Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Năm 2026
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 4
 Lượt truy cập: 29135492

 
Tin tức - Sự kiện 17.05.2026 19:01
Càng qụy lụy van lạyTQ,CS Việt Nam càng lún sâu vào bãi lầy do Trung Quốc tạo ra
21.06.2014 02:40

Quan điểm khác biệt
Tình hình biển Đông càng nóng hơn sau các cuộc gặp gỡ của ông Dương Khiết Trì Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Phó Thủ tướng Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh. Báo chí trong ngoài nước cho là hai bên giữ nguyên quan điểm khác biệt trong vụ giàn khoan, hay nói cách khác đó là cuộc đối thoại giữa hai người điếc.

Nam Nguyên, phóng viên RFA  2014-06-20

TS Phạm Chí Dũng, nhà bình luận độc lập từ Saigon nhận định:
“Tôi cho là đó là cuộc nói chuyện giữa hai người khiếm thính thì đúng hơn, họ nói họ nghe nhưng họ không hiểu nhau và có vẻ như họ cố tình không hiểu nhau. Nếu gọi Việt Nam là kẻ khiếm thính thì Trung Quốc còn có thể đóng trai trò một người câm nữa. Tại vì cho tới ngày hôm nay thì thêm một giàn khoan nữa đã được kéo vào biển Đông Việt Nam đó là giàn khoan Nam Hải 9 và tôi cho là hiện nay ở biển Đông Việt Nam có tới ba giàn khoan. Thứ nhất là Hải Dương 981 thứ hai là Nam Hải 9 và còn một giàn khoan sống đi bằng hai chân mang tên là Dương Khiết Trì tại Hà Nội nữa.”
Tôi cho là đó là cuộc nói chuyện giữa hai người khiếm thính thì đúng hơn, họ nói họ nghe nhưng họ không hiểu nhau và có vẻ như họ cố tình không hiểu nhau. 
-TS Phạm Chí Dũng
Theo báo chí tường thuật, hai ông Phạm Bình Minh và Dương Khiết Trì gọi nhau là đồng chí và luôn cùng sử dụng nhóm từ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đảng luôn luôn đứng đầu khi hai ông nêu các quan điểm về vấn đề biển Đông. Có vẻ ý thức hệ Cộng sản vẫn chi phối quan hệ Việt Trung rất sâu đậm. Nhà giáo Đỗ Việt Khoa ở Hà Nội nhận xét:
“Trong quan hệ quốc tế bình thường giữa hai quốc gia, khi xưng hô, người ta sẽ gọi là ông, là ngài, là tôi chứ không thể có chuyện cho đến thời điểm này, cứ gọi nhau là đồng chí như thể ý thức hệ lệ thuộc hay mình là đàn em phải nịnh người ta không bằng. Nó cho thấy kiểu xưng hô khiếp nhược.”
Từng là Đảng viên Đảng Cộng sản cho tới khi xin ra khỏi Đảng hồi gần đây, TS Phạm Chí Dũng có cách nhìn riêng về sự ràng buộc ý thức hệ Việt Nam-Trung Quốc. Theo lời ông, đó là một sự bế tắc cả về mặt xưng hô lẫn từ vựng cũng như văn hóa giữa hai quốc gia. TS Phạm Chí Dũng nhận định:
000_Hkg9950036-250.jpg
Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh (phải) tiếp Ủy viên Quốc vụ viện TQ Dương Khiết Trì tại nhà khách chính phủ ở Hà Nội ngày 18 tháng 6 năm 2014. AFP PHOTO / POOL / LƯƠNG THÁI LINH.
“Nếu tính từ năm 1950 trở lại đây, có thể nói hai quốc gia Việt Nam và Trung Quốc đã từng bế tắc nhiều lần và cứ mỗi lần bế tắc như vậy thì họ lại thay đổi cách xưng hô, đặc biệt từ đồng chí hay là 4 tốt 16 chữ vàng hay là tất cả những từ tương tự như vậy, đều đại diện cho một sự bất nhất mà họ có thể dùng bất cứ lúc nào, nhưng đồng thời cũng phản ánh cho sự trả giá trong nội bộ của họ.
Tôi muốn nói đây là nội bộ giữa Hà Nội và Bắc Kinh vì đồng chí với nhau nhưng không bao giờ là tốt cả. Và khi người ta dùng từ đồng chí thì có thể hiểu người ta đang phê phán nhau, như là truyền thống ở trong các cuộc họp chi bộ. Còn khi người dùng từ anh em thì có thể hiểu là còn có một chút tinh thần môi răng. Nhưng khi ông Phạm Bình Minh dùng từ đồng chí với người Trung Quốc, thì tôi nghĩ là không báo trước một điềm lành gì cả mà điều đó chắc chắn là sẽ dẫn tới những hiểm họa khác và sẽ kéo dài hơn trong thời gian tới. Tóm lại cuộc gặp này không mang lại một kết quả gì khả quan, tốt đẹp hơn mà chỉ làm cho Bộ Chính trị Hà Nội lún sâu hơn vào bãi lầy do Trung Quốc tạo ra.”

Người dân thất vọng?

Trong lúc ông Dương Khiết Trì đang có mặt tại Hà Nội, một tiếng nói đơn độc cất lên từ Quốc hội Việt Nam đề nghị ra nghị quyết về biển Đông. Theo VnExpress và VnEconomy bản tin trên mạng ngày 19/6/2014, Đại biểu TP.HCM Luật sư Trương Trọng Nghĩa nói rằng, nếu lần này Quốc hội không có tuyên bố chính thức hay nghị quyết về biển Đông thì chắc chắn nhân dân rất thất vọng. Được biết Quốc hội Việt Nam chỉ còn 3 ngày làm việc trước khi bế mạc kỳ họp thứ 7 nhưng hoàn toàn không có mục nào dành cho biển Đông.
Đối với sự kiện vừa nêu TS Phạm Chí Dũng nhận định rằng, Quốc hội Việt Nam không có vai trò trong các quyết định quan trọng của quốc gia. Quốc hội được coi là sân sau của Bộ Chính trị và luôn luôn chờ chỉ đạo của Bộ Chính trị. Năm 2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nói Cương lĩnh Đảng cao hơn Hiến Pháp! TS Phạm Chí Dũng phát biểu:
Tôi hoàn toàn không ngạc nhiên về tỷ lệ 1/499 Đại biểu Quốc hội đưa ra vấn đề nghị quyết biển Đông vào thời điểm này. 
-TS Phạm Chí Dũng
“Tôi hoàn toàn không ngạc nhiên về tỷ lệ 1/499 Đại biểu Quốc hội đưa ra vấn đề nghị quyết biển Đông vào thời điểm này. Khi mà cuối năm 2013 chỉ có hai người bỏ phiếu không đồng thuận với bản Hiến pháp được sửa đổi. Chúng ta có thấy được là một bản Hiến pháp lạc hậu phản ánh ngược chiều với quyền lợi của nhân dân lại được thông qua với tỷ lệ cao đến áp đảo như thế. Do vậy hoàn toàn không ngạc nhiên khi chỉ có mình ông Trương Trọng Nghĩa đưa ra vấn đề này.”
Khi trả lời báo chí vào sáng 19/6 bên hành lang Quốc hội, theo VnExpress LS Trương Trọng Nghĩa nói rằng, qua Nghị quyết biển Đông Quốc hội phải vạch rõ âm mưu độc chiếm biển Đông, kiểm soát biển Đông của Trung Quốc. Vấn đề không chỉ là một cái giàn khoan, không chỉ là dầu khí. Quốc hội Việt Nam cần tuyên bố với nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới lập trường chính nghĩa của Việt Nam. Lên án hành vi sai trái của Trung Quốc, âm mưu của Bắc Kinh mà LS Trương Trọng Nghĩa mô tả là: “vừa đấm vừa xoa, vừa đánh vừa đàm, vừa ăn cướp vừa la làng.”
000_Hkg9950512-600.jpg
Thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng (P) tiếp Ủy viên Quốc vụ Viện Trung Quốc Dương Khiết Trì tại Hà Nội hôm 18/6/2014
Vẫn theo LS Trương Trọng Nghĩa, Quốc hội cần lên án hành vi của Trung Quốc đã đi ngược lại tất cả những gì nước này cam kết và thỏa thuận với Việt Nam cũng như các nước ASEAN.Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa và một phần Trường Sa của Việt Nam bằng vũ lực và kéo giàn khoan phi pháp vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam.
Trao đổi với chúng tôi,  Nhà giáo Đỗ Việt Khoa từ Hà Nội nhận định là Trung Quốc vừa ăn cướp vừa la làng, nhưng tuyên truyền có hệ thống nên ngay cả người dân Trung Quốc cũng tin rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của họ. Ngược lại ở Việt Nam những năm qua rất nhiều blogger, nhà báo bị bắt giam, truy tố hay trù dập vì dám nói lên sự thật, Trung Quốc xảo trá cướp đất, cướp biển của Việt Nam. Theo nhà giáo Đỗ Việt Khoa, trước năm 1975 miền Bắc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sai lầm khi có một số văn kiện công nhận chủ quyền Trung Quốc về Hoàng Sa Trường Sa, lúc ấy miền Bắc cho là đất nằm trong tay địch thì Trung Quốc chiếm cũng tốt. Nhà giáo Đỗ Việt Khoa tiếp lời:
“Chúng tôi thế hệ bây giờ cho rằng miền Bắc miền Nam anh em một nhà đánh nhau để cho hàng xóm nó cướp đất. Miền Bắc im lặng thậm chí cổ vũ cho thằng hàng xóm ăn cướp đó thì anh có tội với dân tộc. Nói thẳng ra những người ký văn bản đó là có tội với quốc gia dân tộc, lịch sử sẽ phán xét họ. Tuy nhiên xét về tài liệu cũng như các lý luận khác thì chúng ta có thể khẳng định rằng, từ hàng nghìn năm nay, các văn bản của các triều đại, các chính quyền, chưa bao giờ Hoàng Sa Trường Sa biển Đông lại thuộc về Trung Quốc cả. Họ luôn khẳng định đó là của Việt Nam.”
Sau hội nghị Việt Trung 18-19/6 tại Hà Nội, tất cả báo chí do Nhà nước quản lý đều chạy tít lớn dựa theo phát biểu của các nhà lãnh đạo Việt Nam: “Lập trường của Việt Nam về Hoàng Sa, Trường Sa: Không thay đổi và không thể thay đổi.” Báo chí hiện nay được phép đưa nhiều tin bài với lập luận mạnh mẽ, như phải thoát lệ thuộc Trung Quốc, phản kháng Trung Quốc xâm chiếm biển đảo. Đây là sự kiện đáng ngạc nhiên vì nhiều blogger hiện vẫn đang ngồi tù vì những bài viết trước đây với các nội dung tương tự. Phải chăng chính quyền Việt Nam cởi mở hơn với báo chí, trong khi Đảng và Chính phủ lại vẫn mong muốn cầu hòa với Trung Quốc. TS Phạm Chí Dũng nhận định:
“Tôi cho là không hẳn là vũ khí mà là công cụ hỗ trợ được nhà nước Việt Nam đang dùng đến. Thứ nhất vì tinh thần không thể chủ chiến của họ và thứ hai như người ta nói, không cẩn thận thì Việt Nam sẽ đi bằng đầu gối. Đó là chính sách ngoại giao đầu gối mà một số nước phương tây đã phải dùng để phê phán Việt Nam cho một hành động mà họ gọi là khó có thể nhu nhược hơn.”
Biển Đông sẽ đi về đâu sau cuộc hội đàm Việt Trung không mang lại kết quả. Ngay trong khi Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì còn đang có mặt ở Hà Nội thì Trung Quốc đã đẩy mạnh hơn điều gọi là phép thử giàn khoan. Trung Quốc đã tăng cường một giàn khoan mới trên vùng biển gần Việt Nam và có khả năng được đưa vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam. Ngoài ra Bắc Kinh còn loan báo cấp quyền sử dụng đất cho người Hoa tại quần đảo Hoàng Sa và tất cả các đảo bãi đá ở Trường Sa mà Trung Quốc lấn chiếm bằng vũ lực của Việt Nam. Những dự báo về vấn đề này hoàn toàn không sáng sủa cho chính quyền và người dân Việt Nam.

