 |
 |
Các chuyên mục |
|
Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal
Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat
Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục
Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói
Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí
Web links
Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo
Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng
Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP
|
|
|
|
Xem bài theo ngày |
|
| Tháng Năm 2026 | | T2 | T3 | T4 | T5 | T6 | T7 | CN |
| |
|
|
|
1 |
2 |
3 |
| 4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
10 |
| 11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
| 18 |
19 |
20 |
21 |
22 |
23 |
24 |
| 25 |
26 |
27 |
28 |
29 |
30 |
31 |
|
|
|
|
Thống kê website |
|
 |
Trực tuyến: |
3 |
 |
Lượt truy cập: |
29135489 |
|
|
|
|
| |
|
 |
 |
|
|
|
Khiếp sợ TQ nên CSVN không dám kiện, giải pháp du nhất là giải thể chính phủ tái lập VNCH mới đòi được Hoàng Sa à biển Đông
21.06.2014 15:23
Điều còn có thể cho là may mắn là cuộc đối đầu về giàn khoan HD-981 chưa chuyển sang đấu súng. Thay vào đó, nó đã đi đến một cuộc đấu chữ tại LHQ. Trong cuộc đấu chữ này, Việt Nam đã “khai hỏa” trước. Ngày 2/6/2014 Việt Nam yêu cầu Tổng Thư ký LHQ lưu hành một công hàm cho phiên họp thứ 68 của tổ chức này, phản đối về giàn khoan HD-981, cũng như ghi mệnh đề thường lệ nói rằng “Việt Nam có đầy đủ dẫn chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa”.
Những người tin rằng CSVN đã ký kết những mật ước bán nước để đổi lấy sự bảo trợ của ngoại bang cho độc quyền cai trị của họ có thể quả quyết: chẳng đời nào CSVN dám kiện Trung Cộng về vụ Hoàng Sa và Trường Sa. Tất cả những tuyên bố phản đối Trung Cộng có vẻ mạnh bạo của các lãnh đạo CSVN đều chỉ là đóng kịch hầu làm yên lòng dân chúng thôi. Vì hiện nay lòng dân đang hết sức hoang mang lo lắng vì nghi ngờ rằng những mật ước mà Trung cộng và CSVN đã lén lút ký kết với nhau sẽ hết sức bất lợi cho vận mạng và sự sống còn của dân tộc. Nếu những mật ước này được chính thức tiết lộ và người dân bất ngờ biết được rõ ràng không thể chối cãi về dã tâm bán nước của đảng CSVN, thì sự phẫn nộ của người dân sẽ vọt lên cao độ có thể nổ ra những cuộc biểu tình bạo động của toàn dân ở khắp đất nước. Lúc ấy chế độ cộng sản chắc chắn sẽ sụp đổ.
Lúc ấy, với thể chế mới nghiêng về tự do dân chủ, số phận của đảng và của những người lãnh đạo đảng sẽ hết sức bi đát, và mộng thôn tính Việt Nam hay mộng biến Việt Nam thành “sân sau” của Trung cộng cũng tan thành mây khói. Chính vì thế, cả CSVN lẫn Trung cộng đều vì quyền lợi của mình mà cùng cam kết giữ bí mật những mật ước ấy cho đến thời điểm mà việc “bật mí” không còn gây nên bất lợi cho đôi bên nữa.
Mặc dù nếu kiện Trung cộng ra trước tòa án quốc tế, CSVN chắc chắn sẽ thắng, vì những bằng chứng lịch sử của Việt Nam về chủ quyền của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã hết sức rõ ràng không thể chối cãi. Trong khi đó, lý chứng của Trung cộng về chủ quyền của họ trên hai quần đảo này rất yếu. Nếu lý chứng của Trung cộng mạnh và nếu họ nắm chắc phần thắng thì chắc chắn 100% họ sẽ không đe dọa hầu ngăn cản CSVN kiện họ ra tòa án quốc tế. Vì thế, nếu CSVN có can đảm kiện Trung cộng, phần thắng chắc chắn nằm về phía Việt Nam.
Về phía Trung cộng, ngày 8-6-2014, Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố 5 sự kiện chứng tỏ CSVN đã công nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc. 5 sự kiện đó gồm:
1. Lời của Ung Văn Khiêm, Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao và của Lê Lộc, Trưởng Vụ Á châu thuộc Ngoại giao CSVN thời Hồ Chí Minh tuyên bố ngày 16-5-1956 khi tiếp Lý Chí Dân, đại diện Sứ quán Trung cộng tại Hà Nội, công nhận “quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là thuộc về lãnh thổ Trung Quốc”, thậm chí “thuộc về Trung Quốc ngay từ đời Nhà Tống”.
2. Công hàm Phạm Văn Đồng ngày 14-9-1958 mặc nhiên công nhận hai quần đảo trên thuộc Trung Quốc.
3. Tuyên bố của CSVN thời Hồ Chí Minh ngày 9-5-1965 về việc quân Mỹ lập khu tác chiến ở Việt Nam cũng có đoạn công nhận “một bộ phận lãnh hải thuộc quần đảo Tây Sa là của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa”
4. Cục Đo đạc và Bản đồ thuộc Phủ Thủ tướng CSVN vào năm 1972 có ấn hành Tập Bản đồ thế giới không ghi tên hai quần đảo quần đảo trên là Hoàng Sa và Trường Sa mà lại ghi là Tây Sa và Nam Sa, là tên do Trung Quốc đặt.
5. Nhà xuất bàn Giáo Dục, Hà Nội đã xuất bản sách Địa lý lớp chín năm 1974 có đoạn viết: “Vòng cung đảo từ các đảo Nam Sa, Tây Sa đến các đảo Hải Nam, Đài Loan, quần đảo Hoành bồ, Châu sơn … làm thành một bức “trường thành” bảo vệ lục địa Trung Quốc.”
Những bằng chứng kể trên của Trung cộng có giá trị pháp lý rất yếu so với những bằng chứng mà CSVN có thể đưa ra. Nếu Trung cộng chỉ đưa ra được một vài lời của cá nhân ông nọ ông kia thuộc chế độ CSVN −một chế độ không có tự do ngôn luận− công nhận hai quần đảo đó là của Trung cộng, thì để đối đáp lại, CSVN có thể trưng ra biết bao lời của những người có uy tín thuộc chế độ VNCH −một chế độ mà người dân có quyền tự do ngôn luận− công nhận ngược lại. Đó là chưa kể những văn bản và bản đồ trong lịch sử của Việt Nam, của Trung cộng và của thế giới làm chứng cho Việt Nam. Những bằng chứng kể trên của Trung cộng tuy hết sức rẻ tiền nhưng lại làm cho CSVN rất nhột, khiến CSVN rất e dè không dám mạnh dạn kiện Trung cộng. Tại sao vậy?
