Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Năm 2026
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 3
 Lượt truy cập: 29135474

 
Tin tức - Sự kiện 17.05.2026 18:53
22 sĩ quan cấp cao quân đội tập huấn tại Trung Quốc đẻ làm nội gián chuyển giao quốc gia
08.06.2014 15:36

Ngày 6/6, Đoàn cán bộ chính trị cao cấp của Quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ sang Trung Quốc tham gia khóa học 15 ngày, trong khuôn khổ Đề án 165 của Ban Tổ chức Trung ương và thỏa thuận hợp tác quốc phòng giữa 2 nước.

Đoàn gồm 22 tướng lĩnh, sĩ quan cấp cao là cán bộ chủ trì công tác Đảng, công tác chính trị tại các đơn vị cấp chiến lược, chiến dịch toàn quân, được đào tạo cơ bản, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn và là nguồn quy hoạch cho nhiệm kỳ tới.


Sáng 5/6, tại Đoàn 871, trung tướng Nguyễn Văn Động, Cục trưởng Cục Cán bộ thay mặt thủ trưởng Tổng cục Chính trị giao nhiệm vụ cho đoàn cán bộ chính trị cao cấp sang học tập tại Học viện Chính trị Tây An, Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc.


Các đại biểu dự Lễ giao nhiệm vụ và thành viên Đoàn cán bộ chính trị đi học Trung Quốc. Ảnh: QĐND.

Hằng năm, Bộ Quốc phòng cử hàng trăm cán bộ đến các nước để giao lưu, trao đổi, tập huấn, đào tạo nhằm tiếp thu những thành quả khoa học, kỹ thuật và học hỏi kinh nghiệm, kiến thức mới của các nước trên thế giới. Tiếp theo Đề án 165 của Ban Tổ chức Trung ương, đây là đoàn cán bộ quân đội thứ 6 được cử sang tập huấn, học tập tại Trung Quốc kể từ năm 2009.

Trung tướng Nguyễn Văn Động yêu cầu tất cả cán bộ được cử đi học cần phải nghiêm túc quán triệt mục đích, yêu cầu, ý nghĩa, tầm quan trọng của khóa học. Ông nhấn mạnh: "Các cán bộ được cử đi học đợt này cần phải nghiên cứu sâu lý luận, tiếp thu kinh nghiệm thực tiễn của bạn để về nước vận dụng một cách sáng tạo, khoa học vào quá trình thực hiện nhiệm vụ của đơn vị mình. Từng thành viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn, đoàn kết, giúp đỡ nhau trong suốt quá trình học tập để đạt được kết quả tốt nhất".

Cục trưởng Động cũng lưu ý, trong quá trình học tập phải tôn trọng pháp luật của nước bạn, nghiêm chỉnh chấp hành những quy định của cơ sở đào tạo, giữ vững tư thế, lễ tiết, tác phong, hình ảnh đẹp của cán bộ, sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, góp phần thắt chặt mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị giữa hai Đảng, hai Nhà nước, quân đội và nhân dân hai nước.

Theo chương trình khóa học, đoàn cán bộ chính trị cấp cao của Quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ nghiên cứu 10 chuyên đề về các vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác Đảng, công tác chính trị của Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Theo Quân đội Nhân dân
http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su...c-2810677.html

Tại sao chúng ta phải thay đổi thể chế chính trị trước khi chống giặc ngoại xâm?


Chu Chi Nam (Danlambao) - Đất nước và dân tộc đang đứng trước hiểm họa diệt vong, trong thì đảng cộng sản mặc tình cấu kết với ngoại bang bán đất dâng biển, hèn với giặc, ác với dân, giết hết tinh anh, triệt mọi cơ hội phát triển của người dân, ngoài thì Tàu cộng lộng hành, ngang nhiên kéo dàn khoan đến vùng biển Việt Nam. Con đường duy nhất để chống ngoại xâm là bằng mọi cách phải thay đổi thể chế chính trị, từ độc tài cộng sản qua Dân chủ Tự do, vì có như thế, giới lãnh đạo mới quy tụ được sức mạnh toàn dân, vận động được các quốc gia và cộng đồng yêu chuộng Tự do và Hòa bình trên thế giới cô lập và bẻ gãy mọi mưu mô bá quyền của Tàu cộng...

Sự quan trọng của thể chế chính trị trong đời sống con người, xã hội, văn hóa và văn minh

Nhiều người chưa ý thức rõ vai trò của thể chế hay chế độ chính trị trong đời sống con người và xa hơn nữa là xã hội, văn hóa, văn minh. Chính vì lẽ đó, mà chúng ta nên có một cái nhìn xét lại, rõ ràng hơn, nhất là trước nguy cơ bành trướng của Tàu cộng. Hơn nữa bài học trước mắt tại Ukrain, người dân đã xuống đường lật đổ chế độ độc tài, tham nhũng của Yanukovych, kẻ đã vì quyền lợi cá nhân, gia đình sẵn sàng bó gối quy hàng Nga, sau đó bầu ra vị tổng thống mới với chủ trương đoàn kết toàn dân, thân thiện với thế giới tự do, đối thoại bình đẳng với Nga để bảo toàn lãnh thổ.

Thể chế hay chế độ chính trị là mô hình tổ chức nhân xã, nói một cách dễ hiểu, là tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp của một cộng đồng con người.

Người ta thấy có chế độ độc tài, chế độ dân chủ. Trong chế độ độc tài có nghĩa là chế độ mà quyền hành nằm trong tay một người hay một nhóm người (oligarchie). Trong chế độ dân chủ là chế độ mà quyền hành nằm trong tay người dân, người dân có quyền quyết định số phận của mình, người ta thấy có dân chủ trực tiếp, như ở Thụy sĩ, những quyết định quan trọng đều do trưng cầu dân ý quyết định; và chế độ dân chủ gián tiếp, người dân bầu ra đại diện của mình, trong một nhiệm kỳ, những người được bầu này thay mặt dân lấy những quyết định. Hiện nay, phần lớn những chế độ dân chủ là những chế độ dân chủ gián tiếp.

Trong chế độ dân chủ gián tiếp, người ta thấy có chế độ tổng thống như ở Hoa kỳ, chế độ đại nghị như ở bên Anh và phần lớn ở các quốc gia trên thế giới. Người ta cũng có thể thêm chế độ nửa tổng thống chế, nửa đại nghị chế, như ở bên Pháp.

I. Sự quan trọng của thể chế chính trị trong đời sống con người

Thể chế chính trị giữ một vai trò tối quan trọng trong sự phát triển đời sống con người. Vì vậy có người ví thể chế chính trị như mảnh đất và người dân như hạt mầm. Con người dù là da vàng, da trắng hay da đen có thể ví như hạt mầm, nếu hạt mầm này được gieo vào một mảnh đất tốt, tức sống dưới một chế độ tốt, chế độ tôn trọng con người, những quyền căn bản của con người được bảo đảm, đồng thời được hướng dẫn, dìu dắt bởi một nền giáo dục tốt, một hệ thống an sinh xã hội tốt, thì hạt mầm này sẽ kết bông, nẩy trái. Ngược lại, nếu hạt mầm này được gieo trên một mảnh đất khô cằn, tức một thể chế chính trị xấu, không lo đến quyền lợi của người dân, mà chỉ lo đến quyền lợi của một số người, coi thường những quyền căn bản của con người, áp dụng một hệ thống giáo dục tuyên truyền nhồi sọ, đa số đời sống của người dân trở nên cơ cực, trong khi một thiểu số cầm quyền tiêu sài theo kiểu vất tiền qua cửa sổ, an sinh xã hội của dân không được bảo đảm, trẻ em sơ sinh thiếu dinh dưỡng, khi bệnh thì thiếu thuốc, không có bác sĩ, không dám đi nhà thương, thì tất nhiên hạt mầm này sẽ thui chột, chẳng khác nào được gieo trên một mảnh đất khô cằn, toàn là sỏi đá.

Ngày hôm nay, theo những nhà và viện nghiên cứu về dân chủ, thì chế độ dân chủ, mặc dầu không được coi là chế độ hoàn hảo nhất, nhưng nó được coi là chế độ hiện hành tốt nhất để giúp con người và xã hội phát triển.

Chúng ta hãy lấy thí dụ điển hình để dễ hiểu, hai chế độ chính trị Nam Hàn và Bắc Hàn. Chế độ Bắc Hàn là một chế độ cộng sản độc tài, người dân sống dưới chế độ này không những không thể phát triển được, mà hàng năm còn bị nạn đói hoành hành từ bao chục năm nay. Ngoài xã hội thì những hãng xưởng thiếu điện để chạy nhà máy, trong khi những công thự, những chỗ tôn thờ lãnh tụ, thì điện chan hòa cả ngày lẫn đêm. Giáo dục là một nền giáo dục nhồi sọ, từ trẻ em cho đến người lớn chỉ biết vâng lời, gọi dạ bảo vâng, nhắc lại những khẩu hiệu tuyên truyền rỗng tuếch.

Trong khi đó thì Nam Hàn hiện nay vô cùng phát triển. Chúng ta chỉ cần lấy một vài thí dụ điển hình: Nền khoa học kỹ thuật tân tiến hiện nay được coi là ngành điện thoại cầm tay, vì trong đó là cả một cái máy điện toán tối tân, thế mà Nam Hàn với hãng Samsung đứng đầu trong việc sản xuất và bán trên thị trường đã lâu, trên cả hãng Apple của Hoa kỳ và hãng Nokia của Phần Lan. Ngành xe hơi cũng vậy, hãng Kia của Nam Hàn, mặc dầu mới xuất hiện, nhưng số lượng bán cũng không thua gì những hãng quốc tế nổi tiếng lâu đời khác như hãng Général Motor, Toyota, Wolkswagen, Renault. Nam Hàn từ mấy chục năm nay đã nổi tiếng về giáo dục, người thợ Nam hàn có một trình độ hiểu biết tổng quát đứng đầu thế giới. Người chuyên viên Nam Hàn cần cù làm việc, chịu khó học hỏi, đi làm việc nơi nào cũng được trọng. Bằng cớ là hai tổ chức quốc tế quan trọng nhất thế giới là Liên Hiệp quốc và Ngân Hàng quốc tế, đều được cầm đầu bởi người Nam Hàn.

Được như vậy, tất nhiên do nhiều nguyên do, nhưng một trong những lý do chính, đó là dân Nam Hàn được sống dưới một chế độ tự do, dân chủ, mặc dầu chế độ này mới được thiết lập vào khoảng thập niên 80.

Không nói đâu xa, chúng ta trở về Việt Nam thời cận đại: Hai chế độ miền Nam Việt Nam trước năm 1975 là hai chế độ cộng hòa, Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng hòa. Hai chế độ này, vào thời đó có thể nói là 2 chế độ dân chủ, tất nhiên không thể so sánh với những nước dân chủ tiền tiến, nhưng nó là một trong những nước dân chủ đầu tiên ở châu Á, chỉ thua có Nhật. Chính vì vậy mà miền Nam cũng đã phát triển, hơn cả Nam Hàn và Đài loan lúc bấy giờ. Nếu tính theo sản lượng đầu người hàng năm thì vào cuối thời Đệ Nhất Cộng hòa, sản lượng của miền Nam Việt nam là 118 $, trong khi đó của Nam Hàn và Đài loan là trên dưới 80 $. Sự phát triển của miền Nam được ngay những người cộng sản công nhận, như ông Lê Đăng Doanh, "nhà kinh tế cộng sản", trong một bài phỏng vấn của đài BBC, cũng công nhận là sau 1975, ông vào thăm miền Nam đầu tiên, ông đã phải ngạc nhiên về trình độ phát triển, ông đi thăm những vùng quê, ông thấy nơi nào cũng có điện, có máy cày, đời sống người dân tương đối đầy đủ. Nhà văn Dương Thu Hương, cùng với "đoàn quân chiến thắng" vào miền Nam, trước đời sống dân miền Nam, bà đã sửng sờ, bà tìm một góc phố, như lời bà kể, để khóc, và sau đó tuyên bố: "Tôi đã cùng một đoàn quân chiến thắng, nhưng mô hình tổ chức xã hội của kẻ chiến bại lại văn minh hơn mô hình của kẻ chiến thắng".

Chính "Luật Người cày có ruộng" của thời Đệ Nhị Cộng hòa Việt nam đã được chính phủ Đài loan bắt chước và đem áp dụng thành công ở nước này. Chỉ tiếc rằng những gì đã được xây dựng ở miền Nam đã bị cộng sản đổ xuống sông, xuống biển. Chính vì vậy mà dân miền Nam đã có câu: "Năm đồng đổi lấy một xu, người khôn đi học, thằng ngu làm thầy".

Hiện nay cộng sản nói rằng đổi mới, nhưng thực sự là trở lại những thành quả của miền Nam trước kia đã đạt được, nhưng khập khiểng, vì thể chế chính trị vẫn là chế độ cộng sản độc tài, vẫn lấy lý thuyết Mác Lê làm nền tảng cho chế độ, như đã được ghi trong hiến pháp; giáo dục thì nhồi sọ, đạo đức thì suy đồi, an sinh xã hội thì không có.

Nếu chúng ta nói đến sự quan trọng của thể chế chính trị trong sự phát triển con người và xã hội, văn minh, văn hóa, thì chúng ta có thể dẫn chứng rất nhiều.

Ở đây tôi chỉ xin nhắc đến ông Alexis de Tocqueville (1805 - 1859), với hai quyển sách nổi tiếng "De la Démocratie de l’Amérique" (Về chế độ dân chủ ở châu Mỹ), viết từ năm 1835 tới 1840, và quyển "De l’Ancien Régime et la Révolution" (Về Chế độ cũ và Cách mạng) xuất bản năm 1856.

