Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Năm 2026
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 3
 Lượt truy cập: 29135494

 
Tin tức - Sự kiện 17.05.2026 19:01
Kêu gọi tổng đình công bãi thị cứu quốc
04.06.2014 11:36

Khi đọc tựa đề bài viết này, xin độc giả đừng nghĩ rằng đây là bài phiếm có tính cách giải trí cho vui. Không, đây là bài góp ý nghiêm chỉnh, nếu toàn dân trong nước dám liều thân, quyết tâm thực hiện thì rất có cơ may mang lại kết quả. Người viết kính mong được quý vị trong nước đọc kỹ và suy nghĩ để mở ra một vận hội mới cho bản thân, gia đình và dân tộc.

Ngồi xuống để lật đổ bạo quyền

puzzle-288x300


Sự kiện Trung Cộng ngang nhiên đưa giàn khoan HD-981 đến dò tìm dầu hỏa và khí đốt trong vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của nước ta đã dậy lên câu hỏi: “Nhân dân Việt Nam nên đoàn kết với Đảng để chống quân xâm lược Trung Cộng hay lật đổ bạo quyền cộng sản trước, rồi tính đến chuyện chống quân xâm lược sau?”.

Giả thử đồng hành với Đảng Cộng sản mà mang lại chiến thắng kẻ thù thì Việt Nam vẫn còn bị bạo quyền thống trị. Tại sao? Bởi vì bản chất cộng sản là vô ơn, bạc nghĩa. Nhân dân Việt Nam đã đoàn kết với Đảng để chống Pháp, rút cục bị Đảng cai trị còn ác hơn thực dân. Do đó, điều kiện tiên quyết là phải triệt hạ cái Đảng đang cai trị Việt Nam. Câu hỏi đặt ra là: Làm cách nào triệt hạ bạo quyền?

Từ khi giàn khoan HD-981 nằm chình ình trong lãnh hải của nước ta mà từ Tổng Bí thư trở xuống đều im thin thít, không hề có một lời phản kháng. Lại thêm dân chúng đứng lên bày tỏ lòng yêu nước thì lập tức bị Công An, Côn Đồ đàn áp không nương tay. Sự kiện đó chứng tỏ Nhà Nước này là tay sai đắc lực của kẻ thù nhằm sáp nhập Việt Nam thành một quận huyện cho Đế quốc Trung Cộng vào năm 2020 theo lời khẩn cầu của Tổng Bí thư Nguyễn văn Linh và bè lũ trong Hội Nghị Thành Đô.

Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố ở Phi Luật Tân rằng Việt Nam không thể hy sinh chủ quyền quốc gia vì những lời hứa hẹn “Bốn tốt, mười sáu chữ vàng” viển vông. Nhưng sau những lời lẽ hùng hồn ấy, Ba Dũng thay vì có hành động cụ thể như tôi đã đề nghị trước đây, thì anh ta lại làm chuyện ruồi bu: Gửi lời nhắn vào máy điện thoại cầm tay để kêu gọi nhân dân bình tĩnh đoàn kết sau lưng Đảng.

Chính sách cai trị dân của cộng sản ghê gớm hơn tất cả những bọn thực dân hay các chế độ độc tài trên thế giới từ cổ chí kim. Đảng CSVN đã biến nhân dân trong nước thành trại súc vật ở Miền Bắc từ năm 1954 và trên cả nước sau năm 1975: ngoan ngoãn thì được cho ăn, được để yên cho sống vật vờ như bóng ma, nghĩa là không ai được phép có tư tưởng gì khác ngoài lề do Đảng đã vạch. Thậm chí ai muốn sử dụng quyền con người, quyền công dân đã được quy định trong Hiến Pháp đều bị đánh đập, bị bỏ tù, bị tra tấn cho đến chết. Ngay cả dân oan chỉ đòi đất, đòi nhà bị Đảng cướp; chứ họ không đòi quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng cũng bị đánh đập, bỏ tù luôn.

Với đường lối cai trị tàn bạo, lưu manh, đểu cáng, nói một đàng làm một nẻo, Đảng CSVN đã tạo nên một xã hội phi đạo đức, vô cảm, ù lỳ, sống chết mặc bây, phó thác đời mình cho định mệnh, tương lai đất nước ra sao thì ra. Người dân muốn sống tử tế, có trách nhiệm với non sông cũng không được.

Tất cả những quốc gia tự do trên thế giới đều liên kết với Hoa Kỳ để bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ. Ngược lại, CSVN nhất định đứng ngoài, dù tự biết rằng liên kết với Trung Cộng thì mất nước. Chúng gieo vào đầu óc Quân Đội, Công An câu khẩu hiệu “Còn Đảng, còn mình”, mà chúng không hiểu rằng một khi nước mất thì nhà tan, làm quái gì còn Đảng để mà bốc hốt, chụp giựt? Nguyễn Phú Trọng và băng nhóm dù chịu nhục khom lưng dưới trướng Tập Cận Bình thế nào đi nữa, vẫn sẽ giống như múi chanh bị vắt hết nước mà thôi! Cộng sản Tầu hay cộng sản Việt đều là một nòi mà ra!

Trong vụ Bauxite ở Tây Nguyên, từ Võ Nguyên Giáp đến những nhà trí thức tên tuổi trong nước, ngoài nước, ký kiến nghị dâng lên Đảng nhưng tập đoàn cai trị khinh bỉ không thèm để mắt tới để cứu xét, chúng ném vào sọt rác. Mặc dầu Võ Nguyên Giáp – một trong những người dựng lên cái Đảng cộng sản – nhỏ nhẹ van xin hủy bỏ dự án, Nguyễn Tấn Dũng xấc xược đáp: “Đó là một chủ trương lớn của Đảng đã được Đảng quyết định”. Ông Đại tướng vốn được bộ máy tuyên truyền Đảng thường xuyên ca ngợi anh hùng đành phải riu ríu vâng lệnh, không dám có phản ứng!

Trong vụ Đảng bịp bợm tuyên bố sẽ tu chính Hiến Pháp, 72 nhà trí thức ngây thơ khởi xướng viết kiến nghị dâng lên Đảng lần nữa (được cả chục ngàn người hưởng ứng đặt bút ký), với hy vọng tập đoàn cai trị sẽ thực hiện đôi điều cải cách cho dân nhờ, Đảng lại ném vào sọt rác.

Thành khẩn góp ý với Đảng thì Đảng coi khinh. Biểu tình chống quân xâm lược, bày tỏ lòng yêu nước thì bị Đảng dùng Côn Đồ dùng roi điện đàn áp. Đảng sai bọn Côn Đồ trà trộn vào đoàn biểu tình đốt phá nhà máy, giết người để răn đe những người dự tính biểu tình ôn hòa.

Nói tóm lại, tất cả những nỗ lực của nhân dân để thoát khỏi âm mưu đô hộ của Trung Cộng đều bị Đảng CSVN bít lối. Thử hỏi có cái đảng nào, chính phủ nào trên thế giới cương quyết làm tay sai cho kẻ thù như cái đảng, cái chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không? Những lão thành cách mạng, những trí thức (?) lâu nay xưng tụng “Bác Hồ” như là Cha Già có còn dám muối mặt, bẻm mép rêu rao tên tội đồ kia là nhà Giải Phóng Dân Tộc nữa không?

Là người bị mất nước (Nước Việt Nam Cộng Hòa), tôi thấm thía nỗi đau đớn, nỗi nhục nhằn của kẻ không cửa, không nhà, không quê hương nên mạn phép đề nghị một biện pháp khả thi, hòng bảo vệ mảnh đất của tổ tiên đã dày công xây dựng: Đó là toàn dân cả nước thi hành một cuộc đình công bãi thị toàn diện giống như nhà tranh đấu Phạm Thanh Nghiên đã một mình tọa kháng tại gia trước đây:

Công dân không đến hãng xưởng làm việc
Nông dân bỏ ruộng không cấy cày, trồng trọt,
Ngư dân không ra biển, ra sông đánh bắt thủy sản,
Thầy giáo không đi dạy, học trò không đến trường,
Chợ không họp, tài xế tất cả các loại xe đều khoanh tay …
Chấp nhận đồng lòng ôn hòa quyết tử (không gây đổ máu) để toàn dân quyết sinh. Chắc chắn quý vị sẽ hỏi người viết: Ai là người phát động cái chiến dịch đình công bãi thị toàn diện như tôi đề nghị?

Xin thưa: Tất cả những nhà lãnh đạo các tôn giáo, tất cả những “lão thành cách mạng” đã một thời vì nước quên mình, tất cả những nhà trí thức, những Công An Bộ Đội không đồng tình với chế độ hội ý cùng nhau viết một bản hiệu triệu (thay vì kiến nghị) để đặt một câu hỏi cho nhân dân rằng họ có muốn chấp nhận cam phận làm người dân nô lệ ngoại bang hay không? Ngoại bang này là Trung Cộng còn hung hiểm, độc ác, tàn bạo, lưu manh hơn cả Việt Cộng đã xâm chiếm Nước Việt Nam Cộng Hòa.

Bằng cách nào phổ biến chiến dịch đến người dân? Bằng Internet, bằng lời nhắn trên điện thoại, bằng truyền đơn, bằng truyền khẩu theo vết dầu loang. Mỗi người dân là một chiến sĩ thông tin.

Tôi tin chắc rằng đa số nhân dân sẽ trả lời không chấp nhận làm người nô lệ.
Tôi tin chắc rằng Công An, Bộ Đội không thể vào từng nhà để lôi dân ra đánh đập, bắn giết.

Tôi từng đề nghị mỗi người dân là một Đoàn văn Vươn, quyết tử một đổi một với Công An, nhưng xem chừng khó quá nên chẳng ai nghe. Biểu tình bạo động như các cuộc cách mạng ở Ai Cập, Tunisie … thì sợ đổ máu. Còn biểu tình bất bạo động cũng bị chế độ ngăn cấm. Thế thì con cách gì để “Thoát Trung” đây? Chỉ còn cái kế TỔNG ĐÌNH CÔNG là khả thi để lật đổ bạo quyền cộng sản mà thôi.

Đồng bào ta phải có ý chí phá bỏ gông cùm cộng sản – một tập đoàn thống trị gồm những thằng ăn cắp, lưu manh, bán nước… – để bản thân được sống như CON NGƯỜI, thì thế giới mới giúp đỡ nước mình chống lại sự bành trướng của Đế quốc Trung Cộng. Nhược bằng đồng bào ta chấp nhận sống qua ngày đoạn tháng, mềm nhũn hơn con giun thì chủng tộc Việt cuối cùng trong Bách Việt sẽ bị coi như xóa sổ. Mong sao lời đề nghị này được người yêu nước Việt quan tâm suy nghĩ và tiến hành.

Kính cẩn xin Ơn Trên – Trời, Phật, Thánh Thần – phù hộ cho tấm lòng thành của con với dòng giống Việt Nam.

Bằng Phong Đặng văn Âu

© Đàn Chim Việt


Bàn về hai cách thoát khỏi Công hàm 1958

Công hàm 1958

Công hàm 1958

Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai đã “đóng đanh” bức Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 bằng những chứng cứ trên giấy trắng mực đen như sau:

- Thực chất của công hàm đó là “công khai tuyên bố thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, là “rất tai hại, rất phản động”, “là một tai họa cho Việt Nam”, là “có tác hại phản quốc phải hủy bỏ”.

- Đó là một CÔNG HÀM cấp nhà nước (xem hình bên), giữa hai đại diện cao nhất của hai chính phủ, vì thế không thể tùy tiện hạ thấp tầm quan trọng của công hàm này thành một “công thư”, coi văn bản này “không có giá trị, vì anh không thể đem cho cái không phải quyền của anh”. Tác giả cho thấy cách lập luận nhằm hủy bỏ tầm quan trọng của một Công hàm như vậy là “hời hợt”, chỉ là “cãi chày cãi cối”, là “vô trách nhiệm”!

- Vì vậy. để hủy bỏ được công hàm tai hại ấy, tác giả thấy phải đưa ra một giải pháp khác là “Quốc Hội mới của CHXHCN VN phải phủ quyết cái công thư phản động ấy”.

Đấy là những kết luận dứt khoát dựa trên những chứng cứ không thể chối cãi. Nhưng một khi đã công nhận những kết luận ấy không thể không tiếp tục đặt ra những câu hỏi khác và bàn thêm về hai cách giải thoát khỏi Công hàm 1958 ấy cho thật cặn kẽ.

1/ Một Công hàm đã bán chủ quyền, đã “phản động, phản quốc” như vậy thì tác giả của Công hàm ấy, cá nhân cũng như tập thể, cần được phán xét ra sao, chịu trách nhiệm thế nào với hậu thế, với sự tồn vong của đất nước? Bài học rút ra là gì?

2/ Thoát khỏi Công hàm 1958 bằng cách nào?

Mọi người đều thấy Công hàm 1958 là sự ràng buộc nguy hiểm nên đều thấy phải tìm cách thoát khỏi Công hàm đó. Nhưng tùy thuộc mục đích ưu tiên bảo vệ đất nước hay ưu tiên bảo vệ chế độ mà phát sinh hai kiểu thoát hiểm.

- Muốn bảo vệ cái nền móng, bảo vệ thể chế, sợ dứt dây động rừng thì lái cho thiên hạ quên đi tầm quan trọng của Công hàm đó, hạ thấp tính chính thống và tính pháp lý của Công hàm, coi Công hàm là thứ chẳng đáng quan tâm. Song ngụy biện kiểu này chỉ để tự che mắt mình và che mắt dân, chứ không thể cãi được với kẻ xâm lược tinh quái đã “nắm đằng chuôi”, và cũng không thuyết phục được công lý quốc tế khách quan. Thật vậy, ai có thể tưởng tượng một Thủ tướng lại dễ dãi đến mức quyết định “cho” nước láng giềng một phần lãnh thổ của Tổ quốc chỉ vì nghĩ rằng phần lãnh thổ ấy đang thuộc phần quản lý của đồng bào mình ở miền Nam thì cứ việc “cho” cũng chẳng hại gì? Trong khi vị Thủ tướng này luôn nhắc lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, người chịu trách nhiệm cao nhất bấy giờ, rằng “Tổ quốc Việt Nam là một,… chân lý ấy không bao giờ thay đổi” kia mà? Thêm nữa, đã tâm niệm “Tổ quốc Việt Nam là một” thì khi Trung Quốc chiếm mất Hoàng Sa năm 1974 phải hiểu là một phần Tổ quốc của mình bị xâm lược (dù đồng bào nửa nước bên kia đang quản lý), sao không có một lời phản đối bọn xâm lược. lại phấn khởi vui mừng vì một vùng biển đảo của Tổ quốc đã vào tay nước bạn để nước bạn giữ cho? Thật tiếu lâm, khôi hài đến chảy nước mắt.

- Tóm lại là cố gắng vô hiệu Công hàm 1958 kiểu này không có giá trị thực tế gì, rất dễ bị đối phương bẻ gãy. Nếu kiện ra Liên Hiệp Quốc, chỉ một Công hàm Phạm Văn Đồng đủ làm cho Việt Nam đuối lý (chưa cần đến những hiệp ước nhượng bộ, đầu hàng về sau mà Trung Quốc đã thủ sẵn trong tay). Khi Trung Quốc đã chốt được tính pháp lý chính danh của Công hàm 1958 thì mặc nhiên đã vô hiệu được tất cả những chứng cứ lịch sử trước 1958 và cả những tranh cãi sau 1958 đến nay. Chính phủ Việt Nam cũng biết vậy nên cứ trì hoãn không dám kiện Trung Quốc, viện lý do rất “đạo đức” là sợ làm đổ mất “bát nước đầy” (cái bát nước hữu nghị mà phía Trung Quốc đã phóng uế vào!). Kiểu chống đỡ này lúng túng bởi vì ưu tiên bảo vệ chế độ, bắt Tổ quốc phải hy sinh cho chế độ, vô tình hay hữu ý tránh né việc phê phán sai lầm của chế độ.

- Vậy phải thoát khỏi Công hàm 1958 bằng cách khác, “bằng một tuyên bố công khai có giá trị pháp lý cao hơn” ví dụ “Quốc hội mới của CHXHCN VN phải phủ quyết cái công thư phản động ấy” như bác Nguyễn Khắc Mai đề xuất. Nhưng giải pháp này có hiệu quả đến đâu? Vấn đề là một chính phủ với tư cách hậu duệ kế tục của chính phủ Phạm Văn Đồng – Hồ Chí Minh thì đương nhiên có trách nhiệm thi hành những tuyên bố của chính phủ hợp pháp trước đây đã ký, Trung Quốc có quyền đòi hỏi theo luật như vậy, điều Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có trách nhiệm thực hiện, một khi ông Thủ tướng sau đã nguyện kế tục sự nghiệp của ông Thủ tướng trước. Chỉ còn một cách: Muốn khước từ thi hành Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 buộc Chính quyền Việt Nam hiện nay phải nhân danh nhân dân Việt Nam tuyên bố khước từ và tẩy chay những sai lầm “phản động, phản quốc” của chế độ cũ, lập chế độ mới. Liệu cái Quốc hội Cộng sản hiện nay có dám cắt đứt cái mạch máu huyết thống này để kiến tạo một quyết định thoát Cựu, thoát Trung, ích nước lợi nhà như vậy không?

Khó khăn cốt lõi vẫn ở chỗ: Muốn thoát Hán, mà bước một là thoát khỏi Công hàm phản quốc 1958, chỉ có cách phải giải Cộng, thoát Cộng! Chỉ có nhân dân đứng lên, trong một thể chế của nhân dân, mới vô hiệu hóa được mọi ký kết phản quốc, vi hiến, đã ký kết sau lưng nhân dân như Công hàm PVĐ!

3/ Thoát Cộng được lợi những gì?

Trong thực tiễn Việt Nam hiện nay nói thoát Cựuthoát Cộng hay “vượt qua chính mình” thực ra cùng một nghĩa, tuy “vượt qua chính mình” là cách nói dễ nghe hơn, nhưng tôi xin được dùng chữ thoát Cộng vì đúng thực chất nhất.

Nếu giữ chủ nghĩa Cộng sản thì phải gánh chịu những tai hại gì?

Toàn bộ kế hoạch “đô hộ Việt Nam kiểu mới” mấy chục năm nay của Trung Cộng được thiết kế trên hai chữ Cộng sản, giữ cái nền Cộng sản là giúp cho mưu đồ Hán hóa có một ưu thế ở tầm chiến lược.

- Giữ Cộng sản thì Việt Nam bị ràng buộc bởi quá khứ đầy nợ nần và lầm lỡ, khó thoát ra, chẳng hạn như công hàm 1958, cam kết Thành Đô, các ký kết thời Lê Khả Phiêu, thời Nông Đức Mạnh, thời Nguyễn Phú Trọng…

- Còn giữ Cộng sản thì quan hệ ràng buộc Trung-Việt như quan hệ giữa “thú dữ và con mồi” cứ thít chặt lại, trong khi các khối đoàn kết để kháng cự thì bị lỏng ra, ví dụ giới lãnh đạo thì bị chia thành phái thân Tàu và nhóm lợi ích, lãnh đạo thì ngày càng đối lập với dân, quốc nội với hải ngoại vẫn còn cách biệt, các liên kết Việt Mỹ, Việt Âu, Việt ASEAN… đều bị yếu tố Cộng sản hạn chế một phần, không thể thanh thoát… Như thế lấy đâu ra sức mạnh? Giữ được nước hay không chủ yếu là do có sức mạnh hay không, đừng trông chờ quá nhiều ở công pháp quốc tế.

Trái lại, chỉ cần thoát Cộng thì tất cả những trở ngại trên sẽ được giải tỏa, đặc biệt là toàn bộ dân Việt khắp nơi khắp chốn tự nhiên sẽ ôm lấy nhau mà reo hò, không cần bất cứ một nghị quyết “hòa hợp hòa giải” nào hết, niềm mơ ước một hội nghị Diên Hồng từ đó mới có cơ sở để mở ra, nếu không thì Diên Hồng mãi mãi chỉ là một lời hô hào suông, không có thực chất.

4/ Thoát Cộng dễ hay khó?