Hiện nay, ai cũng biết là hai đảng Cộng sản, Trung cộng và Việt cộng, đã từng lén lút ký kết với nhau những mật ước mà vì quyền lợi chung của cả hai bên, nên cả hai đều hết sức giữ bí mật như đã cam kết. Tại sao lại phải giữ bí mật, nếu không phải là một chuyện mờ ám? Người dân có thể đoán được lý do là những mật ước này chắc chắn có lợi cho tham vọng “độc quyền trường trị Việt Nam” của đảng CSVN nhưng hết sức bất lợi cho quốc gia và dân tộc Việt Nam. Nội dung những mật ước này cho tới nay chỉ có Bộ Chính Trị biết với nhau, còn người dân chỉ nhận được những thông tin rò rỉ không chính thức nên chưa ai dám quả quyết điều gì. Tuy nhiên, trong quá khứ, rất nhiều thông tin bị rò rỉ, ban đầu không ai dám quả quyết, nhưng cuối cùng mọi người đều biết đó là sự thật ([1]).
Theo tác giả Trần Gia Phụng (một sử gia ở Canada), thì Trung Quốc công bố 5 bằng chứng trên theo một kế hoạch từng bước, rất lớp lang ([2]).
Bước 1: Công hàm Phạm Văn Đồng được đưa ra sau khi giàn khoan 981 bị dân chúng Việt Nam biểu tình chống đối dữ dội và bị CSVN lên tiếng phản đối (tương đối mạnh mẽ hơn bao giờ hết, mặc dù vẫn còn rất yếu so với mức độ hợp lý phải làm). Công hàm ấy được đưa ra vào thời điểm này có tác dụng khiến CSVN lo sợ nên đã ra lệnh cấm dân chúng biểu tình chống Trung Quốc.
Hành động cấm đoán này khiến người dân phẫn nộ chống luôn cả CSVN. Vì qua hành động cấm đoán này, người dân thấy được bộ mặt thật của CSVN là đồng lõa tiếp tay với Trung cộng. Nước mất tới nơi, kẻ thù đã vào tận nhà, thế mà đảng và nhà nước cầm quyền đã không làm gì đủ mạnh để chống lại, lại còn cấm người dân phản đối thì rõ ràng là tiếp tay giúp kẻ thù rồi còn gì nữa? Để xoa dịu sự phẫn nộ của dân chúng, Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng khi công du Philippines đã lên tiếng sẽ kiện Trung cộng ra trước tòa án quốc tế.
Bước 2: Vụ sách giáo khoa lớp 9 được đưa ra sau lời tuyên bố sẽ kiện Trung cộng của Nguyễn Tấn Dũng tại Philippines.
Lúc này người dân thấy rõ lãnh đạo CSVN đang ở trong thế “trên đe dưới búa” giữa Trung cộng và người dân trong nước. Vì thế phải làm sao xoa dịu được sự phẫn nộ của cả hai phía. Điều này quả là nan giải, vì hễ xoa bên này thì sẽ làm bên kia phẫn nộ và ngược lại. Nên lãnh đạo CSVN cứ phải “đu giây” giữa hai thế lực này để tồn tại. Do đó, mọi hành động của CSVN trong giai đoạn này hoàn toàn là chỉ để đối phó sao cho xong chuyện, sao cho chế độ có thể tồn tại được. Mọi cách lừa bịp, đóng kịch, giả bộ… đều có thể sử dụng.
Bước 3: Trung cộng đưa ra cùng một lúc năm bằng chứng kể trên để buộc CSVN phải nhượng bộ Trung cộng nhiều hơn.
Đặc điểm của những bằng chứng trên không có giá trị pháp lý trước tòa án quốc tế, nhưng có giá trị đe dọa rất lớn đối với giới lãnh đạo CSVN, vì nó giúp người dân Việt trong nước cũng như hải ngoại từ từ thấy được ngày càng rõ ràng và chắc chắn bộ mặt thật sự bán nước của CSVN. Đây là điều mà CSVN muốn che dấu với bất cứ giá nào, nhưng không ngờ Trung cộng lại đang dần dần “bật mí” từng bước một. Chắc chắn Trung cộng sẽ tiếp tục “bật mí” nếu CSVN hành động bất lợi cho Trung cộng. Điều này khiến CSVN vô cùng lo sợ.
Ba bước trên được thực hiện rất tiệm tiến, từng bước một, là một thông điệp mà Trung cộng muốn nhắn nhủ CSVN: 5 bằng chứng trên chưa phải là hết, vì sẽ còn những bằng chứng khác mạnh mẽ hơn nhiều. Người dân trong nước khi biết chắc chắn những bằng chứng ấy là sự thật sẽ phải “ngã ngửa” và “bừng bừng nổi giận”. Nếu CSVN quyết ăn thua với Trung cộng, chẳng hạn, kiện Trung cộng trước quốc tế, hoặc đi với Mỹ để chống lại Trung cộng, hoặc phản đối Trung cộng một cách quyết liệt, khiến mộng thôn tính Việt Nam của Trung cộng hoàn toàn tan vỡ, thì Trung cộng sẽ có thái độ “phá thối”, “ăn không được, phá cho hôi”. Điều này đương nhiên xảy ra và quả rất dễ hiểu đối với những “tên điếm”, những chế độ “tiểu nhân tới mức tận cùng” như Trung cộng và Việt Nam.
Nếu người dân phẫn nộ đến mức nổi lên lật đổ chế độ CSVN và thiết lập chế độ tự do dân chủ thì Trung cộng sẽ không thôn tính được Việt Nam. Khi ấy Trung cộng chỉ bị hụt hẫng vì đã hy sinh tiền bạc, vũ khí giúp CSVN lên ngôi thống trị toàn Việt Nam mà kết cuộc chẳng được gì. Nhưng số phận những tên lãnh đạo CSVN chắc chắn sẽ không khác gì số phận những tên độc tài phản quốc như Gadhafi, Hussein, Honecker, Ceauşescu…
Chính vì thế, CSVN rất sợ, không dám làm gì mạnh tay đối với Trung cộng, không dám kiện Trung cộng trước tòa án quốc tế về vụ Trường Sa Hoàng Sa dù biết rằng hễ kiện thì sẽ thắng. CSVN rất sợ những gì sẽ xảy ra sau đó vì chắc chắn Trung cộng sẽ trả thù. Những kẻ tiểu nhân và hèn hạ đều biết chúng sẽ bị đồng bọn đối xử với chúng ra sao khi chúng phản bội.
Hiện nay, trong tình trạng “trên đe dưới búa” của CSVN, lối thoát duy nhất và khôn ngoan nhất của họ bây giờ là “đái công chuộc tội” bằng cách trở về với quốc gia dân tộc, đặt quyền lợi dân tộc lên trên quyền lợi của đảng, của gia đình cũng như của cá nhân mình. Họ hãy kịp thời chủ động chuyển đất nước sang thể chế dân chủ tương tự như Miến Điện đã làm. Hãy trả tự do cho những người yêu nước đang bị cầm tù hay quản chế, và mời những người yêu nước thương dân và có tài để cùng với họ chuyển hóa đất nước sang thể chế dân chủ thật sự.