Sở dĩ tôi nói đến ông Tocqueville là vì hiện nay, đảng Cộng sản Trung cộng, nhất là Ban Tư tưởng và ý thức hệ đang khuyên các đảng viên đọc và suy ngẫm về quyển sách của ông, đặc biệt là câu trong quyển sách thứ nhì: "Giai đoạn nguy hiểm nhất cho một chế độ, đó là lúc mà nó bắt đầu cải tổ."

Theo Tocqueville, thì "Ý tưởng dân chủ, bắt đầu bằng sự công bằng điều kiện (égalités des conditions) là một cái gì thiêng liêng, không thể tước bỏ được và nó chính là một động lực làm cho những chế độ độc tài sụp đổ". Quyển sách về dân chủ Hoa kỳ là một quyển sách cho tới bây giờ, giới trí thức nước này vẫn cho là một trong những quyển sách hay nhất qua nhận xét, phân tích và tiên đoán về Hoa Kỳ.

Theo Tocqueville thì đây quả là một nền dân chủ gián tiếp, với một hiến pháp thành văn, tôn trọng những quyền căn bản của con người, tôn trọng tam quyền phân lập, và nhất là sự quân bằng quyền hành, giữa quyền trung ương và địa phương, giữa quyền hành pháp và lập pháp, giữa quyền lập pháp và tư pháp. Từ đó cho tới nay, không ai chối cãi rằng nền dân chủ Hoa Kỳ quả là một mảnh đất mầu mỡ cho mọi con người đến từ mọi chủng tộc, nẩy mầm và phát triển.

Với quyển sách thứ nhì, mà nay Ban Tư tưởng Trung ương Trung cộng đang yêu cầu cán bộ học hỏi, nói về tại sao chế độ cũ, tức chế độ quân chủ của vua Louis XVI Pháp lại sụp đổ. Câu trả lời của Tocqueville tất nhiên là vì chế độ này đã cấm đoán tự do. Tuy nhiên ông cũng cảnh cáo chế độ dân chủ là không nên mắc vào "nạn độc tài số đông" (despotisme de la majorité). Để tránh điều này thì nên có sự tản quyền, tôn trọng quyền tự do báo chí và làm thế nào để tam quyền phân lập rõ ràng và nhất là quyền tư pháp được độc lập.

Một câu hỏi đến với chúng ta là tại sao Ban Tư tưởng của Trung Ương đảng Cộng sản Trung cộng lại yêu cầu cán bộ học hỏi tư tưởng của Tocqueville và nhất là suy ngẫm câu vừa nói ở trên: "Thời điểm nguy hiểm nhất của một chế độ..." Vì đảng Cộng sản Tàu cũng ý thức rất rõ rằng mình không thể nào đi ngược lại trào lưu tiến bộ của văn minh nhân loại, đó là đi đến thể chế chính trị tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền, và từ đó tất nhiên là phải cải tổ, vứt bỏ tư tưởng Mác Lê Mao, chủ trương độc khuynh, độc đảng, độc tài. Tuy nhiên vấn đề là cải tổ thế nào để không đi đến cách mạng, làm sụp đổ chế độ, mất hết những đặc quyền, đặc lợi của một thiểu số người nắm quyền.

Đây là một vấn đề nan giải mà Tocqueville đã nhìn thấy và đặt ra với chế độ quân chủ Pháp thời vua Louis XVI và cho rằng một trong những lý do chính của sự sụp đổ chế độ là vì chế độ này bắt đầu cải tổ.

Từ cái nhìn của Tocqueville, chúng ta nhìn vào lịch sử cận đại.

Chúng ta thấy rằng lịch sử, trái lại với một số nhà tư tưởng cho rằng biến chuyển thế này thế nọ, theo đường thẳng, đường trôn ốc, theo óc tưởng tượng đã đánh đồng lịch sử với toán học, tóm gọn sự biến chuyển lịch sử qua một phương trình toán học, rồi từ đó suy đoán ảo tưởng, nhưng nhiều khi lịch sử chỉ là một sự lập lại, nếu chúng ta đem so sánh sự sụp đổ của đế quốc cộng sản Liên sô dưới thời Gorbatchev và sự sụp đổ của triều đình quân chủ Pháp Louis XVI.

Nhưng phải chăng trong lịch sử cận đại không có một chế độ độc tài nào tự sửa đổi, cải tổ để đi đến chế độ dân chủ mà thành công? Câu trả lời là có. Chúng ta chỉ cần lấy thí dụ gần chúng ta và chúng ta cũng biết đôi chút. Đó là Nam Hàn và Đài loan. Nam Hàn và Đài loan trước thập niên 80 là dưới chế độ độc tài.

Có người cho rằng, độc tài Nam Hàn và Đài loan là độc tài hữu, khác với độc tài Trung cộng và Việt Nam là độc tài tả, có sự khác biệt. Điều này không sai. Tuy nhiên trong chính trị, dù là tả hay hữu, nhất là người lãnh đạo, khi đã sáng suốt, có ý chí nhất quyết làm vì nước vì dân, thì cũng có thể làm nhiều chuyện, trong đó có cả việc thay đổi một chế độ.

II. Sự quan trọng của thể chế chính trị trong xã hội, văn hóa và văn minh nhân loại

Xã hội chúng ta có thể định nghĩa đơn giản là cách sống của một nhóm người có tổ chức, với những truyền thống, luật lệ, cơ chế, trải qua những thời đại. Nói một cách khác đi, đó là cách tổ chức xã hội con người ở vào một thời điểm nhất định nào đó, chính là chế độ, thể chế, tức cách tổ chức chính trị, kinh tế, luật pháp, văn hóa, xã hội.

Văn hóa, văn là đẹp, hóa là biến đổi, đây là tất cả những hành động của con người làm thăng tiến đời sống của mình trên hai phương diện vật chất và tinh thần. Một khi những hành động này có ảnh hưởng rộng lớn, trong một vùng, trải qua một thời gian dài, thì nó trở thành văn minh.

Văn cũng là đẹp, minh là chiếu sáng, có ảnh hưởng lâu dài và rộng lớn.

Một số sử gia và nhân chủng học cho rằng con người trải qua 5 thời kỳ văn minh:

Văn minh trẩy hái, vào lúc con người mới xuất hiện trên trái đất, sống trong hang đá, hái trái cây, săn bắn ở chung quanh để sinh sống.

Văn minh du mục: rồi cây trái, súc vật ở chung quanh cũng trở nên khan hiếm, con người phải đi xa để tìm kiếm, nó bước sang thời kỳ văn minh du mục.

Nhưng ngay dù đi xa để kiếm ăn, thức ăn cũng trở nên khó khăn, con người phải trồng trọt, nuôi súc vật. Nó bước sang thời kỳ văn minh định cư nông nghiệp.

Với nền văn minh này, con người đã có thể thỏa mãn những nhu cầu căn bản của mình, nghĩa là khi đói thì có ăn, khi lạnh thì có áo để bận, con người bắt đầu nghĩ đến những nhu cầu xa xỉ, muốn ăn ngon, mặc đẹp, con người trao đổi với nhau về những sản phẩm mình làm ra, có nghĩa là tôi trồng lúa mì để ăn, nhưng tôi thích ăn lúa mạch, thì tôi trao đổi với người trồng lúa mạch; tôi có thể dệt vải để mặc, nhưng thôi thích mặc lụa, thì tôi trao đổi với người dệt lụa. Con đường Gia vịCon đường Tơ lụa nối liền đông tây trong lịch sử nhân loại, có nghĩa là thế. Từ đó con người bước sang nền văn minh trao đổi thương mại.

Ngày xưa, con người phải đi xa để trao đổi, nhưng từ ngày có phát minh ra điện, điện thoại, điện toán, con người không cần phải đi xa để trao đổi, con người bước sang nền văn minh tri thức điện toán, như ngày hôm nay.

Vào thời văn minh trẩy hái, du mục, canh nông, lao động chủ yếu là dùng sức mạnh bắp thịt chân tay. Nhưng bước sang văn minh thương mại, nhất là văn minh tri thức điện toán ngày hôm nay, lao động chủ yếu là tư tưởng, phát minh sáng kiến, từ đầu óc con người.

Mỗi một thời văn minh có một hình thức tổ chức nhân xã tương xứng. Thời văn minh trẩy hái, du mục, đó là chế độ gia tộc, bộ lạc. Bước sang thời kỳ văn minh định cư nông nghiệp, là chế độ quân chủ. Nhưng sang thời kỳ văn minh thương mại, tri thức, điện toán, đó là chế độ dân chủ, vì để trao đổi là phải có người khác, phải có đối thoại.

Socrate nói: "Nơi nào có đối thoại, nơi đó mới có tiến bộ và dân chủ" là như vậy. Nhất là vào thời kỳ văn minh tri thức điện toán ngày hôm nay, để phát minh, sáng kiến, con người bắt buộc phải sống dưới chế độ dân chủ, vì phải có tự do tư tưởng, trao đổi tư tưởng, công trình tìm kiếm, thì lúc đó con người mới có thể có những ý kiến mới. Voltaire cũng đã từng nói: "Tự do tư tưởng và ngôn luận là hai cột trụ chính của chế độ dân chủ."

Mỗi một mô hình tổ chức nhân xã là một bước tiến của nhân loại. Nhưng nếu kéo dài quá thì lại trở thành vật cản trở, như chế độ quân chủ là một bước tiến so với chế độ gia tộc và bộ lạc, nhưng kéo dài lâu quá thì trở thành lạc hậu, ngăn cản bước tiến của con người. Trong khi một chế độ như chế độ quân chủ kéo dài cả bao ngàn năm, không những lỗi thời, mà còn trở nên giết người, vì một thiểu số nắm quyền, muốn kéo dài đặc ân, đặc lợi, bổng lộc của mình, không ngần ngại dùng bất cứ thủ đoạn nào, từ thông tin tuyên truyền lừa bịp, đến dùng cái còng với công an và dùng cái súng với lính để đàn áp dân. Người ta nói: "Chế độ độc tài là chế độ của cái loa, cái còng và cái súng" là vậy.

Nhìn vào lịch sử cận đại, 2 chế độ cái loa cái còng và cái súng là chế độ độc tài phát xít Hitler và chế độ cộng sản. Cả hai đều dựa trên quan niệm triết lý, tư tưởng bất bình thường: Hitler cho rằng chủng tộc Aryen là chủng tộc tinh khiết, không pha trộn với những chủng tộc khác, nên thông minh. Đây là một điều vô cùng phản khoa học. Dân tộc Đức tiêu biểu cho chủng tộc này, nên thông minh, đáng để cầm đầu thế giới. Chính vì vậy nên Hitler đã không ngần ngại phát động chiến tranh khắp nơi. Marx thì cho rằng lịch sử con người là bạo động, là đấu tranh giai cấp, không ngần ngại mở đầu Bản Tuyên Ngôn thư Cộng sản: "Lịch sử nhân loại từ xưa tới nay là lịch sử của đấu tranh giai cấp." Đây cũng là một cái nhìn quá phiến diện và tổng quát hóa, chẳng có gì là khoa học, như những người cộng sản, bắt đầu bởi Marx thường rêu rao: "Khoa học lịch sử, khoa học biện chứng."

Không cần chứng minh dài dòng, chúng ta chỉ nhìn chính chúng ta và những người chung quanh, xét cuộc đời thì chúng ta rõ: Bình thường con người muốn sống hòa bình. Con người chỉ dùng bạo động trong những trường hợp bị bắt buộc, trường hợp bất bình thường. Điều này đúng với cả lịch sử của những quốc gia.

Marx và những người cộng sản đã lấy cái gì bất bình thường làm cái bình thường, nên từ lý thuyết cho đến chế độ đã trở nên bất bình thường, bệnh hoạn.

Đấy lại chưa nói đến ngay từ lúc đầu, chế độ cộng sản, bề ngoài thì mang nhãn hiệu "Thế giới đại đồng, Anh em cộng sản", nhưng bên trong là chủ nghĩa quốc gia cực đoan, bành trướng. Bề ngoài mang nhãn hiệu "Liên bang các cộng hòa xã hội Sô viết" ( URSS), nhưng bên trong, Lénine, qua tay em của mình là Staline, vì lúc đó Staline đã đặc trách về vấn đề các dân tộc, tìm cách ép buộc, đàn áp, giết hại những dân tộc chung quanh, bắt họ đi theo Liên sô. Bằng chứng rõ ràng là khi đế quốc Liên sô sụp đổ năm 1989, thì những dân tộc này nổi lên đòi độc lập.

Chính vì mang đầu óc quốc gia cực đoan, bành trướng, nên đã có những vụ tranh chấp Nga - Hoa ở biên giới vào những năm 60, tranh chấp giữa Việt Cộng và Trung cộng, rồi đi đến chiến tranh năm 1979, tranh chấp Việt Miên rồi cũng đi đến chiến tranh trước đó một năm, 1978.

Sau khi Liên sô sụp đổ, thì Việt cộng vội chạy đi thần phục Trung cộng, mở đầu bằng Hội nghị Thành đô tháng 3/1990, và không ngừng ký những hiệp ước dâng đất nhượng biển cho Trung cộng. Nhưng vì Trung cộng từ xưa đã mang mộng bành trướng đế quốc, nay lại được cấy vào vi trùng bất bình thường Mác Lê, nên mộng bành trướng càng ngày càng mạnh. Mặc dầu cả 2 bên, lúc nào cũng rêu rao "Bốn tốt và mười sáu chữ vàng"; nhưng đùng một cái, Trung cộng cho đặt giàn khoan, xâm phạm chủ quyền lãnh hải Việt Nam.

Nhiều người vì tin tưởng ở những câu nói đầu môi, chót lưỡi của cộng sản, "Tình Huynh đệ tốt, Môi hở răng lạnh, Tình đồng chí cộng sản", đã ngỡ ngàng về sự việc Trung cộng đặt giàn khoan dầu ở quần đảo Hoàng sa, thuộc về chủ quyền Việt Nam. Thực ra nếu chúng ta xét lịch sử xa của cộng sản, thì chúng ta không có gì ngạc nhiên. Trung cộng và Việt cộng đã nhiều lần đánh nhau.

