Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Năm 2026
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 3
 Lượt truy cập: 29135489

 
Tin tức - Sự kiện 17.05.2026 18:58
Uất ức vì chính quyền VC ngu hèn nhu nhược, dân Việt quốc nội hải ngoại tự thiêu ở Mỹ để 'phản đối giàn khoan, nhiều nơi khác sẽ có tự thiêu kế tiếp
23.06.2014 11:46


Tin cho hay một người gốc Việt ở bang Florida, Mỹ, đã qua đời sau khi tự thiêu, để lại thông điệp phản đối giàn khoan Trung Quốc. Báo Bradenton Herald ở quận Manatee, tiểu bang Florida, hôm 21/6 đăng Bấm bàitường thuật vụ một người đàn ông 71 tuổi tự thiêu vào một hôm trước đó. Tờ báo này dẫn lời giới chức địa phương nói người đàn ông không nêu danh tính đã tới cổng trung tâm cộng đồng Silver Lake nằm ở góc đường Lockwood Ridge cắt phố 59 Đông vào lúc 11:15 phút sáng thứ Sáu 20/6 và châm lửa tự thiêu

Một cặp vợ chồng đi ngang qua đó thấy ông này nằm trên cỏ, người bốc cháy và bên cạnh là một can xăng. Họ đã dập lửa cứu người đàn ông, trong khi ông ta được nói đã kêu gào: "Tôi muốn chết, hãy để cho tôi chết".Sau đó ông này được cấp cứu bằng trực thăng tới bệnh viện đa khoa Tampa và hiện đang trong tình trạng nguy kịch.

Cảnh sát cho hay ông đã để lại trên bảng chỉ đường vào trung tâm cộng đồng Silver Lake hai tờ giấy "có viết tiếng nước ngoài".

Hình chụp một tờ đăng trên Bradenton Herald cho thấy đây là tiếng Việt, được viết bằng tay với nội dung: "Hai Yang 981 phải rời khỏi VN hải phận. Anh hùng tử, chí hùng nào tử. Thu Hùng", đi kèm chữ ký.

Cách đây một tháng, một nữ Phật tử tại TP HCM cũng đã tự thiêu với một số biểu ngữ viết tay phản đối Trung Quốc.Bà Lê Thị Tuyết Mai, Phật tử thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất không được phép hoạt động ở trong nước, đã châm lửa tự thiêu ngay trước Dinh Thống nhất ở trung tâm thành phố ngày 23/5.

Ông Lê Trương Hải Hiếu, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân Quận 1 được báo Thanh Niên dẫn lời nói sau đó rằng “theo điều tra ban đầu, nguyên nhân khiến người phụ nữ này tự thiêu là do bế tắc về cuộc sống và bức xúc việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 trái phép, xâm phạm chủ quyền Việt Nam”.

Lời cuối với vợ trước khi tự thiêu: 'Bà ở lại trông chừng mấy đứa nhỏ. Tôi đi nghe.' 

Ngọc Lan/Người Việt


WESTMINSTER (NV) - “Ba tôi mất vào lúc 1 giờ 45 phút sáng nay, Thứ Hai, 23 Tháng 6, 2014, tại bệnh viện Tampa General Hospital vì vết bỏng quá nặng.” Chị Hoàng Thục Oanh, con gái của ông Hoàng Thu, người đàn ông tự thiêu tại Florida vào sáng Thứ Sáu vừa qua, nói với phóng viên Người Việt qua điện thoại.

Ông Hoàng Thu, người tự thiêu tại Tampa, Florida vào sáng Thứ Sáu, 20 Tháng Sáu, 2014, 

với tâm thư để lại "Hai Yang 981 phải rời khỏi V-N hải phận. Anh hùng tử, chí hùng nào tử.” (Hình: Gia đình cung cấp)


Trong tiếng khóc nức nở, con gái của người đàn ông vừa thực hiện một hành động quả cảm bằng cách tự thiêu để phản đối hành vi xâm lấn của Trung Quốc, cho biết, “Không ai trong nhà biết gì hết về chuyện ba làm như vậy. Ba tôi rất bình thường, không có một biểu hiện gì khác thường hết, ba rất khỏe mạnh, không có bệnh đau gì hết.”

Oanh kể, chị cùng chồng con về Việt Nam từ tối ngày Thứ Hai, 16 Tháng Sáu, và theo dự liệu thì đến 18 Tháng Bảy, “khi chồng tôi trở lại Mỹ trông nhà trông tiệm thì ba má sẽ bay về Việt Nam.”

Thế nhưng khi vừa về Sài Gòn được 2 ngày thì chị Oanh nhận được điện thoại của người bạn cùng xóm gọi báo tin “Ba Oanh tự thiêu.” Lúc đó khoảng hơn 11 giờ sáng Thứ Sáu, 20 Tháng Sáu.

“Tôi không tin, tôi nhờ bạn tôi cho nói chuyện trực tiếp với cảnh sát và họ xác nhận tin đó. Tôi mua vé để cả nhà trở về Mỹ ngay lập tức.” Con gái người quá cố nghẹn ngào.

Chị Thục Oanh trở lại Tampa, Florida vào lúc khoảng 7 giờ tối Chủ Nhật, “chạy liền vào bệnh viện thì thấy ba cháy hết rồi. Người ta trùm lại hết, chỉ còn đưa mặt ra cũng cháy đen hết.”

“Tôi hỏi 'sao ba bỏ con đi.' Ba không còn nói gì được, tôi chỉ thấy hình như ba chảy nước mắt. Ba đợi thêm một lát, chồng tôi vào hỏi thêm ba được vài câu thì ba tắt thở. Lúc đó là 1 giờ 45 phút sáng Thứ Hai, 23 Tháng Sáu.” Chị Oanh khóc òa.

Người đàn ông quả cảm Hoàng Thu cùng vợ, bà Lê Thị Huế. (Hình: Gia đình cung cấp) 


Người đàn ông tên là Hoàng Thu, sinh ngày 16 Tháng 11, 1942 tại Huế, từng là “lính pháo binh biệt động quan, liên đoàn 9” trong quân đội VNCH. Sau năm 1975, ông Thu cùng gia đình từ Huế trốn vô Sài Gòn, bị bắt đi kinh tế mới ở Đồng Xoài. Từ kinh tế mới trở về, ông Thu chỉ có thể đi làm công việc chân tay, “ai kêu gì làm đó, chứ không thể nào xin được một việc làm ổn định.”

Ông Thu được chị Oanh bảo lãnh sang Mỹ năm 2008. Ông sống cùng vợ và gia đình chị Oanh ở, Silver Lake, Tampa, Florida.

“Ba tôi thích coi tin tức, cũng hay nói những suy nghĩ của ông về tình hình chính trị. Nhưng tôi và má tôi không quan tâm nhiều đến điều này. Ba tôi thường nói nếu mà ba ở California thì ba sẽ làm được nhiều chuyện, tham gia nhiều chuyện, còn ở đây thì không làm gì được hết.” Chị Oanh cho biết.

Tất cả những gì mà gia đình nhận được trước khi ông Thu tự thiêu là “khoảng 15 phút đến 30 phút trước khi tự thiêu, ba tôi gọi điện thoại cho má tôi, khi đó má đang ở ngoài tiệm nail, nói 'Bà ở lại trông chừng mấy đứa nhỏ. Tôi đi nghe.'” Chị Oanh kể.

“Má tôi thấy lạ có hỏi ông đi đâu? Muốn đi đâu thì phải chờ tụi nó về. Thì ba nói 'tụi nó về thì tôi không đi được.' Rồi ba tắt phone. Má tôi gọi lại nhiều lần nhưng ba không nghe. Cho đến khi cảnh sát báo tin cho má tôi biết.” Chị khóc.

Chị Oanh xác nhận tờ giấy có viết dòng chữ “Hai Yang 981 phải rời khỏi V-N hải phận. Anh hùng tử, chí hùng nào tử” là chữ viết của ông Hoàng Thu. “Ba tôi viết chữ đẹp lắm!” Con gái người đàn ông có ý chí kiên cường này nức nở. "Tôi cứ ngỡ như ba tôi ở trên lầu thôi. Tôi không nghĩ là ba tôi chết rồi." Chị Oanh đau đớn.


Hoa tưởng niệm ông Hoàng Thu được đặt tại nơi ông tự thiêu 

để thể hiện sự phản kháng của mình. (Hình: Kenny Diệp)


Theo lời chị Oanh, vì gia đình quá đơn chiếc, không có nhiều bạn bè, người thân nên chị sẽ không tổ chức đám tang cho ba chị, vì làm ra không có ai hết nên “chỉ thiêu rồi mang lên chùa thôi.”

“Ngày mai nhà quàn sẽ đến nói chuyện và chờ 2-3 ngày nữa khi bệnh viện trả xác ba tôi về thì sẽ đưa đi thiêu ngay.” Chị Oanh cho biết.

Ông Hoàng Thu có vợ là bà Lê Thị Huế và hai con, người con gái đầu là chị Hoàng Thục Oanh, người con trai tên Hoàng Huy Quốc hiện còn ở Việt Nam.

---

Liên lạc tác giả: Ngoclan@Nguoi-Viet.com

TORONTO BIỂU TÌNH CHỐNG  CỘNG DỰNG GIÀN KHOAN DẦU TRÊN BIỂN VIỆT NAM vào ngày Chủ nhật 11-05-2014

Nguồn: Internet
May 12, 2014



alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt



May 12, 2014





On Monday, 12 May 2014 3:40 AM, "Truong Nhan nhan0912@yahoo.com [PhoNang]"  wrote:



NHIỆT ÐỘ 9°C GIÓ THỔI ÀO ÀO VÀ MƯA PHÙN, LẠNH CÓNG, BÀ CON NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA HẢI NGOẠI BIỂU TÌNH BÊN BỜ SÔNG ELBE, TRƯỚC TÒA TỔNG LÃNH SỰ TÀU CỘNG TẠI HAMBURG - GERMANY (Elbchaussee 268 - 22605 Hamburg). Chủ Nhật, ngày 11 tháng 5 năm 2014. Hình ảnh cuả Âu Lạc.

http://ireport.cnn.com/docs/DOC-1131254

Demonstration in front of the chinese communist consulate in Hamburg. Sunday, May 11th 2014. 
Photo courtesy of Âu Lạc.

Demonstration in front of the chinese communist consulate in Hamburg. Sunday, May 11th 2014.

Demonstration in front of the chinese communist consulate in Hamburg. Sunday,  May 11th 2014.

Demonstration in front of the chinese communist consulate in Hamburg. Sunday, May 11th 2014.

Demonstration in front of the chinese communist consulate in Hamburg. Sunday, May 11th 2014.

Demonstration in front of the chinese communist consulate in Hamburg. Sunday, May 11th 2014.

Demonstration in front of the chinese communist consulate in Hamburg. Sunday, May 11th 2014.

Demonstration in front of the chinese communist consulate in Hamburg. Sunday, May 11th 2014.

Demonstration in front of the chinese communist consulate in Hamburg. Sunday, May 11th 2014.

Demonstration in front of the chinese communist consulate in Hamburg. Sunday, May 11th 2014.





Coi Tây Tạng trong tay Tầu để tranh đấu cho VN. 








Hình Ảnh Đêm Thắp Nến Cầu Nguyện Cho Quê Hương Việt Nam - 20 tháng 6





Linh mục Mai Khải Hoàn


Đại diện các tôn giáo thắp nến



Ban Hợp Ca CLB Tình Nghệ Sĩ trong Đêm Thắp Nến.  
Hàng trước, từ trái: Tân Hương, Ý Thu, Hoàng Nga, Thuý Quỳnh,Ngọc Bích, Mỹ Dung, Thanh Thanh, Thanh Vân, Thùy Châu,Đinh Hạnh,Thùy Liêm, Mến Bùi, Ninh Thuận,Mỹ Liên.
Hàng sau, từ trái: Cao Minh Hưng, Phạm Hoàng, Phạm Ngọc Lân,Hạnh Cư, Bình Trương, Huỳnh Anh.     




Các hội đoàn và đồng hương tham dự rất đông



Ban Tù Ca Xuân Điềm




Tập hát lần cuối trước khi trình diễn...




2014-06-19 12:57 GMT-07:00 Cao Minh Hung <anthonyhungcao@gmail.com>:
Kính gửi quý vị và các anh chị,

Xin kính chuyển lời mời tham dự Đêm Thắp Nến của Linh mục Mai Khải Hoàn.

Ban Hợp Ca của CLB TNS cũng sẽ tham dự  cùng với các hội đoàn khác với những bản nhạc hùng ca như "Cả Nước Đấu Tranh", "Vì Sao", "Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ", "Việt Nam Việt Nam".  

Kính mời quý vị và các anh chị đến tham dự để cùng thắp lên những ngọn nến cầu nguyện cho quê hương Việt Nam.

Thân kính,
Cao Minh Hưng

-------------------------------

Kính thưa quý vị,

Ðứng trước sự xâm lăng ngang tàng của Trung Cộng bất chấp những công ước quốc tế về lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam và hưởng ứng lời kêu gọi của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam, Liên Ðoàn Công Giáo Việt Nam Miền Tây-Nam Hoa Kỳ, qua sự hợp tác với các tôn giáo bạn, các đoàn thể, các tổ chức và các cơ quan truyền thông trong cộng đồng sẽ cùng đứng ra tổ chức:

“ÐÊM THẮP NẾN CẦU NGUYỆN CHO QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM TRƯỚC HIỂM HỌA XÂM LĂNG CỦA TRUNG CỘNG”

Thời gian: 6:30 PM, Thứ Sáu, 20 Tháng Sáu

Ðịa điểm: Trường trung học Bolsa Grande, 9401 Westminster Ave., Garden Grove, CA 92844 (góc với Bushard)

Trân trọng kính mời toàn thể quý vị đến tham dự.

Thay mặt ban tổ chức,

Linh Mục Mai Khải Hoàn 
Chủ tịch Liên Ðoàn Công Giáo Việt Nam Miền Tây-Nam Hoa Kỳ, trưởng ban

------------------


Coi Tây Tạng trong tay Tầu để chuẩn bị cho VN rồi mai cũng trong tay Tầu ...
 https://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=kpc3wmwKit0
TS CHHVũ

Kính gửi Quí Vị Yêu Nước thương Dân VIỆT NAM, 
Toasoan@baophunu.org.vn là dòng giống anh Hùng Bà TRƯNG Bà TRIỆU vận động Nhân Dân VIỆT NAM CỨU QUỐC và Các Tòa Báo dòng giống Anh Hùng TRẦN HƯNG ĐẠO có Bổn Phận Đấu Tranh cùng với Nhân Dân Việt hơn 90 triệu người trong Nước và ngoại quốc hơn 4 triệu người Việt chống Trung Cộng xâm lăng, Chú ý xem tin tức các đài ngoại quốc: www.rfi.fr/tiengviet, đài VOA , BBC. v;v...   Và xem tài liệu các nơi trên internet + hình ảnh (photos) chuyển tin trên đây: Tây Tạng , Tân Cương bị Trung Cộng cai trị.
-Các Báo VN. nên làm ngay đề nghị (yêu cầu) Nhà Nước XH.VN.và Quốc Hội VN. cấp tốc: ra Luật Biểu Tình không ''Bạo động.'' cho toàn Dân Tự Do Biểu Tình Chống  TRUNG CỘNG  Xâm Lăng VN. .(không để cho côn đồ- mật vụ T.C. giật dây !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!)

CỨU QUỐC là BỔN PHẬN và TRÁCH NHIỆM ca tất cả Người Việt Nam yêu TỔ QUÔC là DÂN TỘC VIỆT NAM co' ĐÔC LẬP TỰ DO, co' NHÂN QUYỀN  theo các NƯỚC VĂN MINH ÂU MỸ và NHẬT BẢN?....... là DÂN GiẦU NƯỚC MẠNH.

CAN ĐẢM TIẾN LÊN! - Khi Tất cả các nơi toàn quốc nổi dậy co' SỨC MẠNH không bị đàn áp! 
Các nơi trên Thê' Giới đã đều làm như vậy, QUÔC TÊ'  CAN THIỆP GIÚP. 

Trung Quốc đưa 4 giàn khoan vào Biển Đông

bởi Trà Mi-VOA

Trung Quốc đưa 4 giàn khoan vào Biển Đông trong lúc tranh cãi căng thẳng giữa Bắc Kinh với Hà Nội về giàn khoan 981 ngoài bờ biển Việt Nam đang dâng cao.  

Trang mạng của Cục Hải sự Trung Quốc hôm nay cho biết trước ngày 12/8, giàn khoan Nam Hải số 2 và số 5 sẽ được đặt tại vị trí giữa miền Nam Trung Quốc và quần đảo Đông Sa do Đài Loan kiểm soát, giàn khoan Nam Hải số 4 sẽ được kéo đến hoạt động gần bờ biển Trung Quốc.

