Giàn Khoan : Thử Tình Việt Cộng ? Đo Lòng Việt Ta ? Trả Nợ hay Bán Nước Phan Văn Song
Cuối tuần, chúng tôi nhận được vài cú điện thoại cằn nhằn chúng tôi về bài viết trong tuần qua của chúng tôi, trách chúng tôi đã quá lời, đụng chạm đến nền văn hóa Việt Nam cổ truyền Khổng-Mạnh- Nho-giáo (Chệt-Tàu). Trách rằng chúng tôi đã quá lời và quá khích khi dám ví hai ông Tàu râu dài Khổng Tử và Lão Tử với hai ông Tây râu xổm Các Mác-Karl Marx và Lê Nin-Lénine. Trách chúng tôi sao dám để bốn ông râu dài nói trên ngang hàng nhau, bằng buộc bốn ông cùng một tội phá hoại nền văn hóa Đại Việt của Dân tộc Việt, viện lý rằng : tuy hai ông Tàu râu dài, đã một thời gian dài gần 2000 năm (với riêng một 1000 năm hoàn toàn do Tàu đô hộ), được dùng làm vũ khí để Hán hóa nền Văn hóa và Văn minh Đại Việt - đây phần đồng ý với chúng tôi -, nhưng lại buộc chúng tôi phải nhìn nhận công trạng hai ông tàu râu dài ấy, vì nó to lắm, vì đó là công trình tạo và gìn giử cương thường đạo lý người Việt, tạo dựng toàn bộ cả một nền tảng cho Văn hoá Việt ( Làm như người Đại Việt chúng ta không có cương thường đạo lý cho một nền tảng riên biệt, đặc biệt thuần túy Việt vậy !). Trái lại đồng ý với chúng tôi rằng hai tên Tây râu xồm, đã sau thấm thoát tròn trèm 70 năm do Đảng Cộng sản quốc tế dùng bình phong để đô hộ dân Việt ta chỉ có mang hại đến Việt Nam ta thôi ! Hoàn toàn đồng ý, cám ơn và hoan hô quan điểm Chống Cộng của phe ta ! Để trả lời, chúng tôi nhìn nhận quan điểm chúng tôi có thể quá khích đối với cái nhìn của quý vị ấy, nhưng chúng tôi vẫn quả quyết giữ lập luận, khăng khăng nhấn định và ký tên nhất định (nói như tây, je persiste et je signe) giữ quan điểm nêu trên, tiếp tục tố cáo và quả quyết chứng minh rằng nền Văn Hóa Việt Nam, và cả nền Văn Minh Việt Nam trong suốt thời Quân chủ và Phong kiến - để riêng 1000 năm Bắc thuộc đô hộ văn hóa Tàu là chuyện chẳng đặng đừng, xin chỉ nói từ thời Ngô Quyền giải phóng khỏi ách Tàu vào những năm 900 sau Tây Lịch khởi đầu thời đại Độc Lập và Tự Chủ thôi - các tiền nhơn chúng ta, mặc dù yêu nước mặc dù cố gắng giữ và cũng cố tinh thần Đại Việt vẫn bị Hán hóa bởi ảnh hưởng nặng nề của một nền giáo dục do các quan lạimặc dù người ại Việt, mặc dù có thể yêu nước, nhưng thường thường nhầm lẫn bởi được giáo dục trong văn hóa Tàu-Chệt-Khổng-Mạnh, chỉ biết phục vụ Chúa hay Vua, lẫn lộn Chúa Vua - Chánh quyền và Tổ quốc, dùng quan niệm và đầu óc Hủ-Nho-Tàu-Chệt áp đặt, kềm chế và chi phối từ tinh thần trí tuệ đến tập tục,. lễ nghi của người Đại Việt, từ trong Triều đình, Lăng Miếu đến Đình làng, Chùa Miểu. Suốt từ những năm 900 đến những năm 1900, gần 1000 năm, mặc dù nước nhà đã độc lập, tự chủ, các quan lại Hủ Nho Tàu Chệt, qua nhiều thế hệ, qua nhiều triều đại, lắm khi có cả triều đình, hoặc triều đại sử dụng Nho học làm vũ khí chánh trị, thậm chí có cả những Nhà Vua tự mãn tự tôn tự đại dùng cả thuyết Nho học để trị dân (thí dụ Vua Tự Đức, một ông Vua vốn tự hào và được ca tụng là một ông Vua hay chữ vì giỏi làm thơ chữ …Nho tức là chữ Tàu !) …dùng chữ viết Tàu, tư tưởng Tàu để ngự trị đầu óc, tinh thần văn hóa người Đại Việt. Chẳng những dùng chữ viết, văn học (tôi không nói văn hóa) Tàu để cai trị mà còn dùng cả lễ giáo Tàu để giáo dục dân trí và cai trị, quản trị dân tộc Việt ta nữa. Lịch sử chúng ta, may quá, cũng có một vài thời gian khác may mắn hơn được vài vị anh vương biết dùng đạo lễ Phật Giáo đễ làm dịu phần nào ảnh hưởng của lý thuyết Khổng Nho - đó những dấu ngoặc dưới hai triều Lý Trần, hay ở Đàng Trong dưới các triều đại các Chúa Nguyễn, hay những cố gắng của triều đình Vua Quang Trung. Các nhà sử học Việt Nam xưa hoặc nay vẫn không công bằng, không đánh giá đúng những cố gắng của vài vị quân vương ái quốc cố tạo sự độc lập của dân tộc Đại Việt bằng khuyến khích sáng tạo chữ Nôm hoặc đặc biệt là dùng chữ Nôm trong các văn kiện hành chánh, Nhà Hồ hay Nhà Tây Sơn thí dụ, nhưng rất tiếc không được đánh giá đúng tầm vóc ! 1/ Từ một tài liệu xưa chứng minh sự bán nước : Vừa qua một anh bạn gời cho chúng tôi một tài liệu dưới đây : Đọc xong, chúng tôi nghẹn ngào, hết nói, dù tuy bao nhiêu năm vẫn có những nghi ngờ, nhưng nay có bằng chứng rõ ràng càng đau lòng quá ! Xin cám ơn anh bạn đã cho một tài liệu rất quý giá chứng minh rõ ràng Hồ Chí Minh và các đệ tử Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh …đúng là những tay bán nước cỏng rắn cắn gà nhà. Lúc trước khi biết tài liệu nầy chúng tôi thường đánh giá Hồ Chí Minh chỉ là một tay phá hoại văn hóa - khi đã cải biến thay thế những chánh tả chữ viết thông dụng bằng kiểu « chảnh tả mới » do lão ta tự chế như f thay ph, z thay d, j thay gi, k thay c… người viết chúng tôi chỉ nghĩ lão ta muốn lập dị thôi ! Nay đọc tài liệu nầy do chính Trường Chinh viết, được báo Tiếng Dội đăng, chúng tôi mới rõ ràng là Hồ Chí Minh và các đồng bọn khi từ chối công trình của các linh mục Dòng Tên - đã tìm ra cách viết chữ Việt bằng mẫu tự la tinh, giúp người dân Việt thoát khỏi chữ viết Trung Hoa, và đặt biệt nhờ mẫu tự la tinh, và cách ráp vần, đánh vần đã giúp cho người dân việt thoát nạn mù chữ dễ dàng tiềp cận với văn hóa - là một kế hoạch chánh trị. Cộng sản Việt Nam chối bỏ chữ viết quốc ngữ theo mẫu tự la tinh để trở về với chữ Tàu chỉ muốn chúng ta người dân Việt hoàn toàn nô lệ văn hóa Tàu. Tài liệu còn ca tụng, khen cách chửa bịnh kiểu Tàu, gọi Tàu là thầy, khen Tàu là văn minh số một của thế giới. Trường Chinh và đồng bọn quên rằng cũng vì theo nền văn hóa Tàu mà đầu óc các quan lại Hủ-Nho Nhà Nguyễn ngu tối tụt hậu đến nổi phải sắc thuốc cho súng Thần công – Thần công kẹt đạn, hay thuốc súng ướt, không bắn được – trong khi ấy hải quân lục chiến quân Pháp và Y Pha Nho đổ bộ đánh thành Huế, nên mới thua trận, mất Huế, mất thủ đô, mất quê hương, mất Độc lập, nước Nước. ( Chỉ với 40 tên lính thủy quân lục chiến mà Hải quân Pháp đã đánh tan một đạon quân của quân đội của một quốc gia nhứt nhì hùng mạnh của Đông Nam Á lúc bấy giờ). 