Bởi lẽ đó, chừng nào hai dân tộc Việt Nam và Trung hoa vẫn còn phải mang cái ách chế độ cộng sản, lấy lý thuyết Marx làm nền tảng cho chế độ, kêu gọi đấu tranh giai cấp, một lời kêu gọi chiến tranh triền miên, không những chiến tranh trong chính nội bộ, mà còn chiến tranh với nước ngoài, chừng đó hai dân tộc không thể nào sống hòa bình, hòa bình với chính mình, hòa bình với các nước chung quanh và với cộng đồng thế giới.

Người dân sống dưới chế độ độc tài phát xít hay độc tài cộng sản không những chỉ như một hạt mầm gieo trên một mảnh đất khô cằn, mà còn bị giới lãnh đạo dùng như những bia đỡ đạn cho tham vọng bành trướng và đế quốc của mình.

Vì vậy, ngày hôm nay, những chế độ độc đoán độc tài, không phát triển hay phát triển chậm hơn những chế độ dân chủ và đi ngược lại trào lưu tiến hóa của con người là như vậy.

Quả thực nhân loại đã trải qua 5 nền văn minh, từ trẩy hái qua du mục, quân chủ tới dân chủ ngày hôm nay, mỗi một nền văn minh tương xứng với một mô hình tổ chức nhân xã khác nhau, hay nói một cách rõ hơn, hiện đại hơn là cách tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, hoặc chế độ hay thể chế chính trị khác nhau, từ thể chế gia tộc, bộ lạc, tới quân chủ và dân chủ.

Nước Tàu và Việt Nam hiện nay nói riêng và các nước phương đông nói chung trong đó có cả các nước Trung Đông, những nước này đã có một nền văn minh rất sớm, hơn cả tây phương. Nhưng tiếc rằng chế độ quân chủ kéo dài quá lâu. Ngày hôm nay chế độ cộng sản ở Tàu và Việt Nam cũng chỉ là một chế độ quân chủ phong kiến trá hình. Chế độ quân chủ này trước khi tàn thì bùng lên ở phía phải tức chế độ phát xít, bùng lên ở phía tả, tức chế độ cộng sản, để rồi sẽ tắt luôn như một nhóm lửa trước khi tàn.

Tây phương, mặc dầu văn minh đến chậm hơn đông phương, nhưng đã biết từ bỏ sớm chế độ quân chủ để bước sang chế độ dân chủ và kinh tế thị trường và đã phát triển rất mạnh, vượt mặt đông phương.

Đối với những chế độ quân chủ, từ lạc hậu như ở các nước Trung Đông, cấm đoán ngay cả những người phụ nữ làm đủ mọi thứ nghề, ra đường phải bịt mặt, tới chế độ cộng sản, tước hết mọi quyền căn bản nhất của con người; người xưa có câu "Trễ còn hơn không", hãy từ bỏ thể chế chính trị quân chủ phong kiến, độc tài cộng sản, để bước sang chế độ dân chủ, tôn trọng những quyền căn bản của con người, trong đó có nam nữ bình quyền, có quyền tự do tư tưởng và ngôn luận, thì mới hy vọng theo kịp những nước văn minh. Gương Nam Hàn và Đài loan cho ta thấy rõ. Hai nước này đã từ bỏ chế độ độc tài vào thập niên 80, để bước sang chế độ dân chủ, thế mà ngày hôm nay cả 2 nước đã có thể sánh cùng với những nước văn minh khác trên thế giới.

Đất nước và dân tộc đang đứng trước hiểm họa diệt vong, trong thì đảng cộng sản mặc tình cấu kết với ngoại bang bán đất dâng biển, hèn với giặc, ác với dân, giết hết tinh anh, triệt mọi cơ hội phát triển của người dân, ngoài thì Tàu cộng lộng hành, ngang nhiên kéo dàn khoan đến vùng biển Việt Nam. Con đường duy nhất để chống ngoại xâm là bằng mọi cách phải thay đổi thể chế chính trị, từ độc tài cộng sản qua Dân chủ Tự do, vì có như thế, giới lãnh đạo mới quy tụ được sức mạnh toàn dân, vận động được các quốc gia và cộng đồng yêu chuộng Tự do và Hòa bình trên thế giới cô lập và bẻ gãy mọi mưu mô bá quyền của Tàu cộng. (1)

Paris ngày 07/06/2014



_________________________________________

(1) Xin đọc thêm bài Trung cộng tiêu biểu cho văn minh đông phương và những bài về thể chế chính trị và dân chủ trên http://Orange.fr/chuchinam/



Nguyen Quang Duy duyact@yahoo.com.au 
To 
Today at 6:45 PM

Lộ dần phi trường, cảng biển Trung Quốc ở bãi đá ngầm Gạc Ma 
Saturday, June 07, 2014 4:39:17 PM

HONGKONG 7-6 (NV) - 
Thêm tài liệu cho thấy Trung Quốc đang ráo riết thực hiện kế hoạch lấn chiếm ở Biển Đông mà hiện đang lộ dần một đảo nhân tạo có cả phi trường, cảng biển ở Trường Sa.

alt
Đồ họa đảo nhân tạo Johnson South Reef (Việt Nam gọi là Gạc Ma, Trung Quốc gọi là Xích Qua Tiêu) với phi trường, cảng biển hiện Trung Quốc đang ra sức tạo dựng từ bãi đá ngầm. (Hình: SCMP)

Theo tờ South China Morning Post (SCMP) hôm Thứ Bảy, những gì tổng thống Phi Luật Tân Benigno Aquino tố cáo những ngày gần đây đang đang được giới chuyên viên Trung Quốc nhìn nhận.
Bắc Kinh đang biến bãi đá ngầm Gạc Ma (Xích Qua Tiêu) cướp của Việt Nam năm 1988 thành một đảo nhân tạo khổng lồ. Trên đó có cả phi đạo cho máy bay lên xuống, cảng biển riêng cho tàu quân sự và tàu dân sự. Lại còn có cả khu vực gia cư, khu du lịch, tất cả xây dựng trên đảo nhân tạo đang được các máy hút cát dưới lòng biển làm thành dần dần.
Khi tổng thống Phi tố cáo tuần trước, ông chỉ có những tấm hình chụp không ảnh các hoạt động hút cát để xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc ở khu vực nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Phi. Tấm đồ họa của báo SCMP cho người ta nhìn thấy rõ hơn về quy mô của đảo nổi Xích Qua Tiêu mà 64 người lính CSVN đã thiệt mạng năm 1988 vì bị tàu Trung Quốc xả súng bắn chết để cướp bãi đá ngầm này.
Khi Xích Qua Tiêu (Chi Gua Jiao) trở thành một căn cứ qui mô nổi trên biển rộng khoảng 30 hecta, căn cứ của Việt Nam xây dựng tại đảo đá Cô Lin ( khoảng 1.9 hải lý tây bắc Gạc Ma) chỉ là một chấm nhỏ trên bản đồ so với đảo nhân tạo Gạc Ma hay Xích Qua Tiêu. Nó sẽ là nơi để Bắc Kinh phô diễn sức mạnh quân sự để uy hiếp cả Phi Luật Tân và Việt Nam ở quần đảo Trường Sa đang tranh chấp. Riêng với Phi Luật Tân thì an nguy quốc gia của họ bị đe dọa thật gần.
Theo các nhà phân tích thời sự, hành động đang thực hiện của Trung Quốc là đi từ phòng vệ sang tấn công. Khi phi trường ở Xích Qua Tiêu hoàn thành, với phi trường đã có sẵn ở đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa, Bắc Kinh sẽ có cớ thành lập “vùng nhận dạng phòng không trên biển” trùm cả Biển Đông. Đây là điều từng được nhiều nước lo ngại sẽ xảy ra khi Bắc Kinh tuyên bố vùng nhận dạng phòng không trên biển Hoa Đông năm ngoái.
Bắc Kinh chối không lập vùng nhận dạng phòng không ở Biển Đông nhưng khi đã có phi trường ở cả hai đầu đông tây của Biển Đông rồi, chuyện gì cũng có thể xảy đến.

alt
Các đảo và bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa. (Hình: Wikipedia)
Cùng với việc gấp rút xây dựng căn cứ quy mô trên đảo nhân tạo Xích Qua Tiêu, theo SCMP, Trung Quốc đang có kế hoạch biến bãi đá ngầm Fiery Cross Reef (Việt nam gọi là đá Chữ Thập, Trung Quốc gọi là Vĩnh Thử Tiêu (Yongshu Jiao) theo một kế hoạch tương tự. Bãi đá ngầm Gạc Ma (Xích Qua Tiêu) thuộc cụm đảo Sinh Tồn, trong khi đá Chữ Thập (Vĩnh Thử Tiêu) thuộc cụm Nam Yết.
Bãi đá ngầm  Chữ Thập có chiều dài tính theo trục đông bắc-tây nam là 14 hải lý (gần 26 km) và chiều rộng là 4 hải lí (7.4 km); tổng diện tích đạt 110 km². Trừ một tảng đá cao 1 m nổi lên ở phần đuôi phía tây nam thì nhìn chung đá này chìm dưới nước khi thủy triều lên. Nếu Trung Quốc biến bãi đá ngầm này thành đảo nổi, nó có thể sẽ lớn gấp nhiều lần so với Xích Qua Tiêu (hay Gạc Ma).
Theo Kim Lạn Vinh (Jin Canrong), một giáo sư ngành bang giao quốc tế tại đại học Nhân Dân ở Bắc Kinh được SCMP thuật lời, đề án biến bãi đá ngầm Vĩnh Thử Tiêu (hay Chữ Thập theo cách gọi của Việt Nam) đã được đệ trình nhà cầm quyền trung ương Trung Quốc để chấp thuận. Khi kế hoạch xây dựng hoàn tất, nó sẽ lớn gấp đôi căn cứ quân sự Diego Garcia của Hoa Kỳ rộng 44 km2 trên Ấn Độ Dương.
Lý Kiệt, một chuyên viên hải quân tại Viện nghiên cứu Hải quân Trung Quốc, nói căn cứ trên đảo nhân tạo Vĩnh Thử Tiêu cũng sẽ gồm cả phi trường và cảng biển. Hiện nơi này đang là một căn cứ nhỏ mà hơn 20 năm trước, Bắc Kinh cho xây dựng một đài quan sát phục vụ cơ quan nghiên cứu hải dương của Unesco.
Theo Kim Lạn Vinh, việc xây dựng đảo nhân tạo tại Vĩnh Thử Tiêu sẽ được thực hiện tiếp theo và tùy thuộc sự tiến triển của đảo nhân tạo Xích Qua Tiêu (Gạc Ma). Tháng trước tin tức xì ra trên báo chí Trung Quốc cho hay đảo nhân tạo tại Xích Qua Tiêu ngoài phi trường, cảng biển có thể biếp nhận các tàu lên đến 5,000 tấn.
Tại quần đảo Trường Sa, bắt đầu từ năm 1988, Trung Quốc mới bắt đầu đi cướp của Việt Nam một số bãi đá ngầm gồm Đá Xu Bi  thuộc cụm Thị Tứ; Đá Chữ Thập , Đá Ga Ven thuộc cụm Nam Yết; Đá Gạc Ma,Đá Tư Nghĩa thuộc cụm Sinh Tồn; Đá Châu Viên thuộc cụm Trường Sa; và Đá Vành Khăn thuộc cụm Bình Nguyên. (TN)



Nhận diện vấn đề

Thục Quyên (Danlambao) - Trung Cộng nhìn thấy thời cơ và đã đi thêm một bước quyết định trong mưu đồ bành trướng của họ: giàn khoan HD-981.

Hơn một tháng đã qua, sự sôi sục, chuyển qua nhốn nháo rồi dịu dần của dân chúng, và sự bất động của nhà cầm quyền Việt Nam, mà vài ba tuyên bố đã gây hiểu lầm cũng đã được chỉnh lại đúng đường lối bằng những lời vuốt ve quỵ luỵ "nước bạn láng giềng Trung Quốc" của bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Phùng quang Thanh tại hội nghị Shangri-La.

Ông đại tướng Thanh thật ra không hề nói một điều gì mới lạ. Làn sóng những bài viết và phản biện đi từ trách móc đến rủa xả ông ta chỉ cho thấy hoặc là sự nhẹ dạ hoặc là sự tuyệt vọng của đa số người dân Việt Nam còn lưu tâm và có khả năng lưu tâm đến vận mạng đất nước. Nhẹ dạ để lại hí hửng tin tưởng và hy vọng sau vài lời tuyên bố "thùng lon rỗng" (*), hay qúa tuyệt vọng như người khát nước trong sa mạc nóng bỏng, lao đầu vào cái ảo ảnh Fata Morgana trước khi gục xuống.

Dừng lại và nhìn sâu vào sự việc

Sau một tháng tròn, biết bao nhà trí thức, chuyên môn, đã vận dụng khả năng và sự suy nghĩ của mình để hiến kế cho nhà cầm quyền Việt Nam đối phó cấp bách với Trung Cộng. Nhưng bây giờ giả thuyết sự xâm lấn chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông của Trung Cộng là một hành động bất thình lình làm Đảng và nhà nước Việt Nam bối rối không biết xử trí ra sao đã rõ là sai hoàn toàn. Những vị cầm quyền cho thấy họ có một đường lối rất rõ ràng, không suy chuyển:kẻ im, người nói, chia vai trò với nhau rất nhịp nhàng, ăn khớp với thời điểm.

Điều đáng nói là dân không được biết đường lối này như thế nào, sẽ đưa dân tộc tới đâu, nên dân không thể suy nghĩ, bàn cãi hay không đồng ý. Khổ thay dù những người lãnh đạo vì tư lợi hay chỉ vì yếu kém, một mai khi đất nước mất chủ quyền là mất chủ quyền, không có hai loại nặng nhẹ khác nhau, và lúc đó có ngã ngũ tội tình thì cũng chẳng còn cứu vãn được gì.