Đại biểu quốc hội 'chiếm diễn đàn', kêu gọi ra nghị quyết về Biển Đông




CTV Danlambao
danlambaovn.blogspot.com
CTV Danlambao - Nóng ruột trước tình hình căng thẳng tại Biển Đông, đại biểu quốc hội Trương Trọng Nghĩa đã phải đột ngột 'chiếm diễn đàn' nghị trường nhằm lên tiếng kêu gọi quốc hội Việt Nam ra một nghị quyết tuyên bố chính thức về Biển Đông, thể hiện rõ thái độ trước các hành vi xâm lược của Trung Quốc.

Ý kiến của vị đại biểu đoàn Sài Gòn được nêu lên vào sáng ngày 19/6, giữa lúc quốc hội Việt Nam với 500 ông nghị, bà nghị đang mải mê thảo luận về dự án Luật Căn cước công dân.

Phiên họp lần thứ 7 năm nay sẽ kéo dài trong 28 ngày, quốc hội chủ yếu bàn những việc tào lao mà không có chương trình nói về tình hình Biển Đông hiện đang hết sức nguy cấp.

Đơn cử như việc bỏ phiếu tín nhiệm, cả 500 ông bà nghị sau khi bàn tới bàn lui mới thống nhất việc chuyển từ 3 mức tín nhiệm xuống thành... 2 mức. (Còn 'tín nhiệm' và 'tín nhiệm thấp')

Theo đại biểu Trương Trọng Nghĩa, nhân dân cả nước mong mỏi quốc hội Việt Nam kỳ này cần phải ra nghị quyết lên án và 'vạch trần âm mưu vừa đấm, vừa xoa, vừa đánh, vừa đàm, vừa ăn cướp, vừa la làng của Trung Quốc'.

"Nếu Quốc hội lần này không có tuyên bố hay nghị quyết chính thức gì cả về biển Đông tôi tin rằng nhân dân ta sẽ rất thất vọng, thậm chí hoang mang. Các đại biểu Quốc hội chắc chắn sẽ nghẹn lời trước những ý kiến chất vấn của cử tri."

Ông Nghĩa tha thiết kêu gọi các đại biểu có mặt tại hội trường cùng 'chia sẻ sự băn khoăn và ủng hộ kiến nghị' việc ra nghị quyết về Biển Đông. Đồng thời, ông cũng lên tiếng xin lỗi vì đã phải trình bày bị cho là lạc đề, 'vì trong chương trình còn lại thì không có mục nào dành cho Biển Đông cả'.

Các đại biểu quốc hội phát biểu sau đó không có bất cứ ai lên tiếng ủng hộ lời kêu gọi của ông Trương Trọng Nghĩa. Khoảng 20 vị còn lại tiếp tục quay lại phần thảo luận một cách 'đúng chủ đề' về dự án Luật Căn cước công dân.

Sau cùng, người chủ trì buổi họp là phó chủ tịch quốc hội Uông Chu Lưu trong phần tổng kết phiên thảo luận cũng không đả động bất cứ điều gì về việc quốc hội ra nghị quyết Biển Đông.

Vị Phó chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam, luật sư Trương Trọng Nghĩa trở nên hoàn toàn đơn độc trong quốc hội - nơi tự nhận là 'cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân' mà ông Nghĩa cũng là một trong 500 đại biểu.

Dưới đây là toàn văn phát biểu của ông Trương Trọng Nghĩa:

Kính thưa Quốc hội,

Trong phát biểu của tôi có 2 phần, tôi xin phép dành mấy phút để nói một phần có liên quan:

Thứ nhất, kỳ họp này khai mạc thì đồng bào cả nước vô cùng mong mỏi: trước hành vi của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam, Quốc hội Việt Nam, nhân dân Việt Nam phải có một cái nghị quyết trong đó tuyên bố với nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới về lập trường chính nghĩa của mình, lên án hành vi sai trái của Trung Quốc và vạch trần âm mưu vừa đấm, vừa xoa, vừa đánh, vừa đàm, vừa ăn cướp, vừa la làng của Trung Quốc. 

Đồng thời nghị quyết cho các cơ quan nhà nước Việt Nam, các lực lượng vũ trang Việt Nam tiến hành các biện pháp bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nước ta. Trong đó có biện pháp khởi kiện Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa bằng vũ lực ra các tổ chức tài phán quốc tế.

Nếu Quốc hội lần này không có tuyên bố hay nghị quyết chính thức gì cả về biển Đông tôi tin rằng nhân dân ta sẽ rất thất vọng, thậm chí hoang mang. Các đại biểu Quốc hội chắc chắn sẽ nghẹn lời trước những ý kiến chất vấn của cử tri. Còn dư luận thế giới thì chắc chắn sẽ bình luận rằng hành vi xâm phạm và đe dọa chủ quyền của Việt Nam trắng trợn đến thế mà Quốc hội nước này lại không có phản ứng chính thức gì thì việc gì các nghị sĩ và nhân dân các nước khác phải lên tiếng. Đây có thể mà một cái cớ để phía Trung Quốc tiến hành những việc làm hiếu chiến và nguy hiểm hơn nữa. 

Tôi mong được lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Nhà nước xem xét chấp thuận kiến nghị này, nếu cần xin lấy ý kiến của các đại biểu Quốc hội, nếu đa số ủng hộ thì ta làm. 

Tôi rất mong các đại biểu Quốc hội chia sẻ sự băn khoăn và ủng hộ kiến nghị của tôi. 

Tôi xin lỗi vì phải trình bày điều này trong phiên họp này, vì trong chương trình còn lại thì không có mục nào dành cho Biển Đông cả.