2/ Đến những sự kiện ngày nay của sự bán nước : Từ ngay những ngày đầu của Triều đình Cộng sản Việt Nam, ngay những năm 1946, không năm nào không có những đi lại, xin xỏ, khi đi sứ, khi cầu cạnh, mua quan bán tước, xin ghế, xin tiền, xin súng, xin đạn … của các nhà đầu xỏ Đảng Cộng sản Việt Nam đi sứ sang chầu Triều đình Cộng sản Tàu. Mỗi mỗi hành động, mỗi mỗi quyết định đều phải được Quan thầy Trung Cộng bật đèn xanh. Vì vậy tháng năm, năm nay 2014, khi giàn khoan được đặt vào lãnh hải Việt Nam, ấy là chuyện ép buộc đã rồi, hay chuyện đã được thỏa thuận ? Chuyện đã rồi ? do Công ty Quốc doanh CNOOC Tàu, do Đảng Cộng sản Tàu làm chủ làm ẩu ? Chánh quyền Cộng sản Tàu không biết ? - Xạo ! Đại Xạo ! Láo khoét ! một giàn khoan to như một sân đá banh, nặng không biết bao nhiêu ngàn vạn tấn, không tự động di chuyển, không tự điều khiển trên biển được, phải do nhiều tàu kéo, cả một đoàn tàu kéo, và kéo rất chậm, đi từ hải phận gần Hong Kong xuống Nam vào hải phận Việt Nam gần Quảng Ngải, đi cả tuần lễ, có thể nhiều tuần lễ, không thể một sớm một chiều là đến. Nhưng tại sao chỉ đến sáng ngày 2 tháng năm ngủ dậy Đảng Cộng sản Việt Nam mới la hoảng và bớ hàng xóm láng giềng, thế giới Đông Tây : giàn khoan đến nhập nhà tôi rồi ! ối bà con ơi ! Nhưng tại sao phải la làng ? Có phải la làng để chửa thẹn bán nước ? Hay la làng để vừa đánh trống vừa ăn cướp ? Tâm lý, lý luận Việt Cộng, Tàu Cộng, của người phương Bắc quá phức tạp và cầu kỳ đối với cái giáo dục văn hóa bộc trực và lương thiện của đất Nam Việt dạy cho cá nhơn chúng tôi, nên chúng tôi xin miễn bàn ! Xin trả cái tâm lý phức tạp ấy cho những người phức tạp. Xin trả lý luận Cộng sản cho người Cộng sản ! Xin trả tất cả việc ấy cho các người miền Bắc ! Hà nội và Bắc Kinh Chúng tôi chỉ tố cáo hành động xâm lược của Tàu cộng và thái độ đồng lỏa cùng hành động Bán nước của Đảng Cộng sản Việt Nam thôi ! Bán hai lần : 1/ Việt Cộng đã bán nước Việt Nam bằng nhờ quân Tàu đánh Tây giùm mình cướp được nửa nước Việt Nam năm 1954 – anh hùng quân đội Việt Minh bấy giờ là anh phu dân quân đẩy xe thồ tiêp tế, là anh dân quân làm phu kéo pháo, là người anh hùng xung phong biển người, là người anh hùng dùng thân bịt đầu súng địch, là những anh hùng vắt mình trên hàng rào giây thép gai, hay phơi thây nơi chiến hào ; chứ anh bộ đội bắn, anh nhân quân pháo, anh chiến sĩ giết thù, anh sĩ quan tham mưu, anh tướng lãnh chỉ huy bày binh bố trận là các đại đồng chí …Tàu. Tất cả những hình ảnh oai hùng được Ban tuyên truyền tổng hợpđội lốt cải trang thành người Việt Nam dưới tên tuổi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người anh hùng Điện Biên Phủ. 2/ Việt Cộng cũng đã bán nốt toàn bộ nước Việt Nam khi nhờ quân Tàu đánh Mỹ giùm mình. Quân đội Nhơn dân Việt Nam thật sự chủ yếu là dân quân gồng gánh vượt núi vào Nam, sanh Bắc tử Nam. Nào là những anh hùng dân phu xẻng cuốc xẻ Trường Sơn, đắp đường mòn Hồ Chí Minh. Nào là những anh hùng chiến sĩ, chân xích vào đại liên để « chết hôm qua, chết nghẹn ngào ( cf Trịnh Công Sơn) trên những bìa chiến hào, dọc theo biên giới ». Nào những anh hùng xung phong biển người phơi thây, bỏ xác, vắt thân trên những hàng concertina, hay nát thân bởi mìn claymore hay đạn chụp… Chứ thật sự, chủ lực quân đội, phi pháo, xạ thủ Sam, phi công Mig, tên lửa, hải quân, đại pháo, đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào là quân đội Cộng sản … Tàu. Đó là sự thật ! Sự thật do những tài liệu mới nhứt do Tàu giải mật vừa qua để tính sổ kết toán chi phí chiến tranh (hai lần). Đảng Cộng sản Tàu đã dùng nhân dânTàu giúp cho Đảng Cộng sản Việt Nam hy sanh nhân dân Việt Nam, hai miền - cướp toàn bộ chánh quyền và nhuộm đỏ, Hán hóa miền Nam, vựa lúa Đông Nam Á để dâng cho Thiên Triều Hán tộc - khắc chi Tân Đế Quốc Nga Hoàng Poutine ngày nay đang chiếm đoạt Ukraine là vựa lúa miền Tây vùng Caucase vậy. Vì món nợ ngập đầu nầy, gần 1000 Tỷ Mỹ Kim, nên ngày nay phải mất nước phải dâng đất, phải dân biển chỉ vì phải : Trả nợ : Từ bấy lâu, những cuộc đi sứ, đi hầu, những ký kết, tuyên bố, từ khẩu hiệu 4 Tốt 16 Chữ vàng, đến cả công hàm Phạm Văn Đồng chỉ là những làm hào dáng bề ngoài chẳng đặng đừng nói cho có vẽ, nói để bịp dư luận quốc tế, bịp dư luận người dân Việt ta thôi ! Ra dáng tưởng rằng Việt Tàu là hai quốc gia, nói để mà nói, nói cho vui miệng thôi !. Sự thật, Trung Cộng đã toàn bộ chinh phục Việt Nam từ lâu rồi, Tàu và Việt Nam tuy hai là một, tuy một mà hai.. Đảng Công sản Mác Lê, là một. Staline, Mao, Hồ là những chi nhánh. Staline bị hạ bệ, nay chỉ còn Mao Hồ mà Hồ là Lý Thụy, là cán bộ Cộng sản Tàu ! Làm sao dối trá được ! Làm sao trốn tránh được ! Thật là : nợ tình, nợ nghĩa, Đảng là cha mẹ, nên nợ cả cái trung, nợ cả chữ hiếu, cái khó cho Đảng sản Việt