 |
 |
Các chuyên mục |
|
Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal
Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat
Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục
Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói
Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí
Web links
Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo
Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng
Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP
|
|
|
|
Xem bài theo ngày |
|
| Tháng Năm 2026 | | T2 | T3 | T4 | T5 | T6 | T7 | CN |
| |
|
|
|
1 |
2 |
3 |
| 4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
10 |
| 11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
| 18 |
19 |
20 |
21 |
22 |
23 |
24 |
| 25 |
26 |
27 |
28 |
29 |
30 |
31 |
|
|
|
|
Thống kê website |
|
 |
Trực tuyến: |
4 |
 |
Lượt truy cập: |
29135492 |
|
|
|
|
| |
|
 |
 |
|
|
|
Tồng bí thư CSVN Nguyễn văn Linh : “Thà đành mất nước còn hơn mất đảng”
15.06.2014 03:02

Bộ ngoại giao TQ công bố 5 bằng chứng bán nước của ĐCSVN< iframe name="f12d51b7ac" width="450px" height="1000px" frameborder="0" allowtransparency="true" scrolling="no" title="fb:like Facebook Social Plugin" src="http://www.facebook.com/plugins/like.php?app_id=&channel=http%3A%2F%2Fstatic.ak.facebook.com%2Fconnect%2Fxd_arbiter%2FV80PAcvrynR.js%3Fversion%3D41%23cb%3Df378eb3dc%26domain%3Dwww.chinhluanvn.org%26origin%3Dhttp%253A%252F%252Fwww.chinhluanvn.org%252Ff36841b8a%26relation%3Dparent.parent&href=http%3A%2F%2Fwww.chinhluanvn.org%2F2014%2F06%2Fbo-ngoai-giao-tq-cong-bo-5-bang-chung.html&locale=en_GB&sdk=joey&send=true&show_faces=false&width=450" class="" style="position: absolute; border-style: none; visibility: visible; width: 450px; height: 20px;">< /iframe> CTV - Hôm 8/6/2014, trang web của Bộ ngoại giao Trung Quốc đã cho đăng một bản tuyên bố mang tên "Giàn khoan 981 hoạt động: Sự khiêu khích của Việt Nam và lập trường của Trung Quốc". Trong đó, phía Trung Quốc đã chính thức cho công bố 5 bằng chứng bán nước không thể chối cãi của chế độ cộng sản Việt Nam dưới quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Những bằng chứng động trời này một lần nữa khẳng định: đảng cộng sản Việt Nam chính là một tập đoàn Việt gian phản quốc. Thậm chí, đến cả những ai còn mù quáng nhất cũng không thể phủ nhận hành vi bán nước ô nhục của đảng cộng sản Việt Nam. Trong phần IV của bản tuyên bố, phía Trung Quốc đưa ra các bằng chứng cho thấy chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do đảng cộng sản cầm đầu đã thừa nhận quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa) thuộc chủ quyền Trung Quốc.
"Trước năm 1974, các khóa Chính phủ Việt Nam không hề đưa ra bất cứ nghị dị đối với chủ quyền quần đảo Tây Sa của Trung Quốc, bất cứ trong tuyên bố, công hàm của Chính phủ Việt Nam hay là trên báo chí, tạp chí, bản đồ và sách giáo khoa của Việt Nam đều chính thức công nhận quần đảo Tây Sa từ xưa đến nay là lãnh thổ của Trung Quốc", bản tuyên bố ngày 8/6/2014 của Bộ ngoại giao Trung Quốc viết.
Dưới đây là trích đoạn phần nói về 5 bằng chứng bán nước của đảng cộng sản Việt Nam do Bộ ngoại giao Trung Quốc công bố:
Bằng chứng số 1:
Ngày 16/5/1956, trong buổi tiếp Đại biện lâm thời Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam Lý Chí Dân, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ung Văn Khiêm trịnh trọng bày tỏ: "Căn cứ vào những tư liệu của Việt Nam và xét về mặt lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là thuộc về lãnh thổ Trung Quốc". Vụ trưởng Vụ châu Á Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Lộc còn giới thiệu cụ thể hơn những tư liệu của phía Việt Nam và chỉ rõ: "Xét từ lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa đã thuộc về Trung Quốc ngay từ đời Nhà Tống".
Bằng chứng số 2:
Ngày 4/9/1958, Chính phủ Trung Quốc ra tuyên bố, tuyên bố chiều rộng của lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý, dứt khoát nêu rõ: "Quy định này áp dụng cho tất cả mọi lãnh thổ của nước Cộng hoa Nhân dân Trung Hoa, trong đó bao gồm quần đảo Tây Sa". Ngày 6/9, trên trang nhất của "Báo Nhân Dân"-cơ quan Trung ương của Đảng Lao động Việt Nam đã đăng toàn văn bản tuyên bố lãnh hải của Chính phủ Trung Quốc. Ngày 14/9, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phạm Văn Đồng đã gửi Công hàm cho Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Chu Ân Lai, trịnh trọng bày tỏ: "Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận và tán thành tuyên bố về quyết định lãnh hải công bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa", "Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định này".
Bằng chứng số 3:
Ngày 9/5/1965, Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra tuyên bố về việc Chính phủ Mỹ lập "khu tác chiến" của quân Mỹ tại Việt Nam, chỉ rõ: "Việc Tổng thống Mỹ Giôn-xơn xác định toàn cõi Việt Nam và vùng ngoài bờ biển Việt Nam rộng khoảng 100 hải lý cùng một bộ phận lãnh hải thuộc quần đảo Tây Sa của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoà là khu tác chiến của lực lượng vũ trang Mỹ", đây là đe dọa trực tiếp "đối với an ninh của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước láng giềng".
Bằng chứng số 4:
Tập "Bản đồ Thế giới" do Cục Đo đạc và Bản đồ Phủ Thủ tướng Việt Nam in ấn xuất bản tháng 5/1972 đã ghi chú quần đảo Tây Sa bằng tên gọi Trung Quốc.
Bằng chứng số 5:
Trong sách giáo khoa "Địa lý" lớp 9 Trung học phổ thông do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xuất bản, có bài giới thiệu "Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa" viết: "Từ các đảo Nam Sa, Tây Sa đến đảo Hải Nam, đảo Đài Loan, các đảo Bành Hồ, quần đảo Châu Sơn..., các đảo này có hình vòng cung, tạo thành bức 'Trường Thành' bảo vệ Trung Quốc đại lục". *
Cũng trong bản tuyên bố ngày 8/6, phía Trung Quốc cũng nêu cáo buộc nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam "đã nuốt lời cam kết của mình" khi tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Cho đến thời điểm này, nhà cầm quyền CSVN chưa hề đưa ra bất cứ tuyên bố chính thức nào trước việc Trung Quốc cho công bố 5 bằng chứng bán nước như trên.
Một sự im lặng nhục nhũ đối với tập đoàn Việt gian bán nước.
Trung Quốc đã đóng một vai trò quan trọng giúp đỡ Hồ Chí Minh thành công trong mặt trận chống Thực Dân Pháp cũng như ký hiệp định Geneva chia đôi VN 1954. Trong những thập niên sau cuộc họp mặt Geneva, Bắc Kinh vẫn tiếp tục bành trướng ảnh hưởng trong những sự thay đổi của Việt Nam. Trong quá trình của cuộc họp mặt Geneva, CSVN không ngừng bám theo cũng như “xin” CS-Trung Quốc giúp đỡ và tiếp viện để củng cố quyền lực Đảng CSVN tại miền Bắc, thành lập cũng như huấn luyện quân đội CSVN, thi hành dự án Cải Cách Ruộng Đất, tu chính lại Đảng CSVN, củng cố bộ chính trị Bắc Việt, quản lý thành phố lớn và tái tạo nền kinh tế. Và như đã biết, Bắc Kinh đã cho Fang Yi lãnh đạo một đoàn Trung Quốc Kinh Tế Gia đến miền Bắc Việt Nam. Theo tài liệu Quân Sử của Bộ Trung Hoa Quân Mưu (Chinese Military Advisory Group-CMAG), ngày 27 tháng 6, 1955, Võ Nguyên Giáp người nắm binh quyền Bắc Việt đã âm thầm đến Bắc Kinh trong vai trò đại biểu CSVN với sự giúp đỡ của người cầm đầu CMAG ở Việt Nam là Wei Guoqing. Võ Nguyên Giáp bàn thảo với Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Hoa Minister Peng Dehuai, và tướng Petroshevskii, một Quân Mưu cao cấp của Liên Xô tại Trung Quốc, về dự án tái tạo quân đội của Đảng CSVN và những dự án chiến tranh trong tương lai. Đại Biểu CSVN ghé thăm Trung Hoa Hạm Đội Bắc Hải trước khi trở về Hà Nội vào giữa tháng 7. Trong quá trình đól, ngày 15 tháng 10, 1955, Võ Nguyên Giáp lại âm thầm dẫn đầu một phái đoàn đại diện sang Trung Quốc, và đã bàn với Peng Dehuai và Tướng Quân Liên Xô Gushev kỳ này cũng là về những dự án củng cố quân sự và quân đội của CSVN cũng như chiến lược tương lai. Đoàn đại biểu CSVN đã tham quan những Trung Tâm Quân Sự Trung Hoa, quân trường và nhìn Quân Đội Trung Hoa học tập trước khi trở về Bắc VN vào ngày 11 tháng 12. Tài Liệu Quân Sử của CMAG, ghi rõ rằng trong suốt 2 quá trình sang Bắc Kinh của Giáp, Giáp đã báo cáo “thành công ký kết” với CSTQ và Liên Xô “trên những điều chính.” Nhưng lại không giải thích tại sao Giáp lại mau lẹ ghé thăm lần thứ 2 đến Bắc Kinh sau không xa chuyến âm thầm thứ nhất, và tại sao sự hiện diện phía Liên Xô lại khác với lần đầu. Có lẻ sư bàn thảo lần thứ nhất của Giáp, đã bỏ lại sau lưng vài vấn đề chưa giải quyết. Sự thật thì, theo tài liệu tham khảo của Quảng Đông Đại Học Xã Hội Học, thì Trung Hoa và Liên Xô đã có sự bất đồng ý kiến về dự án làm sao thống nhất Việt Nam. Cố Vấn LiênXô ủng hộ sự hoà bình chung sống giữa Nam, Bắc Việt Nam, kêu gọi Hà Nội ” thống nhất đất nước qua và trong dự án Hoà Bình Độc Lập Dân Chủ Hoá”, ngược lại thì phía Trung Hoa cho rằng “tại vì sự phá hoại của chế độ quân chủ nên không thể nào thống nhất Việt Nam qua cái gọi dân chủ bầu cử như đã viết trong Hiệp Định Geneva, và như vậy con đường duy nhất là CS-Bắc Việt nên chuẩn bị cho một chiến tranh sắp tới”. Ngày 24 Tháng 12, 1955, CSTQ quyết định rút Bộ Quân Mưu CMAG ra khỏi Vietnam; Peng Dehuai đã cho Võ Nguyên Giáp biết cái quyết định này. Tới vào giữa tháng 3, 1956, cán bộ cuối cùng của CMAG đã rời khỏi CSVN. Để thay thế Bộ Quân Mưu CMAG, Bắc Kinh đã gửi đến một Ban Quân Mưu nhỏ hơn dưới quyền của Hoàng Văn Quân để giúp đỡ CSVN. Sự thay đổi này đã dẫn đến nhiều cuộc tranh luận lớn trong nội bộ ban lãnh đạo CSVN 1956, về quyết định “người nào sẽ phải gánh vác trách nhiệm về bắt trước dự án Cải Cách Ruộng Đất của Trung Quốc từ năm 1953” . Trường Chinh, Tồng Thư Ký Đảng CSVN, người đã lãnh đạo trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất, đã bị cách chức tại Quốc Hội Trung Ương vào tháng 9, 1956. Lê Duẫn, lên thay thế lãnh chức vụ Tổng Thư Ký CSVN, đã chỉ chứng Trường Chinh, tội danh thi hành Cải Cách Ruộng Đất của Trung Quốc với Việt Nam bất chấp những sự thật xảy ra tại Việt Nam. Sự thất bại của Cải Cách Ruộng Đất đã khiến trong Đảng CSVN biết rõ là con đường thống nhất Việt Nam, như trong Hiệp Định Geneva bầu cử Dân Chủ, đã không thể thực thi. Khi cái hy vọng thống nhất bằng lòng dân qua bầu cử của Đảng CSVN bị sụp đổ, thì CSVN cũng phải đang đối diện với vấn nạn kinh tế của XHCN. Nguồn cung cấp gạo tại Hà Nội trở thành vấn nạn, CSVN vì đã quay lưng với hiệp dịnh Geneva, âm thầm quậy phá miền Nam bôi nhọ và ám sát nhân viên Cao cấp của miền Nam, nên CSVN không thể mở miệng xin mong sự giúp đõ từ kinh tế Miền Nam, CSVN ngoài phải tự trồng trọt kiếm ăn mặt khác, ban lãnh đạo Hà Nội tiếp tục quay về với Trung Quốc bất chấp vì nghe lời Bắc Kinh mà kết quả là những đau thương của Cải Cách Ruộng Đất. Tháng 4, 1956, Phó Thủ Tướng CSTQ Chen Yun, một nhà kinh tế gia chuyên môn trong Đảng CS Trung Quốc, đã âm thầm không công khai đến Hà Nội. Trước lời yêu cầu của Hồ Chí Minh, Chen đưa ra dư án chính về “Ưu Tiên Kỷ Ghệ Nông Nghiệp và cũng như đặt kỷ nghệ nhỏ lên trước kỹ nghệ lớn” (light industry ahead of heavy industry) để nâng cao nền kinh tế Bắc Việt. Ban lãnh đạo CSVN chấp nhận dự án của Chen. Sự thật bằng chứng là CSTQ đã bỏ ra rất nhiều trong việc nâng cao kinh tế trong phần kỹ nghệ lớn tại Trung Hoa trong 5 năm đầu vào thời gian đó, sự khoa chương phóng đại của Chen về nông nghiệp và những kỹ nghệ nhỏ rất là khác thường, và cũng như sự chứng minh là Trung Quốc luôn quan tâm nhiều đến hình trạng tại VN trong sự “cố vấn” và tài trợ của Bắc Kinh đối với CSVN. Chu Ân Lai lập lại sự quyết định của Chen về sự cận trọng trong những dự án kinh tế trong qua trình viếng thăm Hà Nội vào ngày 18-22 tháng 11, 1956, cũng như Lai đã nói với Hồ Chí Minh phải kiềm chế những sự hấp tấp về những dư án thu hoạt