Giàn khoan thứ tư mang tên Nam Hải số 9, nửa chìm nửa nổi, dài 600 mét nặng trên 21 tấn, sẽ có mặt tại cửa vịnh Bắc Bộ hôm nay 20/6.

Cả 4 giàn khoan được vận hành bởi Công ty trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ Giàn khoan Trung Quốc (COSL) thuộc Tổng công ty dầu khí quốc gia (CNOOC), theo báo cáo thường niên năm ngoái của COSL.

Loan báo được đưa ra giữa lúc các nước trong khu vực, đặc biệt là Việt Nam và Philippines, đang lo ngại trước các động thái tăng cường giành chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông.

Quan hệ Việt-Trung đang gặp khó khăn vì Bắc Kinh nhất định không rút giàn khoan Hải Dương 981 hồi đầu tháng 5 đưa vào vùng biển Hà Nội nói thuộc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa Việt Nam.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 20/6 tuyên bố các nước không cần diễn giải nhiều về quyết định bố trí 4 giàn khoan của Bắc Kinh lần này vì chúng nằm hoàn toàn trong hải phận của Trung Quốc.

Reuters dẫn lời người phát ngôn Hoa Xuân Oánh nhấn mạnh các giàn khoan này được đặt trong vùng biển gần tỉnh Hải Nam và Quảng Đông của Trung Quốc, cho nên mọi người không cần suy diễn hay ‘tưởng tượng quá mức.’

AFP trích phát biểu của Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam, Thiếu tướng Nguyễn Quang Đạm, nói với báo Thanh Niên rằng giàn khoan Nam Hải số 9 đang tiến về vị trí mà cách đây khoảng 5 năm Trung Quốc từng đặt một số giàn khoan mà nay vẫn đang hoạt động.

Ông Đạm cho biết Việt Nam đang theo dõi sát tình hình và đã chuẩn bị các biện pháp ứng phó với các tình huống khác có thể xảy ra.

Công ty dầu khí CNOOC của nhà nước Trung Quốc từng thông báo sẽ có 4 dự án mới ở phía tây và phía đông của Biển Đông trong nửa cuối năm nay. Không rõ liệu 4 giàn khoan này có thuộc khuôn khổ các dự án đó hay không. Tờ Hoàn cầu Thời báo của Trung Quốc đăng nhận định của Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Đại học Hạ Môn, ông Zhuang Guotu, rằng việc bố trí các giàn khoan này là ‘động thái chiến lược’ của Trung Quốc chắc chắn sẽ gây lo ngại cho Việt Nam và Philippines.

Australia, một đồng minh của Mỹ trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, bày tỏ hy vọng tất cả các nước có tranh chấp trong khu vực có thể thương lượng, dàn xếp để xoa dịu căng thẳng hiện nay.

Ngoại trưởng Australia, Julie Bishop, phát biểu với đài VOA:

“Chúng tôi kêu gọi tất cả các bên có liên quan hạ giảm căng thẳng và giải quyết tranh chấp một cách tử tế với nhau thông qua các cuộc hòa đàm. Autralia không đứng về bên nào trong các cuộc tranh chấp, nhưng chúng tôi thúc giục các nước thương lượng và giải quyết vấn đề theo luật quốc tế.”

Ngoại trưởng Bishop cho biết Australia  ủng hộ quyết định sách lược của các nước Đông Nam Á trong việc đề xuất một Bộ quy tắc Ứng xử Biển Đông với Trung Quốc.

Chưa có dấu hiệu cho thấy Bắc Kinh sẵn sàng tiến tới Bộ quy tắc này giữa các bước đi không khoan nhượng, kiên quyết dành chủ quyền gần như trọn vẹn Biển Đông.

'Việt Nam cần tôn trọng công hàm Phạm Văn Đồng' đã hiến dâng biển Đông cho TQ"
Tờ Nhân dân Nhật báo của Trung Quốc nói rằng Hà Nội phải thi hành nghĩa vụ pháp lý đã được vạch rõ trong công hàm ngoại giao của Việt Nam, công nhận quần đảo Hoàng Sa – Trung Quốc gọi là Tây Sa và quần đảo Trường Sa – Trung Quốc gọi là Nam Sa, là của Trung Quốc theo tinh thần quốc tế XHCN anh em theo đó đảng CSVN dâng hiến biển Đông và lãnh thổ cho TQ để sáp nhập vào mẫu quốc như hai bên đã thỏa thuận với nhau từ trước đến nay

Chiều ngày 18 tháng Sáu, báo này  tố cáo rằng giàn khoan dầu Trung Quốc đang hoạt động bình thường, khoan dầu trong các vùng biển ngoài khơi quần đảo Hoàng Sa của Trung Quốc hôm 2 tháng Năm thì trở thành “nạn nhân”, bị các tàu Việt Nam dùng vũ lực và biện pháp bất hợp pháp để quấy nhiễu.

Bài báo đòi Hà Nội phải quay lại với lập trường mà phía Trung Quốc cho là Việt Nam đã có từ lâu là công nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Trung Quốc, dựa trên công hàm ngoại giao của Việt Nam do Thủ Tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng gửi cho Thủ Tướng Trung Quốc Chu Ân Lai hồi năm 1958.

Báo chí Trung Quốc tiếp tục viện dẫn tài liệu ngoại giao này và nói rằng trước năm 1974, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa không bao giờ tuyên bố chủ quyền tại hai quần đảo này, mà ngược lại, dưới nhiều hình thức cả trên văn bản lẫn những lời tuyên bố, đã công nhận hai quần đảo này là thuộc lãnh thổ Trung Quốc.

Tờ báo tố cáo rằng Việt Nam chỉ thay đổi lập trường sau khi hai miền Nam-Bắc tái thống nhất, và từ đó tới bây giờ đã làm đủ mọi cách để diễn giải sai lạc, hoặc chối bỏ lập trường chính thức đã được thể hiện trong văn thư thường được gọi là công hàm Phạm Văn Đồng.

Tiến sĩ Nguyễn Nhã, trong một cuộc phỏng vấn dành cho Ban Việt Ngữ -VOA mới đây, đưa ra một cái nhìn khác về lập trường của Việt Nam sau ngày 30 tháng Tư năm 1975.  Tiến sĩ Nhã nói sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, Việt Nam đã thống nhất không theo ý của Trung Quốc, và Trung Quốc đã phản ứng bằng cách ủng hộ lãnh tụ Kmer Đỏ Pol Pot của Campuchia, rốt cuộc đưa đến chiến tranh biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam. Tiến sĩ Nhã nói rằng sau 30 tháng Tư năm 1975, trong tư cách là một nước thống nhất, Việt Nam đã lập tức khẳng định chủ quyền lãnh thổ.

Ông cho rằng vụ Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trong thềm lục địa Việt Nam là một thách thức lớn, nhưng cũng là thời cơ để thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc. Tiến sĩ Nguyễn Nhã nói:

“Vụ Trung Quốc hạ đặt giàn khoan 981 là một thời cơ thoát Trung bởi vì Trung Quốc đã đẩy Việt Nam đến chân tường và dĩ nhiên là không có cách nào khác. Tôi nghĩ khả năng thoát Trung có thể rất là cam go nhưng tôi thấy đây là thời cơ tốt nhất vì Việt Nam không cô đơn.”

Tiến sĩ Nguyễn Nhã là một nhà chuyên gia về lịch sử Biển Đông, ông từng là Chủ Nhiệm kiêm Chủ bút của Tập san Sử Địa tại Đại học Sư Phạm Sài Gòn trước năm 1975. Năm 2003, ông bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ xác lập chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa, hệ thống hóa nhiều bằng chứng lịch sử xác minh chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Nguồn: People's Daily, VOA's interview.
  ​​

HT Thích Quảng Độ trả lời RFA về bức Thư Ngỏ Chống Ngoại xâm

Ỷ Lan, thông tín viên RFA
2014-06-20


tqd-305
Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ, ảnh chụp trước đây.
File photo
Sự kiện Trung Quốc đặt giàn khoan Hải dương 981 trong vùng biển đặc khu kính tế Việt Nam hồi đầu tháng 5, đã làm xôn xao dư luận trong ngoài nước cũng như quốc tế. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, một Giáo hội không được Nhà nước công nhận, qua tiếng nói của vị lãnh đạo tối cao, là Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ đã công bố “Tuyên cáo về việc Trung Quốc vi phạm lãnh hải Việt Nam” hôm 10.5. Ngày 16.6 vừa qua, Ngài lại cho công bố “Thư Ngỏ về Giải pháp Dân chủ đa nguyên như vũ khí chống Ngoại xâm và Phát triển đất nước”.
Để tìm hiểu vì sao một tôn giáo như đạo Phật, thông qua Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, lại quan tâm tới việc thế sự quốc gia, chúng tôi đã gọi điện thoại viễn liên phỏng vấn Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ về bức Thư Ngỏ này.

Hy vọng cho Việt Nam

Ỷ Lan: Kính bạch Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ. Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế vừa phát hành “Thư Ngỏ về Giải pháp Dân chủ đa nguyên như vũ khí chống ngoại xâm và phát triển đất nước”. Kính xin Đức Tăng Thống cho độc giả được biết nội dung lá thư ngỏ này?
HT Thích Quảng Độ: Bao nhiêu năm nay Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất hết lòng kêu gọi cho cái sự Dân chủ hoá của đất nước. Bởi vì thời đại này là thời đại dân chủ, bây giờ nếu chế độ độc tài tồn tại ở đất nước nào, đất nước ấy chỉ đi vào thế kẹt, lạc hậu, không đuổi kịp cái đà tiến bộ của thời đại.
Do đó cho nên Đảng Cộng sản từ trước đến nay, họ cố thủ, họ sợ bỏ Đảng Cộng sản ra là họ mất quyền. Trước đây còn khối Liên Xô, Trung Quốc đoàn kết với nhau thì nó khác. Chứ bây giờ Liên Xô tan rã, thì họ lại dựa cái thế Trung Quốc để mà cầm quyền ở Việt Nam, thống trị nhân dân Việt Nam. Nhưng bây giờ cái thế Trung Quốc họ không cho dựa nữa, họ đang ở vào giai đoạn rất khó khăn.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cho rằng, chừng nào đất nước chưa có dân chủ, thì đất nước còn gặp nhiều khó khăn. 
-HT Thích Quảng Độ
Cho nên bây giờ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cho rằng, chừng nào đất nước chưa có dân chủ, thì đất nước còn gặp nhiều khó khăn. Cái họa trước mắt là Trung Quốc họ vào thẳng, chiếm hẳn lãnh thổ Việt Nam rồi. Họ coi như là đất của họ, nước của họ, biển của họ. Thành đảng Cộng sản bây giờ ngoái lại, họ kêu gọi dân chúng ủng hộ để mà chống Tàu. Nhưng mà bây giờ dân chúng rất thờ ơ. Bao nhiêu năm nay họ nói lừa, nói gạt dân chúng nhiều rồi. Người dân cũng không có niềm tin vào Đảng Cộng sản.
Cho nên bây giờ gặp cái tai họa ngoài Biển Đông mà giờ họ vào hẳn cái đặc khu kinh tế của Việt Nam. Bây giờ chính phủ Cộng sản mới cuống lên, không biết làm thế nào, thì mới đi kêu gọi thế giới, cũng muốn mượn thế Mỹ. Nhưng mà muốn đi với Mỹ, thì trước hết phải dân chủ hóa đất nước đã. Rồi họ mới giúp, còn chưa dân chủ hoá thì họ không có giúp đâu.
Tôi cho rằng đây là cái tai họa của dân tộc, mà Đảng Cộng sản đã gây ra từ bao nhiêu chục năm nay, từ khi Hồ Chí Minh về nắm quyền Việt Nam. Thì đấy là tất cả những khó khăn, rồi khó khăn nữa, là có thể nếu mà các nước tự do dân chủ bây giờ, nhất là Mỹ và lãnh đạo là Mỹ, không giúp đỡ là có thể mất Việt Nam. Việt Nam mất chứ không còn cách nào khác, không thoát được nữa.
Nhưng mà tôi hy vọng rằng Mỹ không thể để mất Việt nam, Nếu mà Trung Quốc nuốt được Việt Nam, thẳng đường họ sẽ đi thẳng xuống Đông Nam Á. Các nước Đông Nam Á sẽ vào tay Trung quồc hết, thì cái đó Mỹ cũng không thể khoanh tay đứng nhìn. Đó là cái thế chinh trị nó như thế. Việt Nam còn một chút hy vọng.
Ỷ Lan: Đã từ 13 năm trước, Đức Tăng Thống từng gióng Lời Kêu gọi cho Dân chủ, với một chương trình thực hiện 8 điểm. Nhưng từ đó đến nay, dân chủ vẫn chưa thực hiện được. Vậy Đức Tăng Thống có nghĩ rằng ngày nay, một giải pháp như thế có hy vọng tiến hành được chăng?
HT Thích Quảng Độ: Cách đây 13 năm, nếu lúc đó mà họ thi hành thực hiện được như thế, thì không có cái hậu quả như ngày nay. Hiện giờ Đảng Cộng sản là người nắm quyền cai trị đất nước. Họ là chủ đất nước. Nhưng họ có một cái, tôi biết chắc chắn họ sợ, họ không bao giờ buông cái Đảng Cộng sản ra. Tại sao? Lý do trong ba mươi mấy năm họ cai trị đất nước, họ gây quá nhiều tội ác cho đất nước. Nhất là những cuộc đấu tố ở ngoài Bắc trước năm 1975. Ghê gớm. Sau năm 54 về, họ thực hiện cái chủ nghĩa Cộng sản, ông tố cha, vợ tố chồng, anh em bè bạn tố lẫn nhau. Đảo lộn tất cả những trật tự xã hội.
Cho nên giờ chỉ còn một cách duy nhất. Đó là dân chủ hoá, tuy rằng chậm. Nhưng chậm còn hơn không. Nếu bây giờ họ dân chủ hoá được, rất may mắn cho đất nước. Bởi vì dân chủ hoá là toàn dân đoàn kết lại. Dân chủ hoá phải bầu lại một chính phủ thực sự do dân bàu ra, là chính phủ thực sự của dân, do dân, thì lúc đó mới có sự đoàn kết toàn dân, để đương đầu với những cái gì đang diễn ra ở Biển Đông đây. Mới thoát được cái kiềm tỏa của Trung Quốc.
Mình tách rời hẳn Trung Quốc ra, là phải đi với tư bản. Phải đi với thế giới tự do mới tách rời khỏi Trung Quốc.

Cần dân chủ hoá

Ngoài dân chủ hoá ra không còn cách nào nữa. Rất dễ. Nhưng mà đối với Đảng Cộng sản thì cái đó lại rất khó. Họ sợ nhất là mất Đảng Cộng sản. Cho nên phải có gì đảm bảo với họ. 
-HT Thích Quảng Độ
Ỷ Lan: Kính xin Đức Tăng Thống cho biết trong tình hình như thế, Nhà cầm quyền Việt Nam cần làm gì để giải quyết vấn đề xâm lăng lãnh hải Việt Nam của Trung Quốc?
HT Thích Quảng Độ: Cái đó rất dễ. Ngoài dân chủ hoá ra không còn cách nào nữa. Rất dễ. Nhưng mà đối với Đảng Cộng sản thì cái đó lại rất khó. Họ sợ nhất là mất Đảng Cộng sản. Cho nên phải có gì đảm bảo với họ. Toàn dân phải làm sao?
Mà họ không quan tâm đến dân, họ không quan tâm tiếng nói của dân. Họ coi dân như cỏ rác. Ai mà đòi hỏi dân chủ nhân quyền họ bỏ tù, họ bắt. Bao nhiêu người bị bỏ tù mới đây thôi. Cứ nói lên đòi hỏi dân chủ tự do là họ bỏ tù. Cũng như tôi, bản thân tôi quản chế mấy chục năm nay.
Chứ bây giờ họ đừng sợ, họ cho dân nói tự do đi. Giải thích lý do tại sao họ phải chặt chẽ như thế. Họ cho biết rõ đi. Rồi bây giờ cần phải làm sao có tự do cho toàn dân. Để làm gì? Để đoàn kết chặt chẽ với nhau, đương đầu với một cái khó khăn lớn nhất. Hiện tại đây là cái thế lực của Trung Quốc. Nếu họ có được cái cuộc họp, như cái hội nghị Diên Hồng ngày xưa, nếu họ làm được như thế thì ai cũng vui, ai cũng bỏ qua quá khứ hết. Người Việt Nam là vậy đó, khi đất nước lâm nguy thì tất cả những thù oán riêng của cá nhân, của gia đình họ bỏ hết. Tất cả chỉ nghĩ đến đất nước, làm sao cho đất nước tồn tại. Đất nước phát triển, đất nước giàu mạnh. Người Việt Nam yêu nước lắm. Dưới chế độc độc tài Cộng sản nó vậy đấy.
Cho nên chính cái sự khó khăn ngày nay đối với dân tộc Việt Nam nói chung là do Đảng Cộng sản gây ra. Bao nhiêu công trình xây dựng của tổ tiên ngày xưa, từ thời Đinh, Lê. Lý, Trần, Lê, về sau tới nhà Nguyễn này, xây dưng được cái gì về văn hoá, về chính trị, phong tục, tập quán, Cộng sản Hồ Chí Minh lật đổ hết, đào hết, đổ đi hết.
Đấy là cái họa từ bao nhiêu chục năm nay, hậu quả cho đến bây giờ đây.
 LanXin cám ơn Đức Tăng Thống.
Ỷ Lan, Phóng viên Đài Á châu Tự do tại Paris.