Nam ngày nay là vậy ! Công Đảng như Núi Thái Sơn, Nghĩa Tàu (Mẫu quốc) như nước trong nguồn chảy ra ! Hội Nghị Thành Đô năm xưa với 4 Tốt, 16 Chữ Vàng chỉ là cái hâm nóng, cái xào lại, của một cuộc tình duyên dang dỡ sau cuộc ly dị giữa cha Nga mẹ Tàu và thằng con lai Việt Cộng, và để làm một cái giao kèo buộc chặc thằng con vào bà mẹ. Cuộc chiến, bài học năm 1979, thật sự chỉ là những cái tát tai để trị thằng con vốn con riêng của mẹ Tàu – đã hy sanh bao xương máu - mà bày đặt phản mẹ, vọng ngoại, vọng thằng cha ghẻ phương tây, chạy theo phú quý của thằng Nga cưởng lại bà mẹ ruột Tàu đó thôi ! Hội nghị Thành Đô là nhắc nhở, là đặt lại, là nói rõ những ràng buộc, điều lệ, bổn phận cho các lãnh tụ mới của Cộng sản Việt Nam lớp đàn em vừa lên ngôi (Nguyễn Văn Linh và tiếp theo), và cũng là bài học nhắc nhở lại những gì những thằng lớp đàn anh trước ( nhóm Lê Duẩn, Lê Đức Thọ …) đã quên. Nhắc nhở nhưng cũng tiện tay đưa cái bill-cái facture-cái giấy tính tiền cho các lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam mới luôn thể. Và theo bill, theo giấy tính tiền, giá nợ to lắm - gần một ngàn tỷ dollars Mỹ - ấy là chỉ tính sơ sơ từ thời Điện Biên Phủ đến lúc chiếm miền Nam thôi ! Trước đó và sau đó cho không, miễn phí, free… miễn không tính, không tính những ngày nuôi ăn nuôi ở Hồ Chí Minh, không tính tiền tặng gả cô Tăng Tuyết Minh để sưởi ấm tấm thân và cỏi lòng tên Lý Thụy- Hồ Chí Minh trong những ngày giá lạnh mùa đông Hoa Lục ! Rồi nào công cứu khỏi bị người Anh bỏ tù, rồi huấn luyện, rồi chi phí huấn luyện và nuôi cả bầy các đệ tử đàn em …cho súng, cho tiền, cho bạc, …cho nhiều thứ lắm. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam là dân vô tình, hay vô hậu, xem chẳng ra gì những giúp đở đấy, và quên hết. Trái lại còn la hoảng ba cái chuyện Hoàng Sa và Trường Sa mà tay Thủ tướng Phạm Văn Đồng, tên ấy là tên biết ơn biết nghĩa đã ký tặng và nhìn nhận là của Tàu. Đáng lý ra, Việt Nam phải biết xem thường, xem như pha, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ ấy, chỉ vài quần đảo san hô đầy cức chim - thật sự là phosphate một của báu có thể xuất cảng lấy ngoại tệ được ( bà con nhớ hảng Phosphate d’Alsace thời tây với hình con cò) – mà còn trái lại bày đặt, đặt thành một vấn đề quốc sự ! Tàu chết cả vạn dân, tốn gần ngàn Tỷ dollars Mỹ và cả chục vạn quân không than vãn. Việt Nam chỉ hai lần -1974 và 1988, hy sanh chưa đầy 200 hải quân – mà gần phân nửa là của phe miền Nam- mà càm ràm xuống đường biểu tình chống Tàu đòi đảo. 3/Vì thế, người Việt thật sự Việt Nam, thật sự yêu Nước, hãy cảnh giác : Chúng ta đừng thấy những tuyên bố ngày nay của Thủ tướng Nguyễn Tân Dũng vừa qua mà tưởng bở, chúng ta đừng vội mừng khi phó Thủ tướng Phạm Bình Minh « được » tên Ngoại trưởng John Kerry, tên cộng sản Mỹ điện thoại thông cảm và chia sẻ đau khổ và nổi nhục mất nước, hay hí hửng khi được biết Tập Hoàng đế Tàu « chê » không tiếp Vua Phú Trọng của triều đình ta ! Tất cả là tuồng hát, tuồng hát đang được viết từng hồi, đây là chuyện dài nhiều hồi, loại feuilleton, được viết theo từng hồi một, và theo dõi thị hiếu người dân và bạn đọc. Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng và Ngoại Giao đoàn Việt Cộng được phân công, lãnhvai trò « nhiệm vụ phản đối ». Còn các thành phần khác ? vai trò gì ? ở đâu ?làm nhiệm vụ gì ? Giàn Khoan ngoài biển leo thang, cấm đến gần 1 hải lỳ, 3 hải lý, 7 hải lý, Trong bộ, quân Tàu đem 300 ngàn quân ép sát biên giới. Phe Hà nôi cũng chuẩn bị ra quân rầm rộ. Và vì nước nhỏ được thương được cảm tình, và cũng dịp mượn luồng gió « ghét Tàu », Hàn, Nhựt, Phi, Tây, Mỹ, « hội đồng » ủng hộ Việt Nam. Thế là phe ta, từ người Việt Hải ngoại tỵ nạn ở xứ tự do, đến người Việt quốc nội ở tù trong nhà tù lớn Cộng sản « hồ hởi-phấn khởi » kháu nhau rằng kỳ nầy thằng Tàu thua tio rồi ! Coi chừng, còn lâu mà các quốc gia bạn ta thương ta đến sẳn sàng thí con, thí dân « chết cho Việt Nam » ! Chỉ có người Việt thương người Việt, vậy ta phải sẳn sàng chết cho quê hương mình ! Nhìn Đảng Cộng sản Việt Nam đang giở trò hai mặt, một mặt la hoảng, một mặt nằm im, chờ thời, hay thương thuyết. Cũng đừng quên, ngày nay Tàu đang có cả một đạo quân thứ năm nằm trong lòng Việt Nam. 40 năm xâm nhập, người, nhà máy, công trường …Mặt nổi thợ thuyền, công nhơn, hiệu buôn lớn…Mặt chìm, người dân Tầu Kiều, tiệm tạp hóa, tiểu thương, người bạn Tàu, người rễ Tàu, cô dâu Tàu… Tóm Lại Để Kết Luận : Đó là lực lượng thứ năm của Tàu ! Nhưng ai cấm ? Đó cũng là những hostages-con tin-bình phong của Việt Nam. Và Việt Nam Ta có thể : Một mặt bắt một ít – có khi cũng có những Hoa Kiều tự nguyện – xin cám ơn trước, lập một nhà tù lớn một doanh trại, nằm ngay biên giới, làm bình phong hàng rào chống xe tăng Trung Cộng. Một mặt đuổi về nước trục xuất tất cả ( tất cả là tất cả) Tàu Kiều, kể cả những tập đoàn thương mại, công xưởng, công trường kỹ nghệ, nhà máy,. . Trục xuất luôn Sứ quán, đoạn giao. Ngoài biển Tàu đòi 7 hải lý xa giàn khoan.Trên bộ Ta buộc 7 dặm xa biên giới Ta. Đảng Cộng sản Việt Nam chớ quên hồi xưa đã dùng dân chúng miền Nam Việt Nam làm bình phong để xung phong cướp trại quân đội Việt Nam Cộng hoà. Quên sao trong những biểu tình Sài gon, bao nhiêu lần Việt Cộng xúi dân, núp sau dân, để phá bỉnh phường xóm, chợ búa an lành ? Nghề bình phong là nghề của các Người, ngày nay các Người Việt Cộng