Nông Nghiệp: “sự thay đổi đó phải đi từng bước một.” Nhà văn Donald S. Zagoria đã phản luận trong cuốn sách Vietnam Triangle (VN Tam Giác) là trong thời gian 1957 và 1960, CSVN đã thay đổi từ trung thành với Bắc Kinh qua Liên Xô để có sự tài trợ của Liên Xô về những dự án nâng cao nền kinh tế XHCN-VNt.11 Trên thực tế, ban lãnh đạo Hà Nội vẫn tiếp tục, báo cáo và xin lệnh CSTQ về những quyết định quan trọng như củng cố nền kinh tế tại Miền Bắc và công cuộc cách mạng nơi Miền Nam. Trong quá trình tái tạo nền kinh tế của XHCN-VN 1958, bộ chính trị CSVN bắt đầu đặt tâm vào công cuộc cách mạng tấn công Miền Nam VN. CSVN báo cáo và xin quyết định từ CSTQ. Vào mùa Hạ 1958, Bộ Chính Trị CSVN đưa trình lên CSTQ để xin quyết định cho 2 dự án “Sự nhận định về dự án Căn Bản cho ViệtNam trong giai đoạn mới ” và “Ý kiến về dự án thống nhất vỹ tuyến Unification Line và con đường cách mạng nơi miền Nam.” Sau khi tham khảo cẩn thận, Ban Lãnh Đạo CSTQ đã trả lời bằng một lá thư, chỉ thị “nền tảng chủ yếu nhất, những quyết định quan trọng nhất, và những dự án khẩn cấp nhất” cho công cuộc cách mạng của CSVN là phải thực thi Cách Mạng Chủ Nghĩa Xã Hội và Chủ Nghĩa Xây Dựng Xã Hội tại miền Bắc. Về phía miền Nam, CSTQ tiếp tục chỉ thị, dự án mà Hà Nội phải thực thi là phải nâng cao khẩu hiệu “Quốc Gia và Cách Mạng Dân Chủ.” Tuy nhiên, khi trong thực tại sự nhận thức về công cuộc cách mạng trong lúc đó vốn dĩ bất khả thi, CSTQ kết luận, CSVN nên “thành lập một công cuộc đường hầm dài lâu, dưỡng sức, thành lập bộ tuyên truyền đến với đa số, và chờ đợi cơ hội thích hợp.” Nói thẳng ra, Bắc Kinh thật sự không mong muốn lâm vào cảnh CSVN chính thức ra mặt đối kháng với Hoa Kỳ. Judging by subsequent developments, CSVN đã không dám cải lời CSTQ, trong thời gian 1958 và 1960 Hanoi luôn chú tâm vào nền kinh tế miền Bắc VN, thực thi “Dự Án 3 Năm” cải tổ chủ nghĩa về mặt kinh tế và xã hội. Chính sách trở lại với thủ đoạn Cách mạng Bạo Lực được Trung Ương Đảng CSVN thực thi vào tháng 5, 1959 nhưng lại không nói rõ phải đi theo đường hướng nào. Thậm chí cũng không nhắc đến những trắc trở của sự hợp nhất giữa quân sự và chính trị phải đối diện. Trong 2 năm kế tiếp, ban lãnh đaọ CSVN tiếp tục tranh luận về những mựu lược và sách lược. Hồ Chí Minh tiếp lục báo cáo và thỉnh lệnh với CSTQ. Vào tháng 5, 1960, CSVN và lãnh tụ CSTQ đã mở cuộc thảo luận tại Hà Nội và Bắc Kinh về những sách lược xâm chiếm miền Nam Việt Nam. Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình đưa ra lập luận rằng trong những sự tranh giành trong chính trị nên hợp nhất với vũ khí và quân sự khi những thực trạng đang xãy ra giữa những thành phố và những vùng quê trong miền Nam, một sách lược tranh đấu uyễn chuyễn cần nên được thi hành. Với trong Thành Phố, CSTQ đưa quyết định, tranh đấu bằng chính trị nên được làm sách lược chính, tuy nhiên nếu muốn đánh sụp chế độ ông Diệm, thì vũ lực thật sự là cần thiết. Bởi vì đã có nhiều và đa số những căn cứ nơi những vùng quê, thì lực lượng quân sự nên được thành lập tại đó, tuy nhiên đấu tranh bằng quân sự nên kèm theo với đấu tranh chính trị. Vào tháng 9- 1960, CSVN mở Đại Hội Đảng CS lần thứ 3, nhưng lại không có quyết định gì về những tình trạng thối nát hiện tại nơi miền Bắc, thay vào đó là chỉ âm mưu đánh chiếm khi nền chính trị miền Nam Việt Nam đang lung lay. Để lợi dụng cơ hội mới này, Quốc Hội CSVN kêu gọi và ra lệnh cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thực thi cả 2 chính sách đấu tranh bằng chính trị và quân sự đối với miền Nam VN, và kêu gọi sự yểm trợ tối đa từ miền Bắc. Sách lược liên kết đấu tranh bằng quân sự và chính trị với miền Nam vốn là những dự án và quyết định từ CSTQ. Vào mùa Xuân 1961, Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy chấp thuận tăng viện trợ về Quân Sự và Ban Quân Mưu (MAAG) với 100 cố vấn và đã gửi đến Việt Nam 400 lực lượng đặc biệt để huấn luyện quân đội miền Nam những cách tiếp chiến khẩn cấp. Sự viện trợ của Hoa Kỳ với Đông Nam Á đã khiến Lãnh đạo Bắc Kinh không yên tâm. Trong lúc Thủ Tướng CS là Phạm Văn Đồng sang Bắc Kinh vào tháng 6-1961, Mao Trạch Đông đã quyết định tăng thêm viện trợ cho mặt trận xâm lấn miền Nam trong khi Chu Ân Lai tiếp tục hối thúc phải thực thi những sách lược uyển chuyển và quan trọng nhất là “liên hợp giữa chính sách đấu tranh hợp pháp và đấu tranh bằng thủ đoạn đen tối phi pháp cũng như phải liên kết đấu tranh bằng chính trị và quân sự.” Năm 1962 một sự kiện thay đổi lớn giữa sư nhúng tay của Hoa Kỳ và thái độ cũng như hành động của Trung Quốc đối với cuộc nội chiến của Việt Nam. Vào tháng 2, Hoa Thịnh Đốn (Washington) thành lập tại Sài Gòn một ban Quân Mưu (Military Assistance Command, Vietnam (MAC,V)), để thay thế MAAG. Chính Phủ Kennedy buộc ghép ban hành hành động này với số tăng trưởng mạnh về mặt Cố Vấn Hoa Kỳ và số lượng quân sự tiếp viện với chính phủ Diệm, đánh dấu cho một tầng lớp mới về mật tham dự của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Vào mùa Xuân năm đó, một cuộc tranh luận xảy ra trong nội bộ ban lãnh đão Trung Quốc phán đoán một Thế Chiến sẽ xảy ra, và dự định có thể hoà bình sống với những quốc gia tư bản, và mức độ tài trợ của TrungQuôc đối với “công cuộc Giải Phóng”. Vào ngày 27 tháng 2, Wang Jiaxiang, Bộ Trưởng Bộ Liên Lạc Ngoại Giao, gửi một lá thư cho Chu Ân Lai, Đặng tiểu Bình và Chen Yi ( bộ 3 cầm quyền về chích sách ngoại giao), phản đối và chỉ trich khuynh hướng đánh giá cao về mặt nguy cơ Thế Chiến xảy ra, và đã đánh giá thấp về những cơ hội hoà bình chung sống với những đế quốc. Về mặt yểm trợ cho “công cuộc giải phóng toàn quốc”, Wang đã thận trọng thận trọng nhấn mạnh, kêu gọi sự chú ý đến những vấn nạn kinh tế của Trung Quốc và hạn hẹp tài nguyên. Về vần đề của Việt Nam, Wang yêu cầu Đảng CS Trung Quốc “cảnh giác đối với những đường lối chiến tranh của Đế Quốc Mỹ đã thực thi ở Đại Hàn” và cũng cảnh báo về nguy cơ “Khrushchev và những người cùng phe đang kéo chúng vào một cạm bẫy chiến tranh.” Wang đưa ra dự án, nếu muốn chỉnh đốn và tái tạo lại nền kinh tế và thắng lợi vượt qua những sóng gió giai đoạn khó khăn, Trung Quốc nên chấp nhận một chính sách hoà bình và và thoả hiệp về mặt ngoại giao, và với lãnh vực ngoại vận Trung Quốc không nên làm những gì không có khả năng. Nhưng Mao Trạch Đông đã bỏ ngoài tai những ý kiến và dự án nêu ra của Wang, thậm chí còn phán tội danh cho Wang là kẻ nâng cao “chủ nghĩa xét lại” chính sách ngoại giao của “3 điều thoả mản và một sự giảm bớt” (sự thoả mản với đế quốc, chủ nghĩa xét lại, và thế giới bảo thủ hoá , và giảm bớt sự yểm trợ cho công cuộc Giải Phóng Toàn Quốc.) Sự biến diễn của cuộc tranh luận đã tạo ra những quyết định chính cho những chính sách của CSTQ đối với Việt. Nếu như ý kiến của Wang được chấp nhận, thì nó sẽ có nghĩa là vai trò của CSTQ đối với Đông Nam Á phải bị hạn chế. Nhưng Mao Trạch Đông đã quay sang con đường quân sự, chọn lựa đối mặt với Hoa Kỳ. Sự việc này đã chuyển sang bên trái của những chính sách ngoại giao, với sự nhấn mạnh của Mao trạch Đông về tranh đấu giai cấp và chính sách cấp tiến trong sự liên hệ nội bộ Trung Quốc 1962. Sự việc này cũng ảnh hưởng đến vai trò của CSTQ đối với những vấn nạn chưa dàn xếp nơi Việt Nam. Với sự bỏ ngoài tai ý kiến của Wang, một cơ hội đã trồi lên sau này cho Hoa Kỳ len lõi vào Đông Nam Á đã bị hụt.  Vào mùa Hạ 1962, Hồ Chí Minh và Nguyễn Chí Thanh đến Bắc Kinh để bàn thảo với ban lãnh đạo CSTQ về tình trạng quan trọng do sự nhúng tay của Hoa Kỳ với Việt Nam và có thể Hoa Kỳ sẽ có một cuộc tấn công Bắc Việt Nam. Hồ Chí Minh “xin” CSTQ tài trợ cho công cuộc du kích tại miền Nam. Bắc Kinh đã thoả mán sự “xin cầu” của Hồ Chí Minh bằng cách đồng ý gửi cho CSVN 90,000 cây súng trường và súng máy (AK), số lượng này có thể trang bị cho 230 bộ binh tác chiến hat could equip 230 infantry battalions. Những vũ khí này sẽ được dùng để yểm trợ mặt trận du kích tại miền Nam. Vào tháng3,1963, Luu Thieu Ky, Bộ Trưởng Dân Nhân Giải Phóng Quân của Trung Hoa (Chief of Staff of the Chinese People’s Liberation Army (PLA)), ghé thăm CSVN và bàn luận với CSVN, CSTQ sẽ yểm trợ cho CSVN bằng cách nào nếu Hoa Kỳ tấn công miền Bắc. Hai tháng sau, Lưu thiếu Kỳ, chủ tịch của PRC, đến Hà Nội, và nói với Hồ Chí Minh: “Chúng tôi luôn sát cánh bên đồng chí, và nếu như chiến tranh bùng nổ, đồng chí có thể nhìn Trung Hoa như là một cánh tay.” Sự thật thì, Bắc Kinh đã sớm chính thức ký kết với Hà Nội vào đầu năm 1963. Đến cuối năm đó, cán bộ của CSTQ và CSVN đã bàn thảo về sự viện trợ giúp đỡ của Bắc Kinh về dự án xây dựng những công trình phòng chiến và căn cứ Hải Quân ở vùng Đông Bắc lãnh thổ CSVN. Theo tài liệu từ Trung Hoa, vào năm 1963 CSTQ và CSVN đã ngầm ký kết hiệp định là Bắc Kinh sẽ gửi quân tác chiến vào Bắc Việt Nam khi cần. Quân đội CSTQ sẽ ở lại và chiến đấu tại miền Bắc để đoàn quân VC được rãnh tay xuống miền Nam. Nhưng ngày giờ và điều kiện trong bản hiệp địh tới nay vẫn không rõ ràng.Tổng kết, trong giai đoạn từ 1954 và 1963 Trung Quốc đã và luôn chặt chẻ tham dự vào trong những sự phát triển và quyết định của nền tảng chính trị Hà Nội. Đảng CS Trung Quốc “yêu cầu” Hồ Chí Minh phải chú tâm vào củng cố Đảng CSVN và liên kết sách lược đấu tranh bằng chính trị và quân sự đối với miền Nam VN.. Trong những năm từ 1956 và 1963, CSQT đã tiếp trợ cho CSVN 270,000 cây súng, trên 10,000 đại pháo , trên 200 triệu đạn dược, 2.02 triệu Trái Pháo , 15,000 dây truyền tin, 5,000 radio thông tin, trên 1,000 xe vận tải, 15 chiếc máy bay, 28 tàu chiến, và 1.18 triệu quân phục. Tổng số viện trợ từ CSTQ đối với CSVN trong thời gian này là hơn 320 triệu nhân dân tệ. Năm 1962 là một năm chủ yếu của những sự quyết định của những hành động cũng như thái độ của Trung Quốc đối với Việt Nam. Bỏ rơi dự án tiến tới trong thận trọng, Mao Trạch Đông đã chọn con đường đối đầu với Hoa Kỳ và quyết định đẩy mạnh sự tài trợ cần thiết từ Trung Quốc đến Hà Nội. Số lượng lớn viện trợ vũ khí từ Bắc Kinh đến với CSVN vào năm 1962 đã giúp đỡ Hồ chí Minh đẩy mạnh mặt trận du kích trong miền Nam, và đã khơi dậy thêm sự nhúng tay của Hoa Kỳ. Vào cuối năm 1963, ban lãnh đạo Trung Quốc rất là bất an về sự quyết định của Hoa Kỳ đối với Việt Nam tuy nhiên CSTQ vẫn luôn yểm trợ và tài trợ tối đa cho CSVN đối mặt với Hoa Kỳ. Nhất Thanh Tóm Dịch