Hãy tỉnh táo để nhìn Đảng

Cánh Cò, viết từ Việt Nam
2014-06-20

Chúng nó là giống gì ? Cộng sản Việt Nam


000_ARP2238200-600.jpg

Cố Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng trong đám tang Chủ tịch Hồ Chí Minh hôm 15/9/1969 tại Hà Nội.
AFP photo
Người dân Việt Nam trong hơn tháng qua kể từ ngày Trung Quốc ngang nhiên kéo giàn khoan vào sâu trong vùng biển đặc quyền kinh tế, mỗi người một cách biểu lộ phản ứng của mình. Đến người hiền lành nhất cũng cảm nhận bị đe dọa bởi quân xâm lược. Ra chợ sẽ thấy, những khuôn mặt lấm lem của người mua gánh bán bưng luôn loáng thoáng nỗi lo âu chiến tranh và trong ngôn ngữ thường ngày người ta không ít lần nghe đến hai chữ "giàn khoan" cùng hàng ngàn bàn tán.
Những bàn tán rất đời thường trong quán cà phê, nơi công sở thậm chí ngay trong các bàn tiệc quan hôn tang tế lộ ra một điều: mọi sự đã phơi bày trước bàn dân thiên hạ về ý đồ xâm lăng của Trung Quốc. Khởi đầu thì người ta lo ngại, dần dà là sự tức giận và cuối cùng là cay đắng, xấu hổ.
Lo ngại vì Trung Quốc mạnh và tham vọng bá quyền. Tức giận vì Việt Nam gần như cô độc trong vùng, ngoại trừ Philippines, số còn lại trong khối ASEAN hầu như im lặng không một lời phê phán. Và cuối cùng là cay đắng, xấu hổ khi Trung Quốc công bố một loạt những bằng chứng về Công hàm Phạm Văn Đồng ký năm 1958. Sách giáo khoa địa lớp 9 của Việt Nam xuất bản năm 1974 rồi bản đồ thế giới do Cục Đo đạc Bản đồ Việt Nam in năm 1972 công nhận Hoàng Sa - Trường Sa là của Trung Quốc. Cả nước chết lặng, cổ đắng họng khan, nghẹn ngào khi biết ra rằng cả một hệ thống cầm quyền từ xưa tới nay đã lạc vào mê hồn trận do Trung Quốc sắp đặt.
Câu hỏi từ mấy năm qua: tại sao không đem Hoàng Sa - Trường Sa vào sách giáo khoa đã có lời giải. Một lời nguyền thì đúng hơn, bởi nó chứa đựng một chính sách nhất quán sai lầm của nhiều đời Tổng Bí thư. Ngay cả Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không nhận ra lòng tham vô tận của người anh em mà ông ăn nằm và tin cẩn như ruột thịt.
Ruột thịt ấy đã quay mặt với ông từ lâu và đến hôm nay thì giọt nước cuối cùng trong chiếc ly đen tối mang tên hữu nghị đã rơi xuống đất.
Kinh thánh Thiên chúa giáo có nhân vật Giu Da cả gan bán Chúa cho quân Do Thái để lấy 30 đồng bạc sao mà giống câu chuyện của Đảng cộng sản Việt Nam công nhận Hoàng Sa-Trường Sa là của Trung Quốc đến thế.
Giu Da lập luận rằng Chúa của ông là quyền năng vô tận không một thế lực nào có thể bắt và giết ngài, vì vậy lừa bọn Do Thái để lấy 30 đồng bạc là một hành động thông minh có khi còn được khen thưởng. Giu Da không ngờ ý Chúa đã muốn cứu chuộc nhân loại và hành động của y như một bài học cho con người về sự phản phúc chứ không thể xem là khôn ngoan.
Ông Phạm Văn Đồng rơi đúng vào trường hợp này khi nghĩ rằng ký công hàm không phải là xác nhận chủ quyền vào tay Trung Quốc. Chữ ký ấy chỉ có ý nghĩa làm vui lòng một thế lực đang giúp Việt Nam chiến đấu chống Mỹ và do đó có thể cho là một sự khôn khéo của ngoại giao.
Ông Đồng và Đảng Cộng sản Việt Nam đã đi theo vết xe của Giu Da bán Chúa. Thay vì bán một thánh nhân thì ông và Đảng cộng sản đã đem đất nước ra đặt cược với Trung Quốc. Từ tờ công hàm ấy, Việt Nam trượt dài dưới áp lực của phương Bắc để có thêm hai hành động mê muội theo sau khiến Trung Quốc không dại gì mà không khai thác.
Ba chi tiết dẫn đến mất nước ấy không ai có khả năng phản biện vì càng cố phản biện thì sự ngụy biện càng lộ rõ hơn.
Bây giờ thì mọi câu hỏi trong quá khứ đã có lời giải thỏa đáng. Đảng và nhà nước Việt Nam ý thức công hàm Phạm Văn Đồng là lưỡi gươm Damocles luôn lơ lủng trên đầu nên khi dân chúng biểu tình chống Trung Quốc thì chính quyền đàn áp không thương tiếc. Hàng hóa Trung Quốc tràn ngập do nhà nước cố tình làm ngơ. Nhà thầu Trung Quốc chiếm mọi cuộc thầu lớn nhỏ, nhập siêu của Trung Quốc mỗi năm mỗi cao hơn...là những biểu hiện lấy lòng để Trung Quốc quên đi chuyện cũ...
Thế nhưng Việt Nam mới là kẻ mau quên. Quên Trung Quốc là một anh bạn lật lọng và sẵn sàng làm mọi chuyện để đạt mục đích của họ. Nhường nhịn như vậy nhưng Việt Nam vẫn không bịt được mồm của một kẻ quen thói lu loa nhất là lu loa để lấy hết biển Đông thì dù có làm hơn thế trăm lần Trung Quốc cũng sẽ theo đến cùng cuộc chiến tranh mồm mép.
Còn một chút niềm tin vào Chủ nghĩa Xã hội cũng bị Trung Quốc dày xéo lên luôn, thế là Đảng và nhà nước Việt Nam đành quay mặt vào... nhau tìm phương kế thoát ra tiếng xấu ngàn đời.
Báo chí rõ ràng không dám đổ tội cho Phạm Văn Đồng, vì làm như thế là chấp nhận công hàm bán nước. Nhưng dù không chấp nhận cũng khó mà tranh cãi giữa tòa án quốc tế, nơi bài học Giu Da bán Chúa đã được các ông bà thẩm phán người phương Tây thuộc lòng từ khi mới sinh ra.
Những bằng chứng ấy phải được can đảm chấp nhận và biện pháp duy nhất giải độc nó là nhận lỗi trước nhân dân cả nước về sai lầm này.
Nhận lỗi không phải để tiếp tục cầm quyền mà phải rút lui ra khỏi cương vị hiện nay vì tất cả các ông/bà trong Bộ chính trị không ai xứng đáng đại diện cho nhân dân Việt Nam cả. Liên đới trách nhiệm buộc những người đang đi dưới lá cờ của Đảng cộng sản Việt Nam phải thấy đó là sự sỉ nhục chung không thể bào chữa. Nếu còn lương tri hãy vứt thẻ đảng để lo cứu nước còn hơn ôm một mớ ảo tưởng ngồi đó chờ ngày người dân đến tước thẻ của mình.
Nếu sau chiến tranh đảng viên được cho là những người có công với cách mạng, đất nước thì công hàm Phạm Văn Đồng và sách giáo khoa, bản đồ do Việt Nam phát hành phải được xem là hành động làm cho mất nước. Người đảng viên đi dưới lá cờ của Đảng cộng sản không thể vô can và vì vậy không được tiếp tục nhắm mắt đi theo đường của đảng vẽ ra, kể cả con đường chống giặc Tàu nếu có.
Khi chữ Đảng không còn linh thiêng nữa thì hãy trở về với lòng yêu nước còn sót lại hiếm hoi trong tim các vị. Đã đến lúc phải chấp nhận rằng Đảng không còn chút giá trị gì khi nhận vai trò  lãnh đạo chống ngoại xâm. Chính Đảng mới là lực cản của toàn bộ sức mạnh dân tộc.
Đảng không còn tỉnh táo để hướng dẫn bất cứ ai vì ngay người nắm vận mệnh của nó đã không còn đủ sáng suốt từ nhiều năm qua.
Hãy nhìn ông Nguyễn Phú Trọng thì thấy ngay mặt trái của đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay. Hơn ba triệu đảng viên Cộng sản dưới quyền của ông Trọng đã có phát biểu nào cho ra hồn khi chính ông thủ lĩnh không thèm nói một lời chống giặc?
Hay ông chờ cho tới ngày 15 tháng Tám khi giàn khoan 981 rút đi vì bão tố, sóng dữ thì trở lại vai trò nhạc trưởng, đưa chiếc gậy chỉ huy lên cho toàn đảng của ông cất lên bài ca núi liền núi sông liền sông, Việt Nam luôn trọng tình hữu nghị?
Cánh Cò, Việt Nam 18/06/2014
*Nội dung bài viết không nhất thiết phản ảnh quan điểm của RFA.


__._

SÀI GÒN 18/05/2014 , LÍNH KÍN MÃ TÀ ĐÔNG HƠN NGƯỜI YÊU NƯỚC


Đồng bào tại Adelaide, tiểu bang Nam Úc đã tổ chức một cuộc biểu tình vào hôm nay, Chủ nhật 18 tháng 5 năm 2014 vào lúc 10 giờ sáng trước tiền đình Quốc hội Nam Úc. 

Cuộc biểu tình này do cơ sở Việt Tân Adelaide đứng ra tổ chức với sự tham dự của Ban chấp hành cộng đồng Người Việt Tự Do Nam Úc và đại diện của nhiều gia đình quân đội và hội đoàn, cùng đồng hương Nam Úc để phản đối Trung Quốc xâm lược lãnh hải Việt Nam khi đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng hải phận Việt Nam.

Mặc dù chưa đến 10 giờ sáng đã thấy đồng hương Nam Úc nối gót nhau tiến về phía Quốc hội. Ban Tổ Chức giăng biểu ngữ, phát cờ, biểu ngữ cầm tay cho đồng hương tham đến tham dự biểu tình và các tờ truyền đơn bằng anh ngữ cũng được phân phát cho những người dân bản xứ đi ngang qua khu vực biểu tình để biết thêm về hành động xân lược của Trung Cộng. Trời
cuối thu nhưng thời tiết lại ấm áp và đẹp vô cùng, mọi người thay phiên nhau hô to các khẩu hiệu: “Đả đảo Trung Cộng xâm lược”, “Đả đảo CSVN: hèn với giặc, ác với dân”, “Hoàng Sa, Trường Sa, Việt Nam”.
 
Ông Lê Hà Chữ và Cô Huỳnh Hoài Bảo Châu thay mặt Ban tổ chức trình bày mục đích của cuộc biểu tình:
·Phản đối hành vi Trung Cộng xâm lược lãnh hải Việt Nam
·Phản đối nhà cầm quyền CSVN đã hèn nhát không dám lên tiếng bảo vệ chủ quyền Việt Nam đối với Trung Cộng.
·Hiệp thông với đồng bào yêu nước đang xuống đường phản đối Trung Cộng, từ Bắc đến Nam ở trong nước.


Ông Đoàn Công Chánh Phú Lộc, Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu /Nam Úc cũng có đôi lời chia sẻ về những nỗ lực tổ chức các cuộc biểu tình chống Trung Cộng của Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu Liên Bang và các Tiểu Bang.
Sự hiện diện đông đảo của quý đồng hương trong cuộc biểu tình cho thấy tinh thần yêu nước và quyết tâm bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ Việt Nam dù ở trong hay ngoài nước. Cuộc biểu tình diễn ra ôn hòa nhưng đầy khí thế được kết thúc vào lúc 11 giờ cùng ngày với hai bài hợp ca: “Việt Nam Việt Nam” và “Dậy Mà Đi”.









Thư Vi, tường trình từ Adelaide, Úc Châu
18/05/2014

,_._
Coi Tây Tạng trong tay Tầu để tranh đấu cho VN. 

Kính gửi Quí Vị Yêu Nước thương Dân VIỆT NAM, 
Toasoan@baophunu.org.vn là dòng giống anh Hùng Bà TRƯNG Bà TRIỆU vận động Nhân Dân VIỆT NAM CỨU QUỐC và Các Tòa Báo dòng giống Anh Hùng TRẦN HƯNG ĐẠO có Bổn Phận Đấu Tranh cùng với Nhân Dân Việt hơn 90 triệu người trong Nước và ngoại quốc hơn 4 triệu người Việt chống Trung Cộng xâm lăng, Chú ý xem tin tức các đài ngoại quốc: www.rfi.fr/tiengviet, đài VOA , BBC. v;v...   Và xem tài liệu các nơi trên internet + hình ảnh (photos) chuyển tin trên đây: Tây Tạng , Tân Cương bị Trung Cộng cai trị.
-Các Báo VN. nên làm ngay đề nghị (yêu cầu) Nhà Nước XH.VN.và Quốc Hội VN. cấp tốc: ra Luật Biểu Tình không ''Bạo động.'' cho toàn Dân Tự Do Biểu Tình Chống  TRUNG CỘNG  Xâm Lăng VN. .(không để cho côn đồ- mật vụ T.C. giật dây !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!)

CỨU QUỐC là BỔN PHẬN và TRÁCH NHIỆM ca tất cả Người Việt Nam yêu TỔ QUÔC là DÂN TỘC VIỆT NAM co' ĐÔC LẬP TỰ DO, co' NHÂN QUYỀN  theo các NƯỚC VĂN MINH ÂU MỸ và NHẬT BẢN?....... là DÂN GiẦU NƯỚC MẠNH.

CAN ĐẢM TIẾN LÊN! - Khi Tất cả các nơi toàn quốc nổi dậy co' SỨC MẠNH không bị đàn áp! 
Các nơi trên Thê' Giới đã đều làm như vậy, QUÔC TÊ'  CAN THIỆP GIÚP. 

Kính chào SỨC MẠNH Toàn Dân VIỆT NAM .

D.THI.