hãy làm đi ! Ít ra sau bao nhiêu năm cầm quyền các Người hãy làm một việc hữu ích, can đảm. Đừng dùng đòn kinh tế hù dọa dân chúng ! Dân Việt Nam nghèo, nhưng Đảng Cộng Sản và đảng Viên Cộng sản rất giàu. Tất cả tài sản Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay đủ sức nuôi toàn dân Việt Nam ăn uống cần kiệm trong vòng ít nhứt một năm. Và …quan trọng hơn Các Người Cộng sản hãy từ chức, để người Dân chủ cầm quyền. Từ chức thì hết nhiệm vụ (nhưng không hết trách nhiệm đâu nhé ! vì tội phá phách vẫn còn trừ phi … ?) Đảng Cộng sản Việt Nam từ chức thì Việt Nam HẾT NỢ. Nờ nần do Hồ Chí Minh, nợ nần do Phạm Văn Đồng, 4 Tốt 16 Chữ Vàng là giữa Hai Đảng cam kết ký với nhau ở Thành Đô. Hết Đảng Cộng sản Việt là hết đối tượng thiếu nợ. Còn nếu sợ Việt Nam và dân Việt Nam tiếp tục mang nợ, vì kế vị, phải tiếp tục gia tài ? . Thì Xin Người Dân Lật Đổ Các Người Đi ! Hãy Làm Một Cuộc Cách Mạng ( Muốn Ôn Hoà ? Nên tổ chức một cuộc Cách Mạng thì may ra kiểm soát được đấy !). Nhưng nếu chẳng may, gặp dân quá giận, hay quá khích thì Xin Ba Anh Đầu Xỏ ngày nay Hy Sanh cho Tý Máu Tý Huyết, gọi là Hy Sanh Cho Đại Nghĩa. Rủi Có Chết, Xin Thay Mặt Người Dân, Chúng Tôi Xin Đề Nghị Người Dân « Hứa Cho Phép Bà Con Cúng Mấy Anh, Gọi Là Trả Cái Lòng Cải Thiện Của Các Anh » ./. Mong lắm ! Đây là mong muốn của một thằng con già trên đất người. Mong cho Đại Nghĩa! Mong cho Đại Việt ! Mong cho Toàn Vẹn Lãnh Thổ ! Hẹn ngày mai ở Sài gòn, To morrow, See You in Saigon ! Hồi Nhơn Sơn, (đã) cuối tháng năm, năm mất nước thứ 40 (rồi! ) Phan Văn Song CSVN là đám tội đồ của dân tộc! BS Nguyễn Văn Hiền Nước Việt Nam ta trải qua 4,000 năm lập quốc và dựng nước, đã bao lần bị xâm lăng bởi ngoại bang, nhất là quân Tàu. Có những lần tưởng như là không còn có cơ hội tồn tại, nhưng với bản năng quật cường, lòng gan dạ và sức chịu dựng gịan khổ bền bỉ, dân ta đã nhiều lần nổi dậy chiến đấu chống quân thù, giành lại nền độc lập cho nước nhà.
Ngoài các vị anh hùng hào kiệt và quân dân đã chiến đấu dũng cảm và chịu hy sinh để cứu nước, còn có những kẻ ích kỷ vì quyền lợi cá nhân, và giòng họ, đã bán rẻ anh em và đồng bào, cõng rắn cắn gà nhà khiến dân ta chịu nhiêù nhục nhằn khổ sở.
Sử gia Trần Trọng Kim đã viết “Người An Nam hay có tính ỷ lại, có việc gì chỉ muốn nhờ người khác chứ tự mình không muốn làm lấy. Họ không hiểu rỏ nghĩa dân với nước, nhà nào lên làm vua thì coi cả nước là của riêng của mình, hễ ai lấy mất thì cố tìm cách, dù là đê hèn như cầu viện ngoại bang để lấy lại. Họ có biết đâu rằng, quân Tàu thật dã man, sau khi chiếm được nước rồi, thì họ bằng mọi cách cướp phá bằng hết không một chút thương sót người đồng loại”.
Để tưởng nhớ các vị anh hùng đã cứu nước và cũng để nhớ lại những trang sử oanh liệt của tiền nhân, chúng tôi xin tóm luợc những cuộc nổi dậy chống quân Tàu xâm lược.
Cuộc khởi nghĩa của Hai BàTrưng:
Viên thái thú Tô Định đời Quang Vũ nhà Hán cai trị nước ta thật là bạo ngược. Năm 40, Tô Định giết ông Thi Sách là chồng bà Trưng Trắc. Bà Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị, con gái quan Lạc Tướng ở huyện Mê Linh, Phúc Yên, đã hô hào dân chúng nổi dậy chống quân xâm lược. Lúc bấy giờ các quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố cũng nổi lên theo hai bà vì không chịu nổi sự cai trị hà khắc của quân Tàu. Sau khi đánh đuổi được quân Tàu về nước, hai bà xưng làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Ba năm sau, hai bà bị Mã Viện đánh thua, phải nhảy xuống sông Hát tuẫn tiết.
Cuộc khởi nghĩa của bà Triệu năm 248:
Bà Triệu tên là Triêu Thị Trinh, quê ở Nông Cống, là người có sức mạnh, có ý chí và nhiều mưu lược, Vì sự thống trị dã man của quân Đông Ngô, bà vào núi chiêu mộ khoảng 1,000 chiến sĩ luyện tập để chống giặc. Anh bà là Triệu quốc Đạt khuyên bà không nên nhưng bà nói rằng: (Tôi muốn cưỡi con gió mạnh, đạp đường sóng dữ, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi đắm đuối chứ không bắt chước người cúi đầu, cong lưng để làm tì thiếp người ta.) Bà ra trận cỡi voi, mặc áo giáp vàng, xưng là Nhụy Kiều tướng quân. Nhưng vì quân ta ít, quân giăc đông và dưới sự chỉ huy của Lục Dạn, một tướng giỏi của Tàu, lại thêm sự phản bội của một người Việt trong hàng ngũ quân của bà nên quân ta thua. Bà hy sinh trên núi Tùng, Thanh Hóa, lúc bà mới 25 tuổi.
Hai bà Trưng và bà Triệu chỉ là đàn bà mà đã lập được nghĩa lớn như thế, đáng để toàn dân noi theo.
Cuộc khởi nghĩa của Lý Bôn năm 469.
Năm 469, dưới sự cai trị tàn bạo của nhà Lương bên Tàu, ông Lý Bôn, còn gọi là Lý Bí, quê ở Thái Bình, được sự ủng hộ của Triệu Túc, một tù trưởng ở Hưng Yên và con là Triệu Quang Phục đã khởi nghĩa đánh đuổi quân Lương về Tàu. Quân Lương sang tiếp viện nhưng lại bị đánh bại. Lý Bôn xưng vương, hiệu là Lý Nam Đế, lấy quốc hiệu là Vạn Xuân, lập kinh đô ở sông Tô Lịch. Về sau, quân Lương lại sang đánh báo thù, quân Lý Nam Đế thua nhiều trận. Lý Nam Đế bị bệnh mất, trao quyền cho Triệu Quang Phục.
Triêu Quang Phục rút quân về đầm Dạ Trạch, Hưng Yên, tự túc, tự cường, tích trữ lương thực để chiến đấu lâu dài, vì thế quân ta bị bao vây rất lâu nhưng vẫn tồn tại và thỉnh thoảng lại mở các cuộc đột kích đánh phá quân Lương khiến giặc gặp rất nhiều khó khăn. Về sau, Triệu Quang Phục xưng là Triệu Việt Vương rồi mở cuộc phản công qui mô giết đuợc tướng giặc là Dương Sào giành lại nền độc lập cho nước nhà.
