 |
 |
Các chuyên mục |
|
Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal
Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat
Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục
Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói
Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí
Web links
Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo
Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng
Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP
|
|
|
|
Xem bài theo ngày |
|
| Tháng Năm 2026 | | T2 | T3 | T4 | T5 | T6 | T7 | CN |
| |
|
|
|
1 |
2 |
3 |
| 4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
10 |
| 11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
| 18 |
19 |
20 |
21 |
22 |
23 |
24 |
| 25 |
26 |
27 |
28 |
29 |
30 |
31 |
|
|
|
|
Thống kê website |
|
 |
Trực tuyến: |
3 |
 |
Lượt truy cập: |
29135471 |
|
|
|
|
| |
|
 |
 |
|
|
|
Mặc kệ Quân Đội Nhân Dân hèn nhát, lãnh đạo đảng CS mãi quốc cầu an, ngư dân Quảng Nam vẫn kiêu hùng bám biển bảo vệ lãnh hải tổ tiên để lại
06.06.2014 00:25
Ngư dân trở về từ Hoàng Sa: “Biển của ta, ta cứ đánh bắt”Đó là khẳng định của các chủ tàu cá và ngư dân Quảng Nam vừa có chuyến biển gần 1 tháng từ vùng biển Hoàng Sa, nơi Trung Quốc đang đặt giàn khoan Hải Dương 981 phi pháp trên vùng biển Việt Nam.
Ngày 5/6, 15 tàu cá của ngư dân 2 xã Tam Hải và Tam Quang (huyện Núi Thành, Quảng Nam) đã trở về cảng Kỳ Hà sau gần 1 tháng đánh bắt ở vùng biển Hoàng Sa. Hàng trăm người thân đã chào đón các ngư dân trở về.
Chủ tàu cá QNa 90178 – ông Phạm Bá Hẹn (trú xã Tam Quang) kể: Khi ra đến ngư trường Hoàng Sa, đã có hàng chục tàu các loại của Trung Quốc “chào đón”, họ đi thành từng đoàn và sẵn sàng ngăn cản, quấy rối công việc đánh bắt của ngư dân, thậm chí tấn công vào ngư dân. Tàu cá QNa 91559 của ông Ngô Ry bị tàu Trung Quốc đâm hỏng Một trong những tàu cá bị tàu Trung Quốc tấn công là tàu cá QNa 91559 của ông Ngô Ry (trú xã Tam Hải). Theo ông Ry cho biết, ngày 14/5, đội tàu cá của ngư dân huyện Núi Thành sau hai ngày trực chỉ Hoàng Sa đã đến ngư trường truyền thống để tiến hành đánh bắt. Tuy nhiên, vào trưa hôm đó, một tàu vỏ sắt của Trung Quốc mang số hiệu 11075 với “danh nghĩa” là tàu chụp mực to gấp nhiều lần tàu gỗ của ngư dân Việt Nam bất ngờ xuất hiện rồi đâm thẳng vào đuôi tàu QNa 91559. Cú tông khá mạnh làm cho thanh đà ngang giữ cabin của tàu QNa 91559 bị gãy. Ông Ngô Ry bức xúc: “Tàu của Trung Quốc toàn là các tàu to như tàu vận tải. Nếu tàu của ngư dân mình chạy không kịp sẽ bị đâm vào một cách thô bạo”. Ông Ngô Ry cho biết, sau cú đâm vào tàu mình, chiếc tàu vỏ sắt của Trung Quốc vượt lên nhưng tàu QNa 91559 đã mở máy để né tránh và chạy thoát. “Nếu tôi không chạy thoát thì chắc cũng như tàu cá của bà con ngư dân Đà Nẵng bị chìm rồi”, ông Ry nói. Dù “bị thương” khá nặng nhưng tàu QNa 91559 của ông Ry vừa khắc phục vừa kiên cường bám biển cho đến ngày trở về. Các ngư dân Quảng Nam cùng người thân vừa trở về sau chuyến biển dài ngày ở khu vực Hoàng Sa Dưới nước thì tàu cá ngư dân Quảng Nam luôn bị tàu Trung Quốc xua đuổi, còn trên trời thì Trung Quốc liên tiếp cho máy bay tuần thám lẫn trực thăng lượn nhiều vòng gần tàu của ngư dân để đe dọa, gây áp lực tâm lý cho ngư dân. Ngư dân Ngô Thanh Việt (32 tuổi, trú tại xã Tam Hải) đi trên tàu QNa 91559 cho biết, liên tiếp trong những ngày từ 13/5 đến những ngày đầu tháng 6, mỗi ngày Trung Quốc đều cho máy bay tuần thám lượn lờ trên bầu trời. Có lúc máy bay của Trung Quốc bay rất gần tàu của ngư dân để đe dọa, uy hiếp, xua đuổi tàu cá của ngư dân Việt Nam. Chủ tàu QNa 90244 – ông Huỳnh Văn Tạo cũng bức xúc về việc ngư dân của mình đánh cá trên vùng biển chủ quyền của mình mà lại bị tàu Trung Quốc hăm he tấn công. Ông cho rằng Trung Quốc muốn đuổi ngư dân của Quảng Nam ra khỏi ngư trường truyền thống của ông cha để lại ngàn đời nay hòng độc chiếm vùng biển này. Tuy nhiên, theo ông Tạo ngư dân Quảng Nam luôn kiên cường bám biển dù có khó khăn vì luôn bị Trung Quốc xua đuổi. “Vì đây là vùng biển của mình thì mình cứ đánh bắt, Trung Quốc có đuổi thì mình chạy, nhưng không thể bỏ biển được, ngư dân mình bỏ biển là tạo cớ để Trung Quốc lấn tới và sẽ mất luôn biển”, ông Tạo nói. Khi ra ngư trường Hoàng Sa, đội tàu cá của ngư dân Quảng Nam hoạt động cách giàn khoan Hải Dương 981 trên dưới 10 hải lý về phía Tây Nam và đi thành từng tổ đội để có gì thì có thể hỗ trợ lẫn nhau, vì thế các ngư dân cũng yên tâm hoạt động đánh bắt bình thường trên vùng biển chủ quyền của mình. Trao đổi với PV Dân trí, Chủ tịch Hội nghề cá Quảng Nam – ông Ngô Tấn – cho biết, dù có bị tàu của Trung Quốc phá rối nhưng đối với bà con ngư dân Quảng Nam đây là một chuyến biển thành công. Mặc khác, dù vùng biển đang “nóng” với những hành động thô bạo và ngang ngược của Trung Quốc nhưng ngư dân Quảng Nam nói riêng và cả nước nói chung rất có niềm tin vì sau lưng bà con ngư dân là lực lượng kiểm ngư, cảnh sát biển luôn trợ giúp mỗi khi ngư dân gặp nạn, bảo vệ ngư dân làm ăn chính đáng trên vùng biển chủ quyền. Ông Ngô Tấn cũng cho rằng, việc ngư dân kiên cường bám biển đã thể hiện chủ quyền của vùng biển trước hành động xâm lấn của Trung Quốc. “Với sự bảo vệ của lực lượng kiểm ngư, cảnh sát biển, bà con ngư dân chúng ta rất yên tâm, không hề nao núng và quyết tâm giữ biển đảo đến cùng”, ông Ngô Tấn phát biểu. Công Bính Tàu cá ở Nghệ An bị đâm chìm, 1 ngư dân mất tích(VTC News) – Một chiếc tàu lớn đâm vào tàu của ngư dân khiến 3 người rơi xuống biển, 2 người may mắn được cứu sống. Sáng 5/6, ông Nguyễn Văn Bích - Chủ tịch UBND phường Nghi Hải, TX Cửa Lò (Nghệ An) cho biết, lực lượng chức năng đang nỗ lực tìm kiếm một ngư dân mất tích trên biển sau khi bị một tàu “lạ” đâm chìm.
 | | Một tàu cá bị chìm ở vùng biển Nghệ An - Ảnh minh họa |
Ngư dân Võ Văn Chính (57 tuổi - Trú khối Hải Bình, phường Nghi Hải, TX Cửa Lò) bị mất tích trên vùng biển Cửa Lò vào tối ngày 4/6.
Trước đó, đêm 4/6, ông Chính cùng ông Võ Văn Trương (56 tuổi - Trú khối Hải Thanh, phường Nghi Hải, TX Cửa Lò) cùng một ngư dân tên Võ Văn Hải đi đánh bắt cá trên tàu mang số hiệu NA-90009 TS do anh Võ Văn Cường làm chủ.
Khi đang đánh bắt cá trên vùng biển thị xã Cửa Lò cách đảo Mắt khoảng 9 hải lý thì bị một con tàu lớn (chưa rõ số hiệu, loại tàu) đâm chìm. Sau khi đâm chìm tàu NA 90009-TS, tàu lớn đã tăng tốc bỏ chạy.
Ông Trương và ông Hải may mắn được tàu đánh cá của ngư dân Cửa Lò đang khai thác gần đó phát hiện và cứu sống. Riêng ông Chính bị mất tích.
Ông Bích cho biết thêm, hiện có 2 tàu cứu hộ thuộc Hải đội 2, Bộ đội biên phòng tỉnh Nghệ An đang tham gia tìm kiếm ông Chính. Các ngư dân Võ Văn Trương, Võ Văn Hải đang được đưa vào bờ.