Bùi Tín :
BCT hãy làm gương đoàn kết thống nhất
 

Từ xa tôi chân thành góp ‎ý kiến với 16 vị trong Bộ Chính trị – thường gọi là Bêcêtê. BCT, cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng Cộng sản VN, tự nhận có quyền lãnh đạo toàn diện và duy nhất đất nước và nhân dân, mặc dầu nó không hề nhận được một lá phiếu bầu nào của người dân. Đây là điều phi lý rõ ràng, trái ngược hẳn với Dân chủ và Pháp quyền do người đứng đầu Chính phủ cam kết với toàn dân trong bản Thông điệp đầu năm 2014.
Nhiều người trong BCT gần đây đã lên tiếng về nguy cơ của đất nước ở biển Đông, kêu gọi toàn dân đoàn kết thống nhất, biểu thị lòng yêu nước, còn kêu gọi sự ủng hộ của toàn thế giới.
Lẽ ra BCT phải cùng nhau thảo luận dân chủ, thuyết phục nhau cho ra lẽ, lắng nghe tiếng nói của nhân dân, nhất là của trí thức nước ta, đạt được nhất trí thật cao, 16 người như môt. Thế nhưng BCT đã không làm được như thế.
BCT tự phơi bày sự thiếu đoàn kết nhất trí giữa tình hình khẩn cấp. Người cầm đầu chính phủ ăn nói mạnh mẽ nhất, còn nói rõ ‎ý định đưa TQ ra kiện trước tòa án quốc tế, hồ sơ đã sẵn sàng. Chủ tịch Quốc hội có vẻ lưỡng lự nhưng do sức ép mạnh của một số đại biểu đang họp đã cao giọng hơn một chút, trong khi Chủ tịch nước có vẻ như tránh né vấn đề quốc gia đại sự này.
Đáng trách nhất là tướng Phùng Quang Thanh, ủy viên BCT, ra trước cuộc họp quốc tế ở Singapore đã đọc diễn văn, trả lời báo chí quốc tế một cách yếu ớt, thái độ nhu nhược, không có khí thế chiến đấu. Ông lý giải cuộc khủng hoảng ở biển Đông, theo phía VN nhìn, chỉ là một cuộc xung đột thường có trong mọi gia đình. Ông Thanh làm cho người nghe hiểu rằng sẽ hòa giải qua song phương, còn nhìn chung là quan hệ Việt – Trung vẫn tốt đẹp như trước.
Trong BCT cần chỉ ra người phụ trách ngành tuyên huấn Đinh Thế Huynh và bí thư thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị đã tỏ ra nhu nhược. Báo chí nhà nước chỉ được lên án TQ có mức độ vừa phải, các cuộc biểu tình vẫn bị kiềm chế, sự đàn áp dân xuống đường chống bành trướng vẫn diễn ra, đặc biệt là ở Hà Nội.
Ông Nguyễn Thiện Nhân được cử ra chăn dắt Mặt trận Tổ quốc cũng tỏ ra thiếu nhiệt tâm chống bành trướng. Do đó các hội đoàn thành viên Mặt Trận vẫn nằm im không lên tiếng trước hiểm họa từ phương Bắc.
Còn 2 bà phụ nữ trong BCT là Tòng Thị Phóng và Nguyễn Thị Kim Ngân đều im hơi kín tiếng, khác hẳn các blogger nữ trẻ như Huỳnh Thục Vy, Đoan Trang hay nhà văn Võ Thị Hảo, nghệ sỹ Kim Chi.
Xem ra cuộc thảo luận trong BCT chưa thật sự ngả ngũ. Tất cả còn tùy thuộc ở thái độ đấu tranh của quần chúng nhân dân, bên cạnh những thư ngỏ, tuyên ngôn, kiến nghị thật đông đảo người tham gia, còn cần hành động xuống đường của quần chúng đông đảo hơn nữa, thái độ của giới trí thức thật quyết liệt, buộc BCT phải hiểu rõ lòng dân thực sự là mạnh mẽ ra sao, từ đó mới xoay chuyển được tình thế nhập nhằng hiện nay .
Sự chia rẽ trong BCT là một hiện tượng hiển nhiên. Do quyền lợi các phe nhóm khác nhau, tranh giành nhau đặc quyền đặc lợi thêm gay gắt khi Đại hội XII sắp tới.
Những người trong BCT có ‎ý ngả theo lòng dân hãy ra sức thuyết phục những người còn phân vân lưỡng lự, rằng lúc này là thời điểm quyết định, thuận theo ‎ý ‎dân thì đảng CS, BCT sẽ có thể tồn tại; đi ngược lòng dân thì có thể mất hết sạch tất cả quyền lực lẫn của cải, như trong mọi bão táp cách mạng của nhân dân quật khởi.
Nhóm thức thời trong BCT hãy ra sức tạo nên một đa số trong BCT, nghĩa là trên 9 trong 16 người.
Ngay cả Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh cũng có thể thuyết phục vì vừa qua ông ta bị ép buộc đọc nguyên từng chữ bản văn được BCT duyệt kỹ, còn được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sửa, duyệt lần cuối và k‎‎‎ý tên. Ông Trọng là con người bảo thủ, giáo điều bậc nhất hiện nay. Ông Thanh chỉ là cái loa của BCT, thật ra là của ông Trọng.
Ông Nguyễn Tấn Dũng có vẻ như được các ông Lê Hồng Anh, Nguyễn Xuân Phúc, Trần Đại Quang, Hà Văn Dụ tán đồng, có thể tranh thủ thêm ông Phùng Quang Thanh, ông Lê Thanh Hải, ông Nguyễn Thiện Nhân và cả bà Kim Ngân. Đa số trong BCT này có thể làm nên việc lớn. Có thể bẻ lái sang con đường Dân chủ và Pháp quyền do chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề ra trong Thông điệp đầu năm nhưng chưa hề được thực hiện.
Đa số BCT có thể đề xuất với Ban chấp hành Trung ương một cuộc họp đặc biệt bàn về hướng đi này.
Đây là lối thoát gọn, nhanh, ít xáo trộn xã hội nhất.
Và như vậy để sớm mở đường cho Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh lên đường sang Washington gặp Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ một cách nhẹ nhàng phấn chấn. Nếu không sẽ thành một sơ xuất ngoại giao kỳ quặc (gaffe diplomatique). Ông Minh đã gọi điện thẳng cho ông Kerry để yêu cầu phía Hoa Kỳ ủng hộ VN, lên án TQ có hành động xâm phạm vùng biển VN, và Hoa Kỳ đã lập tức mạnh mẽ lên tiếng. Ông Kerry còn mời ông Minh sang ngay Washington để bàn sâu thêm về biển Đông và cả quan hệ Mỹ – Việt. Vậy mà 1 tuần lễ trôi qua rồi người ta vẫn ngóng chờ. Chỉ vì BCT còn cãi nhau. Tựu trung cãi nhau trong mỗi người. Vì nhân dân hay vì chủ nghĩa cá nhân .
Rõ ràng BCT đã tỏ ra bạc nhược trước họa bành trướng đã hiển nhiên. Lập trường chính thức của Philippines, Ấn Độ, Nhật Bản, Liên Âu, Úc, Hoa Kỳ còn mạnh mẽ và rõ ràng hơn thái độ chính trị của BCT ở Việt Nam.
Hưởng ứng lập trường kiên quyết ngăn chặn bành trướng của toàn thế giới dân chủ, VN có thế và lực tăng lên gấp bội, cả về quốc phòng và về kinh tế – tài chính, xã hội và đời sống, một cuộc đột biến lịch sử.
BCT hãy suy nghĩ kỹ về trách nhiệm của mình trong tình thế nước sôi lửa bỏng ở biển Đông và hãy đoàn kết nhất trí như chính BCT đã kêu gọi toàn dân đoàn kết nhất trí, một lòng kiên định chống bành trướng và ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của Tổ quốc.
Một BCH chia rẽ nghiêm trọng với một Tổng Bí thư bạc nhược là thảm họa của đảng CS, cũng là châm ngòi cho một cuộc cách mạng nhân dân khó tránh khỏi.
Blog Bùi Tín (VOA)

 


Biển Đông đã mất? - Phần 1: Đừng để người ta cười

BÀI GIẢNG VỀ HIỆN TÌNH ĐẤT NƯỚC RÚNG ĐỘNG THẾ GIỚI CỦA LINH MỤC NGUYỄN NGỌC TỈNH


Phạm Hồng Sơn - "...Vấn đề Biển Đông trong những năm qua cho thấy chủ nghĩa dân tộc kém tỉnh táo ở Việt Nam vẫn rất mạnh.

Khi vụ Giàn khoan HD198 xảy ra, khi báo đài của Đảng mới đổi giọng cao lên một chút, đã có nhiều người bày tỏ sẵn sàng vác súng ra trận bất biết đó sẽ là cuộc chiến vệ quốc hay lại vệ đảng (?).

Chỉ bằng một phát biểu có tính dân tộc chủ nghĩa, một ông thủ tướng bạo quyền đã rất nổi tiếng về hứa đẹp và chỉ hứa đẹp vẫn làm chao đảo dư luận, vẫn làm nhiều thức giả ngưỡng mộ, kỳ vọng ngất ngây..."