“TRẬN ĐỒ BÁT QUÁI” CỦA TRUNG QUỐC

Việt gian đại biểu đảng CSVN phát biểu giữa nghị trường quốc hội

Đọc Tam Quốc Chí, trong lịch sử trận đồ bát quái do Khổng Minh sáng tạo ra chỉ có hai người có thể phá nổi. Người thứ nhất là Hoàng Thừa Ngạn (bố vợ Khổng Minh) và người thứ hai là Khương Duy (học trò và là người kế tục sự nghiệp của Khổng Minh ). Tướng Ngô là Lục Tốn nếu không có Hoàng Thừa Ngạn chỉ đường chắc chắn sẽ chết tại trận đồ Bát Quái này của Khổng Minh.
Từ lâu, các thế hệ cầm quyền bành trướng Trung Hoa đã bày trận Bát quái này với người “đồng chí” Việt Nam. Ai sẽ là người Việt Nam có đủ tài năng, trí tuệ và bản lãnh phá trận này đây?
Người ta, thường vẫn hay dùng hình ảnh của tảng băng nổi trên mặt biển để nói về phần NỔI (ý là phần lộ diện: nhỏ) và phần CHÌM (ý là phần tiềm tàng: lớn) – đó là theo lý thông thường, nhưng ở ta thì cái tảng băng (cũng hình chóp) đó lại  lộn ngược lềnh bềnh nên rất khó đảo lại nhưng lại rất dễ tan, mau tan chảy! Cái hệ thống “lộn tùng phèo” này có vô số thứ để bàn theo kiểu “hội đồng chuột” (bàn cách treo chuông vào cổ mèo) nếu chưa đảo ngược lại được!
Trong phạm vi bài viết này, chúng ta cùng nhau điểm lại việc Trung Quốc dã tâm tấn công một cách có hệ thống như trận đồ bát quái “tám hướng” vào nước ta.
Hướng thứ nhất
Sáu tỉnh biên giới phía bắc của nước ta bị Trung Quốc dùng mọi thủ đoạn chiếm đoạt “gặm nhấm”. Ngày nay, các địa danh Mục Nam Quan, Thác Bản Giốc v.v… chỉ còn là hoài niệm trong sách giáo khoa và những câu ca dao của dân Việt.  Chúng ta phải mất 6 năm điều đình, nhún nhường, phân định để xây được hơn 1500 cọc mốc bê tông biên giới Việt Trung cao 10-15 m, sâu trung bình 20 m nhưng vẫn chưa phải là bình yên vì Trung Nam Hải thường đổ lỗi cho dân tại chỗ nếu có “quậy phá” chỉ vì họ cho rằng mồ mả của người dân Trung Quốc vẫn còn nằm trên lãnh thổ Việt Nam!?
Hướng thứ hai
Dùng các thủ đoạn mua chuộc các quan chức, lợi dụng “kẽ hở” của chủ trương đầu tư  để  thuê dài hạn đến 50 năm các khu vực trọng yếu về kinh tế và quốc phòng từ  rừng núi, đến vùng ven biển của đất nước. Hậu họa đã nhãn tiền chẳng cần phải chờ đến 50 năm sau để con cháu lên án cha ông chết vì tham và ngu dại!
Hướng thứ ba
Phía Tây-Nam, ‘phiên dậu” của nước ta ở Campuchia và Lào nhiều vùng đất rộng lớn đã được Trung Quốc đầu tư, mua bán. Trước đây, các du học sinh người Lào còn thích sang Việt Nam học tập nhưng ngày nay địa điểm đến của họ là Trung Quốc vì học bổng cao gấp hơn 30 lần so với Việt Nam, lại còn được cho về phép v.v… Sau tầng lớp cán bộ trung kiên gắn bó với Việt Nam già yếu, mất đi dễ hiểu “đòn xoay trục” của Tầu như thế nào với tầng lớp kế cận ở các nước phía Tây-Nam của nước ta.
Hướng thứ tư
Việt Nam là một trong những quốc gia đang chịu nhiều tác động bởi thiên tai như: bão, lũ lụt, lũ ống, lũ quét, xói lở bờ sông, bờ biển, sạt lở đất, úng ngập, hạn hán, xâm nhập mặn và hoang mạc hóa (gần 100% là liên quan đến nước). Hằng năm, nước ta chịu nhiều tác động bất lợi của thiên tai, làm thiệt hại về người và của vô cùng to lớn. Đặc biệt trong những năm qua, thiên tai xảy ra ở khắp các khu vực trên cả nước, gây ra nhiều tổn thất to lớn về người, tài sản, các cơ sở hạ tầng về kinh tế, văn hóa, xã hội, tác động xấu đến môi trường. Trong 20 năm gần đây (1994 – 2013) ở nước ta, thiên tai (chỉ tính riêng bão, lũ lụt, sạt lở đất và lũ quét) đã làm chết và mất tích gần 13.000 người, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP/năm (đó là chưa nói đến thiệt hại kinh tế, môi trường do ngập úng thường xuyên ở các thành phố).
Hai nguồn nước chính tác động đến Việt Nam cả trong mùa lũ và mùa kiệt là hệ thống sông Hồng và sông Mekong đều bắt nguồn từ Trung Quốc. Quản lý nước là phải quản lý lưu vực sông nhưng Trung Quốc xây dựng tràn lan các đập thủy điện ở thượng nguồn bất chấp đến các hậu quả phải hứng chịu của Việt Nam ở hạ lưu. Tệ hơn, họ còn không cho ta biết quy trình vận hành các hồ chứa thủy điện phía thượng lưu, đây là nguy cơ không nhỏ về “chiến tranh nguồn nước” trong tương lai.
Hướng thứ năm
Hàng hóa từ Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt Nam qua các con đường từ nhập khẩu, tiểu ngạch đến buôn lậu. Chất lượng các sản phẩm qua những hàng hóa đã kiểm nghiệm hầu hết đều vượt mức báo động cho phép, gây tổn hại sức khỏe của nhân dân ta. Thương lái Trung Quốc đi khắp nơi thu mua các sản phẩm không giống ai như lá điều khô, đỉa, móng trâu, hoa thanh Long, lá khoai non, thảo quả, cây culi, cây long khỉ v.v… giá cao bất thường rồi đồng loạt rút bỏ gây điêu đứng cho bà con nông dân thiếu thông tin, nhẹ dạ, gây bất ổn về an ninh chính trị và trật tự xã hội ở các địa phương.
Phần lớn các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng kể cả năng lượng, giao thông đều rơi vào tay Trung Quốc do bỏ giá thầu rẻ, và giỏi “đi đêm”, nhưng lúc thực thi lại đưa công nghệ lạc hậu, thi công kéo dài, dùng đủ phép để đội giá đầu tư so với hồ sơ lúc đầu đã được duyệt để lại hậu quả “tiền mất – tật mang” cho Việt Nam.
Hướng thứ sáu
Xâm chiếm Hoàng sa của Việt Nam, tự vẽ ra đường lưỡi bò 9 đoạn chiếm khoảng 90%  diện tích Biển Đông bất chấp đạo lý và luật pháp quốc tế. Sự kiện giàn khoan HD 981 càng lột tả bộ mặt thật về thủ đoạn trắng trợn, dã tâm của Trung Quốc đối với Việt Nam. Kế hoạch tiếp tục đưa thêm các giàn khoan khác đến Biển Đông chứng tỏ Việt Nam không còn đường lùi, phải kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế.
Nhà nước Việt Nam cần làm ngay bây giờ là gửi một công hàm phản đối công hàm của Trung Quốc ở Liên Hiệp Quốc. Danh chính thì ngôn thuận, nên nhớ rằng năm 1979 khi ta  có sách trắng thì năm 1980 Trung Quốc cũng ra sách trắng gồm tất cả lập luận về công hàm năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng rồi. Tiếp đó, ta đã đáp trả bằng sách trắng 1982, 1988. Bây giờ đây, có gì đâu mà sợ. Nếu ai ngăn cản, thì  chắc chắn không chỉ vì thiển cận, lú lẫn mà còn là ăn “phải bả” của Tàu!
Hướng thứ bảy
Vịnh Hạ Long đã có đường ranh giới Việt – Trung từ thời người Pháp ông Mac Mohon ký kết với nhà Mãn Thanh. Nhưng thực tế, Trung Quốc cũng tìm cách lấn lướt sang ta đến khoảng 50 km2 và thường xuyên gây khó cho hoạt động của ngư dân Việt Nam vì họ đông người lại có tầu to.
Hướng thứ tám
Đất nước muốn phát triển cần có những người lãnh đạo có phẩm hạnh, trí tuệ và tài năng. Từ lâu, Trung Quốc đã can thiệp vào công tác nhân sự của ta. Thủ đoạn truyền thống của Trung Quốc là “cấy mối thân tình”, mua chuộc bằng mọi cách kể cả hù dọa người yếu bóng vía, tạo nên ân tình từ cấp trung ương đến địa phương. Đối với nhân dân ta không thể mua chuộc được thì họ tuyên truyền thất thiệt gây chia rẽ giữa lãnh đạo Nhà nước và nhân dân. Ngày nay, có thể nói “tai mắt” của Trung Quốc len lỏi khắp nơi, tác động khôn lường  đến  cả chính trị  và kinh tế  xã hội của Việt Nam.
Ngẫm suy
Kể từ nhà Hán chiếm nước Âu Lạc thì bản chất xấu của  Đại Hán chẳng những không thay đổi mà còn tăng lên tính tham lam, độc ác và nham hiểm. Kể cả khi là “đồng chí” độ thâm, ác và sự mê hoặc của nó càng tàn độc hơn, lan tỏa cả Đông Nam Á và nhiều quốc gia khác. Nó hoàn toàn đối lập với Đại Việt ta mà nay là Việt Nam, từ chỗ Tổ tiên ta lấy giống nòi (dân tộc) làm bất biến nên không bị đồng hóa; lấy độc lập tự chủ làm lẽ sống để khôi phục giang sơn sau hơn 1.100 năm là quận, huyện của Hán, Đường;  biết lấy lòng dân làm sức mạnh vô địch; biết tin dân mà cảnh giác kẻ thù; biết vì dân mà dẹp tư thù và lòng tham ích kỷ cá nhân, dòng họ (Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn)… nhưng rồi vì “đồng chí” mà Việt Nam ta ngày càng tệ hại dưới con mắt của Tàu.
Không minh bạch sòng phẳng với dân
Trong bối cảnh mù mờ, Nhà nước chỉ cho cán bộ và nhân dân biết một phần về những việc làm với tư cách đại diện cho cả một dân tộc, đây là một sự bất công đã kéo dài từ nhiều năm nay. Thủ tướng Phạm văn Đồng đã viết những gì cho ông Chu Ân Lai về biển đảo, lãnh hải của Việt Nam năm 1958, một điều mà chỉ những ai chú ý tìm hiểu lắm mới biết! Hội nghị Thành Đô năm 1990 có những nội dung gì, ngoài những điều mà báo chí đã đưa? Nội dung của việc trao khu khai thác bauxite cho Trung Quốc ở Tây Nguyên là gì, trong bao nhiêu năm, nội dung của việc cho thuê rừng phòng hộ ở biên giới Việt-Trung là thế nào? Rất nhiều người Việt Nam không được biết rõ, và khi đọc từng đoạn trong tin tức từ báo chí “lề trái”, người ta không còn biết tin vào đâu nữa!
Tại sao trước kia công an giải tán các đoàn biểu tình chống Trung Quốc bành trướng tại các biển đảo của Việt Nam, bắt, giết ngư dân, thậm chí còn theo dõi, bắt người Việt Nam vô tội chỉ vì đã có những biểu cảm của lòng yêu nước, và gần đây lúc lại nới lỏng, lúc thắt chặt? Vậy thì phải đợi Trung Quốc hung dữ hơn thì dân ta mới được phép phản đối chăng? Tại sao nhiều vị chóp bu của Việt Nam hầu như không nói gì trước những sự việc trọng đại như Trung Quốc hạ dàn khoan trái phép HD 981, hay những vụ lộn xộn ở Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản, Thái Bình, Cần Thơ  v.v…?
Vĩ Thanh      
Trong “trận đồ bát quái” của Trung Quốc thì hướng thứ tám, can thiệp vào nhân sự mới là hướng chính, quan trọng nhất đánh ta của Trung Quốc để giành thắng lợi cuối cùng.
Đến lúc này, mà người ta vẫn còn gọi nhau là đồng chí. Thực chất chỉ còn là đồng chí “bán phần”, hay là “bán phần đồng chí” như văn phạm Tàu vì  chỉ có nửa phần “vận mệnh tương quan” trong 16 chữ vàng là đồng. Chưa có lúc nào người dân và chính quyền lại sống trong ngờ vực như ngày nay vì Nhà nước không minh bạch với dân và ngay trong nội bộ lãnh đạo cũng không phải tất cả là cùng chí hướng! Trước hết, Ban chấp hành Trung ương và các vị đại biểu Quốc hội có quyền được biết các ý kiến của từng thành viên Bộ Chính trị và Ban bí thư về quan điểm và các đối sách đối với Trung Quốc.
Phương ngôn có câu: “Im hơi, lặng tiếng là một đức hay. Nếu danh dự bắt buộc phải lên tiếng mà lặng im thì là một sự hèn nhát” (La Cordaire): “Ta căm ghét thái độ dửng dưng chỉ cần thêm một bước là dẫn tới phản bội và một bước nữa đã là tội ác trước lương tâm (I.V. Bodarev).
Viết đến đây, tôi nhớ lại câu chuyện một lần Byron, thi hào Anh sau khi đứng làm mẫu cho người bạn là nhà điêu khắc Torvansen tạc tượng chân dung của mình, bỗng nhiên ông kêu lên : “không, bạn không tạc hình tôi mà là hình hài của một anh chàng yên ổn nào đó! Tôi hoàn toàn không giống bức tượng này!” Torvansen hỏi lại: “thế, có gì là xấu nếu ta sung sướng?”
Khuôn mặt Byron vụt tái đi vì tức giận và ông la lớn: “Torvansen! hạnh phúc và sự yên ổn cũng khác nhau như đá hoa cương và đất sét vậy. Chỉ có những kẻ ngu và những người tâm hồn thấp kém mới tìm kiếm sự yên ổn trong thế kỷ chúng ta. Chẳng nhẽ trên mặt tôi không có nét nào nói lên sự cay đắng, lòng can đảm và nỗi đau khổ của suy tư?
Ngày nay, dù cho kẻ bán nước có “thẻ xanh” nhưng dân nước Việt không bao giờ quên lời dạy của  tiền nhân – Vua Lê Thánh Tông (1473):
Nếu các ngươi đem một thước sông, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc thì phải tội tru di”
T.V.T.