Cuộc đấu gan với những “thủy quái” của Trung Quốc trên biển (Dân trí) - Lãnh đạo Cảnh sát biển và Kiểm ngư mang tới buổi họp báo quốc tế lần thứ 4 về tình hình Biển Đông những hình ảnh gây phẫn uất với bất cứ ai về hành động tấn công đầy bạo lực và ác tâm của tàu Trung Quốc với các tàu Việt Nam trên biển…
Hình ảnh các chiến sĩ Cảnh sát biển ghi lại về những lần tấn công dã tâm của tàu Trung Quốc với lực lượng chấp pháp của Việt Nam. Những thước phim do Cảnh sát biển Việt Nam ghi lại cảnh các tàu Cảnh sát biển bắc loa tuyên truyền, nêu rõ hành vi gây hấn của Trung Quốc đã xâm phạm vào vùng kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Hành động ngăn cản lực lượng chấp pháp Việt Nam làm nhiệm vụ là trái phép, xâm phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế, nhất là Công ước luật Biển năm 1982, đi ngược lại tinh thần tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông. Cảnh sát biển Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, tôn trọng luật pháp quốc tế, dừng ngay hành động và dời khỏi vùng biển Việt Nam. “Chúng tôi cảnh báo các vị về hành động khiêu khích, xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, đi ngược lại luật pháp và những tuyên bố chung đã ký kết, đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển” – tiếng loa âm vang giữa sóng, gió Biển Đông. Giữa những cảnh đấu tranh ôn hòa, kiềm chế đó của lực lượng chấp pháp Việt Nam, tàu Trung Quốc hung hăng lao tới. Chỉ trong ngày 1/6/2014, các chiến sĩ của lực lượng Cảnh sát biển đã ghi lại được rất nhiều những đợt tấn công bạo lực, ngang ngược của tàu Trung Quốc. 11h45’ ngày 1/6, tàu Hải cảnh 66001 của Trung Quốc và 6 tàu khác tăng tốc, vây ép tàu Cảnh sát biện 2016 và tàu Kiểm ngư Việt Nam thực thi pháp luật. 12h20 ngày 1/6, 2 máy bay cánh bằng CMS 3843, CMS 3586 của Trung Quốc liên tục bay ở độ cao cách đài chỉ huy tàu Cảnh sát biển và tàu Kiểm ngư Việt Nam khoảng 200m. Cùng đó, tàu Hải cảnh 46105 của Trung Quốc tăng tốc, quyết liệt đuổi theo tàu Cảnh sát biển VN2016, tàu Kiểm ngư Việt Nam để đâm va, phun vòi rồng. 16h10’ ngày 1/6, tàu Hải cảnh 46105 của Trung Quốc tăng tốc, lao thẳng vào mạn phải tàu Cảnh sát biển Việt Nam 2016. Sau cú đâm rất mạnh, tàu Cảnh sát biển VN 2016 đã bị bục 4 chỗ, vết bục thấp nhất cách mặt nước 40cm, dài 50cm, rộng 3cm. Cán bộ chiến sĩ tàu Cảnh sát biển Vn 2016 phải khắc phục các vết bục, chống nước biển tràn vào khoang làm chìm tàu. Đoạn Clip dài chỉ 3 phút do Kiểm ngư Việt Nam cung cấp cũng thể hiện những tình huống nghẹt thở nhất. Trên tàu DNa 90152 của Việt Nam có tiếng hô lớn của ngư dân, gọi nhau thất thanh: “Tách ra, tách ra mau” nhưng không kịp, tàu Trung Quốc tăng tốc lao tới, đâm thẳng vào chiếc tàu cá. Điều đáng nói là sau khi đâm chìm tàu cá của Việt Nam, tàu Trung Quốc không hề có động thái để cứu người. Điều đó thể hiện tính chất vô nhân đạo của tàu Trung Quốc. Các ngư dân trên con tàu bị đâm chìm kể lại thời điểm “con thủy quái” Trung Quốc húc vào bên mạn phải tàu mình. Trước đó, tàu Trung Quốc ép sát mạn tàu ngư dân, ném như vãi các vật dụng vào người trên tàu. Sau khi bị đâm chìm, tàu cá này được lực lượng Kiểm ngư Việt Nam lai dắt vào bờ để đánh giá mức độ thiệt hại và làm bằng chứng tố cáo hành vi bạo ngược của tàu Trung Quốc. Trên thực địa, ngày 23/5, tàu Việt Nam bất ngờ bị tàu Trung Quốc tăng tốc, lao thẳng vào mạn trái tàu HP 926. Với ưu thế mạnh hơn, tàu Trung Quốc tiếp cận nhanh hơn nhiều lần tốc độ của tàu HP 926 nhưng tàu của ta đã chủ động né tránh. Dù vậy, tàu Trung Quốc vẫn hung hăng đeo bám đến cùng, nhiều lần lao chờm lên vì đè ở mạn trái của tàu. Đằng sau tàu này còn có tàu Hải cảnh 3701 của Trung Quốc kẹp sát và liên tục tìm cách cắt ngang mũi tàu Việt Nam. Cú đâm với vận tốc hơn 12 hải lý sau đó đã khiến tàu HP 926 của Việt nam bị hư hại, hỏng sườn, ảnh hưởng đến tính mạng của Kiểm ngư viên trên tàu. Những ngày gần đây, Trung Quốc tiếp tục tăng cường sử dụng vòi rồng công suất lớn phun vào các tàu của Việt Nam. Ngay cả tàu cá vỏ sắt số lượng lớn của Trung Quốc cũng được huy động đến để ngăn cản, truy đuổi tàu Việt Nam một cách đầy khiêu khích. Phương thức tấn công khác của tàu Trung Quốc là ép sát mạn tàu Việt Nam sau đó ném các vật cứng, có khả năng gây sát thương sang, nhắm vào thủy thủ đoàn tàu Việt Nam. Ngoài việc các tàu Trung Quốc chủ động tấn công, đâm va, Trung Quốc còn huy động thêm máy bay bay tầm thấp cách 300-500m cùng với các loại tàu chiến đấu nhằm đâm va vào tàu Việt nam bất cứ lúc nào. Mỗi khi tàu Cảnh sát biển và Kiểm ngư của Việt Nam tiến gần vào khu vực giàn khoan của Trung Quốc thì các tàu lập tức cùng lao vào phun nước, đâm va trực diện. Có lúc, tàu Việt Nam bị 5 tàu của Trung Quốc bao vây, đâm va. Tàu kiểm ngư Việt Nam đã bị thiệt hại rất nặng nề sau những hành vi tấn công này.
Đuối lý, Trung Quốc quay sang đổ lỗiTT - Truyền thông Trung Quốc hôm qua lại dùng giới chuyên gia đổ trách nhiệm cho Mỹ gây ra căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc xung quanh vấn đề biển Đông. A video or other embedded content has been hidden. Click here to view it. >>

Thủ tướng Nhật Shinzo Abe (giữa) cùng Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jose Manuel Barroso (trái) và Chủ tịch Hội đồng châu Âu Herman Van Rompuy (phải) tại Brussels ngày 4-6. Theo Hãng tin Nhật Kyodo News, tại Hội nghị thượng đỉnh G7 ở Bỉ, Thủ tướng Abe sẽ đưa ra thông điệp về quan điểm của Nhật trong việc giữ gìn ổn định ở biển Hoa Đông và biển Đông. Hành động gây hấn của Trung Quốc trên biển đang ngày càng bị lên án tại các diễn đàn chính thức của quốc tế - Ảnh: Reuters Động thái trên nhằm chữa thẹn sau khi Trung Quốc đã một phen “mất mặt” ở Đối thoại Shangri-La 13, vừa kết thúc hôm 1-6 tại Singapore. Đồng thời, bị cộng đồng quốc tế “vạch mặt” là “kẻ gây hấn” sau khi những hình ảnh hành xử không mấy tốt đẹp của Trung Quốc đối với tàu chấp pháp Việt Nam ở biển Đông đã được phóng viên các hãng tin quốc tế ghi nhận từ cuối tháng 5 đến nay. Đổ lỗi cho Mỹ Cổng thông tin Chính phủ Trung Quốc và Thời Báo Hoàn Cầu đã thay phiên nhau cho đăng bài xã luận “Mỹ nên bị quy trách nhiệm trong căng thẳng Việt Nam - Trung Quốc”. Đây là giọng điệu của truyền thông Trung Quốc mỗi khi đuối lý trong các vụ tranh chấp, họ thường mượn miệng của giới học giả, chuyên gia phát loa “đổ thừa” theo kiểu “chó càn cắn giậu”. Tác giả bài viết - nhà nghiên cứu Đổng Xuân Lĩnh, thuộc Viện Quan hệ quốc tế đương đại của Trung Quốc (CICIR) - suy diễn rằng tình hình tranh chấp trên biển Đông giữa Việt Nam - Trung Quốc leo thang đến mức xung đột chỉ ngay sau chuyến viếng thăm Việt Nam hôm 7-5 của ông Daniel Russel - trợ lý ngoại trưởng Mỹ về các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương. Ông Đổng bình luận rằng với sự hậu thuẫn của Mỹ, Việt Nam bắt đầu chống lại Trung Quốc mạnh hơn và “làm quá” vấn đề ở biển Đông khi tổ chức các cuộc họp báo quốc tế, cũng như điều thêm tàu đến ngăn cản những hoạt động của giàn khoan Hải Dương 981 ở biển Đông. Ông Đổng cáo buộc sự trỗi dậy của Việt Nam trong các cuộc tranh chấp này có “bóng dáng” của Mỹ với vai trò bên thứ ba. Và Mỹ đã lợi dụng tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam cũng như các cuộc tranh chấp khác ở biển Đông để kiềm chế Trung Quốc. Bài xã luận cáo buộc Mỹ đang “giả nhân giả nghĩa” khi can thiệp vào những vấn đề giữa Việt Nam - Trung Quốc nhưng thực chất Washington đang muốn lợi dụng tình hình quốc tế để hồi phục lòng tin của người dân Mỹ. Bài báo còn giở giọng đe dọa rằng Washington sẽ không đạt được gì từ chiến lược can thiệp này mà trái lại đã mất rất nhiều thứ. Cụ thể, Washington phải trả giá bằng hiện trạng mối quan hệ Mỹ - Trung đang bị phủ bóng đen. Ông Đổng còn nặng lời cho rằng “tiếng kêu gào của các nước ở biển Đông đang đánh thức một con chó ở Mỹ”? Nhà nghiên cứu “diều hâu” này còn dọa rằng các nước ở biển Đông vì quá tin vào sự ủng hộ của Mỹ mà quên đi lợi ích của mình trong mối quan hệ với Trung Quốc. Nếu Mỹ tiếp tục chiến lược kiềm chế Trung Quốc thì chính Mỹ sẽ không thoát khỏi thế “tiến thoái lưỡng nan”, khi sử dụng các đồng minh là những nước nhỏ hơn Trung Quốc. Khẳng định tấn công tàu Việt Nam để lấy lòng trong nước Các cơ quan truyền thông chính thống của Trung Quốc lại đưa tin không đúng sự thật về tình hình tại khu vực mà họ hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 ngay trong vùng biển của Việt Nam theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS). Mới đây, truyền thông nước này còn trơ tráo cáo buộc ngược rằng Việt Nam đang gây hấn với họ bằng việc điều thêm tàu đến khu vực trên. Trong khi chính Bắc Kinh mới là bên gây căng thẳng khi điều cả tàu hộ vệ tên lửa, máy bay trinh sát điện tử, máy bay cánh bằng tiếp cận các khu vực có tàu chấp pháp của Việt Nam trên vùng biển Hoàng Sa. Hôm 3-6, Đài phát thanh nhân dân trung ương Trung Quốc (CNR) và Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV) đưa tin tàu hải cảnh 46015 đã đâm vào tàu cảnh sát biển 2016 của Việt Nam gây hư hại nặng hôm 1-6. CNR còn ngạo mạn kể rằng trước đó, tàu của Trung Quốc đã dùng vòi rồng tấn công tàu kiểm ngư 635 tại vùng biển quanh nơi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981, vốn thuộc vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam. Đây là lần đầu tiên CNR và CCTV phát tin về các vụ tàu Trung Quốc tấn công tàu Việt Nam. Dù với ý đồ muốn cho dân Trung Quốc thấy rằng “tàu của họ” mạnh hơn nhưng có lẽ động thái này đã gây hiệu ứng ngược. Những điều mà hai cơ quan truyền thông lớn vào bậc nhất Trung Quốc đưa tin đã phủ nhận tất cả nỗ lực “đổ lỗi” cho “bên thứ ba” mà Trung Quốc đang thực hiện. Bắc Kinh cũng đã tự “vạch áo cho người xem lưng” khi những hình ảnh này đã được báo chí quốc tế dẫn lại với góc nhìn khách quan hơn. Sau khi tường thuật những gì mà CNR và CCTV đưa tin, Hãng AFP dẫn lời giới chuyên gia quốc tế nhận định nhà cầm quyền Trung Quốc đang tìm cách lấy lại sự ủng hộ trong nước bằng việc thực hiện những động thái cứng rắn trong các cuộc tranh chấp chủ quyền trên biển. MỸ LOAN Trung Quốc sẽ đưa tàu chiến mới nhất đến Hoàng Sa của Việt Nam?(TNO) Trung Quốc sẽ triển khai tàu chiến mới nhất mang tên Lô Châu đến quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, theo trang tinJiucheng Daily News.  Tàu hộ tống nhỏ Type 056 của Trung Quốc - Ảnh: chinesemilitaryreview.blogspot.com |
Jiucheng Daily News ngày 5.6 cho biết Lô Châu là loại tàu hộ tống nhỏ Type 056 và Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) hiện có 13 tàu hộ tống nhỏ loại này. Tàu Lô Châu có khả năng tác chiến tương đương như tàu chiến đấu ven biển của Hải quân Mỹ. Theo Jiucheng Daily News, tàu Lô Châu được thiết kế để tham chiến tại các vùng biển cạn và Trung Quốc lên kế hoạch đóng tổng cộng 20 tàu hộ tống nhỏ Type 056. Lô Châu được trang bị các tên lửa hành trình chống hạm YJ-83, hệ thống tên lửa tầm ngắn FL-3000N, pháo 76mm và ngư lôi. Hải quân PLA quyết định đặt tên tàu chiến mới này là Lô Châu theo đề nghị của chính quyền thành phố Lô Châu, tỉnh Tứ Xuyên. Căng thẳng leo thang ở biển Đông kể từ khi Trung Quốc ngang ngược hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trên vùng biển Việt Nam, gần quần đảo Hoàng Sa, vào ngày 1.5.2014. Tàu Trung Quốc còn ngang ngược đâm húc, bắn vòi rồng và chĩa súng vào tàu của các lực lượng thực thi pháp luật và đâm chìm tàu cá Việt Nam. Phúc Duy Thách thức và cơ hội cho Việt NamNhững thách thức từ các hành vi gây hấn của Trung Quốc ở biển Đông mang lại cơ hội để Việt Nam vươn lên mạnh mẽ hơn.Đã hơn một tháng kể từ ngày Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang Shiyou-981) trong vùng biển Việt Nam, đồng thời ngang ngược cho tàu đâm húc, bắn vòi rồng vào tàu của các lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam. Sự kiềm chế từ phía Việt Nam đã giúp ngăn ngừa đẩy căng thẳng leo thang. Và chính trong bối cảnh này, Việt Nam cũng đang có những cơ hội trong nhiều lĩnh vực để chứng minh lẽ phải của mình với cộng đồng quốc tế. Xin giới thiệu bài viết của Giáo sư Zachary Abuza, chuyên gia về khoa học chính trị và đối ngoại khu vực Đông Á thuộc Đại học Simmons (Mỹ), dành riêng cho Thanh Niên. Tựa bài viết và các tiêu đề phụ do Thanh Niên đặt.  Tàu hải cảnh Trung Quốc (phải) cản đường một tàu cảnh sát biển Việt Nam - Ảnh: AFP |
Việt Nam rõ ràng đang gặp rất nhiều thách thức từ một loạt các hành động của Trung Quốc nhằm khẳng định cái gọi là chủ quyền của họ trên biển Đông. Căng thẳng vẫn chưa nguôi khi Trung Quốc vẫn không dừng các hoạt động quấy phá tàu của lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam xung quanh khu vực Bắc Kinh hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981. Sự kiềm chế từ phía Việt Nam không những giúp ngăn căng thẳng leo thang mà chính phương thức giải quyết hòa bình nhất quán này cũng mang đến nhiều cơ hội khác về mặt ngoại giao, quân sự và kinh tế. Ngoại giao hòa bình, phòng vệ chính đáng Về mặt ngoại giao, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đề cập đến khả năng cân nhắc kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Đây là một điểm quan trọng vì bốn lý do. Thứ nhất, bằng cách khởi kiện, Việt Nam sẽ cho thế giới thấy thiện ý muốn giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa bình và con đường pháp lý. Thứ hai, Việt Nam sẽ đồng hành với Philippines. Mặc dù khó có khả năng sẽ tìm được nhiều sự đồng thuận hơn từ các thành viên khác của ASEAN, vốn có quan hệ kinh tế lệ thuộc vào Bắc Kinh, nhưng ít ra việc cùng Philippines tham gia khởi kiện cũng sẽ hình thành một liên minh mạnh mẽ giữa các quốc gia có cùng quyền lợi liên quan. Nếu các quốc gia có tranh chấp khác nhìn vào Việt Nam, Philippines và cũng tham gia khởi kiện Trung Quốc, vấn đề biển Đông sẽ tất yếu được quốc tế hóa. Đây là điều Bắc Kinh không bao giờ muốn xảy ra. Thứ ba, mặc dù khó có khả năng Bắc Kinh chấp nhận bị ràng buộc bởi phán quyết trọng tài theo Công ước LHQ về luật Biển nếu nó chống lại họ, song điều đó sẽ càng cô lập Bắc Kinh và đặt ra nghi ngờ về lời khẳng định “trỗi dậy hòa bình” và sự cam kết của họ đối với luật pháp và chuẩn mực quốc tế. Cuối cùng, những chứng cứ pháp lý của Trung Quốc tại biển Đông vừa mập mờ, không thuyết phục, lại mang tính hai mặt. Ví dụ, Bắc Kinh phủ nhận lập luận của Việt Nam là giàn khoan Hải Dương-981 nằm trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam - một điều hết sức rõ ràng. Trong khi đó, cũng chính Trung Quốc lại dùng chính lập luận thềm lục địa đó ra trong tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư với Nhật ở Hoa Đông. Thật mỉa mai và đạo đức giả. Với yêu sách đường 9 đoạn, Bắc Kinh không thể bảo vệ cái không thể nào bảo vệ được. Vì lẽ đó, Trung Quốc đang ngày cố tình tạo ra những “chuyện đã rồi” ở biển Đông để củng cố cái gọi là chủ quyền của mình. Trong bối cảnh đó, việc theo đuổi phương thức ngoại giao hòa bình để giải quyết vấn đề đã mang đến cho Việt Nam rất nhiều hậu thuẫn từ các nước trên thế giới, như Mỹ và Nhật, vốn ngày càng quan ngại vì những hành động khiêu khích của Trung Quốc. Không ai khác ngoài Việt Nam chính là nước đang nắm vai trò lãnh đạo trong khối ASEAN. Những mối nguy từ biển Đông đã buộc Việt Nam phải chọn con đường hiện đại hóa quân đội vì mục đích tự phòng vệ. Các cuộc diễn tập song phương và đa phương với các đối tác truyền thống như Ấn Độ đã diễn ra, cũng như tăng cường hợp tác quân sự với ASEAN và Mỹ. Quốc hội Việt Nam tuần này cân nhắc duyệt chi ngân sách 16.000 tỉ đồng hỗ trợ các lực lượng cảnh sát biển bảo vệ chủ quyền biển Đông; Nhật cũng cam kết sẽ cung cấp tàu tuần duyên cho Việt Nam vào năm 2015. Đây là những động thái hoàn toàn chính đáng vì ba lý do. Thứ nhất, Việt Nam hoàn toàn có quyền trang bị tàu lớn để tàu Trung Quốc không thể tiếp tục tự tung tự tác. Thứ hai, sự hiện diện của tàu dân sự sẽ giúp ngăn ngừa căng thẳng leo thang. Thứ ba, phương pháp phòng vệ chính đáng này sẽ xác tín phương thức ngoại giao hòa bình nhất quán Việt Nam đang theo đuổi. Giảm tác động về kinh tế Căng thẳng xung quanh giàn khoan Hải Dương-981 và những hệ lụy của nó sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm nay. Đây là điều tất yếu. Tuy nhiên, đó cũng chính là cơ hội để Việt Nam tránh tác động về kinh tế của Trung Quốc. Bắc Kinh là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, nhưng Việt Nam vẫn còn phải chịu nhập siêu quá lớn từ Trung Quốc - 40 tỉ USD chỉ trong năm 2013. Đã đến lúc Việt Nam đa dạng hóa các đối tác thương mại của mình. Đây cũng là dịp để tiếp tục đầu tư vào cơ sở hạ tầng, duy trì thế mạnh cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam. Việt Nam đang đứng trước cơ hội tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài, khi chi phí sản xuất ngày một gia tăng trong khu vực. Hơn thế nữa, các nhà đầu tư nước ngoài đang quay lưng lại với Thái Lan vì bất ổn chính trị tại đây. Việt Nam sẽ hưởng lợi rất nhiều nếu tiến hành cải cách kinh tế triệt để và nghiêm túc vào lúc này. Với những quyết định kịp thời và đúng đắn, Việt Nam sẽ càng vươn lên mạnh mẽ từ chính thời điểm khó khăn này. GS.ZACHARY ABUZA (An Điền dịch)