- Sẽ quá khó, quá gay go, nếu Đảng Cộng sản cứ ôm lấy vinh quang quá khứ và lợi quyền hiện tại khiến cho Đảng ngày càng xa dân, đối lập với dân, mỗi động tác dân chủ hóa, dẫu còn ở mức độ “cải lương” thôi cũng đã là một cuộc cọ xát nảy lửa, đã xảy ra bắt bớ cầm tù, nói gì đến sự đổi mới thể chế, đổi mới hệ thống?

- Nhưng không, sẽ vô cùng dễ dàng nếu Đảng biết “tự vượt qua mình”, lấy lợi ích dân tộc trên hết mà vượt trên quá khứ, chuyển sang nền dân chủ đa nguyên như các nước tiên tiến thì Đảng có mất chỉ mất cái danh hão mà được tất cả. Chẳng những không ai chỉ trích quá khứ nữa làm gì, mà các vị cầm quyền còn được nhân dân yêu quý và biết ơn thật sự, không còn tình trạng “thấy mặt là tắt tivi” như bấy lâu nay. Về tinh thần đã thanh thỏa như vậy, về vật chất cũng cơ bản được đảm bảo; có phải nhân dân đã từng bắn tiếng rằng nếu người lãnh đạo biết đổi mới để cứu nước, thoát Hán thì dân sẵn sàng độ lượng cho tận hưởng bổng lộc đấy thôi? Triển vọng xán lạn ấy có thể lắm chứ, sao lại không?

Quả bóng cứu dân cứu nước hiện đang trong chân người cầm quyền, dân rất mong mỏi những người cầm quyền biết xử lý thông minh, khôn ngoan, ích nước lợi nhà. Chỉ trừ trường hợp chẳng may, đợi mãi, vô vọng (chẳng hạn như tiền đạo họ Phùng cứ sút mãi bóng vào lưới nhà) thì tất nhiên dân phải đứng dậy giành quả bóng về chân mình mà xử lý theo đúng ý nguyện của dân, để “nâng thuyền hay lật thuyền” như quy luật của muôn đời mà Nguyễn Trãi đã diễn tả bằng một hình ảnh lưu danh bất hủ…

H.S.P. (2-6-2014)

Nguồn: http://www.boxitvn.net/bai/26882

Tắt đèn nổ súng

Thiên An Môn -1989

Thiên An Môn -1989

Những gì xảy ra ở quảng trường Thiên An Môn cách đây 25 năm, vào những ngày này, đã bị xóa bỏ trong lịch sử, và Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng đang tìm mọi cách tiêu diệt mọi ký ức về sự kiện này trong lòng người dân.

Ngày 15 tháng 4 năm 1989, Hồ Diệu Bang qua đời. Sinh viên Bắc Kinh biểu tình tại quảng trường Thiên An Môn để bày tỏ lòng thương tiếc một Tổng bí thư tận tụy với cải cách nhưng bị cánh bảo thủ buộc phải từ chức.

Đây là một cuộc đấu tay đôi giữa sinh viên với những nhân vật bảo thủ trong Đảng. Tượng thần Tự do dựng lên đối diện với chân dung Mao tại quảng trường.

Qua tháng Năm, biểu tình đã thu hút mọi mọi tầng lớp nhân dân, và lan rộng trên 80 thành phố toàn lãnh thổ Trung Quốc. Chỉ một tháng mà tầm vóc của nó đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia.

Ngày 20 tháng 5, Đảng Cộng sản Trung Quốc, bắt đầu chuyển quân đội vào Bắc Kinh, bao vây Thiên An Môn. Nhưng những người dân đã ra cản đường bảo vệ cuộc biểu tình, và giải thích cho quân nhân hiểu lý do của cuộc biểu tình chỉ là chống độc tài, tham nhũng, khuyên họ đừng có nghe lời tuyên truyền của chính ủy, đừng nổ súng vào sinh viên, nên trở về doanh trại.

Không một tấc sắt trong tay, một biển người tuyệt thực, cùng với một biển lều và xe đạp trên quảng trường Thiên An Môn đã thách đố sự thống trị của đảng Cộng sản Trung Quốc, thách thức sự tồn vong của chế độ. Hầu hết báo chí phương Tây đều cùng một nhật định rằng ngày cáo chung của chính quyền Trung Quốc đã đến rất gần. Cơn hấp hối đang được tính bằng ngày.

10409164_747232555298548_8786057346748067862_nNhưng sau đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã dùng thủ đoạn khác. Lính cơ động đã được chuyển từ những quân khu xa vào Bắc Kinh bằng xe bus ngụy trang, và tàu điện ngầm dân sự vào ban đêm để tránh tai mắt và sự ngăn cản của nhân dân. Rồi vũ khí được bí mật tuồn vào trong “Đại Lễ đường Nhân dân” (Nhà Quốc Hội). Nơi đây là điểm tập kết để triển khai cuộc thảm sát. Những người lính thề trung thành với Đặng Tiểu Bình, không hay biết gì về cuộc biểu tình, và được bảo rằng ngoài kia là những quân phiến loạn.

Đúng 10:30 phút đêm ngày 3 tháng 6, chính quyền Trung Quốc cho: “Tắt đèn nổ súng”. Xe bọc thép, quân đội võ trang với lưỡi lê tuốt trần tiến vào quảng trường từ mọi hướng. Tiếp theo là xe ủi để hốt xác sinh viên đã chết hoặc còn đang hấp hối đi phi tang. Sau cùng, là đoàn xe chữa lửa xả nước rửa sạch máu trên sân. Công việc hoàn tất trước bình minh.

Cuộc biểu tình đã bị dìm trong biển máu và không mang lại một cải cách chính trị nào. Nhưng hình ảnh sinh viên tay không chống lại xe bọc thép trên đại lộ Trường An đã trở thành bất tử. Điều đau đớn nhất là quân đội nhân dân lại quay nòng súng vào chính nhân dân.

Các nhà viết sử thế giới mô tả những người biểu tình và kết thúc của nó là một sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử đương đại của Trung Quốc. Năm 1989, lần đầu tiên Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa rung chuyển bởi những sinh viên tay không. Sức mạnh của nhân dân đã vùng lên đương đầu với bàn tay sắt của chính quyền.

10352210_747232478631889_8926718003159691956_nTrung Quốc hậu 1989, vội vàng tăng tốc cải tổ kinh tế, trong khi đóng sập cánh cửa chính trị. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chọn hình thức bạo lực, giết con em mình, đồng bào mình, một cách tàn nhẫn, không xót thương, để duy trì quyền lực. Hay nói một cách khác, chính quyền sinh ra từ họng súng. Nỗi sợ biểu tình bạo loạn thường trực bùng phát trong xã hội là nỗi quan tâm hàng đầu của những người lãnh đạo đất nước hậu Thiên An Môn.

Cũng từ đêm này, cách đây 25 năm, thế giới bàng hoàng nhận ra Trung Quốc là mối hiểm họa cho nhân loại.

June 3, 2014

© Trần Hồng Tâm
© Đàn Chim Việt

Trung Quốc : Gieo gió, gặp bão

Các vụ tấn công ở nhà ga Côn Minh rồi Urumqi đã làm hàng chục người thiệt mạng - REUTERS /Petar Kujundzic
Các vụ tấn công ở nhà ga Côn Minh rồi Urumqi đã làm hàng chục người thiệt mạng - REUTERS /Petar Kujundzic

Người dân Trung Quốc bắt đầu phải đối mặt với nạn khủng bố. Các vụ tấn công xảy ra ngày càng thường xuyên hơn. Nhưng đó là hậu quả từ chính sách đàn áp các sắc tộc thiểu số mà Bắc Kinh đã liên tục theo đuổi từ hàng chục năm qua.

Thông tín viên của báo Le Figaro từ Bắc Kinh, Patrick Saint Paul, phân tích về hiện tượng đe dọa khủng bố ngày càng đè nặng lên đời sống hàng ngày của người dân Trung Quốc. Người Trung Quốc ý thức được rằng hiểm họa đó có thực tương tự như tình trạng tham nhũng làm lũng đoạn kinh tế đất nước hay hiện tượng ô nhiễm không khí, thu hẹp tuổi thọ của người dân xứ này.

Từ mùa thu năm ngoái, các vụ khủng bố, tấn công ngày càng thường xuyên xảy ra và càng trở nên khốc liệt hơn. Thủ phạm những vụ khủng bố đó đã chứng minh là họ có thể ra tay ở quy mô lớn, có khả năng nhắm vào bất kỳ một mục tiêu nào và ở vào bất kỳ thời điểm nào.

Khủng bố hay bạo động không chỉ khoanh vùng ở Tân Cương, nơi đa số dân cư là người Duy Ngô Nhĩ theo đạo Hồi, nói tiếng Thổ mà đã mở rộng ra khắp mọi nơi. Tác giả bài báo điểm lại các vụ tấn công gần đây như vụ khủng bố tự sát hồi tháng 10/2013 ngay tại quảng trường Thiên An Môn, thủ đô Bắc Kinh. Quảng trường này là biểu tượng của phong trào nổi dậy mùa xuân năm 1989.

Rồi đến tháng 3/2014 là vụ thảm sát ở nhà ga Côn Minh- Vân Nam làm 29 người chết, gần 150 người bị thương. Gần đây nhất là vụ nổ tại một ngôi chợ ở Urumqi, thủ phủ Tân Cương. Chính quyền Trung Quốc liền sau đó đã tuyên chiến với quân khủng bố và hứa « nhổ cỏ tận gốc » trong vòng một năm.

Bắc Kinh luôn quy trách nhiệm cho cộng đồng người Duy Ngô Nhĩ, theo đạo Hồi và tố cáo các tổ chức khủng bố có liên hệ trực tiếp với Al Qaeda. Đảng Hồi giáo Turkestan TIP và Phong trào Hồi giáo Turkestan trong tầm ngắm của Trung Quốc và bị tố cáo theo chân các tổ chức cực đoan đang hoành hành tại các nước Trung Á sát cạnh với Trung Quốc. Tuy nhiên mối quan hệ giữa các thành phần khủng bố hoành hành tại Trung Quốc với mạng lưới Al Qaeda trước mắt chưa được chứng minh.

Theo phóng viên của Le Figaro, làn sóng tấn công nhắm vào Trung Quốc trong thời gian gần đây thể hiện bức súc ngày càng lớn của những thành phần cực đoan nhất trong cộng đồng người Duy Ngô Nhĩ : đó là những người bị bỏ quên trong tiến trình phát triển kinh tế và là những nạn nhân của chính sách đàn áp nhắm vào các sắc tộc thiểu số mà Bắc Kinh đã liên tục áp dụng từ hàng chục năm qua.

Nói cách khác, nhà báo Patrick Saint Paul cho rằng, Trung Quốc gieo nhân nào, hưởng quả nấy. Trong bối cảnh đó, tác giả e rằng, để bài trừ tận gốc rễ nạn khủng bố, để tránh cho người dân phải sống trong lo sợ, Bắc Kinh sẽ khó có thể chỉ dùng vũ lực để giải quyết một vấn đề mang nặng mầu sắc chính trị.

Nemmouche, hành trình của một tên khủng bố

Nhìn lại thời sự về nước Pháp, nhân vật được các báo nhắc đến nhất trong ngày là Mehdi Nemmouche, kẻ bị tình nghi là thủ phạm vụ xả súng tại một viện bảo tàng Do Thái ở Bruxelles hôm 24/05/2014, làm 4 người thiệt mạng. Công dân người pháp này vừa bị bắt tại Marseille. Hai tờ Libération và Le Figaro cùng chú ý đến hành trình của Nemmouche, từ một tên trộm vặt, trốn sang Syria tham gia thánh chiến để rồi trở thành một tay khủng bố, giết người. « Mehdi Nemmouche từ trộm cướp đến thánh chiến », tựa của Libération.

Le Figaro phác họa lại chân dung Mehdi Nemmouche, 29 tuổi, sinh ra tại Roubaix, một thành phố ở miền Bắc nước Pháp. Mehdi đã nhiều lần bị bắt giữ và ngồi tù vì những tội trộm cắp vặt. Từ năm 2004 đến 2006 Nemmouche đã 7 lần phải trình diện Tư pháp và đã 5 lần bị bắt giam từ năm 2001 tới nay.

Chính trong thời gian ngồi tù Mehdi đã chọn đi theo con đường của những kẻ Hồi giáo. Năm 2012 chỉ ba tuần lễ sau khi được trả tự do, Nemmouche đã bỏ trốn sang Syria và tham gia hàng ngũ djihad. Tháng 3 vừa qua, nhân vật này trở lại châu Âu qua ngả Thổ Nhĩ Kỳ và Malaysia. Theo các nhà điều tra, tất cả những hành động đó nhằm đánh lạc hướng cơ quan tình báo Pháp.

Hôm 30/05/2014, tức 6 ngày sau vụ xả súng tại Bruxelles, Nemmouche bị bắt tại nhà ga Saint Charles ở Marseille. Trên mình có mang theo mặt nạ chống khí độc, một khẩu sung AK tương tự như loại vũ khí đã được sử dụng ở Bruxelles hôm 24/05/2014 cùng với một ống kính camera GoPro. Trong đoạn băng ghi âm, một giọng nam chưa được xác định có phải là tiếng nói của Mehdi hay không, tự nhận là tác giả vụ thảm sát ở Bruxelles tuần trước. Kể từ khi bị bắt ở Marseille, Nemmouche chưa lên tiếng.

Từ trường hợp của Nemmouche, cả hai tờ Libération lẫn Le Figaro cùng nên lên nhiều nghi vấn về công tác theo dõi những nhân vật khả nghi của cơ quan an ninh Pháp. Le Figaro khẳng định Nemmouche đã ra tay được do « có những sơ hở trong ngành tình báo ».

Libération trong bài xã luận nhìn vấn đề một cách rộng hơn khi cho rằng hàng chục công dân Pháp, Anh, hay Bỉ đã gia nhập hàng ngũ những phần tử Hồi giáo cực đoan. Số này đã tìm đường sang Syria chiến đấu trước sự thờ ơ của cộng đồng quốc tế. Syria là một mắt xích yếu khi mà hàng triệu người dân xứ này đang bị quốc tế bỏ rơi. Đe dọa những phần tử cực đoan ra tay và trở thành những tên khủng bố là có thực, nhưng Libération cảnh cáo : nước Pháp không nên vượt quá những giới hạn của một nhà nước pháp quyền.

Syria và trò hề dân chủ

Vào lúc Libération mệnh danh Syria là « đất dụng võ » của những thành phần chủ trương một cuộc thánh chiến djihad, thì L'Humanité nói tới một trò hề dân chủ sắp mở ra tại quốc gia này. Ngày mai cử tri Syria sẽ bầu lại tổng thống « bầu cử dưới tiếng súng rền vang ».

Tổng thống Assad chắc chắn tái đắc cử tại một đất nước lún sâu vào nội chiến từ ba năm qua, 162.000 người chết và hàng triệu người phải di tản ra nước ngoài để tránh bom, đạn. Cử tri Syria đứng giữa hai làn đạn : một bên chiến sa của quân đội trung thành với ông Bachar Al Assad và bên kia là Mặt trận Nosra và tổ chức EIIL. Ngay từ đầu cuộc vận động tranh cử, các tổ chức Hồi giáo cực đoan đã nhiều lần nhắm vào các cuộc meeting của bên chính quyền. Lá phổi kinh tế của Syria là thành phố Alep thì vấn sống dưới các làn bom và đạn của cả bên quân đội lẫn phe nổi dậy võ trang.

Le Figaro trong một bài báo mang tựa đề « Damas đành phải chấp nhận trò hề dân chủ của ông Assad » trích lời một người dân Syria trách cộng đồng quốc tế đã bỏ quốc gia Trung đông này. Một nhân chứng lấy tên là Ali, nói với đặc phái viên của tờ báo : « Chúng tôi không có sự lựa chọn nào khác là bỏ phiếu cho ông Assad. Pháp và Mỹ chỉ tặng cho phe nổi dậy những lời hứa suông.

Trong khi đó, những đồng minh của chính quyền Damas thì đã có những hành động cụ thể. Ai cũng muốn được quay lại với một cuộc sống bình thường. Không ai ưa gì ông Bachar Al Assad nhưng họ không có giải pháp nào khác. Đối lập sống ở nước ngoài không được tín nhiệm và nếu như chế độ của tổng thống Assad có sụp đổ ngay bây giờ, thì Syria sẽ chỉ lún sâu thêm vào hỗn loạn và rơi vào tay các tổ chức cực đoan mà thôi ».

Luật hồi giáo charia, làm khách sạn hạng sang mất khách

Trong lĩnh vực xã hội Libération có một bài báo ngắn cho thấy nhiều khách sạn hạng sang đang bị tảy chay. Đó là trường hợp của Plazza Athénée và Meurice tại thủ đô Paris, của Beverly Hills, của Dorchester … tại Hoa Kỳ. Mẫu số chung của các khách sạn đang bị tảy chay đó là chủ nhân chính kiểm soát vốn của các khách sạn nói trên không ai khác ngoài quốc vương Brunei.

Vấn đề đặt ra là kể từ ngày 01/05/2014 tiểu vương quốc này áp dụng luật hồi giáo charia. Luật này cho phép áp dụng các hình phạt dã man như ném đá đến chết phụ nữ bị kết vào tội ngoại tình, hay vì tội phá thai. Tội uống rượu cũng bị xử với hình phạt tương tự. Tội phạm trộm cắp thì bị chặt tay.

Từ nhiều tuần qua, trên mạng đã rộ lên những lời kêu gọi tảy chay những khách khách sạn hạng sang có vốn của Brunei. Chỉ riêng khách sạn Beverly Hills đã thất thu 2 triệu đô la trong vỏn vẹn vài tuần lễ. Nữ hoàng trong làng truyền thông Hoa Kỳ là bà Anna Wintour vừa cho biết tạm cắt đứt giao lưu với hệ thống khách sạn Dorchester vào mùa trình diễn thời trang Fashion Week sắp tới.

Nhà tỷ phú người Anh, Richard Branson cũng vừa nhập cuộc để tẩy chay Brunei. Riêng giám đốc điều hành Dorchester tại Pháp thì phản đối những ai muốn tẩy chay. Ông cho rằng, trừng phạt như vậy không ảnh hưởng gì đến quốc vương Brunei mà chỉ tạo thêm khó khăn và đe dọa trực tiếp đến công việc làm của 3.500 nhân viên trong dây chuyền khách sạn Dorchester mà thôi.

 

Tham vọng của Trung Quốc gây lo ngại tại Châu Á.

Tướng Vương Quán Trung, Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc (T) bắt tay Thứ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Antonov (P) tại Đối thoại Shangri-la, Singapore, 01/06/2014
Tướng Vương Quán Trung, Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc (T) bắt tay Thứ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Antonov (P) tại Đối thoại Shangri-la, Singapore, 01/06/2014
REUTERS

Căng thẳng gia tăng ở Châu Á cùng với việc Trung Quốc tăng cường sức mạnh. Tại Singapore, diễn đàn an ninh khu vực - Đối thoại Shangri-la, diễn ra từ 30/05 đến 01/206/2014, đã minh chứng cho điều này. Bắc Kinh đã phản ứng mạnh mẽ vì bị cáo buộc gây mất ổn định trong khu vực. Chính thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel đã đưa ra các cáo buộc này. Bà Valérie Niquet, phụ trách khu vực Châu Á của Quỹ nghiên cứu chiến lược trả lời các câu hỏi của RFI.

RFI : Hiện nay, một số người cho rằng Châu Á đang đi vào một thời kỳ kiểu Chiến tranh lạnh và các nước trong khu vực phân chia thành hai khối ủng hộ và chống Trung Quốc. Chiến tranh lạnh, đó là những từ ngữ rất nặng nề. Bà nghĩ gì về điều này ?

Valérie Niquet : Những từ này quả thực là nặng nề, nhưng nó miêu tả một thực tế không phải bây giờ mới có, mà đã tồn tại và trở nên rất nghiêm trọng kể từ cuối những năm 2000. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế trên toàn thế giới, Trung Quốc đã thoát ra được một cách tương đối tốt và một trong những hệ quả là Bắc Kinh đã đẩy mạnh một cách đáng kể những yêu sách trong toàn bộ vùng Châu Á-Thái Bình Dương. Đó không phải là vì những lý do lãnh thổ, năng lượng hay tài nguyên như người ta thường nói, mà Trung Quốc có tham vọng thay đổi cái gọi là kiến trúc khu vực và tạo dựng lại một khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, về mặt chiến lược và kinh tế, quây quần xung quanh, với Trung Quốc là trung tâm, và nhờ vậy, Trung Quốc giành lại được vị trí lãnh đạo trong khu vực. Đây mới là tâm điểm của vấn đề.