Triệt Để Ly Khai Chủ Nghĩa Marx-Lenin Và San Bằng Huyền Thoại Hồ Chi Minh Để Cứu NướcChủ nghĩa cộng sản hứa hẹn với nhân loại một tương lai huy hoàng nhưng hứa hẹn này đã bị thực tế phủ nhận. Marx đã khổ công phê phán chủ nghĩa Tư Bản nhưng khi nói về chủ nghĩa Cộng Sản thì cách tiếp cận của ông lại mang sắc thái một lời tiên tri phỏng đoán. Nội dung những lời thuyết giảng của ông không được chứng nhận qua thời gian. Trong những nước mà cách mạng vô sản thành công, trái với sự răn dạy của Marx, thì điều gì đã xảy ra ? Thiên đường cộng sản chưa bao giờ xuất hiện trong khi cảnh nghèo đói cứ tiệp tục tồn tại hết năm này qua năm khác. Đấy là chưa kể sự hành hạ thiếu nhân đạo của những chế độ độc tài vô trách nhiệm, tham nhũng và tham quyển cố vị như mọi người đều đã thấy. Sự sụp đổ của Liên Xô đầu thập niên 1990 đã kéo theo sự ra đi hàng loạt của hầu hết các chế độ độc tài khác trên thế giới. Sơ xuất lớn nhất của Marx là đã coi thường và miệt thị kinh tế Tư Bản. Thực tế cho thấy quyền tư hữu và kinh tế thị trường tự do có một sức mạnh và một tính năng động vượt xa trí thưởng tượng và tầm hiểu biết của nhà tiên tri cộng sản. Giấc mơ “hàng hóa chảy ra như suối” hiện đang là thực tế hàng ngày trong các xã hội Tư Bản, không cần phải chứng minh. Vậy thì còn lý do gì nữa để không rứt khóat với chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa Lenin và san bằng huyền thoại Hồ Chí Minh, hầu nhanh chóng hội nhập vào cộng đồng của nhân lọai văn minh. Đây không phải là lần đầu tiên lời kêu gọi này được đưa ra. Nhưng lần này lời kêu gọi thống thiết đó nó vẫn cần được nhắc lại, vì tổ quốc đang trong cơn nguy biến. Không có sức mạnh của toàn dân thì không thể nào cứu nguy đẫt nước, khi giặc đã bắt đầu xâm lấn lãnh hải và lãnh thổ của nước ta. Chủ nghĩa Marx đã lui vào lịch sử Đó là sự thật, nhưng nếu ai chưa chưa đủ lòng tin thì xin đọc những dòng viết tiếp theo. Năm 1941, Marx bị chính quyền Đức theo dõi vì những bài viết chống đối nhà nước. Ông đem gia đình qua Pháp và cư trú tại thủ đô Paris. Tại đây, ông gặp F. Engels. Hai ngưởi làm quen nhau, ý hợp tâm đầu và từ đó cộng tác thân mật với nhau trong nhiều hoạt động cách mạng. Chủ nghĩa Tư Bản xuất hiện vào đầu thế kỳ 17 tại Âu Châu. Hồi đó sự phát minh ra máy dệt rèm hoa đã gây nên một làn sóng bạo động của công nhân tại Đức. Bước sang thế kỷ 19, ở Anh vẫn còn nổ ra những phong trào phá hoại máy móc với quy mô lớn. Khảo sát khu công nghiệp Manchester ở Anh vào năm 1844 Engels , lúc đó mới 24 tuổi, cũng phản đối việc đưa máy móc vào sản xuất. Ông viết tác phẩm “The condition Of The Working Class In England” xuất Bản năm 1845. Hồi đó, khu công nghiệp Manchester mới chập chững đi vào mô hình phát triển Tư Bản. Năm 1848, sau khi viết và cho công bố bản Tuyên Ngôn Của Đảng Cộng Sản, Marx và gia đình phải bỏ Pháp chạy sang Anh lánh nạn vì bị truy lùng. Lúc đó, Marx mới 30 tuổi. Trong khu vực Soho buồn tẻ của thủ đô Luân Đôn, ông sống đau yếu và thiếu thốn với sự trợ cấp của Engels. Ông bắt đầu viết sách. Quyển Tư Bản Luận số I (Das Capital I) được viết căn cứ trên cuốn “The Condition Of The Working Class In England” của Engels. Tác phẩm này của Marx được coi như thánh kinh của giai cấp lao động, chỉ tiếc rằng hiện tượng Tư Bản Manchester lúc đó còn quá sơ khai nên công trình phân tích của Marx được đánh giá như hơi vội vã. Thật vậy, những lời tiên đoán tự cho là khoa học liên quan đến giai đọan quá độ, thế giới đại đồng, sự tiêu vong của nhà nước…đã không được thực tế chứng nghiệm và chỉ có giá trị như những lời tiên tri bói toán. Năm 1866, nghĩa là 18 năm sau khi Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản được công bố, khủng hoảng kinh tế thế giới bùng nổ. Sau khi khủng hoảng này chấm dứt, chủ nghĩa Tư Bản đã tự điều chính bằng một sáng tạo mang tính lịch sử. Đó là sự ra đời của Công Ty Cổ Phần và Ngân Hàng Đầu Tư Quy Mô Lớn. Với sự sáng tạo này, vốn của xí nghiệp không còn dựa vào tiết kiệm và dự trữ của một số nhà tư bản nữa mà dựa vào tiền dự trữ của toàn xã hội. Như vậy, quyền sở hữu được tách rời khỏi quyền quản lý xí nghiệp. Việc tách rời này là một cuộc cánh mạng tạo khả năng “quá độ hòa bình” sang một chế độ mới. Với Công Ty Cổ Phần Marx đã thấy xuất hiện nhân tố “xã hội chủ nghĩa” từ sự phát triển của chủ nghia Tư Bản. Hai mươi năm, sau khi bản Tuyên Ngôn Cộng Sản ra đời (1848), Marx đã tìm thấy “bước quá độ hòa bình” này. Trong tập III Tư Bản Luận, ông đã sửa chữa kết luận của tập I Tư Bản Luận và nói rằng không cần phải làm nổ tung cái vỏ ngoài của chủ nghĩa Tư Bản nữa. Những gì ông đã nói về Tư Bản Manchester cũng hoàn toàn bị xóa bỏ . Khi Marx yêu cầu Darwin viết đề tựa cho cuốn Tư Bản liận đầu tiên, ông đã bị Darwin từ chối. Những cuốn Tư Bản Luận tiếp theo, do Engels xuất bản sau khi ông chết (1883) không có mấy ai đọc, trừ một vài nhà nghiên cứu. Chính Marx cũng nhìn nhận sự phá sản của chủ thuyết cách mạng vô sản của mình. Năm 1872 sau khi Quốc Tế I tan vỡ ông gửi thông điệp cho phân bộ Hoà Lan nói : “Tại những nước như Mỹ và Anh, người lao động có thể đạt tới mục tiêu của mình bằng những phương tiện ôn hòa”. Vào năm trước khi chết, có lần ông đã xác nhận: “Điều chắc chắn, tôi không phải là người Marxist”. Ngày 6/3/1895, không đầy 5 tháng trước khi qua đời, trong lời nói đầu viết cho tác phẩm “The Class Struggle In France- Đấu Tranh Giai Cấp Ở Pháp” của Marx, Engels cũng sứa lại toàn bộ chủ nghĩa Marx và nhắn với hậu thế rằng “Phương pháp đấu tranh năm 1848 nay đã lối thời về mọi mặt”. Như vậy trong các tác phẩm của Marx và Engels có hai con đường “xã hội chủ nghĩa” : xã hội chu nghĩa bạo lực và xã hội chủ nghĩa dân chủ. Tuyên Ngôn Của Đảng Cộng Sản và Quyển I Tư Bản Luận là căn cứ lý luận của Chủ Nghĩa Xã Hội Bạo Lực. Tập III Tư Bản Luận và Lời Nói Đầu do Engels viết cho cuốn Đấu Tranh Giai Cấp Ở Pháp là cơ sở lý luận của chủ nghĩa Dân Chủ Xã Hội. Chủ Nghĩa Xã Hội Bạo Lực hứa hẹn với nhân loại một tương lai huy hoàng nhưng hứa hẹn đó đã bị thực tế phủ nhận. Cuộc thí nghiệm Cộng Sản như vậy là đã chấm dứt. Hệ thống chính trị độc tài, có lúc từng kiểm soát một phần ba nhân loại đã thực sự tan rã. Không có lý do thực tế nào để tin rằng trong tương lai nó còn có thể xuất hiện trở lại. Chủ nghĩa Marx Lenin đã hoàn toàn phá sản Điều cần phải nói ngay trước khi đi sâu vào việc phân tích thứ hai là : Lenin đã dấu nhẹm không cho ai biết việc Marx đã khám phá ra bước “quá độ hoà bình” và như vậy hắn đã nhập cảng nguyên con vào nước Nga phần lý thuyết Mác Xít lỗi thời mà cả Marx lẫn Engels đều chối bỏ lúc về già. Chủ nghĩa Marx-Lenin là một ứng dụng của chủ nghĩa Marx bạo lực vào thực tế do Lenin khai triển. Công thức này đã mang lại thắng lợi cho cuộc cướp chính quyền Nga tháng 10 năm 1917 và trở thành nền tảng ý thức hệ của phong trào cộng sản thế giới với trung tâm là Liên Xô. Thế Kỷ 20, thuật ngữ Marxism-Leninism được ưa chuộng không chỉ trong sinh hoạt của Đệ Tam Quốc Tế mà còn cả trong nội bộ các Đảng Cộng Sản nhỏ trên khắp thế giới. Tại sao ? Vì chủ nghĩa Marx-Lenin đã đưa ra mẫu hình chung cho mọi cuộc cách mạng vô sản cướp chính quyền tại “Thế Giới Thư Ba” cũng như tại một vài nới khác. Nó chú trọng vào thực tế hơn là vào lý thuyết nên rất cần thiết cho việc huấn luyện và đào tạo đảng viên. Với khả năng nhạy bén hiếm có về chính trị, Lenin nhận ra ngay bản chất tàn bạo của chủ nghĩa Marx. Đây là con đương từ lâu y tim kiếm. Cho nên y chỉ cần thêm vào đó một cơ chế chính trị̣ để biến tư tưởng thành hiện thực. Với niềm tin đó chủ nghĩa Marx-Lenin xuất hiện. Nó trở thành công cụ để cướp giữ chính quyền của một nhóm người ham danh và tham lợi. Lenin sinh trưởng ở Nga, một nước mà từ ngàn xưa chỉ có những chế độ chính trị cực kỳ tàn bạo. Bạo lực là nền tảng của nước này và Lenin thấm nhuần văn hóa ấy. Trong cuộc đời hoạt động lúc chưa nắm chính quyền Lenin chịu ảnh hưởng của hai người : Louis Auguste Blanqui và Sergey Genadievich Nechayev. Louis Auguste Blanqui (1805-1881 là người lãnh đạo một tổ chức bí mật tại Pháp thuộc phe Cách Mạng Bạo Lực trong Quốc Tế I và là chỉ huy quân sự của Công Xã Paris. Nội dung của chủ nghĩa Blanqui là : “phải tin chắc, bất kể sự phát triển sức sản xuất ở trình độ nào, chỉ cần dựa vào bạo lực là có thể tạo ra một thế giới mới không có bóc lột, không có áp bức”. Lenin đã tiếp thu giáo huấn bạo lực này từ rất sớm. Sergey Genadievich Nechayev (1847-1881) là một người Nga theo chủ nghĩa “vô chính phủ”. Y cầm đầu một nhóm nhỏ gồm khoảng 200 sinh viên tại đại học St Petersburg và bị giam trong tù cho đến khi chết lúc mới 35 tuổi vì giết một người bạn. Kinh bổn bạo lực của Nechayev là sách gối đầu giường của Lenin. Lenin đã dùng chủ nghĩa Marx lỗi thời để lừa bịp dân chúng, phối hợp với chủ nghĩa bạo lực khởi loạn của Blanqui-Nechayev để giết người hàng loạt và cướp đoạt chính quyền. Đó là nội dung và bản chất đích thực của chủ nghĩa Marx-Lenin. Người Nga có truyền thống đế quốc từ lâu đời. Tham vọng thống trị thế giới từ thời Sa Hoàng Ivan Đệ Tam (1440-1503) và dưới thời Lenin không chỉ gần giống nhau mà in hệt nhau. Cái gọi là Chủ Nghĩa Marx-Lenin đã phục vụ đắc lực cho tham vọng đế quốc giấu mặt của Liên Xô. Khi Lenin thiết kế “chiến thuật tạo phản” (hay kỹ thuật khởi loạn) không phải chỉ để lật đổ Sa Hoàng mà còn để chiến thắng kẻ thù và nới rộng thế lực trên toàn thế giời. Marx và Engels không phải là những nguời chủ trương đế quốc. Chính Lenin và Stalin đã kết hợp mộng xâm chiếm thế giới từ xưa của nước Nga với học thuyết của Marx để thiết kế những chiến thuật cùng mưu lược khởi loạn dùng làm nội dung của kinh bổn giáo lý để xây dựng một đế quốc chuyên chính. Nhưng đế quốc Liên Xô ngày nay đã tan rã. Bộ phận tàn dư của nó giờ đây chỉ còn Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên và Cuba. Trung Quốc dẫn đầu nhóm tàn dư đó vẫn còn tư tưởng hâm nóng và nới rộng “Chủ Nghĩa Địa Phương Xô Viết” (Provincalism Soviétique) có từ thời Khrutshev để giữ vững vi trí của mình. Nếu trong dĩ vãng các chính quyền cộng sản đã cam tâm “ăn thịt” con dân cùa họ để chiếm chính quyền và cai trị thì ngày nay họ vẫn tiếp tục dùng sức mạnh nước lớn để ”ăn thịt” lẫn nhau ngõ hầu tồn tại và phát triển. Việt Nam, vì tiếp giáp với Trung Quốc tại biên giới phía Nam và kiểm soát khoảng 3000 cây số Biển Đông, hiện đang là điểm nhắm đầu tiên trong ý đồ bá quyền khu vực của Bắc Kinh.. Tham vọng nước lớn của Bắc Kinh Sau ba thập kỷ hiện đại hóa và phát triển Trung Quốc bước vào Thế Kỷ 21 với một tinh thần tự tín. Trung Quốc hiện đã trở thành một quốc gia có bom nguyên tử và có chỗ ngồi “vế trên” trong Liên Hiệp Quốc. Tuy chưa hẳn là một cường quốc như tỉ số phát triển giờ đây của Trung Quốc đang ở vào vị thế lớn nhất hoàn cầu. Trung Quốc đang đi vào một thời kỳ phát triển mới. Mục tiêu của thời kỳ này là phát triển hài hòa và phương tiện để đạt mục tiêu đó là “chủ nghĩa dân chủ xã hội”. Tuy Bắc Kinh đang quan tâm khảo sát sự thực hành “dân chủ xã hội” ở Âu Châu nhưng nhóm lãnh đạo Trung Nam Hải vẫn tiếp tục thám hiểm xem có cách nào để một đảng chính trị có thể đại diện cho những quyền lợi chính trị và kinh tế khác nhau. Bắc Kinh đang tiến hành chiến lược dài hạn nói trên bằng chính sách “ba vượt thoát”; thứ nhất, vượt thóat mẫu hình kỹ nghệ hóa cổ điển để đi theo mẫu hình kỹ nghệ hóa hiện đại ; thứ hai, vượt thoát tham vọng lỗi thời muốn trở thành bá chủ hoàn cầu ; thứ ba, vượt thoát lối cai trị cổ hủ của dĩ vãng để thay thế bằng lối cai trị mới hài hòa và nhân đạo. Nhìn vào toan tính và thái độ của Trung Quốc hiện nay ta thấy triển vọng và thực tế dường như không phát triển song hành. Mặc dầu Hồ Cẩm Đào và một số lãnh tụ Trung Nam Hải muốn vượt thóat khỏi tham vọng lỗi thời trở thành siêu cường bá chủ thiên hạ nhưng trong thực tế thì niềm tự tôn Đại Hán của dân tộc vẫn còn đó và di huấn trả thù Tây Phương của Mao Trạch Đông vẫn tồn tại như một mệnh lệnh. Sau khi lên ngôi chúa tể Mao Trạch Đông nhận định là các nước Phương Tây và Nhật Bản đã chhếm đoạt của Trung Quốc hàng trăm ngàn dặm vuông lãnh thổ và hàng tá nhượng địa. Mao thề phục hận để lấy lại tất cả những gì đã mất. Mao chú trọng đầu tiên đến Biển Đông và nói với các tướng lãnh : “Bắt đầu từ lúc này Thái Bình Dương không còn an bình nữa và chỉ trở lại an bình khi nào chúng ta làm chủ vùng này”. Bản đồ Trung Quốc được Mao vẽ lại với sự nới rộng tùy tiện sang tứ phía. Bản đồ này bao gồm tất cả vùng Đông Nam Á , trong đó có Việt Mam, là những nước có biên giới tiếp giáp với Trung Quốc, những nước có căn cứ quân sự do Hoa Kỳ chiếm giữ sau Chiến Tranh Lạnh và các phần đất Nội Mông, Mãn Châu, Tân Cương trong tay Liên Xô. Tất cả đều là những mục tiêu phải giành lại. Mao chết năm 1976, nhưng chương trình phục hận của Mao đang được thế hệ lãnh đạo tiếp nối tiến hành. Họ đang mở cửa ngõ tiến về phía Nam để thực hiện kế hoạch “tàm thực” trên bộ và “vết dầu loang” trên biển. Bắc Kinh đang giải quyết tranh chấp vùng với thái độ “nước lớn” của một đại cường khu vực. San bằng huyền thoại Hồ Chí Minh là đòi hỏi căn bản vào lúc này Huyền thoại là lời nói có tác dụng mê hoặc. Khi xã hội loài người phân hóa thành giai cấp thì huyền thoại chủ yếu nhằm biện chính