THẢO LUẬN THOÁT TRUNG VỀ VĂN HOÁ: Giã từ nền văn hoá quỳ lạy

Lê Phú Khải

Có lần, Hán Cao Tổ Lưu Bang (202 trước Công nguyên) nói với Lục Giả: “Ta ngồi trên lưng ngựa mà có được thiên hạ thì cần gì phải học Thi, Thư…” Nhưng rồi Hán Cao Tổ cũng nghe lời khuyên của Lục Giả trọng dụng kẻ sĩ, đề cao Nho giáo để củng cố ngai vàng. Đến đời Hán Vũ Đế (140 trước Công nguyên) thì đạo Nho trở thành quốc giáo. Khổng Tử (sinh năm 551 trước Công nguyên, thọ 73 tuổi), người được xem là sáng lập ra Nho giáo được tôn lên bực thánh, trở thành Vạn thế sư biểu (người thầy của muôn đời).
Điều cốt lõi của Khổng giáo là lý thuyết về người quân tử, tức kẻ cai trị đất nước (quân là cai trị, quân tử là người cai trị). Theo Khổng Tử thì người quân tử phải biết tu thân, phải có đạo đức và biết thi, thư, lễ, nhạc… Tu thân rồi, người quân tử phải dấn thân hành động: tề gia, trị quốc, bình thiên hạ! Người quân tử phải chính danh để cai trị đất nước. Các triều đại phong kiến sau này đều triệt để khai thác Khổng giáo, họ biến đổi, “gia cố” Nho giáo thành một triết thuyết cực đoan có lợi cho giai cấp thống trị. Chữ đạo của Khổng Tử là những mối quan hệ phải có trong xã hội thời đó như đạo vua-tôi, cha-con, chồng-vợ, anh-em, bạn hữu… sau này chỉ còn ba quan hệ vua-tôi, cha-con, chồng-vợ với cái logic phản động và phản dân chủ nhất: quân sử thần tử, thần bất tử bất trung (vua bảo chết, thần không chết là bất trung); phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu(cha bảo con chết, con không chết là bất hiếu); với phụ nữ thì: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (ở nhà thì phải theo cha, lấy chồng thì phải theo chồng, chồng chết phải theo con).
Trong chế độ phong kiến, nhân dân đã tiếp thu những “đạo lý” đó như người khát nước uống thuốc độc để giải khát. Chế độ phong kiến tàn bạo và thối nát ở Trung Quốc đã nhờ triết thuyết của Khổng giáo mà tồn tại và kéo dài cho đến cách mạng Tân Hợi 1911.
Vì thế, nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện (1913-1997) đã phê phán Nho giáo một cách triệt để: “Trên phương diện chính trị, Nho giáo chủ yếu là bảo thủ. Nó bỏ qua vấn đề pháp luật và thiết chế, từ chối mọi cải cách… Bảo vệ lễ nghi của các triều đại xưa là mối quan tâm hàng đầu của Khổng Tử. Trong chữ lễ, vương triều Trung Hoa cũng như Việt Nam đã tìm thấy biện pháp tốt nhất để duy trì sự ổn định của ngai vàng (Bàn về đạo Nho – nguyên văn tiếng Pháp đăng trên tạp chí La Pensée số 10-1962 với đề là Confucianisme et Marxisme au Vietnam. Dịch sang tiếng Việt, in trong Bàn về Đạo Nho – 1993).
Với Khổng giáo, vua là Thiên tử (con Trời), thay Trời cai trị muôn dân. Vua với nước là một. Yêu nước là trung với Vua (trung quân ái quốc).
Điều nguy hiểm nhất của triết thuyết Khổng Tử là: Người quân tử nhờ tu thân mà có vai trò cai trị, nhưng khi quân tử – tức kẻ cai trị – không tu thân, trở thành những hôn quân bạo chúa thì dân chúng vẫn phải cam chịu, không được làm cách mạng lật đổ chúng. Vì thế Nguyễn Khắc Viện mới viết: Khổng Tử từ chối mọi cải cách!
Trong xã hội Khổng giáo mấy ngàn năm ở Trung Quốc, kẻ sĩ đi học là mong được làm quan. Làm quan để được quỳ lạy dưới ngai vàng. Cái văn hoá quỳ lạy ấy đã kìm hãm nước Trung Hoa trong vòng tăm tối mấy ngàn năm. Trong nền văn hoá quỳ lạy ấy, chỉ có kẻ trên đúng. Chỉ có vua đúng. Vua bảo chết là phải chết. Cha bảo chết thì con phải chết. Tóm lại là không có chân lý. Hay nói khác đi, không ai đi tìm chân lý cả. Chân lý đã có sẵn ở kẻ bề trên, ở triều đại chính thống, bất kể nó thế nào!
Điều trớ trêu là văn hoá quỳ lạy ấy còn tồn tại đến hôm nay ở nước Trung Hoa cộng sản. Tướng Lưu Á Châu, một nhà bình luận nổi tiếng ở Trung Quốc hiện nay kể rằng, khi ông đi học một lớp chính trị trong quân đội, thấy thầy giảng chướng quá, ông đứng lên thắc mắc. Ông thầy liền nói: Tại sao anh dám cãi lại tôi? Tướng Lưu Á Châu thất vọng, vì thầy đã không dám hỏi: “Vì sao anh lại nói như thế?”, rồi tranh luận để tìm ra chân lý. Thầy chỉ phán: “Vì sao anh dám cãi lại tôi?!”. Thầy luôn đúng. Trò không được cãi.
Nước Trung Hoa cộng sản hôm nay vẫn nguyên hình là một xã hội Khổng Mạnh trá hình mà thôi!
Trong khi đó thì ở phương Tây, cùng thời với Khổng Tử, Aristote (384-332 trước CN) đã tuyên bố: “Platon là thầy tôi, nhưng chân lý còn quý hơn thầy!”. Cái văn hoá chân lý quý hơn thầy ấy đã dẫn dắt phương Tây trở thành một xã hội dân chủ và văn minh đến ngày hôm nay.
Việt Nam chúng ta từng một ngàn năm Bắc thuộc, lại luôn chịu ảnh hưởng của người láng giềng hủ bại Trung Hoa, nên tầng lớp có học của nước ta thấm đẫm thứ văn hoá quỳ lạy của Trung Hoa. Trí thức nước ta trong mấy ngàn năm lịch sử chỉ lo dùi mài kinh sử để mong đỗ đạt làm quan, để được quỳ lạy trước sân rồng. Có người già rồi còn đi thi, suốt đời ăn bám vợ con. Việc làm ra của cải vật chất đều do người phụ nữ và những người ít chữ gánh vác. Trí thức Việt Nam trong quá khứ không ai học để làm cách mạng, để thay đổi đất nước. Hình ảnh con trâu đi trước, cái cày theo sau còn tồn tại đến hôm nay ở nông thôn miền Bắc là kết quả của tư duy làm quan, tư duy quỳ lạy. Báo chí của Việt Nam hôm nay hay ca ngợi một bà mẹ đi bán hàng rong mà nuôi được bốn năm người con học đại học. Học để mong kiếm một mảnh bằng vênh vang với làng xóm! Học để mong kiếm một cái chân trong cơ quan nhà nước, để trở thành một anh công chức, một anh nha lại, trên bảo dưới phải nghe.
Khi bàn về việc trọng dụng đội ngũ trí thức, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có lần nói, đại ý, xung quanh thủ tướng toàn là những người có bằng cấp cao, thạc sĩ, tiến sĩ… toàn là trí thức!
Thực ra các vị đó chỉ là những công chức, không phải trí thức. Mà đã là công chức thì trên bảo gì dưới phải nghe theo. Nếu không nghe thì “văng” ra khỏi bộ máy quyền lực ngay lập tức. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện lúc bình sinh có nói với người viết bài này: “Tư bản Pháp chỉ tuyển chọn vào bộ máy những người đỗ đạt cao. Vì thế, khi vào một cơ quan công quyền, người ta biết rõ những người ngồi đó đều là người tài giỏi, vì thế, họ vừa có quyền, lại vừa có uy. Thế mới gọi là uy quyền. Nhưng quyền uy mấy thì cũng là công chức. Nhân dân Pháp chỉ kính trọng những trí thức tự do, vì họ dám phản biện xã hội, bảo vệ lẽ phải. Nước Pháp có hàng trăm nghìn hội đoàn độc lập. Đó là một lực lượng dân chủ hùng mạnh để cân bằng với chính quyền của giai cấp tư bản.
Buồn thay, bộ máy công quyền của Việt Nam hôm nay chỉ tuyển chọn những người “dễ bảo” hoặc biết “mua bán”. Vì thế nó ngày càng xuống cấp. Có lần, trong một cuộc gặp gỡ có nguyên Bộ trưởng L.H.N., phó giáo sư tiến sĩ V.T.K. và người viết bài này, trong lúc vui vẻ, phó giáo sư V.T.K. than phiền với Bộ trưởng L.H.N.: Mấy tay vụ trưởng đi theo anh chuyến này vô Nam, qua nói chuyện tôi thấy các vị đó dốt quá! Nguyên Bộ trưởng L.H.N. nói: Ngày xưa dốt là từ cấp thứ trưởng trở lên, cấp vụ nó giỏi lắm, nay nó dốt xuống đến cấp vụ rồi!!!
Từ nền văn hoá làm quan, văn hoá quỳ lạy, đã hình thành một tâm lý xin-cho trong xã hội. Khi nhóm Cánh Buồm của nhà giáo Phạm Toàn soạn thảo bộ sách Học tiếng Việt cho học sinh lớp 1 theo hướng cải cách giáo dục, tôi đến chơi một người bạn cũ từng là một quan chức cao cấp, từng ở nước ngoài nhiều năm, có học thức cao… và tặng ông một trong các cuốn sách Học tiếng Việt đó. Cầm sách trong tay, ông nói ngay: Họ không cho lưu hành đâu anh ạ! Thì ra cái tâm lý xin-cho đã ngấm vào xương tuỷ giới trí thức nước ta. Trên phải cho thì dưới mới được làm! Dù chưa ai cấm đoán bao giờ!
Ít lâu sau, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có ý kiến phải đưa Hoàng Sa, Trường Sa vào sách giáo khoa cho học sinh phổ thông học. Thế là tôi viết giới thiệu bài tập đọc “Lễ thả thuyền ra Hoàng Sa…” đã có trong sách Tiếng Việt lớp 1 của nhóm Cánh Buồm. Báo Người Lao động TP HCM đã đăng ngay bài đó trong tháng 1-2014 (vì… Thủ tướng đã… cho… nói về Hoàng Sa và Trường Sa!!!).
Ngày nay nước ta đã manh nha kinh tế thị trường, có bao nhiêu điều kiện và cơ hội để học làm người tự do, làm khoa học, làm chuyên môn, làm nghề… làm ra của cải cho một đất nước “đói nghèo trong rơm rạ” (Chế Lan Viên) thì trí thức nước ta cần mau chóng giã từ nền văn hoá làm quan, văn hoá quỳ lạy có cội nguồn từ văn hoá Khổng Mạnh Trung Hoa để canh tân đất nước.
Để kết thúc bài viết này, tôi xin kể một câu chuyện về giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, ông sinh năm 1941 tại xã Điện Thắng Bắc huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Hiện ông là một Việt kiều ở Bỉ, hoạt động trong lĩnh vực khoa học không gian. Ông là một nhà khoa học rất nổi tiếng, là “một trong 10 người làm thay đổi nước Bỉ” như cách nói của chính phủ Bỉ. Ông giảng dạy ở bậc đại học đã nhiều năm, từng là trưởng Khoa Cơ học phá huỷ thuộc Khoa Kỹ thuật không gian Đại học Liège. Một ngày kia, đồng nghiệp của ông “phát hiện” ra ông chỉ có bằng kỹ sư, chưa có bằng tiến sĩ như bao đồng nghiệp khác đang làm việc cùng ông. Người ta đề nghị giáo sư Nguyễn Đăng Hưng làm hồ sơ để thi tiến sĩ. Khi giáo sư Hưng tập hợp các công trình mình đã làm và đã được ứng dụng trong sản xuất để trình Hội đồng, chuẩn bị cho luận án tiến sĩ sẽ làm, thì Hội đồng nhất trí cao rằng ông xứng đáng là tiến sĩ từ lâu rồi, khỏi cần thi! Tại một quán càfê ở đường Phạm Ngọc Thạch Quận 1 TP HCM cuối năm 2013 vừa qua, giáo sư Hưng tâm sự với chúng tôi: Mải làm việc quá nên tôi… quên làm tiến sĩ.
Bao giờ cái văn hoá học để làm việc thay thế được văn hoá làm quan, văn hoá quỳ lạy trong giới tinh hoa ở nước ta, thì Việt Nam mới mở mày mở mặt được.
Tháng 6-2014
L. P. K.

TUYÊN BỐ 6-2014 (cập nhập: 465 người ký)