Do đó việc làm cấp bách hiện nay, thiết nghĩ không phải là năn nỉ, kêu gọi hay trách móc (chưa đủ nữa hay sao? thế nào là nước đổ lá khoai?) mà phải là nỗ lực bạch hóa những gì đảng Cộng sản và nhà nước đã thỏa thuận, ký kết với Trung Cộng. 

Không biết chỗ đứng của mình, không biết trong tay mình có gì, không biết giặc ở những chỗ nào, đã nắm những yếu điểm nào của mình thì làm sao mà trở tay?

Kẻ đứng ngoài nói dễ, kẻ ở trong làm khó

Vẫn biết như vậy. Nhưng nếu suốt tháng nay tốn bao công sức, giấy mực, để tính toán mò mẫm những gì Mỹ, Nhật, Phillipines, rồi Nga, ASEAN, nghĩ và... có thể sẽ làm, mà ngay trong nhà mình, mình không biết chuyện gì đang xảy ra, ngay cả những gì đã xảy ra cũng không biết nốt. Thế thì có khác chi chúng ta đang đóng vai hiệp sĩ mù qườ quạng đánh gió?

Có những tin tức Trung Cộng phóng vào dư luận thế giới mà Việt Nam không thể chống đỡ vì không có dữ kiện chính xác. Thí dụ tin Trung Cộng khẩn cấp đem tàu qua đón hơn 3000 người lao động, đem máy bay chở công nhân bị thương của họ, được báo chí thế giới đăng tải. Lẽ dĩ nhiên cũng có vài nhà chuyên môn ngọai quốc bình luận, đây là một phản ứng thổi phồng để buộc tội Việt Nam, nhưng vài tiếng nói này không có chút ảnh hưởng gì để đảo ngược hình ảnh bất lợi về người Việt Nam mà bộ máy tuyên truyền Bắc Kinh reo rắc. 

Trong khi ấy, nếu có con số người lao động China thực tình có mặt tại Việt Nam để đưa ra: 30.000? 150.000? 200.000? nghĩa là 10 lần? 50 lần? 70 lần hơn con số 3000 Bắc Kinh nhắng nhít báo động thì tình trạng trung thực có thể được đưa ra rõ ràng, một cách thật đơn giản và thuyết phục. (Kể thì cũng nên lưu ý những người này đang làm gì khi mà những vùng sinh sống của họ nghe nói nhà nước Việt Nam không có quyền kiểm soát?)

Cũng là một cách thật đơn giản để người dân Việt từ Bắc chí Nam hiểu đất nước xiêu vẹo này đã nghiêng nhiều về phía vực thẳm, nếu có một bản tổng kết số lượng hầm mỏ, công trường, trung tâm.... nằm trong tay người China trên đất Việt.

Nếu có những bài phóng sự hoàn toàn đứng đắn ghi lại rõ ràng tình trạng người dân Việt sống chung quanh những nơi này, và cuộc sống những công nhân Việt Nam làm cho những hãng xưởng Trung Cộng.

Rất đơn giản và thuyết phục vì ngọn lửa yêu nước và tính tự trọng của người Việt sẽ đánh bạt ngay cái tình trạng bị đánh giá là vô cảm trong xã hội Việt Nam hiện nay.

Vô cảm hay không có tin tức? Thiếu hiểu biết hay vì đã bị uốn nắn để tin vào sự bất lực của mình?

Cứ nhìn tất cả những vấn đề liên quan tới cái công hàm-mà có thể không phải là công hàm- năm 1958 của thủ tướng Phạm văn Đồng đang xích chân Việt Nam thì Việt Nam cần mang ra nghiên cứu tất cả những công hàm liên quan tới biên giới, hầm, mỏ, rừng, đất, người khác đã ký giao cho Trung Cộng. Phòng hờ những điều mình tuyên bố bây giờ về Hoàng sa Trường Sa đã không giúp lấy lại mà còn trở thành những lý luận vững chắc giúp Trung Cộng được thêm chỗ khác.






Philippines bóc trần tuyên bố chủ quyền Biển Đông dựa trên lịch sử của Trung Quốc


(Dân trí) - Sử dụng chính các bản đồ cổ của Trung Quốc, một thẩm phán Tòa án tối cao Philippines đã bóc trần tuyên bố chủ quyền dựa trên “những bằng chứng lịch sử” đối với gần như toàn bộ Biển Đông của Trung Quốc.


Thành viên cấp cao của Tòa án Tối cao Philippines Antonio Carpio
Thành viên cấp cao của Tòa án Tối cao Philippines Antonio Carpio

Bản đồ cổ của Trung Quốc khẳng định cực nam lãnh thổ Trung Quốc là Hải Nam

Trong bài giảng tại Đại học De La Salle ở Philippines về “Bằng chứng lịch sử, lừa dối lịch sử và quyền lịch sử tại Biển Tây Philippines (tức Biển Đông)”, thành viên cấp cao của Tòa án Tối cáo Philippines, ông Antonio Carpio đã nhận lời mời của Trung Quốc, xem xét “các bằng chứng lịch sử”, bằng cách nghiên cứu không chỉ bản đồ cổ của Trung Quốc mà cả bản đồ của giới chức Philippines và các quốc gia khác.

Ông Carpio cho biết: “Tất cả các bản đồ cổ này cho thấy kể từ khi những bản đồ đầu tiên của người Trung Quốc xuất hiện, thì lãnh thổ cực nam của Trung Quốc luôn luôn là đảo Hải Nam, với các tên cổ là Zhuya, sau đó là Qiongya, rồi tiếp đến là Qiongzhou”.

“Trong suốt nhiều thế kỷ, đảo Hải Nam là một phần của tỉnh Quảng Đông và tới tận năm 1988 nó mới trở thành một tỉnh riêng”, ông cho biết thêm.

Cũng theo ông Carpio, sau khi Philippines đệ đơn kiện tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông lên tòa án trọng tại quốc tế vào tháng 1/2013, dựa trên Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS), nhằm bảo vệ Vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, Trung Quốc đã đưa ra “bằng chứng lịch sử” để là một trong những cơ sở nhằm bảo vệ cho tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông.

Bản đồ cổ của Trung Quốc đều khẳng định lãnh thổ cực nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam.
Bản đồ cổ của Trung Quốc đều khẳng định lãnh thổ cực nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam.

Và theo ông Carpio, giờ đây giới chức ngoại giao Trung Quốc tuyên bố họ sẽ không từ bỏ một tấc lãnh thổ mà cha ông họ đã để lại. Ông dẫn lời Tướng Phòng Phong Huy, Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc, trong chuyến công du gần đây tới Mỹ đã tuyên bố “lãnh thổ được truyền lại từ những thế hệ người Trung Quốc từ trước tới nay sẽ không bị lãng quên hay bị từ bỏ”.

Dựa vào lịch sử, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cũng có thể tuyên bố chủ quyền với tất cả đại dương!

Với việc Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương - 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, theo bạn, Việt Nam có nên kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế hay không?
Không
   
Phản pháo tuyên bố trên, ông Carpio cho biết: “Bằng chứng lịch sử, thậm chí nếu là sự thật, liên quan đến phát hiện và khám phá trong Thời kỳ Khám phá (đầu thế kỷ 15 đến thế kỷ 17) hoặc thậm chí trước đó, không liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp theo UNCLOS. Cả Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đều không thể làm hồi sinh những tuyên bố chủ quyền từ thế kỷ 15 của họ để sở hữu tất cả các đại dương và vùng biển trên trái đất của chúng ta…Những chuyến đi biển của Đô đốc thời phong kiến Trung Quốc Trịnh Hòa, từ năm 1405-1433, không bao giờ có thể là cơ sở cho bất kỳ tuyên bố chủ quyền nào đối với Biển Đông. Cũng không thể có cái tên lịch sử nào là cơ sở để tuyên bố chủ quyền đối với các đại dương và vùng biển. Biển Đông thậm chí còn không được người Trung Quốc đặt tên mà là do các nhà hàng hải và bản đồ học châu Âu đặt ra.”

Ông cũng cho biết thêm: “Triều đại nhà Tống và nhà Minh đã gọi Biển Đông (tên quốc tế là South China Sea- Biển Nam Trung Hoa) là “Biển Giao Chỉ” và triều đại nhà Thanh, Cộng hòa Trung Hoa cũng như Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đều gọi là “Nam Hải” (South Sea) mà không hề có từ “China”, tức “Trung Hoa”.”

Ông cũng nhấn mạnh thêm: “Ấn Độ không thể tuyên bố chủ quyền đối với Ấn Độ Dương và Mexico không thể tuyên bố chủ quyền đối với Vịnh Mexico chỉ bởi lịch sử đã gọi tên những vùng biển này theo tên của nước họ”.

Ông Carpio chỉ ra vào đầu thế kỷ 17, Hugo Grotius, nhà sáng lập luật quốc tế, đã viết rằng: “Các đại dương và vùng biển trên hành tinh chúng ta thuộc về nhân loại, không một nước nào có thể tuyên bố chủ quyền đối với các đại dương và vùng biển”. Và ý tưởng cách mạng này của Hugo Grotius sau đó đã trở thành nền tảng của luật biển trong luật quốc tế.

Vũ Quý
Tổng hợp

Hung hăng gây gổ trên Biển Đông, TQ vẫn "giả ngây" sắm vai "người bị hại"

(Tinmoi.vn) Sau những hành động gây hấn và xâm phạm phi pháp trên Biển Đông, Bắc Kinh tiếp tục luận điệu "cũ rích" vu vạ bị tàu Việt Nam "tập kích bất ngờ" và Trung Quốc chỉ thực hiện quyền tự vệ.

Hôm 6/6, trong cuộc họp báo thường kì, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi tiếp tục có những phát biểu ngông cuồng, sai sự thật về chủ quyền Biển Đông cũng như thực tế đang diễn ra, bất chấp dư luận và luật pháp quốc tế.

Khi phóng viên đặt câu hỏi: "Trung Quốc có phản ứng gì về clip tàu Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam được Việt Nam công khai?",  ông Hồng Lỗi đã ngang nhiên vu vạ, bịa đặt, cho rằng, cách làm của Việt Nam là “có ý đồ phản công/trả đũa”, và tàu thuyền Trung Quốc chỉ “thực hiện nhiệm vụ hộ tống bảo đảm an ninh” ở xung quanh giàn khoan Hải Dương 981 (Haiyang Shiyou 981).

Hành vi đâm chìm tàu cá vô nhân đạo của Trung Quốc đã được truyền thông quôc tế đăng tải, song Bắc Kinh vẫn

Hành vi đâm chìm tàu cá vô nhân đạo của Trung Quốc đã được truyền thông quôc tế đăng tải, song Bắc Kinh vẫn "giả ngây" đóng vai trò "người bị hại"

Theo ông Hồng, Bắc Kinh luôn trong trạng thái “phòng thủ”, và chỉ các tàu Việt Nam “tập kích bất ngờ”, “có ý đồ lao vào đâm tàu bảo vệ” của Trung Quốc, "đe dọa nghiêm trọng an toàn tàu và nhân viên của Trung Quốc”.

Bất chấp truyền thông quốc tế công bố hình ảnh rõ ràng về những vụ tấn công, gây gổ hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông, bất chấp dư luận quốc tế lên tiếng chỉ trích, phẫn nộ vè hành động bạo lực, phi đạo lý, vi phạm luật pháp quốc tế, phát ngôn viên ngoại giao Trung Quốc vẫn lớn tiếng quy chụp: “Rốt cuộc là ai phát động tấn công ở hiện trường, là ai thuộc bên phòng thủ, là ai tạo ra căng thẳng. Đây là điều rất rõ ràng”.

Hung hăng gây gổ trên Biển Đông, TQ vẫn

Tàu kiểm ngư Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm vỡ

Đối với câu hỏi: "Philippines gần đây cho biết Trung Quốc đang gấp rút lấp biển tạo đất (lấn biển) ở Biển Đông, Trung Quốc có phản ứng thế nào?”, ông Hồng tiếp tục lặp lại "thuyết chủ quyền" do Bắc Kinh tự nghĩ ra và cũng chỉ riêng họ thừa nhận rằng: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Trường Sa và vùng biển xung quanh, hành động của Trung Quốc ở bất cứ đảo, đá ngầm nào đều là việc trong phạm vi chủ quyền của Trung Quốc, và đó không phải việc của Philippines”.

Hôm 6/6, Tổng thống Philippines Aquino nói rằng các tàu Trung Quốc đã xuất hiện trong vùng biển khu vực đá Gaven và đá Châu Viên (nằm trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam mà Philippines, Trung Quốc và Đài Loan cũng tuyên bố "chủ quyền") có thể đang chở thiết bị “lấp biển tạo đất”. 

Philippines cho biết, họ sẽ sử dụng con đường ngoại giao và biện pháp pháp lý để xử lý vấn đề này. Hiện nay, Philippines đang theo đuổi một vụ kiện ở tòa án trọng tài đóng ở La Hay nhằm khẳng định “đường lưỡi bò” của Trung Quốc là một chủ trương bất hợp pháp.

Yên Yên


Thách thức và hy vọng cho phong trào dân chủ Việt Nam trước vận hội mới.

Nguyễn Văn Thân (Danlambao) - Trong thời gian qua, việc một số tù nhân lương tâm được trả tự do trước thời hạn tù làm nhiều người lạc quan dù ai cũng biết động cơ chính không phải là nhà cầm quyền thật sự thay đổi mà đó là kết quả của các cuộc mặc cả với quốc tế và nhất là với Hoa kỳ vì miếng mồi TPP (Hiệp Ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương). Dù sao đi nữa thì đây là thời điểm thích hợp để chúng ta thử đánh giá phong trào đấu tranh dân chủ, xem xét những mặt thuận lợi và khó khăn cũng như lạm bàn về một số giải pháp để vượt qua những thách thức đó. Về mặt này thì Nguyễn Vũ Bình đã đi tiên phong với hai bài tiểu luận trong tháng 3 và 4 mang tựa đề “Phong trào Dân Chủ Việt Nam trước vận hội lớn” và “Những thách thức trong việc xây dựng thể chế dân chủ ở Việt Nam”.