Mỹ-Nhật đối đầu Trung Quốc, Việt Nam kiên quyết cầu hòa"Bùng nổ như tạc đạn" là nhận xét về Diễn đàn Thượng đỉnh An ninh châu Á, danh xưng vắn tắt là Đối thoại Shangri-La, nhóm họp thường niên tại Singapore năm nay. Nhân vật đem trưng bày ngòi nổ trước diễn đàn là Thủ tướng Nhật Shinzo Abe, và người châm ngòi là Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Chuck Hagel. Thủ tướng Nhật cam kết sẽ yểm trợ tối đa cho các nước ASEAN để bảo đảm an ninh trên biển và trên không cho Đông Nam Á, bằng sự trợ giúp phát triển, xây dựng khả năng, hợp tác cung cấp kỹ thuật và khí cụ quốc phòng. Ông kêu gọi tinh thần thượng tôn luật pháp của tất cả các chính phủ liên quan, nói rằng Nhật sẽ giữ vai trò lớn lao và năng động hơn hết từ trước tới nay, trong việc gìn giữ cho nền hoà bình châu Á và thế giới thêm vững chắc. Thủ tướng Nhật Shinzo Abe trên diễn đàn Đối thoại Shangri-La, 30 tháng 5, 2014 - Courtesy of IISS document Ông cho biết Nhật Bản và Hoa Kỳ sẵn sàng củng cố hợp tác an ninh quốc phòng với Australia và khối ASEAN. Đây có vẻ như một chính sách đã được Nhật bàn thảo trước cùng với Hoa Kỳ để tung ra trong cuộc đối thoại quốc phòng Shangri-La năm nay. Lập trường này rõ ràng đã phát khởi vì hành động xâm lấn của Trung Quốc trên lãnh hải Việt Nam. Và Thủ tướng Nhật cho thấy Nhật, Mỹ và Úc đã đồng thuận về kế hoạch liên quốc gia để đối phó với chiến lược bành trướng của Trung Quốc ở Đông Nam Á và toàn cầu. Duy chỉ có khối ASEAN là còn ngồi yên nghe ngóng ý định của các cường quốc, chưa bao giờ quyết định được điều gì có ý nghĩa. Sau Thủ tướng Shinzo Abe, Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ đã châm ngòi nổ với những lời lẽ cứng rắn khác thường, mạnh mẽ nhất từ trước tới nay, hướng vào Trung Quốc. Ông trực tiếp lên án hành động đơn phương của Trung Quốc gây bất ổn cho châu Á khi giành lấn chủ quyền trên biển Đông, gọi đó là hăm dọa, cưỡng ép, đe dọa dùng võ lực để khẳng định chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải. Bộ trưởng Chuck Hagel nhắc lại lời cam kết của Mỹ về kế hoạch tái quân bình lực lượng ở châu Á, nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ sẽ không ngoảnh mặt đi, mà sẽ duy trì luật pháp quốc tế, cương quyết đối đầu với hành động xâm lược, giúp tăng cường khả năng quốc phòng của các đồng minh và của chính nước Mỹ. Ông khuyên Trung Quốc nên đoàn kết với quốc tế cho một nền hoà bình toàn cầu, nếu không thì sẽ gây hại cho hòa bình và ổn định cho hằng triệu người ở châu Á và hằng tỉ người trên thế giới. Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ trên diễn đàn Dialogue Sangri-La, 31 tháng 5, 2014 Diễn tiến Đối thoại Shangri-La cho thấy rõ ràng đây là bài song ca đã được chuẩn bị, nếu không nói là bài hợp ca giữa Hoa Kỳ với Nhật và Úc, được gióng lên để cảnh cáo Trung Quốc một cách nghiêm khắc nhất, không chỉ bằng lời nói mà còn bằng hành động, như Hoa Kỳ đang thi hành trong kế hoạch điều động lực lượng hải quân hướng về Đông Nam Á. Điều đáng chú ý là Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ đã thông báo Mỹ sẽ tăng ngân sách hoạt động quân sự lên 35% vào năm 2016, và tăng 40% ngân sách huấn luyện, đào tạo về quân sự. Nước Mỹ có vẻ như vừa thức tỉnh do hành động xâm lược của Trung Quốc ở biển Đông. Mới hồi tháng 2 năm nay ông Chuck Hagel nói với giọng ảm đạm rằng Hoa Kỳ sẽ không còn thống trị trên trên không gian và biển cả vì phải cắt giảm đáng kể ngân sách quốc phòng và hoạt động quân sự. Nay đột nhiên chính sách đảo ngược hẳn lại, chẳng phải nước Mỹ giựt mình tỉnh thức vì Trung Quốc bắt đầu gióng hồi trống trận hay sao? Tiếp sau Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc, tướng Vương Quán Trung, đã phản bác mạnh mẽ quan điểm của Thủ tướng Nhật và Bộ trưởng quốc phòng Mỹ. Ông nói lời lẽ của Bộ trưởng Hagel là nguy hiểm ngoài sức tưởng tượng và đầy chủ nghĩa bá quyền. Nhưng có tin cho hay sau đó khi họp song phương với Mỹ về quốc phòng, tướng họ Vương đã đề nghị hai nước củng cố hợp tác quốc phòng vì quyền lợi chung ở châu Á và trên thế giới. Điều này có thể được hiểu là Bắc Kinh muốn bắt tay quân sự với Mỹ để chia chác quyền lợi trên vùng biển quanh Trung Hoa và xa hơn nữa. Nhưng Bộ trưởng Hagel vẫn giữ thái độ nghiêm khắc như trong hội nghị, không đáp ứng đề nghị, và cắt ngắn cuộc họp chỉ sau có 20 phút thảo luận. Phó TTMT quân đội Trung Quốc, Trung tướng Vương Quán Trung, tại diễn đàn Đối thoại Shangri-La 2014 Công luận của người Việt thì chú ý đến lời phát biểu trước Diễn đàn Đối thoại Shangri-La của Bộ trưởng quốc phòng, đại tướng Phùng Quang Thanh. Có nhiều ý kiến chỉ trích ông Thanh vì lời phát biểu này. Xem xét thực tế một cách khách quan, trước hết, Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam nhận định sự kiện đặt giàn khoan của Trung Quốc là sự va chạm gây căng thằng trong quan hệ đang phát triển tốt đẹp giữa Việt Nam với nước bạn Trung Quốc. Những từ ngữ "va chạm" và "nước bạn" là điều gây nhiều ý kiến chỉ trích là tại sao tướng Thanh lại gọi Trung Quốc là nước bạn, và sự kiện giàn khoan chỉ là va chạm gây cẳng thẳng, trong khi Nhật và Mỹ đã tố cáo đó là hành vi xâm lược đơn phương do chủ nghĩa bành trướng mà hai cường quốc Thái Bình Dương này tỏ ý sẵn sàng giúp ngăn chặn. Nêu vấn đề một cách hòa hoãn không phải là điều đáng phải chỉ trích quá gay gắt. Vì ngay sau đó ông Phùng Quang Thanh nhấn mạnh rằng bảo vệ chủ quyền là thiêng liêng, nhưng Việt Nam chủ trương giải quyết hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, cùng với những thỏa ước của khu vực với Trung Quốc, và các thỏa thuận song phương Việt Nam - Trung Quốc. Chủ trương của Việt Nam cho đến nay vốn được quảng bá là giải quyết vấn đề bằng đường lối hoà bình, thì cách trình bày lập trường với những ngôn ngữ ngoại giao như vậy là phù hợp với chủ trương đó. Tướng Thanh có nói Việt Nam vẫn rất kiềm chế, không sử dụng máy bay, tàu tên lửa, tàu pháo... không đâm va, không phun vòi rồng. Lời lẽ đó nghe ra có ẩn ý tố giác Trung Quốc có hành vi hiếu chiến hơn khi cho tàu quân sự đến hiện trường, và tấn công bằng vòi rồng, húc bể tàu kiểm ngư Việt Nam và húc chìm tàu đánh cá của Việt Nam. Sau đó Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam đề nghị Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam để cùng Việt Nam đàm phán. Điều này cũng nói được lập trường hoà bình và nhũn nhặn của Việt Nam trước diễn đàn quốc tế. Đóng vai người yếu thế trước công luận quốc tế cũng là điều hay. Miễn là đằng sau những lời hoà bình đó đừng quên chuẩn bị đối đầu với chiến tranh! Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Đại tướng Phùng Quang Thanh, tại Đối thoại Sangri-La 2014 Hiện tại, Việt Nam chưa thể nào nói đến chiến tranh, nhưng vẫn phải tìm biện pháp hoà bình để giải quyết. Vấn đề cần quan tâm là dùng biện pháp pháp lý cách nào, trong khi Việt Nam đã sẵn bị yếu thế về pháp lý trước Trung Quốc về chủ quyền của đảo Hoàng Sa và cả Trường Sa, vì công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhân vật lãnh đạo hành pháp của Việt Nam. Đó mới là trở ngại khó vượt qua cho Việt Nam. Còn về Trung Quốc, diễn đàn này từng cảnh cáo Trung Quốc hãy coi chừng. Lịch sử thế giới xưa nay cho thấy chiến tranh đã nhiều lần xảy ra khi một quốc gia phát triển mạnh rồi bành trướng một cách nguy hiểm cho quyền lợi của các cường quốc khác. Hoa Kỳ đột nhiên thay đổi hẳn chính sách quốc phòng. Nhật Bản đột nhiên phóng lên vũ đài quân sự quốc tế với vai trò năng động và chủ động nhất từ thời thế chiến II đến nay. Australia lên tiếng ủng hộ Nhật Bản, Ấn Độ từng ngỏ ý ủng hộ Việt Nam trong kế hoạch khai thác biển Đông, và là quốc gia hải dương hùng hậu có nhiều vấn đề lãnh thổ với Trung Quốc, đang huấn luyện về tàu ngầm cho hải quân Việt Nam. Liệu các quốc gia Thái Bình Dương ấy có muốn thực hiện bức tường chắn nam Trung Hoa bằng quân sự, và chỉ cần một lý cớ chính đáng từ một nước Đông Nam Á? Chuyện "Cao Biền dậy non" (*) diễn ra trong thể kỷ 21 khi Bắc Kinh không tuân lời Đặng Tiểu Bình mà "thao quang dưỡng hối" cho đủ 30 năm, đã phát lộ dã tâm bành trướng quá sớm nên đương nhiên phải đụng đầu với các cường quốc Thái Bình Dương, y như lãnh tụ họ Đặng đã cảnh báo.