Điều này giải thích vì sao, trước đây, trong nhiều năm, Châu Á hài lòng vì có quan hệ hòa dịu với Bắc Kinh – và đặc biệt là rất có lợi về kinh tế - thì giờ đây, vấn đề ngày càng nổi trội là mối lo thực sự của các nước trước các tham vọng của Trung Quốc và quyết tâm tái cân bằng ảnh hưởng đối phó với chiến lược này của Trung Quốc, qua việc quay trở lại khu vực của Hoa Kỳ và chưa bao giờ, Mỹ lại được đón tiếp nồng nhiệt như hiện nay.

Trong những ngày qua, tại Singapore, đã có những cuộc trao đổi rất thẳng thắn. Phải chăng là có một bầu không khí lo ngại, nghi ngại sẽ kéo dài trong nhiều năm tới trong khu vực này ?

Vâng, chắc chắn là như vậy và sự nghi ngại này còn tiếp tục kéo dài, chừng nào mối ưu tiên của Bắc Kinh không phải là làm dịu quan hệ với các nước láng giềng. Lô gích của Bắc Kinh là tạo tính chính đáng cho ban lãnh đạo đang cầm quyền hiện nay ở Trung Quốc và tính chính đáng này ngày càng dựa vào những luận điểm dân tộc chủ nghĩa. Các phát biểu này ngày càng ít được kiềm chế và đã được nhấn mạnh, như chúng ta thấy tại Hội nghị Shangri-la.

Do vậy, trước những phát biểu rất dân tộc chủ nghĩa - một số người còn cho rằng là hung hăng - từ phía Trung Quốc nhắm vào toàn bộ khu vực, nhắm vào Nhật Bản một cách không suy xét, cũng như đối với nhiều nước ở Đông Nam Á, như Philippines, Việt Nam và cả Malaysia hay Indonesia – những nước mà Trung Quốc có các vấn đề tranh chấp lãnh thổ, thậm chí, với cả Hàn Quốc, tất cả là những nước trong khu vực.

Đó là chưa nói đến các quốc gia đang có những tranh chấp lãnh thổ trên đất liền, như Ấn Độ, họ cũng lo lắng trước những đòi hỏi của Trung Quốc và chính điều này đã tạo ra một sự liên minh của toàn vùng chống lại chiến lược hiện nay của Trung Quốc và những căng thẳng này sẽ còn tiếp tục chừng nào chính quyền Trung Quốc còn coi các tham vọng này là ưu tiên trong chiến lược đối ngoại của mình.

Tướng Vương Quán Trung, Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc đã đáp trả lại một cách mạnh mẽ trước các cáo buộc của Mỹ. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel đã có những lời lẽ rất thẳng thắn, trực diện, phải chăng vì thế mà Trung Quốc đã đáp lại một cách rất cứng rắn ?

Vâng, đúng vậy. Đối với Trung Quốc, mối đe dọa chính, đó là chiến lược « xoay trục », sự quay trở lại Châu Á của Mỹ, hơn nữa, sự quay trở lại này lại được toàn thể các nước trong vùng ủng hộ, vì chiến lược của Mỹ giúp kìm hãm các tham vọng của Trung Quốc tại đây. Nếu Hoa Kỳ, và đây là thông điệp mà Washington muốn đưa ra, thực sự dấn thân vào Châu Á để trấn an các đối tác và tìm cách tái cân bằng sức mạnh Trung Quốc, thì đương nhiên, các khả năng của Trung Quốc, cho dù đã được phát triển mạnh mẽ trong những năm qua, cũng chẳng đáng kể gì đối với Washington.

Trong một thời gian dài, mục tiêu chiến lược của Bắc Kinh là tìm cách kìm giữ Hoa Kỳ đứng ngoài khu vực hoặc làm thế nào để Mỹ không dấn thân trực tiếp vào xung đột khu vực. Ngày nay, chúng ta thấy rõ là thái độ của Trung Quốc và sự cần thiết đối với Washington phải trấn an các đối tác của mình, như Nhật Bản, đã dẫn đến việc Mỹ tiến hành « xoay trục » và đây là mục tiêu mà Trung Quốc cần phải triệt hạ.

Vậy điều gì có thể hạn chế sức mạnh hoặc sự thống trị của Trung Quốc trong khu vực ?

Nếu không có chiến lược xoay trục của Mỹ, người ta cảm nhận rõ sự khó khăn trong việc ngăn chặn ảnh hưởng của Trung Quốc, trong bài diễn văn của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, khách mời của Hội nghị Shangri-la năm nay. Nếu các nước trong vùng không tin vào sự ủng hộ của Hoa Kỳ nữa, thì có nguy cơ là các nước sẽ phát triển khả năng quân sự.

Nhật Bản ngày nay rất bị hạn chế về sức mạnh quân sự do Hiến pháp của nước này. Thế nhưng Tokyo đã có các dự án sửa đổi Hiến pháp, cho phép Nhật Bản tiến hành các hành động phòng thủ tập thể với các đồng minh trong khu vực. Tokyo cũng đề xuất với các nước Đông Nam Á giúp đỡ họ về thiết bị, công nghệ và huấn luyện, điều này sẽ giúp các nước có được khả năng thực sự về tuần duyên để chống lại Trung Quốc.

Do vậy, người ta có thể chứng kiến sự hồi sinh sức mạnh quân sự của Nhật Bản. Không nên quên rằng, về mặt công nghệ và khả năng quân sự, Nhật Bản, nếu muốn, có thể dư sức bắt kịp các khả năng quân sự của Trung Quốc, một cách nhanh chóng.

Phải chăng Hoa Kỳ thực sự có các phương tiện để thực hiện tham vọng của mình ? Liệu họ có thể đóng vai trò là tác nhân chính trong khu vực này, bởi vì một số khu vực khác trên thế giới cũng đang cần đến Mỹ ?

Đó là nội dung bài diễn văn của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, cũng như của nhiều bài diễn văn của Tổng thống Obama. Hoa Kỳ tái khẳng định sự hiện diện trong vùng Thái Bình Dương, họ sẽ ở lại đây, bên cạnh các đồng minh và đối tác và sẽ đóng vai trò đối trọng với Trung Quốc trong khu vực.

Đương nhiên là có vấn đề ngân sách, nhưng người ta có cảm giác là vì hàng loạt lý do kinh tế và chiến lược, Hoa Kỳ cho rằng Châu Á là khu vực ưu tiên nhất hiện nay. Điều mà người ta đã nghe thấy tại Hội nghị Shangri-la và tại một số diễn đàn khác là việc Mỹ triệt thoái khỏi Afghanistan, dấn thân có chừng mực trong một số vấn đề ở trung và đông Âu, khẳng định tham vọng thực sự của Hoa Kỳ muốn đóng một vai trò chiến lược sống còn đối toàn bộ các nước trong khu vực Châu Á

Thư ngỏ về tình hình khẩn cấp của đất nước (cập nhật: 736 người ký)