Đúng như Nguyễn Vũ Bình nhận xét, phong trào dân chủ đã đạt những bước tiến rõ rệt trong thời gian qua về cả lượng lẫn phẩm. Cho tới năm 2000 thì phong trào chỉ có một vài thành viên thuộc giới trí thức lên tiếng qua hình thức phổ biến các bài viết bày tỏ quan điểm và thái độ phản kháng. Trong thời gian gần đây thì cánh cửa xã hội dân sự đã được mở rộng hơn. Ngày càng có nhiều người tham gia vào phong trào với số lượng thành viên đa dạng gồm có nam, nữ, già, trẻ, giới trí thức, công nhân, nông dân... và nhất là thành phần thanh niên sinh viên góp phần sáng tạo và lan tỏa trong xã hội công nghệ thông tin hiện nay.

Lãnh vực hoạt động cũng được nới rộng. Nếu như trước đây phong trào chú trọng vào các quyền tự do chính trị ví dụ như qua sự ra đời của Khối 8406 vào năm 2006 thì trong thời gian gần đây các tổ chức như Hiệp hội Dân Oan, Hội Bầu bí Tương thân, Câu Lạc Bộ FC Hoàng Sa, Trường sa, Hội Cựu Tù nhân Lương tâm, Văn đoàn Độc lập lại nhắm vào các quyền dân sự và dân sinh thiết thực với đời sống hàng ngày của người dân. Thật ra, khái niệm nhân quyền rất bao quát và không giới hạn ở các quyền tự do chính trị. Đấu tranh cho các quyền dân sự và kinh tế sẽ thu hút được đông đảo quần chúng. Nếu như hình thức đấu tranh trước đây là “căng băn rôn, khẩu hiệu, tờ rải truyền đơn chẳng những không đạt hiệu quả cao mà còn bị đàn áp nặng nề thì bây giờ là những cuộc biểu tình chống Trung Quốc, các buổi dã ngoại, hội thảo nhân quyền, tổ chức những buổi Thánh Lễ cầu nguyện cho tù nhân lương tâm và Lễ tưởng niệm liệt sĩ Hoàng sa và Trường sa” vừa đi thẳng vào lòng người mà cũng khó cho nhà cầm quyền thẳng tay trù dập.

Một đặc điểm đáng lưu ý là phuơng diện quốc tế từ những buổi “cà phê” nhân quyền với sự tham dự của nhân viên ngoại giao nước ngoài đến các chuyến công du điều trần trước các phái đoàn Liên Hiệp Quốc tại Thụy sĩ qua cuộc Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát về thực trạng nhân quyền tại Việt nam và các buổi điều trần trước Quốc hội Hoa kỳ và Âu châu. Chính nhân dân Việt nam tận dụng cơ hội trực tiếp tố cáo trước thế giới về tình trạng đàn áp nhân quyền của chế độ mà Hà nội không còn đường chối cãi. Hình ảnh đau khổ của bà mẹ Việt nam Trần Thị Ngọc Minh bôn ba khắp nơi từ Âu sang Mỹ để kêu cứu cho con gái Đỗ Thị Minh Hạnh đang bị tù đày chỉ vì tranh đấu cho quyền lợi của người lao động đã làm chạnh lòng thế giới văn minh và đánh đúng vào yếu huyệt của chế độ. Thành quả của phong trào đấu tranh trong thời gian qua là niềm hãnh diện chung cho tất cả các chiến sĩ dân chủ trên mọi miền đất nước.

Những thuận lợi cho phong trào

Biến động kinh tế và quan hệ giao thương với các quốc gia khác trên thế giới là những yếu tố có tác động mạnh đến thời cuộc tại Việt nam. Khi Việt nam ráo riết vận động để trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO thì Khối 8406 ra đời. Đây là lần đầu tiên một tập thể đối kháng dân chủ công khai xuất hiện trong xã hội công an trị. Gần đây hơn khi Việt nam đang tìm cách gia nhập Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP thì có nhiều tổ chức dân sự độc lập lần lượt ra mắt. Theo Phạm Chí Dũng thì nợ xấu và nợ công đang đưa kinh tế Việt Nam vào đường cùng và có nguy cơ suy thoái toàn diện đe dọa đến sự tồn vong của chế độ. Vì vậy, “nhóm lợi ích” cố sức thúc đẩy Việt Nam vào TPP bằng mọi giá mà trong đó Việt Nam phải uống liều thuốc đắng nhân quyền và cải thiện quan hệ với Mỹ. Về mặt này thì Việt nam cần Mỹ hơn là Mỹ cần Việt nam. Nếu Việt nam muốn vào cuộc chơi thì phải chơi đúng luật. Hội nhập là con dao hai mặt. Ngay cả khi trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp quốc là Việt nam đã tự thu hút sự chú ý của thế giới và trở thành cái đích cho các tổ chức bảo vệ nhân quyền có uy tín và tầm vóc quốc tế như Tổ Chức Ân xá Quốc tế và Human Rights Watch nhắm vào và lên án vì những hành vi bất xứng của chế độ.

Tư tưởng và ý thức hệ lệ thuộc của Đảng Cộng sản Việt nam trước thái độ hung hăng của đàn anh Trung cộng đang lộ rõ dã tâm thâu tóm cả Biển Đông sẽ dẫn đến sự bất mãn nội bộ và nhất là của giới an ninh và quân đội. Trong bất cứ thời đại nào thì người lính cũng có nhiệm vụ thiêng liêng là bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải quốc gia. Với kỹ thuật thông tin điện tử hiện nay thì Đảng sẽ không dễ dàng tuyền truyền hoặc lường gạt họ như trong quá khứ. Nếu có binh biến thì sẽ có cơ hội quân đội quay đầu súng hoặc ít nhất là án binh bất động và như thế thì cũng đủ làm cho chế độ độc tài toàn trị cáo chung mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt nam. 

Khó khăn trước mắt

Dĩ nhiên là bên cạnh đó thì phong trào vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn. Tuy đã có một vài tổ chức dân sự độc lập tự phát ra đời nhưng con số vẫn còn rất khiêm nhường. Một số tổ chức còn gặp nhiều giới hạn về mặt phương tiện và kỹ năng điều hành. Ví dụ như số lượng dân oan tại Việt nam có thể lên tới hàng triệu người nhưng Hiệp hội Dân oan chưa có cơ hội phát huy hết tiềm năng và thu hút được đông đảo dân oan làm thành viên. Nếu các tổ chức hoạt động riêng rẽ thì rất dễ cho nhà cầm quyền kiểm soát và khống chế. Tuy là đã có những buổi gặp mặt của các tổ chức dân sự nhưng chưa có những cơ chế kết hợp và điều hợp sinh hoạt chung giữa các tổ chức. Trong tương lai gần thì vẫn chưa nhìn thấy có một tổ chức có đủ tầm vóc lãnh đạo phong trào và huy động tập thể quần chúng xuống đường hoặc nổi dậy để tạo binh biến hay làm một cuộc cách mạng đổi đời. Vì hệ thống tổ chức yếu kém nên phong trào còn gặp nhiều khó khăn về mặt nhân lực và tài chánh là hai yếu tố quyết định khả năng và tầm vóc ảnh hưởng đến đại cuộc. 

Giải pháp đề nghị

Tuy phong trào đã có những bước tiến đáng kể như hành trình dân chủ còn dài. Giai đoạn kế tiếp sẽ có tính cách quyết định. Chúng ta mong nhìn thấy sẽ có thêm nhiều tổ chức dân sự ra đời đặc biệt là các tổ chức mang tích chức nghiệp hoặc nghiệp đoàn ví dụ như các luật sư đoàn độc lập, hội y tế, hội nông gia, hội đại diện cho các công nhân dệt, giày dép và may mặc, hội đại diện cho công nhân kỹ nghệ du lịch, công nghệ thông tin, hội tiểu thương và các phòng thương mại địa phương... Sự hiện hữu của các tổ chức nghiệp đoàn độc lập không chỉ cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho người lao động trong hệ thống kinh tế toàn cầu mà còn là nền tảng xây dựng cơ chế dân chủ không thể thiếu được. Hậu quả nặng nề của chế độ độc tài toàn trị là các tổ chức đảng phái chính trị không có cơ hội thành lập và phát triển để cạnh tranh quyền lãnh đạo đất nước một cách lành mạnh và trong sáng. Trong giai đoạn đầu sau khi chế độ độc tài sụp đổ thì các chính đảng có thể xuất phát từ các tổ chức xã hội dân sự ví dụ như đảng đại diện cho giới nông dân từ hội nông gia, đảng đại diện cho giới công nhân từ các tổ chức nghiệp đoàn...

Tổ chức Cộng đồng Người Việt Tự do Tiểu bang NSW (CĐ/NSW) có hơn 100 hội đoàn sinh hoạt ở mọi lãnh vực tôn giáo, truyền thông, văn hóa, xã hội, chính trị, cao niên, phụ nữ, sinh viên... Sức mạnh tập thể đến từ việc hơn 100 hội đoàn này đoàn kết dưới cái dù cộng đồng. Nhờ vậy mà Ban Chấp hành CĐ có tiếng nói dại diện có trọng lượng với các cấp chính quyền từ địa phương, tiểu bang và liên bang Úc.

Tương tự như vậy, các đoàn thể dân sự trong nước cũng có thể liên kết thành lập liên đoàn và bầu ra một cơ cấu điều hợp vạch ra kế hoạch và đường lối hoạt động. Khi đứng chung với nhau như vậy thì sẽ có tiếng nói đại diện cho đông đảo quần chúng và khó khăn cho chế độ kiểm soát hoặc không chế. Nếu cần thì các tổ chức dân sự trong nước có thể tham khảo văn bản nội quy của CĐ/NSW về hình thức điều hành một tổ chức liên đoàn. Việt nam là một quốc gia đang phát triển có quan hệ giao thương và nhận tài trợ từ nước ngoài. Liên đoàn dân sự Việt nam chắc chắn sẽ có tiếng nói đối trọng với cộng đồng quốc tế. 

Các hội đoàn dân sự độc lập trong nước có thể thu hút nhân sự nhưng rất khó gây quỹ gầy dựng nguồn lực tài chánh vì công an và côn đồ lúc nào cũng gần kề. Đây là chỗ mà người Việt hải ngoại với đầy đủ phương tiện có thể thực hiện dễ dàng. Các đoàn thể và cá nhân hải ngoại có thể tiến hành thành lập các quỹ yểm trợ nhân quyền. Trong thời đại hiện nay thì các giá trị nhân quyền ngày càng được nâng cao về mặt pháp lý cụ thể là tính từ đầu năm nay thì Đạo luật Từ thiện Úc (Charities Act 2013) chính thức công nhận các tổ chức bất vụ lợi yểm trợ nhân quyền được hưởng quy chế từ thiện và sẽ được đối xử như các tổ chức từ thiện khác gồm có quyền được cấp giấy phép gây quỹ và miễn thuế. Quỹ yểm trợ nhân quyền tại hải ngoại có thể tài trợ các tổ chức hoặc chương trình hỗ trợ nhân quyền và dân sinh trong nước để giúp đỡ những tù nhân lương tâm và cựu tù nhân lương tâm, những nhóm dân oan bị chính quyền địa phương tước đoạt tài sản và đất đai, những bậc phụ huynh có con trẻ bị chết trong bệnh viện vì sự tắc trách của bộ y tế. Những hành động cụ thể và thiết thực này sẽ giúp cải thiện tình trạng nhân quyền trong nước cũng như tạo dựng niềm tin và tinh thần liên kết ở trong và ngoài nước.

Có thể là nhà cầm quyền sẽ giở những trò chụp mũ, vu khống là các tổ chức trong nước "nhận tiền của CIA" để chống phá “nhà nước”. Chúng ta hãy vượt qua mọi sự sợ hãi và cứ hành xử trong sáng và minh bạch cũng như lấy sự thật và lòng bao dung để đối đầu với dối trá và bạo lực của chủ nghĩa cộng sản. Bất cứ hội đoàn dân sự nào cũng có thể kêu gọi ủng hộ tài chánh từ những cá nhân và đoàn thể trong và ngoài nước, của người Việt nam cũng như người ngoại quốc. Nếu cần thì các quỹ yểm trợ nhân quyền có thể tố cáo trước công luận quốc tế trực tiếp các viên chức hoặc tờ báo nào của Đảng CSVN có hành vi chụp mũ hoặc vu không vô căn cứ làm tổn hại đến thanh danh và uy tín của các tổ chức đó.

Đứng trước thời khắc lịch sử này thì tất cả mọi người nhất là người Việt hải ngoại với tất cả phương tiện nên tự hỏi có thể làm gì để góp phần vào công cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước. Không có vai chính hay vai phụ mà đồng bào trong nước và người Việt hải ngoại đều có vai trò quan trọng như nhau.

Đã đến lúc chúng ta cần phải vượt qua mọi rào cản tâm lý, vô hình. Trận tuyến hôm nay không chỉ là Bắc Nam hay Quốc Cộng mà là giữa đồng bào ba miền và khối người Việt hải ngoại yêu chuộng tự do và quyết tâm bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải đối đầu với Bộ Chính Trị Đảng Cộng sản Việt nam.

Đã đến lúc các đoàn thể đấu tranh hải ngoại tích cực liên lạc và liên kết với các tổ chức đấu tranh trong nước. Sự liên kết không dựa trên yếu tố cá nhân mà là giữa đoàn thể với đoàn thể có cùng mục tiêu chung là chấm dứt chế độ độc tài toàn trị hiện nay và xây dựng một thể chế dân chủ, đa đảng, đa nguyên với tam quyền phân lập.