Người Việt là một dân tộc rất sùng đạo, nói chung, họ đã thấm nhuần tinh thần đạo đức của các tôn giáo lớn, chắc chắn họ sẵn sàng tha thứ cho những kẻ lầm lỗi biết trở về đường ngay nẻo chính bằng những hành động “đái tội lập công” cụ thể. Đó chính là con đường duy nhất để đảng CSVN có thể cứu nguy dân tộc đồng thời tự cứu lấy mình.
Với thể chế dân chủ đích thực, chính quyền mới sẽ hành động tương tự chính phủ Hoa Kỳ sau cuộc nội chiến Nam Bắc phân tranh, hay như chính phủ Đức sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ và nước Đức thống nhất. Sẽ không có những trại học tập cải tạo dã man và bỉ ổi như CSVN đã làm đối với quân cán chính VNCH. Những kẻ “đái tội lập công” sẽ được tha thứ và tôn vinh.
Một mình đảng CSVN chắc chắn 100% không thể cưỡng lại được tham vọng bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán. Nhưng một khi quyền điều hành đất nước được trao lại cho toàn dân, thì chắc chắn Trung cộng không thể làm gì được dân tộc Việt Nam. Lịch sử đã chứng minh điều đó.
Vậy thì Đảng CSVN hãy kịp thời quyết định sáng suốt để cứu lấy mình và cứu cả dân tộc! Nếu không, cả mình lẫn cả dân tộc sẽ thật khốn nạn! Hãy nhanh lên, đừng để quá muộn!
Houston, ngày 20/6/2014.
Nguyễn Chính Kết.
[1] Hiện nay, dư luận đang sôi sục lên vì nhiều bản tin liên quan đến mật ước Thành Đô được ký kết trong một mật nghị giữa hai đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam tại Thành Đô tỉnh Tứ Xuyên ngày 3-4/9/1990. Tin này đã được nhiều người nhắc đến từ nhiều năm nay, nhưng chỉ mang tính cách là một thông tin bị rò rỉ, không có gì xác đáng cả.
Nhưng mới đây, Wikileak xác nhận rằng mật ước này là một trong 3100 bức điện thư lưu trữ tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Nội dung của mật ước này được cho là đarng CSVN chấp nhận Việt Nam sẽ trở thành một khu tự trị của Trung Cộng tương tự như Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng, Quảng Tây. Và thời điểm chót để hoàn thành mật ước này là năm 2020.
Chính vì thế, ngay sau khi Mật Nghị Thành Đô kết thúc, ông Nguyễn Cơ Thạch, bộ trưởng ngoại giao thời đó đã phải thốt lên: "Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu", và sau đó ông đã bị cách chức. Trong tập hồi ký "Hồi ức và Suy nghĩ" của ông Trần Quang Cơ, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao, cũng tiết lộ nhiều điều về mật nghị này.
[2] Xin xem bài “Đã đến lúc phải dứt khoát” của Trần Gia Phụng trên trang http://danlambaovn.blogspot.com/2014/06/a-en-luc-phai-dut-khoat.html#more.
Sắp đưa 4 giàn khoan vào Biển Đông: Trung Quốc nói 'bình thường, không cần giải thích thêm' với lủ ngu hèn
(VTC News) - Người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh trả lời báo giới về việc Bắc Kinh triển khai 4 giàn khoan vào khu vực Biển Đông.
Theo Tân Hoa Xã, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho rằng 'không cần giải thích về việc triển khai 4 giàn khoan dầu của Trung Quốc vào Biển Đông'.
Khi trả lời phóng viên về việc liệu 4 giàn khoan này có được đặt trong vùng tranh chấp, bà Hoa Xuân Oánh, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói 'các giàn khoan này chỉ hoạt động gần bờ và không cần nói nhiều về hoạt động của chúng', Tân Hoa Xã trích dẫn.
 | | Bà Hoa Xuân Oánh, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc |
Bà Oánh nói: "Những vị trí của các giàn khoan này được đặt tại các vùng ven biển của tỉnh Quảng Đông và tỉnh Hải Nam. Vì vậy tôi tin rằng các hoạt động này hoàn toàn bình thường và không cần giải thích thêm".
Nga 20/6, Tiếng nói nước Nga, ITAR-TASS dẫn nguồn Cục an ninh hàng hải Trung Quốc nói nước này sẽ đưa 4 giàn khoan ra Biển Đông.
Tuyên bố của Cục an ninh hàng hải Trung Quốc nói rằng 3 giàn khoan sẽ được bố trí Biển Đông và 1 giàn khoan ở không xa khu vực kinh tế Việt Nam.
Hiện tại, Trung Quốc đã đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào hoạt động trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
Video Trung Quốc đưa thêm giàn khoan Nam Hải 9 ra Biển Đông
Hãng thông tấn Nga ITAR-TASS nói mối quan hệ giữa Bắc Kinh và Hà Nội đã trở nên căng thẳng vào đầu tháng 5, sau khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan tại khu vực chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông.
Ngày 20/6, Trung Quốc thiết lập thêm một giàn khoan trong Biển Đông gần đảo Hải Nam mang tên Nam Hải 9, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hứa Chấn Ninh tuyên bố.
Ngày 19/6, bản tin ngắn của Cục Hải sự Trung Quốc cho biết: Giàn khoan 'Nam Hải số 9' (Nan Hai Jiu Hao) được kéo từ tọa độ 17 độ 38 vĩ Bắc, 110 độ 12,3 kinh Đông tới vị trí có tọa độ 17 độ 14,1 vĩ Bắc, 109 độ 31 kinh Đông trên Biển Đông trong thời gian từ ngày 18 đến 20/6.