TUYÊN BỐ LÊN ÁN TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC LÃNH THỔ VIỆT NAM
&
YÊU CẦU NHÀ NƯỚC VIỆT NAM KIỆN TRUNG QUỐC RA TÒA ÁN QUỐC TẾ
TP Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 6 năm 2014
Từ đầu tháng 5/2014 vừa qua, Trung Quốc đã cho hạ đặt giàn khoan HYSY 981 trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa của Việt Nam. Việc hạ đặt giàn khoan này nối tiếp các hoạt động có tính toán từ trước nhằm xâm chiếm lãnh thổ của Việt Nam, đặc biệt là việc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa năm 1974, và đánh chiếm một phần quần đảo Trường Sa năm 1988.
Tất cả hành vi vừa nêu của Trung Quốc có thể gọi đúng tên là hành vi xâm lược, vi phạm nghiêm trọng Điều 2(4) của Hiến Chương LHQ, Nghị quyết 1514 ngày 14/12/1960, Nghị quyết 26/25 năm 1970, Nghị quyết số 3314-XXXIX ngày 14.12.1974 của LHQ.
Vì vậy, chúng tôi, những người Việt Nam trong nước và đang sống ở nước ngoài đồng lòng ký tên vào bản tuyên bố này nhằm:
- Cực lực lên án những hành vi có tính toán của Trung Quốc đang từng bước xâm lược lãnh thổ Việt Nam và thực hiện âm mưu độc chiếm Biển Đông;
- Yêu cầu Nhà Nước Việt Nam khẩn trương khởi kiện Trung Quốc ra tòa án Quốc tế về những vi phạm chủ quyền nghiêm trọng của họ tại Biển Đông, đặc biệt là kết hợp cùng Philippines đấu tranh pháp lý quốc tế để xóa bỏ đường 9 đoạn (lưỡi bò) phi pháp và phi lý của Trung Quốc.
STATEMENT OF CONDEMNATION AGAINST CHINESE AGGRESSION OF VIETNAM’S TERRITORY
&
REQUEST TO THE VIETNAMESE GOVERNMENT TO TAKE CHINA TO INTERNATIONAL COURTS
Since early May this year, China has illegally installed in the oil rig HYSY 981 in Vietnam’s exclusive economic zone (EEZ) and continental shelf of Vietnam. This is part of a pre-planned series of aggressive actions aimed at invading Vietnam’s territory, most notably the use of force to occupy the entire Paracel Islands in 1974, and again to occupy part of the Spratly Islands in 1988.
All of the afore-mentioned actions by China can be rightly called acts of aggression, seriously violating Article 2 (4) of the UN Charter, Resolution 1514 dated 14.12.1960, Resolution 26/25 in 1970, and Resolution No. 3314 UN-XXXIX dated 12.14.1974.
Therefore, we, patriotic Vietnamese worldwide, unanimously signed this statement to:
- Strongly condemn the aggressive behaviors of China which have been calculated to gradually invade the territory of Vietnam and realize their scheme to monopolize the South China Sea;
- Urgently request the government of Vietnam to take China to international courts for their serious violations of Vietnam’s sovereignty in the South China Sea, and to join hands with the Philippines in the legal battle against China’s unjustified and illegal cow’s tongue line (nine-dashed line).
Signatories:
Những người ký tên:
1. Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 
2. Huỳnh Tấn Mẫm, bác sĩ, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn (trước 1975), Đại biểu Quốc hội khóa 6, Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP HCM
3. Lê Công Giàu, nguyên Tổng Thư ký Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn 1966, nguyên Phó Bí thư thường trực Thành đoàn Thanh niên Cộng sản TP HCM, nguyên Giám đốc Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư (ITPC), TP HCM
4. Trần Quốc Thuận, Luật sư, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn Phòng Quốc hội
5. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng Thư ký Hội Trí thức Yêu nước TP HCM
6. Bùi Tiến An, đảng viên hưu trí, nguyên CB Ban Dân vận Thành ủy TP HCM 
7. Hồ An, nhà báo, TP HCM
8. Vũ Thị Phương Anh, Tiến sĩ giáo dục, nghiên cứu và dịch thuật tự do, hiện sống ở TP HCM
9. Đặng Thị Châu, cụ bà 92 tuổi, TP HCM
10. Huỳnh Kim Dũng, cử nhân phong trào sinh viên học sinh trước 1975
11. Hồ Hiếu, nhà giáo Sài Gòn, phong trào Tranh thủ Dân chủ Đà Lạt 1966, nguyên Chánh văn phòng Ban Dân vận Thành Ủy TP HCM
12. Ngô Kim Hoa, nhà báo tự do, Sài Gòn
13. Tô Hòa, nguyên Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM
14. Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh
15. Hà Thúc Huy, PGS TShóa học, giảng dạy đại học, TP HCM
16. Hoàng Hưng, nhà Thơ nhà báo Tự do, TP HCM
17. Nguyễn Văn Ly (Tư Kết), nguyên Thư ký của đc Mai Chí Thọ, TP HCM
18. Võ Văn Thôn, nguyên Giám đốc Sở Tư Pháp TP HCM
19. Lê Anh Tuấn, cán bộ hưu trí
20. Trần Thế Việt, nguyên Bí thư Thành Ủy Đà Lạt
21. Đinh Kim Phúc, nhà nghiên cứu Biển Đông, TP HCM
22. Giang Thị Hồng, vợ Luật gia Lê Hiếu Đằng
23. Lê Phú Khải, nguyên phóng viên thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại miền Nam, TP HCM
24. Trần Hữu Kham, thương binh mù, cựu tù chính trị Côn đảo, TP HCM.
25. Trần Hữu Khánh, hưu trí, TP HCM
26. Cao Lập, hưu trí, cựu tù chính trị Côn Đảo
27. Võ Thị Lan, nguyên cán bộ công an TP HCM
28. Nguyễn Văn Lê, nguyên Chánh văn phòng Ban Dân vận Thành ủy TP HCM
29. Trần Văn Long, nguyên Tổng thư ký Ủy ban vận động cải thiện chế độ lao tù miền Nam Việt Nam, nguyên Phó Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh TP HCM, nguyên Phó Giám đốc Tổng công ty Du lịch TP (Sài Gòntourist).
30. Phan Đắc Lữ, nhà thơ, TP HCM
31. GBt. Huỳnh Công Minh, linh mục Giáo phận Sài Gòn
32. Tăng Thị Nga, cựu sinh viên luật phong trào sinh viên trước 1975
33. Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM
34. Hạ Đình Nguyên, nguyên Chủ tịch Ủy ban Hành động thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn (trước 1975), cựu tù chính trị Côn Đảo, TP HCM
35. Hồ Ngọc Nhuận, Phó chủ tịch Ủy ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam TP HCM, nguyên chủ bút nhật báo Tin Sáng Sài Gòn
36. Hà Sĩ Phu, TS, nhà văn tự do, Đà Lạt
37. Trần Minh Quốc, nguyên hội viên CLB những người kháng chiến cũ thời cụ Nguyễn Hộ 1990, TP HCM
38. Tống Văn Công, nguyên Tổng Biên Tập Báo Lao Động
39. Nguyễn Kiến Phước, nhà báo, nguyên Đại diện báo Nhân Dân ở phía Nam
40. Bùi Minh Quốc, Nhà thơ, nhà báo, nguyên chủ tịch hội Văn Nghệ, tổng biên tập tạp chí Lang Biang, Đà Lạt, Lâm Đồng
41. Tô Lê Sơn, kỹ sư, TP HCM
42. Trần Công Thạch, nhà giáo nghỉ hưu, TP HCM
43. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM
44. Huỳnh Kim Thanh Thảo, doanh nhân, TP HCM
45. JM. Lê Quốc Thăng, linh mục Giáo phận Sài Gòn
46. Lê Thân, hưu trí, TP HCM
47. Nguyễn Bá Thuận, thầy giáo về hưu, Đan Mạch
48. Phan Văn Thuận, Giám đốc công ty Phú An Định, TP HCM
49. Nguyễn Thị Khánh Trâm, nghiên cứu viên văn hóa, hiện sống ở TP HCM
50. Phạm Đình Trọng, nhà văn, Sài Gòn
51. Huỳnh Kim Tú, cử nhân phong trào sinh viên học sinh trước 1975
52. Lưu Trọng Văn, nhà báo, TP HCM
53. Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử Văn hoá Huế, hiện sống tại Huế
54. Võ Thị Bạch Tuyết, nguyên Giám đốc Sở Lao động Thương binh Xã hội TP HCM
55. Huỳnh Thị Minh Nguyệt, cán bộ hưu trí, TP HCM
56. Nguyễn Xuân Nghĩa, TS, giảng viên đại học, TP HCM
57. Nguyễn Minh Tấn, kiến trúc sư, Sài Gòn
58. Nguyễn Hồng Khoái, chuyên viên tư vấn tài chính, Hà Nội
59. Hoàng Thị Nhật Lệ, cán bộ hưu trí Bình Thạnh, TP HCM 
60. Phạm Gia Minh, TS Kinh tế, hiện sống tại Hà Nội
61. Trần Minh Thảo, Viết văn, Bảo Lộc, Lâm Đồng
Ký tên đợt 2
62. Huy Đức, nhà báo độc lập, TP HCM
63. Phạm Khiêm Ích, nguyên Phó Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học Xã hội. Hà Nội
64. André Menras Hồ Cương Quyết, nhà giáo, cựu tù chính trị chế độ cũ
65. Phạm Xuân Phương, Đại tá, cựu chiến binh, Hà Nội
66. Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo, Sài Gòn
67. Lê Văn Tâm, nguyên chủ tịch Hội người Việt Nam tại Nhật Bản
68. Hoàng Lại Giang, nhà văn, TP HCM
69. Tạ Duy Anh, nhà văn, công tác tại nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội
70. Phạm Thị Minh Đức, nhân viên Trung tâm Hợp tác Quốc tế Nhật Bản, Hà Nội
71. Giáng Vân, nhà báo, nhà thơ, Hà Nội
72. Nguyễn Quang A, kỹ sư, Hà Nội
73. Uông Đình Đức, kỹ sư cơ khí (đã nghỉ hưu), TP HCM
74. Trần Tiến Đức, nhà báo, đạo diễn truyền hình, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục-Truyền thông, UBQG Dân số và KHH Gia đình, Hà Nội
75. Nguyễn Văn Binh, cựu Dân biểu Quốc hội VNCH
76. Đoàn Khắc Xuyên, nhà báo, TP HCM
77. Vũ Thư Hiên, nhà văn, Paris, Pháp
78. Tô Nhuận Vỹ, nhà văn, Huế
79. Phùng Hoài Ngọc, thạc sỹ, nguyên giảng viên đại học, tỉnh An Giang
80. Phan Tấn Hải, nhà văn, California, Hoa Kỳ
81. Nguyễn Quang Nhàn, cán bộ công đoàn hưu trí, Đà Lạt
82. Nguyễn Duy Toàn, giảng viên, đại học Nha trang, Khánh hòa
83. Hoàng Dũng, PGS TS, trường Đại học Sư phạm TP HCM, TP HCM
84. Nguyễn Thu Lan, dược sỹ, hưu trí, TP HCM
85. Ngô Thị Kim Cúc, nhà văn, Nhà báo, TP HCM
86. Phùng Liên Đoàn, chuyên viên nguyên tử, Oak Ridge, TN 37830, USA
87. Văn Ngọc Tâm, Nhà báo tự do, TP Sài Gòn
88. Ngô Văn Phước, sinh viên trường Đại học Văn hoá TP HCM
89. Bùi Phạm Hoàng Lượng, đảng viên hưu trí, nguyên Chủ tịch UBMTTQVN quận Phú Nhuận, TP HCM
90. Lê Thăng Long, kỹ sư – doanh nhân, Sài Gòn
91. Phạm Toàn, nhà giáo nghỉ hưu, Hà Nội
92. Bùi Ngọc Tấn, nhà văn, TP Hải Phòng
93. Lê Minh Hà, nhà văn, sống tại Đức
94. Nguyễn Văn Dũng, nhà giáo, nhà văn, TP Huế
95. Nguyễn Tường Thụy, cựu chiến binh, blogger, Hà Nội
96. Đỗ Trung Quân, nhà thơ, TP HCM
97. Đào Thanh Thuỷ, cán bộ hưu trí
98. Nguyễn Duy, nhà thơ, TP. Hồ Chí Minh.
99. Bùi Trọng Kiên, TS. Toán học, Viện Toán học, Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội
100. Nguyễn Trí Nghiệp, Giám đốc Công ty Nông Trang Island, Vĩnh Long
101. Nguyễn Công Hệ, thuyền trưởng viễn dương, TP HCM 
102. Đinh Đức Long, Tiến sĩ, bác sĩ, TP HCM
103. Dương Tường, nhà thơ – dịch giả, Hà Nội
104. Nguyễn Lộc, giảng dạy Đại học, TP HCM
105. Ý Nhi, nhà thơ, TP HCM
106. Lê Khánh Luận, TS Toán, nhà thơ, nguyên giảng viên trường Đại học Kinh Tế TP HCM
107. Trương Thanh Đạm, Dr., hưu trí, Hà Lan
108. Nguyễn Huệ Chi, GS, Hà Nội
109. Nguyễn Thế Hùng, GS TS ngành Thủy lợi, Phó Chủ tịch Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam, TP Đà Nẵng
110. Nguyễn Phương Chi, biên tập viên chính, nguyên Phó phòng Tạp chí Nghiên cứu văn học, Viện Văn học, Hà Nội
111. Đặng Thị Hảo, TS, Hà Nội
112. Nguyễn Đình Nguyên, TS, Australia
113. Phan Thị Hoàng Oanh, TS, TP HCM
114. Nguyễn Văn An, cán bộ hưu trí, TP HCM
115. Hoàng Tụy, giáo sư, Viện Toán học, Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội
116. Nguyễn Trọng Huấn, kiến trúc sư, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Kiến trúc & Đời sống, TP HCM
Ký tên đợt 3
117. Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, hiện sống tại TP HCM
118. Lý Kiến Trúc, Nhà báo, Chủ nhiệm Câu Lạc Bộ Văn Hoá & Truyền Thông Quận Cam, Chủ nhiệm Văn Hoá Magazine-California, USA
119. Nguyễn Minh Thuyết, GS TS Ngữ văn, đại biểu Quốc hội các khóa XI và XII, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, Hà Nội
120. Hoàng Thị Hòa Bình, PGS TS Giáo dục học, nghiên cứu viên chính Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Hà Nội
121. Nguyễn Văn Chương, nhà giáo hưu trí, Sài Gòn
122. Trương Đình Thảo, cán bộ hưu trí, TP HCM
123. Đào Tiến Thi, ThS, nhà văn, nhà giáo, Uỷ viên Ban chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội
124. Nguyễn Hữu Quý, kỹ sư, Đăk Lăk
125. Phan Quốc Tuyên, kỹ sư tin học, Place des Charmilles 1 1203 Genève – Thụy Sỹ
126. Võ Thương Việt, sinh sống làm việc tại Nga
127. Nguyễn Đắc Diên, bác sĩ Nha Khoa, TP HCM
128. Nguyễn Hòa, Cao-học hành-chánh Sài-Gòn, Nghỉ hưuOakland, CA, USA
129. Tho Huynh, 11321 Chapman AveGarden Grove, CA.92840, USA
130. Nguyen Loan, nghề nghiệp: Nail, USA
131. Lê Mạnh Năm, nghiên cứu viên chính, trú tại 47 ngõ 622 Minh Khai, Hai Bà Trưng, Hà Nội
132. Nguyễn Văn Dũng, Tiến Sĩ Vật Lý, nguyên là cán bộ của Viện Khoa học Việt Nam, hiện đang định cư ở Mỹ
133. Nguyễn Trọng Hoàng, bác sĩ Y khoa, Paris, Pháp
134. Quan Vinh, chuyên viên tin học, Italia
135. Chu Văn Hoà, Cử nhân luật, Cộng hoà Liên bang Đức
136. Lam Thi Ngoc Diep, cựu sinh viên Văn khoa Sài Gòn, dang o TP HCM
137. Trịnh Tuấn Dũng, kỹ sư, Hà Nội
138. Truong Vien, technician, Florida, USA
139. Nguyen Thi Kim Phuong, inspector, Florida, USA
140. Nguyen thi Nhu Quynh, manager, Florida, USA
141. Nguyễn Trung, giáo viên ở Ninh Thuận
142. Phan Xuan Trinh, cựu SQQY Quân Lực VNCH, Hoa Kỳ
143. Nguyễn Ngọc Thạch, hưu trí, TP HCM
144. Tô Oanh, giáo viên nghỉ hưu tại TP Bắc Giang
145. Nguyễn Quang Đạo, cựu chiến binh, Hà Nội
146. MaiLy Nguyen, kỹ sư Kỹ thuật, Bnk-VnaChicago, IL. USA
147. Terry The Pham, KCI Medical Canada 4263 William st, burnaby bc Canada
148. Trần Minh Thế, PGS TS, nguyên Viện trưởng Viện Thông tin Tư liệu Địa chất Hà Nội
149. Lại Nguyên Ân, nhà nghiên cứu văn học, hiện sống và làm việc tại Hà Nội
150. Nguyễn Văn Nghiêm, thợ hớt tóc TP Hòa Bình, Hòa Bình
151. Đỗ Trọng Khơi, nhà thơ, Thái Bình
152. Lê Xuân Thiêm, kỹ sư Xây dựng, TP HCM
153. Luong Van Dung, hướng dẫn viên du lịch quốc tế, sống tại Hà Nội
154. Đào Văn Tùng, cán bộ nghỉ hưu, TP Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
155. Trần Văn Đằng 69 tuổi, hưu trí, Hải Phòng
156. Lê Văn, tiến sỹ vật lý, Sài Gòn
157. Dương Tất Thắng, giảng viên khoa Toán-Cơ-Tin học,Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
158. Nguyễn Hữu Toàn, kỹ sư đã nghỉ hưu, Hà Nội
159. Bùi Thị Phương Oanh, cán bộ Tài chính đã nghỉ hưu, Hà Nội
160. Đặng Lợi Minh, giáo viên cấp 3, Hải Phòng
161. Nguyễn Vũ, kỹ sư, hành nghề tự do, 284/26 Lê Văn Sỹ, P.14, Q.3, Sài Gòn
162. Bùi Văn Sáng, kỹ sư xây dựng công trình giao thông, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
163. Nguyễn Thượng Long, dạy học và viết báo, quận Hà Đông, TP Hà Nội
164. Hoàng Cảnh Hồng, kinh doanh, Nghệ An
165. Võ Lê Trường Thạch, kỹ sư xây dựng, 15 Tôn Thất Thuyết, Đông Hà, Quảng Trị 
166. Chu Quốc Khánh, kỹ sư điện tử, cử nhân kinh tế, số 4, hẻm 208/12/15 Ngyễn Văn Cừ, Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội
167. Vũ Thị Nhuận, tiến sĩ sinh hóa thất nghiệp, Quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
168. Nguyễn Thanh Giang – Tiến sỹ Địa Vật lý – Hà Nội
169. Nguyễn Hồng Quân, kỹ sư kết cấu, Fremont, CA 94536 – USA
170. Lê Phương Anh, kỹ sư điện toán, Garden Grove – California 92840 USA
171. Nguyen Huu Hiep, lái xe du lịch, TP HCM
172. Cao Xuân Lý, nhà văn, Australia
173. Nguyễn Quang Lập, nhà văn, TP HCM
174. Đỗ Minh Tuấn, nhà thơ- đạo diễn Điện ảnh, Hà Nội
175. Pham Thi Phuc, thường trú tại 18 Ngô Thời Nhiệm, phường 7, quận 3, TP HCM
176. Tran Quoc Khanh, thường trú tại 18 Ngô Thời Nhiệm, phường 7, quận 3, TP HCM
177. Tran Le Huong, thường trú tại 18 Ngô Thời Nhiệm, phường 7, quận 3, TP HCM
178. Tran Khanh Linh, thường trú tại 18 Ngô Thời Nhiệm, phường 7, quận 3, TP HCM
179. Tran Khanh Ngoc, thường trú tại 18 Ngô Thời Nhiệm, phường 7, quận 3, TP HCM
180. Nguyễn Đức Quỳ, cựu giáo chức, Hà Nội
181. Nguyễn Hữu Tế, đã nghỉ hưu, 163 Đinh Tiên Hoàng phường Dakao quận 1 TP HCM
182. Chu Văn Keng, Cử nhân Toán, Berlin, CHLB Đức
183. Nguyễn Anh Tuấn, PGS TScán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa học trường ĐHBKHN, Hà Nội
184. Nguyễn Ánh Tuyết, chuyên viên viễn thông, Khâm Thiên, Đống Đa, Hà Nội
185. Nguyễn Tiến Đức, kỹ sư đang nghỉ hưu tại TP HCM 
186. Bùi Kế Nhãn, Nghề nghiệp : Tự do, Đang sinh hoạt CCB & Cựu TNXP tại địa phương, Cư ngụ: Vũng Tàu
187. Nguyễn Xuân Thọ, kỹ sư điện tử, 50933 Cologne, CHLB Đức
188. Trần Đồng Minh, giáo viên đã hưu, nghiên cứu văn học, Hà Nội
189. Phan Văn Hiến, PGS TS, Hà Nội
190. Phạm Thị Lâm, cán bộ hưu trí, sống tại Hà Nội
191. Bùi Thị Bích Ngọc, Tiến sỹ Nga ngữ, nhà báo, nhà giáo (đã nghỉ hưu), hiện sống tại TP HCM
192. Triệu Sang, làm ruộng, sống tại tỉnh Sóc Trăng
193. Nguyễn Xuân Văn, kỹ sư, hiện đang công tác tại Thanh Hóa
194. Phạm vương Ánh, kỹ sư kinh tế, cựu Sỹ quan QĐNDVN, TP Vinh, Nghệ An
195. Lương Nguyễn Trãi, giáo viên THPT, Sài Gòn
196. Nguyen Hung Son, cán bộ hưu trí, TS Sử học, Hà Nội
197. Lê Cát Tường, TS Kỹ thuật (AUS), USA
198. Lê Anh Hùng, blogger, Thanh Xuân, Hà Nội
199. Lê Tuấn Huy, TS, TP HCM
200. Nguyễn Kim Tuấn, kỹ sư, Sài Gòn
201. Nguyễn Đức Thành, nhân viên kinh doanh, Hà Nội
202. Phạm Mạnh Tuân, trú tại số 5 Ngõ Giữa, phố Nhà Chung TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