và bảo vệ lớp người cai trị trong cuộc cạnh tranh với lớp người bị trị. Do đo có thể nói rằng tầng lớp thống trị, nhất là các chế độ độc tài, thực dân và đế quốc, thiết yếu phải tạo ra huyền thoại như một nhu cầu gắn liền với bản chất của họ. Tác dụng của huyền thoại, xuất phát từ giai cấp thống trị, là tạo niềm tin, một thái độ quy hàng của lý trí. Khi đã tin thì người ta coi đó là chân lý, là đương nhiên không cần thắc mắc và suy luận lôi thôi. Niềm tin đưa đến sự sùng bái và coi những sự không tôn trọng là xúc phạm. Hồ Chí Minh đã qua đời gần 45 năm và hệ thống cộng sản thế giới đã tan vỡ gần 25 năm, nhưng hình ảnh của Hồ đến ngày nay vẫn còn ẩn hiện giữa thực tế và huyền thoại. Những người dễ dãi về nhận định coi ông như một nhà ái quốc của Việt Nam trong khi những người khác lại xem ông như kẻ đại phản quốc. Đối với tầm nhìn thứ hai này, Hồ Chí Minh đã đưa đất nước và đồng bào vào những cảnh khổ cực, đau đớn tột cùng để phuc vụ cho Quốc Tế Cộng Sản (QTCS) và khoác lên đầu lên cổ dân tộc một nền đô hộ thứ hai, cho đến nay vẫn chưa gỡ bỏ được. Cho nên nhận dạng con người thực và hành động của Hồ Chí Minh không chỉ cần thiết để thấy rõ một giai đoạn lịch sử bị xuyên tạc mà còn cần thiết cho mong mỏi đưa Việt Nam ra khỏi tai ách chính trị hiện nay. Giải tỏa huyền thoại Hồ Chí Minh phải là ưu tiên hàng đầu cần thực hiện. Ở Nga, khi Lenin chết, Stalin đã làm đám tang hết sức trọng thể với các thủ tục ướp xác xây lăng tại Quảng Trường Đỏ vâ tôn sủng Lenin như một vị thánh. Stalin làm thế với dụng ý bắt dân Nga cũng phải tôn trọng mình như một á thánh. Ngoài ra Stalin còn viết sách để tự tô vẽ cho mình hình ảnh một lãnh tụ tài ba hơn cả Lenin. Ở Việt Nam, khi Hồ Chí Minh chết, các đàn em trong Đảng Cộng Sản cũng ướp xác, xây lăng, đúc tượng mang vào đền chùa cúng bái. Riêng Hồ cũng viết hai cuốn sách để tự tâng bốc mình với bút hiệu Trần Dân Tiên và T. Lan. Trong cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hô Chủ Tịch”, Trần Dân Tiên không chỉ tự tâng bốc mình mà còn nói xấu các nhà cách mạng yêu nước tiền bối Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Hoàng Hoa Thám. Năm 1976, Đảng và Nhà Nước cộng sản đã công khai xác nhận Trần Dân Tiên là bút hiệu của Hồ Chí Minh. Với cuốn sách nói trên và kỹ thuật tuyên truyền lợi hại hoạt động trong một môi trường dân trí chưa cao, CSVN đã dễ dàng biến Hồ Chí Minh thành một vị thánh sống với cặp mắt có hai con ngươi, với cuộc đời hy sinh trọn vẹn mọi lạc thú bản thân để dồn hết tâm lực cho đất nước. Thật ra, trong đời hoạt động chính trị của ông, Hồ đã có rất nhiều đàn bà. Thời gian ở với cu Phan Chu Trinh tại Paris (1917-1923) Hồ có tới hai người tình nhân thắm thiết, một tên là Bourdon, và người thứ hai tên Marie Brière. Cô này vừa là đồng chí (đảng viên Đảng Xã Hội), vừa là người tình. Người vợ đầu tiên mà Hồ Chí Minh cưới năm (1926) là một phụ nữ Trung Hoa mang tên Tăng Tuyết Minh. Ăn ở với nhau được một năm thì Hồ Chí Minh bỏ vợ và không bao giờ gặp lại. Ngoài những người đàn bà nói trên Ông còn ăn nằm với Lê Thị Tâm, vợ của Hồ Tùng Mậu khi ông này bị bắt, Nguyễn Thị Minh Khai, vợ của Lê Hồng Phong khi ông này mất tự do. Minh Khai sinh cho ông một bé gái đặt tên là Lê Hồng Minh, giao cho Dương Bạch Mai nuôi dưỡng. Khi về nước hoạt động,(1941) ông ăn nằm với một nữ đồng chí tên Đỗ Thị Lạc, và có với nhau một người con gái. Ông cũng ăn nằm với nữ cán bộ hộ lý Nông Thị Trưng, sinh ra Nông Đức Mạnh, và người đẹp sơn cước Nông Thị Xuân, sinh cho ông một người con trai đặt tên là Nguyễn Tất Trung. Năm 1957 người ta phát giác xác chết của một phu nữ tại dốc Cổ Ngư (Hà Nội). Đưa vào bệnh viện, nhân diện là xác của cô Xuân. Khi phải đối mặt với những thực tế phũ phàng như vậy, mọi người cần giác ngộ. Giác ngộ để trả lại sự thật cho lịch sử và nới rộng phạm vi chân lý. CSVN thường kể công bằng một số luận điểm quen thuộc để đánh lạc hướng nhận định của dư luận. Hồ Chí Minh xuất ngoại không phải là để tìm đường cứu nước mà chỉ là để tìm đường sống như nhiều người khác. Số phận đã đưa ông vào con đường chính trị khi ông đến Paris và xin ở cùng với cụ Phan Chu Trinh là một người bạn của bố ông. Trong bối cảnh này, ông hoạt động trong nhóm mang tên Nguyễn Ái Quốc của các cụ Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền. Rồi ông trở thành đảng viên Đảng Xã Hội Pháp, và đến năm 1920 thì chọn đi theo cộng sản. Theo cộng sản, ông Hồ đã nhắm mắt thi hành sách lược của Đệ Tam Quốc Tế (QTCS) mà không màng gì đến quyền lợi của dân tộc. Sau khi được kết nạp làm cán bộ thừa hành ăn lương của QTCS, năm 1924, Hồ Chí Minh được phái sang Hoa Nam công tác với nhiệm vụ thành lập một số đảng cộng sàn địa phương, chủ yếu là Đảng Cộng Sản Đông Dương. Từ Quảng Châu ông tìm cách xâm nhập Tâm Tâm Xã và Việt Nam Phục Quốc Hội của cụ Phan Bội Châu để sang đoạt tổ chức này. Hành động phản bội đầu tiên là tuyên truyền chủ thuyết cộng sản để đầu độc tư tưởng các nhà yêu nước trẻ tuổi và tách họ khỏi tổ chức của cụ Phan. Hành động phản bội thứ hai là âm mưu với tên Lâm Đức Thụ bán cụ Phan Bội Châu cho Pháp để loại bỏ một đối thủ chính trị và lấy tiền hoạt động cho tổ chức cộng sản đang trên đà thành lập. Hành động phản bội thứ ba là qua đường giây Lâm ĐứcThụ, báo cho Pháp bắt những nhà cách mạng dân tộc về nước sau khi huấn luyện. Bằng ba phương cách trên Hồ Chí Minh đã triệt hạ tổ chức yêu nước chân chính của cụ Phan Bội Châu và lập nên hạt nhân cộng sản tay sai cho Đệ Tam Quốc Tế dưới cái tên là Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội. Năm 1938, khi được QTCS phái sang Hoa Nam lần thứ hai với nhiệm vụ chuẩn bị về nước cướp chính quyền, Hồ Chí Minh đã sang đoạt tổ chức Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội của cụ Hồ Học Lãm và lợi dụng tư thế chính trị của cụ Trương Bội Công để huận luyện binh sĩ, cán bộ. Với xảo thuật tuyên truyền cộng sản, ông Hồ đã làm suy yếu các lực lượng cách mang dân tộc chân chính này. Hành động phản dân tộc, phản cách mạng nặng nhất của Hồ Chí Minh là ký kết Hiệp Định Sơ Bộ 6/3/1946 cho phép thực dân Pháp trở lại VIệt Nam để đổi lấy một lời hứa hẹn độc lập vu vơ. Hồ Chi Minh thi hành thủ đoạn này để có thời gian triệt hạ mọi lực lượng chống đối trong nước gồm có : Việt Cách, Việt Quốc, Đại Việt, Đệ Tứ Quốc Tế, các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo và các nhân vật chế độ cũ. Thủ đoạn này cũng nhằm tạo chính danh lãnh đạo và sự công nhận quốc tế đối với chính quyền cộng sàn. Hậu quả là đã xảy ra “cuộc chiến chín năm” giữa hai loại thực dân cũ (Pháp) và mới (chi bộ Việt Nam của QTCS) và hai nền đô hộ chồng chéo đã giáng xuống đầu dân tộc. Chiến thắng Điện Biên Phủ là do chiến lược cùa Bắc Kinh và do tài điều động quân sĩ của tướng Trung Cộng Vi Quốc Thanh chứ không phải công lao của Võ Nguyên Giáp. Tên tuổi của Võ Nguyên Giáp được đưa ra để tránh sự nhạy cảm có thể khiến Mỹ nhảy vào cuộc chiến như đả xảy ra trong chiến tranh Triều Tiên. Chính vì vậy mà khi Liên Xô, Trung Quốc, Anh Pháp quyết định ngưng chiến và chia đôi đất nước Hồ Chí Minh và Đảng CSVN đã không được tham dự và có tiếng nói trong cuộc chia cắt này. Làm như thế để không cho CSVN trở thành một lực lượng quá mạnh có thể kiểm soát toàn cõi Đông Dương. Còn vụ đụng đầu lịch sử với Mỹ thì sự thật này phải được theo dõi trên hai bình diện quốc nội và quốc tế. Trên bình diện quốc nội, cuộc Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa Tết Mậu Thân 1968 đã nói lên tất cả. Võ Nguyên Giáp đã “nướng” 55.000 quân trong chiến dịch hồ đồ này. Quân lực miền Nam đã đánh tan đoàn quân xâm lăng và đã làm thui chột ý chí bành trướng của Hà Nội. Hình ảnh hào hùng của các trận Quảng trị và An Lộc là những giấc mơ hãi hùng của kẻ đi chiếm đất Trên bình diện quốc tế, Mỹ bỏ miền Nam Việt Nam vì thay đổi chiến lược toàn cầu. Quyết định thay đổi đã xảy ra từ khi Thông Cáo Chung Thượng Hải được ký kết năm 1972. Kế hoạch khai tử nền cộng hòa miền Nam Việt Nam là miếng mồi nhử tẩm thuốc độc làm cho Lên Xô suy nhược và đi đến sụp đổ.  Có hai ý nghĩa trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Nếu vì độc lập dân tộc thì đó là một cuộc chiến chống thực dân. Còn nếu vì muốn xây dựng chế độ cộng sản thì đó là một cuộc chiến tranh chống tự do. Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản của ông đã lựa chọn con đường thứ hai. Con đường này đã được thực tiễn kiểm nghiệm và chứng nghiệm như là một thảm họa cho nhân loại. Đem thảm họa về cho dân tộc, Hồ Chí Minh và những người cộng sản đã có tội rất lớn đối với tổ quốc. Giờ đây Hồ Chí Minh đã chết, nhưng Đảng Cộng Sản vẫn còn lây lất tồn tại đi theo giặc, để hại dân hại nước. Lúc này là cơ hội cuối cùng để họ phản tỉnh và chuộc tội. Hãy trở về đồng hành với dân tộc, hãy chia tay với “16 chữ vàng gian xảo”, hãy ly khai với chế độ toàn trị để tạo thế mạnh “cứu nước” và để dân tộc có thể nhanh chóng hội nhập thế giới văn minh. Đây vừa là lẽ phải vừa là mệnh lệnh của thời đại. Nguyễn Cao Quyền Tháng 6 năm 2014
Việt Nam không dám kiện thì Trung Quốc đi kiện trước
Ngoc Nhi Nguyen (Danlambao) - Sau 1 tháng rưỡi giàn khoan HD 981 của Trung Quốc ngang nhiên cắm ngay vùng biển đặc quyền của Việt Nam, mà Việt Nam vẫn im thin thít không dám kiện ra tòa quốc tế, vẫn hô hào "kiềm chế" mặc dù bị xịt nước, bị đâm lủng thuyền và ngư dân bị ném đá bể tàu, chết người, quan chức CSVN vẫn hô hào quan hệ hữu nghị tốt và hợp tác toàn diện với Trung Quốc, thì Trung Quốc lại tiếp tục ngang nhiên đem Việt Nam ra Liên Hiệp Quốc kiện trước.
Sau đây là bài dịch về việc TQ kiện Việt Nam ra LHQ vào ngày thứ hai vừa qua.
Trung Quốc đưa vấn đề tranh chấp giàn khoan dầu với Việt Nam lên Liên Hiệp Quốc
Bắc Kinh chỉ trích Hà Nội vi phạm chủ quyền của Trung Quốc và làm gián đoạn hoạt động khoan bằng cách gửi tàu vũ trang phá và đâm tàu của Trung Quốc.
Trung Quốc đã đưa tranh chấp với Việt Nam trong việc triển khai một giàn khoan dầu ở vùng biển Đông lên Liên Hiệp Quốc, cáo buộc Hà Nội xâm phạm chủ quyền và gây ảnh hưởng bất hợp pháp hoạt động khoan dầu của một công ty Trung Quốc.
Phó Đại sứ Trung Quốc Wang Min đã gửi một "giấy vị trí" về hoạt động của giàn khoan ở Biển Đông đến Tổng thư ký Ban Ki-moon hôm thứ Hai và yêu cầu giám đốc của Liên Hợp Quốc chuyển tới 193 thành viên của Đại hội đồng.
Trung Quốc đã gửi các giàn khoan vào vùng biển tranh chấp vào ngày 01 tháng 05, khởi nguồn một cuộc đối đầu với tàu Việt Nam. Khiếu nại từ Hà Nội và các cuộc biểu tình đường phố đã biến thành cuộc bạo loạn đẫm máu chống Trung Quốc. Hàng trăm nhà máy đã bị hư hỏng và Trung Quốc cho biết trong bài báo rằng bốn công dân Trung Quốc đã bị "giết chết 1 cách tàn nhẫn" và hơn 300 người bị thương.
Khu vực có dầu nằm ở khoảng 32km từ quần đảo Hoàng Sa do Trung Quốc kiểm soát mà Việt Nam cũng tuyên bố có chủ quyền, và 278km từ bờ biển Việt Nam.
Theo bài báo, Tổng công ty Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia của nhà nước Trung Quốc đã tiến hành các hoạt động địa chấn, khảo sát cũng trong khu vực trong 10 năm qua và các hoạt động khoan "là sự tiếp nối của quá trình bình thường của cuộc thám hiểm và cũng nằm trong chủ quyền của Trung Quốc và nằm trong quyền tài phán".
Trung Quốc cáo buộc Việt Nam làm gián đoạn hoạt động của giàn khoan 1 cách "bất hợp pháp và bạo lực", bằng cách gửi tàu vũ trang ra đâm tàu Trung Quốc.
"Việt Nam cũng gửi người nhái và các thợ lặn dưới nước đến khu vực, và thả 1 số lớn thiết bị gây cản trở, bao gồm cả lưới đánh cá và các vật nổi trong nước".
Tờ báo cho biết hành động của Việt Nam đã vi phạm chủ quyền của Trung Quốc, tạo ra "mối đe dọa nghiêm trọng" cho nhân viên của Trung Quốc trên các giàn khoan và vi phạm luật pháp quốc tế bao gồm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.