| {POLL_261(Theo bạn, Việt Nam nên làm gì với giàn khoan trái phép Trung Quốc)} |
Cục Hải sự Trung Quốc cho biết thêm, giàn khoan nước sâu này được di chuyển với tốc độ 4 hải lý/giờ (khoảng 7km/giờ), tổng chiều dài dây kéo giữa tàu kéo và giàn khoan là 600m. Nước cờ sắp đến của Trung Quốc Lữ Giang Hôm 16.6.2014, Giáo Sư Carl Thayer, một chuyên gia về Biển Đông thuộc Học viện Quốc phòng Úc đã viết bài “China’s Information Warfare Campaign and the South China Sea: Bring It on!” (Chiến dịch tuyên truyền của Trung Quốc và Biển Đông: Hãy bàn cãi nó!) trên tờ The Diploma của Nhật Bản, cho rằng Trung Quốc đang mở một mặt trận mới để thực hiện âm mưu xâm chiếm Biển Đông. Trên đài RFI của Pháp, Trọng Nghĩa đã giới thiệu bài này, kèm theo là bản dịch toàn văn bài đó. Tiếp theo, các websites trong nước, từ chinhphu.vn, nguyentandung.org đến các báo online khác đều đăng lại bài đó dưới đầu đề “Bộ mặt thật ‘Tam chủng chiến pháp’ của Trung Quốc về Biển Đông”. Thật ra, dù không có bài nói trên của Giáo Sư Carl Thayer, các chính phủ Hoa Kỳ, Nhật Bản, Philippines, Việt Nan… cũng đã đoán biết Trung Quốc đang làm gì. Đi tranh đấu mà không biết địch và đồng minh đang làm gì, cứ suy nghĩ và hành độnn theo cảm tính như Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thì chỉ từ bại tới thua. Ý kiến của Giáo Sư Carl Thayer cũng không phải là mới lạ, nhưng chính phủ Việt Nam muốn mượn bài này để nói lên điều họ muốn nói, nhưng không tiện nói ra. Chúng tôi sẽ cố gắng trình bày âm mưu của Trung Quốc một cách cụ thể hơn. Tuy nhiên, trước khi trình bày ý đồ của Trung Quốc, chúng tôi xin tóm lược nội dung bài viết của Giáo Sư Carl Thayer. “TAM CHỦNG CHIẾN PHÁP” CỦA TRUNG QUỐC Trước hết, Giáo Sư Carl Thayer nhắc lại bài “China’s Three Warfares” (Ba cuộc chiến của Trung Quốc) do Timothy A. Walton viết năm 2012 cho văn phòng tư vấn Delex Consulting, Studies and Analysis, đó là chiến tranh tâm lý, chiến tranh thông tin, và chiến tranh pháp lý, được gọi là "Tam chủng chiến pháp" (san zhong zhanfa) do Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quân ủy Trung ương chính thức thông qua năm 2003. Theo Giáo Sư Thayer, thành tố thứ ba (chiến tranh pháp lý) chính là cơ sở cho bản tuyên bố lập trường của Trung Quốc mà ông Vương Dân (Wang Min), Phó Đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc, đã chuyển đến cho ông Tổng thư ký LHQ Ban Ki Moon ngày 9.6.2014 và yêu cầu cho lưu hành trong toàn bộ 193 thành viên LHQ. Giáo Sư Thayer cho rằng thoạt đầu, Trung Quốc bảo vệ việc hạ đặt giàn khoan dầu bằng cách nói rằng giàn khoan nằm trongvùng lãnh hải của Trung Quốc. Tuy nhiên, theo Công ước Liên Hiệp quốc về Luật Biển, vùng lãnh hải chỉ rộng 12 hải lý, còn giàn khoan được đặt ở phía cực tây quần đảo Hoàng Sa đến 17 hải lý, nên trong tuyên bố ngày 9.6.2014 Trung Quốc đã sửa lại bằng cách cho rằng giàn khoan HD-981 nằm trong vùng tiếp giáp lãnh hải của Trung Quốc, tức vùng nới rộng thêm 12 hải lý nữa. Nhưng cách nói này cũng thiếu cơ sở pháp lý, vì Luật Biển 1982 không cho phép làm điều đó trong vùng tiếp giáp. Tuy nhiên, các hoạt động hiện nay của Trung Quốc trên Biển Đông cho thấy Trung Quốc đã vượt ra khỏi vùng lãnh hải 12 hải lý và vùng tiếp giáp của quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đang biến một số đảo chính trong hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thành những đảo có sự sống tự nhiên để đòi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thêm lục địa. Đây là những vấn để pháp lý khá phức tạp, nhưng chúng tôi sẽ cố gắng trình bày giản dị để đọc giả có thể thấy những mưu đồ mà Trung Quốc đang thực hiện. BIẾT TRƯỚC “VÙNG NƯỚC LỊCH SỬ” BỊ LOẠI Khởi đầu Trung Quốc đưa ra đường lưỡi bò, thường gọi là đường 9 đoạn, vẽ cách bờ của các quốc gia ở quanh Biển Đông 12 hải lý. Phần ở giữa lưỡi bò được Trung Quốc gọi là “vùng nước lịch sử” (historic waters) của Trung Quốc và thuộc quyền sở hữu của Trung Quốc. Vậy “vùng nước lịch sử” là gì và Trung Quốc lấy ở đâu ra? Nói một cách vắn tắt, “vùng nước lịch sử” là vùng biển mà một quốc gia đã chấp hữu qua nhiều thế hệ và trở thành vùng sống còn của quốc gia đó. Một thí dụ cụ thể: Năm 1951, Anh và Na Uy tranh chấp về vùng đánh cá sát bờ của Na Uy. Vùng này rộng khoảng 100 hải lý. Trong phán quyết ngày 18.12.1951, Toà Án Công Lý Quốc Tế (International Court of Justice) đã công nhận vùng nước đó thuộc “quyền sở hữu lịch sử” (historic title) của Na Uy, các nước khác không được xâm phạm. Tuy nhiên, vì định chế “vùng nước lịch sử” đã gây quá nhiều tranh chấp không giải quyết được nên các nhà làm Luật Biển 1982 đã loại định chế này ra khỏi Luật Biển và thay vào đó bằng vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ đường cơ sở và thềm lục địa không quá 350 hải lý. Do đó, chủ trương “vùng nước lịch sử” của Trung Quốc không còn căn bản pháp lý và Trung Quốc cũng không chứng minh được đó là “vùng nước lịch sử” của Trung Quốc như Na Uy đã chứng minh. Biết trước trong vụ kiện của Philippines, Tòa Án Trọng Tài Quốc Tế sẽ bác bỏ đường 9 đoạn với vùng nước lịch sử, Trung Quốc tìm cách biến các đảo đá ở Hoàng Sa và Trường Sa thành những đảo có sự sống tự nhiên để tuyên bố vùng đặc khu kinh tế 200 hải lý của Trung Quốc. NHỮNG ĐÒN PHÉP CỦA TRUNG QUỐC Những người ít biết quốc tế công pháp về luật biển thường tưởng rằng chứng minh chủ quyền về một hòn đảo trên