Cuộc khởi nghĩa của Mai Hắc Đế:
Mai Thúc Loan người huyện Thiên Lôc, Hà Tĩnh, sức vóc khỏe mạnh, măt mũi đen xì, là người gan dạ và có chí khí. Năm 722, dân ta bị cai trị bởi nhà Đường. Bấy giờ là đời Đường Huyền Tông, dân ta phải cống nộp đủ thứ, nhất là quả vải (lệ chi) để vua Đường phục vụ cho Dương Qúi Phi. Có một lần trong khi khuân vác nặng nhọc, một người Việt yếu sức quá không đi nổi, bị một tên lính Tàu áp tải đánh chết. Ông Mai Thúc Loan cũng có mặt trong đoàn áp tải ngày hôm đó, nổi giận, hô hào mọi người cùng giết hết lũ giặc.Sau đó, ông hiệu triệu dân chúng chiếm giữ một vùng trong tỉnh Ngệ An, xây thành, đắp lũy, xưng là hoàng đế, tục goi là Mai Hắc Đế. Về sau Mai Hắc Đế bị quân nhà Đường đánh bại.
Cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng:
Năm 767, dưới sự cai trị khắc nghiệt của Cao Chính Bình đời Đường, ông Phùng Hưng, quê ở Đường Lâm, Sơn Tây, nổi dậy chống giặc. Sau hơn 20 năm chiến đấu gian khổ, quân Việt đã đánh tan nát quân Tàu, buộc chúng phải chạy về nước.Ông làm vua được 7 năm thì mất,trao quyền cho con là Phùng An. Phung An tôn hiệu cha la Bố Cái Đại Vương.
Cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừ Dụ:
Năm 905, ông Khúc Thừa Dụ, quê ở Hải Dương, cùng dân ta nổi dậy đánh đuổi đươc quân Tàu về nước. Khúc Thừa Dụ xưng vương, đã bãi bỏ hết các quan lai cũ, bỏ bớt thuế má để bớt gánh nặng cho dân, rồi xây dưng một một chính quyền độc lập để người Việt cai trị. Năm 917 Khúc Thừa Dụ mất, truyền ngôi cho con là Khúc Thừa Mỹ. Sau Khúc Thừa Mỹ bị Lý Tiến và Lý Chính Bình nhà Nam Hán đánh bại.
Cuộc khởi nghĩa của Dương Diên Nghệ:
Năm 931, ông Dương Diên Nghệ, một bộ tướng của Khúc Hạo, mộ quân đánh đuổi được Lý Tiến va Lý Chính Bình về nước rồi xưng là Tiết Độ Sứ. Sáu năm sau, ông bị người nha tướng là Kiều Công Tiễn ám hại.
Cuộc khởi nhgiã của Ngô Quyền.
Ông Ngô Quyền, người làng Đường Lâm, Sơn Tây, là một bộ tướng của Dương Diên Nghệ. Ông là một người tài đức, có chí khí nên được Dương Diên Nghệ gả con gái cho và cho cai quản đất Aí Châu. Khi được tin Dương Diên Nghệ bị Kiều Cong Tiễn giết, ông bèn đem quân ra đánh. Kiều Công Tiễn sợ quá, cho người sang Tàu cầu cứu. Vua Nam Hán bên Tàu được thể, bèn sai con là thái tử Hoằng Tháo, đem quân sang đánh trước và vua dẫn quân đi sau tiếp viện. Ngô Quyền giết được Kiều Công Tiễn rồi sai quân bày trận cọc nhọn trên sông Bạch Đằng, dụ cho quân Nam Hán đuổi theo rồi phản cômg khi nước thủy triều xuống. Thái tử Hoằng Tháo bị giết cùng với quá nửa quân Tàu. Vua Nam Hán sợ quá phải rút quân tháo chạy về Tàu, không dám đem quân sang quấy nhiễu nước ta nữa.Nhờ có Ngô Quyền, nước Nam ta mới cởi được ách bắc thuộc hơn 1,000 năm, mở đường cho các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần về sau được tự chủ ở cõi An Nam. Ngô Quyền làm vua được sáu năn thì mất, Khi Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha, em vợ Ngô Quyền, con Dương Diên Nghệ, đươc Ngô Quyền ủy thác giúp tự quân, lại cướp ngôi vua của cháu. Về sau Dương Tam Kha bị con Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập đánh đuổi. Ngô Xương Ngập cùng anh là Ngô Xương Văn cùng làm vua nhưng rồi tranh dành quyền lực khiến nước bị đại loạn, chia cắt thành 12 sứ. Về sau Đinh Bộ Lĩnh dẹp đươc 12 sứ quân xưng làm Đinh Tiên Hoàng.
Cuôc đánh đuổi quân Tống của vua Lê Đại Hành:
Lê Hoàn, người làng Bảo Tháp, tỉnh Hà Nam là một tướng giỏi đời vua Đinh Tiên Hoàng, được liệt vào một trong Giao Châu thất hùng, được vua Đinh phong làm thập đạo tướng quân (chức nắm chọn binh quyền trong tay). Khi Đinh Tiên Hoàng bi tên Đỗ Thích ám sát, Đinh Tuệ mới 6 tuổi được lập làm vua và được sự nhiếp chính của mẹ là Dương Thái Hậu và Lê Hoàn. Các tướng Đinh Điền, Phạm Hạp và Nguyễn Bặc sợ Lê Hoàn chuyên quyền nên hop quân đi đánh, nhưng bị Lê Hoàn dẹp và giết hết.
Năm 981, vua tôi nhà Tống thừa dịp nội bộ An Nam lủng củng, sai Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng và thủy sư đô đốc Lưu Trừng đem thủy bộ binh mã sang đánh nươc ta. Lê Hoàn sai Phạm Cự Lượng đem quân lên Lạng Sơn chấn giữ. Trước khi mang quân lên Lạng Sơn, Phạm Cự Lượng họp quân sĩ cùng suy tôn Lê Hoàn lên làm vua để có người tài giỏi chỉ huy toàn quân. Thái Hậu Dương Vân Nga, thấy vua còn nhỏ quá, không thể nào gánh vác được việc nước trong cơn nguy hiểm này, nghĩ đến tiền đồ dân tộc và lại thấy toàn quân ủng hộ Lê Hoàn, một người tướng tài được bà yêu kính, nên bà đã khoác áo Long Cổn mặc vào cho Lê Hoàn. Lê Hoàn lên làm vua lấy niên hiệu là Lê Đại Hành. Vua để Thái Hậu tự nhiếp chính, con vua tự mang quân đi chống giặc. Với tài trí tuyệt vời, vua đã sai quân cầm chân thủy quân của Lưu Trưng trên sông, lừa quân của Hồ Nhân Bảo vào chỗ hiểm ở Ôn Châu, Lang Sơn. Hồ Nhân Bảo và một nửa số quân bị thảm tử. Bọn Lưu Trừng sợ quá, phải rút thủy quân tháo chạy.
Sau khi đánh tan quân Tống, vua Lê Đại Hành lại đem quân dẹp Chiêm Thành bắt phải triều cống vì nước này hay đem quân quấy nhiễu nước ta.
Lý Thường Kiệt đánh Tống
Năm 1075, vua Lý Nhân Tông và Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan, biết ý tể tướng Vương An Thạch nhà Tống muốn mang quân sang đánh nước ta bèn dùng chiến lược tấn công đẻ phòng thủ, tiên hạ thủ vi cường, sai Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem 10 vạn quân sang đánh các châu Liêm, châu Khâm (Quảng Đông), và Uy châu (Quảng Tây). Quân nhà Lý giết hại hơn 10 vạn quân dân Tàu.