Đảng CSVN trước thời cơ lịch sử


Kính gửi đồng bào Việt Nam ở trong nước và nước ngoài,
cùng toàn thể các đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ đầu tháng 5 năm 2014, Trung Quốc huy động nhiều loại tàu, đặc biệt là tàu vũ trang, tàu quân sự và cả máy bay yểm trợ cho việc đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 tại vị trí ở sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, xâm hại tàu, thuyền của ngư dân và tàu công vụ của Việt Nam hoạt động ở vùng biển này. Đó là hành vi xâm lược bằng vũ lực, ngang nhiên vi phạm luật pháp và các cam kết quốc tế mà chính Trung Quốc đã ký kết, đánh dấu một bước leo thang mới rất nguy hiểm của thế lực bành trướng Trung Quốc trong mưu đồ lấn chiếm Biển Đông, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, uy hiếp chủ quyền của một số nước khác tiếp giáp Biển Đông và đe dọa trực tiếp hòa bình, an ninh, an toàn hàng hải trong khu vực. Hành động này, cùng với thái độ ngoan cố, xuyên tạc sự thật trước sự phản đối của dư luận quốc tế, đã phơi trần dã tâm bành trướng của nhà cầm quyền Trung Quốc, phản bội quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt-Trung.
Tình thế hiểm nghèo khi chủ quyền quốc gia bị xâm phạm đòi hỏi phải phân tích, dự báo diễn biến và có đối sách chủ động ứng phó. Trách nhiệm này được đặt ra trước hết cho cơ quan lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), đảng đang cầm quyền. Mấy ngày sau khi Trung Quốc đặt giàn khoan, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI của ĐCSVN đã họp trong 7 ngày (từ 8/5 đến 14/5 năm 2014) song không đáp ứng yêu cầu nêu trên. Phát biểu khai mạc và bế mạc của Tổng Bí thư Đảng CSVN cũng như thông báo của Hội nghị khi kết thúc đều không lên án, phân tích và đề ra đối sách chống lại mưu đồ và hành động xâm lược mới của thế lực bành trướng Trung Quốc. Như vậy, khi đất nước đối mặt với nguy cơ lớn, Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN, trước hết là Tổng Bí thư và Bộ Chính trị đã buông lơi trách nhiệm của mình đối với nước, với dân.
Trước dã tâm của nhà cầm quyền Trung Quốc, nhân dân muốn bày tỏ ý chí chống xâm lược, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nhưng các cuộc biểu tình ôn hòa trong mấy năm qua đều bị nhà cầm quyền trấn áp. Sau “vụ giàn khoan,” các cuộc biểu tình yêu nước của dân vẫn không được chính quyền ủng hộ, mà còn dùng nhiều hình thức ngăn trở, phá đám nên không đạt quy mô và hiệu quả thể hiện đúng sự phẫn nộ và đoàn kết của 90 triệu dân Việt trước kẻ xâm lăng. Nghiêm trọng hơn nữa là sự mất cảnh giác và tình trạng đột ngột tê liệt đến khó hiểu của nhà cầm quyền và các lực lượng an ninh để cho những phần tử xấu chen vào các cuộc biểu tình kích động bạo động phá hoại ở một số nơi, gây thiệt hại cho một số doanh nghiệp nước ngoài, cho nền kinh tế và cho uy tín quốc gia. Dư luận chưa được biết chính xác ai đứng sau những vụ kích động có chủ đích này, song thấy rõ một điều là nhà cầm quyền Trung Quốc đã lập tức thổi phồng những cuộc bạo động này để làm mờ hành vi xâm lược ở Biển Đông và bôi xấu hình ảnh Việt Nam. Các cấp chính quyền nước ta trong khi trợ giúp các doanh nghiệp bị thiệt hại, trấn an các nhà đầu tư nước ngoài, lại lấy các sự cố đó làm cớ để ngăn chặn nhân dân tiếp tục biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược.
Tình thế hiểm nghèo của đất nước hiện nay vừa thách thức nghiêm trọng, vừa tạo cơ hội lớn cho dân tộc ta chấn hưng đất nước theo con đường dân tộc và dân chủ, trước hết là giải tỏa nhận thức mơ hồ về thế lực bành trướng Trung Quốc, thấy rõ sự xâm nhập, lũng đoạn bằng nhiều thủ đoạn tinh vi và thâm độc của thế lực này trên nhiều mặt mà nước ta phải phấn đấu để thoát khỏi sự phụ thuộc, xây dựng quan hệ láng giềng hòa bình, hữu nghị trên cơ sở tự chủ, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.
Dư luận xã hội ghi nhận và ủng hộ những quan điểm và hành động tích cực trong thời gian gần đây của không ít người có trách nhiệm trong bộ máy cầm quyền ở các ngành, các cấp trước mưu đồ bành trướng của Trung Quốc. Trong những biểu hiện đó, nổi lên lời phát biểu của Thủ tướng tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN họp ngày 11-5, tại hội nghị Diễn đàn kinh tế thế giới khu vực Đông Á ngày 22-5, đặc biệt là lời khẳng định “Việt Nam nhất định không chịu đánh đổi chủ quyền thiêng liêng để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”, thể hiện đúng ý chí của nhân dân ta.
Tình hình hiện nay đòi hỏi và tạo cơ sở cho các cán bộ, đảng viên trung thành với tâm nguyện vì dân vì nước cùng với nhân dân vạch rõ và đấu tranh không khoan nhượng chống lại những quan điểm và thái độ nhu nhược đối với kẻ xâm lược, dùng bạo lực, lừa mị đối với dân, lo mất chức quyền hơn mất nước của một số người lãnh đạo ở cơ quan Trung Ương và các cấp, đặc biệt là những kẻ có quan hệ mờ ám với nhà cầm quyền Trung Quốc. Những nhân tố tích cực trong giới cầm quyền cần thoát khỏi sự khống chế và kìm hãm lâu nay, gắn bó mật thiết với dân để cùng nhân dân thúc đẩy cải cách chính trị, chuyển đổi thể chế từ toàn trị sang dân chủ một cách ôn hòa, gắn với cải cách kinh tế, văn hóa, giáo dục, đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng toàn diện và sâu sắc hiện nay, mở ra một trang mới trong lịch sử dân tộc. Chỉ có như vậy chúng ta mới tập hợp, đoàn kết được toàn dân tộc và thu hút được sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của nhân loại tiến bộ để có đủ sức mạnh bảo vệ và phát triển đất nước.
Không một thủ đoạn lừa bịp, hăm dọa hay bạo lực nào từ bên ngoài có thể khuất phục được ý chí bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta!
Không một sự lừa mị, một hành động trấn áp nào có thể lung lạc được tinh thần yêu nước của nhân dân!
Chúng tôi tin tưởng rằng cuộc đấu tranh nêu trên của những đảng viên vì nước vì dân của Đảng CSVN sẽ được nhân dân nhiệt tình ủng hộ, góp sức. Mọi người Việt Nam hãy đồng lòng kiên quyết đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia bằng nhiều hình thức thể hiện rõ tính chính nghĩa và nhân văn, hết sức cảnh giác trước những thủ đoạn kích động của thế lực bành trướng Trung Quốc và tay sai, hết lòng cổ vũ, hỗ trợ các chiến sĩ bảo vệ biển đảo và ngư dân bám biển, đồng thời góp phần tích cực thúc đẩy cải cách chính trị, xây dựng nền dân chủ và pháp trị thực sự, đổi mới và phát triển kinh tế, văn hóa để bảo vệ chủ quyền, đưa đất nước thoát khỏi lệ thuộc và tụt hậu.
Chúng tôi mong nhận được sự đồng tình, hưởng ứng của đồng bào ở trong và ngoài nước cùng với nhiều đảng viên ĐCSVN, thể hiện trước hết bằng việc ký thư ngỏ này và vận động nhiều người khác tham gia.
Để ký tên xin ghi rõ: (1) họ tên; (2) nghề nghiệp; (3) địa chỉ cư trú (mức thành phố, tỉnh); (4) nước nơi đang cư trú; và gửi về địa chỉ thungovn2014@gmail.com
Những người ký tên đầu tiên
  1. Phạm Xuân Yêm, nguyên Giám đốc Nghiên cứu Khoa học (CNRS), Đại học Pierre et Marie Curie, Paris, Pháp
  2. Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử, Huế
  3. Tô Nhuận Vỹ, nhà văn, Huế
  4. Nguyễn Trọng Vĩnh, Thiếu tướng, Hà Nội
  5. J.B Nguyễn Hữu Vinh, kỹ sư, blogger, nhà báo tự do, Hà Nội
  6. Dương Tường, nhà thơ – dịch giả, Hà Nội
  7. Hoàng Minh Tường, nhà văn, Hà Nội
  8. Trần Thị Tươi, làm biên tập website, TP HCM
  9. Hoàng Tụy, GS, Viện Toán học, Hà Nội
  10. Nguyễn Đức Tùng, M.D., Canada
  11. Vũ Quốc Tuấn, nguyên trợ lý Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội
  12. Tô Văn Trường, TS, chuyên gia tài nguyên nước và môi trường, TP HCM
  13. Nguyễn Trung, nguyên trợ lý cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội
  14. Phạm Đình Trọng, nhà văn, TP HCM
  15. Nguyễn Thị Khánh Trâm, nghiên cứu viên về văn hóa, TP HCM
  16. Phạm Toàn, nhà giáo nghỉ hưu, Hà Nội
  17. Nguyễn Minh Tịnh, Australia
  18. Phan Văn Thuận, Giám đốc công ty TNHH Phú An Định, TP HCM
  19. Nguyễn Thị Thu, cán bộ nghỉ hưu, TP HCM
  20. Đào Tiến Thi, ThS, nhà giáo, nhà văn, nhà nghiên cứu ngôn ngữ, Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội
  21. Lê Thân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên cán bộ phong trào đấu tranh của nhân dân, sinh viên, học sinh tranh thủ dân chủ Thành phố Đà Lạt, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP HCM
  22. JM. Lê Quốc Thăng, linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
  23. Trần Minh Thảo, viết văn, Bảo Lộc, Lâm Đồng
  24. Trần Quang Thành, nhà báo, Slovakia
  25. Antôn Lê Ngọc Thanh, linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, Tổng Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
  26. Thân Hải Thanh, nguyên Tổng Giám đốc Benthanhtourist, TP HCM
  27. Trần Thị Băng Thanh, nghiên cứu văn học cổ Việt Nam, Hà Nội
  28. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM
  29. Trần Công Thạch, nhà giáo nghỉ hưu, Sài Gòn
  30. Nguyễn Hữu Tế, TP HCM
  31. Bùi Ngọc Tấn, nhà văn, Hải Phòng
  32. Đào Xuân Sâm, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội
  33. Trần Ngọc Sơn, kỹ sư, Pháp
  34. Tô Lê Sơn, kỹ sư cơ khí, TP HCM
  35.  André Menras Hồ Cương Quyết, cựu tù chính trị chế độ cũ, Cộng hòa Pháp
  36. Bùi Minh Quốc, nhà báo, nguyên Tổng Biên tập tạp chí Lang Bian, Đà Lạt
  37. Nguyễn Đăng Quang, Đại tá, nguyên cán bộ Bộ Công an, Hà Nội
  38. Đặng Bích Phượng, đã nghỉ hưu, Hà Nội
  39. Hiền Phương, nhà văn, TP HCM
  40. Huỳnh Sơn Phước, nhà báo, nguyên thành viên IDS, Hội An
  41. Hà Sĩ Phu, TS, nhà văn tự do, Đà Lạt
  42. Nguyễn Hữu Châu Phan, nhà nghiên cứu, Huế
  43. Nguyễn Văn Nhượng, kỹ sư, Thụy Sĩ
  44. Hồ Ngọc Nhuận, nguyên Chủ bút nhật báo Tin Sáng Sài Gòn, TP HCM
  45. Nguyễn Quang Nhàn, cán bộ công đoàn hưu trí, Đà Lạt
  46. Nguyễn Thái Nguyên, TS, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, Hà Nội
  47. Trần Đức Nguyên, nguyên Trưởng ban Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội
  48. Nguyễn Đình Nguyên, TS, Australia
  49. Hạ Đình Nguyên, hưu trí, TP HCM
  50. Nguyên Ngọc, nhà văn, Hội An – Hà Nội
  51. Nguyễn Xuân Nghĩa, TS, giảng viên, TP HCM
  52. Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM
  53. Trần Tố Nga, nhà giáo về hưu, Huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh của Pháp, hiện sống ở Paris
  54. La Thi Nga, sinh viên, CHLB Đức
  55. Ngô Minh, nhà thơ, Huế
  56. Phạm Gia Minh, TS Kinh tế, Hà Nội
  57. GBt. Huỳnh Công Minh, linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
  58. Phan Đắc Lữ, nhà thơ, TP HCM
  59. Lê Thăng Long, kỹ sư, TP HCM
  60. Mai Thái Lĩnh, nhà giáo nghỉ hưu, nhà nghiên cứu độc lập, Đà Lạt, Lâm Đồng
  61. Hồ Uy Liêm, PGS TS, nguyên quyền Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội
  62. Cao Lập, hưu trí, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Giám đốc Làng Du lịch Bình Quới – Saigontourist
  63. Võ Thị Lan, cán bộ hưu trí (Công an TP- HCM), TP HCM
  64. Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải, nguyên Phó Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội
  65. Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, TP HCM
  66. Trần Minh Khôi, kỹ sư điện toán, Đức
  67. Vũ Trọng Khải, chuyên gia độc lập về phát triển nông thôn, TP HCM
  68. Hoàng Hưng, nhà thơ, nhà báo tự do, TP HCM
  69. Hà Thúc Huy, PGS TS, giảng dạy đại học, TP HCM
  70. Nguyễn Thế Hùng, GS TS ngành Thủy lợi, Phó Chủ tịch Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam, TP Đà Nẵng
  71. Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục giáo phận Vinh
  72. Tô Hòa, nguyên Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM
  73. Nguyễn Xuân Hoa, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin, nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Huế
  74. Hồ Hiếu, cựu tù Côn Đảo, nguyên chánh văn phòng Ban Dân vận Thành ủy, TP HCM
  75. Phạm Duy Hiển, GS, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
  76. Phạm Duy Hiển, kĩ sư, đã nghỉ hưu, Bà Rịa – Vũng Tàu
  77. Vũ Sinh Hiên, nhà nghiên cứu, TP HCM
  78. Nguyễn Công Hê, TP HCM
  79. Nguyễn Thị Thanh Hằng, dược sĩ, Pháp
  80. Võ Thị Hảo, nhà văn, Hà Nội
  81. Đặng Thị Hảo, TS, Hà Nội
  82. Nguyễn Gia Hảo, chuyên gia tư vấn (Kinh tế đối ngoại) độc lập, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ (Võ Văn Kiệt), trọng tài viên Trung tâm Trọng tài (Thương mại) Quốc tế Việt nam (VIAC), Hà Nội
  83. Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Hà Nội
  84. Nguyễn Tất Hanh, họa sĩ, nhà thơ, hội viên Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng
  85. Phạm Bá Hải, Ths Kinh tế, Sài Gòn
  86. Đặng Hạ, lão thành cách mạng, đã nghỉ hưu, Hà Nội
  87. Lê Minh Hà, nhà văn, Đức
  88. Lê Công Giàu, nguyên Tổng Thư ký Tổng hội Sinh viên Sài Gòn 1966, nguyên Giám đốc Trung Tâm xúc tiến thương mại đầu tư, TP HCM
  89. Nguyễn Ngọc Giao, nhà giáo về hưu, Pháp
  90. Nguyễn Hoàng Giao, nghiên cứu sinh tại Đại học Macquarie, Australia
  91. Trần Tiến Đức, nhà báo, đạo diễn truyền hình, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục – Truyền thông Ủy ban Quốc gia Dân số và Kế hoạch hóa Gia đình, Hà Nội
  92. Lê Mạnh Đức, hưu trí, TP HCM
  93. Huy Đức, nhà báo độc lập, TP HCM
  94. Uông Đình Đức, kỹ sư cơ khí đã nghỉ hưu, TP HCM
  95. Phạm Ngọc Đăng, GS TSKH, Nhà giáo Nhân dân, Hà Nội
  96. Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, TP HCM
  97. Nguyễn Đức Dương, nghiên cứu tiếng Việt, cán bộ nghỉ hưu, TP HCM
  98. Lê Đăng Doanh, TS Kinh tế, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ Tướng, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
  99. Doãn Mạnh Dũng, kỹ sư Khai thác Vận tải biển, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hội Biển TP HCM, TP HCM
  100. Hoàng Dũng, PGS TS, Đại học Sư phạm TP HCM, TP HCM
  101. Nguyễn Xuân Diện, TS Ngữ văn, Hà Nội
  102. Nguyễn Trung Dân, nhà báo, TP HCM
  103. Phạm Công Cường, TS Hóa học, nguyên giảng viên Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, cán bộ Viện Nghiên cứu Năng lượng Nguyên tử Quốc gia, Hà Nội
  104. Tiêu Dao Bảo Cự, nhà văn tự do, Đà Lạt
  105. Ngô Thị Kim Cúc, nhà văn, nhà báo, TP HCM
  106. Tống Văn Công, nguyên Tổng Biên tập báo Lao Động, TP HCM
  107. Nguyễn Kim Chung, giáo viên dạy toán đã về hưu, TP HCM
  108. Nguyễn Phương Chi, biên tập viên chính, nguyên Phó phòng Tạp chí Nghiên cứu văn học, Viện Văn học, Hà Nội
  109. Nguyễn Huệ Chi, GS, Hà Nội
  110. Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo, Sài Gòn
  111. Nguyễn Văn Binh, nguyên dân biểu Quốc hội Sài Gòn, TP HCM
  112. Nguyễn Thị Hoàng Bắc, nhà giáo, nhà văn, Hoa Kỳ
  113. Trần Ngọc Báu, nghỉ hưu, Thuỵ Sĩ
  114.  Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng thư ký Hội Trí thức, TP HCM
  115.  Nguyễn Quang A, TS, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội
Đợt 2:
  1.  Phạm Tư Thanh Thiện, nhà báo, nguyên Phó ban Việt ngữ đài RFI, Pháp
  2.  Lại Nguyên Ân, nhà nghiên cứu văn học, Hà Nội
  3.  Nguyễn Tường Thụy, viết báo tự do, Hà Nội
  4.  Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội, Hà Nội
  5. Nguyễn Lộc, giảng dạy Đại học, TP HCM
  6. Ý Nhi (Hoàng Thị Ý Nhi), làm thơ, TP HCM
  7. Nguyễn Đắc Diên, bác sĩ Nha khoa, TP HCM
  8. Nguyễn Quang Thân, nhà văn, TP HCM
  9. Dạ Ngân, nhà văn, TP HCM
  10. Bùi Minh Quỳnh, kỹ sư cầu đường, Nghệ An
  11. Nguyễn Văn Dũng, nhà giáo, nhà văn, Huế
  12. Nguyễn Huy Văn, kỹ sư điện, TP HCM
  13. Vũ Thị Bích, hưu trí, Pháp
  14. Nguyễn Viết Lầu, giảng viên hưu trí, Hà Nội
  15. Đỗ Xuân Thọ, TS Cơ học ứng dụng, Hà Nội
  16. Le Van Minh, CH Czech
  17. Nguyễn Minh Đào, cán bộ hưu trí 57 tuổi Đảng, tỉnh An Giang
  18. Bùi Thị Thiện Căn, nhà giáo hưu trí, Hà Nội
  19. Trần Khắc Trí, nghề tự do, Lâm Đồng
  20. Nguyễn Văn Thanh, cử nhân kinh tế, TP HCM
  21. Bùi Đức Hiệp, nhân viên vận tải, TP HCM
  22. Nguyễn Trí, cử nhân kinh tế, TP HCM
  23. Võ Thanh Hà, giáo viên về hưu, Hà Nội
  24. Huu Loi Ngo nhà phản biện tự do, Huế
  25. Phan Cự Cường, kỹ sư ô tô, Hà Nội
  26. Nguyễn Phương Nam, cán bộ nghỉ hưu, Bà Rịa – Vũng Tàu
  27. Nguyễn Cao Phong, Hà Nội
  28. Nguyễn Đăng Hưng, TSKH, Giáo sư Danh dự Thực thụ, Đại học Liège, Bỉ
  29. Đỗ Thành Long, giáo viên, TP HCM
  30. Nguyễn Văn Túc, cựu quân nhân tình nguyện chiến trường Campuchia, Thái Bình
  31. Doãn Quốc Khoa, TS, kiến trúc sư, giảng viên đại học, Hà Nội
  32. Nguyễn Văn Phú, nghiên cứu và giảng dạy CNRS, Pháp
  33. Phạm Thế Phương, kỹ sư, Hải Phòng.
  34. Hoàng Quý Thân, PGS TS ngành hệ thống điện, Hà Nội
  35. Nguyễn Quang, kỹ sư, CH Czech
  36. Lê Phú Khải, nguyên phóng viên thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại miền Nam, TP HCM
  37. Đoàn Viết Hiệp, kỹ sư điện toán, Pháp
  38. Trần Việt Thắng, ThS khoa học, Hà Nội
  39. Hồ Trọng Để, kỹ sư cơ khí, TP HCM
  40. Tran Van Minh, nghỉ hưu, Đà Nẵng
  41. Lê Văn Ngọ, kỹ sư đã nghỉ hưu, Nha trang
  42. Lê Hoàng Lan, TS, cán bộ về hưu, Hà Nội
  43. Le Xuan Dieu, kinh doanh, TP HCM
  44. Bùi Phan Thiên Giang, kỹ sư Tin học, TP HCM
  45. Hồ Văn Thân, nghề nghiệp tự do, TP HCM
  46. Tran Van Thuan, CNC Programmierer, CHLB Đức
  47. Nguyễn Quang Cương, nhân viên bán hàng kỹ thuật, Hà Nội
  48. Nguyễn Đức Quyết, kỹ sư xây dựng, CHLB Đức
  49. Đoàn Kim Dung, giáo viên hưu trí, Hà Nội
  50. Lê Văn Oánh, kỹ sư xây dựng, Hà Nội
  51. Le Xuan Vinh, nông dân, TP HCM
  52. Đinh Việt Bình, nguyên giảng viên trường Đại học Ngoại Ngữ – Đại học Quốc gia, Hà Nội
  53. Ngô Kim Hoa, nhà báo tự do, TP HCM
  54. Nguyễn Đình Quyền, kiến trúc/ xây dựng, TP HCM
  55. Phan Hữu Nam, CH Czech
  56. Huyen Stefan, California State Employee, Hoa Kỳ
  57. Hoàng Thế Đức, kỹ sư, Hà Nội
  58. John Pham, học sinh, Hoa Kỳ
  59. Hà Dương Tuấn, nguyên chuyên gia công nghệ thông tin, Pháp
  60. Nguyen Van Hai, kỹ sư, doanh nhân, Cambodia
  61. Nguyễn Vũ, kỹ sư, hành nghề tự do, TP HCM
  62. Đặng Văn Lập, kiến trúc sư, Hà Nội
  63. Nguyễn Thiện Nhân, kế toán, Bình Dương
  64. Nguyen Phu Vinh, kỹ sư, TP HCM
  65. Ngô Minh Danh, giáo viên, Đồng Nai
  66. Đặng Trần Hùng, bác sĩ, Hà Nội
  67. Nguyễn Ngọc Thạnh, dược sĩ, Canada
  68. Trần Thế Việt, nguyên Bí thư Thành ủy Đà Lạt, Lâm Đồng
  69. Hoàng Ngọc Trường, kỹ sư hàng hải, thuyền trưởng, Hà Nội
  70. Trần Văn Bang, kỹ sư, cựu binh chống Trung Quốc xâm lược biên giới phía Bắc, TP HCM
  71. Nguyễn Văn Lý, cử nhân, lao động tự do, Hà Tĩnh
  72. Tống Hoàng Nhân, công nhân, Huế.
  73. Phạm Tuấn Trung, kỹ sư tin, Australia
  74. Vũ Tuấn, GS TS, Đại học Sư phạm Hà Nội, đã nghỉ hưu, Hà Nội
  75. Ngô Đức Minh, dạy học, TP HCM
  76. Ngọc Dung Lê, nguyên Tổng Biên tập báo Vietnameuropa, nhà báo quốc tế IFJ, CH Czech
  77. Nguyễn Quốc Ân, dược sĩ đại học, Hà Nội
  78. Tran Thi Quy, giáo viên, nghỉ hưu, CHLB Đức
  79. Vinh Nguyễn, công nhân, Hoa Kỳ
  80. Pet. Xuân Nguyễn, Công nghệ thông tin, TP HCM
  81. Giuse Nguyễn Công Bắc, linh mục giáo phận Vinh, Nghệ An
  82. Phạm Văn Lễ, kỹ sư cầu đường, TP HCM
  83. Hoàng Anh Vũ, chuyên gia công nghệ ngân hàng, Indonesia
  84. Khuất Thu Hồng, nghiên cứu khoa học xã hội, Hà Nội
  85. Thu San Nguyễn Thế Hùng, TS Vật lý, Viện  Vật lý, Hà Nội
  86. Tuyet A Jethwa, cử nhân kinh tế, Nhật Bản
  87. Nguyễn Thế Việt, TS Ngữ văn, CHLB Đức
  88. Vũ Quang Chính, nhà luận phê bình phim, Hà Nội
  89. Trần Thị Hường, kỹ sư kinh tế điện (về hưu), Hà Nội
  90. Phạm Trọng Chánh, TS, nhà nghiên cứu, Pháp
  91. Pham Tuan Anh, kinh doanh, Praha, CH Czech
  92. Lê Toàn, nhà giáo hưu trí, Đà Nẵng
  93. Nguyen Thanh Chính, Hoa Kỳ
  94. Nguyễn Ngọc Duyên, TS, Australia
  95. Nguyễn Hữu Phùng, bác sĩ hưu trí, Đà Nẵng
  96. Trần Ngọc Tuấn, nhà báo, CH Czech
  97. Chu Văn Tiên, kỹ sư, CHLB Đức
  98. Phạm Minh Hoàng, cựu giảng viên Đại học Bách khoa TP HCM, TP HCM.
  99. Chu Quốc Khánh, kỹ sư điện tử, cử nhân kinh tế, Hà Nội
  100. Phạm Hồng Hà, cán bộ hưu trí, Nghệ An
  101. Nguyễn Thanh Nga, MBA, Hà Nội
  102. Nguyễn Ngọc Bảo, kỹ sư, trách nhiệm an ninh thông tin, Pháp
  103. Phạm Duy Hiển, hưu trí, Gia Lai
  104. Lê Văn Chinh, kỹ sư xây dựng, Đà Nẵng
  105. Trần Thị Thúy Lan, nhân viên trợ lý dự án, Hà Nội
  106. Nguyễn Đăng Lập, kỹ sư, Bà Rịa – Vũng Tàu
  107. Nguyễn Văn Vinh, hưu trí, Hà Nội
  108. Nguyễn Văn Thạnh, kỹ sư, Đà Nẵng
  109. Phạm Cường, đạo diễn, CHLB Đức
  110. Nguyễn Đào Trường, cán bộ hưu, Hải Dương
  111. Trần Rạng, nhà giáo, TP HCM
  112. Nguyễn Hoàng Thanh Liêm, An Giang
  113. Cao Nghĩa, kỹ sư cơ khí, Đà Nẵng
  114. Lê Tiên Hoàn, nghỉ hưu, Hà Nội
  115. Lê Xuân Đôn, Chủ tịch Tổng hội Sinh viên học sinh Việt Nam Liên bang Australia, Australia
  116. Nguyễn Tuấn Anh, kinh doanh tự do, Hà Nội
  117. Phan Tinh, kỹ sư, Anh
  118. Trần Văn Tùng, lao động tự do, Tuyên Quang
  119. Nguyễn Hữu Thao, cựu quân nhân F289, Bộ Tư lệnh Công binh Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bulgaria
  120. Đỗ Thành Nhân, quản lý doanh nghiệp, Quảng Ngãi
  121. Nguyễn Minh Sang, làm ruộng, Bắc Giang
  122. Quý Hải, nhà tư vấn & đào tạo, TP HCM
  123. Phan Đình Hùng, kỹ sư vỏ tàu thuỷ, đăng kiểm (đã nghỉ hưu), Australia
  124. Trần Ngọc Hùng, y sĩ, Bình Dương
  125. Nguyễn Thị Thanh Tâm, nhà đầu tư, Hà Nội
  126. Trịnh Hồng Kỳ, nhân viên xuất nhật khẩu, TP HCM
  127. Vũ Tuấn, TS phần mềm và điện tử, CHLB Đức
  128. Đào Văn Bính, kỹ sư xây dựng, Hà Nội
  129. Trần Hữu Lực, kỹ sư điện tử, TP HCM
  130. Trần Tư Bình, giáo chức, chủ nhiệm web chữ Việt nhanh, Sydney, Australia
  131. Lê Quang Thanh, TP HCM
  132. Đào Đình Bình, kỹ sư hưu trí, Hà Nội
  133. Huỳnh Thị Ngọc Tuyết, hưu trí, TP HCM
  134. Nguyễn Minh Hiền, nguyên Tổng biên tập báo Doanh Nhân Sài Gòn, TP HCM
  135. Trần Hữu Khánh, hưu trí, TP HCM
  136. Phạm Văn Đỉnh, TS KH, Pháp
  137. Nguyễn Khánh Hưng, kiểm toán viên, Hoa Kỳ
  138. Phan Quốc Tuyên, kỹ sư tin học, Thụy Sĩ
  139. Lý Đăng Thạnh, người chép Sử, TP HCM
  140. Phạm Thanh Lâm, kỹ sư điện tử, Đan Mạch
  141. Lê Manh Tiên, kinh doanh, Lào
  142. Vũ Ngọc Thăng, dịch giả, Canada
  143. Việt Linh, đạo diễn, TP HCM
  144. Phạm Văn Thành, Pháp
  145. Đoan Trang, nhà báo, Hoa Kỳ
  146. Đặng Kim Toàn, tư doanh, Hoa kỳ
  147. Nguyễn Cường, kinh doanh, CH Czech
  148. Trần Văn Tấn, kỹ sư, CHLB Ðức
  149. Phan Thanh Bình, Hoa Kỳ
  150. Lê Công Định, tù nhân tư tưởng, bị quản chế, TP HCM
  151. Nguyễn Hồng Quân, kỹ sư xây dựng, TP HCM
  152. Trần Viết Tôn, bác sĩ, CHLB Đức
  153. Trần Thị Thanh Tâm, nghỉ hưu, Ba Lan
  154. Phạm Toàn Thắng, kinh doanh, CH Czech
  155. Trần Thị Quyên, giáo viên, TP HCM
  156. Nguyễn Ngọc Đức, kỹ sư tin học, Pháp
  157. Nguyễn Trung Thành, kỹ sư Giao thông Vận tải, Phú Thọ
  158. Đặng Lợi Minh, giáo viên hưu trí, Hải Phòng
  159. Ngô Đức Thọ, PGS TS, nhà nghiên cứu di sản Hán Nôm, Hà Nội
  160. Le Luc, họa sĩ, Canada
  161. Nguyễn Quốc Quân, TS Toán, Hoa Kỳ
  162. Nguyễn Minh Mẫn, kỹ sư, Canada
  163. Nguyễn Thị Nguyệt Nga, Canada
  164. Nghiêm Ngọc Trai, kỹ sư xây dựng đã nghỉ hưu, Hà Nội
  165. Nguyễn Xuân Thọ, kỹ sư điện tử, CHLB Đức
  166. Nguyễn Trọng Hoàng, bác sĩ y khoa, Pháp
  167. Nguyễn Quế Hương, kiến trúc sư, Hoa Kỳ
  168. Hà Minh Hiển, TS Hoá học, Ba Lan
  169. Võ Tiến Khai, kỹ sư Cơ khí, Biên Hòa
  170. Trương Long Điền, công chức hưu trí, An Giang
  171. Trần Định Quốc Khai Nguyên, FAA Honeywell Aerospace, Hoa Kỳ