Ưu tiên hóa giải công hàm Phạm Văn ĐồngTrước khả năng chính quyền Việt Nam khởi kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế về vụ giàn khoan HD 981 xâm phạm vùng biển Việt Nam, nhiều ý kiến từ giới học giả trí thức cho rằng nhà nước phải nhanh chóng hóa giải công hàm Phạm Văn Đồng 1958 về việc công nhận lãnh hải Trung Quốc. Khúc xương mắc nghẹnCông hàm Phạm Văn Đồng 1958 từng được coi là một khúc xương mắc nghẹn của Việt Nam. Lúc đó Trung Quốc tuyên bố chủ quyền lãnh hải 12 hải lý tính từ đất liền, kể cả các hải đảo như Tây Sa và Nam Sa tức Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Ngày 14/9/1958, ông Phạm Văn Đồng Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã gởi công hàm ngoại giao tán thành tuyên bố đó của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai. Sau này Phía Trung Quốc đã sử dụng công hàm Phạm Văn Đồng như một lợi thế trong mọi tranh chấp chủ quyền biển đảo với Việt Nam. Qua vụ Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD 981 bất hợp pháp xâm phạm chủ quyền Việt Nam ở ngoài khơi tỉnh Quảng Ngãi, hôm 23/5/2014 lần đầu tiên Bộ Ngoại giao Việt Nam họp báo chính thức ở Hà Nội để biện giải công hàm Phạm Văn Đồng không có giá trị. Công luận Việt Nam đưa ra rất nhiều ý kiến tranh cãi phản biện về nội dung công hàm Phạm Văn Đồng và về cách thức làm thế nào để vô hiệu hóa giá trị của nó. Chúng tôi ghi nhận ý kiến mới nhất của học giả Đinh Kim Phúc, một nhà nghiên cứu biển Đông hiện sống và làm việc ở Sài Gòn. Ông nói: Hiệp định Geneve 1954 chia đôi hai miền Nam Bắc, rõ ràng là một bên từ vĩ tuyến 17 trở ra là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa; một bên từ vĩ tuyến 17 trở vào là Việt Nam Cộng Hòa. Rõ ràng hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa thuộc về Việt Nam Cộng Hòa còn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thì có tư cách gì mà nói đến. -Thạc sĩ Hoàng Việt “Dù là người phát ngôn Bộ Ngoại giao hay là Thứ trưởng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao thì đều không có giá trị, phải có một Nghị quyết của Quốc hội phủ nhận hoàn toàn công hàm Phạm Văn Đồng thì mới có thể đấu lại Trung Quốc. Còn công hàm Phạm Văn Đồng đúng hay sai thì kiện ra tòa các nhà luật học sẽ chứng minh công hàm đó đúng hay sai ở mức độ nào trong từng thời điểm của lịch sử. Tôi nghĩ rằng tôi không bênh Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhưng như tôi đã thường nói cái ý thức hệ đồng chí anh em nó đã khiến cho những người lãnh đạo Việt Nam đã phải ký cái công hàm này thì đó là cái giá phải trả rất lớn mà đến ngày hôm nay không rút được kinh nghiệm thì Việt Nam sẽ còn trả những cái giá lớn hơn mất trọn biển Đông.” Một trong các luận điểm được nhiều học giả Việt Nam và nay cũng là luận điểm của giới chức chính phủ Việt Nam để hóa giải công hàm Phạm Văn Đồng 1958. Đó là miền Bắc vào thời điểm 1954-1975 không có thẩm quyền gì đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa do miền Nam tức quốc gia Việt Nam Cộng Hòa quản lý và không thể cho người khác cái gì mà bạn chưa có được. Thạc sĩ Hoàng Việt, giảng viên luật quốc tế Đại học Luật TP.HCM, thành viên Quỹ nghiên cứu biển Đông đã kiên trì với lập luận của mình: “Không có ông nào ở miền Bắc lúc đó có quyền nói về công nhận Hoàng Sa Trường Sa được cả. Bởi vì lúc đó theo Hiệp định Geneve 1954 chia đôi hai miền Nam Bắc, rõ ràng là một bên từ vĩ tuyến 17 trở ra là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa; một bên từ vĩ tuyến 17 trở vào là Việt Nam Cộng Hòa. Rõ ràng hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa thuộc về Việt Nam Cộng Hòa còn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thì có tư cách gì mà nói đến.” Đề nghị vô hiệu hóa công hàm PVĐCông hàm Phạm Văn Đồng 1958 Ngày 26/5/2014 ông Trương Nhân Tuấn, một người Việt Nam cư trú ở Pháp đã gởi thư không niêm cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Phó Thủ tướng Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh để góp ý là, các luận cứ của giới chức chính phủ và nhiều học giả khác có thể bất lợi và khó thuyết phục về việc công hàm Phạm Văn Đồng 1958 không có giá trị. Ông Tuấn viện dẫn Hiệp định Geneve 1954 xác nhận Việt Nam là nhà nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, có chủ quyền và thống nhất và được tái xác nhận theo Hiệp định Paris 1973. Theo Hiệp định Geneve 1954, Việt Nam là một quốc gia nhưng tạm thời bị phân chia, trong khi chờ tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Từ quan điểm này, ông Trương Nhân Tuấn đề nghị vô hiệu hóa công hàm Phạm Văn Đồng. Trong dịp trả lời Gia Minh đài ACTD, ông Trương Nhân Tuấn phát biểu: “Trên tinh thần một nước Việt Nam “độc lập, có chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ” của các hiệp ước 1954 và 1973, thì bất kỳ các tuyên bố, các hành vi đơn phương của một bên (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa), nếu có làm tổn hại đến việc toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, chúng đều không có giá trị. Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng viết trong khoảng thời gian 1954-1973, có liên quan đến chủ quyền và đe dọa toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đi ngược lại tinh thần hai Hiệp định 1954 và 1973, do đó không có giá trị pháp lý ràng buộc.” Rất khác biệt với ý kiến của ông Trương Nhân Tuấn, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng một nhà hoạt động xã hội dân sự từ Đà Nẵng nhận định: “Lẽ ra mình phải làm ngay chuyện này trước, tức là hóa giải công hàm Phạm Văn Đồng. Thứ hai là phải thừa nhận Việt Nam Cộng Hòa để chúng ta có tuyên bố chủ quyền liên tục từ 1954 tới 1975 vì chủ quyền Hoàng Sa từ 1954 tới 1975 Việt Nam Dân Chủ Công Hòa ở phía Bắc không có tuyên bố chủ quyền. Cho nên hai điều quan trọng nhất là phải hóa giải cho được công hàm Phạm Văn Đồng, tức là phải tuyên bố rõ với thế giới là công hàm Phạm Văn Đồng không có giá trị, thứ nhất là không được Quốc hội thông qua. Thứ hai là trong hoàn cảnh VNDCCH phía Bắc đã không sở hữu quần đảo Hoàng Sa này. Và thứ ba để có một tuyên bố chủ quyền liên tục, để tiến tới kiện thì phải có tuyên bố với thế giới, có văn bản thừa nhận chính quyền VNCH. Phải có những tiền đề rồi sau đó cùng với các nước ASEAN, cụ thể là những nước có tranh chấp như Philippines, Malaysia, Indonesia. Những chuyện về các hòn đảo thì mình bàn trước đi để thống nhất tạo một cái luật chơi.” Công luận Việt Nam, từ báo chí chính thức đến các diễn đàn xã hội đều cho thấy nhà nước Việt Nam phải đặt ưu tiên số một về việc hóa giải công hàm Phạm Văn Đồng, còn làm thế nào để vô hiệu hóa nó thì sự tranh cãi vẫn đang tiếp tục. Liệu Việt Nam có thể khởi kiện Trung Quốc hay không trước khi thực sự hóa giải được công hàm Phạm Văn Đồng 1958. Trung Quốc lần đầu tham gia tập trận hải quân lớn nhất thế giới
| Các tàu chiến tham gia tập trận RIMPAC 2012. Ảnh: maritime security |
Theo People's Daily, Trung Quốc sẽ tham gia cuộc tập trận Vành đai Thái Bình Dương RIMPAC 2014 do Mỹ dẫn đầu với 4 tàu, trong đó có tàu khu trục Hải khẩu mà nước này tự đóng. Lực lượng Trung Quốc sẽ chủ yếu tham gia vào hoạt động diễn tập đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống. "Lực lượng đặc nhiệm Trung Quốc, với các tàu lớn hiện đại thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, thể hiện sự thiện chí và chân thành của Bắc Kinh đối với cuộc tập trận", ông Zhang Junshe, một nhà nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Hải quân Trung Quốc, nói. RIMPAC 2014 diễn ra từ ngày 26/6 đến 1/8 ở Hawaii với chủ đề "Năng lực, Thích ứng, Đối tác". Cuộc tập trận hải quân lớn nhất thế giới liên quan đến 47 tàu, 6 tàu ngầm, hơn 200 máy bay và 25.000 binh sĩ từ 23 quốc gia. Các nội dung diễn tập bao gồm đổ bộ, phòng không, chống ngầm, chống cướp biển, rà phá mìn, xử lý vật liệu nổ, lặn và cứu hộ. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc được Mỹ mời tham dự diễn tập kể từ lần đầu tổ chức năm 1971. Bắc Kinh từng góp mặt vào RIMPAC ở vị trí quan sát viên hồi những năm 1990. Sự tham gia lần này của Trung Quốc được các chuyên gia nước này xem là cơ hội để làm mềm mối quan hệ căng thẳng với Mỹ thời gian gần đây. Chỉ vài ngày trước, tại hội nghị an ninh châu Á, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel lên án Trung Quốc hành động đơn phương, gây bất ổn trên Biển Đông. Mỹ cũng cam kết ủng hộ đồng minh Nhật Bản trong tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc. Đáp lại, Trung Quốc chỉ trích cáo buộc của Mỹ "đầy tính bá quyền, hăm dọa". Bắc Kinh còn cho rằng Mỹ và Nhật liên kết với nhau để công kích Trung Quốc và hành động này là "không thể tưởng tượng được". "Trong cuộc tập trận này và nhiều cuộc tập trận chung về sau, Trung Quốc và Mỹ nên học hỏi lẫn nhau thay vì xem nhau như những đối thủ. Trao đổi có thể giúp tránh những sai lầm", Xu Qiyu, một nhà nghiên cứu đại học Quốc phòng Trung Quốc, nói. Trung Quốc và Mỹ vẫn duy trì các trao đổi quân sự thường xuyên kể từ khi lãnh đạo hai bên tuyên bố thúc đẩy quan hệ trong cuộc gặp ở California năm ngoái. Số cuộc tập trận chung giữa hai nước cũng tăng lên trong những năm qua. Hồi tháng 4, trong chuyến thăm Trung Quốc, ông Hagel nhất trí Bắc Kinh và Washington sẽ đẩy mạnh các tương tác ở châu Á-Thái Bình Dương. Anh Ngọc An ninh lương thực của Trung Quốc đang bị đe dọa nghiêm trọngBáo cáo này cho rằng an ninh lương thực của Trung Quốc đang bị đe dọa nghiêm trọng do 1/5 đất canh tác ở nước này đang bị hoang hóa do các chất gây ô nhiễm có xuất xứ từ kim loại nặng. Báo cáo đã cảnh báo giới chức Trung Quốc về một cuộc khủng hoảng lương thực tiềm tàng trong tương lai. Trong nỗ lực nhằm đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và do kinh tế toàn cầu khát hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc, Bắc Kinh đã không chú trọng một cách thích đáng tới lĩnh vực nông nghiệp. Ngoài ra, nạn tham nhũng trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường càng làm trầm trọng thêm tình hình. {keywords}
