên Xô. Cuối thập niên 1930, khi Đức Quốc Xã trở thành mối đe dọa, Stalin quyết định phải kiểm soát Eo Biển Thổ Nhĩ Kỳ để ngăn chận các chiến hạm các quốc gia không thuộc vùng Hắc Hải di chuyển qua đó và đề nghị Thổ cùng phối hợp để làm việc này. Thổ từ chối sang nhượng chủ quyền Eo Biển. Stalin khó chịu nhưng vẫn phải tiếp tục duy trì quan hệ hữu nghị với Thổ. Khi Thổ nhích gần tới Anh và Pháp qua việc tham gia Balkan Pact 1934 và Saadabad Pact 1937 do khối Tây Phương chủ trương, Liên Xô công khai bày tỏ quan điểm gọi là “khó hiểu khi Thổ lại thương thảo với những kẻ cựu thù”. Trước tham vọng xâm lược ngày càng lộ liễu của Liên Xô, Thổ Nhĩ Kỳ chỉ còn một con đường duy nhất là đứng hẳn về phía Tây Phương. Tuy nhiên, muốn thân các quốc gia dân chủ Tây Phương, trước hết giới lãnh đạo Thổ phải tiến hành các cải tổ chính trị. Tổng thống Mustafa İsmet Inonu, người tiếp tục chính sách của cố tổng thống Mustafa Kemal Ataturk mở rộng chính phủ theo hình thức đa đảng. Mỹ đánh giá thiện chí của Thổ qua các cải cách chính trị và cũng thấy cần phải tích cực ngăn chận ảnh hưởng Liên Xô trên vùng Hắc Hải, đã gởi chiến hạm lừng danh USS Missouri đến Istanbul vào tháng Tư 1946. Thiết giáp hạm USS Missouri là niềm kiêu hãnh của hải quân Mỹ, từng tham dự hai trận Iwo Jima và Okinawa, và cũng là nơi Mỹ nhận sự đầu hàng của Nhật. Anh theo bước Mỹ, cùng tham gia cuộc diễn tập quân sự trong vùng biển Aegean tháng Chín 1946. Báo chí Liên Xô lên án Mỹ, Anh và cho rằng hai nước này đang thiết lập căn cứ quân sự trong vùng Eo Biển Thổ Nhĩ Kỳ. Mỹ không thừa nhận nhưng cả thế giới lúc đó đều biết Mỹ quyết tâm bảo vệ Thổ Nhĩ Kỳ. Cộng Hòa Thổ Nhĩ Kỳ từ một nước tách ra khỏi một đế quốc tan rã, giành độc lập bằng xương máu chống lại khối dân chủ Tây Phương, bị cô lập, trung lập trong thế chiến thứ hai nhưng đã khôn khéo từng bước xích lại gần với những kẻ cựu thù và cuối cùng được trở thành hội viên của NATO. Để biết ơn và xiển dương các giá trị dân chủ, mỗi năm chính phủ Thổ dành một ngân sách lớn để viện trợ cho các đề án nhằm cải cách dân chủ khắp thế giới. Năm 2012, Thổ Nhĩ Kỳ viện trợ 3.4 tỉ đô la cho 121 quốc gia. Thổ cũng dành riêng 1 tỉ đô la trong ngân sách để viện trợ nhân đạo và được xếp vào hàng thứ tư trên thế giới chỉ sau Mỹ, Cộng đồng Châu Âu và Anh Quốc. Để thắng được Trung Cộng Qua xung đột giữa Liên Xô và Thổ Nhĩ Kỳ chúng ta có thể rút ra bốn điều kiện để thoát ra khỏi sự khống chế và sẽ thắng được Trung Cộng trong trận cuối cùng: Việt Nam phải có dân chủ trước Trung Cộng. Phần đông các nhà phân tích chính trị Việt Nam đồng ý rằng Việt Nam phải có dân chủ mới bảo vệ được đất nước. Điều đó đúng nhưng cần phải nói thêm, dân chủ không chỉ giúp bảo vệ đất nước mà còn để thắng được Trung Cộng. Ngoài ra, dân chủ phải đến sớm, đừng đợi đến khi chiến tranh Á Châu bùng nổ, máu đổ, thây phơi