  172. Hoàng Dương Tuấn, giáo sư đại học công nghệ Sydney (University of Technology, Sydney), Australia
  173. Nguyễn Hữu Sâm, cựu Giáo sư Trung học đệ nhị cấp, hồi hưu, Australia
  174. Tien Loc Nguyen, nhà văn, Canada
  175. Thi Canh Nguyen, công nhân, Canada
  176. Thu Hai  Irich, giáo viên, Canada
  177. Nguyễn Công Nghĩa, TS bác sĩ, nghiên cứu viên đại học Waterloo, Canada
  178. Trần Quang Ngọc, TS, nghiên cứu khoa học, Hoa Kỳ
  179. Nguyễn Sỹ Phương, Dr, CHLB Đức
  180. Nguyễn Thanh Lam, nghiên cứu khoa học, Viện  Công nghệ California, Hoa Kỳ
  181. Hanson Ngo, kỹ sư, Australia
  182. Trần Quốc Hải, TS Địa chất, Hà Nội
  183. Nguyễn Thanh Sơn, viết văn thơ (bút danh: Trầm Hương Thơ), CHLB Đức
  184. Đoàn Nhật Hồng, nguyên Giám đốc Sở Giáo dục Lâm Đồng, Lâm Đồng
  185. Phan Dương, kỹ sư, TP HCM
  186. Phạm Đỗ Chí, TS Kinh tế, chuyên gia độc lập, Hoa Kỳ
  187. Nguyễn Ngọc Thạch, hưu trí, TP HCM
  188. Phan Thành Khương, nhà giáo, Ninh Thuận
  189. Nguyen Diep, Hoa Kỳ
  190. Phạm Anh Tuấn, kỹ sư, Australia
  191. Pham Dang Lam, kỹ sư, Australia
  192. Nguyễn Văn Dũng, TS Vật lý, nguyên là cán bộ của Viện  Khoa học Việt Nam, Hoa Kỳ
  193. Nguyễn Văn Mạnh, cử nhân, TP HCM
  194. Nguyễn Văn Bôn, kỹ sư, nguyên Đại uý Viện Kỹ thuật Quân sự, Hà Nội
  195. Phạm Như Hiển, dạy học, Thái Bình
  196. Nguyen Minh Dang, kỹ sư, TP HCM
  197. Nguyễn Văn Nghiêm, thợ hớt tóc, Hòa Bình
  198. Trần Quốc Hùng, cựu giáo viên, TP HCM
  199. Nguyễn Xuân Liên, giám đốc bảo tàng, Quảng Bình
  200. Giáng Vân, nhà thơ, nhà báo, Hà Nội
  201. Nguyễn Văn Nghiêm, nhà giáo nghỉ hưu, Hà Nội
  202. Nguyễn Việt Anh, cựu sinh viên Học viện  Hành chính Quốc gia; sinh viên Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội
  203. Tran Hung Thinh, hưu trí, Hà Nội
  204. Nguyễn Thị Kim Thoa, bác sĩ, TP HCM
  205. Nguyễn Hồng Khoái, chuyên viên tư vấn Tài chính, Hà Nội
  206. Hà Văn Thùy, nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, TP HCM
  207. Chu Sơn, nhà văn, TP HCM
  208. Huỳnh Thị Ngọc Diệp, giảng viên Đại học Nông Lâm Huế, Huế
  209. Tạ Cao Nguyên, giáo viên Trung học Phổ thông, Lạng Sơn
  210. Bùi Ngọc Mai, cử nhân Khoa học, TP HCM
  211. Nguyễn Nhật Hoan, Hoa Kỳ
  212. Hà Văn Chiến, cựu chiến binh, Hà Nội
  213. Đào Minh Châu, tư vấn về chính sách công và hành chính công, Hà Nội
  214. Ho Van Thuy, kỹ sư hưu trí, Canada
  215. Nguyễn Thành Duy, kỹ sư xây dựng, Hà Nội
  216. Nguyễn Đức Việt, IT Contractor, Australia
  217. Đào Thanh Thủy, hưu trí, Hà Nội
  218. Nguyễn Thiện Tống, PGS TS, giảng viên hưu trí, TP HCM
  219. Vũ Quốc Ngữ, nhà báo, Hà Nội
  220. Nguyễn Đức Toàn, thạc sĩ kỹ thuật, TP HCM
  221. Trần Thiện Kế, dược sĩ, Hà Nội
  222. Trương Chí Tâm, cử nhân y khoa, TP HCM
  223. Nguyễn Hữu Toàn, kỹ sư (nghỉ hưu), Hà Nội
  224. Nguyen Huu Loc, công nhân, TP HCM
  225. Nguyễn Thế Thanh, nguyên Phó Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao Du lịch TP HCM, nguyên Tổng Biên tập báo Phụ Nữ TP HCM, TP HCM
  226. Nguyen Manh Cuong, kiến trúc sư, Hoa Kỳ
  227. Âu Dương Toàn, kỹ sư thủy lợi thủy điện, Huế
  228. Nguyễn Quốc Hùng, kỹ sư, doanh nhân ngoài quốc doanh, Hà Nội
  229. Hung Huynh, nghỉ hưu, Hoa Kỳ
  230. Nguyễn Dũng, kỹ sư, TP HCM
  231. Đinh Thị Quỳnh Như, TS giảng viên ĐH, hưu trí,TP HCM
  232. Tô Xuân Thành Vinh, doanh nhân, Nghệ An
  233. Đỗ Hữu Hải, kỹ sư điện, Hà Nội
  234. Nguyễn Hữu Dư, Long An
  235. Hoàng Ngọc Cầm, TS KH, Hà Nội
  236. Đào Thế Long, TS, giảng viên đại học, TP HCM
  237. Cao Thế Đoàn, sinh viên, Hà Nội
  238. Nguyễn Hữu Tuyến, kỹ sư hưu trí, TP HCM
  239. Phùng Chí Kiên, designer, Hà Nội
  240. Đỗ Quý, thạc sĩ, Australia
  241. Phạm Văn Thọ (luật gia – nhà báo Minh Thọ), TP HCM
  242. Nguyen Me Linh, TS, đảng viên, Huy hiệu 50 năm tuổi đảng, TP HCM
  243. Huỳnh Văn Quốc Ấn, giáo viên, Huế
  244. Vũ Hồng Phong, kỹ sư, TP HCM
  245. Phạm Quang Tuấn, PGS, Đại học New South Wales, Australia
  246. Dương Sanh, nhà giáo, Khánh Hòa
  247. Phan Trần Minh, kinh doanh, TP HCM
  248. Vũ Thu Hương, TS Địa vật lý, Hà Nội
  249. Nguyễn Xuân Quy, nghề nghiệp tự do, Tiền Giang
  250. Phạm Văn Minh, làm ruộng, Hà Nội
  251. Trần Bình Nam, bình luận gia, nguyên sĩ quan Hải quân VNCH, cựu Dân Biểu Quốc hội VNCH, Hoa Kỳ
  252. Lê Doãn Thảo, Ths Vật lý Hạt nhân, hưu trí, Hà Nội
  253. Tạ Huy Tuyến, kỹ sư, Hà Nội
  254. Nguyen Van Hoang, nghiên cứu, Nhật Bản
  255. Nguyễn Thu Nguyệt, nhà giáo về hưu, TP HCM
  256. Lý Thường, công nhân, Australia
  257. Hoàng Trọng Luận, kỹ sư Điện tử Viễn thông, TP HCM
  258. Nguyễn Huy Canh, giáo viên, đảng viên, Hải Phòng
  259. Trần Quốc Tuấn, kinh doanh, Hà Nội
  260. Phạm Ngọc Thái, nhà thơ, Hà Nội
  261. Phùng Hoài Ngọc, ThS, nguyên Trưởng bộ môn Ngữ văn Đại học An Giang, An Giang
  262. Ngô Minh Hải, chuyên viên phân tích đầu tư, TP HCM
  263. Trần Tuấn, nghề ngiệp tự do, Nha Trang
  264. Nguyễn Thị Ngọc Giao, Hoa Kỳ
  265. Nguyễn Việt Thu, hưu trí, TP HCM
  266. Đinh Hoàng Thắng, TS, Thành viên “Chương trình Minh triết Nghiên cứu Biển Đông”, Hà Nội
  267. Phạm Văn Lộc, nhân viên kế toán, TP HCM
  268. Huỳnh Hải Nam, kế toán, TP HCM
  269. Trần Văn Thọ, GS, Đại học Waseda, Nhật Bản
  270. Nguyen The Phuong, TS, phát triển software, Canada
  271. Nguyễn Văn Viên, kinh doanh, Hà Nội
  272. Nguyễn Ngọc Nại, Hà Nội
  273. Hoàng Anh Tuấn, TS KH, Singapore
  274. Bùi Kim Yến, Hà Nội
  275. Thanh Tran, nurse, Australia
  276. Phan Văn Hiến, PGS TS, Hà Nội
  277. Nguyễn Quang Luân, thợ ảnh, Gia Lai
  278. Trịnh Ngọc Phương, giáo viên, Phú Thọ
  279. Nguyễn Văn Hớn, kỹ sư, nghỉ hưu, Hà Nội
  280. Nguyễn Thượng Long, dạy học và viết báo, Hà Nội
  281. Nguyễn Văn Ngọc, từng là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Thụy Điển
  282. Trần Văn Thành, linh mục, Quảng Bình
  283. Trần Hữu Hạnh, nguyên Giám đốc Đài Australia, Australia
  284. Trần Đình Nam, nguyên Trưởng ban biên tập Nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội
  285. Phạm Quang Long, linh mục giáo phận Vinh, Nghệ An
  286. Dương Tùng, chăn nuôi, Bình Dương
  287. Phạm Kỳ Đăng, làm thơ, viết báo, dịch thuật, CHLB Đức
  288. Nguyễn Hòa, cao học hành chánh Sài Gòn, đã hưu, Hoa Kỳ
  289. Hoàng Xuân Ý, kỹ sư, Nghệ An
  290. Trần Thái Ái Thiên Ân, TP HCM
  291. Cao Tuấn Huy, Đồng Nai
  292. Võ Văn Điểm, nhà báo, Hoa Kỳ
  293. Phạm Khiêm Ích, nguyên Phó Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Hà Nội
  294. Ngô Đình Thẩm, đồ họa máy tính, TP HCM
  295. Lê Mạnh Năm, nghiên cứu viên, Hà Nội
  296. Hoàng Ngọc Giao, LS TS, Hà Nội
  297. Nguyễn Văn Quang, kỹ sư xây dựng, nghỉ hưu, Bạc Liêu
  298. Nguyễn Quang Ngọc, kỹ sư, Hà Nội
  299. Trần Quốc Hưng, công nhân, Đồng Nai
  300. Lê Tuấn, kỹ sư xây dựng, Hà Nội
  301. Đỗ Văn Hoàn, tu nghiệp sinh, Nhật Bản
  302. Lê Hiền Đức, công dân chống tham nhũng, Hà Nội
  303. Vũ Quang Anh Tuấn, Phó Chủ tịch H Hiệp Hội Nails & Thẩm Mỹ Người Việt / Trưởng Phòng Ngoại Vụ Hiệp Hội Nails & Thẩm Mỹ Người Việt (Vietnamese Nails & Beauty Association USA), Hoa Kỳ
  304. Khổng Hy Thiêm, kỹ sư Điện, Khánh Hòa
  305. Nguyễn Anh Vân, luật sư, Hà Nội
  306. Lê Quôc Thai, kỹ sư tin học, Phap
  307. Trương Bá Thụy, dược sĩ, TP HCM
  308. Phan Thi Lien, kỹ sư cơ khí, Australia
  309. Nguyễn Minh Tiến, giáo viên, Phú Thọ.
  310. Quách Đăng Triều, GS TSKH, thuộc Viện Hoá học Việt Nam, Hà Nội
  311. Diep Kim Lan, engineer, Hoa Kỳ
  312. Nguyễn Việt, nghỉ hưu, Hà Nội
  313. Vũ Duy Hoàn, kỹ sư, Hà Nội
  314. Trịnh Tuấn Dũng, kỹ sư, Hà Nội
  315. Trần Khuê, nhà nghiên cứu văn hoá, TP HCM
  316. Tô Oanh, giáo viên nghỉ hưu, Bắc Giang
  317. Trần Trung Chính, nhà báo, Hà Nội
  318. Tran Thien Nien, TP HCM
  319. Nguyen Thi Xuan Hoa, giáo viên đã về hưu có 60 năm tuổi đảng, TP HCM
  320. Đào Thị Ngọc Trâm, giáo viên đã về hưu, TP HCM
  321. Nguyen Thi Lan, công nhân, CHLB Đức
  322. Phạm Tấn Hà, chuyên gia Tài nguyên nước, Buôn Ma Thuột
  323. Phạm Văn Mầu, cán bộ hưu trí, Hà Nội
  324. Phan Xuân Ngọc, nguyên Phó Hiệu trưởng Đại học Hàng hải, Nha Trang
  325. Đỗ Đình Tuân, giáo viên nghỉ hưu, Hải Dương
  326. Nguyên Văn Nghĩa, kỹ sư, Nga
  327. Nguyễn Anh Tuấn, nhân viên văn phòng, TP HCM
  328. Tuấn Khanh (tên đầy đủ Nguyễn Tuấn Khanh), nhạc sĩ, TP HCM
  329. Nguyễn Lưu, Hà Lan
  330. Lê Thanh Tùng, phóng viên tự do, TP HCM
  331. Thu Nguyen, nhân viên bảo vệ, Hoa Kỳ
  332. Võ Công Bằng, kỹ sư xây dựng, TP HCM
  333. Nguyễn Hữu Cầu, nhà giáo nghỉ hưu, Canada
  334. Nguyen Thi Thu Thuy, nhân viên tư vấn tâm lý học đường, TP HCM
  335. Trần Hữu Kham, thương binh mù, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP HCM
  336. Chu Văn Hòa, cử nhân, CHLB Đức
  337. Đặng Vũ Chương, Nga
  338. Thúy Ngoan, designer, Hà Nội
  339. Lê Nguyên Hải, kỹ sư tin học, Hoa Kỳ
  340. Lê Văn Điền, TS Toán học, Ba Lan
  341. Hồ Vĩnh Trực, kỹ thuật viên vi tính, TP HCM
  342. Nguyen Minh Nhut, mục sư, Hoa Kỳ
  343. Bui Quang Trung, kỹ sư xây dựng, Pháp
  344. Lương Nguyễn Trãi, giáo viên Trung học Phổ thông, TP HCM
  345. Trần Hồng Nhung, PGS TS Vật lý, cán bộ hưu trí, Hà Nội
  346. Nguyễn Mạnh Hùng (Nam Dao), TS Kinh tế, nguyên GS Đại học Laval, Canada
  347. Phạm Văn Đảng, lái xe, Bà Rịa – Vũng Tàu
  348. Truong Vinh Phuc, cựu chiến binh, hưu trí, Hà Nội
  349. Nguyễn Hồng Phi, họa sĩ, Thái Lan
  350. Phạm Ngọc Luật, nhà báo, nguyên Phó Giám đốc Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội
  351. Nguyễn San, ứng viên TS Vật lý Hải dương, Hoa Kỳ
  352. Võ Quang Tu, hưu trí, Canada
  353. Hồ Sĩ Phú, ThS, kỹ sư, TP HCM
  354. Khương Việt Hà, ThS, nghiên cứu văn học, Hà Nội
  355. Tran Kim Nhung, hưu trí, TP HCM
  356. Trương Lợi, kỹ sư, TP HCM
  357. Mai An Nguyễn Anh Tuấn, nhà làm phim độc lập, nhà báo tự do, Hà Nội
  358. Lê Mạnh Hùng, kỹ sư Điện, CHLB Đức
  359. Hoàng Đình Tú, kỹ sư, TP HCM
  360. Thọ Lê, nhà giáo nghỉ hưu, Australia
  361. Nguyễn Út Việt, sinh viên trường Đại học Luật TP HCM, Ninh Thuận
  362. Trần Công Tâm, TS, nguyên cán bộ khoa học, Nga
  363. Phan Hùng, bộ đội nghỉ hưu, Hà Nội
  364. Phi Chu, thợ máy, Hoa Kỳ
  365. Võ Nam Việt, Nga
  366. Tuan Tran, kỹ thuật gia hàng không, Hoa Kỳ
  367. Đoàn Thị Kim Dung, giáo viên, hưu trí, Hà Nội
  368. Nghiêm Sĩ Cường, kinh doanh, Hà Nội
  369. Nguyễn Thế Tuyển, bác sĩ, Bắc Giang
  370. Tạ Quang Trung, luật sư tòa Thượng Thẩm, nguyên hội viên Hội đồng Luật sư luật sư đoàn tòa Thượng thẩm Sài Gòn, Hoa Kỳ
  371. Pham Thuc, công nhân, Na Uy
  372. Le Dinh Hong, kế toán, Canada
  373. Le Thi Nhan, nội trợ, Canada
  374. Nguyễn Đình Hòa, đầu tư địa ốc, Hoa Kỳ
  375. Trần Trung Sơn, giảng viên trường Sĩ quan không quân, Khánh Hòa
  376. Thích Nguyên Hùng, tu sĩ, Pháp
  377. Nguyễn Văn Thạch, sinh viên Đại học Kinh tế, TP HCM
Đợt 3:
  1. Hà Dương Tường, nguyên giáo sư Đại học Công nghệ Compiègne, Pháp
  2. Nguyễn Anh Tuấn, cán bộ giảng dạy và nghiên cứu, Hà Nội
  3. Nguyễn Ánh Tuyết, chuyên viên viễn thông, Hà Nội
  4. Nguyễn Ngọc Trinh, kỹ sư Điện toán, CHLB Đức
  5. Philip Maria Lê Văn Vui, linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, Giáo phận Đà Nẵng
  6. Nguyễn Bích Thuỷ, nghiên cứu sinh nghệ thuật, Thuỵ Điển
  7. Thien Pham, sửa chữa điện tử, Hoa Kỳ
  8. Trí Quang Trần, công nhân điện tử, CHLB Đức
  9. Nguyễn Quyền, công nhân, CHLB Đức
  10. Phó Văn Ngọc, công chức, Canada
  11. Trần Văn Biển, kỹ sư Hóa Lý, Hà Nội
  12. Hoàng Xuân Họa, nông dân, Hà Nội
  13. Nguyễn Thế Hồng, kỹ sư, Ý
  14. Quan Vinh, chuyên viên tin học, Ý
  15. Trịnh V Trung, công chức Bộ Xã Hội, VNCH trước 75, cựu tù nhân cải tạo sau 75, Hoa Kỳ
  16. Nguyen Anh Nhon, cơ khí, Hà Lan
  17. Uông Đắc Đạo, cử nhân Luật Sài Gòn, hưu trí, Hoa Kỳ
  18. Hoàng Văn Khẩn, tiến sĩ Sinh hoá học, Thuỵ Sĩ
  19. Đồng Quang Vinh, cán bộ hưu trí, Khánh Hòa
  20. Nguyễn Xuân Hoài, nguyên là bộ đội, cán bộ hưu trí, TP HCM
  21. Đặng Hùng Võ, GS TSKH, nhà khoa học, Hà Nội
  22. Nguyễn Phước Hi, hưu trí, CHLB Đức
  23. Đinh Văn Độ, doanh nhân, Ba Lan
  24. Ngụy Hữu Tâm, dịch giả, tác giả sách, nguyên cán bộ Viện Vật lý, Hà Nội
  25. Phạm Đôn Văn, kỹ sư, Hoa kỳ
  26. Dinh Ta Pham, hưu trí, Australia
  27. Thi Hue Nguyen, hưu trí, Australia
  28. Lương Thành, kỹ sư ngành Điện, Hoa Kỳ
  29. Trương Đại Nghĩa, cựu tù nhân cải tạo, Hoa Kỳ
  30. Nguyễn Trọng Hoàng, TS Vật lý, CHLB Đức
  31. Lê Ngọc Vân, giảng viên, TP HCM
  32. Nguyễn Văn Công, bác sĩ, Bình Dương
  33. Lương Ngọc Châu, kỹ sư Điện toán, hưu trí, CHLB Đức
  34. Nguyễn Thanh Tuyên, bác sĩ, hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng, Hải Phòng
  35. Lê Văn Tâm, nguyên Chủ tịch Hội Người Việt Nam tại Nhật Bản, Nhật Bản
  36. Bui Thien Thuan, chuyên viên bảo trì trường học, Hoa Kỳ
  37. Nguyen V Oanh, Hoa Kỳ
  38. Trịnh Hùng, ThS Kinh tế, Australia
  39. Vū Thị Kim Thanh, chuyên viên thuế vụ, Australia
  40. Nguyễn Đức Phổ, nông dân, Lâm Đồng
  41. Hồng Kế Nghi, tài xế, Đồng Nai
  42. Nguyễn Thu Hoài, cử nhân ngoại ngữ, Yên Bái
  43. Nguyễn Thanh Nam, TS, kỹ sư, Hoa Kỳ
  44. Tô Đình Đài, hưu trí, Hoa Kỳ
  45. Võ V Phú, kỹ sư, Hoa Kỳ
  46. Son Pham, Hoa Kỳ
  47. Nhuận Lê, kỹ sư, Hoa Kỳ
  48. Duong Dac Loi, kinh doanh, CH Czech
  49. Huu Nguyen, công nhân, Australia
  50. Trần Cao Tác, kỹ sư xây dựng, Gia Lai
  51. Mai Van Ngoc, giảng viên ĐHSP, TP HCM
  52. Nguyễn Duy Hải, giáo viên Lịch sử, Long An
  53. Đặng Đình Khởi, lập trình viên, TP HCM
  54. Hà Quốc Chính, cựu chiến binh Campuchia, TP HCM
  55. Đặng Thế Hòa, nghề nghiệp công nhân, TP HCM
  56. Trần Vũ Hải, luât sư, Hà Nội
  57. Le Quang, hoolywood/video, Hoa Kỳ
  58. Nguyễn Hoàng Thanh Sang, cử nhân khoa học, TP HCM
  59. Đinh Quốc Phong, công nhân kỹ thuật điện, TP HCM
  60. Nguyen Thanh Nga, bác sĩ, Bà Rịa – Vũng Tàu
  61. Nhat Vo, machinist, Canada
  62. Nguyễn Trung Lĩnh, kỹ sư cơ khí chế tạo máy, Hà Nội
  63. Nguyễn Đình Ấm, nhà báo, Hà Nội
  64. Nguyễn Kim Thái, quản lý doanh nghiệp tư nhân, Vũng Tàu
  65. Nguyễn Đức, nhạc sĩ, Đắk Lắk
  66. Pham Van Tho, kỹ thuật viên tin học, Pháp
  67. Nguyễn Đăng Bình, kiến trúc sư, Đà Nẵng
  68. Nguyen Thanh Nam, nông dân, TP HCM
  69. Vũ Đình Khản, cán bộ hưu trí, Hải Dương
  70. Lê Hải, nhà nhiếp ảnh, nhà báo, Đà Nẵng
  71. Nguyễn Văn Thinh, nhà báo nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Phương Mai, Bình Định
  72. Trần Văn Anh Tuấn, điện tử, Bà Rịa – Vũng Tàu
  73. Lê Hữu Minh Tuấn, nghiên cứu Lịch sử, TP HCM
  74. Phạm Thanh Lam, nhà giáo hưu trí, Bình Định
  75. Nguyễn Tiến Trung, kỹ sư máy tính, TP HCM
  76. Bùi Khôi Hùng, kỹ sư đã nghỉ hưu, Hà Nội
  77. Nguyễn Quang Vinh, kỹ sư, Bộ Quốc phòng, Hà Nội
  78. Ngô Thúc Lanh, GS Nhà giáo Nhân dân, nhà giáo nghỉ hưu, Hà Nội
  79. Nguyễn Kỳ Nam, nghiên cứu viên, TS, Trung tâm Tính toán hiệu năng cao, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
  80. Đoàn Phú An, kinh doanh vàng, TP HCM
  81. Elizabeth Ho, teacher, Australia
  82. Nguyễn Quốc Bình, kỹ sư xây dựng, TP HCM
  83. Nghiêm Hữu Hạnh, PGS TS, nghiên cứu viên, Hà Nội
  84. J.B Nguyễn Bửu Khánh, linh mục, giáo phận Xuân Lộc, Đồng Nai
  85. Huỳnh Nhật Hải, hưu trí, Lâm Đồng
  86. Huỳnh Nhật Tấn, hưu trí, Lâm Đồng
  87. Nguyễn Thạch Cương, TS Nông nghiệp, nguyên chủ tịch HĐQT, giám đốc công ty cổ phần giống cây trồng Hà Tây, đảng viên, bí thư đảng ủy công ty cổ phần giống cây trồng Hà Tây, Hà Nội
  88. Nguyễn Hai, kỹ sư, Bình Thuận
  89. Kim Tinh, cán bộ hưu trí, Tiền Giang
  90. Trần Quốc Phú, thương nhân, TP HCM
  91. Ngô Hoàng Quốc Tuấn, bác sĩ, TP HCM
  92. Tran Thuy, dược sĩ, TP HCM
  93. Cao Bảo Châu, viên chức, Hoa Kỳ
  94. Trương Minh Quang, kỹ sư, Hoa Kỳ
  95. Pham Minh Duc, kỹ sư, Hà Nội
  96. Trương Tâm Đạt, kinh doanh, Australia
  97. Phan Trọng Khang, thương binh 2/4, Hà Nội
  98. Nguyễn Văn Băng, kỹ sư, Hà Nội
  99. Nguyễn Thanh Thuấn, kinh doanh và sản xuất cà phê nguyên chất, Cần Thơ
  100. Ngô Quang Thanh, nghề nghiệp tự do, TP HCM
  101. Nguyễn Hữu Phước, công nhân, Hà Lan
  102. Trương Thị Tường Anh, nội trợ, Hà Lan
  103. Nguyễn Phước Anh Quang, học sinh, Hà Lan
  104. Nguyễn Phước Vân Anh, học sinh, Hà Lan
  105. Phạm Văn Điệp, hội trưởng Hội người Việt Nam, Nga
  106. Nguyễn Đăng Khoa, kỹ sư, Hoa Kỳ
  107. Phạm Thị Thường, kinh doanh, CH Czech
  108. Đinh Xuân Dũng, bác sĩ, cựu sĩ quan quân y VNCH, Hoa Kỳ
  109. Quảng Thuận, nhà thơ, cựu dân biểu VNCH, Hoa Kỳ
  110. Đào Văn Tùng, cán bộ nghỉ hưu, Tiền Giang
  111. Lê Anh Hùng, dịch giả/blogger, Hà Nội
  112. Nghiêm Hồng Sơn, cán bộ nghiên cứu, Australia
  113. Hoang Thang Long, kỹ sư, Hoa Kỳ
  114. Trần Thị Thanh Thủy, nhân viên phiên dịch Anh – Hoa, TP HCM
  115. Trần Thị Phượng, nghiên cứu viên, Nhật Bản
  116. Lê Văn Cát, kỹ sư, CHLB Đức
  117. Lâm Phước Đông, kỹ thuật viên X-quang, Hoa Kỳ
  118. Tran Duc Thien, kinh doanh, CHLB Đức
  119. Trần Văn Hùng, giáo viên, Tiền Giang
  120. Nguyễn Phụng Hoàng, bác sĩ, đảng viên, Lâm Đồng
  121. Nguyễn Huy Tiển, pensioner, Australia
  122. Nguyễn Thanh Giang, TS Địa Vật lý, Hà Nội
  123. Trần Văn Phong, 43 tuổi đảng, Nghệ An
  124. Lê Duyệt, lao động tự do, Quảng Trị
  125. Đỗ Minh Tuyến, blogger bất đồng chính kiến, Hoa Kỳ
  126. Đỗ Anh Pháo, cử nhân nghỉ hưu, Hà Nội
  127. Đỗ Hồng Phấn, chuyên gia tự do về tài nguyên nước, Hà Nội,
  128. Phạm Xuân Tạo, sinh viên đang du học tại Đại học Melbourne, Australia
  129. Đặng Minh Liên, nghiên cứu viên, biên tập, biên kịch, nhà báo, giảng viên điện ảnh, Hà Nội
  130. Vũ Ngọc Bích, nội trợ, CHLB Đức
  131. Hà Bình Minh, nhà thơ, giáo viên về hưu, Lâm Đồng
  132. Hoàng Hưng, kỹ sư Điện, TP HCM
  133. Phạm Nguyễn, công chức, Bình Dương
  134. Huỳnh Thị Thu, kế toán, Đồng Nai
  135. Nguyên Văn Trận, làm ăn tự do, Quảng Bình
  136. Nguyễn Hữu Bình, kinh doanh, TP HCM
  137. Vũ Đình Quý, sinh viên, Hà Nội
  138. Trần Thanh Bình, kỹ sư, Ý
  139. Anna Pham Nguyễn, hưu trí
  140. Bùi Tiến An, cựu tù chính trị chuồng cọp Côn Đảo, nguyên cán bộ ban Dân vận thành ủy TP HCM, TP HCM
  141. Nguyễn Thái Minh, kinh doanh, Thái Nguyên
  142. Nguyễn Phạm Kim Sơn, công dân tự do, Đà Nẵng
  143. Nguyen Minh Hung, công an, TP HCM
  144. Nguyễn Anh Ngọc, nghề nghiệp tự do, Hải dương
  145. Trần Văn Hà, luật sư, Hà Nội
  146. Đào Công Tiến, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Hiệu trưởng Đại học Kinh tế TP HCM, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tứng chính phủ, TP HCM
  147. Nguyễn Ngọc Xuân, Bà Rịa – Vũng Tàu
  148. Lê Đức Minh, kỹ sư Điện kỹ nghệ, CHLB Đức
  149. Vũ Vân Sơn, phiên dịch tuyên thệ Đức – Việt, nguyên Chủ tịch Hội Người Việt Nam Berlin & Brandenburg, CHLB Đức
  150. Trần Đức Thạch, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Nghệ An, nhà thơ, Nghệ An
  151. Lê Sơn, kiến trúc sư, Pháp
  152. Trần Đức Hà, chủng sinh, Nghệ An
  153. Tran Tuan Lam, kỹ sư Xây dựng, Hà Nội
  154. Trần Phúc, làm việc tại Amcor Australia, Australia
  155. Phạm Hoài Đức, TS Sinh học, nghỉ hưu, Hà Nội
  156. Phạm Quang Vinh, kỹ sư Hàng hải, TP HCM
  157. Vũ Quý Khang, công nhân, Hoa Kỳ
  158. Trần Văn Tùng, PGS TS Kinh tế, Hà Nội
  159. Lương Văn Điền, designer, Huế
  160. Nguyễn Nguyệt Thu, kỹ sư, Hà Nội
  161. Nguyễn Nguyên Bình, nhà văn, hội viên hội Nhà văn Hà Nội, Hà Nội
  162. Lê Thành Hưng, kỹ sư Điện tử Viễn thông, Đà Nẵng
  163. John Vu, Tổng Giám đốc, Australia
  164. Nguyễn Minh Phát, kiến trúc sư, Canada
  165. Nguyễn Khánh Việt, công chức nghỉ hưu, Hà Nội
  166. Nay Hai, Dr, Đắk Lắk
  167. Nguyễn Hải Triều, nhạc sĩ, TP HCM
  168. Phạm Trung Hiếu, nghiên cứu sinh, Hàn Quốc
  169. Le Xuan My, công nhân viên, Bà Rịa – Vũng Tàu
  170. Thái Thị Ngọc Dư, nhà giáo, TP HCM
  171. Đỗ Đăng Giu, nguyên Giám đốc Nghiên cứu Khoa học, Đại học Paris-Sud, Pháp
  172. Nguyen Tien Hao, bác sĩ, CH Czech
  173. Trần Năng, thợ điêu khắc, TP HCM
  174. Nguyễn Văn Thanh, nghỉ hưu, CHLB Đức
  175. Lê Văn Tuynh, buôn bán, Bình Thuận
  176. Lưu Hà Sĩ Tâm, kinh doanh nông trại, Thái Bình
  177. Le Manh Hung, thương gia, Hoa Kỳ
  178. Phạm Quang Vinh, thiết kế mỏ, Hà Nội
  179. Trương Điền Quan, kỹ sư xây dựng (ngành Kỹ thuật công trình), TP HCM
  180. Nguyen Van Oanh, Acupuncture Physician, Hoa Kỳ
  181. Võ Văn Cường, nhân viên kinh doanh quốc tế, TP HCM
  182. Tran Trong Duc, TS, giảng viên, TP HCM
  183. Trần Định, nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh, Hà Nội
  184. Vũ Ngoc Chi, chuyên viên Điện toán, CHLB Đức
  185. Khoi Nguyen, mechanical engineer, Australia
  186. Quyet Nong, công nhân, Hoa Kỳ
  187. Tran Van Tom, kinh doanh, Ba Lan
  188. Nguyễn Văn Lê, nguyên Chánh văn phòng Ban Dân Vận thành ủy TP HCM, TP HCM
  189. Nguyễn Văn Kết, nguyên thư ký cho ông Mai Chí Thọ, Bí thư Thành ủy TP HCM, TP HCM
  190. Lê Đức Nam, Cần Thơ
  191. Ton Duc Loi, kỹ sư, Hà Tĩnh
  192. Nghiêm Phong, hưu trí, Hà Nội
  193. Trần Văn Tùng, kinh doanh, Tuyên Quang
  194. Tran Quoc Vu, CHLB Đức
  195. Trần Quang Đang, kỹ sư, Pháp
  196. Lê Duy Thiện, nhân viên phòng xuất nhập khẩu, Australia
  197. Nguyễn Minh Khanh, kỹ sư Tin học, Pháp
  198. Nguyễn Hữu Trường, làm tự do, Bình Dương
  199. Nam Thanh Nguyen, driver, Hoa Kỳ
  200. Ly Ngoc Phung, nấu ăn, Hoa Kỳ
  201. Khiem Nguyen, công nhân, Hoa Kỳ
  202. Kim Dung Phạm, kinh doanh, CH Czech
  203. Lâm Thanh Hùng, dược sĩ, Áo
  204. Dương Văn, kế toán, Canada
  205. Nguyễn Đức Nhuận, nhà giáo nghiên cứu nghỉ hưu, CNRS – Université Paris 7, Pháp
  206. Toi Duong, kinh doanh, Hoa Kỳ
  207. Hung Pham, engineer, Hoa Kỳ
  208. Trần Quang Ngọc, TS, kỹ sư, đã nghỉ hưu, CHLB Đức
  209. Lê Hồng Hà, công nhân, Hoa Kỳ
  210. Nguyễn Thành Nam, doanh nhân, Ba Lan
  211. Trần Đức Khoa, PhD, kỹ sư tin học/giảng viên, Hoa Kỳ
  212. Nguyen Huu Toan, buôn bán, Canada
  213. Phạm Thanh Tâm, chuyên viên Điện tử, Điện toán, Pháp
  214. Nguyễn Quang Đạo, cựu chiến binh, Hà Nội
  215. Nguyen Thanh Thuan, nguyên sĩ quan an ninh, tốt nghiệp Đại học An ninh Nhân dân (nay la Học viện An ninh Hà Nội), Australia
  216. Trần Hải Hạc, TS, nguyên PGS trường Đại học Paris 13, Pháp
  217. Trần Thị Thu Hoa, Vũng Tàu
  218. Trần Đức Hạnh, kinh doanh, Nga
  219. Buu Che, ThS vi tính, Hoa Kỳ
  220. Nguyen Quang Tin, nhân viên, TP HCM
  221. Hồ Đình Nhật, marketing, Bình Định
  222. Nguyen Van Can, hưu trí, TP HCM
  223. Đỗ Duy Ngọc, họa sĩ, TP HCM
  224. Luong Xuan Rinh, Hải Dương
  225. Tran Thu Cuc, giáo viên hưu trí, TP HCM
  226. Đặng Thị Hồng Phương, cán bộ nghiên cứu khoa học, nghỉ hưu, TP HCM
  227. Trần Quang Trung, sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội, Nam Định
  228. Vu Quang Quynh, Hàn Quốc
  229. Bùi Chánh Trực, ThS Kinh tế, Cần Thơ
  230. Lương Minh Hải, kỹ sư thiết kế, Đăk Lăk
  231. Lê Van Kiêt, TSKH, Bỉ
  232. Lưu Văn Vịnh, kinh doanh, Hải Dương
  233. Pham Hung, hưu trí, Canada
  234. Nguyễn Huy Dũng, dân thường, Vũng Tàu
  235. Trương Hữu Ngữ, TP HCM
  236. Nguyễn Hùng Dũng (bút danh: Nguyễn Bùi An, Bùi An Nguyễn), TP HCM
  237. Ngô Điều, cựu sĩ quan, Hà Nội
  238. Thái Văn Tự, kỹ sư, Nghệ An
  239. Đặng Đình Cung, kỹ sư tư vấn, Pháp
  240. Khải Nguyên, dạy học và viết văn, Hải Phòng
  241. Nguyễn Thị Nhuận, điều dưỡng, Australia
  242. Lê Mai Đậu, hưu, Hà Nội
  243. Ninh Văn Tuấn, kỹ sư, Hoa Kỳ
  244. Nguyễn Minh Tấn Trung, công nhân, Vĩnh Long