*

Hổ thẹn


Theo tôi, bất cứ ai có trí tuệ bình thường đã đọc kỹ hai văn bản này và là người có lòng công bằng, bất thiên vị, vẫn thừa nhận tính chính đáng của chính thể cộng sản Việt Nam đều phải công nhận:

Hoàng Sa, Trường Sa cùng những chủ quyền liên quan theo luật quốc tế hiện nay là thuộc Trung Cộng – tức Trung Hoa cộng sản, quốc gia vừa từng là “anh em răng môi”, vừa vẫn là “bạn vàng bốn tốt”, “đối tác chiến lược toàn diện” của Nhà nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam (tức Đảng Lao động Việt Nam vào lúc Công hàm của chính thể Hồ Chí Minh được công bố – chính thể Việt Nam hợp pháp duy nhất từ năm 1945 tới nay dưới nhãn quan của Đảng Cộng sản Việt Nam.)

Bởi vì:

- Một: Ta không thể tự mâu thuẫn khi vẫn thừa nhận tính chính đáng, tính đại diện của một nhà nước, một chính phủ lại vừa phủ nhận hành động của nhà nước đó, chính phủ đó khi tự xác định “có trách nhiệm tôn trọng triệt để” tuyên bố công khai của một chính phủ khác khi chúng ta đã hoàn toàn im lặng vào lúc cam kết đó được lập nên.

- Hai: Việc cố diễn giải nhằm bác bỏ tính ràng buộc của một cam kết (có tính khế ước) của một tổ chức mà ta thừa nhận tính chính đáng của nó, và khế ước đó còn tiếp tục được minh định thêm nhiều lần khác, bằng nhiều cách khác của chính tổ chức đó, không chỉ là sự ngạo ngược với tinh thần Pháp trị phương Tây, phỉ báng chữ Tín phương Đông.

-Ba: Người còn liêm sỷ không thể vẫn coi một chính thể là “Ngụy” – tức bác bỏ tính chính đáng của chính thể đó – nhưng lại dùng những phát ngôn, hành động của chính chính thể (bị coi là) “ngụy” đó để biện hộ cho sự “chính đáng” của bản thân.

Tất nhiên, cứ có kẻ cầm quyền thì có biện sỹ - những người nhiều kiến thức, giỏi biện luận, chuyên phò tá kẻ quyền thế để mưu bổng tước bất chấp đúng sai, đức nghĩa. Tuy nhiên cái lý trí cùng đạo đức sơ đẳng của con người đều phải biết không thể nào tuyên bố chấp nhận một toàn thể, rồi sau đó lại phủ nhận phần tử của cái toàn thể đó; người ta cũng không thể kiện, không thể đòi lại vật đã bán, đã cho bằng việc nại ra những hình ảnh về sở hữu vật đó trước khi bán hay cho. Những kiểu lý luận này chỉ là lối biện luận phi logic một cách ngang ngược mà dân gian đã đặt tên: cãi chày cối lấy được.

Biện sỹ là nghề đã xuất hiện cách đây hàng ngàn năm nay cả ở Đông lẫn Tây, sự sai lầm của con người càng không mới, nhưng đến thời này mà chúng ta vẫn thấy hạng biện sỹ đó còn đất dụng võ thì thật kỳ lạ, lối biện luận đó ta lại thấy ở những danh sỹ khoa bảng thì thật hãi hùng.

Vô ơn

Nhìn vào quan hệ của hai chính thể cộng sản Việt, Trung, ngoại trừ một giai đoạn khoảng hơn 10 năm (1979-1990), người ta không thể không thấy bao trùm lên quan hệ đó là sự gắn bó thân tình đặc biệt của hai nước láng giềng và Trung Cộng là bên đã giúp đỡ rất nhiều cho Việt Nam cộng sản. Ngắn gọn có thể nói, mỗi thành tựu quan trọng của chính thể Việt Nam cộng sản trước năm 1990 đều không thể thiếu sự trợ giúp của Trung Cộng.

Tư trang, quân dụng cho tất cả những người lính miền Bắc vào những thời kỳ đó, đặc biệt trong cuộc “kháng chiến chống Mỹ-Ngụy”, từ lính tới tướng, từ đầu tới chân, từ trong ra ngoài, cho tới cái ba-lô, bi-đông, lương khô, thuốc tăng lực, v.v. đều của Trung Hoa. Tình hữu nghị Việt-Trung còn được hiện thân vào những ca từ , những điệp khúc thiết tha, hào hùng: “Việt Nam, Trung Hoa núi liền núi sông liền sông, chung một biển Đông với tình hữu nghị sáng như rạng đông…Nhân dân ta ca muôn năm Hồ Chí Minh-Mao Trạch Đông. Hồ Chí Minh-Mao Trạch Đông.”

Ngay năm 1979, giữa lúc quan hệ hai đảng xuống tới mức thấp nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam ghi rõ:

“Năm 1950, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trung Quốc là nước viện trợ vũ khí, trang bị quân sự nhiều nhất cho Việt Nam trong những năm cuối cuộc kháng chiến chống Pháp… Nhân dân Trung Quốc, mặc dầu còn có nhiều khó khăn, nhất là trong những năm đầu của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đã dành sự giúp đỡ to lớn cho nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống bọn đế quốc xâm lược… những người cầm quyền Bắc Kinh thường hay nhắc đến việc Trung Quốc viện trợ cho nước Việt Nam, thậm chí khoe rằng quân đội của họ đã“chiến đấu ở Điện Biên Phủ”, v.v… “.[i](tôi-PHS nhấn mạnh những chỗ tô đậm)

Đó chỉ là góc nhìn hẹp từ phía Việt Nam. Vậy, một người Trung Hoa dân tộc chủ nghĩa sẽ nghĩ gì về những người Việt Nam hôm nay vừa ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam vừa bác bỏ Công hàm Hồ Chí Minh 1958, vừa lớn tiếng hô hoán cáo buộc Trung Cộng xâm lấn Hoàng Sa, Trường Sa?

Nguy hiểm

Như đã thấy, nếu căn cứ vào lý, tức đưa vụ việc ra kiện tụng, chắc chắn Trung Hoa cộng sản (Trung Cộng) sẽ có lý hơn – tức sẽ thắng Việt Nam (cộng sản). Còn nếu tranh cãi cứ tiếp tục leo thang, kể cả chỉ bằng phương pháp chính trị-ngoại giao và không phải là đóng kịch, nguy cơ xung đột quân sự vẫn rất có thể xảy ra. “Chiến tranh chỉ là sự tiếp tục của một chính sách chính trị bằng một phương tiện khác thôi.” (Clausewitz)[ii]

Chưa kể, hai chính thể toàn trị cộng sản Việt và Trung đều có những nhu cầu tự thân trong việc cải hóa tính chính đáng đang có chiều sa sút. Mà chiến tranh luôn là một vị có thể phải gia thêm trong thang thuốc bốc cho độc tài bất an.

Tuy nhiên, dù chưa bàn đến chênh lệch sức mạnh giữa hai quốc gia cũng như các yếu tố quốc tế, một cuộc chiến trên những cơ sở như thế, dù ở mức độ nào, chắc chắn không thể mang lại được ích lợi gì cho dân Việt Nam, ngoại trừ kẻ chuyên quyền.

Như vậy bất kỳ ai vừa thừa nhận tính chính đáng của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (chính là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) lại vừa cố đòi chủ quyền Biển Đông liên quan tới Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam, họ vừa không chỉ tự mâu thuẫn, chống lại công lý mà còn có nguy cơ đẩy xung đột đi tới chỗ chém giết lẫn nhau, tai hại thêm cho lợi ích quốc gia của chính Việt Nam. Còn nếu tranh cãi chỉ dừng ở kiện tụng, đó cũng sẽ là những cuộc kiện tụng tốn kém tiền bạc, công sức của dân với một phán quyết gần như chắc chắn: Việt Nam (cộng sản) ít lý hơn.

Xấu hơn

Với lòng tự tôn dân tộc chúng ta có thể vẫn không tin, không chấp nhận thực trạng u ám trên đây. Nhưng sự thật tồn tại đâu cần sự đồng ý của chúng ta. Những văn bản, luận cứ bất lợi cho chủ quyền Việt Nam, như đã biết hoặc chưa biết, có thể đều đang nằm trong tay chính quyền Trung Cộng.

Cũng trong sách đã dẫn, tháng 10/1979 Đảng Cộng sản Việt Nam tiết lộ thế này:

“Những người cầm quyền Trung Quốc đã nhận ngồi vào đàm phán với phía Việt Nam… Mặt khác họ đặt điều kiện tiên quyết là Việt Nam phải từ bỏ đường lối độc lập, tự chủ của mình, từ bỏ chủ quyền của mình đối với các đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì họ mới đi vào bàn bạc các vấn đề khác.”[iii] (tôi nhấn mạnh chỗ tô đậm)

Một dấu hỏi: Hội nghị Thành Đô 1990 chỉ là bước kế tiếp sau “điều kiện tiên quyết” vừa nói đã được thỏa mãn? Không ai có thể trả lời được nghi vấn này, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Cộng. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam cho biết một chi tiết khác:

“…Không có gì đáng ngạc nhiên là họ đã khước từ một hiệp định quân sự bí mật giữa Việt Nam và Trung Quốc. Theo hiệp định này về nguyên tắc đến tháng 6 năm 1965, phía Trung Quốc phải gửi phi công sang giúp Việt Nam. Nhưng…”[iv] (tôi nhấn mạnh chỗ tô đậm)

Như thế, không thể loại trừ Trung Cộng đã thủ đắc nhiều chứng cứ khác kiểu “Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng” (sic)?