Chỉ có một thể chế dân chủ, đa đảng, đa nguyên với tam quyền phân lập mới gầy dựng lại được hào khí Diên Hồng trên dưới một lòng quyết chiến đối đầu với giặc xâm lăng từ phương Bắc. Không có lý do gì ngăn cản các Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị và Nạn nhân cộng sản Việt nam tại Úc, Hoa kỳ và Âu châu tiếp xúc và liên kết với Hội Cựu Tù nhân Lương tâm trong nước vừa mới được thành lập. Phương thức đấu tranh có thể khác biệt tùy hoàn cảnh và địa phương. Mọi người nên bắt đầu bằng cách thực thi nguyên tắc dân chủ căn bản nhất là tôn trọng sự dị biệt và đa dạng. Đoàn thể hải ngoại không nên bắt buộc các tổ chức trong nước áp dụng phương thức hoặc chiến thuật đấu tranh giống như mình và ngược lại. Phong trào dân chủ thành công sớm hay muộn tùy thuộc vào mức độ liên kết trong ngoài giữa đồng bào quốc nội và hải ngoại. Trong cuộc sống của một cá nhân cũng như vận mệnh của một dân tộc, cơ hội không đến với chúng ta hàng ngày. Vấn đề là cá nhân hay thành viên của dân tộc đó có vượt qua được những nghi ngại và ngờ vực về chính bản thân họ để nắm lấy cơ hội làm nên lịch sử hay không? Tương lai của đất nước Việt nam sẽ tùy thuộc vào câu trả lời của mỗi người dân Việt ở trong và ngoài nước.


Nhật Bản cô lập Trung Cộng

image
Trung Quốc - con rồng châu Á bị buộc chân
Hội nghị Diễn đàn An ninh Châu Á Shangri-la hàng năm kỳ này, năm 2014, vào cuối tháng Năm là ngày các nước Á châu Thái Bình Dương và Mỹ cô lập Trung Cộng, đào huyệt chôn mộng bá quyền, bành trướng của TC.

Đó là cái giá phải trả, hậu quả tất yếu phải chịu của TC, về những hành động không văn minh, không pháp lý, không đạo lý mà TC đã làm lâu nay, nào giành giựt biển đảo của các nước Á châu Thái bình dương; nào ngang ngược lập vùng cấm bay trên không phận của các nước láng giềng; nào tự chuyên đưa ra bản đồ mạo nhận đất biển của các nước trong vùng; nào ngang nhiên tuyên bố 80% biển Đông Nam Á là của Trung Quốc; nào hành xử như đang ở ao nhà, đặt giàn khoan tìm khí đốt, huy động hàng trăm tàu bè trấn áp tàu cảnh sát biển và tàu cá của ngư dân VN ngay trong vùng đặc quyền kinh tế VN.

image
Cái gì đến phải đến. Đây là lúc các nước nạn nhân của TC kết họp lại, liên minh cùng Mỹ đệ nhất, Nhật đệ tam siêu cường kinh tế thế giới cô lập TC, tố cáo TC như tội đồ xâm lược. Trong hội nghị của Diễn Đàn an ninh này, không một nước Á châu nào đứng về phía TC, chưa bao giờ TC “cực kỳ” cô độc như lúc này.

Mỹ đệ nhất siêu cường thế giới đóng vai điều động và hậu thuẫn. Nhật đệ tam siêu cường thế giới đóng vai hành động, kết hợp, điều hợp các nước Á châu Thái bình dương thành liên minh hỗ trợ các quốc gia trong vùng bảo vệ an ninh trên không và trên biển. Trước mặt hăm cảmấy phái đoàn đại diện các nước, trong đó có Mỹ, TC, Nhật, Úc và mười nước ASEAN, Thủ tướng Nhật Abe với tư cách là khách mời chỉ đạo, long trọng tuyên bố Nhật và Hoa Kỳ đã sẵn sàng thắt chặt hợp tác với Úc và Hiệp Hội các Quốc gia Đông Nam Á ASEAN. Nhật “ủng hộ tối đa” cho các nước Đông Nam Á, trong đó có một số nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc."Chính phủ Nhật ủng hộ mạnh nỗ lực của Philippines và "Chúng tôi cũng ủng hộ Việt Nam trong nỗ lực giải quyết tranh chấp thông qua đối thoại.

image
Điều chúng ta ít mong đợi nhất là sợ rằng luật pháp bị thay thế bằng các mối đe dọa, sự hăm dọa chen chân vào luật lệ". TT Nhật còn công bố Nhật viện trợ vô thường, sắp chuyển giao cho Philippines, một trong những quốc gia nghèo trong vùng, 10 tàu tuần duyên để tăng cường khả năng tự vệ. Và Nhật cũng đưa chuyên viên Hải quân đến lo bảo trì. Đó là một bước tiến mới do tình hình mới của Nhật so với hiến pháp hiếu hoà không cho phép Nhật có quân đội và đưa quân ra ngoại quốc. Thủ Tướng Nhật nhấn mạnh “Indonesia cũng sắp nhận được ba tàu tuần duyên tương tự và Việt Nam cũng có thể được hỗ trợ như hai nước.”

Về nguyên tắc chung, Thủ tướng Nhật kêu gọi các quốc gia trong vùng tôn trọng ba nguyên tắc: tôn trọng chuẩn mực quốc tế về đường phân định biên giới, không dùng biện pháp cưỡng chế, áp đặt và phải giải quyết bằng biện pháp hòa bình. Ông không tố cáo đích danh TC nhưng ai cũng biết, Thủ tướng Shinzo Abe lên án TC đã hành động «vi phạm ba nguyên tắc này» cố tình «làm thay đổi nguyên trạng».

image
Ông long trọng kêu gọi các nước liên hệ hợp tác chặt chẽ với nhau và với Hoa Kỳ cũng như với Úc ở tận cùng Nam Thái Bình dương, để bảo vệ được nền hòa bình trong khu vực trước những đe dọa của Trung Quốc. Đó là chiến lược Ông gọi là «kế hoạch Phòng vệ Tập thể».

Đề nghị của Nhật được Mỹ hoan nghênh và ủng hộ. Với đề nghị này, Nhật sẽ chia xẻ vai trò với Mỹ trong chiến lược chuyển trục sang Á châu. Nhật và các nước Á châu chủ động, tích cực và sáng tạo hơn thay vì phải chờ và nhờ sức mạnh của Hoa Kỳ. Nhật có thể phát triễn kỹ nghệ quốc phòng làm nhẹ gánh nặng tài chính của Mỹ trong chiến lược chuyển trục. Các nước Đông Nam Á có được một đồng minh gần về quân sự, kinh tế và văn hoá.

image
Còn Mỹ, trong bài diễn văn trong diễn đàn Shangri-la này, Bộ Trưởng Quốc Phòng Hagel nói Washington nhất định “không ngoảnh mặt làm ngơ” nếu trật tự quốc tế bị đe dọa. Hoa Kỳ sẽ «không điềm nhiên tọa thị» để cho Bắc Kinh gây bất ổn ở biển Đông, hiếp đáp Việt Nam và Philippines. Hoa Kỳ phản đối bất kỳ mưu toan nào nhằm hạn chế quyền bay ngang hoặc quyền tự do hàng hải, bất kể là sự hạn chế đó phát xuất từ tàu bè dân sự hay quân sự của nước lớn hay nước nhỏ. Ông tố cáo Trung Quốc hạn chế quyền tiếp cận củaPhilippines đối với Bãi cạn Scarborough. Ông tố cáo TQ hạ đặt giàn khoan dầu trong vùng biển có tranh chấp với Việt Nam. Ông cam kết hỗ trợ cho các kế hoạch của Nhật Bản nhằm nắm giữ một vai trò lớn hơn trong việc duy trì sự ổn định của khu vực này.

Từ Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Úc David Johnston đã trả lời phỏng vấn báo Sydney Morning Herald, số ra ngày 02/06/2014 và cho biết ông ủng hộ cáo buộc của đồng nhiệm Mỹ Chuck Hagel, theo đó, Trung Quốc có những hành động gây mất ổn định trong khu vực Biển Đông.

image
Indonesia quốc gia nhiều đảo nhất, nên còn có tên Nam dương quần đảo, nhiều dân Hồi Giáo nhất thế giới, là quốc gia Hồi Giáo thân thiện với Mỹ nhất, trước đà xâm lấn biển đảo của TC, đang chạy đua võ trang, có kế hoạch hiện đại hóa quân đội, phát triển lực lượng hải quân, phát triển trực thăng tấn công trên các quần đảo cực nam, thuộc Biển Đông.

image
Trở lại hội nghị Changri-la, tất cả các nước Á châu Thái bình dương có mặt hoan nghinh, ủng hộ đường lối của Nhật đề nghị. Trừ TC là nước duy nhất trong hội nghị phản đối. Theo AFP, bà Phó Oánh, chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội đảng cử dân bầu của Trung Quốc có mặt tại Singapore, bí quá chỉ tố Nhật khai thác xung khắc biển đảo để sửa đổi chính sách an ninh khu vực và điều này làm các quốc gia trong vùng lo ngại! Đó là luận điệu lâu nay của TC vừa ăn cướp vừa la 

Vi Anh

TQ GÂY CHIẾN TRANH THỰC PHẨMCHO DÂN VIỆT CHẾT ĐÓI

CẦN THƠ (NV) - Một sự kiện lạ lùng chưa từng có, tàu vận chuyển gạo tấp nập ra-vào tại cảng Cần Thơ trong những ngày qua. Số lượng tàu bốc dỡ gạo tại đây đếm được trung bình mỗi ngày khoảng 30 chiếc.

Báo Một Thế Giới dẫn lời ông Trương Thanh Phong, cố vấn Hiệp Hội Lương Thực Việt Nam, viết tắt là VFA nói rằng, có thể vì lo ngại tình hình căng thẳng ở biển Ðông mà thương nhân Trung Quốc hối hả mua gạo Việt Nam để dự trữ.

Họ có mặt tại cảng Cần Thơ đích thân chỉ huy việc thu mua, gom vét gạo thường và cả gạo tấm của nông dân Việt Nam.
Gạo được chuyển đến cảng Cần Thơ, bốc lên tàu rầm rộ chuyển ra biên giới phía Bắc.
gao

Gạo Việt Nam ồ ạt xuống tàu sang Trung Quốc. (Hình: báo Một Thế Giới)

Báo Một Thế Giới cho hay, việc thương nhân Trung Quốc ồ ạt thu mua gạo của Việt Nam những ngày qua đã làm giá gạo tại thị trường nội địa vọt lên 2.5%, từ 8,100 đồng, lên 8,300 đồng, tương đương 41 cent một kí.

Theo ông Trương Thanh Phong, cố vấn Hiệp Hội Lương Thực Việt Nam, đây là hiện tượng lạ chưa từng xảy ra tại Việt Nam suốt thời gian qua.

Dư luận đồn rằng thương nhân Trung Quốc sợ tình hình biển Ðông căng thẳng ảnh hưởng đến lưu lượng gạo nhập cảng từ Việt Nam nên lo vét mua gạo đưa về nước.

Một số thống kê cho thấy, Trung Quốc đang dẫn đầu các quốc gia nhập cảng gạo Việt Nam nhiều nhất thế giới 5 tháng đầu năm 2014. 

Tổng số gạo Việt Nam được nước này nhập cảng 5 tháng qua lên tới xấp xỉ 1 triệu tấn, trị giá hơn 10 tỉ đồng, tương đương 500,000 đô la. 

Riêng trong năm 2013, Việt Nam đã bán cho Trung Quốc 2.2 triệu tấn gạo chính ngạch, chiếm 33% tổng lượng gạo của Việt Nam xuất cảng khắp thế giới.

Theo tài liệu của VFA, số lượng gạo của Việt Nam xuất cảng trong 5 tháng đầu năm 2014 đã tăng thêm 50% so với cùng giai đoạn của năm 2013. Ðó là chưa tính số lượng gạo xuất cảng qua con đường phi mậu dịch qua các cửa khẩu phía Bắc, sang Trung Quốc.

Dư luận cho rằng, tín hiệu trên là không đáng mừng.
Thực tế cho thấy, các thị trường truyền thống của hạt gạo Việt Nam là Châu Phi, nay đã rơi vào tay các đối thủ cạnh tranh, nhất là Thái Lan.
Tình trạng này xảy ra vì gạo Việt Nam không còn chiếm ưu thế về giá cả cũng như về phẩm chất, so với các quốc gia lân bang thuộc vùng Ðông Nam Á. (PL)



Tàu CSB phá thế trận 'lấy thịt đè người' của tàu Trung Quốc 

Phá thế trận "lấy thịt đè người"

Tình hình tại khu vực Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 vẫn tiếp tục căng thẳng. Theo tường thuật của phóng viên báo Thanh niên, Tuổi trẻ cho biết Trung Quốc tiếp tục sử dụng chiến thuật “lấy thịt đè người”.

Khoảng 10h, cách mạn trái của tàu CSB 4032 khoảng 2 hải lý, khoảng 50 - 60 tàu TQ bao gồm tàu cá, hải cảnh và hải giám dàn hàng ngang hùng hổ tiến vào khu vực tàu cá Việt Nan.

Dẫn đầu đội hình tàu TQ là các tàu cá trọng tải lớn, lắp sẵn những “quả lê” trước mũi tàu để sẵn sàng đâm vào đối phương. Hai bên đội hình này là các tàu hải giám, hải cảnh hộ tống.

Chưa đầy 10 phút sau, các tàu TQ đã có mặt ở khu vực có tàu cá VN. Lúc này, số lượng tàu cá VN chỉ bằng 1/3 và tải trọng bằng khoảng 1/5 so với tàu TQ.

Tàu CSB phá thế trận 'lấy thịt đè người' của tàu Trung Quốc - Ảnh 1

Tàu cá TQ dàn hàng lao vào khu vực tàu cá VN.