Năm 1076, vua nhà Tống sai Quách Qùy va Triệu Tiết là cácdanh tướng mang quân sang đánh nước ta để trả thù. Quân nhà Tống đánh rất hăng nhưng quân ta, dưới sự chỉ huy tài giỏi của Lý Thường Kiệt, đã oanh liệt chống giữ. Để khích lệ sức chiến đấu của binh sĩ, Lý Thường Kiệt đã sáng tác một bài thơ phao tin là được thần nhân mách bảo:
Nam quốc sơn hà, Nam đế cư.
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm. Nhữ đẳng hành khan, thủ bại hư. Sau khi nghe được bài thơ, quân ta càng nức lòng đánh giăc. Lý Thường Kiệt sợ đánh lâu bất lợi vì quân Tàu quá đông nên sai sứ sang xin hoãn binh. Vua Tống, thấy quân mình không tiến lên được mà tướng sĩ đã chết quá nửa (trên 4 vạn quân), nên thuận cho hòa và rút quân về nước. Dây là một chiến công oanh liệt mà nhà Lý đã làm vẻ vang cho nước nhà và làm cho quân Tàu khiếp sợ.
Nhà Trần chống quân Nguyên:
Lần thứ I: Năm 1258, quân Nguyên,đời Hốt Tất Liệt, người đã càn quét hết nước Tàu và gần một nửa Châu Âu, sau khi chiếm đươc Đại Lý (Vân Nam), đã tiến său vào lưu vưc sông Hồng Hà, thế rất mạnh. Quân ta không chống nổi, phải lui dần về phía Nam. Vua Trần Thá Tông phải bỏ thành Thăng Long. Vua lo sợ, hỏi ý thái sư Trần Thủ Độ. Trần Thủ Độ là một người tài ba, lỗi lạc, đã sửa soạn trước việc chống giặc nên rất bình tĩnh trả lời:(Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo). Lời nói đó đã giữ vững tinh thần của vua và toàn quân. Về sau quân ta phản công chiếm lai Đông Bộ Đầu, đánh bật quân Nguyên về nước.
Lần thứ II: Năm 1282 Hốt Tất Liệt muốn đánh nước ta để trả thù nên sai sứ bắt vua ta phải sang chầu, phải nộp ngà voi, vàng bạc, hiền sĩ và thợ khéo. Vua Trần Nhân Tông sai chú họ là Trần Di Aí đi sứ thay mình. Vua Nguyên không chịu, quyết ý đánh chiêm nước Việt, nên xuống chỉ lập tòa Tuyên Phủ Ti, đặt quan liêu thuộc để sang giám định các châu huyện của nước ta. Vua Nhân Tôn không chịu, bèn đuổi hết đám đó về Tàu. Vua Nguyên tức giận, bèn lập Trần Di Aí làm An Nam Quốc Vương, và sai Sài Thung dẫn 1,000 quân đưa bọn đó về làm vua nước Nam. Vua Nhân Tông sai tướng đón đánh, bắn mù một mắt Sài Thung, và bắt Trần Di Aí đi làm lính tội đồ.
Khi Sài Thung thua chạy về nước, vua Nguyên thật là giận giữ, sai con là Thoát Hoan cùng các danh tướng: Toa Đô, Ô Mã Nhi đem 50,000 quân sang đánh nước ta. Vua Nhân Tông mời các bô lão đến họp hội nghị Diên Hồng để hỏi ý kiến, nên chịu thua hay nên chiến. Các bô lão đồng thanh hô to: “QUYẾT CHIẾN”. Hưng Đạo Đại Vương là một người tài ba, lỗi lạc, được vua Trần Nhân Tông trao toàn quyền chống giặc.. Ông đã có sẵn kế hoạch phá đich. Ông đã soan một quyển binh thư yếu lược, để cho tứớng sĩ hoc tập. Vương cũng đã soạn ra một bài hịch khuyên răn quân dân đồng lòng chống giăc. Với sách lược tuyệt vời, Vương cho quân mai phục, vừa đánh, vừa lui để làm chậm bước tiến của địch và để bảo toàn lực lượng chờ lúc phản công. Vương khuyên dân chúng dùng chính sách vườn không, nhà trống, đốt hết nhà cửa và lương thực, rút vào núi khi giặc đến. Quân Nguyên tấn công thật vũ bão, quân ta phải rút về Vạn Kiếp, rồi bỏ Thăng Long rút về Thanh Hóa. Hưng Đạo Vương sai thượng tướng Trần Khanh Dư trấn giữ Nghệ An và các nơi hiểm yếu. Tại Nghệ An, Trần Kiệm ra hàng giặc. Hưng Đạo Vương sai quân đón đánh, giết chết Trần Kiệm.
Tại Thiên Trường, Trần Bình Trọng đánh nhau với quân Nguyên ở Đông An, Hưng Yên, bị thua và bị bắt.Thoát Hoan dụ Trần Bình Trọng: “CÓ MUỐN LÀM VƯƠNG ĐẤT BẮC KHÔNG?” Trần Bình Trọng quát lớn: “TA THÀ LÀM QUỈ NƯỚC NAM CHỨ KHÔNG THÈM LÀM VƯƠNG ĐẤT BẮC”. Thoát Hoan thấy dụ không đươc nên sai chém đầu ông..
Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông lo sợ, nên bàn với Hưng Đạo Vương xin hàng để tránh tai họa cho dân. Hưng Đạo Vương tâu:(NẾU BỆ HẠ MUỐN HÀNG, XIN TRƯỚC HÃY CHÉM ĐẦU TÔI ĐÃ)..Các vua nghe nói thế mới vững lòng. Toàn quân đều hăng hái, quyết chiến, lấy mực thích vào cánh tay hai chữ (THÁT ĐÁT).
Toa Đô đánh Nghệ An mãi không được, vì tướng Trần Quang Khải đã trấn giữ hết các nơi hiểm yếu. Toa Đô bàn với Ô Mã Nhi rút quân xuống thuyền, vượt biển ra Bắc để hơp binh với Thoát Hoan.
Vua Trần Nhân Tông nghe lời Hưng Đạo Vương, sai Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải và Nguyễn Khoái đem 5 vạn quân đón đánh Toa Đô tại Hải Dương. Quân giặc thua to phải chạy về Thiên Trường, rồi rút quân về sông Thiên Mạc(khúc sông Hông Hà thuộc địa hạt Đông An, Hưng Yên.) rồi về Tây Kết, phủ Khoái Châu, Hưng Yên. Quân ta tấn công dữ dội, giết chết Toa Đô và bắt được 3 vạn quân Nguyên. Hưng Đaọ Vương lại sai Trần Quang Khải, Trần Quốc Toản và Phạm Ngũ Lão đem quân theo đường biển tiến đánh Chương Dương. Quân Nguyên thua to phải chay về Thăng Long.
Thoát Hoan ở Thăng Long bị Trần Quang Khải đánh úp, thua chạy về Bắc Ninh. Hưng Đạo Vương dẫn quân đánh Thoát Hoan ở Bắc Giang. Quân Thoát Hoan thua to, phải chạy về Vạn Kiếp, thì bị phục kích. Tướng Lý Hằng và nửa số quân bị giết. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để quân sĩ kéo chạy về Tàu.
Quân Nguyên, lúc sang đánh nước ta hùng hổ bao nhiêu thì khi bị bại trận, lại thảm hại bấy nhiêu.
Đây là một trận đánh oai hùng, lịch sử đáng để muôn đời ghi nhớ. Đó là nhờ sư đoàn kết của toàn dân.