Tờ báo trích dẫn nhiều tài liệu tham khảo để chứng minh tuyên bố của mình rằng những hòn đảo "là một phần vốn có của lãnh thổ Trung Quốc, trên đó không có tranh chấp".
Nhiều cuộc điện thoại gọi đến Đại sứ của Liên Hợp Quốc của Việt Nam và bình luận phát ngôn viên để phỏng vấn, đã không được trả lời.
Việt Nam, trong khi không có hy vọng cạnh tranh với Trung Quốc về quân sự, cho biết ngay sau khi giàn khoan biển sâu đáng giá 1 tỷ USD được triển khai, đã muốn có một giải pháp hòa bình với Trung Quốc, nhưng một quan chức hàng đầu của Việt Nam cảnh báo rằng "tất cả sự kiềm chế cũng có một giới hạn".
Phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Hua Chunying hôm qua tuyên bố mạnh mẽ đối với Hà Nội, nói rằng Bắc Kinh đã phải đi đến Liên Hiệp Quốc để bảo vệ vị thế của mình.
"Một mặt, họ thực hiện sự cản trở tại chỗ. Mặt khác, họ lan truyền tin đồn trong cộng đồng quốc tế, lăng mạ và tấn công Trung Quốc", bà nói tại một cuộc họp thường xuyên tại Bắc Kinh.
"Vì điều này, chúng tôi thấy cần phải nói với thế giới về những gì thực sự đã xảy ra để đem lại sự thật."
Trung Quốc bày tỏ sự không hài lòng ngày thứ hai sau khi quân đội Việt Nam và Philippines chơi bóng đá và bóng chuyền vào chủ nhật trên một hòn đảo đang tranh chấp ở quần đảo Trường Sa, với Bộ Ngoại giao lên án các hoạt động như "một trò hề".
Một tài liệu chính thức phát hành vào cuối tuần cáo buộc Việt Nam đâm tàu của Trung Quốc hơn 1.000 lần trong tranh chấp giàn khoan dầu, nhưng cho biết Bắc Kinh đã nhịn vì muốn quan hệ tốt với hàng xóm của mình.
Trung Quốc quốc tế hóa tranh chấp biển Đông
Zachary Keck * Ngoc Nhi Nguyen (Danlambao) dịch - Trung Quốc quốc tế hóa tranh chấp với Việt Nam về một giàn khoan dầu ở Biển Đông một cách hiệu quả, bằng cách gửi yêu sách của mình đối với Hà Nội tới Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, vào ngày thứ hai vừa qua.
Như Shannon báo cáo ngày hôm qua, trên tờ Chủ Nhật Trung Quốc, Bộ Ngoại giao TQ phát hành một tuyên bố được mang tên " Các hoạt động của giàn khoan HYSY 981: khiêu khích của Việt Nam và vị trí của Trung Quốc", chỉ trích hành động khiêu khích của Việt Nam trên các giàn khoan dầu và cung cấp các " phác thảo toàn diện nhất cho đến nay của Trung Quốc nhằm tuyên bố chủ quyền quần đảo Hoàng Sa."
Cuối ngày hôm qua, tuyên bố đó đã được đăng trên trang web của Phái đoàn thường trực của Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc. Theo hãng tin AP, vào thứ hai Phó Đại sứ Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc, Wang Min, gửi giấy đến Tổng thư ký Ban Ki-moon và yêu cầu ông chuyển giao nó cho tất cả các thành viên của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.
Trên bề mặt, quyết định của Trung Quốc gia tăng tranh chấp tại Liên Hiệp Quốc là khá khó hiểu. Trung Quốc đã nhiều lần và liên tục chỉ trích yêu sách của các nước khác trong tranh chấp hàng hải, cũng như trách cứ phía thứ ba như Hoa Kỳ, và tuyên bố Trung Quốc không muốn "quốc tế hóa" vấn đề. Trung Quốc từng bị chỉ trích là trong các tranh chấp chỉ đơn thuần là nâng cao vấn đề này tại các diễn đàn khu vực như Đối thoại Shangri-La hay hội nghị thượng đỉnh của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Ngoài ra, Bắc Kinh đã từ chối đáp ứng các trường hợp Philippines đã nộp cho Tòa án Thường trực của Liên Hợp Quốc xin Liên Hiệp Quốc làm trọng tài vấn đề tranh chấp lãnh thổ của Manila với Bắc Kinh ở Biển Đông.
Thay vào đó, Trung Quốc đã chủ trương rằng các bên tranh chấp với Trung Quốc bao gồm Việt Nam hãy giải quyết vấn đề chủ quyền thông qua trực tiếp, đàm phán song phương, nơi ảnh hưởng của Bắc Kinh trên các nước láng giềng là lớn nhất.
Lý do Trung Quốc quốc tế hóa tranh chấp giàn khoan dầu với Việt Nam gần quần đảo Hoàng Sa có khả năng là không có tranh chấp lãnh thổ thực sự trong trường hợp đó. Trung Quốc hiện đang quản lý các quần đảo Hoàng Sa và do đó đã từ chối thừa nhận rằng tranh chấp lãnh thổ tồn tại ở đây. Thay vào đó, những nỗ lực của Việt Nam để ngăn chặn Trung Quốc thiết lập một giàn khoan dầu được miêu tả bởi Bắc Kinh là xâm lược không kiềm chế, và cho rằng Liên Hiệp Quốc là nơi để giải quyết vấn đề này.
Trong thực tế, quyết định của Trung Quốc để nêu vấn đề tại Liên Hiệp Quốc có thể phản ánh mối quan tâm ngày càng tăng của Bắc Kinh về việc các nước láng giềng sử dụng luật pháp quốc tế để phủ nhận ưu thế quân sự của Trung Quốc. Bên cạnh trường hợp của Philippines đề cập ở trên, Việt Nam đã đe dọa sẽ kêu gọi trọng tài quốc tế để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa kể từ khi giàn khoan dầu hàng bắt đầu từ tháng trước. Làm như vậy, Việt Nam có thể sẽ có sự hỗ trợ của Nhật Bản, Úc và Hoa Kỳ, trong số các nước khác.
Bằng cách chủ động nâng cao vấn đề lên một cơ quan quốc tế và phác thảo tuyên bố của mình về chủ quyền, Trung Quốc có khả năng ngăn cản Việt Nam từ bỏ các hoạt động trên các mối quan hệ để thu hút dư luận và luật pháp quốc tế. Chiến lược này có vẻ hiển nhiên như phác thảo rộng rãi tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, ngoài ra Trung Quốc cũng nỗ lực liên kết các yêu sách này của mình với các điều ước quốc tế khác như UNCLOS.
Một mặt, chiến lược này có ý nghĩa đối với quần đảo Hoàng Sa, nơi tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc là khá mạnh. Do đó, Bắc Kinh đang gần như chắc chắn hy vọng rằng triển vọng thua sẽ buộc Việt Nam phải từ bỏ các mối đe dọa kiện cáo, và sự thất bại của những nỗ lực của Hà Nội trong việc sử dụng luật pháp quốc tế sẽ ngăn chặn các quốc gia khác làm theo tương tự.
Đây là một canh bạc nguy hiểm, nếu như Trung Quốc quốc tế hóa tranh chấp và tin vào luật pháp quốc tế là cơ sở để tuyên bố chủ quyền và giải quyết tranh chấp . Trong khi điều này có thể làm lợi cho Trung Quốc trong tranh chấp với Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, chín đoạn tuyên bố đường lưỡi bò của Bắc Kinh nói chung về cơ bản là mâu thuẫn với luật pháp quốc tế. Do đó, Trung Quốc có nguy cơ sẽ thua trong các trường hợp khác.
Điều thú vị là Phó Đại sứ Wang cũng có bài phát biểu vào hôm thứ Hai tại một cuộc họp kỷ niệm kỷ niệm 20 năm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS). Theo một bảng điểm bằng tiếng Anh được xuất bản trên trang web của Liên Hợp Quốc của Trung Quốc, bài phát biểu của Wang không trực tiếp đề cập đến Việt Nam hoặc vùng biển Nam Trung Quốc. Thay vào đó, Wang ca ngợi UNCLOS và nói rằng Trung Quốc tuân thủ đầy đủ các hiệp ước, trước khi thêm rằng đó là "quyền lợi hợp pháp của các quốc gia độc lập là lựa chọn một cách để giải quyết hòa bình các tranh chấp."
Cùng lúc đó, Wang cũng làm rõ:
"Chính phủ Trung Quốc tin rằng cách hiệu quả nhất để giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp hàng hải là đàm phán và tham vấn giữa các bên trực tiếp liên quan đến việc tranh chấp trên cơ sở tôn trọng sự thật lịch sử và luật pháp quốc tế. Đây cũng là những gì đa số các quốc gia đã thành công trong giải quyết tranh chấp hàng hải của họ [nhấn mạnh]"
Nhận xét của Wang cho thấy rõ ràng rằng Trung Quốc đã không thay đổi vị trí chung trên các tranh chấp hàng hải, và các bài phát biểu là có thể là Trung Quốc muốn cảnh báo thực tế này cho các quốc gia khác.
Ủng hộ Nguyễn Tấn Dũng có Lợi hay có Hại?VN-NGUYEN TAN DUNG BECOME UNTRUSTFUL
Ngọc Ẩn (Danlambao) - Chúng ta hãy phân tích lợi và hại khi ủng hộ hay không ủng hộ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng? Sau khi Tàu khựa kéo giàn khoan vào lãnh hải VN thì những bộ mặt bán nước được phơi bày rõ nét. Nguyễn Phú Trọng, Phùng Quang Thanh, Tô Huy Rứa, Lê Thanh Hải là những tên bán nước và làm nô tài của khựa. Bọn này giữ im lặng hay lên tiếng làm nhẹ đi hành động xâm lược của Hán tộc như tên tướng hèn Phùng Quang Thanh. Chỉ có I mỗi ông thủ tướng Dũng dám lên tiếng chống khựa thì người dân ủng hộ ông là lẽ đương nhiên, các bạn có chống lại cũng bằng thừa chi bằng cứ hùa theo dân. Đối với những nhà đấu tranh dân chủ trong và ngoài nước thì quyết định ủng hộ hay chống đối ông Dũng là một chọn lựa rất cân não, rất khổ não. Chọn lựa giữa ủng hộ hay không có thể so sánh với sự chọn lựa làm thuyền nhân vượt biển tỵ nạn cộng sản và chấp nhận bị hải tặc hãm hiếp, cướp, giết hay sẽ đến một nơi chưa biết nào đó và làm lại cuộc đời từ đầu. Mặt tiêu cực của ủng hộ
Ông Dũng vẫn là một cán bộ CS và thờ lạy HCM và những tên CS khác thì cũng thế.
Ông Dũng làm kinh tế thì phá sản. Theo ông thì dân đói khổ
Ông Dũng là một nhà chính trị gian hùng. Nguyễn Phú Trọng đã bao lần muốn hạ bệ ông mà không làm nỗi. Lần này thì NPT phải nhờ đến Tàu khựa để hạ ông Dũng. Dĩ nhiên ông Dũng rất muốn hạ bệ ông Trọng nhưng cũng không làm nỗi.
Ông Dũng và tập đoàn cộng sản bỏ tù nhiều nhà đấu tranh dân chủ thì hà cớ gì mà ủng hộ ông?
Ông Dũng là một anh y tá quèn đâu xứng đáng để được ủng hộ.
Mặt Tích Cực
Ủng hộ có điều kiện. Ủng hộ ông Dũng với đìều kiện là ông Dũng khi có thêm sức mạnh thì phải cách chức Phùng Quang, Tô Huy Rứa, Nguyễn Phú Trọng, Lê Thanh Hải. Phải thả tất cả tù nhân chính trị, phải công nhận quyền thành lập và hoạt động của công đoàn độc lập, phải dẹp bỏ điều luật hình sự 79,88, 258. Phải có tự do báo chí. Chúng ta có lý do rút lại sự ủng hộ và chống lại ông Dũng khi ông không tôn trọng lời cam kết.
Người dân ủng hộ ông Dũng với điều kiện đòi cách chức Phùng Quang Thanh là bước đầu phân hóa BCT đảng cộng sản. Khi lực lượng đấu tranh dân chủ chưa đủ mạnh thì hãy lợi dụng sự đối đầu trong nội bộ đảng CS để làm bọn họ tự thanh toán nhau. Lực lượng đấu tranh dân chủ không bị hao tổn lực lượng.
Muốn quy tụ quần chúng thì cần tổ chức biểu tình ủng hộ những tuyên bố chống khựa của ông Dũng. Đây là cách giúp người dân thực tập biểu tình mà bớt bị công an quấy phá. Nếu công an quấy phá biểu tình thì người dân có thể kết luận thủ tướng Dũng chỉ là một tên nô tài của Tàu khựa và là một tên đại bịp khi ông cấm dân ủng hộ ông. Dĩ nhiên là ông Dũng sẽ đính chính là do nhóm NPT, PQT đàn áp biểu tình khiến sự phân hóa càng trầm trọng thêm trong đảng CS.
Giặc Tàu đang lấn chiếm biên cương, những người lính ra trận chống giặc mà tên đại tướng cầm quân PQT là tên nội gián của khựa thì chắc chắn các chiến sĩ sẽ bị đâm sau lưng mà chết oan. Cách chức PQT là việc cấp bách.
Nguyễn Tấn Dũng là một chính trị gia gian hùng và có thực lực để chống lại nhóm gian hùng, bán nước NQT, PQT, THR. Có lẽ sự gian hùng của NTD sẽ có lợi khi dùng nó để đánh trả bọn đại bịp NPT và đàn em của Trọng.
Trong lịch sử thì Khổng Minh đã lợi dụng Châu Du để đánh Tào Tháo mặc dù Khổng minh chẳng ưa Châu Du và sau này Khổng Minh trở mặt chống Châu Du. Hồ Chí Minh đã lợi dụng người quốc gia và cả vua Bảo Đại để âm thầm du nhập chủ nghĩa CS vào VN và sau đó HCM ép vua Bảo Đại lưu vong. Nếu sau này người dân phải quay lại chống NTD thì vẫn tốt hơn chống lại cả NTD và NPT. Sau khi NTD và NPT đấm đá nhau thì đảng CSVN chắc chắn suy yếu.
Trong đảng CSVN có hai nhóm, một theo khựa và một chống khựa, ngoài biên giới thì khựa đang xâm chiếm, chưa có lực lượng thứ 3 nào đủ mạnh để chống cả hai nhóm trong đảng CS. Chọn lựa khó khăn nhất trong giai đoạn này của người dân là ủng hộ NTD để tiêu diệt NPT và PQT nhưng phải ủng hộ có điều kiện.
Ông NguyễnTấn Dũng đang bị nhóm NPT tấn công hãm hại, đàn em của ông ta đang bị nhóm NPT bỏ tù như Bầu Kiên bị xử 30 năm tù, Dương Chí Dũng bị xử tử hình, Dương Quý Ngọ tự tử. Cuộc đấu đá kéo dài khi nhóm NPT có khựa chống lưng thì số phận ông Dũng và gia đình sẽ tương tự như Bầu Kiên và Dương Chí Dũng, vì thế ông Dũng đang trong thế bị động để hợp tác có điều kiện. Ông Dũng cần sức mạnh của dân và Hoa Kỳ để chống lại nhóm NPT có khựa chống lưng. Giúp ông Dũng trong lúc này chỉ là một giai đoạn lợi dụng lẩn nhau. Ủng hộ ông Dũng như một quyết định làm thuyền nhân vượt biển, tìm sự sống trong cái chết và chúng ta phải quyết định trong trường hợp khi không còn giải pháp tốt hơn và cấp bách hơn.