Báo Tuổi trẻ viết: "Gần 20 tàu cá của Việt Nam chỉ nặng 40-50 tấn, trông xa như những vỏ trấu dập dềnh trên những ngọn sóng cấp 4, cấp 5 nhưng vẫn đương đầu chống lại những đợt tấn công của tàu cá Trung Quốc".

Để đối phó những cú đâm va, các tàu cá của ta tản ra thành từng tốp 3-4 chiếc để cơ động tránh né.

Trung Quốc đưa đội tàu tiến thẳng vào đội hình để chèn ép tàu cá của bà con chạy xuôi về hướng tây nam.

Tàu cá của bà con ngư dân khi bị đâm va đã cố gắng tránh né và khi tàu Trung Quốc quay đầu thì vòng tránh, hướng ra hướng đông.

Khi nhận thấy tình hình nguy hiểm, lực lượng cảnh sát biển đã điều hai tàu CSB 2015 và 4032tiếp cận, dùng loa tuyên truyền yêu cầu các tàu Trung Quốc rút khỏi vùng biển Việt Nam. Tàu 4032 tiến hành áp sát tàu cá VN để hỗ trợ phòng khi có bất trắc. 

Hai bên giằng co kéo dài gần một giờ, khi thì tàu Việt Nam luồn lách vào đội hình của tàu Trung Quốc để tiến ra hướng đông, giữ biển; khi thì tránh né tàu Trung Quốc âm mưu tổ chức đâm va.

Sau gần 1 giờ quần thảo không đạt được kết quả, các tàu TQ phải dần dần rút ra xa.

Trung Quốc không ngớt xuyên tạc, vu vạ

Sau những hành động gây hấn và xâm phạm phi pháp trên Biển Đông, Bắc Kinh tiếp tục luận điệu "cũ rích" vu vạ cho Việt Nam.

Tại cuộc họp báo hôm 6/6, phóng viên đặt câu hỏi: “Trung Quốc có phản ứng gì về clip tàu Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam được Việt Nam công khai?".

Phát ngôn viên ngoại giao Hồng Lỗi đã vu vạ, bịa đặt trắng trợn rằng tàu thuyền của Trung Quốc “thực hiện nhiệm vụ hộ tống bảo đảm an ninh” ở xung quanh giàn khoan 981, thuộc trạng thái “phòng thủ”, rằng các tàu Việt Nam “tập kích bất ngờ”, “có ý đồ lao vào đâm tàu bảo vệ” của Trung Quốc, “đã đe dọa nghiêm trọng an toàn tàu và nhân viên của Trung Quốc”.

Bất chấp truyền thông quốc tế công bố hình ảnh rõ ràng về những vụ tấn công, gây gổ hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông, bất chấp dư luận quốc tế lên tiếng chỉ trích, phẫn nộ vè hành động bạo lực, phi đạo lý, vi phạm luật pháp quốc tế, phát ngôn viên ngoại giao Trung Quốc vẫn lớn tiếng quy chụp: “Rốt cuộc là ai phát động tấn công ở hiện trường, là ai thuộc bên phòng thủ, là ai tạo ra căng thẳng. Đây là điều rất rõ ràng”.

Thế giới tiếp tục bất bình

Dư luận thế giới cho rằng những hành động khiêu khích, làm gia tăng căng thẳng của Trung Quốc trên thực địa khu vực giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đang đẩy tình hình an ninh khu vực vào một tình thế nguy hiểm.

Chương trình Thời sự của VTV dẫn lời ông Richard Cronin, Chuyên gia về châu Á, Giám đốc Chương trình Ðông Nam Á, Trung tâm Stimson cho biết: “Những hành động của Trung Quốc trong thời gian qua tại Biển Đông là mối đe doạ đến hoà bình và ổn định của khu vực bởi nó làm gia tăng nguy cơ về một cuộc xung đột vũ trang tại đây. Rõ ràng là những hành động như cho tầu Trung Quốc đâm va vào các tầu của Việt Nam và các hành động tương tự trong thời gian qua là mang đậm tính khiêu khích. Trong một bối cảnh như vậy, chỉ cần bất kỳ một sai lầm nào thì tình hình sẽ lập tức có thể chuyển biến đột ngột và trở nên vượt tầm kiểm soát“.

Luật sư Bernard Insel, chuyên gia luật Hàng hải quốc tế (Bỉ) nói: “Nói thực thì tôi thấy những gì đang xảy ra ở Biển Đông rất đáng ngạc nhiên. Trung Quốc là một quốc gia từng đặt bút ký Công ước quốc tế, nay sử dụng tới vũ lực để đạt mục đích, và tỏ ra không hề tôn trọng luật pháp quốc tế. Nhất là khi hành động đó diễn ra một cách bất ngờ, không hề có dấu hiệu gì trước đó. Xung đột đến mức độ như vậy trên biển là chuyện rất hiếm khi xảy ra trên thế giới”.

Giáo sư Michishita Narushige, Viện nghiên cứu chính sách quốc gia Nhật Bản chia sẻ: “Trung Quốc chủ trương rằng phần lớn diện tích Biển Đông đều thuộc chủ quyền của họ. Đây là một chủ trương mà dù phân tích từ bất cứ góc độ nào cũng đều rất kỳ lạ và rất khó được chấp nhận. Nhiều người đã đặt đi đặt lại câu hỏi về cơ sở cho tuyên bố của Trung Quốc”.

Phạm Thanh Nghiên điều trần trước Quốc Hội Canada về tình trạng dã man trong nhà tù CSVN đối với Tù Nhân Lương Tâm

Kính chào quý vị

Xin cảm ơn quý vị đã dành cho tôi đặc ân để nói về một trong những thảm nạn mà người dân Việt Nam luôn phải đối mặt trong một đất nước mà Nhân quyền bị trà đạp: đó là Tình trạng tù nhân lương tâm bị đối xử dã man trong các nhà tù.

Là một nạn nhân và nhân chứng trực tiếp, tôi thấy mình may mắn hơn hàng vạn tù nhân hình sự và hàng ngàn Tù nhân lương tâm, Tù nhân chính trị khác khi được kể về những gì mình trải qua và chứng kiến.

Bên cạnh những nội quy chung, các cán bộ trại giam còn đặt ra nhiều luật lệ để trừng trị người tù. Tôi đã từng bị biệt giam hơn 4 tháng trong một buồng kín mít, rộng chưa đầy 6m2 với duy nhất 6 lỗ thông hơi to bằng chiếc nắp chai. Mỗi ngày được ra ngoài hai lần vào buổi sáng và chiều để làm vệ sinh cá nhân. Mỗi lần không quá ba mươi phút. Nhưng chưa đến nỗi bi đát như những người tử tù. Kể từ khi bị tuyên án tử hình, tù nhân bị đưa về phòng biệt giam, bị cùm chân tại chỗ hai tư trên hai tư giờ cho đến khi có lệnh ân xá tha tội chết của Chủ tịch nước, hoặc chờ đến ngày ra pháp trường. Mà thời gian bị cùm để chờ đợi có thể kéo dài 5 năm, 7 năm thậm chí mười năm trời.

Tại các buồng giam chung, chiều rộng chỗ nằm chỉ rộng từ 40 tới 80 cm, tùy thuộc số lượng tù nhân. Có sự khác biệt về điều kiện giam giữ giữa các nhà tù, trong từng giai đoạn cụ thể. Ngay cả trong cùng một trại giam, mỗi Giám thị cũng có thể tùy tiện thay đổi và áp dụng các quy định theo cách riêng của họ, thường là theo hướng bất lợi cho tù nhân. Ví dụ năm 2011 tại phân trại số 4, trại 5 Thanh Hóa nơi tôi bị giam, Ban giám thị đã bắt tù nhân phải tháo bỏ hết những chiếc quạt điện cá nhân trong mùa hè, và lột hết các tấm nệm nằm vào mùa đông. Nhiệt độ mùa hè ở Thanh Hóa có khi lên tới hơn 40 độ C, mùa đông xuống thấp còn 8 đến 9 độ.

Nơi đây hiện đang giam cầm ba tù nhân lương tâm là Võ Thị Thu Thủy, Tạ Phong Tần và Hồ Thị Bích Khương.

Một số TNLT nữ khác như chị Mai Thị Dung, Trần Thị Thúy, Đỗ Thị Minh Hạnh... là nạn nhân của nạncưỡng bức lao động. TNLT lúc nào cũng là nạn nhân của tình trạng phân biệt đối xử, bạo hành tinh thần, đối mặt với bệnh tật mà không được chữa trị hoặc chữa trị lấy lệ khi có sự can thiệp từ bên ngoài. Một số người đã phải bỏ mạng trong tù vì bệnh tật và suy kiệt như ông Trương Văn Sương, Nguyễn Văn Trại, Bùi Đăng Thủy. Linh mục Nguyễn Văn Vàng bị bệnh, bị bỏ đói và chết trong khi đang bị cùm. Ông Đinh Đăng Định, đã qua đời chỉ ít hôm sau khi trở về nhà. Ông Nguyễn Hữu Cầu được chỉ tự do sau 32 năm, với một thân thể tàn tạ. Và còn nhiều người khác đang đối mặt với hiểm nguy và bệnh tật: LM Nguyễn Văn Lý, các ông Nguyễn Xuân Nghĩa, Ngô Hào, các chị Đỗ Thi Minh Hạnh, Mai Thị Dung, Hồ Thị Bích Khương...

Chưa kể, “quyền được chăm sóc y tế” luôn được chính quyền sử dụng làm điều kiện mặc cả để đổi lấy “yếu tố nhận tội”. Đáng lo nhất là tình trạng chị Mai Thị Dung. Chị không đi nổi, phải có người dìu hai bên nhưng vẫn không được chữa bệnh chỉ vì “không nhận tội”.

Thức ăn, sách báo, kinh thánh, thời gian thăm gặp gia đình đều được sử dụng để gây áp lực cho tù nhân trong quá trình thụ án.

Giao tiếp là nhu cầu tự nhiên của con người nhưng chúng tôi, những TNLT hoàn toàn bị cô lập với các tù nhân khác. Một số người bị biệt giam cho đến ngày mãn án. Nếu giam chung, chúng tôi luôn phải đối mặt với những đòn thù của thường phạm theo chỉ thị ngầm của cai tù như bị đánh đập, chửi bới, bị đe dọa và xúc phạm.

Thưa quý vị, 

Với bốn phút ít ỏi tôi không thể liệt kê hết sự tàn bạo của nhà tù cộng sản. Nơi chôn vùi hàng ngàn người tù oan hoặc không oan. Và đang giam cầm bao nhiêu thân phận khác. Xin dành những giây cuối này để nhắc đến những nữ tù nhân lương tâm trung kiên mà chúng ta ít có dịp nhắc tới: Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Lê Thị Kim Thu, Dương Thị Tròn, Đặng Ngọc Minh, Phạm Thị Phượng, Đỗ Thị Hồng, Võ Thị Thu Thủy... và còn nhiều người khác nữa.

Nhưng, nhà tù không chỉ là bốn bức tường kín mít với hàng rào dây kẽm gai và những luật lệ giết người. Sau khi được trở về, chúng tôi tiếp tục chịu án quản chế mà thực chất là bị cầm tù tại gia: không được đi khỏi địa phương thậm chí không được ra khỏi nhà; bị tước cơ hội kiếm việc làm; việc chăm sóc y tế bị cấm đoán, bạn bè tới thăm hỏi động viên đều có thể bị công an bắt giữ hoặc bị những kẻ lạ vô cớ tấn công.

Nhân danh những công dân, những dân biểu tại một Quốc gia văn mình, xin Quý vị hãy đồng hành với chúng tôi trên con đường tìm kiếm Tự do và Công lý cho người dân Việt Nam. Cảm ơn quý vị đã lắng nghe!