Vụ bạo động xảy ra một cách bất ngờ trong mấy ngày liên tiếp ở Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Áng trong tháng Năm vừa qua còn cho thấy một viễn cảnh xấu hơn. Dù nguyên nhân gốc từ đâu, như một số nhà phân tích đã nêu, do tình báo Trung Cộng giật dây hay do chính quyền Việt Nam cố tình tạo ra để lấy cớ dẹp biểu tình, chúng đều chỉ rõ: hoặc Việt Nam đã bị Trung Cộng thâm nhập, kiểm soát rất sâu tới mức chính quyền bất lực, hoặc chính quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam rất sắt máu với dân – sẵn sàng chịu một tổn thất không nhỏ cả về kinh tế lẫn chính trị (đối ngoại) để có cớ phòng và đè bẹp những nhen nhúm dân chủ đối lập còn rất nhỏ và yếu.

Vô âm

Vấn đề Biển Đông trong những năm qua cho thấy chủ nghĩa dân tộc kém tỉnh táo ở Việt Nam vẫn rất mạnh.

Khi vụ Giàn khoan HD198 xảy ra, khi báo đài của Đảng mới đổi giọng cao lên một chút, đã có nhiều người bày tỏ sẵn sàng vác súng ra trận bất biết đó sẽ là cuộc chiến vệ quốc hay lại vệ đảng (?).

Chỉ bằng một phát biểu có tính dân tộc chủ nghĩa, một ông thủ tướng bạo quyền đã rất nổi tiếng về hứa đẹp và chỉ hứa đẹp vẫn làm chao đảo dư luận, vẫn làm nhiều thức giả ngưỡng mộ, kỳ vọng ngất ngây.

Quá lo lắng cho quyền lợi dân tộc Việt đã khiến cả những người có trí tuệ không tầm thường chấp nhận một khẩu hiệu có nhân sinh quan cạn hẹp dễ khích động tha nhân: “Thoát Trung”.

Nhưng chủ nghĩa dân tộc không phải là thứ có thể độc quyền. Những người Hoa dân tộc chủ nghĩa quá khích chắc chắn không thể không thấy những phản ứng kể trên của người Việt. Họ cũng không thể không thấy những hiện tượng lạ lùng khác: Truyền thông nhà nước gọi nhân sỹ, trí thức đi biểu tình là “phản động”người của Đảng đi biểu tình bị đạp mặt; những nhân vật nhưLê Chí Quang vẫn trong vòng kiểm soát, Điếu Cày còn gần chục năm tù, Anh Ba Sàm chắc sẽ phải tù lâu, còn Bùi Hằng “hoa hậu biểu tình” sắp hầu tòa, v.v.

Quan sát như thế và lại nghe thấy “Thoát Trung”, những người Trung Hoa dân tộc chủ nghĩa không thể không nộ khí:

“Chúng mày đang bị chính chúng mày trói chân, trói cả tay cả đầu, thế mà vẫn còn hùng hổ 'Thoát Trung'. Ai cho thoát? Thoát đi đâu? Ngàn đời còn khổ các con ạ!”

Đó có thể là tưởng tượng phóng đại, quá khích, ác khẩu. Nhưng không thể lấy một chủ nghĩa dân tộc mù quáng để chống lại một chủ nghĩa dân tộc (lớn hơn nhiều) cũng mù quáng. Không thể tìm kiếm công lý, an bình cho dân tộc mình bằng sự trí trá, chà đạp một công lý khác.

Luồn vào chính sách uốn éo của cường quyền lệ thuộc phản trắc để đối phó với xâm lăng sẽ vừa vô ích, vừa rót thêm hoang mang vào lầm than của dân chúng, vừa dễ mắc bẫy, lại vừa bị người ta cười. Tất nhiên, không ai cười thành tiếng.

-Việt Nam phải câm lặng, chịu mất Biển Đông?- ○

(Còn tiếp)

* Bài đọc thêm:



Báo Trung Quốc: Bắc Kinh sẽ cho đăng ký quyền sử dụng đất ở Hoàng Sa và Trường Sa


Phúc Duy (TNO) - Tờ Economic Observer (trụ sở tại Bắc Kinh) tiết lộ chính quyền Trung Quốc sẽ áp dụng một hệ thống đăng ký quyền sử dụng đất mới bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Economic Observer dẫn các nguồn tin từ Văn phòng Đăng ký Bất động sản thuộc Bộ Đất đai và Tài nguyên Trung Quốc cho biết nước này sẽ công nhận quyền sở hữu và sử dụng “bất động sản” trên biển và đảo thuộc "chủ quyền lãnh thổ" của Trung Quốc, theo trang tin Want China Times (Đài Loan) ngày 18.6.

“Bất động sản” cụ thể ở đây là “đất, vùng biển và đảo, nhà ở, những tòa nhà, rừng cây và các vật thể bất di bất dịch”, theoEconomic Observer.

Các nguồn tin còn xác nhận bất kỳ người dân hay doanh nghiệp Trung Quốc nào cũng có thể đăng ký quyền sở hữu và sử dụng đất, nhà ở, vùng biển ở những đảo và quần đảo trên biển Đông, bao gồm các hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Want China Times cho rằng hệ thống đăng ký quyền sử dụng bất động sản mới này cho thấy Trung Quốc ngày càng trở nên hung hăng trong chiến lược bành trướng lãnh thổ của nước này ở biển Đông.

Economic Observer cho hay hệ thống đăng ký quyền sử dụng bất động sản mới sẽ được áp dụng vào năm 2018.

Căng thẳng ở biển Đông leo thang kể từ khi Trung Quốc hồi tháng 5.2014 đưa giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang Shiyou-981) trái phép vào vùng biển Việt Nam, gần quần đảo Hoàng Sa. Tàu Trung Quốc còn ngang ngược đâm, bắn vòi rồng vào tàu lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam, đâm chìm tàu cá Việt Nam.

Thời gian gần đây, Trung Quốc còn tăng cường các hoạt động xây dựng trái phép bao gồm: xây dựng trường học phi pháp tại đảo Phú Lâm nằm trong quần đảo Hoàng Sa và xây đảo nhân tạo ở bãi đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Đài Loan cũng chi 100 triệu USD xây dựng cầu cảng trái phép ở đảo Ba Bình thuộc Trường Sa của Việt Nam.

Trang tin Focus Taiwan News Channel (Đài Loan) dẫn lời nhà làm luật Đài Loan Lin Yu-fang cho rằng một hạm đội 6 tàu Đài Loan đã đem thiết bị, vật liệu đến Ba Bình vào ngày 18.6 để tiến hành các hoạt động xây dựng phi pháp.




Ghi tạc ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa


Nguyễn Lộc Yên (Danlambao) - Ngày 5-6-1948, cựu hoàng Bảo Đại gặp Cao ủy Pháp là Bollaert ở vịnh Hạ Long, trên chiến hạm Duguay Trouin, bản tuyên ngôn Việt-Pháp được công bố là nước Pháp thừa nhận nền độc lập và thống nhất Việt Nam. Nhưng đến ngày 20-7-1954, cộng sản Bắc Việt ký kết với Pháp Hiệp định Genève, đem nước Việt chia đôi, lấy vĩ tuyến thứ 17 tại sông Bến Hải làm giới tuyến quân sự. Sau đấy, quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam, Quân Đội Quốc Gia Việt Nam ra đời trong một hoàn cảnh quốc gia rối ren. 

Ngày 1-7-1955, Bộ Tổng Tham Mưu của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam chính thức hình thành, quân đội còn non trẻ lại nhận lãnh trách nhiệm chiến đấu chống lại cả một khối cộng sản quốc tế hung hãn từ phương Bắc tràn xuống phương Nam, nhân dân thế giới đã thán phục: “Miền Nam Việt Nam là ‘Quốc gia tiền đồn’ chống cộng”. Dù vậy, người Quân nhân của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) vẫn vững tâm kiên cường chiến đấu vì sứ mạng thiêng liêng bảo vệ tổ quốc và dân tộc.

Bối cảnh lịch sử thời cận đại tại miền Nam Việt Nam

Sau khi các tướng lãnh trong quân đội VNCH đảo chánh, lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm ngày 1-11-1963, đã thành lập Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng (HĐQNCM) do trung tướng Dương Văn Minh làm chủ tịch và nắm chính quyền. HĐQNCM cử Nguyễn Ngọc Thơ lập chính phủ lâm thời. 