Tôi đề nghị các bạn hãy kêu gọi tổ chức biểu tình ủng hộ thủ tướng Dũng qua các tuyên bố chống Tàu khựa và nhất là đừng quên yêu cầu thủ tướng cách chức Phùng Quang Thanh. Đây là cơ hội để quần chúng thực tập biểu tình và đặt ông Dũng và PQT vào thế đối đầu.
13/6/2014
Thoát Trung, phò Dũng: Một sai lầm bi đát !
Thoát Trung, nhưng coi chừng một sai lầm bi đát!
Nguyễn Gia Kiểng (Thông Luận) - “...Nguyễn Tấn Dũng có thể không phải là người nhiệt tình nhất với chính sách phục tùng Trung Quốc nhưng cũng không ai có thể thân Trung Quốc hơn ông. Muốn "thoát Trung" mà lại "phò Dũng" là rất sai, sai một cách bi đát…” *
Một tháng rưỡi đã trôi qua kể từ ngày Bắc Kinh đưa giàn khoan vào vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Giàn khoan vẫn còn đó những dư luận thế giới đã ngoảnh sang những vấn đề khác. Bắc Kinh đã thành công một bước trong tiến trình bình thường hóa sự chiếm đoạt các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Bước tiến này mở đường cho những hành động lấn chiếm khác.
Hành động của Bắc Kinh đáng lẽ là một sự dại dột và đã phải thất bại bẽ bàng; không những thế còn tạo cho Việt Nam một cơ hội để tái khẳng định chủ quyền trên Hoàng Sa, Trường Sa và các quyền lợi chính đáng trên Biển Đông theo qui định của luật pháp quốc tế. Trong những ngày đầu khi Trung Quốc vừa đưa giàn khoan HD-981 vào hải phận Việt Nam lập trường của các chính phủ -Hoa Kỳ, Châu Âu cũng như các nước trong khu vực Thái Bình Dương- đã đồng thanh lên án hành động của Trung Quốc như là một sự khiêu khích. Ngược lại không một quốc gia nào bênh vực Trung Quốc cả. Một cách mặc nhiên thế giới đã nhìn nhận Hoàng Sa và vùng biển chung quanh không phải là của Trung Quốc, nghĩa là của Việt Nam hay ít nhất có thể được coi là của Việt Nam.
Điều gì sẽ xảy ra nếu Việt Nam phản ứng một cách mạnh mẽ, dù ôn hòa, đối với Trung Quốc và đưa vấn đề ra trước Liên Hiệp Quốc? Chắc chắn Trung Quốc sẽ xấc xược phủ nhận thẩm quyền của Tòa Án Công Pháp Quốc Tế (International Court of Justice) và cũng sẽ sử dụng quyền phủ quyết nếu Việt Nam đưa vấn đề ra Hội Đồng Bảo An. Nhưng đó là tất cả những gì mà chúng ta chờ đợi. Trung Quốc sẽ bị cô lập và lên án, chủ quyền của Việt Nam sẽ được thừa về mặt tình cảm, Trung Quốc sẽ phải trả giá đắt hơn nhiều nếu tái diễn sự khiêu khích. Có mọi triển vọng là họ không dám tái diễn vì Trung Quốc vừa rất lệ thuộc vào thế giới vừa không đủ mạnh để thách thức thế giới, hơn nữa lại đang sắp đi vào một cuộc khủng hoảng lớn. Tóm lại giàn khoan của Trung Quốc sẽ rút đi sau một vài tháng chi phí tốn kém, sau khi bị lên án và khiến Việt Nam được bênh vực.
Nhưng thực tế đã không như vậy bởi vì chính quyền cộng sản Việt Nam đã không có phản ứng. Hành động xâm lược của Trung Quốc vẫn tiếp tục và không còn lôi kéo sự chú ý của thế giới nữa. Lần sau nếu tình trạng này lặp lại sự chú ý của thế giới sẽ còn ít hơn. Lẽ phải lúc đó sẽ chỉ là lý của kẻ mạnh.
Những gì chính quyền CSVN đã làm, như phổ biến một thư luân lưu tới các thành viên LHQ một tháng sau khi sư kiện khởi đầu, một vài tuyên bố nguyên tắc và một số tàu cá và cảnh sát biển tới gần hiện trường, không đáng được coi là một phản ứng. Ngay cả nếu chính quyền CSVN muốn dâng biển và đảo cho Trung Quốc trong một thỏa hiệp ngầm họ cũng khó có thể phản ứng yếu hơn.
Hành động của Trung Quốc vừa là một hành động lấn chiếm vừa là một hành động chiến tranh bởi vì họ đem theo cả hàng trăm tàu chiến và đánh phá các tàu của Việt Nam, kể cả tàu của cảnh sát biển Việt Nam. Trước một biến cố nghiêm trọng như vậy bất cứ một chính quyền nào trên thế giới cũng đã phải thông tin và giải thích đầy đủ cho nhân dân biết những gì xảy ra qua thông điệp long trọng của quốc trưởng và thủ tướng cùng với những phát biểu của các bộ trưởng và các cấp lãnh đạo chính trị để động viên toàn dân đoàn kết trong cố gắng giữ nước, đồng thời lập tức đưa vấn đề ra công pháp quốc tế.
Nhưng chúng ta đã thấy gì?
Ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hoàn toàn không nói gì trước hội nghị trung ương của đảng cộng sản diễn ra đúng lúc Trung Quốc đang trắng trợn xâm phạm vùng biển Việt Nam và cũng không thấy có ủy viên trung ương đảng nào tỏ ra bức xúc. Hình như đối với ông Trọng và đảng cộng sản không có vấn đề gì cả.
Về phía nhà nước cả chủ tích nước lẫn thủ tướng đều không tuyên bố gì với quốc dân. Quốc hội cũng không có phản ứng. Ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang kêu ca trong một buổi tiếp xúc với cử tri một quận rằng "anh phải rút đi chứ, nhà tôi chứ đâu phải nhà anh!". Không khác gì một người dân oan trong số hàng triệu dân oan của chế độ. Ông chủ tịch thừa biết những tiếng kêu than này có tác dụng gì. Ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ nói trước hội nghị ASEAN một phần rất nhỏ những điều mà mọi người đều đã biết và cũng không dám kêu gọi hậu thuẫn của thế giới, sau đó cũng chỉ trả lời với ký giả nước ngoài, tại nước ngoài, rằng "không chấp nhận đánh đổi chủ quyền để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc".Không một cấp lãnh đạo quốc gia nào trong trường hợp Việt Nam khi ra nước ngoài và bị các ký giả chất vấn có thể nói yếu hơn.
Ông đại tướng bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh được một cơ hội bằng vàng để bảo vệ lập trường của Việt Nam khi tham dự Đối Thoại Shangri-La 13. Trước đó cả thủ tướng Nhật Shinzo Abe lẫn bộ trưởng quốc phòng Mỹ Chuck Hagel đều đã mạnh mẽ tố giác hành động của Trung Quốc và tuyên bố sẽ không để Trung Quốc lộng hành trên Biển Đông, sẽ sẵn sàng giúp các nước trong vùng, kể cả Việt Nam, phương tiện tự vệ. Một chính quyền Việt Nam quan tâm bảo vệ chủ quyền không thể mong đợi nhiều hơn. Tuy vậy ông Thanh đã tuyên bố rằng "quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp"và vụ giàn khoan HD-981 chẳng có gì nghiêm trọng vì "mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng". Chẳng khác gì bảo Mỹ, Nhật và thế giới đừng xía vào, hãy để mặc Việt Nam giải quyết với Trung Quốc. Nhưng giải quyết như thế nào? Ông Thanh chỉ dám "đề nghị Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam". Thật khó có thể có một bộ trưởng quốc phòng bất xứng hơn.
Bộ ngoại giao cũng không dám triệu tập đại sứ Trung Quốc để phản đối dù đây phản ứng nhẹ nhất trong trường hợp này. Các chính phủ triệu tập đại sứ trong những trường hợp không quan trọng hơn nhiều; thí dụ như Bắc Kinh đã triệu tập đại sứ Mỹ tại Trung Quốc để phản đối việc năm sĩ quan Trung Quốc bị tố giác là có hoạt động gián điệp. Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam là một đại sứ hay một thái thú? Tệ hơn nữa, bộ ngoại giao còn làm một việc rất vô ý thức là triệu tập đại điện sứ quán Trung Quốc (nhấn mạnh: đaị diện sứ quán chứ không phải đại sứ) sau khi một tàu cá Việt Nam bị đụng chìm ngày 26-5. Như vậy là việc Trung Quốc tìm dầu trong hải phận Việt Nam không nghiêm trọng bằng một chiếc tàu cá bị đụng chìm? Chỉ một tháng sau khi hành động xâm lược của Trung Quốc diễn ra phái bộ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc mới cho phổ biến một thư luân lưu đến đại diện các nước, nhưng đây cũng chỉ là một thông báo mà thôi chứ không kêu gọi một hành động quốc tế nào cả.
(Đến đây xin mở một ngoặc đơn. Sự nhu nhược này không phải do lỗi của bộ ngoại giao, mà là vì bộ ngoại giao không có quyền quyết định. Chính sách cũng như hành động đối ngoại hoàn toàn ở trong tay một một vài người trong bộ chính trị; những người này khống chế được bộ máy đảng và nhà nước và quyết định chính sách đối ngoại một cách hoàn toàn bí mật. Ngay cả những cấp lãnh đạo, kể cả đa số ủy viên trung ương đảng, cũng chỉ biết đến những thay đổi định hướng đối ngoại rất lâu sau khi chúng đã thành một thực tế. Cuối thập niên 1950 Lê Duẩn và Lê Đức Thọ quyết định theo Trung Quốc (để có thể phát động nội chiến) và thanh trừng những phần tử bị cáo buộc là "xét lại chống đảng" vì thân Liên Xô. Không ai biết. Gần mười năm sau họ đổi hướng 180 độ và theo Liên Xô chống Trung Quốc. Cũng không ai biết. Năm 1984 sau khi Liên Xô bối rối không bảo vệ được chế độ CSVN nữa, Nguyễn Văn Linh được đưa trở lại bộ chính trị rồi trở thành tổng bí thư để thực hiện chính sách đầu hàng và thần phục Trung Quốc cùng với Lê Đức Anh và Đỗ Mười. Vẫn không ai biết. Trí thức Việt Nam còn tung hô Nguyễn Văn Linh như một người của đổi mới mà không biết rằng ông ta chỉ là người của Trung Quốc).
Chính quyền CSVN đã không nói gì với nhân dân. Họ không cần giải thích gì cả bởi vì họ không thấy có một bổn phận nào đối với nhân dân Việt Nam cả; họ là một lực lượng chiếm đóng và thống trị chứ không phải là một chính quyền Việt Nam. Họ còn dùng bọn côn đồ - mà họ vẫn thường dùng để hành hung những người dân chủ - để gây bạo động và lấy đó làm cớ để cấm đoán những cuộc biểu tình của những người yêu nước phản đối hành động xâm lược của Bắc Kinh. Nếu họ thực sự là dụng cụ của Trung Quốc để bán đứng đất nước họ cũng không thể làm khác.
Chúng ta có thể tự hỏi tại sao Trung Quốc lại làm như vậy? Hành động của họ đáng lẽ phải là một hành động ngu xuẩn rất có hại cho họ, nhưng họ đã thành công bởi vì họ biết trước phản ứng của Hà Nội. Tất cả diễn ra như một kịch bản đã được chuẩn bị trước.
Không thể loại trừ khả năng là giữa Bắc Kinh và Hà Nội đã có những thỏa ước không được công bố và Bắc Kinh đã dựa vào đó để hành động. Nếu không thì không ai có thể giải thích tại sao chính quyền Hà Nội không đưa vấn đề ra công pháp quốc tế dù sau hơn 20 lần tiếp xúc vẫn chỉ nhận được một câu trả lời trịch thượng của Bắc Kinh là không có gì để thảo luận cả vì họ hoàn toàn đúng. Người ta có thể nghĩ như vậy khi đọc lại bản tuyên bố chung Việt – Trung ngày 21/06/2013 sau chuyến thăm viếng Bắc Kinh của ông Trương Tấn Sang:
"Hai bên hoan nghênh Thỏa thuận sửa đổi liên quan tới Thỏa thuận thăm dò chung trong khu vực thỏa thuận ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ được ký kết giữa doanh nghiệp hữu quan hai nước, nhất trí mở rộng diện tích khu vực thỏa thuận, kéo dài thời hạn thỏa thuận, cùng nhau thúc đẩy hoạt động thăm dò chung đối với cấu tạo dầu khí vắt ngang đường phân định trong Vịnh Bắc Bộ sớm đạt được tiến triển tích cực". (Tác giả tô đậm những cụm từ đáng chú ý).
Thỏa thuận sửa đổi nào? Thoả thuận thăm dò chung nào? Khu vực thỏa thuận nào? Mở rộng diện tích khu vực thỏa thuận tới đâu? Nhân dân Việt Nam không được biết, tất cả đều chỉ là những cam kết dấm dúi giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và quan thày Trung Quốc của họ. Cũng không nên quên câu nói của thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh - một người rất thận cận với ông Dũng đồng thời cũng là một trong những người nhiều quyền lực nhất hiện nay - đại diện Việt Nam trong cuộc đàm phán Việt – Trung năm 2012: "Việt Nam không còn bất cứ băn khoăn gì khi hợp tác với Trung Quốc trên mọi lĩnh vực ". Không còn bất cứ băn khoăn nào, vậy việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa và Trường Sa coi như đã xong? Nếu quả thực như thế thì Trung Quốc có quyền làm những gì họ đang làm. Có những lúc mà ngôn ngữ không đủ để nói lên sự ngạc nhiên và phẫn nộ.
Cũng đáng ngạc nhiên và thất vọng không kém là thái độ của nhiều trí thức Việt Nam. Họ chống ách lệ thuộc Bắc Kinh và muốn "thoát Trung" nhưng lại ủng hộ Nguyễn Tấn Dũng. Đối với họ Nguyễn Tấn Dũng là người tiến bộ, thân phương Tây và dám đối đầu với Bắc Kinh. Lý do là vì ông đã gửi con đi du học Mỹ, đã gửi thông điệp đầu năm nói tới "đổi mới thể chế" và "xây dựng dân chủ" và mới đây đã công khai phản đối việc Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, sau đó lại tuyên bố không chấp nhận quan hệ lệ thuộc.
Tại sao lại có thể nông cạn và dễ tính đến thế được? Việc ông Dũng gửi con sang du học tại Mỹ không chứng minh gì cả; phần lớn các lãnh tụ chóp bu Nga và Trung Quốc cũng làm như thế, chính bản thân Tập Cận Bình cũng đã thực tập tại Mỹ. Chính quyền Trung Quốc cũng vừa tiết lộ là có hơn một nghìn quan chức tỉnh Quảng Đông gửi con du học các nước phương Tây. Gửi con đi học tại Mỹ không có nghĩa là thân Mỹ. Mà dù có được đào tạo tại phương Tây cũng không có nghĩa là đã trở thành người dân chủ. Cho tới thập niên 1980 hầu như tất cả các chế độ Châu Mỹ La Tinh đều là những chế độ độc tài mafia do những kẻ tốt nghiệp tại các trường đại học Mỹ cầm đầu. Bachar al Assad, tên độc tài khát máu tại Syria, tốt nghiệp tại Anh. Giáo dục quả nhiên thay đổi cách suy nghĩ nhưng thường phải một hai thế hệ. Người ta cố tình gán cho Nguyễn Tấn Dũng những chủ trương mà ông không bao giờ có, hơn nữa còn chống lại một cách hung bạo. Có những vị hân hoan vì ông Dũng nói tới "phát huy dân chủ" trong bài thông điệp đầu năm, nhưng đó hoàn toàn chỉ là thứ dân chủ mà ĐCSVN đã nói tới từ thời Việt Nam Dân Chủ Công Hòa, nghĩa là dân chủ kiểu xã hội chủ nghĩa, cái dân chủ mà bà Nguyễn Thị Doan đánh giá là ưu việt gấp triệu lần dân chủ đa nguyên đa đảng. Hoàn toàn không có gì mới. Điều chắc chắn là ông Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố "nhất định không để nhen nhúm những tổ chức đối lập". Đó là xây dựng dân chủ? Cũng đừng quên rằng chính ông Dũng đã ký quyết định 97/2009/QĐ-TTg cấm phản biện và khai tử nhóm IDS.