| An ninh lương thực của Trung Quốc đang bị đe dọa nghiêm trọng
|
Nguyên nhân chính gây ra tình trạng ô nhiễm ở Trung Quốc là ô nhiễm công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp hóa chất và ngành sản xuất điện từ than đá. Để tránh gây gián đoạn nguồn cung lương thực, Trung Quốc sẽ phải tăng cường nhập khẩu lương thực trong những năm tới, trong đó hẳn sẽ phải tìm kiếm các nguồn cung từ Đông Nam Á - khu vực đang có quan hệ căng thẳng với Trung Quốc do các cuộc tranh chấp lãnh thổ kéo dài. Ông Yanzhong Huang, một chuyên gia cao cấp về y tế toàn cầu tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại, đưa ra ví dụ của Việt Nam: trong 5 tháng đầu năm 2013, Trung Quốc đã nhập 1,14 triệu tấn gạo của Việt Nam. Thích Chân Quang – là ai ?NHIẾP VĨNH TRANG Tôi đã kiên nhẫn ngồi nghe băng ghi hình phát trên Youtube của ông thầy chùa (nói theo ngôn ngữ của dân miền Nam) – Thích Chân Quang, thuyết giảng cho khá nhiều tín đồ Phật giao trong một hội trường khá đông người nghe’’về đề tài Biển Đông…’’.  “Nhà sư” Thích Chân Quang, ông là ai? Tôi kiên nhẫn…kiên nhần đến…mệt, rồi không thể kiên nhẫn hơn khi nghe ông Quang nói đến câu “Trung Quốc là anh mà (anh hùng Việt nam) Lý Thường Kiệt (lại dám) mang quân truy kích tới hang ổ kẻ xâm lược – đánh TQ, (ông anh) – là…“Hỗn” , thì không thể kiên nhẫn nghe ông ta nói tiếp nưã, mặc dù băng ghi hình còn dài (1 giờ 21 phút). Xin mời bạn nghe bài thuyết giảng của Thich Chân Quang theo đường Link này : http://www.youtube.com/watch?v=Cen570qA2NI&feature=player_embedded Nghe TCQ nói, trong tôi phục hiện câu chuyện xẩy ra hơn 3 năm trước… Dạo đó đài BBC (vẫn còn đang phát thanh). Một người Việt tên là Nguyễn Giang đang là Trưởng ban phát thanh tiếng Việt, cho một người đàn bà Việt tên là Đỗ Ngọc Bích đưa bài báo lên diễn đàn BBC bàn luận về chủ đề quan hệ giữa Việt Nam – Trung Quốc. Bài viết dài chỉ xin trich một đoạn mà ĐNB viết, làm thí dụ : “Người dân Việt Nam bắt nguồn từ Trung Quốc, Vua của Việt Nam cũng khởi tổ từ người Trung Quốc, coi vua Trung Quốc như anh như cha… từ Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, hay Lý Công Uẩn, rồi các gia tộc họ Trần, Lê, Nguyễn, v.v…”. Còn hôm nay – 3 năm sau – (2010 – 2013), Thích Chân Quang, ngang nhiên mở hội thuyết pháp ngay tại hội trường giữa thanh thiên bạch nhật, ngay trên đất nước Việt rồi, “mắng người anh hùng của dân tộc Việt – Ngài dũng tướng Lý Thường Kiệt – Hỗn ! Trong khi tuyên ngôn của ngài đã vang vọng núi sông ngàn đời: Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư ! Chúng ta tự hỏi : Gã thầy chùa này là ai mà dám láo xược thế? Gã là người Việt hay là người Trung Hoa? Khoan ! Xin các bạn nghe đây – tôi vừa nghĩ và tra tìm ra một việc: Trên trang Talawas của nữ sĩ Phạm Thị Hoài, ngày 29.3.2008 có đi một bài kí nhan đề : “Chuyện ở sân sau: Về người cha và ông nội của Chủ tịch Hồ Chí Minh” của nhà văn Hồ Sĩ Sênh (cháu của cụ tổ Hồ Sĩ Tạo). Ông viết về gia cảnh cụ cố Hồ Sĩ Tạo – là bố… cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ cụ Nguyễn Sinh Cung tức là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh – chủ tịch Đảng, chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam – Dân chủ – Cộng hòa, bây giờ là nước CHXHCN Việt Nam. Trong bài viết, ông HSS có nhắc tới một nhà sư tên Thích Chân Quang, là giòng giống của cụ Nguyễn Sinh Sắc, sau khi thoát án chém của triều đình Huế (vì “Thiếu trách nhiệm” đã làm chết một nông dân khi cụ làm quan huyện)… Cụ NSS đi trốn vào vùng bưng biền Đồng tháp rồi kết duyên với một cô gái trẻ…sinh được người con trai tên là Hồ Chí Nghĩa (tức là em út của Hồ Chí Minh). Cụ HCN sinh ra anh con trai sau này đi tu, làm trụ trì ở một ngôi chùa ở Vũng Tầu có pháp danh là Thích Chân Quang. Viết về nhân vật này, nhà văn Hồ Sĩ Sênh dành cho ông ta sự ngưỡng mộ và niềm kính trọng (trích trong talawas) : ’’Về thượng toạ Thích Chân Quang: ông là nhà sư đức cao vọng trọng, là người truyền giảng đạo Phật trên nhiều vùng đất nước, luôn gắn đạo với đời và mong cuộc đời ngày một tốt hơn. Người như vậy làm sao có sự khuất tất? Thanh Khê chúng tôi là vùng nghèo, miền núi đi lại khó khăn vậy mà thượng toạ vẫn tìm về dâng hương ở nhà thờ họ và nhà thờ cụ Giải nguyên Hồ Sĩ Tạo. Con cháu trong họ rất trân trọng và quý mến cái tâm của thượng toạ’’. Không biết ông thầy chùa Thích Chân Quang đang “gieo rắc” sự bất kính với tổ tiên, thóa mạ anh hùng dân tộc, bóp méo lịch sủ dân tộc Việt – có phải chính là Thượng tọa Thích Chân Quang, cháu gọi cụ Hồ là bác ruột, cháu gọi cụ Nguyễn Sinh Sắc là ông nội, không? Liệu đúng, thì người đọc – nhân dân VN quả là “Thánh”. Vì sao mà khi TCQ về “nhận tổ quy tông” đã bị phát hiện, nghi ngờ… khiến ông HSS phái bào chữa một cách yếu ớt ?… Đỗ Ngoc Bich là một người đàn bà. Vốn háo danh (…) cô ta có thể – do bản chất – “Sâu sắc như cơi đựng giầu’’ nên sai lầm, Nhân dân có thể thông cảm mà tha thứ. Còn cái “Nông nổi giếng khơi’’ của gã thầy chùa Thích Chân Quang thì nhân dân VN không thể nào tha thứ được. Nếu đúng đây lại là “dòng giống rồng” thì càng muôn lần đáng chết, muôn đời đáng nguyền rủa! Từ trước đến nay, hệ thống Văn hóa – Tư tưởng của chế độ luôn chú ý đến diễn biến tư tưởng và hiện tượng diễn biến – tự diễn biến của các “thế lực thù địch” (TLTĐ) rồi có biện pháp ngăn chặn, trấn áp. Thích Chân Quang đích thực đang làm vai trò của một TLTĐ, phục vụ cho mục đích của giặc ngoại xâm. Cơ quan An Ninh Quốc Gia cần phải vào cuộc ngăn chặn hành động nguy hiểm này. Thich Chân Quang khoác áo nhà tu hành. Ông ta là “sư” của Hội phật giao “quốc doanh” hay là người của Hội phật giao thống nhất (của Tăng thống Thich Quảng Độ), xin các vị hãy lên tiếng ngăn chặn hành động sai trái này ! Còn các vị phật tử VN đáng kính ! Các vị không hề có phản ứng gì trước hành động của ông thầy chùa “phản động”, này ư ? Chí ít – việc làm tích cực của các vị là: Hãy tẩy chay các buổi thuyết giảng của Thích Chân Quang ! Thư Ngỏ gửi Tiến Sĩ Đỗ Ngọc Bích (Đại Học Yale)Đinh Kim PhúcNhân đọc bài “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” của Tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích đăng trên BBC Việt ngữ ngày thứ bảy, 17 tháng 4 năm 2010, tôi có đôi điều muốn thưa chuyện cùng Tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích. Trước hết, đọc những dòng sau đây của Đỗ Ngọc Bích: 1. “Những thanh niên này hầu hết đều lớn lên vào những năm 1980, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc có điều khiển của nhà nước Việt Nam sau cuộc chiến tranh biên giới 1979, bài xích Trung Quốc, tố cáo Trung Quốc ‘hơi nhiều”. Thưa tiến sĩ, trong những năm cuối 1970 và đầu 1980 tiến sĩ đang ở đâu? Đang ở trời Tây trong giảng đường đại học hay nép mình trong góc phố an bình nào đó ở Việt Nam trong lúc hàng ngàn người dân Việt đã ngã xuống chống giặc để cho cô có mãnh bằng học vị hôm nay. “Chủ nghĩa dân tộc có điều khiển” là gì thưa tiến sĩ? Sao lời lẽ của tiến sĩ tương tự như bộ máy tuyên truyền chụp mũ trên Mạng Hoàn Cầu đến thế! 2. “Họ không nhận ra được rằng Việt Nam thực ra cũng là một phần trong da thịt của Trung Quốc, chia sẻ nguồn gốc văn hóa và tư tưởng, và nhận được khá nhiều ân huệ từ Trung Quốc trong suốt hơn 20 năm chiến tranh (1950-1975)”. Cô tiến sĩ ơi, tôi tin rằng cho dù Cô được học và lớn lên trên đất Mỹ, nhưng giáo trình nào? tài liệu nào của Mỹ đã dạy cho Cô “Việt Nam thực ra cũng là một phần trong da thịt của Trung Quốc”? Sao tiến sĩ không nói luôn là “Việt Nam vốn bị Trung Quốc đô hộ tự nghìn xưa, là phần đuôi của Đại Hán?” Còn cái mà Cô gọi là “ân huệ” thì phải chăng Cô muốn cùng Giáo sư Lê Xuân Khoa thảo luận lại “ Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến?”. 