Kịch bản kiện Trung Quốc
Lữ Giang

Khi Trung Quốc chuẩn bị đưa giàn khoan HD-918 vào Biển Đông, trong vùng đặc khu kinh tế của Việt Nam, nhà cầm quyền CSVN biết trước rằng nhân cơ hội này sẽ có hai chiến dịch được phát động để làm cho tình hình chính trị trong nước xáo trộn và có thể đưa tới biến loạn, đó là chiến dịch hô hào biểu tình chống Trung Quốc và chiến dịch đòi khởi kiện Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế. Để đối phó với hai chiến dịch này, nhà cầm quyền cho đã soạn sẵn những kịch bản để vô hiệu hóa. Đây cũng chỉ là trò tháu cáy trong khi đánh bài xì phé.
Trong bài “Qua một cuộc chiến có bài bản” phổ biến hôm 22.5.2014, chúng tôi đã đề cập đến kịch bản biểu tình bạo động chống Trung Quốc”, được trình diễn khá xuất sắc trong các ngày 12, 13 và 14.5.2014 để tạo lý do ban hành quyết định cấm biểu tình và vô hiệu hóa các thành phần bị coi là nguy hiểm. Các đài phát thanh Việt ngữ quốc tế nổi tiếng như BBC, RFA và RFI đểu bị cho vô cơ. Hôm nay chúng tôi sẽ bàn đến kịch bản kiện Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế” với mục tiêu vô hiệu hóa chiến dịch đòi hỏi phải đương đầu trực diện với Trung Quốc.
Chúng tôi gọi là “kịch bản” bởi vì nó chỉ được trình diễn để vô hiệu hóa những sự kích động gây rối loạn theo kiểu Ai Cập hay Thái Lan trước đây, chứ không phải là một giải pháp có thể giúp ngăn chận “chiến lược bắp cải” mà Trung Quốc đang thực hiện để từng bước lấn chiếm toàn Biển Đông và Biển Hoa Đông. Chiến lược này vượt lên trên mọi luật lệ quốc tế và mọi quyền lực, kể cả thẩm quyền của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng sẽ nói qua nếu kiện Trung Quốc sẽ gặp những khó khăn nào và trước những khó khăn, liệu Việt Nam có tách ra xa Trung Quốc và đứng gần Mỹ hơn không? Vấn đề chiến lược bắp cải” mà người Mỹ dịch là"cabbage strategy”, hay rõ hơn, "cabbage encirclement strategy (chiến lược bao vây bắp cải) sẽ được nói trong một bài khác. Đây là một vấn đề rất quan trọng, nều không nắm vững, khó biết được Trung Quốc đang làm gì trên Biển Đông.
KỊCH BẢN KIỆN TRUNG QUỐC
Hôm 22.5.2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói với hãng thông tấn Reuters rằng chính phủ Việt Nam đang cân nhắc “nhiều biện pháp phòng vệ” đối với Trung Quốc, bao gồm các hành động pháp lý. Ngay sau đó, phát ngôn viên của Tòa Bạch Ốc Patrick Ventrell tuyên bố Hoa Kỳ ủng hộ việc Việt Nam xử dụng biện pháp pháp lý với Trung Quốc để giải quyết căng thẳng sau khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 tại vùng biển Việt Nam.
Để yểm trợ cho lời tuyên bố của Thủ Tướng Dũng, các báo trong nước, nhất là hai tờ Người Lao Động và Tuổi Trẻ, đã mở chiến dịch tuyên truyền rằng chính quyền đang chuẩn bị đưa Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế. Cũng trong ngày 22.5.2014, dưới đầu đề “Kiện Trung Quốc: Chính phủ kiên quyết, toàn dân ủng hộ!”, báo Người Lao Động nhắc lại lời của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Việt Nam không đánh đổi chủ quyền lấy thứ hòa bình, hữu nghị lệ thuộc; Việt Nam xem xét kiện Trung Quốc... Báo này cho rằng bản tin của hãng Reuter nói trên “đang tạo ra sự ủng hộ mãnh mẽ của dư luận trong và ngoài nước”.
Báo Tuổi Trẻ ngày 25.5.2014, đăng bài “Phải kiện Trung Quốc của Tiến Sĩ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban biên giới Chính phủ. Ông đã tóm lược nội dung đơn kiện và thủ tục kiện Trung Quốc của Philippines và kêu gọi: “Tranh thủ sự giúp đỡ của các luật sư người nước ngoài, để cùng xúc tiến hoàn thiện quá trình kiện Trung Quốc ra các cơ quan tài phán quốc tế theo đúng thủ tục và nội dung mà Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 đã quy định.”
Trên báo Tuổi Trẻ ngày 26.5.2014, Tiến Sĩ Nguyễn Vân Nam cho rằng kiện Trung Quốc "chúng ta sẽ đập nát sự tự tin của họ". Ông nói Trung Quốc có thể bất chấp phán quyết của tòa, cậy thế nước lớn, cứ làm theo ý chí của mình. Nhưng theo ông, chính đơn kiện của Việt Nam “sẽ đập nát sự tự tin của họ, buộc họ phải bị động thay đổi chiến lược. Đây chỉ là một lối “cường điệu”.
Ở hải ngoại, ngày 26.6.2014, TS Lê Trung Tĩnh, được nói là thành viên Nhóm Nghiên cứu Biển Đông tại Pháp, cho biết “Thư yêu cầu lãnh đạo Việt Nam đưa Trung Quốc ra tòa” đề ngày 14.5.2014 do ông soạn thảo đã thu được gần 4.000 chữ ký, và đã được gửi đến các nhà lãnh đạo Việt Nam. Hai đài phát thanh ở Mỹ và Pháp là RFA và RFI đã yểm trợ cho yêu cầu này.
Báo Đời Sống Pháp Luât cho biết trong phiên họp ngày 29.5.2014, Thủ Tướng chỉ đạo 3 giải pháp bảo vệ chủ quyền đó là trên nội địa, trên mặt trận ngoại giao và đấu tranh pháp lý. Sau đó, ông Nguyễn Văn Nên, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ nói với báo chí: “Chúng ta chuẩn bị hồ sơ pháp lý về biển Đông từ lâu rồi. Nhưng lúc nào thực hiện nó, và thực hiện thế nào phải rất cận trọng. Lãnh đạo ta đang cân nhắc, tính toán, chọn thời điểm, thực sự cần thiết mới tính tới giải pháp này.
Nhìn chung, cả Mỹ lẫn người Việt đấu tranh đang đẩy cây cho CSVN đứng vào thế đối đầu với Trung Quốc, nhưng CSVN là một con cáo già, rất khó đẩy vào bẩy.
KIỆN SẼ THẮNG HAY THUA?
Theo nguyên tắc, tòa xử theo hiện trạng hồ sơ. Hiện nay hồ sơ chưa có, làm sao có thể nói ai thắng ai thua được? Nhưng có một số vấn đề căn bản sau đây cần được lưu ý.
1.- Định chế “Res nullius” (vật vô chủ) trong luật cổ La Mã không còn xài được.
Luật La Mã được ban hành vào thế kỷ thứ 6 có quy định rằng, đối với các đảo nổi lên trên biển, tiếng Latin gọi là Insula in mara nata, nguyên tắc Res nullius fit primi occupantis” được áp dụng, tức quyền sở hữu thuộc về người chiếm trước.
Từ năm 1974 đến nay, cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đã dùng định chế này để xác định chủ quyền của mình trên Hoàng Sa và Trường Sa. Đa số các chuyên gia Biển Đông tự xưng” của người Việt hải ngoại đã bám rất chặc định chế này, đưa ra nhiều tài liệu chứng minh Việt Nam đã chiếm Hoàng Sa và Trường Sa trước, nên hai quần đảo này thuộc về Việt Nam.
Nhưng định chế này đã bị hủy bỏ từ lâu vì nó đưa tới các cuộc tranh luận không thể giải quyết được. Một thí dụ cụ thế: Việt Nam tuyên bố đã chiếm Hoàng Sa từ thời vua Tự Đức (1848 – 1883). Nhưng trong cuộc hội thảo tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế ở Washington trong hai ngày 20 và 21.6.2011, ông Tô Hảo đại diện của Trung Quốc đã đưa ra một thùng tài liệu chứng minh Trung Quốc đã làm chủ Biển Đông từ 2000 năm về trước, như vậy Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc.
Ông vừa nói xong thì ông Termsak Chalermpalanupap, Phụ Tá Đặc Biệt của Tổng Thư ký ASEAN đã lên chận họng liền: "Tôi không cho rằng Công Ước Của Liên Hợp Quốc Về Luật Biển (UNCLOS) công nhận lịch sử là cơ sở để tuyên bố chủ quyền". Còn bà Bà Caitlyn L. Antrim, Phó Đại Diện Hoa Kỳ trong Hội Đồng LHQ về Luật Biển đã bồu tiếp: Nếu Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền với các đảo từ 500 năm trước, nhưng sau đó lại bỏ trống thì tuyên bố chủ quyền trở nên rất yếu. Ông ta câm họng.
Chúng tôi mong rằng các chuyên gia Biển Đông tự xưng ở hải ngoại cũng như trong nước đừng đem “sử liệu” ra đọc lãm nhảm như nhiều năm qua nữa mà phải nghiên cứu quốc tế công pháp để biết rõ muốn chứng minh chủ quyền về các đảo trên biển cần phải có những yếu tố nào và đi tìm các tài liệu cần có để hỗ trợ cho các yếu tố đó.
2.- Tài liệu cần có để  chứng minh chủ quyền
Phải công nhận rằng Việt Nam đã quan tâm nhiều đến việc chứng minh chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hà Nội đã cho nhiều chuyên viên đi Mỹ và đi Pháp học và nghiên cứu về quốc tế công pháp, nhất là về luật biển, nên họ đã có đủ chuyên viên để phụ trách công việc này. Việt Nam cũng đã mời một số chuyên gia Pháp và Mỹ làm cố vấn về vấn đề biên giới trên bộ cũng như trên biển. Các tài liệu liên quan đến biên giới trên bộ và trên biển được lưu trữ trong văn khố Pháp đều đã được sao chép lại. Các hiệp ước quốc tế, án lệ quốc tế, tục lệ và học lý về chủ quyền trên biển cũng đã được thu thập và nghiên cứu.
Đọc các bài viết trên website ngiencuubiendong.vn ở trong nước, chúng ta thấy các chuyên gia của Việt Nam không còn xử dụng định chế “Res nullius” (vật vô chủ) trong luật La Mã ngày xưa nữa mà xử dụng định ước Berlin 1885, các án lệ quốc tế giải quyết các vụ tranh chấp về các đảo trên biển như các vụ tranh tụng về đảo Palmas, đảo Groenland, đảo Minquier và Ecrehous, v.v. Các tục lệ quốc tế và các học lý mới về chủ quyền các đảo trên biển cũng đã được sưu tập khá đầy đủ.
Điều đáng buồn là các chuyên gia Biển Đông tự xưng” ở hải ngoại vẫn còn bám chặt định chế “Res nullius” mỗi khi nói về Biển Đông. Họ gần như không biết gì đến định ước Berlin và các án lệ quan trọng đã nêu ra trên. Họ tưởng tòa án quốc tế cũng gióng như các cuộc hội thảo trong cộng đồng người Việt, muốn nói gì thì nói.
CÔNG HÀM PHẠM VĂN ĐỒNG: MỘT VẤN NẠN
Nói thì Hà Nội buồn, nhưng các tài liệu cho thấy năm 1958, để có tài nguyên đủ đánh chiếm miền Nam, Hà Nội đã phải bán Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Do đó, năm 1974, khi Hoa Kỳ vừa rút khỏi miền Nam, Trung Quốc đã vội đem quân chiếm Hoàng Sa để xiết nợ. Chúng tôi đã viết hai bài“Trở lại chuyện bán đất” (15.7.2011) và “Công hàm Phạm Văn Đồng” (2.8.2011) để nói về vấn đề này.
Trong hai bài nói trên, chúng tôi đã bàn về giá trị pháp lý của Công Hàm ngày 14.9.1958. Lúc đầu chúng tôi cho rằng công hàm này không có giá trị pháp lý vì lúc đó hai quần đào Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về miền Nam, và lời tuyên bố của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng không hề được quốc hội phê chuẩn. Nhưng sau khi nghiên cứu lại các nguyên tắc của quốc tế công pháp, chúng tôi nhận thấy Trung Quốc có thể coi công hàm đó như một lời hứa bán, và dựa vào học thuyết promissory estoppel (sự ràng buộc của lời hứa) trong Common Law của hệ thống Anh – Mỹ hay nguyên tắc Promesse de vente vaut vente (hứa bán có giá trị như bán) trong Roman Law, để coi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường đã được chuyển nhượng cho họ một cách hợp pháp.
Sự tiên đoán đó không sai. Hôm 20.5.2015, ông Lưu Hồng Dương, đại biện lâm thời Sứ quán Trung Quốc ở Indonesia đã viết một bài đăng trên báo Indonesia Jakarta Post xác định rằng Tây Sa (Hoàng Sa) và Trường Sa là “lãnh thổ vốn vẫn thuộc về Trung Quốc”. Ông cáo buộc “Việt Nam rõ ràng vi phạm nguyên tắc “estoppel” khi thay đổi và từ chối công nhận Tây Sa là của Trung Quốc”. Do đó, nếu kiện Trung Quốc, ngoài việc chứng minh về các yêu tố chiếm hữu công khai, hòa bình và liên tục, Việt Nam còn phải đối phó với Công Hàm của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 nữa.
Từ những sự kiện trên, chúng tôi tin rằng kịch bản kiện Trung Quốc sẽ ngừng ở đây. Không thể cãi chày cãi cối hay dùng nón cối để đối phó được. Phải đi tìm các các định chế, các nguyên tắc và các án lệ trong quốc tế công pháp mới có thể nói chuyện được.
VIỆT NAM SẼ QUAY VỀ PHÍA MỸ?
Một câu hỏi được đặt ra: Trước những khó khăn với Trung Quốc và những ve vãn của Mỹ, liệu rồi Đảng CSVN có tách xa Trung Quốc và liên kết với Mỹ không? Câu trả lời là KHÔNG.
Trong cuốn Asia’s Caudron – The South China Sea and the End of a Stable Pacific (Chảo dầu tại Châu Á – Biển Đông và sự kết thúc của một Thái Bình Dương ổn định) mới xuất bản đầu năm 2014, Robert D. Kaplan, người đã từng tham gia vào Hội Đồng Chính Sách Quốc Phòng của Tòa Bạch Ốc, đã phân tích khá tường tận về cái gọi là “Định mệnh Việt Nam”. Ông viết:
Thực tế là, không có quốc gia nào bị đe dọa bởi sự lớn mạnh của Trung Quốc bằng Việt Nam. Hãy nhìn việc Việt Nam tiếp cận ASEAN. Dĩ nhiên là Việt Nam muốn ASEAN mạnh hơn, để làm đối trọng với Trung Quốc, họ đã thực tế, họ nói với tôi như vậy…
Ông Nguyễn Tâm Chiến, một cựu Thứ trưởng Ngoại giao của Việt Nam, đã nói với ông rằng nước xa không cứu được lửa gần”nên Việt Nam phải nhẫn nhục chấp nhận việc tàn phá môi trường do Trung Quốc khai thác quặng bauxit tại vùng Tây Nguyên… Còn ông Ngô Quang Xuân, Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt Nam đã nhắc lại sự kiện Nixon bán miền Nam cho Trung Quốc năm 1972 và thất vọng nói: “Điều đó có thể lặp lại.
Dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, kể cả kiện Trung Quốc, chiến lược bắp cảicủa Trung Quốc cũng sẽ được tiếp tục tiến hành. Không chỉ Việt Nam, mà các nước trong Biển Đông và Biển Hoa Đông đều phải đối phó. Trung Quốc sẽ không tấn công Việt Nam mà giữ Việt Nam như một "tiền đồn" của Trung Quốc. Hoa Kỳ đang đứng ở đâu?
Ngày 29.5.2014
Lữ Giang



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Chúc Mừng Năm Mới 2026 [01.01.2026 19:26]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 184 lần]
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 180 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 166 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 165 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 60 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 44 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.