mới đến. Chỉ có một Việt Nam đoàn kết dưới ngọn cờ dân chủ mới thật sự tập trung được sức mạnh tổng hợp của dân tộc và là nền tảng cho một quốc gia dân chủ thịnh vượng lâu dài. Trung Cộng không sợ USS George Washington hay bom nguyên tử mà sợ dân chủ và rất lo “sân sau” CSVN trở thành một nước dân chủ. Vũ khí dân chủ sẽ gây một phản ứng dây chuyền dẫn tới sự tan vỡ toàn bộ cơ chế CS. Một Trung Cộng mênh mông có nguy cơ tan thành nhiều mảnh, chủ quyền ngay tại lục địa còn không giữ được nói chi là chủ quyền trên hai nhóm đảo Hoàng Sa, Trường Sa xa xôi. Đoàn kết dân tộc. Dân chủ là điều kiện tiền đề trong chính sách đối ngoại nhằm tạo sự tin cậy nơi các nước dân chủ Tây Phương nhưng quan trọng nhất là nền tảng của đoàn kết dân tộc. Một dân tộc chia rẽ không thắng được ai. Đây là thời điểm để xác định lại lòng yêu nước. Yêu nước ngày nay không phải là phó sản của chủ nghĩa dân tộc cực đoan hay bùa mê CS mà gắn liền với với quyền lợi sống còn của đất nước và hướng đi dân chủ nhân bản của thời đại. Trong cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Iraq, nhiều người nghĩ kẻ có lợi nhiều nhất sẽ là dân tộc Kurds. Nhưng không, họ là những người chịu đựng thiệt thòi nhiều nhất. Trong chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, Saddam Hussein tàn sát không thương tiếc các cuộc nổi dậy của nhân dân Kurds ly khai trước sự làm ngơ của Mỹ. Nhiều nhà phân tích cho rằng Mỹ phản bội lý tưởng độc lập của nhân dân Kurds. Điều đó chỉ đúng một nửa. Nửa còn lại là sự phân liệt vô cùng trầm trọng trong tập thể 35 triệu Kurds sống trong nhiều quốc gia vùng Tây Á. Một dân tộc chia rẽ, cấu xé nhau, không có một hướng đi chung, không thể vận dụng được sự ủng hộ từ quốc tế và cũng không xứng đáng để được quốc tế ủng hộ. Tương tự, Mỹ bỏ 900 tỉ đô la hay 3 ngàn tỉ đô la tùy theo cách tính và 4486 nhân mạng để lật đổ Sadam Hussein, không phải chỉ nhằm đem lại hòa bình dân chủ cho nhân dân Iraq. Tuy nhiên, nếu là một dân tộc khôn ngoan, đây là cơ hội giúp Iraq vượt qua những khó khăn trong vài năm nữa trở thành một cường quốc trong thế giới Ả Rập và nếu họ không làm được thì cũng đừng đỗ thừa cho Mỹ, đổi tội cho Saddam Hussein mà phải trách ở chính mình. 3. Chủ động chiến lược hóa vị trí quốc gia. Việt Nam chỉ trở thành một vị trí chiến lược sau khi Trung Cộng thôn tính toàn lục địa Trung Hoa 1949 nhưng trước đó thì không. Tương tự, Ai Cập trước 1976 không quan trọng hơn Thổ Nhĩ Kỳ hay Iran nhưng sau khi Tổng thống Anwar Sadat bỏ đồng minh Liên Xô để bước sang phía thế giới tự do, Ai Cập trở nên một đồng minh chiến lược của Mỹ ở Trung Đông và được viện trợ ít nhất 1.5 tỉ đô la hàng năm từ đó đến nay. Vì lợi ích kinh tế cũng như về các giá trị nhân quyền, Mỹ mong muốn được thấy Trung Cộng trở thành một quốc gia dân chủ trong một châu Á và Thái Bình Dương ổn định. Trung Cộng