biển là chuyện dễ dàng, chỉ cần đưa một quyết định hành chánh, một tấm bia hay một bản đồ ra là đủ. Nhưng nếu đọc các bản án của Tòa Án Quốc Tế xét xử các vụ tranh chấp về đảo Palmas (giữa Mỹ và Hà Lan), đảo Greenland (giữa Dan Mạch và Na Uy), đảo Minquier và Ecrehous (giữa Anh và Pháp) v.v…, chúng ta sẽ thấy các yếu tố luật định để chứng minh chủ quyền đối với các hoang đảo trên biển không như các “chuyên gia tự xưng” đã tưởng. Trung Quốc không dựa vào các yếu tố pháp lý để chứng minh chủ quyền mà dựa vào sức mạnh, tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là không thể tranh cãi. Nhưng nếu chỉ ôm một số hoang đảo trên Biển Đông thì chẳng có gì trên đó để cạp. Dầu và khí đốt không nằm ở đó mà nằm ở trong các vùng sâu xung quanh. Vì thế, Trung Quốc phải làm sao để xác định các đảo mà Trung Quốc đã chiếm đều có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý như Luật Biển 1982 quy định. Nhưng Trung Quốc gặp khó khăn vì điều 121 của Luật Biển 1982. Điều này quy định: 1-. Một đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước. 2.- Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của hòn đảo được hoạch định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác. 3.- Những hòn đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng, thì không có vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa. Các đảo mà Trung Quốc chiếm đóng đều là đảo đá “không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng” nên không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa như điều 121 đã quy định. Vì thế, Trung Quốc phải hóa phép,biến các đảo đá thành các đảo nhân tạo có sự sống! HÓA PHÉP ĐỐI VỚI ĐẢO PHÚ LÂM Đảo Phú Lâm thuộc nhóm An Vĩnh là một đảo lớn trong quần đảo Hoàng Sa. Bản đồ Hòa Lan vẽ năm 1754 đã đặt cho Hoàng Sa cái tên là De Paracelles. Tên đó còn dùng đến ngày nay. Đã có sự tranh chấp giữa Pháp và Trung Quốc về quần đảo này sau Thế Chiến II. Tháng 4 năm 1950 quân của Tưởng Giới Thạch bỏ đảo Phú Lâm chuyển qua đảo Ba Đình ở Trường Sa. Năm 1956, khi Pháp rút khỏi Việt Nam thì đêm 20 rạng ngày 21.2.1956 quân Cộng Sản Trung Quốc tiến chiếm đảo Phú Lâm và đóng ở đó cho đến ngày nay. VNCH chỉ chiếm nhóm Lưỡi Liềm bao gồm các đảo Hoàng Sa, Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Ảnh, Quang Hòa, Bạch Quy và Tri Tôn. Đảo Phú Lâm có chiều dài 1,7 km, rộng 1,2 km, diện tích 320 mẩu hay chừng 1,3-2,1 km. Trung Quốc đã biến đảo Phú Lâm thành một thành phố nhỏ rồi căn cứ vào đó đòi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa cho toàn quần đảo Hoàng Sa. Vì vùng biển giữa đảo Lý Sơn của tỉnh Quảng Ngãi và đảo Tri Tôn của Hoàng Sa chỉ có 137 hải lý nên Trung Quốc chia đôi vùng này, mỗi bên 68 hải lý, rồi đem giàn khoan ra thăm dò ở phần được coi là của Trung Quốc. Tàu Việt Nam đi vào giới hạn đó đều bị Trung Quốc cho tàu hải giám húc. Trong bản tuyên bố ngày 9.6.2014 gởi ông Tổng Thư Ký LHQ, Trung Quốc nói: "Các vùng biển giữa quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) của Trung Quốc và bờ biển đất liền Việt Nam vẫn chưa được phân định. Hai bên vẫn chưa tiến hành phân định vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa trong vùng biển này. Cả hai bên đều có quyền khẳng định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo quy định của UNCLOS." Nói một cách cụ thể, Trung Quốc muốn ký với Việt Nam một hiệp ước chia đôi vùng biển giữa Việt Nam và đảo Hoàng Sa. Dĩ nhiên, Việt Nam không bao giờ chấp nhận như vậy vì chấp nhận có nghĩa công nhận Hoàng Sa là của Trung Quốc. HÓA PHÉP ĐỐI VỚI ĐẢO GẠC MA Năm 1791 một người Anh tên là Henry Spratly du hành đến Trường Sa và đặt tên cho đá Vành Khăn là Mischief. Năm 1843Richard Spratly đã đặt tên cho một số thực địa thuộc Trường Sa, trong đó có Spratly's Sandy Island . Từ đó tên Spratly trở thành tên của quần đảo Trường Sa. Hiện nay có đến 5 nước tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Trường Sa là Việt Nam, Philippines, Trung Quốc, Đài Loan và Mã Lai. Trung Quốc hiện đang chiếm 7 đảo là đá Châu Viên, đá Chữ Thập, cụm đá Ga Ven, đá Gạc Ma, đá Tư Nghĩa và đá Vành Khăn. Tờ Phil Star của Philippines ngày 13.6.2014 cho biết báo cáo từ Phủ tổng thống Phi nói rằng Trung Quốc đang thay đổi hiện trạng của 5 bãi đá thuộc Trường Sa là Gạc Ma, Châu Viên, Ga Ven, Tư Nghĩa và Én Đất. Chính phủ Phi đoán Trung Quốc đang xây dựng một đường băng để thiết lập vùng nhận diện phòng không. Chúng tôi tin rằng Trung Quốc đang đi xa hơn, đó là biến một cụm trong nhóm đảo thuộc Trường Sa thành đảo “thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng” rồi đòi có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa như họ đã làm ở quần đảo Hoàng Sa. ĐỐI PHÓ VỚI NƯỚC CỜ CỦA TRUNG QUỐC Biết rõ không thể xác định vùng biển trong đường 9 đoạn là “vùng nước lịch sử” của Trung Quốc nên Trung Quốc đang đi nước cờ thứ hai là biến những đảo đá thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thành những đảo có thể được hưởng các đặc quyền kinh tế để giành quyền khai thác phần lớn tài nguyên trên Biển Đông. Đây là những hành động không được Luật Biển 1982 công nhận nhưng vì không phương hại đến trục lộ giao thông quốc tế ở Biển Đông và quyền lợi của Mỹ nên Mỹ làm ngơ. Còn các nước trong vùng đang đối phó như thế nào? Không nước nào trong vùng nghĩ rằng có thể đối đầu bằng quân sự với Trung Quốc. Hiện nay, tiếng la hét đòi đi kiện Trung Quốc đang vang lên khắp nơi, nhưng các nhà phân tích không tin rằng các phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế có thể làm Trung Quốc ngưng vi phạm. Khối ASEAN chỉ lên tiếng kêu gọi hoàn thành một cách nhanh chống Quy Tắc Ứng Xử (Code of Conduct) trên Biển Đông và coi đó là một giải pháp duy nhất còn lại! Ngày 19.6.2014 Lữ Giang