Lần thứ III: Năm 1287, vua Nguyên lại sai Thoat Hoan và các chiến tướng là A Bát Sích, A Lỗ Sích, Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đem 30 vạn quân sang đánh phục thù.. Lại với chiến thuật vừa đánh, vừa lui, vườn không, nhà trống của Trần Hưng Đạo, quân ta lui dần về Vạn Kiếp rồi Thanh Hóa để giữ nguyên chủ lưc. Thoát Hoan vây thành Thăng Long nhưng đánh mãi không được vì sự kháng cự dũng cảm của quân dân ta, phải lui về Vạn Kiếp.
Vua Trần Nhân Tông sai Trần Khánh Dư chặn đánh Ô Mã Nhi đi đón lương thực tại cửa bể Đại Nguyên, Hải Dương nhưng quân ta bị thua. Vua Nhân Tông muốn trị tội Khánh Dư nhưng Trần Khánh Dư xin dược đánh lại để lập công, chuộc tội. Trần Khánh Dư bèn nhặt nhạnh hết các thuyền bè, rồi phục kích đội thuyền lương của Trương Văn Hổ cướp được hết các thuyền lương của giặc. Thấy mất hết lương thực, và lại đánh mãi không được, các tướng Nguyên nản chí, khuyên Thoát Hoan nên rút lui. Thoát Hoan thấy không thể thắng được nên đồng ý rút lui, bèn sai Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp dẫn quân theo đường sông Bạch Đằng về trước. Hưng Đạo Vương sai Phàn Khoái đặt trận cọc trên sông Bạch Đằng, phục kích. Quân Nguyên bị đại bại. Phàn Tiếp và Ô Mã Nhi bị bắt. Thoát Hoan sợ quá, chạy đến ải Nội Bàng thì lại bị tướng Phạm Ngũ Lão phục kích, quân Nguyên bị giết quá nửa, phải tháo chạy về Tàu.
Trong kỳ chiến đấu này, có lúc thật nguy cơ, nên vua Trần Nhân Tông phải dùng kế mỹ nhân, hiến con gái cưng là An Tư công chúa cho Thoát Hoan để mê hoặc và làm nhụt chí chiến đấu của Thoát Hoan. Lúc hai bên giao chiến tại Thăng Long, An Tư công chúa đã đã thùa dịp đốt kho đạn của quân Nguyên khiến quân giặc khiếp sợ và công chúa đã hy sinh trong khói lửa. Thật anh dũng thay.
Nhà Trần đã 3 lần đánh tan quân Nguyên, một đoàn quân bách thắng từ Âu sang Á. là nhờ sự đoàn kết của toàn dân và sự lãnh đạo tài giỏi của Hưng Dạo Vương. Thật là một trang sử oai hùng của dân tộc, đáng ghi nhớ đời đời.
Cuộc khởi nghĩa của Giản Định Đế:
Nhà Trần mất về nhà Hồ. Tướng nhà Minh là Mộc Thạch được lệnh sang đánh nước ta.
Năm 1407, Giản Định Vương, con của Trần Nghệ Tông, được các tướng Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân phò tá, đã đứng lên đánh đuổi dược Mộc Thạch về đến huyện Y Yên và chém được tướng Từ Nghi. Về sau Giản Định Vương nghe lời xúi xiểm của đám hoạn quan cận thần, giết chết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Các con của Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân là Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị bèn bỏ Giản Định Vương về phò Trần Qúi Khách. Trần Qúi Khách và Giản Định Vương lại hợp tác với nhau đánh đuổi đuợc Mộc Thạch về nước.
Vua nhà Minh lai sai Trương phụ sang đánh. Quân ta thua, Trần Qúi Khách, Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị đều bị bắt giải sang Tàu nhưng cả ba người vì tiết tháo đã nhảy xuống biển tự tử.
Cuộc Khởi Nghĩa của Lê Lợi:
Năm 1418, ông Lê Lơi, quê ở Lam Sơn, Thanh Hóa, cùng Lê Thạch và Lê Liễu khởi binh tại Lam Sơn xưng là Bình Định Vương rồi truyền hịch đi khắp nơi kể tội ác của quân Minh và hô hào toàn dân nổi dậy.Dân ta bị áp bức đã lâu, nên mọi người ùn ùn theo về dưới trướng Bình Định Vương.
Lúc đầu, vì quân ít, lại thiếu lương thực, quân ta thua nhiều trận, phải rút về núi Chí Linh 3 lần. Có một lần, Lê Lợi bị vây hãm quá nguy kịch tưởng không thoát khỏi bại vong thì được Lê Lai liều mình giả mạo cứu chúa. Về sau Lê Lợi được Nguyễn Trãi theo phò, dâng kế sách bình Ngô. Nguyễn Trãi là con ông bảng nhỡn Nguyễn Phi Khanh, làm quan đời nhà Hồ. Khi cha con Hồ Qúi Ly bị nhà Minh đánh bại và bị bắt sang Tàu, ông Nguyễn Phi Khanh có đi theo Nguyễn Trãi đi theo cha khóc lóc. Ông Nguyễn Phi Khanh bảo Nguyễn Trãi: (Con phải trở về nhà mà luyện chí trả thù cho cha và rửa nhục cho nước, chứ đi theo khóc lóc mà làm gì). Từ đó Nguyễn Trãi về nuôi chí, soạn thảo ra kế sách diệt giặc. Vua Lê Lợi nghe theo kế của Nguyễn Trãi vây thành Tây Đô, quân ta đánh bại Vương Thông tại Tụy Động, giết 5 vạn quân và bắt sống 1 vạn quân Tàu, khiến Vương Thông phải rút quân về thành Đông Quan. Tại thành Đông Quan, quân Vương Thông thua mãi, phải xin hàng và hứa sẽ rút hết quân về nước. Lúc bấy giờ có mấy viên quan người Việt phản quốc, phò Vương Thông, xúi Vương Thông không nên hàng vì sợ bị giết, nên Vương Thông nuốt lời hứa, sai người mang thư về Tàu xin vua Minh cho quân sang cứu viện. Vua Minh sai Liễu Thăng mang 10 vạn quân sang giúp Vương Thông. Theo kế của Nguyễn Trai, vua Lê Lợi sai quân đánh phá khắp nơi để làm hoang mang quân giặc. Liễu Thăng vì kiêu căng, không nghe lời khuyên của quân tướng nên bị dụ vào một vùng bùn lầy, bị chém chết tại trận. Quân ta thừa thắng chém giết vô số quân Tàu. Vương Thông thấy quân cứu viện đã thua nên xin hàng và rút hết quân về nước.
Sau 10 năm chiến đấu gian khổ, quân ta toàn thắng. Lê Lợi lên làm vua, đặt tên nước là Đại Việt, mở đầu cho một thời kỳ độc lập lâu dài nhất trong lịch sử Việt Nam.
Vua Quang Trung đại phá quân Thanh:
Tổ tiên anh em Tây Sơn họ Hồ quê ở Nghệ An. Vào khoảng các năm 1653-1657, quân nhà Nguyễn đánh ra đàng ngoài, chiếm được 7 huyện thuộc trấn Nghệ An. Khi rút quân về, nhà Nguyễn có mang theo nhiều người, trong đó có ông tổ của Tây Sơn, vào lập nghiệp tại Hoài Nhân, Bình Định. Ông tổ của Tây Sơn đổi họ Hồ sang họ Nguyễn.