Tòa quốc tế đòi Bắc Kinh đưa bằng chứng về đòi hỏi chủ quyền Biển Đông

Chiến hạm Trung Quốc tuần tra trên Biển Đông (DR)
Chiến hạm Trung Quốc tuần tra trên Biển Đông (DR)

Tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc, hôm qua, 03/06/2014, yêu cầu Trung Quốc, trong vòng 60 ngày, cung cấp các luận cứ và bằng chứng để biện hộ cho các đòi hỏi về chủ quyền ở Biển Đông, cho dù Bắc Kinh đã từ chối tham gia vụ kiện mà Manila đã khởi xướng từ năm ngoái.

Trong thông cáo được công bố ngày hôm qua, tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc, có trụ sở tại La Haye, Hà Lan, đã đề nghị, từ nay đến 15/12/2014, phía Trung Quốc cung cấp các luận cứ và bằng chứng cụ thể, phản bác đề nghị của phía Philippines.

Năm ngoái, chính phủ Philippines đã đệ đơn, đề nghị tòa án Liên Hiệp Quốc xem xét tính pháp lý của các đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc dựa trên bản đồ đường chín đoạn ở Biển Đông – mà Việt Nam thường gọi là bản đồ hình lưỡi bò do Bắc Kinh đưa ra. Theo bản đồ này, gần như toàn bộ diện tích Biển Đông thuộc về Trung Quốc.

Hôm nay, các quan chức Philippines, lại một lần nữa, kêu gọi Trung Quốc tham gia vụ kiện để có được một giải pháp hòa bình và bền vững cho các tranh chấp lãnh thổ.

Sau khi chính thức đệ đơn kiện Trung Quốc, ngày 30/03/2014 vừa qua, Philippines đã hoàn tất hồ sơ, cung cấp luận cứ và bằng chứng, phản bác các đòi hỏi về chủ quyền, lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông.

Thông cáo ngày hôm qua của tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc cũng cho biết, vào tháng trước, chính phủ Trung Quốc đã gửi thông báo nhắc lại rằng Bắc Kinh « không chấp nhận vụ kiện lên tòa án trọng tài do Philippines khởi xướng », nhưng theo các thẩm phán của tòa án trọng tài, thì thông báo nói trên không liên quan gì đến việc Trung Quốc chấp nhận hoặc tham gia thủ tục kiện.

Mặt khác, tòa án trọng tài cũng nêu khả năng tiếp tục nghe phía Philippines trình bày luận cứ của mình, cho dù Trung Quốc không tham gia và xác định các bước tiếp theo, lịch trình giao nộp các luận cứ và nghe phía Philippines trình bày, vào một thời điểm thích hợp, sau khi tham khảo ý kiến các bên liên quan.

Từ đầu tháng Năm, Trung Quốc đã đưa giàn khoan dầu vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, làm cho tình hình ở Biển Đông căng thẳng. Trong bối cảnh đó, nhân chuyến công du Philippines vào tháng trước, lần đầu tiên, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố là Hà Nội đang xem xét các hành động pháp lý chống lại các đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông.

Theo giới quan sát, nếu Việt Nam kiện, thì chắc chắn Trung Quốc sẽ chống lại, giống như trường hợp đối với Philippines.

Kính mời quý vị theo dõi phóng sự cuộc biểu tình và tuần hành chống Trung cộng xâm lược và Việt cộng bán nước ở Brisbane vào ngày 31/05/2014 vừa qua.

Phóng sự này đã được phát thanh trong chương trình Việt ngữ đài 4EB tối Chủ nhật 01/06/2014 với phần Mở đầu và các phần phỏng vấn:

(1) Ông Trần thanh Vân, Phó Chủ tịch CĐNVTD/Qld đồng thời cũng là Trưởng ban Tổ chức cuộc biểu tình;
(2) Bà Đặng tuyết Loan, Hội trưởng Hội Phụ nữ Việt Nam tại Queensland;
(3) Ông Vũ hoàng Nguyên, Hiệu trưởng trường Việt ngữ Lạc Hồng;
(4) Ông Lê minh Tuấn, thuộc Ủy ban Yễm trợ Công cuộc Đấu tranh cho Tự Do & Dân chủ cho Việt Nam;

(5) Ông Trần thiện Tâm, nhân viên liên lạc của Sở Cảnh sát Queensland.