Trung Quốc: "Chỉ giải quyết tranh chấp Biển Đông qua thương lượng trực tiếp" Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì tại Bắc Kinh - REUTERS /Jason Lee Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì tuyên bố Bắc Kinh sẽ “cương quyết bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ” và cho rằng những tranh chấp trong khu vực “nên được giải quyết thông qua thương lượng trực tiếp với các quốc gia có liên quan.” Ông Dương Khiết Trì tuyên bố như trên khi phát biểu tại Diễn đàn Hòa bình Thế giới tại Bắc Kinh hôm qua, 20/06/2014, sau khi vừa đến Việt Nam để gặp các lãnh đạo Hà Nội về vụ giàn khoan trên Biển Đông. Cuộc đàm phán đã không đạt được tiến bộ nào vì hai bên vẫn giữ nguyên lập trường. Cho tới nay, Trung Quốc vẫn từ chối mọi nỗ lực của quốc tế để giải quyết tranh chấp chủ quyền Biển Đông và gần đây đã tuyên bố không công nhận thẩm quyền của một tòa án Liên hiệp quốc trong việc xét đơn kiện của Philippines liên quan đến quần đảo Trường Sa. Trong bài phát biểu hôm qua, tuy không nói đến vai trò Hoa Kỳ trong các vụ tranh chấp biển đảo trong khu vực, nhưng ông Dương Khiết Trì tuyên bố Trung Quốc chống lại chiến lược của Mỹ “xoay trục” sang châu Á, cho rằng chiến lược này đang làm gia tăng căng thẳng trên Biển Đông. Còn tại Hy Lạp hôm qua, nhân một hội nghị thượng đỉnh về hàng hải ở Athens, Thủ tướng Lý Khắc Cường tuyên bố Trung Quốc chủ trương “phát triển hòa bình” các đại dương, nhắc lại rằng những xung đột trong quá khứ chỉ dẫn đến “thảm họa cho nhân loại”. Những tuyên bố nói trên của các lãnh đạo Trung Quốc được đưa ra vào lúc Bắc Kinh đang đưa thêm tổng cộng 4 giàn khoan đến Biển Đông, ngoài giàn khoan Hải Dương 981 đang hoạt động tại một khu vực mà theo Hà Nội thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Trong khi đó, Tân Hoa Xã hôm qua lại cáo buộc Hà Nội khuyến khích các tàu cá Việt Nam đánh bắt cá tại các vùng biển chung quanh quần đảo Hoàng Sa. Hãng tin chính thức của Trung Quốc khẳng định rằng những ngư dân Việt Nam bị bắt vì “đánh cá trái phép” đều khai rằng họ đã được chính phủ Việt Nam cấp nhiều tiền để đến đánh bắt các tại “những vùng biển đang tranh chấp”. Tân Hoa Xã còn nói rằng các tàu cá “có vũ trang “ của Việt Nam thường xuyên cướp bóc tàu cá Trung Quốc, “đe dọa nghiêm trọng đến mạng sống và tài sản của các ngư dân Trung Quốc”. ĐÃ QUÁ ĐỦ DỮ KIỆN ĐỂ NHÂN DÂN VIỆT NAM CHỌN ĐƯỜNG ĐI CHO MÌNH Chính Khí Việt Giờ đây, những người Việt Nam ở cả trong và ngoài nước, dù ở tầng lớp nào trong xã hội; dù già hay trẻ; dù có niềm tin tôn giáo khác nhau; sắc dân khác nhau; nhưng nếu thực sự muốn cho Tổ Quốc và Nhân Dân Việt Nam được sống trong Hoà Bình không thù hận, không kỳ thị, không bị dấu ấn ngoại bang cai trị bằng hình thức này hay hình thức khác, như về kinh tế, văn hóa, quân sự, chính trị… trực tiếp hay gián tiếp cho nên phải ở vị thế bất bình đẳng trong mọi mối quan hệ đối ngoại thì điều cần thiết là phải: 1/ Dùng nhãn quan vì Tổ Quốc và Nhân Dân mà thâu thập những thông tin trung thực ở cả trong và ngoài Việt Nam đang diễn biến trên thực tế. Nghĩa là không thể dùng con mắt vì quyền lợi của cá nhân, hội đoàn tổ chức, đảng phái ma trơi, tầm gởi, dựa vào hoà giải với tập đoàn VGCS để được bố thí chút ân huệ về chính trị hoặc kinh tế. Mà cũng không thể dựa vào ngoại bang khi chưa có thực lực. Nghĩa là chưa được đại đa số nhân dân Việt Nam ở trong và ngoài nước ủng hộ. Sự dựa dẫm đó là một thứ NÔ TÀI CHO NGOẠI BANG. Con đường đó là bước đầu lập lại con đường việt gian, buôn dân bán nước của tập đoàn VGCS mà thôi. Chắc chắn như vậy sẽ bị lịch sử đào thải với tội danh như đối với tập đoàn VGCS vậy! 2/ Phải có trách nhiệm trong việc lựa chọn con đường đã có thành quả thực tế trong công cuộc bảo vệ và tôn trọng nhân dân; bảo vệ tổ quốc Việt Nam trước mọi thế lực xâm lược về tinh thần hay vật chất, hoặc cả hai; giữ được danh dự quốc thể, để dù ngay kẻ tử thù cũng phải trân trọng, khâm phục như trường hợp tên đại tội đồ Hồ Chí Minh đã phải thừa nhận Lãnh Tụ Ngô Đình Diệm của Nhân Dân Việt Nam là một người yêu nước. Đồng thời phải có trách nhiệm lựa chọn con đường cho Việt Nam không chỉ cho hiện tại mà phải có viễn kiến cho tương lai. 3/ Bộ máy nhà nước Việt Nam trong tương lai phải gồm những người được nhân dân Việt Nam đứng trên lập trường tất cả Vì Tổ Quốc và Dân Tộc mà bầu ra theo một Hiến Pháp dân chủ, tiến bộ, công bằng, đã được nhân dân Việt Nam thừa nhận qua trưng cầu dân ý, có sự giám sát của quốc tế. Người Việt Nam yêu nước chân chính muốn cho Tổ Quốc và Dân Tộc được thực sự độc lập, tự do, phồn vinh, nhân dân được sống trong hòa bình hạnh phúc; lãnh hải, hải đảo, không phận, lãnh thổ được bảo toàn trọn vẹn thì điều quan trọng nhất là phải cương quyết không chấp nhận bất kể một cá nhân nào, hội đoàn tổ chức, đảng phái chính trị nào mà không do người dân Việt Nam lựa chọn; mà lại do thế lực nào đó của ngoại bang tuyển lựa, đánh bóng, ô dù hoặc giới thiệu cho nhân dân Việt Nam phải chấp nhận. Bài học về tập đoàn VGCS được ra đời như thế nào còn rất thời sự và nóng hổi! Trong xã hội văn minh hiện nay, ngay chuyện của một gia đình thì cha mẹ đẻ cũng không thể có quyền sắp xếp chuyện hôn nhân cho con theo kiểu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”!!! 