Đời chúa Nguyễn Phúc Thuần, Trương Phúc Loan chuyên quyền, tác oai, tác quái, lòng dân căm ghét, giăc giã khăp nơi,.Anh em Tây Sơn dựng trại khởi nghĩa, chiếm được Quy Nhơn rồi Phú Yên. Nguyễn Nhạc xưng làm Tây Sơn Vương rồi Thái Đức Hoàng Đế, phong cho Nguyễn Huệ làm Long Nhượng Tướng Quân rồi Bắc Bình Vương chấn thủ miền Thuận Hóa.
Năm 1786, Bắc Bình Vương ra Thăng Long diệt Trinh, phò Lê và lấy con gái vua Lê Hiển Tông là Ngọc Hân công chúa.Khi vua Lê Hiển Tông mất, Bắc Bình Vương lập Lê Chiêu Thống lên làm vua theo ý kiến của triều thần ngoài Bắc. Nguyễn Nhạc sợ Nguyễn Huệ lấn quyền nên đích thân ra Bắc đón Nguyễn Huệ về. Sau khi Bắc Bình Vương rút quân về thì Trịnh Bồng lại trở về và lấn áp vua Lê như cũ. Nguyễn Huệ sai Nguyễn Hữu Chỉnh ra dẹp bỏ Trịnh Bồng nhưng rồi Chỉnh lại chuyên quyền, lấn áp vua Lê. Bắc Bình Vương lai sai Vũ Văn Nhậm ra dẹp Chỉnh nhưng rồi Nhậm lại theo vết xe cũ của Chỉnh. Bắc Bình Vương lại đích thân ra Bắc giết Nhậm, rồi để Ngô văn Sở, Phan Huy Ich và Ngô Thời Nhiệm ở lại lo toan mọi việc còn ngài rút quân về miền trong vì còn nhiều việc phải lo.
Năm 1788, vua Lê Chiêu Thống và bà Hoàng Thái Hậu cùng một số quan lại thủ cựu chạy sang Tàu cầu cứu vua nhà Thanh. Vua Càn Long nhà Thanh đã rình rập nước ta từ lâu, nên sai Tôn Sĩ Nghị, Sầm Nhi Đống và Hứa Thế Hanh đem 30 vạn quân sang đánh nước ta lấy cớ là để phù Lê. Vào thời bấy giờ, quan lại và dân chúng ngoài Bắc vẫn coi nhà Tây Sơn là đám giăc cỏ cướp nước, nên mọi người rất thờ ơ, không ai nghĩ đến việc chống giặc, thậm chí còn đón bắt hay chỉ điểm cho quân Tàu đón bắt quân ta. Tôn Sĩ Nghị tiến quân vào Thăng Long không chút kháng cự nên rất kiêu căng và để quân sĩ tự do cướp bóc.
Ngô Văn Sở ở Thăng Long, nghe lời cố vấn của Ngô Thời Nhiệm rút quân về Tam Hiệp (ranh giới Ninh Bình và Thanh Hóa), rồi sai người về Phú Xuân cấp báo.
Ngày 22 tháng giêng âm lịch năm 1788, Nguyễn Huệ xưng lam Quang Trung Hoàng Đế, rồi tự mình thống lãnh thủy bộ đại binh ra Bắc dẹp giặc. Vua truyền cho quân sĩ ăn tết trước rồi đến đêm trừ tịch thì cất quân đi. Ngài dùng cách, cứ 3 người làm một tổ, thay nhau khiêng võng để quân sĩ đỡ mệt nhọc và di chuyển quân nhanh hơn. Nửa đêm ngày 3 tháng giêng năm 1789, quân Tây Sơn vây kín làng Hà Hồi, bắt hết quân giặc không cho một tên nào chạy thoát để giữ bí mật. Sáng ngày 5 tháng giêng thì quân ta tiến đánh làng Ngọc Hồi, giết quân Thanh thây nằm ngổn ngang, Đề Đốc Hứa Thế Hanh, tiên phong Trương Sĩ Long và tả dực Thượng Duy Thăng đều tử trận. Sầm Nghi Đống đóng quân ở Đống Đa (cạnh Thái Hà Âp, Hà Nội), bị vây phải thắt cổ tự tử. Tôn Sĩ Nghị sợ quá, phải bỏ cả ấn tín, chạy thuc mạng qua sông Bắc. Quân Tàu quá khiếp sợ, ùn ùn chạy theo qua cầu, cầu sâp, quân Tàu chết kín cả sông Nhị Hà.
Vua Quang Trung vào Thăng Long, hạ lệnh chiêu an, cấm ngặt quân tướng không được cướp phá dân chúng. Vua còn cấp quần áo, lương thực cho đám quân Thanh bị bắt rồi đưa về nước.Vua lại sai Ngô Thời Nhiệm viết thư sang xin hòa với nhà Thanh để tránh việc trả thù. Tuy vậy, nua Càn Long nhà Thanh vẫn sai Phúc An Khang đem quân sang đánh báo thù. Phúc An Khang, khi đến Quảng Tây, nghe tiếng quân Nam dũng mãnh quá nên sợ. Vua Quang Trung còn sai người đút lót cho Hòa Thân nhà Thanh nói giúp. Cuối cùng, vua nhà Thanh thấy đánh cũng bất lợi, nên đồng ý cho hòa.
Vua Quang Trung chỉ một trận, đã anh dũng phá tan 20 vạn hùng binh của quân Thanh, tưởng chưa có một chiến công nào lẫy lừng như thế từ xưa đến nay.
Vua Quang Trung cầu hòa với nhà Thanh cốy ý để có thời gian xây dựng lại đất nước, tích trữ lương thảo, tổ chức một quân đội thật hùng mạnh, chờ dịp đem quân đánh nước Tàu. Vua còn dùng giặc Tàu Ô quấy nhiễu miền biên giới Tàu, thu dùng các người thuộc đảng Thiên Địa Hội, một đảng phù nhà Minh, chống nhà Thanh.
Năm 1792, để thử lòng vua Càn Long, vua Quang Trung sai sứ sang Tàu, xin cầu hôn với công chúa nhà Thanh và đòi lại đất Lưỡnh Quảng cho Việt Nam.Hận thay, mộng chưa thành, vua Quang Trung thình lình băng hà, lúc đó mới 40 tuổi. Các quan dìm việc cầu hôn và đòi đất, không cho nhà Thanh biết. Vua Quang Trung mất sớm, thật là một mất mát to lớn cho dân tộc Việt Nam.
Nhìn lại lịch sử, chúng ta nhận thấy là nước Tàu, cậy to lớn, luôn luôn rình dập, chờ cơ hội để xâm lấn nước ta. Khi nào họ thấy nước mình chia rẽ, yếu kém là họ thừa cơ lấm đất, xâm lăng.
Có một số người dân ta, vì lòng ích kỷ, đặt quyền lợi cá nhân, phe phái trên quyền lợi dân tộc, tổ quốc nên đã mù quáng không cảnh giác, lại còn cầu cứu giặc đến cướp phá nước ta.
Một số quan lại trí thức thì hủ lậu, chỉ biết nhắm mắt theo sách vở học được của Tàu, khư khư phò một giòng vua dù các vua đó hèn kém, chỉ biết ăn chơi, phá hoại công quỹ, đầy ải nhân dân. Dân ta chỉ khi nào bị đầy ải cướp bóc, không còn lối thoát, mới biết đoàn kết đứng lên chống giặc. Đến khi đó thì nhà đã tan, cửa đã nát, tài nguyên quốc gia đã kiệt quệ.
Gần đây, đảng công sản Việt Nam đã cam tâm dâng cả một phần đất và lãnh hải mà tiền nhân đã đổ bao nhiêu xương máu để gây dựng, cho giặc Tàu.
Chúng:CSVN là đám tội đồ của dân tộc.
|