.
Để download, xin bấm vào link dưới đây

Inline image 5
Inline image 1
Inline image 1

Inline image 2

Inline image 4

Đơn trình báo vụ "5 tên côn đồ dùng hung khí truy sát mẹ con chị Trần Thị Nga" ngày 25/05/2014

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự Do - Hạnh Phúc
---------
Hà Nội, ngày 30 tháng 05 năm 2014

ĐƠN TRÌNH BÁO
(V/v: Đánh người)

Kính gửiCông an huyện Thanh Trì – thành phố Hà Nội

Tôi là Trần Thị Nga, Sinh ngày 28/4/1977; Chứng minh nhân dân số: 168125829 do Công an Hà Nam cấp ngày 25/01/2014; Địa chỉ: Xóm 3, Đồng phú, xã Nguyên Lý, huyện Lý Nhân, Hà Nam. Tôi làm đơn này xin trình báo về việc tôi và và hai con của tôi bị đánh như sau:

Khoảng 16h ngày 25/5/2014, anh Phan Văn Phong chở ba mẹ con tôi (gồm tôi, cháu Trần Văn Tài sinh ngày 27/11/2012 và cháu Trần Văn Phú sinh ngày 26/3/2010) bằng xe máy từ nhà ông Nguyễn Tường Thụy, số 11 cụm Quỳnh Lân, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, Hà Nội đi ra Bến xe Giáp Bát, khi chúng tôi đi tới cổng Công ty Cơ khí điện thủy lợi, Km 10 quốc lộ 1A, xã Tứ Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội thì bị 05 thanh niên lạ mặt đi 2 xe máy từ phía sau vượt lên rồi dùng típ sắt vụt vào vai, vào tay tôi, đồng thời chúng đổ xe máy của chúng tôi, cả 4 người chúng tôi bị ngã xuống đất (Phú ngồi trước, tới anh Phong, bé Tài và tôi). Khi chúng tôi ngã, cả 5 thanh niên kia tập trung vào đánh tôi, tôi phải bỏ chạy vào nhà bán ô tô bên lề đường để lánh nạn và kêu cứu, một trong số 5 thanh niên kia cầm típ sắt đuổi theo vào trong nhà bán ô tô để đánh tôi, một người đàn ông ngồi ở bàn quầy đã đứng lên bảo vệ tôi, lúc này người thanh niên kia mới cầm típ sắt chạy ra ngoài và lên xe bỏ đi.

Tôi chạy ra đường đón con, lập tức tôi bị người thanh niên vừa xông vào nhà bán ô tô lúc trước cầm típ sắt truy đuổi đánh tôi, tôi chạy vào sân của Công ty Cơ khí điện thủy lợi kêu cứu, trong sân có rất nhiều nam công nhân đang làm việc, tôi bám vào sau lưng một nam công nhân ở đó để lánh nạn, tên cầm típ sắt đánh tôi mấy cái vào vai vào đùi rồi bỏ chạy. Sau đó, cả 4 chúng tôi ngồi ở Công ty Cơ khí điện thủy lợi chờ bạn bè đến đưa về. Khi tôi đang cho cháu Tài bú thì bọn chúng quay lại lần nữa và vẫn tên vừa đánh tôi cùng một tên to béo khác, cả hai cùng cầm típ sắt truy đuổi, đánh tôi khi tôi đang bế bé Tài trên tay. Tôi chạy lòng vòng trong sân Công ty Cơ khí điện thủy lợi và kêu cứu, vừa chạy chúng vừa dùng típ sắt đánh vào đầu, vai và tay tôi, tới khi mẹ con tôi ngã ra sân thì chúng đánh túi bụi, tên to béo vụt hai nhát vào đầu gối tôi làm tôi bị gãy xương bánh chè. Anh Phan Văn Phong chạy ra can ngăn thị bị chúng dùng típ sắt đánh một nhát vào đầu và một nhát vào tay. Khi tôi bị gãy chân và kêu gào thảm thiết thì hai tên côn đồ mời dừng tay rồi bỏ chạy.

Tôi tự gọi xe cứu thương 115, một lúc sau xe cứu thương đến đưa mẹ con tôi đến bệnh viện Bộ Nông Nghiệp ở Ngọc Hồi, Thanh Trì để cấp cứu. Bệnh viện chụp XQ và chụp CT cắt lớp, kết quả tôi bị gãy xương bánh chè chân phải, cổ tay trái, hai bắp tay, hai vai, đùi trái và đầu đều bị bầm dập thâm tím. Khoảng 7h tối cùng ngày chúng tôi chuyển đến bệnh viện Việt Đức, ngày 26/5 bệnh viện báo do quá nhiều bệnh nhân nên tuần sau tôi mới được mổ. Chiều 26/5 chúng tôi chuyển đến bệnh viện Việt Pháp, tôi phải mổ và điều trị tại bệnh viện 04 ngày, ngày 29/5 tôi mới ra viện.

Kính thưa Qúy Cơ quan!

Ba mẹ con tôi không có thù oán gì với nhóm 05 người thanh niên lạ mặt nêu trên, nhưng lại bị chúng truy đuổi và tấn công rất dã man, làm tôi bị thương tích trầm trọng toàn cơ thể, gây hoảng loạn tâm lý cho hai con của tôi. Đến bây giờ, cả người tôi vẫn đau ê ẩm, tôi vô cùng hoang mang, lo sợ mỗi khi ra đường. 

Để đảm bảo công bằng pháp luật, bảo đảm an ninh trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Nay, tôi làm đơn này trình báo về hành vi đánh người của nhóm 05 thanh niên vào chiều ngày 25/05/2014 nêu trên. Kính đề nghị Qúy Cơ quan trong phạm vi thẩm quyền của mình điều tra làm rõ vụ việc, xử lý nghiêm minh những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật.

Trên đây là toàn bộ nội dung trình báo của tôi. Rất mong nhận được sự lưu tâm, xem xét, giúp đỡ của Qúy Cơ quan.

Xin trân trọng cảm ơn!

Người trình báo

Trần Thị Nga



Đây chính là Hung Thủ dùng hung khí Truy Sát mẹ con tôi




Bài viết liên quan:




Cái loa hát chiêu đãi giặc Tàu xâm lược biển Đông, cây gậy sắt đập người yêu nước!

“Thời xưa Đại tướng cầm quân
Thời nay đại tướng cầm quần, đội loa!”

Nguyễn Hùng, Trần Hoài Nam (Danlambao) - Ngày quốc tế lao động 01/05/2014 là ngày ăn mừng lớn của những người cộng sản trong đó có cộng sản Việt Nam. Bọn Tàu cộng cũng đã ăn mừng ngày này bằng hành động ngang nhiên mang một thành phố nổi, giàn khoan khổng lồ Hải Dương HD981, vào cắm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế 200 dặm trên biển Đông của Việt Nam.

Để cho một cấu trúc khổng lồ ngang nhiên vào sâu hơn 100 Km trong lãnh hải của Tổ quốc mà quân đội các binh chủng, đặc biệt binh chủng hải quân và không quân, không hay biết gì (?) cho đến khi báo chí và truyền thông tại Tàu, Hongkong đưa tin; toàn bộ tướng lãnh chỉ huy quân đội cần phải bị trừng phạt, phải bị kỷ luật, phải bị cách chức lột lon và đình chỉ công tác, đưa ra xét xử trước tòa án quân sự về tội chểnh mảng trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng về toàn vẹn lãnh thổ. Không những tướng lãnh chỉ huy trong quân đội phải bị trừng phạt mà lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam cũng phải chịu tội trước toàn dân vì sai lầm nghiêm trọng trong chính sách kết bạn đồng chí và nối giáo với bọn giặc Tàu cộng cướp nước, nhận giặc Tàu làm thầy.

Với lỗi lầm rất nghiêm trọng là để giặc Tàu tự do cướp biển cướp đảo, giết hại ngư dân, toàn dân Việt nghỉ rằng quân đội (nhân dân) Việt Nam, đặc biệt hai binh chủng hải quân và không quân, sẽ chuộc tội trước toàn dân bằng những hành động quân sự quyết liệt để nhanh chóng đuổi bọn cướp Tàu và giàn khoan dầu của chúng ra khỏi vùng lãnh hải 200 hải lý của Việt Nam. Về phía đảng cộng sản Việt Nam và nhà nước của đảng cũng phải nhanh chóng nhận hòa toàn trách nhiệm trước toàn dân và có những hành động ngoại giao quyết liệt đối với bọn xâm lược Tàu cộng.

Đảng, nhà nước và nhất là quân đội Việt Nam đã và đang làm gì trước hành động xâm lược, khủng bố ngư dân của bọn bành trướng Tàu cộng, trong khi toàn dân đang sôi sục liên tục xuống đường biểu tình đả đảo bọn xâm lược Tàu cộng?

Quân đội cộng sản Việt Nam làm gì trước việc giàn khoan đang cắm sâu trong vùng lãnh hải Việt Nam? 

Trong khi hải quân Tàu cộng mang vào hằng trăm tàu thuyền và cả chiến hạm vào chiếm đóng một vùng rộng lớn thuộc lãnh hải Việt Nam với lý do phi lý là để bảo vệ giàn khoan dầu được mang vô lãnh hải của Việt Nam một cách phi pháp, tàu chiến ngụy trang tàu cảnh sát biển của giặc Tàu cộng ngang nhiên tung ủi vào các tàu thuyền dân sự và cảnh sát biển của Việt Nam, trên không chúng cho máy bay quân sự các loại kiểm soát toàn bộ vùng trời xung quanh khu vực họ đang chiếm đống, công khai dùng vũ lực đánh phá các tàu thuyền của Việt Nam thì lực lượng hải quân không thấy đâu, trái lại các tàu thuyền cảnh sát biển của Việt Nam lại dùng LOA để tuyên truyền với những đồng chí bạn vàng bạn tốt của đảng cộng sản Việt Nam. Không biết bọn Tàu cộng trên giàn khoan HD 981 có nghe được những lời líu lo của cán bộ tuyên truyền Việt cộng không vì các tàu LOA nằm xa đến 10Km nhưng chỉ mang lại kết quả là tàu “LOA” của Việt Nam bị tung, bị ủi, bị xịt nước tơi bời, chỉ co vòi cụp đuôi chạy tránh.

Bộ đội hải quân cộng sản Việt Nam dùng LOA cùng hòa tấu với kèn thúc quân của bọn xâm lược hải tặc Tàu cộng, cùng xướng họa tình nghĩa với những người đồng chí Tàu cộng “16 chữ vàng 4 tốt” của đảng cộng sản Việt Nam. Trong lúc bọn xâm lược Tàu cộng càng lúc càng hung hăng, gia tăng cường độ khủng bố, đánh đuổi những tàu cảnh sát biển của Việt Nam và đâm chìm nhiều tàu đánh cá của ngư dân rồi vu khống rằng ngư dân Việt Nam hành hung các tàu của chúng, cấm ngư dân lai vãng đánh bắt trong khu vực họ đặt giàn khoan dầu, tại cuộc hội nghị quốc tế tại Shangri-LaSingapore ngày 31/05/2014, tròn một tháng từ ngày bọn xâm lược Tàu mang giàn khoan dầu HD981chiếm lãnh thổ vùng biển của Việt Nam, ngài “đại tướng vát loa” Quang cũng vát LOA hô hố cùng điệu cùng “tông” với bọn giặc Tàu cộng: “Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể các mặt đang phát triển tốt đẹp”.Câu vè dưới đây diễn tả rất chính xác bản chất của chế độ cộng sản Việt Nam :

“Thời xưa đại tướng cầm quân
Thời nay đại tướng cầm quần, đội Loa”

Đảng và quân đội cộng sản Việt Nam đang tiến tới đỉnh cao của chiến thuật “hòa bình” chống giặc Tàu xâm lược: trong nước những tay sai đảng viên đảng cộng sản Việt Nam khiêu vũ với điệu nhạc của bài hát Tàu “Trung quốc chính nghĩa” trước tượng đài vua Lý Thái Tổ, ngoài biển thì dùng LOA “hát hò” và đua thuyền, mừng giao biển dâng đảo, sống chung hòa bình!

Dân chúng Việt Nam trong ngoài nước từ lâu đã lên án hành động gây hấn và xâm lược của bọn Tàu cộng. Nhiều cuộc biểu tình lớn nhỏ được người dân trong nước thực hiện để bày tỏ lòng yêu nước chống xâm lược Tàu. Đối với bọn Tàu cộng đang xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam thì đảng cộng sản Việt Nam tâng bốc, quyết làm bạn đầu ấp tay gối, là đồng chí thâm tình. Nhưng với người dân Việt đứng lên bày tỏ lòng yêu nước chống quân Tàu cộng xâm lược thì đảng cộng sản Việt Nam gán là thế lực thù địch, là phản động vì dám công khai chống Tàu cộng. Đảng cộng sản Việt Nam dùng mọi cách mọi tiểu xảo để đánh phá những cuộc biểu tình chống bọn xâm lược Tàu cộng. Một trong những cách không dùng đến bạo lực cũng là cái “LOA”. Họ dùng loa với cường độ lớn để át những lời tố cáo bọn xâm lược Tàu cộng, dùng loa hát các bài hát Tàu khiêu vũ đú đỡn để phá quẩy cuộc xuống đường biểu tình chống Tàu cộng. 



Trong các lần biểu tình phản đối Tàu đưa giàn khoan dầu HĐ981 vào sâu trong vùng lãnh hải đặc quyền kinh Tế Việt Nam, đảng cộng sản Việt Nam cũng dùng trò “LOA” với Tàu cộng. Họ tổ chức văn nghệ tại các khu vực có biểu tình với nhạc tình tự ước ác để phá đám biểu tình chống xâm lược Tàu, hay cũng tổ chức mít tinh ngồi nhưng lại mang bêu rêu hình HCM lộng kiến, biểu ngữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”, “Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm” hay các cuộc mít tinh trong phòng lạnh với các biểu ngữ “Hòa bình trên biển Đông” vô thưởng vô phạt. Họ không đề cập gì đến hành động xâm lược của Tàu cộng mang giàn khoan dầu vào vùng lãnh hải của Việt Nam. Bọn này đích thực là bọn phản động mãi quốc cho bọn Tàu cộng để cầu vinh.


Trong khi lãnh hải đang bi Tàu lấn chiếm dùng giàn khoan dầu HD-981 làm bình phong, dân chúng biểu tình chống Tàu xâm lược biển Đông, đoàn thanh niên cộng sản huy động tay sai bày trò biểu diễn nghệ thuật trước tiền đình của nhà hát Sài gòn (ngày 11/05/2014)

Bọn phản quốc tay sai cho bọn xâm lược Tàu không chỉ dùng những phương cách mềm để phá và ngăn việc bày tỏ lòng yêu nước chống bọn xâm lược phương Bắc của dân chúng mà bọn tay sai cho Tàu cộng này còn dùng đến bạo lực, công khai hành hung những người yêu nước ngay trong các cuộc biểu tình chống Tàu cộng xâm lược Việt Nam. Vế phía an ninh của đảng cộng sản Việt Nam, họ tiến hành kềm chế, bắt nguội những người đấu tranh chống giặc Tàu xâm lược. Các chị phụ nữ yêu nước công khai chống bọn xâm lược Tàu cũng không thoát khỏi bàn tay độc ác, súc sinh, vô nhân của bọn công an tay sai Tàu cộng. Chị Trần Thị Nga tại Hà Nam, người phụ nữ can trường trong công cuộc đấu tranh đòi quyền con người và chống bọn cộng sản Tàu xâm lược bờ cõi Việt Nam luôn bị công an theo dõi quấy nhiễu ngày đêm, chiều ngày 25/05/2014 trên đường đi về nhà với hai con nhỏ đã bị một nhóm 5 tên công an giả dạng côn đồ dùng gậysắt công khai hành hung chị rất tàn bạo. Họ gây nhiều thương tích trầm trọng trên cơ thể của chị và chị chỉ được giải phẫu khẩn cấp sau khi có sự can thiệp trực tiếp của tòa đại sứ Đức, trong khi nhà nước cộng sản Việt Nam và công an, an ninh thành phố Hà Nội cố tình gây khó khăn cho việc chữa trị cho cô.


Tên côn đồ công an thoi vào mặt của một thanh niên trong đoàn biểu tình. 
Chị Trần Thị Nga bị công an đội lớp côn đồ hành hung vô nhân đạo bằng các thanh sắt.

Qua những việc làm của đảng cộng sản Việt Nam với bọn Tàu cộng và với những người Việt Nam yêu nước chống xâm lược Tàu cộng, đặc biệt trong thời gian qua sau khi giàn khoan dầu HĐ981 của hải tặc Tàu cộng ngang nhiên vào cắm sâu trong lãnh hải Việt Nam, người dân Việt Nam có kết luận thật rõ ràng và hiển nhiên là:

Không phải “đảng cộng sản Việt Nam hèn với giặc, ác với dân”
Mà thực chất “đảng cộng sản Việt Nam là GIẶC, tàn ác với dân Việt Nam!”

Ngày 02 tháng 05 năm 2014



Chữ ký của người Cộng sản

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, đại diện đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cố vấn đặc biệt của Tổng thống Hoa Kỳ Henry Kissinger chúc mừng nhau sau lễ ký tắt. (Người đứng giữa, phía sau là Thư ký đoàn VNDHCH Lưu Văn Lợi)Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, đại diện đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cố vấn đặc biệt của Tổng thống Hoa Kỳ Henry Kissinger chúc mừng nhau sau lễ ký tắt. (Người đứng giữa, phía sau là Thư ký đoàn VNDHCH Lưu Văn Lợi)

    CỠ CHỮ 
    30.04.2014
    Có Hiệp định Paris ngày 27/1/1973 rồi mới có ngày 30 tháng 4 năm 1975. Hai ngày lịch sử ấy liên quan đến nhau rất chặt chẽ, tác động đến số phận của cả dân tộc, đến số phận của mỗi một gia đình người Việt, đến số phận mỗi một con người Việt Nam, cho đến tận hôm nay.

    Nghĩ lại để mà xót xa, luyến tiếc, để tủi hận và thức tỉnh, làm bài học cho mỗi người Việt mình.

    Nhớ lại những ngày đầu năm 1973. Sau đợt ném bom Hà Nội những ngày Giáng Sinh tháng 12 năm 1972. Hội nghị Paris họp lại. Hai bên ngả ngũ rất nhanh. Không khí Hà Nội hân hoan, mọi việc khẩn trương, ngừng bắn, hòa bình đến nơi rồi. Trong tầm tay. Phía Mỹ mệt mỏi ra mặt, chỉ muốn quên 2 chữ Việt Nam cho sớm nhất. Phía ‘’ta’’ lúc ấy cũng mệt mỏi, Bắc Kinh hòa hoãn với Mỹ, thậm chí chìa tay bè bạn để cô lập Liên Xô.

    Ngày 23 tháng 1 tôi được chỉ định sẽ tham gia Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ VN DCCH trong Ban Liên hợp Quân sự 4 bên, làm việc tại Sài Gòn trong 60 ngày. Đoàn do thiếu tướng Lê Quang Hòa làm trưởng đoàn, ông Lưu Văn Lợi vụ trưởng bộ ngoại giao làm phó đoàn, mang quân hàm đại tá, một phó đoàn là đại tá Hoàng Hoa (tên thật là Hồ Quang Hóa). Tôi được giao nhiệm vụ làm Người phát ngôn của đoàn, trong quan hệ với giới thông tin báo chí trong và ngoài nước.

    Ngay đêm đó tôi được đọc trước bản Hiệp Định đã được ký tắt, sẽ được ký chính thức vào ngày 27/1 ở Paris. Ngay sau đó đoàn miền Bắc sẽ được máy bay Mỹ ra đón vào Sài Gòn.