Đến ngày 30-1-1964, trung tướng Nguyễn Khánh gây áp lực tướng Minh, bắt giam 5 vị Tướng thân cận của tướng Minh, vẫn để tướng Minh làm quốc trưởng, tướng Khánh tự đứng ra lãnh đạo gọi là chỉnh lý và lập chính phủ ngày 8-2-1964. Ngày 16-8-1964, tướng Khánh mở cuộc họp Hội đồng tướng lãnh tại Vũng Tàu, cuộc họp này đã thông qua một hiến chương mới, thường gọi là Hiến chương Vũng Tàu, tướng Khánh lên làm chủ tịch VNCH, trung tướng Dương Văn Minh làm cố vấn.

Hiến chương Vũng Tàu đã bị chống đối từ nhiều phía, trong đấy có đông đảo tín đồ Phật giáo và sinh viên học sinh. Trước tình trạng này, tướng Khánh phải tuyên bố hủy bỏ Hiến chương Vũng Tàu và từ chức. 

Ngày 25-8-1964, Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng họp tại bộ Tổng tham mưu đồng thuận sẽ bầu vị nguyên thủ quốc gia, nguyên thủ quốc gia phải thực hiện cơ cấu dân chủ; các tướng lãnh sẽ trở về với quân đội. Đến ngày 27-8-1964, thành lập Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia: Dương Văn Minh làm quốc trưởng, Nguyễn Khánh làm thủ tướng, tướng Trần Thiện Khiêm giữ chức Tổng Tham Mưu Trưởng. Ngày 13-9-1964, trung tướng Dương Văn Đức tạo cuộc binh biến nhằm cảnh cáo tướng Khánh độc tài, nhưng thất bại, tướng Đức bị bắt và giải ngũ sau đó.

Ngày 7-10-1964, đại tướng Trần Thiện Khiêm bị trung tướng Khánh buộc lưu vong. Ngày 24-10-1964, Thượng Hội Đồng Quốc Gia bầu Phan Khắc Sửu làm quốc trưởng VNCH, đến ngày 31-10-1964, quốc trưởng Phan Khắc Sửu ban hành sắc lệnh SL.005/QT/SL, bổ nhiệm ông Trần Văn Hương thành lập nội các, đến ngày 4-11-1964, Trần Văn Hương thành lập chính phủ dân sự. Tuy nhiên, sự thật các tướng lãnh vẫn còn nắm quyền lực. 

Cuối tháng 11-1964, tướng Minh và tướng Khánh lên cấp đại tướng. 

Đến tháng 12-1964, đại tướng Dương Văn Minh lại bị đại tướng Khánh đưa đi làm đại sứ Thái Lan. 

Đến ngày 16-2-1965, thì bổ nhiệm bác sĩ Phan Huy Quát làm thủ tướng. Ngày 25-2-1965, bổ nhiệm đại tướng Nguyễn Khánh làm đại sứ lưu động và rời Việt Nam. 

Sự bất ổn chính trị tại miền Nam Việt Nam là cơ hội cho Bắc Việt đưa quân xâm nhập vào miền Nam, gây cho Quân lực VNCH phải đối đầu với Cộng quân càng ngày càng đông đảo hơn.

Song song với khó khăn về tình trạng thay đổi nhân vật lãnh đạo, thì chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng (TTMT), kể từ tháng 11 năm 1963 đến tháng 7 năm 1965, đã lần lượt thay đổi đến năm (5) lần:

1- Trung tướng Trần Văn Đôn, nhận chức TTMT ngày 2-11-1963, sau khi lật đổ tổng thống Diệm. 

2- Trung tướng Trần Thiện Khiêm, nhận chức TTMT ngày 31-1-1964, sau khi tướng Đôn bị bắt. 

3- Trung tướng Nguyễn Khánh, nhận chức TTMT ngày 8-10-1964, sau một ngày đại tướng Trần Thiện Khiêm lưu vong. 

4- Trung tướng Trần Văn Minh (không phải là trung tướng Trần Văn Minh mà sau này là Tư lệnh Không quân), nhận chức TTMT ngày 26-2-1965, sau một ngày tướng Khánh lưu vong. 

5- Trung tướng Minh bàn giao chức vụ TTMT cho thiếu tướng Nguyễn Hữu Có ngày 15-7-1965.

6- Lần thứ sáu: Thiếu tướng Có bàn giao chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng cho thiếu tướng Cao Văn Viên ngày 15-10-1965. 

Như vậy, chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng từ tháng 11-1963 đến tháng 7-1965, chưa tròn hai năm đã thay đổi 5 lần; trung bình mỗi vị Tổng Tham Mưu Trưởng giữ chức vụ này khoảng bốn (4) tháng, thử hỏi với thời gian ngắn ngủi ấy, làm sao tổ chức được một hệ thống quân đội vững vàng, hùng mạnh?! Trong khi đấy tình hình quân sự tại chiến trường càng ngày càng ác liệt?!

Vì sao ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là ngày 19 tháng 6. 

Đến ngày 25-5-1965, thủ tướng Phan Huy Quát cải tổ chính phủ, bổ nhiệm một số tổng trưởng mới, nhưng quốc trưởng Phan Khắc Sửu không đồng ý, đã gây nên cuộc khủng hoảng nội các.

Ngày 9-6-1965, thủ tướng Phan Huy Quát họp báo, tường trình về cuộc khủng hoảng chính trị và đề nghị các tướng lãnh đứng ra làm trung gian để ổn định cho đến khi có một chính phủ dân cử. Các tướng lãnh áp lực quốc trưởng Phan Khắc Sửu, thủ tướng Phan Huy Quát giao lại cho quân đội trách nhiệm và quyền lãnh đạo quốc gia mà trước đấy đã ủy thác cho chính phủ dân sự.

Do yêu cầu mạnh mẽ của các tướng lãnh, quốc trưởng Phan Khắc Sửu, thủ tướng Phan Huy Quát và chủ tịch Hội đồng Quốc gia Lập pháp Phạm Xuân Chiểu đồng ký bản tuyên cáo vào ngày 11-6-1965. Nội dung chính của bản tuyên cáo là: Chúng tôi, Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa và Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp, đồng quyết định long trọng trao trả lại cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo quốc gia đã được Hội Đồng Quân Lực ủy thác cho chúng tôi chiếu theo Quyết định số 4 ngày 16-2-1965, Quyết định số 6 ngày 17-2-1965 và Quyết định số 8 ngày 5-5-1965, Tuyên cáo số 7 ngày 5-5-1965. Yêu cầu toàn thể đồng bào các giới không phân biệt thành phần xã hội, đảng phái và tôn giáo, ủng hộ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong việc lãnh đạo toàn Quân và toàn Dân đúng theo tinh thần của Cách Mạng ngày 1-11-1963.

Ngày 14-6-1965, Hội Đồng Quân Lực họp tại Sài Gòn, đồng thuận đứng ra lãnh trọng trách điều khiển quốc gia một lần nữa. Liền sau đó thành lập Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, sau khi thảo luận đã đồng ý đưa đến quyết định:

Thành phần của Ủy Ban Lãnh đạo Quốc gia gồm có: Một Chủ Tịch, một Tổng Thơ Ký, một Ủy Viên phụ trách điều khiển Hành Pháp, Tổng Trưởng Quốc Phòng, Tổng Tham Mưu Trưởng, các Tư Lệnh Vùng Chiến Thuật, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô. Các vị được tín nhiệm gồm có:

1- Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia: Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu.
2- Tổng Thư Ký: Trung tướng Phạm Xuân Chiểu.
3- Ủy Viên phụ trách điều khiển Hành Pháp: Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ.
- Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có. 
- Tư Lệnh Quân Đoàn I: Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi. 
- Tư Lệnh Quân Đoàn II: Thiếu tướng Nguyễn Văn Mạnh. 
- Tư Lệnh Quân Đoàn III: Thiếu tướng Cao Văn Viên. 
- Tư Lệnh Quân Đoàn IV: Thiếu tướng Đặng Văn Quang.

Ngày 19-6-1965, Hội Đồng Quân Lực ra quyết định số 4/ QLVNCH, giải tán Hội đồng Quốc gia Lập pháp và thiết lập các tổ chức: Đại hội đồng Quân lực, Ủy Ban Lãnh đạo Quốc gia, Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, Hội đồng An ninh Quốc gia, Hội đồng Kinh tế và Xã hội. Ngoài ra, Chủ tịch Ủy Ban Lãnh đạo Quốc gia Nguyễn Văn Thiệu, đã ký sắc lệnh 001/a/CT/LĐQG thành lập nội các chiến tranh, gọi là Ủy ban Hành pháp Trung ương và quyết định số 5/QLVNCH thành lập Thượng Hội đồng thẩm phán. Từ đấy, “Ngày 19 tháng 6 là ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa”, còn gọi là “Ngày Quân Lực” và Ngày Quân Lực 19-6 đầu tiên được tổ chức trọng thể vào ngày 19-6-1966.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa can trường, danh bất tử. 