4/ Chỉ khi nhân dân Việt Nam có một bộ máy nhà nước hình thành trên sự đồng thuận của toàn dân (tối thiểu cũng là đại đa số), thì mới có thể xây dựng được một bộ luật văn minh tiến bộ. Chỉ khi đó mới tổ chức được một bộ máy quản lý thực sự lấy người dân làm chủ từ trung ương tới cơ sở làng xã trên mọi bình diện của xã hội. Nghĩa là phải có thực lực thì lúc đó mới có thể thi hành chính sách chiêu hồi như Lãnh Tụ Ngô Đình Diệm đã đặt ra đối với những kẻ, những tổ chức lầm lạc, kể cả những kẻ can tội phản quốc vì đã từng là việt gian cộng sản, theo đúng luật pháp với tinh thần nhân bản, đoàn kết mọi người Việt Nam, như Vua Nhà Trần đã thực thi sau khi thắng quân Nguyên xâm lược; như Nền Đệ Nhất VNCH do Tổng Thống Ngô Đình Diệmlãnh đạo đã đưa ra quốc sách chiêu hồi mang lại hiệu quả tốt, đã chuyển hoá được biết bao nhiêu cán binh việt gian cộng sản trở thành những con người Việt Nam hữu ích, có trách nhiệm trong xây dựng và bảo vệ nhân dân Việt Nam trước sự xâm lược của Nga Xô và Tàu Mao thông qua toàn bộ hệ thống chính trị của tập đoàn VGCS. Cần nhắc nhở nhau về bài học đắt giá nhất trong lịch sử Việt Nam do bộ máy nhà nước VGCS mà nhân sự là do Nga Xô và Tàu cộng bành trướng sắp xếp đã gây ra cho Nhân Dân và Tổ Quốc Việt Nam biết bao thảm họa cho đến tận 2014 này. Cũng thế, Nền Đệ Nhị VNCH do lũ việt gian phản tướng, bị giật giây hình thành, đã phá hoại những thành quả tốt đẹp của Nền Đệ Nhất VNCH như thế nào???!!! Dư âm của nó còn làm băng hoại xã hội Việt Nam từ sau 30 tháng 4, 1975 cho đến nay ra tới hải ngoại tác hại như thế nào, nhất là cái tâm lý đảng phái, hội đoàn, cá nhân chỉ thích làm cẩu nô cho ngoại bang, chỉ thích được thờ những tên VGCS trong lốt đặc công đỏ, dân chủ cuội các loại kể cả những tên bản chất lưu manh và cơ hội. Một thí dụ cụ thể: Đó là việc một số cá nhân và tổ chức truyền thông đã công kênh thằng hèn Tô Hải, nay còn chuẩn bị thờ nó vì vừa xong nó xin được Rửa Tội để trở thành người Công Giáo. Việc rửa tội cho nó là RẤT ĐÚNG, vì đó là trách nhiệm của người Kito hữu. Thậm chí còn có cả Linh Mục Tuyên Uý trong các trại giam làm mục vụ cho phạm nhân và an ủi những tử tù đã gây nhiều tội ác trước lúc bị hành hình. Nhưng: Điều SAI LẦM to lớn là lũ truyền thông còng lưng kia lại tôn thờ một thằng hèn mà đến nay nó đã khẳng định “tôi đã hết hèn” (sic). Đúng là nó chưa bao giờ hèn mà nó chỉ là thằng “đại lưu manh”. Liệu nó có -xưng tội- đã với tư cách công an văn hóa VGCS để khiến cho nhóm “Ông Toán Xồm” trong vụ án nhạc Vàng (vì thích hát nhạc VNCH trước 1975) đã bị bỏ tù mút chỉ; cũng như việc hắn “đập mả bố đẻ ở Saigon” chỉ vì cái mả đó là do một tướng của VNCH, đã cho xây với tư cách là con rẻ của bố đẻ của hắn!? Lòng yêu Tổ Quốc; Danh Dự của một người tự nhận cầm bút đế chống VGCS; Trách Nhiệm đối với người Việt Nam bị trị trong nước và cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn VGCS, trong đó có giới trẻ đang bị sai lầm khi nói “không ân oán gì với quá khứ. Và nhất là Trách Nhiệm đối với Quân Dân Cán Chính VNCH VỊ QUỐC VONG THÂN, cũng như những nạn nhân của VGCS ở Phía Bắc Việt Nam từ vụ Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931 cho đến tận nay, là ở chỗ nào??? (còn tiếp) Chính Khí Việt Ngày 29 Tháng 5, 2014. TÍNH CHẤT VIỆT GIAN CỦA TẬP ĐOÀN CỘNG SẢN VN ĐÃ PHÁT HUY HIỆU QUẢ RA SAO? Chính Khí Việt Lũ trí nô ở Việt Nam đến nay đã từng chấp nhận để bị việt gian hóa qua cái gọi là “cách mạng văn hóa tư tưởng” thường xuyên, bằng học tập chính trị để xây dựng con người xã hội chủ nghĩa; qua việc nhận xét công tác nửa năm và cả năm để được lên lương, tăng bậc ngay từ trước khi tập đoàn VGCS Hồ Chí Minh vào Hà Nội năm 1954. Nhờ đó tập đoàn VGCS đã tập hợp được lực lượng trí nô vô liêm sỉ để tấn công và tiêu huỷ mọi sản phẩm trí tuệ truyền thống của Việt Nam trên mọi lãnh vực. Từ việc chúng đổi trắng thay đen trong lịch sử, tạo ra những giai thoại để thần thánh hóa những tên tội đồ nặng ký nhất trong hàng ngũ lũ VGCS, kể cả các ông chủ Nga Xô và Tàu bành trướng của tập đoàn VGCS. Cũng như chúng đã đẻ ra rất nhiều những nhân vật ảo để làm hình mẫu rồi dùng lũ trí nô tuyên truyền nhồi sọ các tầng lớp thanh niên cũng như học sinh sinh viên, trí thức tương lai để tiếp bước của chúng. Các loại hình văn học nghệ thuật có nhiệm vụ cổ vũ tinh thần gắn bó với Nga Xô và Tàu bành trướng không chỉ về lập trường chính trị mà ngay cả con người lẫn lãnh thổ của Việt Nam cũng trở thành một bộ phận của Nga Xô và Tàu bành trướng. Mọi định hướng từ kinh tế, chính trị, quốc phòng, văn hóa văn nghệ đều do Nga Xô – Tàu bành trướng phân công giao nhiệm vụ cho tâp đoàn VGCS Hồ Chí Minh. Thí Dụ Cụ Thể Như: a) Trong cuộc meeting ngày 01 Tháng 01, 1955 chào mừng năm mới, diễn ra trước quảng trường nhà hát lớn Hà Nội, tên đại VGCS Phạm Văn Đồnglúc đó giữ chức Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại Giao của nguỵ quyền VGCS Hồ Chí Minh, đã hỉ hả khoe rằng, sau khi họp Hội Nghị Geneve về Việt Nam 1954, trên đường về hắn có dừng tại Moskva (Mạc Tư Khoa) và đã được Malenkov, Tổng bí thư Đảng cộng