203. Nguyễn Sỹ Phương, Dr., Zschortauerstr. 18 04129 Leipzig, BRD
204. Đào Công Tiến, nguyên hiệu trưởng Đại học Kinh tế TP HCM, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng, 55 Nguyễn Sơn Hà, P5, Q3, TP HCM
205. Trân Hưng Thịnh, kỹ sư đã nghỉ hưu, Hoàng Mai, Hà Nội
206. Nguyễn Thạch Cương, TS Nông nghiệp, nguyên chủ tịch HĐQT, giám đốc công ty cổ phần giống cây trồng Hà Tây, đảng viên, bí thư đảng ủy công ty cổ phần giống cây trồng Hà Tây, Hà Nội
207. Doãn Mạnh Dũng, kỹ sư, Phó Chủ tịch- Tổng thư ký Hội Biển TP HCM
208. Nguyễn Văn Hải, kỹ sư, Cambodia
209. Nguyễn Đức Tùng, M.D., Canada
210. Phạm Văn Lộc, Nhân viên kế toán, TP HCM
211. Trần Trung Chính, nhà báo, Hà Nội
212. Nguyễn Đình Bá, giảng viên Khoa Ngoại ngữ, Đại học Duy Tân Đà Nẵng
213. Trần Ngọc Tuấn, nhà báo, Levskeho37, Praha, Cộng hòa Czech
214. Phạm Duy Hiển, hưu trí, TP Pleiku, tỉnh Gia Lai
215. Đỗ Hoài Đức, giảng viên CĐSP Hà Nội, hiện đang là NCS tại UGent, Vương quốc Bỉ
216. Trần Văn Bang, kỹ sư, cựu chiến binh chống TQ xâm lược Biên giới phía Bắc, Q.Tân Bình, Sài Gòn
217. Nguyễn Lại Giang, Cử nhân Kinh tế, Sài Gòn – Bình Định
218. Hồ Sĩ Hải, kỹ sư, về hưu, Hà Nội
219. Trần Định, nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh, sống tại Hà Nội
220. Việt Linh, đạo diễn, TP HCM
221. Văn Thị Hạnh, TS Sinh học, hưu trí, TP HCM
222. Nguyễn Gi Lăng, kỹ sư, Hungary
223. Phạm Xuân Vỹ, hưu trí, TP Buôn Ma Thuột tỉnh Đắk Lắk
224. Ma Van Dung, Vietnam Promotions & PR, Australia
225. Tran Van Tan, kỹ sư, Elisabeth-Selbert Str. 13 12355 Berlin, CHLB Đức
226. Lê Chiến Thắng, hưu trí, Stuttgart, CHLB Đức
227. Võ Thị Cẩm Hồng, nội trợ, Stuttgart, CHLB Đức
228. Khải Nguyên, dạy học, viết văn, TP Hải Phòng
229. Nguyễn Văn Quang, kỹ sư, cán bộ hưu trí, tỉnh Bạc Liêu, Việt Nam
230. Bui Quang Trung, kỹ sư xây dựng, Chelles, Cộng hòa Pháp
231. Lê Phước Sinh, dạy học, nguyên Chủ tịch Ban Đại Diện Học Viên Nông Lâm Súc Huế (1973-1974), thành viên Ban Đại Diện Học Sinh Liên Trường Thừa Thiên-Huế, hiện sống tại Sài Gòn
232. Chu Quang Thứ, Tiến sỹ, Chủ tịch Hội Người đi biển Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam, Hà Nội
233. Nguyen Huy Hung, kỹ sư cơ khí, Okazaki, Japan
234. Vũ nhật Khải, PGS TS Triết học, nguyên Vụ trưởng, Đống Đa, Hà Nội
235. Đoàn Hữu Phố, công nhân đang làm việc và sinh sống tại Bình Dương
236. Nguyen Trung Chi, bộ đội chiến trường K, TP Đà Nẵng
237. Kim Son Vu, Dahlienweg 14d 3422 Kirchberg BE, Switzerland
238. Hong Van Vu, Dahlienweg 14d 3422 Kirchberg BE, Switzerland
239. Nguyễn Hoàng Long, hưu trí, cựu binh chiến trường K, ngụ tại quận 12, TP HCM
240. Nguyen Van Thinh, nhà báo, nguyên Tổng Biên tập tạp chí Phương Mai, Bình Định
241. Nguyễn Văn Hòa, kỹ sư Điện, 65307 -Koblenzer Strasse, CHLB Đức
242. Vũ Thu Hương, TS Địa Vật lý, Hà Nội
243. Nguyen Thai Do, Sacramento, USA
244. Trần Quốc Phú, thương nhân, TP HCM
245. Thái Quang Sa, về hưu, nguyên giám đốc nhà máy Z181, hiện ở Hà Nội
246. Lê Đức Trung, giáo viên, TP Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
247. Trịnh Hồng Kỳ, nhân viên xuất nhập khẩu, TP HCM
248. Ta Bac Son, kỹ sư, Quảng Trị
249. Nguyễn Quang Hưng, quản lý dự án, TP HCM
250. Trần Quang Hùng, cựu chiến binh, cán bộ hưu trí, Nam Định
251. Nguyễn Văn Phúc, nhà giáo nghỉ hưu, Bình Dương
252. Lại Thị Ánh Hồng, doanh nhân, Sài Gòn
253. Lê Văn Điền, Tiến sĩ Toán học. TP Krakow, Ba Lan
254. Nguyễn Hữu Phước, nhà báo, TP HCM
255. Lê Ngọc Bình, cán bộ hưu trí, TP Hà Nội
256. Nguyễn Thu Trang, kỹ sư hóa, chủ dosnh nghiệp tư nhân sản xuất keo chống thấm, Tân Bình, TP HCM
257. Trần Quang Đang, kỹ sư, Pháp
258. Bùi Quang Lộc, giáo viên hưu trí, TP HCM
259. Lê Hồng Nam, sỹ quan QD hưu trí, Hà Nội
260. Lê Kim Duy, kỹ sư, đang làm việc tại TP Huế
261. Thích Nguyên Hùng, tu sĩ, Pháp quốc 
262. Thân Hải Thanh, cán bộ đảng viên hưu trí, nguyên Tổng Giám đốc Benthanhtourist, hiện cư trú tại 6/16 Cách mạng tháng 8, phường Bến Thành, quận 1, TP HCM
263. Nguyễn Văn Trợ, kinh doanh dịch vụ, TP HCM
264. Nguyễn-Minh-Kính, Bộ đội Trường Sơn, đã nghỉ hưu, hiện sống ở Mỹ
265. Nguyen Me Linh, TS, TP HCM
266. Trần Quốc Hùng, cựu giáo viên, TP HCM
267. Hà Đăng Câu, tàn tật, thương phế binh VNCH, Đồng Nai
268. Lê Văn Ngọ, kỹ sư, số nhà 60 Nguyễn Thiện Thuật, Nha Trang, Khánh Hoà
269. Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng, nguyên GS Kinh tế, Đại học Laval, Canada
270. Ngô Trí Đức, phiên dịch, 2105/6 Brno,62800, Cộng hòa Cezch
Ký tên đợt 4
271. Huỳnh Sơn Phước, nhà báo, thành viên Viện IDS, Hội An – Quảng Nam
272. Vũ Quang Chính, nhà lý luận phê bình phim, Hà Nội
273. Nguyen Minh Hien, nhà báo, TP HCM
274. Trần Văn Khoản, nghề nghiệp tự do, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
275. Vũ Ngọc Thăng, dịch giả, Canada
276. Lê Duyệt, lao động tự do, Quảng trị
277. Tư Đồ Thiện, lập trình viên CNC, Mississauga, Canada
278. Đinh Huyền Hương, giáo viên, TP HCM
279. Đào Tấn Anh Trúc, thợ điện, Pháp
280. Đinh Thị Quỳnh Như, Tiến sỹ, nguyên giảng viên Đại học Sư phạm TP HCM (hưu trí), TP HCM
281. Hung Doan – Store Manager, Anaheim, Orange County, California, USA
282. Trần Trung Sơn, giáo viên, Tiến sĩ, Phó trưởng khoa MBDC trường SQKQ, Nha Trang, Khánh Hòa 
283. Lý Đăng Thạnh, Người Chép Sử, TP HCM
284. Hà Quốc Chính, cựu chiến binh Campuchia, TP HCM
285. Thi Nguyen, Troy, Michigan, USA
286. Lê Đức Minh, kỹ sư Điện kỹ nghệ, Cộng hòa Liên bang Đức
287. Nguyễn Trường Lưu, giáo viên, Lâm Đồng
288. Luc Le, cư ngụ tài TP Edmonton, tinh Alberta, Canada 
289. Nguyễn Văn Dũng, hiện ở tại Thueringen, Cộng hòa Liên bang Đức
290. Phạm Xuân Đào, linh mục, Pháp quốc
291. Phạm Kỳ Đăng, làm thơ, dịch thuật, viết báo tại CHLB Đức
292. Nguyễn Đào Trường, hưu trí, TP Hải Dương 
293. Trần Quang Ngọc, Tiến sĩ, kỹ sư nghỉ hưu, Stuttgart, CHLB Đức
294. Đỗ Sơn Trường, giáo viên Điện, Quito, Ecuador 
295. Nguyễn Quế Hương, Đồ họa kiến trúc, San Diego, CA 92816 – USA
296. Le Phuong Thao, hưu trí, Hoa Kỳ
297. Bùi Ngọc Thanh, hưu trí, Thụy Sĩ
298. Đặng Ngọc Tuấn, kỹ sư, Hội An, Quảng Nam
299. Trần Văn Tùng, PGSTS Kinh tế, Hà Nội
300. Nguyen Minh Dang, kỹ sư, 2/15 Trường Chinh, Q Tân Bình, TP HCM 
301. Ngụy Hữu Tâm, tiến sĩ vật lý, nguyên cán bộ Việt Vật lý, Viện Khoa học Việt Nam, nay hành nghề tự do: viết sách, báo, dịch giả, hướng dẫn du lịch, Hà Nội 
302. Hoàng Trường Sa, nhạc sĩ, California, Hoa Kỳ
303. Nguyễn Minh Phát, kiến trúc sư, bang New Brunswick, Canada
304. Nguyễn Văn Tâm, hưu trí, TP HCM
305. Phan Xuân Ca, kỹ sư Tự động hóa, Quy Nhơn, Bình Định
306. Doan Kieu Anh, Engineer, Ho Chi Minh City
307. Nguyễn Quốc Minh, nhà thơ, Hà Nội
308. Nguyễn Tiến Bính, nghỉ hưu tại 102 Thịnh Hào 3, Tôn Đức Thắng, Hà Nội
309. Nguyễn Hoàng Công, Thạc sỹ đo lường điều khiển, Tây Hồ, Hà Nội
310. Lưu Hà Sĩ Tâm, kinh doanh trang trại, Quỳnh Phụ, Thái Bình
311. Nguyễn Hữu Tuyến, kỹ sư hưu trí tại 456/19 Cao Thắng, P12, Q10, Sài Gòn
312. Nguyễn Huy Dũng, dân thường, ngụ tại TP Vũng Tàu
313. Khánh Phương, viết văn tự do, Pennsylvania, Hoa Kỳ
314. Trần công tâm, cử nhân kinh tế, TP HCM
315. Nguyen Thi Tâm, hưu trí, Hà Nội
316. Võ Việt Nam, kiều bào tại Nga
317. Trần Đình Nam, nguyên Trưởng ban biên tập Nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội
318. Nguyễn Đức Thắng, kỹ sư, TP. Hồ Chí Minh
319. Đoàn Nhật Hồng, nguyên Giám đốc Sở Giáo dục Lâm Đồng, Đà Lạt
320. Võ Văn Chánh, nông dân, ấp 3, xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre
321. Đoàn Văn Cánh, PGS TS, giảng viên cao cấp đã nghỉ hưu, Hà Nội
322. Tran Huu Ta, PGS TS, TP HCM
323. Vũ Trí Đức, làm nghề tự do, Hà Nội
324. Hàn Công Khánh, kỹ sư Hóa tổng hợp, nhà doanh nghiêp, hội viên Hội Nhà văn, Hà Nội
325. Cung Chính Đoàn, Ccựu chiến binh sư đoàn 968, cán bộ báo Nhân Dân nghỉ hưu, 48 Nguyễn Huy Tưởng, Thanh Xuân, Hà Nội
326. Nguyễn Văn Đức, lao động đã nghỉ việc, Gò Vấp, TP HCM 
327. Phạm Thị Cư, Tiến sĩ, TP HCM
328. Trần Thành Đức, Tiến sĩ Luật, California, Hoa Kỳ
329. Nguyễn Xuân Diện, Tiến sĩ, Hà Nội
330. Tinh Phan, kỹ sư, Anh Quốc 
331. Nguyễn Minh Huy, kỹ sư cơ khí, TP HCM
332. Đổ Thị Mẫn, nguyên cán bộ công an quận 1, cư ngụ tại 6/16 Cách Mạng tháng 8, Phường Bến Thành, quận 1, TP HCM
333. Ngô Thúy, họa sĩ tự do, Hà Nội
334. Nguyễn Văn Hiểu, cán bộ hưu trí, Nha Trang, Khánh Hòa
335. Cao Vi Hiển nguyên Phó Giám đốc sở Thương mại Du Lịch, đã nghỉ hưu, thường trú tại 131 Lê Hồng Phong TP Kon Tum, tỉnh Kon Tum
336. Phạm Văn Hiền, nguyên giảng viên trường Chính trị Tô Hiệu, Hải Phòng
337. Phạm vy Long, Cử nhân luật, hưu trí, TP HCM
338. Tran Thanh, nhà giáo, TP HCM
339. Ngo Kim Dung, bác sĩ tại Pháp
340. La Đại, kỹ sư xây dựng, Tiến Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa
341. Đỗ Thị Ngọc Lan, nội trợ, TP HCM
342. Nguyen Dong Hoa, cựu chiến binh, 25/5 Trần Đình Xu, quận 1, TP HCM 
343. Nguyễn Văn Nghi, Tiến sĩ, 172 Lò Đúc, Hai Bà Trưng, Hà Nội
344. Vũ Quỳnh Giao, hưu trí, TP HCM
345. Lê đình Lương, hưu trí, TP HCM
346. Vũ thị Chỉnh, hưu trí, TP HCM
347. Vũ Huy Cường, hưu trí, TP HCM
348. Vũ Kim Cúc. hưu trí, Hà Nội
349. Vũ thị Thảo, hưu trí, Hà Nội
350. Vũ Như Cương, hưu trí, Hà Nội
351. Vũ Hồng Hưng, hưu trí, Hà Nội
352. Đỗ Như Ly, kỹ sư, hưu trí, TP HCM
353. Nguyễn Quyền, công nhân, München, CHLB Đức 
354. Pet. Xuân Nguyễn, công nghệ thông tin, Kỳ Đồng, phường 9, quận 3, TP HCM
355. Hồ Quang Huy, kỹ sư, Nha Trang, Khánh Hòa
356. Trần Thanh Vân, kiến trúc sư đã về hưu, Hà Nội 
357. Lê Trần Minh, học sinh cấp 3 trường Hanoi Academy, Hà Nội
358. Le Duy Thien, ThS, Brisbane, Australia
359. Hồ Ngọc Nhân, sinh viên, Đại học Luật TP HCM, Bình Định 
360. Thân Lê Khuyên, kinh Doanh, Đồng Nai
361. Lương Thanh Liêm, nguyên Tổng Thư ký Tổng đoàn Học sinh Đà Nẵng (1971-1975), cựu tù yêu nước
362. Đặng Trường Lưu, họa sĩ – nhà phê bình Mỹ thuật, Hà Nội
363. Lê Thị Xuân Hương, cán bộ hưu trí, Báo Sài Gòn Giải Phóng, TP HCM
364. Nguyen Phu Vinh, kỹ sư, TP Ho Chi Minh
365. Vân Hương PAILLET, Grenoble, Pháp
366. Ngô Thanh Hà, cán bộ hưu trí, Sài Gòn
367. Hồ Văn Nhãn, nhà giáo hưu trí, TP HCM
368. Nguyễn Quốc Ân, dược sỹ, TP. Hà Nội
369. Hoàng Quý Thân, TS ngành hệ thống điện, hưu trí, sống tại Hà Nội
Ký tên đợt 5
370. Lê Thành Dững, nguyên Phó Chủ tịch UBND TP Đà Lạt, Lâm Đồng, nay sống tại TP Đà Lạt
371. Dương Văn Phú, cựu tù chính trị trước 1975, trao trả tù tại bờ sông Thạch Hãn, nguyên Phó Giám đốc Điện lực Lâm Đồng, nay sống tại TP Đà Lạt
372. Lê Thành Công, cựu tù Côn Đảo, cán bộ Ban Tuyên huấn tỉnh ủy Lâm Đồng, nay sống tại TP Đà Lạt
373. Vũ Bích Loan, kinh doanh du lịch, Đà Lạt, Lâm Đồng
374. Nguyễn Phụng Hoàng, bác sĩ, Đà Lạt, Lâm Đồng
375. Jos. Nguyễn Văn Bình, linh mục Giáo phận Hà Nội
376. Hung Huynh, nghỉ hưu, San Jose,CA, USA
377. Nguyễn Đức Phổ, nông dân, Đà Lạt, Lâm Đồng
378. Trần Công Khánh, đã nghỉ hưu, Hải Phòng
379. Phan Xuân Ngọc, cán bộ hưu, 6 Tuệ Tĩnh, Nha Trang
380. Nguyễn Đức Vinh, kỹ sư, số 76 Hàng Gà, Hải Phòng
381. Nguyễn Thị Linh Giang, kỹ sư, TP HCM
382. Nguyễn Thị Kim Thái, nghỉ hưu, phường Hồng Gai, Hạ Long, Quảng Ninh
383. Trương Đại Nghĩa, quân nhân QLCNCH, cựu tù cải tạo, 11232 Santa Maria St, Stanton CA 90680 – USA
384. Nghiêm Sĩ Cường, kinh doanh, số 220 khu E, tập thể nhà in Ngân hàng, ngõ Quan Thổ 1, Tôn Đức Thắng, Hà Nội
385. Trần Khang Thụy, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học Kinh tế (CESAIS), thuộc Trường Đại học Kinh tế TP HCM
386. Hoang Bich Mai, Ottawa, Canada
387. Nguyen Hoang Phiet, buôn bán, quận 8, TP HCM
388. Hoàng Xuân Vũ, công nhân, 108 Southlake, Columbia Sc 29223, Hoa Kỳ 
389. Hoàng Nghĩa Lược, kỹ sư xây dựng dân dụng và kỹ nghệ, sống ở Hà Nội
390. Thuy Nguyen, accountant, California, USA
391. Trần Thanh Bình, kỹ sư, Italia
392. Phan Thị Mộng Huyền, hưu trí, Italia
393. Tran Duc Thien, kinh doanh, CHLB Đức
394. Nina Nguyễn, công chức toà đô chánh TP Toronto, Canada
395. Nguyễn Duy Hải, giáo viên lịch sử, Long An
396. Dương Tùng, chăn nuôi, Bình Dương
397. Huỳnh Thị Thu, kế toán, Đồng Nai
398. Phó Văn Ngọc, công chức, Canada
399. Bùi Phan Thiên Giang, chuyên viên công nghệ thông tin, TP HCM
400. Le Dinh Hong, kế toán, 2481 E 28th Ave, Vancouver, B.C, Canada
401. Le Thi Nhan, nội trợ, 2481 E 28th Ave, Vancouver, B.C, Canada
402. Lâm Giang, lao động tự do, Sài Gòn
403. Đặng Quang Hải, kỹ sư công nghệ thông tin, TP HCM
404. Duc Nguyen, kỹ sư, Falls Church VA 22044, usa
405. Nguyễn Ngọc Xuân, sinh 1952, thường trú tại Phước An, Phước Bửu, Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
406. Nguyễn Phước Anh, kỹ sư, Sài Gòn
407. Nguyễn Đăng Khoa, giảng viên, Lyon, Pháp
408. Đoàn Viết Hiệp, kỹ sư điện toán, 92160 Antony, Pháp
409. Phạm Thế Phương, kỹ sư, Hải Phòng 
410. Nguyễn Tín Đức, sinh viên TP Hồ ChíMinh
411. Trần Đình Bé, kỹ sư, Quảng Ngãi
412. Hoàng Dương Tuấn, giáo sư Đại học Công nghệ Sydney (University of Technology Sydney), Sydney, New South Wales, Australia
413. Dương Quốc Huy, cựu chiến binh, Hà Nội
414. Phùng Quốc Hùng, nông dân, xã Phú Lộc, Phù Ninh, Phú Thọ
415. Nguyễn Thị Bình, nông dân, xã Phú Lộc, Phù Ninh, Phú Thọ
416. Chu Văn Tiến, kỹ sư, CHLB Đức
417. Nguyễn Thị Ngọc Trai, 81 tuổi, nhà văn, nhà báo, P. 1108/165b phố Thái Hà, quận Đống Đa, Hà Nội 
418. Nguyễn Đăng Quang, Đại tá, nguyên cán bộ Bộ Công an, hiện ở tại Hà Nội
Ký tên đợt 6
419. Vũ Quốc Tuấn, nguyên Trợ lý Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng
420. Lê Đăng Doanh, Tiến sĩ, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội
421. Trần Đức Nguyên, hưu trí, nguyên Trưởng ban Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam
422. Đào Xuân Sâm, hưu trí, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam
423. Nguyễn Trung, nguyên trợ lý của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt
424. Thành Long, cán bộ hưu trí, 27 Phùng Khắc Khoan, quận 1, TP HCM
425. Nguyễn Đình Quyền, kiến trúc/xây dựng, Seattle, WA, USA
426. Hồ Trọng Để, kỹ sư dự án, hiện sinh sống và làm việc tại TP HCM 
427. Nguyễn Duy Hiền, hưu trí, Huế
428. Hoàng Thị Thọ, nhà báo, Huế
429. Huỳnh Thị Giám, cán bộ hưu trí báo Người Lao Động, TP HCM
430. Ngô Bá Tiết, cán bộ hưu trí Viện Khoa học Việt Nam, Phân viện TP HCM
431. Đào Quốc Việt, hưu trí, Láng Hạ, Hà Nội   
432. Trương Lợi, kỹ sư, TP HCM 
433. Uông Đắc Đạo, cử nhân Luật Sài Gòn, hưu trí, USA
434. Nguyen Quang Tuyen, nghệ sĩ thị giác, San Francisco, USA
435. Trần Trọng Trung, kinh doanh, Hải Dương 
436. Hà Minh Hiển, Warszawa, Ba Lan
437. Nguyễn Thị Mai, Warszawa, Ba Lan
438. Đỗ Thị Tuyết Phượng, công chức, Italia
439. Trịnh Quang Hà, hưu trí, Italia
440. Trần Ngọc Sơn, kỹ sư, Pháp
441. Nguyễn Thanh Hằng, dược  sĩ, Pháp
442. Võ Quang Tu, hưu trí, Montreal, Canada 
443. Bửu Nam, PGS TS Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế
444. Liem Nguyen, 6401 Boyce Lane Austin TX 78754, State inspection 
445. Dương Sanh, cựu giáo viên, cư trú tại xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa
446. Minh Nguyen, công nhân, USA
447. Doãn Quốc Thái, con trai trưởng của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, hiện ở tại Houston, Texas, USA
448. Lê Quang Thuận, kỹ sư xây dựng, TP HCM
449. Nguyễn Hùng, cán bộ ngoại giao, nghỉ hưu tại Hà Nội
450. Đặng Thế Tài, giáo viên, Nam Định  
451. Nguyễn Việt, kỹ sư Thủy lợi đã về hưu, hiện đang trú tại Hà Nội
452. David Hoang, Melbourne, Úc 
453. Huangyinjun, kỹ sư điện tự động, Phnom Penh, Cambodia
454. Bùi Đức Hiệp, nhân viên vận tải, TP HCM
455. Tạ Cao Nguyên, giáo viên trung học, Lạng Sơn
456. Trần Đắc Lộc, cựu giảng viên Đại học Khoa học Huế
457. Nguyễn Thái Nguyên, Tiến sĩ, Hà Nội
458. Huỳnh Xuân Thiệp, giáo viên Phổ thông trung học, hưu trí, Bình Định
459. Đỗ Thành Nhân, Thạc sĩ, quản lý doanh nghiệp, Quảng Ngãi 
460. Nguyễn Duy Độ, kỹ sư, Huế
461. Pham Tuan Anh, kinh doanh, Cộng hòa Czech
462. Trần Tiến Dũng, kỹ sư xây dựng, 81 Khuông Việt, phường Phú Trung, quận Tân Phú, TP HCM
463. Nguyễn Phong, nghề nghiệp tự do, Hà Nội
464. Nguyễn Kim Thái, quản lý doanh nghiệp tư nhân tại Vũng Tàu
465. Nguyễn Thế Thanh, nguyên Tổng biên tập báo Phụ Nữ TP HCM, hiện sinh sống tại TP HCM