Sau khi ký hiệp định Genève ở Thụy Sĩ vào ngày 20-7-1954, quân Pháp lần lượt rút về nước Pháp, còn số người theo Việt Minh từ miền Nam tập kết ra Bắc không có thống kê đầy đủ. Nhưng theo Hội nghị tại Liễu Châu (Quảng Tây, Tàu) ngày 3-7-1954, trước khi ký hiệp định Genève, thì Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai dự tính rút khoảng 60.000 người cả bộ đội và chính trị viên về Bắc và sẽ lén gài người ở lại miền Nam Việt Nam khoảng 10.000 người với vũ khí chôn giấu để chờ thời cơ.

Đến ngày 20-12-1960, Bắc Việt thành lập “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam” tại xã Tân Lập (nay là Tân Biên, nơi núi rừng tỉnh Tây Ninh) và lén lút đưa quân vào Nam. Cũng từ đấy, quân đội Bắc Việt xâm lược miền Nam từ du kích chiến sang vận động chiến, mở những trận đánh lớn, như: Trận ấp Bắc thuộc tỉnh Tiền Giang ngày nay, đã đụng độ lớn vào ngày 2-1-1963. Trận Bình Giã đụng độ dữ dội vào cuối tháng 12 năm 1964 tại làng Bình Giã, tỉnh Phước Tuy.... Như vậy, quân Bắc Việt tấn công miền Nam Việt Nam từ khi chưa có quân Mỹ tham chiến.

Đến ngày 8-3-1965, đơn vị Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ (United States Marine Corps) đổ bộ lên bãi biển Nam Ô, Đà Nẵng (mật hiệu của bãi đổ bộ: Red Beach Two). Đơn vị đổ bộ đầu tiên thuộc Tiểu đoàn 3/9 (Battalion Landing Team 3/9), vào bờ lúc 9 giờ 18 phút (giờ địa phương). Từ đấy bắt đầu một trang sử mới về sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Hiệp định Paris (Ba Lê) ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973, đến tháng 11 năm đó, Quốc hội Mỹ thông qua luật buộc Tổng thống báo cho Quốc hội trong vòng 48 tiếng về quyết định điều quân Hoa Kỳ trong chiến tranh, và triệt thoái quân đội trong vòng 60 ngày. Hai biện pháp này đã khiến tổng thống Nixon không thể can thiệp ở Đông Dương. 

Như vậy, quân Mỹ bắt đầu đến Việt Nam từ năm 1965 và rút quân về nước vào năm 1973, thời gian kể từ trước năm 1965 và sau năm 1973, chỉ có Quân đội VNCH chống chọi với Cộng quân mà thôi. Và Mỹ không hề chiếm một (01) tấc đất nào của VN, ngược lại nước VN rõ ràng bị Tàu cộng xâm lược: 

- Ngày 19-1-1974, Hải quân Tàu cộng đánh cướp đảo Hoàng Sa của VNCH.
- Ngày 14-3-1988, quân Tàu cộng đánh cướp đảo Gạc Ma của Việt Nam. 
- Ngày 30-12-1999, Tàu cộng lấn chiếm khoảng 700 km vuông lãnh thổ VN. 
- Ngày 25-12-2000, Tàu cộng lấn chiếm khoảng 11.000 km vuông vịnh Bắc Việt. 

- Vào đầu tháng 5-2014, Giàn khoan HD-981 của Tàu cộng xâm phạm vào vùng Đặc quyền kinh tế của Việt Nam... 

Vậy ai nói rằng Mỹ xâm lược là kẻ đổi trắng thay đen, có những quốc gia “cần quân xâm lược Mỹ” để vẹn toàn lãnh thổ, tiêu biểu như: 

- Nhật, Nhật-Mỹ đã lần lượt ký kết nhiều thỏa thuận, xác lập “dự toán quan tâm” bằng hình thức lập pháp đặc biệt và ngân sách Nhật sẽ cung cấp cho quân đội Mỹ đóng tại Nhật tăng dần theo từng năm. Năm 1999, dự toán quan tâm với ngân khoản là 275,6 tỉ Yên (khoảng 2,7 tỉ US Dollard).

- Nam Hàn, thỏa thuận Hoa Kỳ-Hàn Quốc có thời hạn trong 5 năm, đã được thông qua hồi tháng 7 năm 2013, theo thỏa thuận này, Hàn Quốc sẽ đóng góp khoảng 930 tỷ won (khoảng 875 triệu USD) trong năm 2014, cho chi phí đóng quân của binh sĩ Mỹ ở đất nước này. 

Từ đấy theo thiển kiến của người viết đừng có kẻ nào ra rả loạn ngôn “chống Mỹ xâm lược cứu nước”, vì định nghĩa xâm lược là: “cướp lãnh thổ và chủ quyền của nước khác bằng vũ lực hoặc bằng các thủ đoạn chính trị”.

Lý do nào, miền Nam Việt Nam bị thất bại vào năm 1975?! 

Có nhiều nguyên nhân mà nguyên nhân chính là thiếu quân dụng, đạn dược để chiến đấu, để minh chứng điều này xin trích bài “Những sự thật về Chiến Tranh Việt Nam” của Giáo sư Robert F. Turner ở Đại Học Luật Khoa Virginia và Học Viện Hải Quân thuộc Trung tâm an ninh Luật Pháp Quốc Gia, đã thẳng thắn nói rằng: “Có một bài viết trong báo Foreign Affairs năm 2004, do Giáo sư John Lewis Gaddis là Khoa trưởng American Diplomatic Historians đã nhận định đúng đắn: Các sử gia hiện tại công nhận rằng miền Nam Việt Nam và đồng minh đã thắng cuộc chiến quân sự. Nhưng lại thua cuộc chiến tâm lý tại Mỹ. Tôi xin nhắc lại cho quý vị trẻ biết sau khi bị bỏ bom tơi bời Hà Nội vội vã trở lại đàm phán tại Paris. Và mọi chuyện êm xuôi nếu chúng ta dùng máy bay B52 để trấn giữ hiệp định. Nhưng quốc hội với áp lực của ‘Phong trào Hòa Bình’ đã thông qua dự luật vào năm 1973. Sẽ là bất hợp pháp nếu Tổng thống sử dụng bất cứ đồng nào trong công quỹ cho cuộc chiến tại Việt Nam, Lào và Cambodia. Làm như vậy, Quốc hội đã chuyển thắng thành bại. Quốc hội phản bội lời cam kết lịch sử của Hoa Kỳ là bảo vệ các nước không Cộng sản tại Đông Dương. Lúc ấy tôi làm việc tại Thượng nghị viện, nghị sĩ Ted Kennedy tuyên bố rằng ‘Việt Nam không cần giúp đỡ, họ đã có lượng vũ khí trị giá vô số triệu đô la’. Đó là sự thật, Việt Nam có phi cơ trực thăng, xe tăng Hoa Kỳ. Nhưng cái mà họ không biết là Việt Nam không có đạn, không có xăng, không có phụ tùng. Đống đồ đó trở nên vô dụng. Đây là câu chuyện tôi chưa bao giờ kể cho ai nghe”. 

Dù người Quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử, nhưng danh bất tử. Vì sao, là vì trong suốt 20 năm chiến tranh, những nơi xảy ra chiến trận ác liệt, người Quân nhân của VNCH đã can trường biến những địa danh: Bình Long An Lộc (1972). Cổ thành Quảng Trị (1972). Đồi Charlie, Đắk Tô, Tân Cảnh (1972). Hải chiến Hoàng Sa (1974). Phòng tuyến Xuân Lộc (1975)... thành những địa danh nổi tiếng trong lịch sử thời cận đại và khi nhắc nhở đến những địa danh này đã làm sống lại tinh thần chiến đấu can trường của Quân lực VNCH. 

Ngày nay, có nhiều người Quân nhân QLVNCH đã đến các nước tự do, dù không còn trực tiếp cầm vũ khí chiến đấu nhưng đa số trái tim vẫn yêu nước nồng nàn, có những Quân nhân ngày nay không còn cầm vũ khí thì cầm bút chống Cộng rất mạnh mẽ và hiệu quả. Người Quân nhân QLVNCH luôn tâm niệm “Huynh đệ chi binh”, thế nên trong khi chiến đấu thì thân thương dìu dắt lẫn nhau, nay kẻ hải ngoại người quốc nội, tâm tư vẫn lo lắng cho nhau, nên chẳng những có nhiều người Quân nhân cùng Đồng bào luôn lo lắng giúp đỡ Thương binh VNCH trong nước đã, đang bị chế độ phân biệt đối xử?! 

Thương binh tàn tật, sống gian nan
Xã hội đổi thay, quá phũ phàng!
Kẻ thắng hung hăn, cười ngạo nghễ
Người thua lận đận, tủi miên man!

Nhớ người thương tật, bởi quê hương
Đời sống khó khăn, cảnh đoạn trường!
Mong mỏi đồng bào, hoan hỷ giúp
Nhắn nhe chiến hữu, tận tình thương?!!!