3. Thêm nữa, “Cho dù Trung quốc giúp Việt Nam là vì tính toán chính trị của họ, được giúp đỡ để chiến thắng cũng là điều tốt mà ‘mình nên nhớ’. Câu “yêu ai yêu cả đường đi, ghét ai ghét cả tông ti họ hàng” trong tình huống này có lẽ đúng”. Tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích muốn nhớ, thì nhân đây tôi giúp cho Cô nhớ: “Theo dõi việc đưa tin về Hội nghị Giơ-ne-vơ từ ngày đầu đến ngày cuối, tôi – và các nhà báo khác có quan hệ chặt chẽ với các đoàn xã hội chủ nghĩa – không nghi ngờ gì về việc đoàn Trung Quốc không ủng hộ mạnh mẽ đoàn Việt Nam. Nhiều năm sau Hội nghị, các nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn còn nói một cách trung thành: “các kết quả đã đạt được qua thảo luận và thỏa thuận chung”. Điều đó đúng sự thật theo nghĩa đen, nhưng không đúng sự thật thực sự, dù chỉ là một nửa. Khi hội nghị thảo luận đến vấn đề quy định một giới tuyến để quân đội Pháp rút về phía Nam và quân đội Việt Minh rút về phía Bắc, ông Phạm Văn Đồng đề nghị một đường ranh giới dọc theo vĩ tuyến 13. Trong tình hình thảm hại của lực lượng Pháp sau thất bại Điện Biên Phủ, và số còn lại trong những lực lượng tinh nhuệ của họ thì đang bị bao vây ở đồng bằng Sông Hồng và các nơi khác ở miền Bắc, đó không phải là một đề nghị không phải chăng. Đề nghị đó sẽ cho Việt Minh có 100km biên giới chung với Cam-pu-chia và sẽ bù đắp lại việc họ không giành được một vùng tập kết cho các lực lượng Khơ-me I-xa-rắc. Nhưng, trước “chủ nghĩa thực tế” và “chủ nghĩa thực dụng” đó, từng bước ông Phạm Văn Đồng đã buộc phải lùi đường ranh giới của mình qua vĩ tuyến 14 (như vậy cũng vẫn cho Việt Minh có một biên giới nhỏ với Cam-pu-chia), rồi qua vĩ tuyến 15 tới vĩ tuyến 16, tại đó ông kiên quyết giữ lập trường. Đã hai lần trong lịch sử Việt Nam, vĩ tuyến 16 từng là ranh giới phân chia tạm thời. Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, khi quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc kéo vào phía Bắc và quân đội Anh vào phía Nam (bề ngoài là để vây quét tàn dư của quân đội chiếm đóng Nhật và đưa chúng về Nhật), đường ranh giới giữa hai lực lượng này chạy dọc theo vĩ tuyến 16 và qua ngoại ô phía Nam của Đà Nẵng. Khi đất nước bị chia cắt giữa nhà Trịnh và nhà Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, đường ranh giới cũng chạy dọc vĩ tuyến 16 trở thành giới tuyến lô-gích – nếu cần phải có một giới tuyến. Những người Pháp đòi một đường ranh giới dọc vĩ tuyến 17. Sau một cuộc gặp riêng giữa Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng mới của Pháp, Pi-e Măng-đét Phrăng và Chu Ân Lai, Chuủng hộ lập trường của Pháp… Chu Ân Lai nói rõ với người Pháp rằng Trung Quốc đến Giơ-ne-vơ trước hết là để bảo vệ lợi ích của chính mình chứ không phải lợi ích của các lực lượng cách mạng Đông Dương. Điều này trở nên sáng tỏ một cách tàn nhẫn trong một cuốn sách về Hội nghị Giơ-ne-vơ, dựa trên những tài liệu về Hội nghị chưa hề được công bố, của nhà viết sử và chuyên gia về Châu Á người Pháp Phrăng-xoa Gioay-ô – Tác giả kể lại một cuộc họp giữa Chu Ân Lai và An-tô-ni I-đơn tại Giơ-ne-vơ một ngày trước khi Bộ Ngoại giao Anh công bố quan hệ ngoại giao giữa hai nước sẽ được nâng lên hàng đại sứ. “Trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc đã nói riêng với I-đơn là ông ta nghĩ rằng có thể ‘thuyết phục được Việt Minh rút khỏi Lào và Cam-pu-chia’. Qua đó, Trung Quốc đã đi một bước rất dài theo luận điểm của người Cam-pu-chia, người Lào, người Anh và người Pháp. Điều đó bao hàm việc thừa nhận rằng Việt Minh đúng là kẻ xâm lược ở hai nước đó, ngược lại với luận điểm lâu nay của Việt Minh – đó cũng là coi các vấn đề Lào và Cam-pu-chia không giống như vấn đề Việt Nam. Ngoài ra, Chu Ân Lai còn nói sẵn sàng công nhận tính chất hợp pháp của các Chính Phủ Vương quốc Lào và Cam-pu-chia ngay khi nào ông ta được bảo đảm rằng không một căn cứ quân sự nào của Mỹ được xây dựng ở hai nước này”. Trung Quốc thực sự đã quyết định quay lưng lại các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Lào và Cam-pu-chia để cầu xin ân huệ của các Chính phủ Anh và Pháp. “Nó cho phép trang bị quân đội chính phủ hiện nay đang đấu tranh chống du kích Pa-thét Lào và Khơ-me I-xa-rắc, và trong tương lai có thể đẩy lùi mọi hoạt động mới của Việt Minh ở bên ngoài biên giới Việt Nam”… Bài phát biểu ngắn của ông Đồng tại phiên họp bế mạc phản ánh sự cay đắng của ông khi phải chấp nhận những quyết định do sự áp đặt của người khác, bè bạn cũng như đối thủ. Các nhà báo không được dự phiên họp này (cũng như mọi phiên khác), nhưng Gioay-ô đã tóm tắt những gì đã xảy ra: “Ông Phạm Văn Đồng chỉ có một câu cám ơn hai đồng Chủ tịch, chứ không nói một lời nào biết ơn đối với Trung Quốc. Liệu có thể giải thích sự im lặng này một cách nào khác hơn là dấu hiệu về sự bất bình của Việt Minh đối với đồng minh của họ, những người tuy là nguồn ủng hộ vững chắc trong quá trình thương lượng, nhưng vẫn không ngần ngại tìm cách hạn chế những yêu cầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mỗi khi lợi ích dân tộc của chính họ đòi hỏi?”. Tối ngày 22 tháng 7, ông Phạm Văn Đồng và các thành viên khác của đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến dự một cuộc chiêu đãi của Chu Ân Lai để “chúc mừng thắng lợi của Hội nghị”. Họ chờ đợi một cuộc “chúc mừng giữa những người đồng chí”. Họ rất ngạc nhiên khi thấy đoàn đại biểu Liên Xô đã không được mời, trong khi các đoàn đại biểu của “Hoàng đế” Bảo Đại, Vương quốc Lào và Cam-pu-chia lại có mặt. Chu Ân Lai trước hết nâng cốc chúc mừng Hoàng đế Bảo Đại rồi đến Vua lào và Vua Cam-pu-chia. Người phụ tá cao cấp của ông Phạm Văn Đồng (mà tôi đã trích dẫn trước đây) nói với tôi : “Chúng tôi hầu như không thể tin ở mắt và tai mình nữa. Về sau, chúng tôi thấy vấn đề rõ hơn. Trung Quốc muốn các nước Đông Dương nằm trong túi mình, và hy vọng rằng ba Vương quốc ở đây sẽ được duy trì như những nước triều cống như kiểu Thiên hoàng trị vì đế quốc Trung Hoa với những quốc gia phiên thuộc! Trung Quốc không thể coi thường hơn nữa nội dung xã hội của các quốc gia ấy cũng như số phận của các lực lượng cách mạng ở đó – Nhìn lại những gì xảy ra sau này với Khơ-me đỏ ở Cam-pu-chia và việc Trung Quốc xâm lược Việt Nam rõ ràng đã được khởi động bởi thái độ của Trung Quốc tại Hội nghị Giơ-ne-vơ và đặc biệt là cuộc chiêu đãi cuối cùng này”. Chu Ân Lai đã bố trí để tại cuộc chiêu đãi các trưởng đoàn Cam-pu-chia và Lào, Tép Phan và Phủi Xa-na-ni-côn, ngồi cùng một bàn với vài phụ tá cao cấp của Chu Ân Lai. Tại bàn do Chu Ân Lai chủ trì, Ngô Đình Luyện (em Ngô Đình Diệm, người mới được CIA đưa lên cầm quyền ở Sài Gòn) được xếp ngồi giữa Phạm Văn Đồng và Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngô Đình Luyện và Tạ Quang Bửu đã từng cùng học tại Pháp và Chu Ân Lai tìm hết cách làm cho hai người gợi lại những kỷ niệm thời thanh niên. Có lúc, Chu gợi ý Ngô Đình Luyện sang thăm Bắc Kinh. Khi Luyện hỏi sang đó dưới danh nghĩa nào, Chu Ân Lai trả lời: “Tại sao các ngài không đặt một công sứ quán ở Bắc Kinh?”. Nhận thấy ông Phạm Văn Đồng giật nẩy người phản ứng, Chu Ân Lai lạnh lùng nói rằng việc ông Phạm Văn Đồng gần gũi với Trung Quốc hơn về tư tưởng không loại trừ việc Sài Gòn có đại diện ngoại giao tại Bắc Kinh. “Dù sao, hai ngài đều chẳng phải là người ViệtNam cả sao, và tất cả chúng ta đây chẳng phải là người Châu Á cả đó sao?”. Đây nữa lại là một viên thuốc đắng mà ông Phạm Văn Đồng phải nuốt tại Giơ-ne-vơ. Lý do khiến Chu Ân Lai ủng hộ việc đẩy lùi càng lâu càng tốt cuộc tổng tuyển cử để tái thống nhất đất nước đã trở nên quá rõ ràng. Trung Quốc quan tâm tới việc mở rộng ảnh hưởng của chính mình ở Sài Gòn hơn là giúp Việt Minh giành thắng lợi chính trị và tái thống nhất đất nước… “Chúng tôi lẽ ra đã có thể giành được hơn nhiều, nhiều lắm. Chúng tôi đã thỏa thuận trước với người Trung Quốc về mọi vấn đề – nhưng Chu Ân Lai đã họp kín với Măng-đét Phrăng, và tất cả đều bị thay đổi. Nếu lúc đó chúng tôi cứ tiếp tục chiến tranh, thì có lẽ chúng tôi đã thắng và được tất cả. Phải nói rằng người Trung Quốc đóng một vai trò cực kỳ nguy hiểm trong suốt cuộc thương lượng, và đã phản bội chúng tôi một cách đê tiện nhất”. Việc các nhà lãnh đạo Việt Nam giữ gìn điều bí mật về vai trò của Trung Quốc tại Hội nghị Giơ-ne-vơ là một điều đáng khâm phục về tính thận trọng, ý thức trách nhiệm và tinh thần đoàn kết trong phe xã hội chủ nghĩa – nhưng cũng là một điều đáng tiếc là họ không thông báo rộng rãi trong một chừng mực nào đó những việc xảy ra sau hậu trường ở Hội nghị. Tôi đã từng theo dõi đưa tin về Hội nghị Giơ-ne-vơ, đã từng thường trú ở Hà Nội trong nhiều năm để đưa tin về việc thi hành các quyết định của Hội nghị, đã từng có vô số cuộc nói chuyện với Cụ Hồ Chí Minh, ông Phạm Văn Đồng, ông Võ Nguyên Giáp và những người khác, nhưng tôi chẳng hề được một gợi ý xa xôi nào về những gì xảy ra sau hậu trường ở Giơ-ne-vơ, cho mãi đến khi Trung Quốc đã phạm điều phản bội tột cùng bằng cách xâm lược Việt Nam!