    Những ngày bận rộn, hối hả. Tôi phải vào bộ tổng tham mưu, Cục tác chiến, theo dõi kỹ tình hình chiến sự mới nhất từng khu vực trên hàng loạt bản đồ. Tôi nghiên cứu hầu như thuộc lòng bản Hiệp định Paris gồm 4 chương và 14 điều. Chương I: Các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân VN. Chương II: Chấm dứt chiến sự- Rút quân. Chương III: Trao trả tù binh . Chương IV : Thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam VN.
     
    60 ngày sống ở Sài gòn thật sôi nổi, mới lạ, thú vị. Máy bay Hoa Kỳ C-130 ra Hà Nội đón chúng tôi vào Sài Gòn, ở trong trại Davis - trại cũ của bộ đội truyền tin Mỹ, nằm trong sân bay Tân Sơn Nhất. Chúng tôi ra phòng họp của Ban Liên Hợp Quân sự 4 bên hàng ngày.

    Tôi có hàng chục lượt xuống trung tâm Sài Gòn gặp Ủy ban Quốc tế (Ấn Ðộ, Canada, Inđonésia, Hungari, Balan), dự chiêu đãi, văn nghệ ở Câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc trong sân bay. Tôi cũng đi Biên Hòa, Cần Thơ, Bình Định, Lộc Ninh, gặp các Tổ LHQS 4 bên tại đó, đặc biệt là dự cuộc rút toán quân nhân Hoa Kỳ cuối cùng ngày 29/3/1973 tại sân bay, tôi trao tặng quân nhân Max Bielke bức tranh kỷ niệm bằng tre vẽ tháp Rùa Hà Nội (sau này anh M. Bielke bị chết trong cuộc máy bay bọn khủng bố tiến công Lầu Năm Góc tháng 9/2001 trong khi anh đang làm công tác xã hội thiện nguyện tại đây). Trong 60 ngày ở Sài Gòn, tôi có 5 cuộc họp báo quốc tế hằng tuần và 11 cuộc trả lời phỏng vấn riêng của báo chí miền Nam và quốc tế.

    Nhớ lại cả thời gian ấy, rồi trong cả 2 năm 1973 và 1974, chúng tôi vẫn cho rằng việc thống nhất đất nước sẽ còn gay go và lâu dài, cho tận cuối năm 1974 khi trận Bình Long đang diễn ra không một ai nghĩ rằng chiến tranh sẽ ngả ngũ trong năm 1975, thậm chí trong năm 1976. Tôi nhớ cuối năm 1974 khi nhìn vào tấm bản đồ lớn trong Sở chỉ huy, chỉ mới có 3 quận được ‘’giải phóng’’ là Lộc Ninh, Đắc Tô và Cam Lộ, 3 điểm nhỏ xiú trên bản đồ mênh mông. Năm 1972 ý đồ chiến lược là mở rộng một vùng giải phóng rộng ‘’vài ba tỉnh để đặt trụ sở Chính phủ Cách Mạng Lâm thời miền Nam VN’’ vẫn còn trong mơ tưởng.

    Cũng trong 60 ngày ở Sài Gòn và đi gần khắp miền Nam, nhiều anh em thân quen với tôi đều cho rằng cuộc đọ sức quân sự khó ngả ngũ trong thời gian ngắn, vì đối phương còn sức mạnh trong thế và lực với ta. Chúng tôi thấy rõ không quân VN Cộng hòa lớn mạnh. Bộ binh VNCH đông, thiện chiến, chỉ huy dày dạn. Con đường chiến đấu còn dài, gian nan.

    Trong quân đội nhân dân và trong đảng CS sau Hiệp định Paris đã có lúc có luồng suy nghĩ rằng nên chăng chuyển sang hẳn cuộc đấu tranh chính trị. Tôi nhớ đó cũng là ý kiến của Thủ tướng Phạm Văn Đồng với đoàn LHQS chúng tôi trước khi lên đường. Câu ‘’thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình, qua thi đua kinh tế giữa 2 miền là một khả năng" cũng được ghi trong nghị quyết trung ương đầu năm 1973.

    Tư tưởng muốn nghỉ ngơi ít lâu sau cuộc chiến đấu lâu dài gần 30 năm là dễ hiểu. Chính tướng Đinh Đức Thiện, em ruột ông Sáu Búa Lê Đức Thọ gặp chúng tôi ở Câu lạc bộ quân nhân, nói bỗ bã rằng :’’ Hăng máu vịt, nhưng con cái các ông lớn có ai vào chiến truờng đâu. Sinh Bắc tử Nam toàn là con cháu nông dân thấp cổ bé họng ’’, tôi nhớ mãi câu ông nói thêm : ‘’ Mỹ nó rút hết càng là lý do để ta hạ súng nói chuyện anh em với nhau, nếu không sẽ còn giết nhau bao lâu nữa, bao nhiêu ngàn, vạn bao tải (đựng xác chết) đều là con em nông dân nhà ta cả ‘’. Công bằng mà nói ông Thiện có quan điểm khác với Sáu Búa, ông từng tham gia đoàn trung ương, cùng các ông Tố Hữu và Nguyễn Thọ Chân bộ trưởng Lao động vào Nam phổ biến nghị quyết TW ngay sau khi ký Hiệp Định Paris, nói rõ ta cũng thực hiện ngừng bắn, có thời gian nghỉ ngơi, củng cố hàng ngũ, chuyển sang đấu tranh chính trị . Tố Hữu vui miệng gọi đây là thới kỳ ‘’ gò cương, vỗ béo ‘’, nhưng chỉ kéo dài được vài ba tháng. Tôi nhớ từ tháng 7 tháng 8 năm 1973 chiến sự lại rộ lên, nhất là ở quân khu IX.

    Dầu sao lúc ấy với tôi, ý định chuyển sang đấu tranh chính trị cũng rất hấp dẫn. Tôi thật sự chán ngán cuộc chiến. Tôi nhớ đến bà chị ruột tôi, em gái út tôi đang ở cùng gia đình trong Sài Gòn, còn không ít anh họ tôi, em họ tôi, cháu họ tôi, bè bạn tôi sống trong đó.

    Nay đọc lại bản Hiệp Định Paris tôi vẫn còn đau xót, coi như chính bản thân mình bị lừa, bị móc túi. Ngay trong Phần mở đầu đã có câu ‘’Các bên cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân VN và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam VN’’, xin nhớ: ‘’quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam‘’, điều mà đảng CS lập tức phớt lờ một cách cố tình, tận tình, triệt để.

    Ở Điều 2 Chương 2, ghi rõ ‘’Một cuộc ngừng bắn sẽ được thực hiện khắp miền Nam VN kể từ 24 giờ GMT 27/1/1973. Việc chấm dứt chiến sự nói trong điều này ‘’là vững chắc, không thời hạn’’. Các lực lượng mỗi bên sẽ ở nguyên vị trí, sẽ quy định vùng mỗi bên và thể thức trú quân, phải ngừng mọi hoạt động tiến công nhau, và triệt để tuân theo quy định ngăn cấm mọi hành động vũ lực và ngăn cấm mọi hành động đối địch, khủng bố, trả thù.
    Có cả một chương IV nói về ‘’ Thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam VN‘’, ghi rõ‘’ Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ VNDCCH cam kết tôn trọng những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết thông qua tổng tuyển cử tự do dân chủ, có giám sát quốc tế, các nước ngoài không được áp đặt ; Ngay sau khi ngừng bắn 2 bên Nam VN sẽ thực hiện hòa giải hòa hợp, xóa bỏ hận thù, Hiệp thương để thành lập Hội Đồng Hoà giải hòa hợp dân tộc, với 3 thành phần ngang nhau.’’

    Sau 60 ngày đầu tiên sau Hiệp Định Ban Liên Hợp QS 4 bên được thay bằng Ban LHQS 2 bên ở miền Nam VN, nhưng thực tế là của 2 bên VNDCCH và Cộng Hòa VN.

    Có thể nói sang năm 1974 vụ án chính trị ở Hoa Kỳ Watergate đã có tác dụng quyết định đến tình hình VN, với tổng thống Nixon rất kiên định bị mất chức, một tổng thống không được dân bầu lên là G. Ford thay thế, với một quốc hội chán chường, mệt mỏi, bẳn tính, đến độ keo kiệt, thắt chặt hầu bao đến độ vô cảm nhẫn tâm. Xin nhớ trong 10 năm tham chiến từ 1963 – 1973 Hoa Kỳ bỏ ra hàng 670 tỷ đô la (theo thống kê của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ) vào cuộc chiến xa xôi, đến năm 1973 còn chi 3,2 tỷ, năm 1974 cắt xuống còn 700 triệu, rồi thiến bớt chỉ còn 300 triệu kiểu nhỏ giọt, trong khi VNCH chỉ cần vài tỷ US$ để tồn tại và cầm cự, nghĩa là chỉ yêu cầu không đầy 1% chi phí thời gian trước đó. Thật là cạn tàu, ráo máng. Tham gia bức tử người bạn của mình.

    Không phải chỉ là bỏ rơi một đồng minh, phản bội một tình bạn, nuốt chửng lời cam kết danh dự, còn là tê bạc với vong linh hơn 60 ngàn quân nhân bỏ mình trên chiến trường xa, phản bội ý nghĩa cao quý của sự hy sinh tham chiến của hàng triệu lượt con em mình cho lý tưởng dân chủ, nền tảng tinh thần vô giá của Hoa Kỳ.
     
    Sau hơn 40 năm nhìn lại, các phía đều có phần chua chát đắng cay của mình. Nhân dân Việt Nam nói chung bị chia rẽ, bị phản bội từ nhiều phía, nhưng sâu cay nhất là từ đảng CS đã bội thực một chiến thắng bất xứng, không tiêu hóa nổi một món quà ngẫu nhiên từ trời rơi xuống quá nhanh, bị nghẹn đến tắc thở, trở thành một tầng lớp tư bản đỏ cực kỳ gian tham hung bạo, bị nhân dân xa rời khinh bỉ, bị cả thế giới văn minh chỉ trích chê trách và nay đứng trước nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào.
      
    Bộ Trưởng Nguyễn Thị Bình ký hiệp định.Bộ Trưởng Nguyễn Thị Bình ký hiệp định.

    Với thời gian mọi người có dịp nhìn rõ hơn tâm địa CS khi họ cam kết và hạ bút ký các văn kiện ngoại giao, đó là ký mà biết trước là sẽ không tôn trọng chữ ký của mình, ngay từ khi chữ ký chưa ráo mực.

    Tuy trong Hiệp định không có điều khoản nào về QĐND miền Bắc rút ra khỏi miền Nam, nhưng điều 13 nói rõ :’’Hai bên miền Nam VN sẽ giải quyết vấn đề các lực lượng vũ trang của mình trên tinh thần hòa giải, hòa hợp, bình đẳng và tương kính không có sự can thiệp ở bên ngoài. Hai bên miền Nam VN sẽ bàn việc giảm quân và giải ngũ số quân ấy càng sớm càng tốt‘’. Ông Nguyễn Duy Trinh và bà Nguyễn Thị Bình có bao nhiêu thành tâm đối với điều 13 này khi đặt bút ký trên văn bản ngày 27/1/1973?

    Năm nay nhắc lại việc ký kết năm xưa để ghi nhớ rằng thương lượng với CS, ký kết với CS phải hết sức dè chừng, sự tráo trở, cạm bẫy của họ rất nguy hiểm, tệ hại, hiển nhiên.
    Cam kết để được vào làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, cam kết thay đổi luật lệ để được vào khối Xuyên Thái Bình Dương TPP, cam kết cải cách thể chế kinh tế- chính trị để được nhận tiếp 2 vòi hỗ trợ và đầu tư ODA và FDI có ý nghĩa sống còn, cam kết sẽ chống tham nhũng quyết …liệt, diệt sâu từ nhỏ đến lớn, cam kết công khai hóa minh bạch hóa tài sản, thu nhập của cán bộ cấp cao …

    Để chứng minh tài ba thiện nghệ tuyệt đỉnh của lừa dối, phải nói là của bịp bợm, xin trích ra một câu ít ai để ý trong bản Hiệp Định Paris, đó là Trong Chương IV, Điều 9, mục a) ghi rõ: ‘’Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa coi quyền tự quyết của nhân dân Nam Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm ‘’(…the South Vietnamese people‘s right to self determination is sacred, inaleable).

    Thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Vâng, họ từng cam kết trên giấy trắng mực đen như vậy đó.


    MỜI BẠN

    HÃY CÙNG TÔI

    DTDB

    Nầy bạn hởi đừng dùng hàng Trung Quốc

    Áo, quần, những vật dụng trong, ngoài nhà

    Tuyệt nhiên không mua sắm của bọn Hoa

    Đồ sản sinh, từ các nước Cộng sản...

    Chúng dùng chất liệu dỡm làm đồ bán

    Trông tươi tốt nhưng gãy cọng sứt que

    Những chiếc nón, cây dù... để đội che

    Nắng hạ, mưa rào, méo vành, cong cán...

    Đôi giầy, cái mền... màu mè hào nhoáng

    Dép mang lở chân, lược... nung mũ đầu

    Trái tươi, khô, đồ hộp... các loại dầu...

    Trà, cà-phê, hột vịt, gà... toàn giả

    Món điểm tâm Cộng Tàu trông ngon quá!

    Xíu mại, bánh bao, chả, thịt... sình ươn...

    Chân gà xanh... da heo trắng hóa hường...

    Đổ đống bẩn dơ, chó tha, chuột gậm...

    Hóa chất ướp, tỏi, tiêu, hành... thấm đậm

    Chiên, xào, nấu, nướng... hấp dẫn thơm tho

    Miệng muốn ăn, bụng thì đã cành no...

    Mầm bịnh tật: ung thư, tim, gan, phổi...

    Chuyện oái oăm thiệt không sao nói nỗi!

    Bánh, mứt, kẹo... bán ế vài năm sau...

    Trộn thêm bơ, sữa, đường, mật... ngọt ngào

    Ăn vào dễ... Có an toàn mạng sống?

    Mời bạn tránh những hàng từ Trung Cộng

    Dù năm Châu đều có dân Việt, Tàu...

    Chúng ác gian, mất đạo đức chẳng nao...

    Quyết chiếm đoạt, thì sá gì thủ đoạn

    Bả danh lợi... Việt Cộng đà tính toán

    Mời ngoại xăm chiếm nước, giết dân mình

    Lấy miền Nam, đầu nảo hiển vinh...

    Giá phải trả bằng đất đai, biển cả...

    Tàu Cộng ào ạt mở mang phố xá...

    Lập bản doanh, chiếm Bảng Giốc, Trường sa...

    Cấy người: gả, cưới... biến Việt thành Hoa

    Đồng hóa dân ta, chiếm nước làm quận!

    Ôi các chư hầu chúng đang thao túng!

    Đại Lý, Mông cổ, Châu, Sở, Yến, Tần...

    Xa ngàn trùng, sao lòng những bâng khuâng!

    Khi nghe giặc chiếm tài nguyên nước Việt!

    Bọn Tàu Cộng lắm mưu mô xảo huyệt

    Không dùng đồ Cộng, ở khắp mọi nơi...

    Hàng hóa bán được, chúng sẽ có lời...

    Mua vũ khí... dân Nam ta chúng giết!

    Với chân tình, cùng là dân tộc Việt...

    Mời bạn tẩy chay hàng hóa Cộng Tàu

    Hành động nhỏ, thực tiễn, hữu hiệu mau

    Góp bàn tay... làm chút gì có thể!

    Nỗi băn khoăn thân tâm... chiều bóng xế

    Mấy mươi năm Cộng chiếm đoạt miền Nam

    Mọi người hiểu rõ, những việc chúng làm

    Cho Việt tộc... không thể nào tha thứ!

    Trốn bỏ quê hương! Cố quên thế sự...

    Chưa lần về, dù chỉ trở lại thăm!

    Nhức nhối héo hon... nhỏ lệ thương thầm

    Vẫn canh cánh trong lòng người viễn xứ...

    DƯ THỊ DIỄM BUỒN

    Email: dtdbuon@hotmail.com

    ĐT:  (530) 822 5622



    TRỜI CAO CÓ MẮT

                        DTDB

    Mỗi độ xuân về những bâng khuâng

    Vui gì trở lại hởi nàng xuân?

    Viễn phương Tết đến trong niềm nhớ...

    Khổn khổ xuân ơi đến bao lần...

    Ở đời sự thật hay mất lòng!

    Kiếp con người còn đó như không

    Miệng bảo thích nghe lời nói thật!

    Nhưng tâm sát khí, hồn bẻ cong...

    Quê hương đang trên đà tuyệt lộ!

    Đất nước bên vực thẳm diệt vong!

    Từ tâm hồn, vật chất khốn khổ...

    Ngày ngoại bang lất khất chiếm non sông!

    Tàu Cộng làng chàng cưới vợ, gả chồng...

    Mở mang hãng xướng... Ý đồ bành trướng...

    Chúng dã tâm đồng hóa dân Nam

    Rồi bọn giặc gian...

    Đem tiền của về đầu tư, buôn bán...

    Cố ý hay vô tình... nuôi Cộng thêm lớn

    Xiết cổ dân lành đói rách lầm than...

    Thương quê hương dưới bàn tay Cộng sản!

    Đất nước người ta phú cường, sáng lạn...

    Bốn mùa hoa nở thắm tươi...

    Nhà lầu, xe hơi, no ấm, đời đời...

    Người nàoviệc nấy học hành, làm lụng...

    Việt Nam bây giờ: cúi lòn, tham nhũng

    Giựt đồ, cướp của, bắn, giết... như rươi

    Mới nức mắt đã lêu lỏng chơi bời...

    Đánh thầy, hại bạn… theo đường của đảng!

    Lớn đủ quyền: lãnh hải, đất đai... cầm, bán

    Nhỏ yếu thế: cướp, giật, trộm cắp... xóm, làng

    Vợ chồng giết nhau, đem con đ...

    Bắt lao nô... rao hàng đầy chợ

    Buôn hương bán phấn... tuổi trẻ còn thơ

    Luân thường, đạo lý... thui chột mịt mờ...

    Bây giờ “Việt Nam mọi thứ đều giả!

    Chỉ có nói dối là thật” mà thôi

    Ôi thương đau, nhức nhối, ngậm ngùi!

    Hởi bè lủ Cộng sản hại dân bán nước

    Cùng bọn tay sai hãy thức tỉnh lại đi...

    Giàu sang, phú quý... nghĩa lý gì?

    Cướp giựt của dân, tước quyền ăn chia no đủ...

    Tội lỗi... ám ảnh sẽ dầy dò trong giấc ngủ

    Trời cao trả báo tới nơi...

    Đừng buồn nghe, chắc chắn được thêm lời...

    Bọn hại nước hại dân sẽ tàn đời mạc kiếp!

    Hãy dừng lại đi, kẻo không còn kịp!

    Vì thế gian vốn là bể trầm luân...

    Khi nằm xuống... tất cả chỉ hư không

    Chẳng mang được nhà cao, tiền tài, danh vọng...

    Vật chất, xa hoa... như thủy triều, bọt sóng...

    Như mây trôi, nước chảy qua...

    Tết đến rồi, xin hãy buông tha!

    Hãy nghĩ về tương lai xuân mai hậu...

    “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu”

    (Thiện ác đáo đầu chung hữu báo)

    Ác gian Trời Đất sẽ không tha

    Xuống Âm phủ, hổ thẹn gặp ông bà...

    Nhìn nhật nguyệt trên đầu hổ thẹn

    Máu sử chép ghi...

    Dân Namnguyền rủa Cộng

    “Trời cao có mắt/ Lưới trời lồng lộng

    Sẽ có người giết chúng thay ta...”

    Chắc chắn ngày đó tới... sẽ không xa!

    DƯ THỊ DIỄM BUỒN

    Email: dtdbuon@hotmail.com

    ĐT: (530) 822 562



     Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


    Những nội dung khác:
    Chúc Mừng Năm Mới 2026 [01.01.2026 19:26]




    Lên đầu trang

         Tìm kiếm 

         Tin mới nhất 

         Đọc nhiều nhất 
    Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 184 lần]
    Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 180 lần]
    Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 166 lần]
    Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 165 lần]
    Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 60 lần]
    Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 44 lần]
    Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 0 lần]

    Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

    Bản quyền: Vietnamville
    Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.