Trong suốt 20 năm (1954-1975) chiến tranh tàn khốc đã gây ra số tử thương: Quân đội của VNCH bị tử thương khoảng: 250.000 người. Quân độ CSVN bị tử vong khoảng: 1.100.000 người, trong số này bao gồm chết vì chiến trận, chết vì bị máy bay trên đường xâm nhập vào Nam và chết vì bệnh tật. Thường dân Việt Nam bị chết khoảng: 3.000.000 người. Và hai nước láng giềng là: Cao Miên bị chết khoảng 70.000 người, Lào bị chết khoảng 50.000 người. Tổng kết quân đội các bên, kể cả quân Mỹ, Nam Hàn... giúp miền Nam; quân Tàu... giúp miền Bắc và thường dân Việt Nam, Miên và Lào, đã bị chết ước tính khoảng 4.480.000 người.

Quân lực VNCH, trên hai mươi năm gìn giữ miền Nam Việt Nam tự do, với những chiến tích lẫy lừng, chẳng những bảo vệ miền Nam Việt Nam tự do, phồn thịnh, mà còn chận đứng làn sóng xâm lăng ào ạt của Cộng sản suốt 20 năm dài đằng đẵng, đã làm cho cả thế giới phải tôn vinh và thán phục. Người Quân nhân VNCH đã để lại những tấm gương hào hùng lẫm liệt, tô điểm trang Sử Việt rực rỡ và giống nòi sẽ muôn đời lưu luyến biết ơn. 

Trong suốt 20 năm chiến tranh, người Chiến sĩ của VNCH đã gian nan bền bỉ chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc và bảo bọc Đồng bào, biết bao người đã dũng cảm lẫm liệt hy sinh, lòng son sắt ấy mãi mãi thắm đượm núi sông. Người viết kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ anh linh của 250.000 người Chiến sĩ VNCH bị tử thương và lực lược đồng minh, với 58.000 người Chiến sĩ Hòa Kỳ đã hy sinh vì bảo vệ tự do tại miền Nam Việt Nam:

Xưa Chiến sĩ núi non lặn lội
Giữ tự do, vượt suối, băng rừng
Nhớ người son sắt kiên trung
Nhớ ơn báo quốc, hào hùng chiến công!

Nhìn thăm thẳm lên không lồng lộng!
Thấp thoáng xa những bóng anh linh!
Nhớ ra người đã hy sinh
Sao còn lẫm liệt, rập rình tiếng quân?!!!

Ngày nào mất, mộ phần không biết?!
Ngưỡng mộ người, thương tiếc, tiếc thương!
Nguyện cầu Tử sĩ muôn phương
Thảnh thơi cực lạc, thiên đường an vui!(*)

Ngày 9 tháng 6 năm 2014 


_______________________________________

Tài liệu tham khảo:

- Ngày 19 tháng 6 Quân lực Việt Nam Cộng hòa của Phạm Bá Hoa. 
- Ý nghĩa ngày Quân lực Việt Nam Cộng hòa 19-6, của Phạm Phong Dinh.
(*)- Muốn xem hết bài thơ, click vào Google: “Tiếc Thương Tử Sĩ-báo Calitoday”.


The Four Vietnamese American  Newest West pointers, class of May 2014.



From left. o­ne Le and three Nguyen's, the future Generals of the US Armed Forces, in addition to o­ne general and o­ne admiral we already have. Plus thousands of Colonels.
Folks.  Protect your loved o­nes and defend your beloved, greatest country from all enemies,  within and without. We are proud of, and love, you.

Soon we are going to have a Madam Senator Dylan Lindsey Nguyen
 
alt

Bốn thiếu úy gốc Việt vừa tốt nghiệp Học Viện quân Sự West Point niên khóa 2014.
 
   Từ trái: Phillip Lê Hoàng Phú, Jonny Nguyễn, Vincarlo Nguyễn và Amanda Nguyễn.    


V V vv.vv250@yahoo.com.au 
To 
 Today at 12:26 PM


BỐN NHÀ HOẠT ĐỘNG DÂN SỰ TỚI GENEVA, 
THAM DỰ PHIÊN HỌP UPR CỦA VIỆT NAM

Geneva, 19/6/2014 – Bốn nhà hoạt động dân sự gồm Nguyễn Quang A, Phạm Lê Vương Các, Nguyễn Thị Vy Hạnh và Trịnh Hữu Long đã tới Geneva (Thụy Sĩ) ngày 19/6, bắt đầu chiến dịch vận động nhân quyền kéo dài hai tuần tại châu Âu. Một trong những sự kiện quan trọng của chiến dịch lần này là phiên họp thông qua báo cáo về Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR) của Việt Nam diễn ra tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (HRC) vào chiều ngày 20/6, giờ địa phương.
Phái đoàn lần này đại diện cho 10 tổ chức xã hội dân sự trong nước đang hoạt động trong lĩnh vực thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Đây đều là các tổ chức hoạt động hoàn toàn độc lập với chính quyền và thường xuyên bị chính quyền sách nhiễu.
Theo lịch làm việc của HRC, phiên họp UPR của Việt Nam sẽ kéo dài một giờ trong khoảng thời gian từ 15-18:00 giờ, giờ Geneva, tức là từ 20-23:00 giờ Việt Nam. Đây được cho là sự kiện khép lại một quy trình kiểm điểm về nhân quyền theo cơ chế UPR của Liên hợp quốc. Quy trình này bắt đầu từ phiên điều trần về UPR ngày 5/2 khi Việt Nam trình bày trước HRC về việc thực thi các khuyến nghị UPR chu kỳ 1 (2009-2013), lắng nghe bình luận của các quốc gia thành viên LHQ và tiếp nhận các khuyến nghị mới cho chu kỳ 2 (2014-2018). Tại phiên họp ngày 20/6 này, chính phủ Việt Nam sẽ phải trả lời trước HRC về việc họ đồng ý thực thi những khuyến nghị nào trong số 227 khuyến nghị của hơn 100 quốc gia thành viên.
Tiến sĩ Nguyễn Quang A cho biết, “ở lần kiểm điểm đầu tiên tháng vào năm 2009, chính phủ Việt Nam chỉ đồng ý 96 trên tổng số 123 khuyến nghị của các nước, trong đó hầu hết là các khuyến nghị chung chung, khó đánh giá. Họ từ chối các khuyến nghị liên quan đến việc trả tự do cho tù nhân chính trị, tư nhân hóa báo chí và sửa đổi hệ thống pháp luật. Điều đó thể hiện mức độ cam kết rất là thấp”.
Đặt phiên họp lần này trong bối cảnh mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng xấu đi, blogger Phạm Lê Vương Các cho rằng, “phản ứng của Việt Nam tại phiên họp này sẽ cho chúng ta thấy sự uy hiếp từ Trung Quốc tác động như thế nào đến tiến trình dân chủ hóa và sự tôn trọng nhân quyền ở Việt Nam. Nói cách khác, chỉ cần theo dõi các khuyến nghị UPR mà Việt Nam đồng ý hay từ chối, chúng ta có thể đo lường được tác động của cuộc khủng hoảng trên Biển Đông hiện nay”.
Phái đoàn lần này dự kiến sẽ dừng chân tại bốn nước châu Âu gồm Thụy Sĩ, Bỉ, Ba Lan và Cộng hòa Séc để gặp gỡ với các cơ quan Liên hợp quốc, các cơ quan ngoại giao của Liên minh châu Âu (EU) cũng như một số quốc gia và các tổ chức quốc tế. Nguyễn Thị Vy Hạnh, một luật sư nhân quyền người Mỹ gốc Việt, đánh giá cao tầm quan trọng của các cơ chế nhân quyền quốc tế và cho rằng “vận động quốc tế là phần việc mà cộng đồng người Việt ở nước ngoài có thể làm rất tốt để hỗ trợ các hội nhóm dân sự và người dân trong nước trong công cuộc đấu tranh vì quyền con người”.
Luật gia Trịnh Hữu Long, người đã tham dự phiên điều trần UPR của Việt Nam ngày 5/2 cho biết, “bất chấp mọi phản ứng của chính phủ Việt Nam tại phiên họp UPR lần này, chúng tôi vẫn tiếp tục thúc giục và kêu gọi cộng đồng quốc tế, cộng đồng người Việt trong và ngoài nước nỗ lực hơn nữa, thực hiện những công việc cụ thể hơn nữa để cải thiện tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Đó là một quá trình lâu dài, cam kết nhất thời của chính phủ, nếu có, cũng hoàn toàn không đủ”./.

Các tổ chức tham gia chiến dịch: Diễn đàn Xã hội Dân sự, Hiệp hội Đoàn kết Công nông Việt Nam, Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam, Hội Anh em Dân chủ, Hội Bầu bí tương thân, No-U FC Hà Nội, No-U FC Sài Gòn, Phật giáo Hòa Hảo Miền Tây (Nam Việt Nam), Phong trào Con đường Việt Nam và VOICE.
Mọi chi tiết xin liên hệ: Nguyễn Thị Vy Hạnh – Điện thoại: (+41) 76 660 8623 hoặc email  vietnamupr@gmail.com.



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Chúc Mừng Năm Mới 2026 [01.01.2026 19:26]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 184 lần]
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 180 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 166 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 165 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 60 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 44 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 0 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.