là nhà băng của nhiều quốc gia trên thế giới kể cả Mỹ, nhưng không giống như các công ty tài chánh Lehman Brothers hay Merrill Lynch, khủng hoảng chính trị tại Trung Cộng sẽ gây tác hại vô cùng trầm trọng đối với nên kinh tế thế giới không thể đo lường được. Biết chủ động chiến lược hóa, quốc tế hóa, quan trọng hóa vị trí của quốc gia cũng như biết khai thác mối lo của cường quốc sẽ làm cho vị trí của quốc gia quan trọng hơn trong tranh chấp quốc tế. Trái lại, chủ trương của lãnh đạo CSVN “không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia” là chủ trương tự cô lập, không đúng về lý thuyết lẫn thực tế chính trị và sẽ chết tức tưởi trong cô đơn mà không được ai ngó ngàng. 4. Đoàn kết với láng giềng cùng hoàn cảnh và tham gia các liên minh tin cậy: Việt Nam đang đứng trước những ngã ba, ngã năm trong bang giao quốc tế nhưng dù bao nhiêu ngã cũng chỉ có thể đi trên một con đường trong một thời điểm nhất định. Sự liên minh khôn khéo trong nhiều trường hợp giúp quốc gia tránh được chiến tranh hay có thêm thời gian để chuẩn bị chiến tranh. Giáo sư Alastair Smith thuộc đại học Washington University đã công thức hóa toán học nhiều mô thức liên minh trong lịch sử bang giao quốc tế và kết luận các quốc gia có những liên minh không đáng tin cậy sẽ dễ bị tấn công hơn là các quốc gia có sự liên minh tin cậy. Hiện nay tại Á Châu có bốn liên minh quân sự gồm ba liên minh tin cậy Mỹ-Nhật, Mỹ-Phi, Mỹ-Nam Hàn và liên minh SCO về biên giới gồm Trung Cộng, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Russia, Tajikistan và Uzbekistan. Khi chảo dầu Á châu được đun nóng hơn, nhiều liên minh quân sự mới tương tự như Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á (SEATO) trong thời chiến tranh Việt Nam sẽ ra đời. Đối với Mỹ, vùng biển Đông Á là huyết mạch kinh tế lẫn an ninh của các nước đồng minh với Mỹ như Nhật Bản, Nam Hàn, Philippines, Indonesia, liên minh được với Mỹ vừa có thể thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa đất nước vừa bảo đảm an ninh. Bốn điều kiện để thắng được Trung Cộng chỉ có thể thực hiện nếu lãnh đạo là những người thực tâm vì đất nước. Điều đó không có tại Việt Nam. Rồi mai đây, sau trận đánh ghen HD-981 này, lãnh đạo CSVN lại lên đường sang Bắc Kinh triều cống, lại 16 chữ vàng, lại ca ngợi tình đồng chí, nghĩa anh em thắm thiết. Cơn hờn giận giữa hai đảng CS theo thời gian có thể sẽ nguôi ngoai nhưng trên các vùng biên giới, trong lòng biển Việt Nam, máu của ngư dân Việt Nam, của người lính biển Việt Nam sẽ không ngừng chảy. Dân tộc Việt Nam lại bị đảng dắt đi vòng vòng trong ngõ cụt tối tăm như đã và đang đi suốt 39 năm qua. Do đó, chọn lựa một lối thoát, một hướng đi cho đất nước không phải là chọn lựa của lãnh đạo CSVN nhưng 90 triệu người dân Việt Nam phải can đảm đứng lên quyết định vận mạng chính mình. Trần Trung Đạo
|
|