sản Nga và Molotov, Bộ trưởng ngoại giao Nga Xô, đã phân công cho Việt Nam (tức Miền Bắc Việt Nam) chỉ cần trồng chuối và săn Hổ xuất cảng sang Nga Xô thì sẽ được Nga Xô cung cấp cho đủ ăn đủ mặc !!!??? Đó là tiền đề cho việc sau này tên Hoành Anh, Bí thư trung ương VGCS, trưởng ban Nông nghiệp trung ương kiêm phó thủ tướng nguỵ quyền VGCS, đã cho thi hành trồng chuối trên tất cả các đồi trọc ở Tây Bắc và Việt Bắc Việt Nam. Cũng như tên Thượng tướng Chu Văn Tấn, Ủy viên Trung Ương VGCS, Phó chủ tịch Quốc Hội VGCS, kiêm Bí thư khu ủy Khu tự trị Việt Bắc được phân công độc quyền thu mua, săn bắt hổ và thuốc phiện! b) Việc khai giảng niên học 1955-1956 của Trường Nữ Học Trưng Vương ở Hà Nội, tên đại tội đồ Hồ Chí Minh trực tiếp đến huấn thị và phát đi lệnh “cấm mặc chiếc áo dài truyền thống của Phụ nữ Việt Nam”. Từ đó cả Miền Bắc Việt Nam, phụ nữ đều mặc áo cánh nhuộm màu hoa sim hoặc màu gụ với quần dài mầu đen và màu xanh lá cây! Mùa đông thì mặc áo bông cổ lông màu xanh của Tàu Mao sản xuất, và bắt đầu cắt tóc ngắn, trước trán cắt theo mẫu “Hỷ Nhi”, một nhân vật điện ảnh Tàu Mao. Nghĩa là thời kỳ đó cả Hà Nội hệt như một thành phố của Tàu Mao chỉ có chút khác biệt là mọi người nói tiếng Việt (vì chưa kịp học tiếng Tàu)! Cũng từ đó, cán bộ VGCS và học sinh từ khu học xá bên Tàu Mao và từ những vùng do VGCS quản lý tràn vào các tỉnh thành như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định… hầu hết mặc áo “đại cán” kiểu Tàu Mao và không ít thanh niên cho đến cái gọi là “cán bộ lưu dụng” ở các đô thị, thành phố Miền Bắc Việt Nam cũng a dua may áo giống Tàu Mao, nhất là tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ!!! Điều đó cho thấy tập đoàn VGCS Hồ Chí Minh đã nhanh chóng hán hóa toàn dân Việt Nam ít ra là về mặt “Văn Hóa Y Phục”! Nếu một khách du lịch Phương Tây đi từ Tàu sang Việt Nam sẽ khó mà phân biệt được Việt Nam và Tàu là hai nước, hai dân tộc khác nhau, mà cứ tưởng đó là nước Tàu Mao, vì từ sân ga biên giới đến các cơ quan, trường học, chợ búa, các cửa hàng, các nhà dân… đâu đâu cũng treo ảnh từ Mao đến Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Chu Ân Lai, Trần Nghị ở nơi trang trọng nhất. Nhiều nơi còn treo cả ảnh Bành Đức Hoài (Bộ trưởng quốc phòng của Tàu Mao), Khang Sinh (Bộ trưởng công an Tàu Mao) và cả Đặng Dĩnh Siêu (vợ của Chu Ân Lai”!!! Tường trên các phố xá thì dán đầy bích chương phim ảnh của Tàu Mao như Cờ Hồng Trên Núi Thuý; Bạch Mao Nữ… c) Về giáo dục có một điểm rất đặc thù của VGCS mà ngay thời thực dân Pháp cũng không bao giờ xảy ra. Đó là ngay từ các em ở Mẫu Giáo và lớp 1 đã phải học tập lao động bằng chân tay. Tất cả các em phải mang chổi đi quét rác ở các Đường Phố, Hồ Gươm mà chổi thì cao hơn các em. Không khẩu trang bịt mặt, các em đùa nghịch quét rác, bụi hắt vào người nhau, vào mặt nhau và cười hồn nhiên. Còn cô giáo cũng như người đi đường thản nhiên như không có chuyện gì là lạ. Học sinh cấp 2, cấp 3 và sinh viên thì làm lao động vệ sinh ở các công trường, ở các khu phố xa trung tâm và ngay chính trường và lớp mình học. Riêng sinh viên, phải tham gia vào công việc xây dựng trường, phải thay nhau nấu ăn và làm vệ sinh trường lớp; phải tập quân sự, biên chế thành các đơn vị tự vệ và có tập bắn súng thật, tập chiến đấu đánh chiếm lại hoặc bảo vệ nhà trường. Ngoài ra ba tháng hè phải đi lao động giúp nông dân trong mọi công việc đồng áng. Hằng đêm đều có sinh hoạt và kiểm điểm tư tưởng xem có an tâm học tập hay không. Khi học thì theo tổ, tối thiểu là tổ Tam- Tam (tức từng 3 người một)… Khi thi lên lớp hoặc ra trường điều quan trọng là có việc cộng thêm điểm ưu đãi cho thành phần đảng viên, xuất thân cốt cán hay con cái quan lại đỏ. Điểm chính trị và điểm tập quân sự cũng như điểm lao động và điểm tham gia sinh hoạt văn hóa quần chúng (tức là viết báo tường hay còn gọi bích báo) với các nội dung ca ngợi tập đoàn VGCS, đặc biệt là Hồ Chí Minh và những tên như Mao, Marx, Engel, Le Nin, Stalin…Và còn một điều rất quan trọng nữa là viết báo tường (bích báo) để tố cáo sai trái về tư tưởng và hành động của những sinh viên cùng lớp hoặc cùng trường. Cũng có thể tố giác những người không phải là sinh viên hoặc sinh viên không cùng trường cùng lớp. Nghĩa là bất kể một con người cụ thể nào dù làm bất kể việc gì, ở bất kể nơi nào mà mình thấy hay nghi ngờ về họ qua một lời nói hoặc có những hành động mà mình cho là nguy hiểm cho chế độ!!!???  Điểm kiến thức là thứ yếu. Vì mục tiêu nền giáo dục của VGCS là thuần hóa tầng lớp tương lai để bảo đảm chắc chắn họ phải là trí nô cho nên điều quan trọng trong giáo dục là phải hèn hóa và vô liêm sỉ hoá họ trước đó. Và ngay từ đó đã gây ra sự “bằng mặt mà chẳng bằng lòng” để họ tự cô lập, tự cảnh giác với bạn đồng học và tất cả mọi người. Từ đó sẽ chắc chắn khó có thể hình thành một âm mưu gì để chống lại sự cai trị của Nga Xô và Tàu bành trướng đối với nhân dân và đất nước Việt Nam lúc đó, thông qua toàn bộ hệ thống chính trị của tập đoàn VGCS Hồ Chí Minh. Và cũng xin lưu ý rằng ngay từ đó VGCS đã hoạch định để cho thanh niên sinh viên, học sinh thành lực lượng dự bị, có thể khoác áo lính ngay nhằm bổ xung cho lực lượng nguỵ quân chính quy của VGCS "sinh bắc tử nam" trong xâm lược Việt Nam Cộng Hòa, mở rộng thuộc địa đỏ cho Nga Xô và Tàu bành trướng. (còn tiếp) Chính Khí Việt |
|
Những nội dung khác:
|
|
|
 |
|