 ...những lời tuyên bố mơ hồ, chung chung, vớ vẩn của ông Dũng "thể hiện đúng ý chí của nhân dân ta"... Ca tụng ông Dũng là dám chống Trung Quốc cũng chỉ là lấy mơ ước làm sự thực, hay tệ hơn nữa là tán tụng kẻ có quyền, một thái độ chẳng có gì đáng tự hào. Về vụ HD-981 ông Dũng đã chỉ nói một phần nhỏ những điều mà mọi người đã biết. Còn câu "không chấp nhận đánh đổi chủ quyền để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc"thì quả là vớ vẩn. Có gì là khảng khái? Ai có thể nói ngược lại? Ông Dũng còn phải cố gắng nhiều, rất nhiều, nếu muốn chứng tỏ thực tâm bảo vệ chủ quyền dân tộc.
Điều chắc chắn là ông Dũng đã góp phần quyết định đưa Việt Nam đi sâu vào thế lệ thuộc Trung Quốc. Lệ thuộc Trung Quốc là chọn lựa chiến lược của ĐCSVN từ giữa năm 1984 và là trách nhiệm chung của các bộ chính trị từ đó. Nhưng cũng có những điều chủ yếu thuộc trách nhiệm của hành pháp, nghĩa là thủ tướng. Như cho Trung Quốc thuê dài hạn rừng đầu nguồn; cho Trung Quốc thuê những vùng biển rộng lớn để khai thác hải sản; cho các doanh nghiệp Trung Quốc đưa công nhân ồ ạt sang Việt Nam và tổ chức như những khu riêng của người Hoa; cho người và hàng hóa Trung Quốc vào Việt Nam không kiểm soát; xuất khẩu hàng hóa Trung Quốc mang nhãn made in Vietnam sang Hoa Kỳ và Châu Âu đưa thâm thủng mậu dịch với Trung Quốc lên 24 tỷ USD; cho Trung Quốc trúng thầu gần hết các dự án và sau đó thi công một cách bê bối v.v. Cũng đừng quên Nguyễn Tấn Dũng là người bảo vệ dự án Bô-xit Tây Nguyên một cách quả quyết nhất, tuyên bố "dự án này phải tiếp tục vì là một chủ trương lớn của Đảng". Đinh Đăng Định chỉ có tội phản đối dự án này mà bị cầm tù tới chết. Riêng về điểm này phải nhìn nhận là ông Trương Tấn Sang đã tỏ ra có trách nhiệm hơn và phần nào đã bênh vực những người phản đối. Điếu Cày có tội gì mà bị xử tới 12 năm tù sau khi đã ở tù 3 năm? Anh chẳng viết hay tuyên bố gì đáng nói. Tội duy nhất của Điếu Cày là đã tổ chức những cuộc biểu tình chống ngọn đuốc Thế Vận Bắc Kinh 2008. Nguyễn Xuân Nghĩa bị xử 6 năm tù -và còn bị công an cho thường phạm đánh trong tù- chỉ vì căng những biểu ngữ "Hoàng Sa Trường Sa Việt Nam". Không thể nói rằng đây là chính sách của Đảng; chính sách phục tùng Trung Quốc là của Đảng nhưng sự hung bạo là của Nguyễn Tấn Dũng. Cũng không nên quan trọng hóa quá đáng vai trò của bộ chính trị. Ông Dũng chẳng coi bộ chính trị ra gì, bộ chính trị muốn kỷ luật ông mà không được, muốn đưa hai ông Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ vào bộ chính trị cũng không được. Nguyễn Tấn Dũng mạnh hơn bộ chính trị vì kiểm soát được đa số trong ban chấp hành trung ương. Ai thắc mắc điều này có thể nhìn vào những bản án dành cho Trần Huỳnh Duy Thức và Cù Huy Hà Vũ. Duy Thức sử dụng tài liệu do văn phòng Trương Tấn Sang cung cấp để tố cáo Nguyễn Tấn Dũng tham nhũng và lãnh 16 năm tù trước sự bất lực của phe Trương Tấn Sang, Hà Vũ đòi kiện Nguyễn Tấn Dũng về vụ Bô-xit và lãnh 7 năm dù thuộc diện con cháu công thần và được nhiều che chở ngay trong đảng. Bản hiến pháp mới vừa có hiệu lực từ đầu năm nay trong đó nét đậm nhất là rập khuôn theo chế độ Trung Quốc cũng là do ông Dũng đưa ra trước đại hội Đảng thứ 11; chỉ có điều là sau đó có quá nhiều vụ bê bối bị phát giác khiến ông không giành được chức tổng bí thư đảng như dự tính.
Cũng Nguyễn Tấn Dũng vừa ra chỉ thị cấm biểu tình phản đối Trung Quốc xâm phạm hải phận Việt Nam. Tại sao cấm những cuộc biểu tình chính đáng này? Và tại sao không thấy trí thức trong nước nào lên tiếng mạnh mẽ phản đối quyết định này? Ông Dũng viện cớ ngăn ngừa những bạo loạn như dã xảy ra tại Bình Dương, nhưng ai điều động bọn côn đồ đập phá? Bọn này rõ ràng là được công an bảo kê. Chúng chỉ có vài chục đứa mà dám đến các doanh nghiệp đòi phải để công nhân ngừng làm việc để đi biểu tình và khi được trả lời là công nhân đã đi biểu tình rồi thì đòi vào khám nhà máy xem còn công nhân không. Nhà máy cầu cứu thì được công an lời là "không thể làm gì cả". Tại sao công an lại không thể làm gì cả, trừ khi được lệnh cấm can thiệp? Rồi sau những thiệt hai to lớn đã có sĩ quan công an nào bị khiển trách không? Bình thường trước một sư kiện nghiêm trọng như vậy chính bộ trưởng công an phải tự kiểm điểm, thậm chí phải từ chức hoặc bị cách chức. Nên nhớ rằng công an hoàn toàn ở trong tay ông Dũng. Giải thích hợp lý nhất là chính ông Dũng đã tạo ra những cuộc bạo loạn này để có cớ cấm những cuộc biểu tình chống Trung Quốc. Nhưng giải thích này có thể chưa đủ. Có thể còn có cả sự phối hợp với Trung Quốc - cả trong vụ giàn khoan HD-981 lẫn những diễn tiến sau đó - để tạo ra một tình trạng căng thẳng vừa biện minh cho sự suy sụp kinh tế không thể che giấu được nữa vừa giúp Nguyễn Tấn Dũng lấy cớ vãn hồi an ninh trật tự làm một cuộc đảo chính – công khai hoặc ngầm - thu tóm mọi quyền lực trong tay và vô hiệu hóa các đối thủ. Rất có thể. Bởi vì Trung Quốc không thể tìm được một đồng minh lý tưởng hơn ông Dũng, ông vừa hợp tác tận tình với Trung Quốc vừa thẳng tay đàn áp những người chống Trung Quốc. Ai cũng phải thấy là vụ giàn khoan HD-981 đã chỉ có lợi cho Nguyễn Tấn Dũng.
Nguyễn Tấn Dũng có thể không phải là người nhiệt tình nhất với chính sách phục tùng Trung Quốc nhưng cũng không ai có thể thân Trung Quốc hơn ông. Muốn "thoát Trung" mà lại "phò Dũng" là rất sai, sai một cách bi đát.
Có thể nói gì thêm về Nguyễn Tấn Dũng?
Khi lên làm thủ tướng ông tuyên bố nếu không dẹp được tham nhũng ông sẽ từ chức. Thực tế là tham nhũng không giảm đi, cũng không thể nói là tăng lên, mà phải nói là đã bùng nổ dưới chính phủ của ông Dũng. Hối lộ, vơ vét, móc ngoặc, mua quan bán chức đã trở thành qui luật dưới chính quyền Nguyễn Tấn Dũng. Phải nói một cách thật rõ rệt: nếu không dẹp được tham nhũng thì đất nước không có tương lai. Nguyễn Tấn Dũng không dẹp mà còn giúp tham nhũng bành trướng. Như vậy không thể viện dẫn bất cứ lý do nào để ủng hộ ông.
Ông Dũng đã khởi xướng ra "sáng kiến" dùng bọn côn đồ làm cánh tay nối dài của công an để hành hung dân oan và những người dân chủ. Tôi được nghe hai tiếng "đầu gấu" lần đầu tiên từ ông Hoàng Minh Chính qua điện thoại năm 2002. Ông Chính cùng các thân hữu tới tòa án ủng hộ Lê Chí Quang đang bị xét xử. Ông la lên: "Chúng nó dùng bọn đầu gấu đánh anh em dân chủ!". Lúc đó ông Dũng vừa lên làm phó thủ tướng nhưng quyền lực át hẳn ông thủ tướng rất lu mờ Phan Văn Khải. Vài năm sau chính ông Hoàng Minh Chính cũng bị bọn đầu gấu xô đẩy và bị ném đồ dơ bẩn khi đi chữa bệnh ở Mỹ về, người nhà bị hành hung. Hiện tượng đầu gấu liên tục phát triển cùng với quyền lực của ông Dũng, đến mức giờ đây khó phân biệt công an và côn đồ. Hầu như không có người dân chủ trẻ nào không bị đánh, kể cả các phụ nữ như Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Hoàng Vi.
Dưới chính quyền của ông Dũng công an trở thành hung bạo. Hiện tượng tra tấn nghi can, dùng thường phạm đánh chính trị phạm trong nhà tù, đánh người, thậm chí đánh chết người, trong đồn công an ngày càng trở thành bình thường. Đó chủ yếu là thành quả của ông Dũng. Không thể nói rằng trách nhiệm của ông Dũng chỉ là đã không kiểm soát được công an. Ông nắm rất vững lực lượng công an, ông xuất thân là một công an và từng là thứ trưởng trực bộ công an. Công an không thể làm những gì mà ông cấm.
Nhiều người nói hãy cứ tập trung phát triển kinh tế rồi sẽ có dân chủ. Những người này không hiểu kinh tế và nói bậy. Nhưng ngay cả như thế thì Nguyễn Tấn Dũng cũng không phải là người lãnh đạo quốc gia chấp nhận được. Ông tỏ ra rất thiếu bài bản về kinh tế.
Một vài thí dụ:
-Ít lâu sau khi chính thức lên làm thủ tướng ông sang thăm Mỹ và tìm gặp Alan Greenspan, vừa mãn nhiệm kỳ chủ tịch ngân hàng trung ương Mỹ, để chiêm ngưỡng một thiên tài kinh tế. Chỉ một thời gian ngắn sau thế giới nhận ra Alan Greenspan là thống đốc tồi nhất từ một thế kỷ và đã gây ra cuộc khủng hoảng toàn cầu chưa từng có.
- Cuối năm 2007 ông Dũng tung ra 150 nghìn tỷ đồng để mua 9 tỷ USD làm cả nước điêu đứng vì vật giá tăng vọt, lý do là để "hỗ trợ đồng đô la" vì sợ hối suất đồng đô la Mỹ sẽ giảm sút nghiêm trọng so với đồng tiền Việt Nam; dự đoán này sai một cách lố bịch vì điều ngược lại đã xảy ra. Đồng đô la lúc đó bằng 15.000 đồng Việt Nam, ngay sau đó nó đổi lấy 18.500 đồng.
- Cuối năm 2008 chính phủ của ông Dũng trổ tài một lần nữa. Thấy thực phẩm lên giá đột ngột họ ra lệnh cấm xuất cảng gạo vì nghĩ rằng giá gạo sẽ còn tăng thêm và sợ bán hố. Sau đó thì giá gạo xuống nhanh và nông dân khốn khổ. Thực ra giá thực phẩm chỉ biến động trong một thởi gian ngắn, ngay lúc ông Dũng lấy quyết định ngớ ngẩn đó thị trường gạo đã trở lại bình thường rồi.
- Năm 2009 ông Dũng tung ra "gói kích cầu" 8 tỷ USD để kích thích tăng trưởng kinh tế. Theo lời bộ trưởng Kế Hoạch và Đầu Tư Bùi Quang Vinh thì số tiền 8 tỷ USD này đã mất toi và "doanh nghiệp bây giờ chết hết rồi".
Sai lầm tai hại nhất của ông Dũng là lập ra những tập đoàn lớn, bắt chước các chaebol của Hàn Quốc dù không có những cấp lãnh đạo tương xứng và cũng không có cả những công ty đúng nghĩa. Kết quả là tất cả 127 tập đoàn đều lỗ nặng vì chỉ là những ổ lãng phí và tham nhũng. Chúng đang gánh một tổng số nợ gần 100 tỷ USD. Ai sẽ trả cái giá kinh khủng của sự ngu dốt này nếu không phải là thế hệ đang lớn lên? Trung bình mỗi người Việt Nam sẽ phải trả 1000 USD (22 triệu đồng) vì sự bất tài, tham nhũng và tính vĩ cuồng của chính quyền Nguyễn Tấn Dũng. Trong kỷ nguyên tri thức này không một quốc gia nào có thể chấp nhận một người lãnh đạo thiếu hiểu biết như ông Dũng mà không tàn lụi. Ngày nay người ta không còn có thể nói là đã có các cố vấn vì các vấn đề đã trở thành quá phức tạp và các dữ kiện thay đổi quá nhanh chóng. Muốn tuyển chọn các cố vấn có thực tài và sau đó trọng tài giữa các đề nghị phức tạp thì bắt buộc phải có một trình độ nào đó mà ông Dũng hoàn toàn không có.
Điều quan trọng cần được đặc biệt lưu ý là Việt Nam vừa để mất một cơ hội bằng vàng để vươn lên. Năm 2007, sau khi Việt Nam gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới vốn và kỹ thuật nước ngoài đã ồ ạt đổ vào nước ta. Khối lượng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam lớn hơn tổng số đầu tư vào tất cả các nước trong vùng. Khối lượng đầu tư nước ngoài to lớn này có lúc đã tạo ra ảo tưởng, nhưng sau đó sự bất tài, tham nhũng và những vụ án chính trị thô bạo đã khiến các nhà đầu tư chán ngán bỏ đi. Họ sẽ chỉ trở lại nếu Việt Nam thay đổi chế độ chính trị.
Đặc tính nổi bật và phải lên án nhất của ông Dũng là sự hung bạo đối với những người dân chủ. Những vụ trước đây bị xử 2 hoặc 3 năm – như thế đã là rất thô bạo vì các nạn nhân hoàn toàn vô tội - có thể bị xử trên 10 năm trong mấy năm gần đây sau khi ông Dũng đã thu tóm được phần lớn quyền lực trong tay. Vào năm 2007 Lê Thị Công Nhân bị xử 3 năm tù, Nguyễn Văn Đài 4 năm, nhưng từ năm 2010 trở đi Trần Huỳnh Duy Thức bị xử 16 năm, Điếu Cày 15 năm, Tạ Phong Tần 10 năm, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng 9 năm, Đỗ Thị Minh Hạnh 7 năm. Sự hung bạo đã tăng gấp ba.