…”(1) 4. Lại nữa: “Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa có bao giờ tuyên ngôn chủ quyền các đảo đó không, hay chỉ mãi đến năm 1974 mới điều hải quân ra trấn giữ và bảo vệ? Chúng ta đã bao giờ dành thời gian nghiên cứu xác nhận thông tin trước khi đấu tranh đòi chủ quyền chưa nhỉ?”. Đã có biết bao nhiêu tư liệu của Pháp (và nước ngoài) xác nhận quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa thuộc chủ quyền An Nam mà Tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích chưa đọc hay không biết? Thưa tiến sĩ, Cô đọc được tiếng Việt và tiếng Pháp không? Thôi thì tôi nhắc lại tài liệu sau đây bằng hai thứ tiếng Pháp-Việt cho Cô dễ hiểu: Ngày 5.9.1951, trong phiên họp khoáng đại hội nghị thứ 2 của hội nghị San Francisco, đại biểu Liên Xô Andrei A. Gromyko sau khi chỉ trích tính cách bất hợp pháp và sự vô nghĩa của bản dự thảo hòa ước của Anh – Mỹ để ký với Nhật Bản đã đưa ra một đề nghị 7 điểm gọi là để hướng dẫn việc ký kết hòa ước thực sự với Nhật Bản. Điểm 6 đề nghị trao trả hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa cho Trung Quốc. Nhưng hội nghị đã bác bỏ yêu cầu này với 48 phiếu chống. Hai ngày sau, ngày 7.9.1951 Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu, trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam, đã lên tiếng tái xác định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước 51 phái đoàn ngoại giao như sau: “Và nói một cách thẳng thắn rằng phải tranh thủ mọi cơ hội để chặn đứng những mầm mống gây xung đột, chúng tôi xác nhận chủ quyền của chúng tôi trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, vốn từ xưa đã thuộc lãnh thổ Việt Nam”. (“Et comme il faut franchement profiter de toutes occasions pour étouffer les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les îles Spratley et Paracels qui, de tout temps, ont fait partie du Viet Nam”) Lời tuyên bố đó đã được Hội nghị San Francisco ghi vào biên bản và trong tất cả 51 phái đoàn, không có một phái đoàn nào phản đối. 5. “Xét cho cùng, đất nước Việt Nam, lãnh thổ Việt Nam hiện nay có được là nhờ sự “mở mang bờ cõi” Nam tiến vào lãnh thổ Chiêm Thành, Khơ-me. Lịch sử là vậy, đất đai dân cư di dời, sở hữu chuyển đổi, do thỏa thuận cũng như do xâm lấn. Rút cục, có thể nói chủ nghĩa dân tộc mù quáng đôi khi cũng tai hại không kém gì chủ nghĩa bành trướng đế quốc vậy”. Xin thưa với Cô tiến sĩ Quan hệ quốc tế và Hoa Kỳ học: Nếu dựa vào những lý lẽ “lịch sử” theo kiểu như vậy, tuy có phần hấp dẫn đối với cô nhưng rõ ràng sẽ mở ra một hộp Pandoras của những xung đột không thể nào giải quyết được.(2) Một sách giáo khoa về luật pháp quốc tế của Michael Akehurst khái quát vấn đề chung đó như sau : “Đất đai chinh phục được ngày nay, hoặc ít ra đất đai do một kẻ xâm lược chinh phục, thì không thể được thừa nhận quyền sở hữu. Trong quá khứ thì được. Nhưng quyền sở hữu trước kia dựa vào sự chinh phục bây giờ có trở nên mất giá trị không? Nếu trở nên mất giá trị, thì kết quả sẽ rất là sửng sốt; nếu rút ra kết luận logic của việc đó, thì có nghĩa là bắt Mỹ sẽ trả lại cho người Idian da đỏ, và người Anh sẽ phải trả lại nước Anh cho người xứ Welsh”.(3) Những ví dụ như vậy có thể nhân lên không bao giờ hết. Kết luận mà phần đông các nhà cầm quyền đạt được là những khái niệm về luật pháp quốc tế không thể áp dụng lui trở lại cho các cuộc xung đột trong quá khứ để làm mất giá trị pháp lý của những biên giới ngày nay được. Những vấn đề đó đặc biệt gay gắt trong các thuộc địa cũ của các cường quốc thực dân Châu Âu. Akehurst nhận xét : “Những biên giới thuộc địa, được vạch ra bằng vũ lực trong các thế kỷ trước, ngày nay phần lớn đã trở thành những biên giới của những nước mới độc lập, mà không nước nào muốn thấy biên giới của họ bị đưa ra đặt vấn đề lại. Các nước Mỹ la tinh và Á-Phi, với một cái ngoại lệ (như Trung Quốc chẳng hạn) đã đồng ý rằng các biên giới thuộc địa phải được tiếp tục sử dụng, theo luật pháp quốc tế, như những biên giới sau độc lập. Ở Mỹ la tinh, điều đó được hiểu là nguyên tắc Utipossidetis, nghĩa là :Như bạn đã sở hữu, bạn sẽ tiếp tục sở hữu”(4). Các biên giới thuộc địa, nhất là ở Châu Phi thường không theo thiên nhiên, không tính đến sự phân chia của bộ tộc và cắt qua các khu vực thuộc cùng một đơn vị kinh tế, nhưng vì các quốc gia mới được độc lập không thể đồng ý vạch lại một cách triệt để các biên giới nên khôn khéo hơn cả là duy trì các biên giới hiện có để tránh tình hình mất ổn định và xung đột. Như vậy, lý luận như tiến sĩ thì nước Mỹ cũng là một phần của Trung Quốc như một vị tướng Trung Quốc từng tuyên bố gần đây. 6. Cuối cùng, “Những blogger đấu tranh cho chủ quyền lãnh thổ đã bao giờ đọc Đại Việt Sử Ký, Đại Việt Sử Lược, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư hay Việt Nam Sử Lược ở dạng nguyên bản, chưa qua biên soạn, cắt xén chưa?” Người dân Việt Nam bắt nguồn từ Trung Quốc, Vua của Việt Nam cũng khởi tổ từ người Trung Quốc, coi vua Trung Quốc như anh như cha… từ Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, hay Lý Công Uẩn, rồi các gia tộc họ Trần, Lê, Nguyễn, v.v… Chúng ta đã bao giờ tự hỏi mình xem lịch sử Việt Nam mà chúng ta học có đúng là lịch sử không?” Một câu hỏi thật bất ngờ, tôi không tin rằng ở một trường đại học danh tiếng của Mỹ lại có một giảng viên ngạo mạn và kém cỏi về lịch sử nước nhà đến thế. Thưa tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích, đọc những quan điểm và cách đặt vấn đề về lịch sử của Cô, chúng tôi không thể không nghi ngờ về trình độ hiểu biết sơ đẳng cũng như tự hỏi rằng Tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích hẳn phải là một người Hoa xa xứ Trung Quốc? Chào trân trọng Chú thích: (1) Wilfred G. Burchett, China, Cambodia, Vietnam Triangle, Vanguard Books, 1982. [ Tam giác Trung Quốc – Campuchia – Việt Nam, NXB TTLL, HN, 1986]. (2)- Theo thần thoại Hy Lạp, Pandoras là người đàn bà do Thần lửa tạo ra và bị đưa xuống để trừng phạt trần gian đã lấy trộm lửa. Thần Zeus cho chị ta một cái hộp, khi mở ra thì đủ tất cả các thói hư tật xấu bay ra làm ô nhiễm cả thế giới. Hộp Pandora do đó có nghĩa là vật hào nhoáng nguy hiểm. (3), (4)- Grant Evans – Kelvin Rowley. The Red Brotherhood at war (bản dịch Thủ đoạn đồng hoá của Trung Cộng tai VN.
Dân tộc Việt Nam từ khi lập quốc đến nay chưa bao giờ xảy ra tình trạng này, chỉ có trong chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa của cộng sản với chính sách trăm năm trồng người của Hồ Chí Minh mới có tội ác như câu chuyện thật kể ra dưới đây.
Trong một chuyến về Sài Gòn vào đầu tháng 4 năm nay (2014) vợ tôi có đến thăm hai người cháu, một trai và một gái, con của một bà chị trong họ. Cậu trai 32 tuổi và cô gái 27 tuổi, cả hai đều được nuôi ăn học đàng hoàng (tốt nghiệp đại học 4 năm), có công ăn việc làm tốt ở Sài Gòn. Họ đều đã lập gia đình cách đây vài năm và đã có con. Dì cháu lâu ngày gặp nhau mừng mừng tủi tủi, trong câu chuyện hàn huyên vợ tôi ôm đứa con trai của người cháu trai và hỏi nó rằng: - Con tên chi? Đứa bé trả lời: - Dạ, con tên Miêu Văn Dũng ạ. Vợ tôi tưởng mình nghe lộn nên hỏi lại: - Ủa, con họ chi? Đứa bé trả lời: - Dạ, con họ Miêu ạ. Vợ tôi ngạc nhiên, ngước mặt lên hỏi cha của nó: - Sao lạ vậy, con họ Nguyễn mà tại sao con của con họ Miêu? Người Việt mình làm gì có họ Miêu hả con? Biết vợ tôi ngạc nhiên, cậu cháu vội giải thích một tràng như sau: -Dì à, đó là con cho nó lấy họ mẹ, vợ của con gốc người Hoa họ Miêu. Con không được may mắn bằng em của con, nó lấy thằng em của vợ con nên con nó sinh ra không cần phải lấy họ mẹ vẫn có được họ Tàu. Vợ tôi bực mình hỏi lại: - Sao lạ vậy, mình là người Việt Nam tại sao phải lấy họ Tàu? Cậu cháu trả lời: - Dì ở nước ngoài lâu quá nên không biết đó thôi, chứ ở đây (Việt Nam) thanh niên nam nữ khi lớn lên lập gia đình đều muốn con của mình mang họ Tàu để sau này có tương lai hơn! Dì không thấy sao? bây giờ ở nước mình đi đến đâu cũng thấy Tàu, công ti, hãng xưởng đa số là của người Tàu. Mang họ Tàu đi xin việc, làm giấy tờ gì cũng dễ dàng và được nể vì, tụi con cũng cũng vì tương lai của mấy cháu đấy thôi. Nghe người cháu phân bua như vậy vợ tôi gằn giọng: - Thì ra là vậy, như vậy thì hết đời tụi bây, giữa tau và con của tụi bây coi như không bà con, dòng họ gì nữa rồi phải không? Biết vợ tôi tức giận, cậu cháu vội giả lả: - Dì nói vậy thôi, chứ họ gì thì họ, bà con vẫn cứ bà con mà dì. Dì thấy không, cô Đại sứ Du lịch Việt Nam Trần Thị Thanh Nhàn cũng lấy tên Tàu là Lý Nhã Kỳ mà được trọng vọng, nên danh nên phận và giàu có đó, có sao đâu. Vợ tôi buột miệng nói: - Vậy sao. Nhận thấy không khí có vẻ nặng nề và ngượng nghịu, vợ tôi vội vàng kiếm cớ bận rộn công việc để từ giã hai đứa cháu. Trên đường về bâng khuâng tự hỏi: Không biết mình có còn chúng nó hay không! của Nguyễn Tấn Cưu – Chân lý thuộc về ai?), NXBQĐND, 1986. |
|
Những nội dung khác:
|
|
|
 |
|