Tóm lại Nguyễn Tấn Dũng là một người rất thiếu kiến thức và khả năng, rất tham nhũng, rất tận tình với Trung Quốc và rất hung bạo đối với những người dân chủ và những người chống chính sách lệ thuộc vào Bắc Kinh. Hơn nữa còn là người đã gây thiệt hại lớn nhất - về mọi mặt kinh tế, xã hội, đạo đức và môi trường - cho đất nước từ hơn mười năm nay. Người ta có thể không dám đả kích ông Dũng vì ông là người đầy quyền lực và rất hung bạo, nhưng ủng hộ và ca tụng ông là chuyện khác.
Làm sao không khỏi phiền lòng khi đọc thư ngỏ của nhiều trí thức có uy tín đánh giá những lời tuyên bố mơ hồ, chung chung, vớ vẩn của ông Dũng "thể hiện đúng ý chí của nhân dân ta". Ý chí của nhân dân ta đâu phải chỉ có thế. Hay khi đọc lời thuật rằng "cuộc hội thảo về "thoát Trung" là do cảm hứng vì những lời tuyên bố của thủ tướng". Cảm hứng quá hời hợt. Và làm sao có thể thảo luận về "thoát Trung" nếu, như ban tổ chức yêu cầu, không được phép phê phán một chính quyền coi phụ thuộc Trung Quốc là điều kiện để tồn tại? Cần nhấn mạnh lệ thuộc Trung Quốc không phải là yêu cầu của nhân dân Việt Nam mà chỉ là nhu cầu sống còn của chế độ cộng sản.
Các trí thức đang ủng hộ ông Dũng và muốn ông Dũng có thế mạnh hơn nữa phải rất cảnh giác. Họ có thể sắp được mãn nguyện đấy, nhưng đó sẽ chỉ là một thảm kịch cho đất nước.
Để kết luận, xin có một lời cải chính nếu những gì vừa viết ở trên có thể khiến độc giả nghĩ rằng tôi bi quan. Không, tôi không hề bi quan. Trái lại tôi tin rẳng chúng ta có thể lạc quan. Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh lịch sử quan trọng, hạn kỳ dân chủ có thể rất gần.
Dù muốn hay không Trung Quốc cũng sẽ không thể là một chỗ dựa cho chế độ cộng sản Việt Nam nữa. Trung Quốc đã tích lũy quá đủ mâu thuẫn và khó khăn và đang sắp đi vào một cuộc khủng hoảng rất lớn. Khủng hoảng kinh tế, tài chính và môi trường. Khủng hoảng mô hình, chính trị, đồng thuận và căn cước. Chính sự thống nhất của Trung Quốc cũng sẽ không được bảo đảm. Trung Quốc sẽ phải dồn mọi cố gắng để lo cho chính mình và sẽ không còn sức lực và ý chí để tiếp tục chính sách bành trướng bá quyền. Dù muốn hay không quan hệ lệ thuộc Việt Trung cũng sẽ phải chấm dứt. Vấn đề lớn của chúng ta không phải là "thoát Trung" mà là "giải Cộng" nghĩa là chấm dứt chế độ độc tài đảng trị trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc.
Ngay cả nếu kịch bản Nguyễn Tấn Dũng thâu tóm mọi quyền lực xảy ra thì nó cùng lắm cũng chỉ có thể làm chậm lại đôi chút chứ không thể ngăn chặn tiến trình dân chủ hóa. Nó sẽ chỉ là một sự chuyển hóa từ độc tài đảng trị sang độc tài cá nhân, và sự chuyển hóa này cũng chỉ là một chặng đường quen thuộc trong tiến trình đào thải của các chế độ độc tài.
Chúng ta còn một lý do quan trọng khác để tin tưởng: một tầng lớp trí thức chính trị, tầng lớp mà chúng ta chưa bao giờ có trong suốt dòng lịch sử, đang hình thành. Đó là những trí thức trẻ. Họ hiểu biết về chính trị và tình hình thế giới hơn hẳn thế hệ cha anh, không ràng buộc với chế độ, không khiếp sợ cũng không trông đợi gì ở bạo quyền và thẳng thắn chọn lựa dân chủ. Họ đã nắm được chìa khoá của tương lai, kể cả tương lai rất gần. Sự chuyển giao thế hệ sắp hoàn tất. Đất nước phải thay đổi vì đã thay da đổi thịt.
Kỷ nguyên tự do dân chủ sắp mở ra và các thế hệ mai sau sẽ nhận diện những con người của đất nước hôm nay. Ở thời điểm này quỵ lụy, luồn cúi không chỉ là bệ rạc mà còn là dại dột.
Nguyễn Gia Kiểng
Dân chê đại biểu quốc hội dốt
Dân chê đại biểu quốc hội dốt
CTV Danlambao - "Sao đại biểu quốc hội dốt thế?", đó là ý kiến cử tri vừa được hai vị đại biểu Nguyễn Bá Thuyền và Đỗ Văn Đương nêu ra trong nghị trường hôm 13/6, phiên họp bàn về nội dung sửa đổi việc lấy phiếu tín nhiệm. Trước đó, 500 đại biểu quốc hội đã nhận được một bức thư của Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng, thông báo dừng việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do quốc hội bầu ra, nhưng không nêu rõ lý do vì sao dừng. Đại biểu quốc hội 'dốt'.jpg) | | Đại biểu quốc hội Nguyễn Bá Thuyền |
Theo báo Người Lao Động, phát biểu tại cuộc họp, ông Nguyễn Bá Thuyền lên tiếng công kích việc duy trì 3 mức tín nhiệm từng được áp dụng trước đó là: Tín nhiệm cao, tín nhiệm, tín nhiệm thấp. Vị đại biểu đoàn Lâm Đồng ví von 3 mức tín nhiệm này giống như chuyện vợ chồng với 3 mức: "Chung thủy cao, chung thủy và chung thủy thấp". Khi ông chồng lăng nhăng, bà vợ đòi sửa lại thành 2 mức "Chung thủy hoặc bồ bịch". Ông chồng không nghe, vẫn đòi giữ lại 3 mức như cũ. Ông Thuyền mỉa mai: "Bà vợ bảo ngay: dây thần kinh của ông bị đứt à?"Đại biểu Nguyễn Bá Thuyền cho biết, việc lấy phiếu tìn nhiệm hàng năm được cử tri ủng hộ nhưng nay quốc hội lại bỏ. Trong khi 3 mức tiến nhiệm bị dân chê thì vẫn được giữ lại. "Chúng tôi đi tiếp xúc cử tri, họ bảo đại biểu Quốc hội sao dốt thế nhỉ?”, ông Thuyền chua chát thừa nhận. Đồng tình với đại biểu Nguyễn Bá Thuyền, Ủy viên Thường trực Ủy ban Tư pháp của Quốc hội - ông Đỗ Văn Đương nói: “Đúng như anh Nguyễn Bá Thuyền nói, tôi gặp cử tri họ nói sao đại biểu Quốc hội dốt thế, tôi cũng chỉ nói là sẽ cố gắng nghiên cứu”. Lấy phiếu tín nhiệmTheo nghị quyết 35 về việc lấy phiếu tín nhiệm của quốc hội, 49 chức danh lãnh đạo chủ chốt gồm chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch quốc hội... và các bộ trưởng sẽ được tổ chức lấy phiếu tín nhiệm hàng năm tại quốc hội. Kỳ lấy phiếu tín nhiệm lần đầu tiên được diễn ra vào kỳ họp quốc hội hồi tháng 5/2013, nội các do thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu khi đó đã phải nhận kết quả thảm bại. Thậm chí, thống đốc ngân hàng nhà nước Nguyễn Văn Bình đã phải 'đội sổ' với 209 phiếu tín nhiệm thấp. Dự kiến, việc lấy phiếu tiếp theo sẽ được diễn ra trong kỳ họp quốc hội tháng 6, năm 2014. Tuy nhiên, gần đến ngày khai thì chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thông báo kỳ họp quốc hội lần này sẽ không tổ chức lấy phiếu tín nhiệm mà không giải thích rõ lý do. Tại kỳ họp lần này, việc lấy phiếu tín nhiệm được đề nghị sửa đổi thành 4 năm một lần, tức sau mỗi nhiệm kỳ đối với các vị trí lãnh đạo chủ chốt. * Mặc dù tự nhận là một 'cơ quan quyền lực cao nhất do nhân dân dân bầu ra', quốc hội Việt Nam trên thực tế là một cơ quan không có thực quyền. Chính phủ Việt Nam do đảng cộng sản nắm quyền hoàn toàn kiểm soát và chi phối các hoạt động của quốc hội. Cơ quan này từ khi thành lập cho đến nay vẫn thường xuyên bị người dân gọi là 'quốc hội bù nhìn'. Đáng chú ý, đây là lần đầu tiên nghị trường quốc hội xuất hiện một ý kiến phê phán mạnh mẽ của nhân dân, trong đó trình độ và năng lực đại biểu quốc hội bị chê là 'dốt'. CTV Danlambaodanlambaovn.blogspot.com
Quan niệm của ý đảng và lòng dân về cái quyền tự do ngôn luận
Nguyễn Dư (Danlambao) - Khi bước vào diễn đàn tự do ngôn luận, chúng ta nên tập làm quen, không cần thiết phải tức tối, thắc mắc, nóng giận vì khác quan điểm với những bài viết nặc danh, vô danh, chính danh hay của một bút danh ABC nào đó. Cái mà chúng ta nhắm đến là sự việc đáng bàn, cần bàn, đáng tranh luận hay không cần thiết phải tranh luận. Vì là diễn đàn tự do cho nên người viết muốn viết gì thì viết kể cả chửi tục, viết bậy, nói ngược, đổi trắng thay đen...; còn người chủ bút đôi khi không đồng quan điểm cho nên muốn đăng hay không là quyền của họ. Nếu người chủ bút của một tờ báo không đồng quan điểm với bài viết, họ có quyền cân nhắc nên không cho đăng, không có nghĩa là họ bịt miệng người viết mà là họ thấy quan điểm đó không cần thiết để công bố trên diễn đàn tự do. Người viết có quyền gởi cho báo khác hay thành lập một trang báo cá nhân. Pháp luật của quốc gia thật sự là dân chủ không cấm, ngược lại còn khuyến khích, bảo vệ. Điều quan trọng là người ta có đọc hay không, hay chỉ mới nghe đến cái tên thôi thì là muốn bỏ chạy mất dép.
Muốn viết sao thì viết nhưng cần phải thận trọng. Khi chúng ta đụng chạm danh dự đến một người hay một tập thể nào đó mà làm cho họ phải thân bại, danh liệt rồi tiêu tan sự nghiệp thì coi chừng người ta truy tố trước pháp luật: một là bồi thường về tinh thần; hai là về vật chất. Về tinh thần thì cần phải chứng minh đối phương viết sai sự thật nào. Về vật chất thì phải có bằng chứng số lượng những gì đã thiệt hại. Không thể nói khơi khơi rồi kết tội người ta một cách vô căn cứ theo cảm tính.
Sau khi xảy ra chuyện vì bài viết đã lên khuôn công bố trước công luận, đây là bằng chứng buộc tội đi đến bị truy tố. Lúc này luật pháp phải vào cuộc, không khó khăn truy ra tên, họ thật của người viết và người bị hại để đối chất. Không cần và không được phép phải theo dõi danh tính, rình mò, xâm nhập vào hộp thơ để đọc lén mỗi đời tư cá nhân; là vi phạm pháp luật; một việc làm không chính danh và hèn hạ.
Tên, họ đến lúc này thì rất quan trọng và cần thiết. Bút danh, nặc danh hay các danh xưng khác không còn ý nghĩa nữa.
Người bị hại, tức nguyên đơn không chứng minh hợp lý trước pháp luật đối phương xuyên tạc, nói xấu mình thì phải trả mọi án phí cho phiên tòa; bằng ngược lại, nếu có bằng chứng thì danh dự, tài sản bị thiệt hại phải đưa lên bàn cân công lý. Người viết sai sự thật phải bồi thường, trả giá theo qui định luật pháp bằng sức nặng của đồng tiền chứ không phải là bằng sức mạnh của nhà tù và bạo lực. Chính quyền Việt Nam sử dụng luật pháp tùy tiện cho nên mọi xung đột về tư tưởng đều giải quyết bằng nhà tù, bằng bạo lực. Dân côn đồ anh chị ngoài đường phố, chỉ cần một câu "khó nghe" thôi, cũng xử sự với nhau tương tự. Chỉ có những loại người không có chính nghĩa, không biết phải quấy, không có lời lẽ chân chính mới đi trấn áp đối phương.
Trước đây gia đình của ông Huỳnh Ngọc Tuấn, cha của cô Huỳnh Thục Vy và Huỳnh Trọng Hiếu ở Quảng Nam bị công an phạt tiền vì viết bài "nói xấu" đảng gởi cho báo chí "phản động". Công an tự kết tội, tự quyết định phạt tiền không cần tranh tụng trước tòa. Đây là một việc làm tùy tiện, vô lối, không có nhân cách của những cơ quan thi hành luật pháp quốc gia.
Ở đây tôi xin trích một đoạn nguyên con phần kết luận của một bài viết chửi bới Anh Ba sàm trên báo Pháp Luật online:
"Tự do ngôn luận được Hiến pháp nước ta bảo hộ, nhưng không có nghĩa là thích nói gì thì nói. Tự do ngôn luận nhưng cần tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và quan trọng hơn, phải nói đúng, nói trúng. Những kẻ nói bậy, nói sàm, nói ngược bất chấp mọi sự đúng đắn, khách quan như Nguyễn Hữu Vinh cần được loại trừ, ngăn chặn kịp thời, trả lại sự trong lành, tiến bộ của dư luận trong và ngoài nước..."
Dạ thưa tác giả bài viết, em xin hỏi: "Tự do ngôn luận được Hiến pháp nước ta bảo hộ, nhưng không có nghĩa là thích nói gì thì nói", là nghĩa làm sao? "Tự do ngôn luận nhưng cần phải tuân thủ hiến pháp"(!) Câu này thì lý loạn sai hoàn toàn, thưa đồng chí ạ! Chính vì tuân thủ hiến pháp nên người dân mới có quyền, được quyền tự do ngôn luận. Người không tuân thủ hiến pháp chính là đảng ta à nghe! Trong hiến pháp có ghi là người dân có quyền tự do ngôn luận kia mà! Còn nữa: Pháp luật không buộc con người ta phải nói trúng, nói đúng bởi vì phàm là con người thì không ai giống ai: có người thì bình thường, có người thì tưng tửng, có người thì bị chạm mạch, nhưng cái quyền sống của con người do tạo hóa sinh ra đều có quyền bình đẳng thì tại sao không được nói? Nói sai thì xin lỗi, cùng lắm thì bị phạt như vừa nêu. Tại sao phải sợ nói sai? Tại sao phải loại trừ họ ra khỏi xã hội, hả?
Không cần phải đọc nguyên bài "luận văn" chửi bới Anh Ba Sàm làm gì, bởi vì không có gì quan trọng phải đáng mổ xẻ. Hơn nữa, tác giả muốn nói gì thì nói, muốn viết gì thì viết: viết sàm, viết bậy cũng chả sao, quyền tự do ngôn luận mà. Chuyện này thì tôi xin nhường quyền phán xét lại cho những độc giả. Nhưng có một đoạn quan trọng (như đã trích) cần phải lên tiếng vì nó cố tình méo mó, vi phạm hiến pháp quốc gia, làm cho người ta hiểu sai về quyền tự do ngôn luận theo ý đảng; làm ảnh hưởng không tốt đến cộng đồng xã hội. |
|
Những nội dung khác:
|
|
|
 |
|