Muốn thắng phải có cái lý của kẻ mạnh


Nguyễn Thanh Giang (Danlambao) - Mồng 2 tháng 5 năm 2014, Trung Quốc đã đưa giàn khoan HD 981 vào vùng biển Hoàng Sa, mở đầu một bước xâm lăng mới đối với Việt Nam. Gần 50 ngày đã qua, những biện pháp đấu tranh hòa bình của ta không đem lại kết quả gì, Trung Quốc vẫn không ngừng lấn tới:

- Khoan xong điểm cách đảo Tri Tôn 34 km về phía nam, cách đảo Lý Sơn 221 km về phía đông, Trung Quốc lại lững thững đưa giàn khoan đi cắm cách đó hơn ba mươi hải lý, vẫn trong thềm lục địa thuộc vùng biển đặc quyền kinh tế của ta.

- Từ chỗ chỉ huy động 80 tầu thuyền các loại, nay Trung Quốc đã cho tung hoành ngang dọc trên vùng biển quanh HD 981 140 tàu, gồm tàu quân sự, tàu hộ vệ tên lửa, tàu đổ bộ, máy bay chiến đấu...

- Trung Quốc đang huy động toàn lực để đóng giàn khoan Hải Dương 982 tại nhà máy đóng tàu Đại Liên trực thuộc Tập đoàn Công nghiệp Đóng tàu CSIC. Ngay trong bản thuyết minh thiết kế người ta đã ghi rõ HD 982 sẽ được sử dụng tại Biển Đông, bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa. Với hệ thống định vị bằng hệ định động học cấp 3, HD 982 có thể chống chịu được những trận bão khủng khiếp nhất trong 200 năm qua tại vùng biển này. Ngoài Hải Dương 982, theo dự kiến còn có thêm HD 983 và HD 984 sẽ được bàn giao vào tháng 9, tháng 10 năm 2015 và tháng 8 năm 2016.

- Ngày 5 tháng 6 năm 2014, Trung Quốc cho khởi công xây dựng sân bay trên đảo Gạc Ma đã chiếm của ta năm 1988. Khi sân bay này đi vào hoạt động, họ sẽ xác lập vùng nhận diện phòng không của Trung Quốc, chiếm luôn cả vùng trời của ta ở đó.

- Ngày 14 tháng 6 năm 2014 Trung Quốc làm lễ động thổ xây dựng trường học và bệnh xá trên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa. Cách nay hai năm, Bắc Kinh đã thiết lập một đơn vị hành chính mới là thành phố Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam bao gồm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đây được xem là thành phố cực nam của Trung Quốc với số dân là 1.443 người. Chính quyền thành phố Tam Sa ra thông cáo cho biết trường học này sẽ được hoàn thành trong 18 tháng.

Vậy là họ cứ lấn tới và sẽ còn lấn tới mặc dù ta đã chịu nhịn hết mức. Thậm chí ta đã chịu nhục!

(Nghe nói Nguyễn Phú Trọng đã hai lần đề nghị gặp Tập Cận Bình nhưng đều bị khước từ. Sao Nguyễn Phú Trọng lại làm thế! Đánh có chắc thắng thì mới động binh. Trên chính trường ngoại giao, có chắc được nắm tay thì mới chìa tay. Ở đây biểu lộ óc phán đoán của Trọng rất kém. Yếu tố mạo hiểm chỉ cho phép đối với người làm khoa học. Làm chính trị thì không được. NPT làm nhục quốc thể! Không biết ông ta xin gặp TCB để làm gì? Trong tình thế này người bình thường cũng có thể biết chắc chắn gặp chẳng giải quyết được gì. Chẳng lẽ gặp để xin? Xin người có lương tri may ra còn được. Xin bọn bần tiện, tham tàn, vô lương thì xin sao được. Nhớ lại, cách đây mấy năm, dự cảm vấn đề Biển Đông sẽ trở thành đại quốc sự, Quốc hội đề nghị cho nghe báo cáo để cùng bàn thảo. Sự kiện NPT gạt đi và nói “Vấn để Biển Đông không có gì mới” chỉ có thể được nhận thức theo hai giải đoán. Hoặc do NPT quá đần độn, không có khả năng tư duy, không có khả năng phán đoán. Hoặc ông ta là nội gián của Trung Quốc. Để một người như vậy tiếp tục trị vì Đảng, trị vì Đất nước thêm một ngày thì hậu quả sẽ tai hại khôn lường. Trả giá cho những hậu quả đó có thể không chỉ là sự tụt hậu, sự nghèo khổ của Đất nước mà cả núi xương sông máu lại sẽ phải đổ ra. Nếu ngày ấy Nguyễn Phú Trọng để cho Quốc hôi được bàn bạc dân chủ, công khai thì rất có thể tình hình Biển Đông không xấu đến như bây giờ. Thật đáng giận. NPT rất đáng bị xử tội).

Lý lẽ của ta rất xác đáng, chứng cứ xác định chủ quyền của ta đối với Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông hoàn toàn đủ sức thuyết phục lương tri cộng đồng nhân loại, nhưng Trung Quốc đã bỏ ngoài tai và chắc chắn sẽ tiếp tục dầy xéo lên tất cả.

Vì sao vậy? Một là, vì bản chất Đại Hán vốn cuồng bạo, tham tàn, vô liêm sỉ. Hai là, vì trên chiến trường Biển Đông lực lượng của ta quá mỏng so với họ.

Ta có cái thế của lẽ phải, của công lý nhưng lực quá yếu nên dù cố níu giữ hòa bình để chỉ đấu lý ta cũng không thể nào thắng được. Lý thắng bao giờ cũng thuộc về kẻ mạnh (La raison du plus fort est toujour la meilleur).

Hiện nay lực của ta yếu không chỉ vì nước ta nhỏ hơn, dân ta ít hơn mà còn vì khối đại đoàn kết dân tộc đã bị ĐCSVN dày vò tan nát do:

- Những chủ trương, chính sách sai lầm, phi nhân tính đã gây nên oán thù chất chứa trong lòng những người đã bị đánh bật khỏi Tổ quốc.

- Hậu quả của CCRĐ, Nhân văn Giai phẩm, xét lại Chống Đảng… còn để lại những vết thương sâu trong lòng người.

- Những vụ cướp đất, cướp nhà… để phục vụ lợi ích nhóm đang tạo ra lớp lớp dân oan nuốt hận, dồn căm…

Càng nguy hiểm hơn là, ngày nay dân không còn tin mà căm ghét, khinh bỉ lãnh đạo.

Thế của ta cũng hầu như không có gì do ta vẫn giữ khoảng cách khá xa, nếu không muốn nói là, do bị Trung Quốc xúc xiểm, vẫn đối đầu với Hoa Kỳ. Những lãnh đạo chóp bu vẫn bắt thuộc hạ phải quán triệt tinh thần coi Trung Quốc là bạn, Hoa Kỳ là thù. Nói chung, họ tâm niệm: thà mất Nước chứ không chịu mất Đảng. Một số đã bị Trung Quốc mua bằng tiền, bằng ơn tác thành. Số ít còn luẩn quẩn với ý thức hệ, trong đó có kẻ chỉ vì ngoan cố với những lập luận đã được bảo vệ trong luận án tiến sỹ của hắn.

Tuy nhiên, thế và lực của ta sẽ hoàn toàn áp đảo được Trung Quốc nếu:

- Về đối nội, cải tạo triệt để những đường lối, chủ trương, chính sách sai lầm. Trước mắt, bỏ Điều 4 Hiến pháp, cho tự do lập Hội, Đoàn để xã hội dân sự có thể hình thành lành mạnh, từ đấy động viên và quy tụ được sức đóng góp của mọi cá nhân, mọi cộng đồng dân tộc trong và ngoài nứoc.

- Về đối ngoại, khẩn trương thiết lập liên minh toàn diện, trong đó có liên minh quân sự, với Hoa Kỳ và Nhật Bản.

Trong mấy bài viết trước, tác giả đã phân tích, trình bầy khả năng hiện thực hóa khối liên minh thần thánh này.

Giữa chừng bài viết hôm nay, bỗng xuất hiện một tin mới, được xem như một trong những tin vui lớn nhất lúc tuổi già của chúng tôi. Xin chép nguyên văn phần chính của bản tin đó:

“HANOI/WASHINGTON: Một cách lặng lẽ, hai chính phủ Mỹ và Việt Nam đang kết thân hơn, trong đó có những dấu hiệu không được loan tin nhưng đầy minh bạch: cơ quan tình báo Hoa Kỳ CIA đã mở một văn phòng liên lạc tại Hà Nội, và chính phủ VN nói với Hoa Kỳ rằng Vịnh Cam Ranh có thể mở cửa đón tàu chiến Mỹ.

Các thông tin trên đăng trên bài viết nhan đề “A long reconciliation” (Một cuộc hòa giải lâu dài) của Richard Halloran trên báo Honolulu. 

Bài báo cho biết Đaị Sứ Lê Công Phụng đã bay tới Hawaii mới 1 ngày trước để họp với Tư Lệnh Quân Lực Mỹ Vùng Thái Bình Dương, Đô Đốc Robert Willard, và mang thông điệp ngắn gọn, “Coi chừng Trung Quốc.”

Trong ngôn ngữ ngoaị giao hơn, theo lời tiết lộ của các viên chức Mỹ và Việt, ông Phụng nói, “VN và Hoa Kỳ nên hợp tác để chống lại việc TQ tranh lãnh thổ, lãnh hải và lộ ý đồ cản trở thông thương vùng Biển Đông.”

… Hạm Đội Thái Bình Dương của Mỹ tại Trân Châu Cảng, nơi đã gửi khoảng nửa tá tàu chiến sang thăm các hải cảng VN các năm gần đây, dự định mở một hội nghị với các cấp chỉ huy tương nhiệm vào mùa xuân này để thu xếp thêm các chuyến tàu chiến Mỹ thăm VN. Trong một quyết định có tính đột phá, Việt Nam báo rằng hải cảng ở Vịnh Cam Ranh sẵn sàng mở ngõ đón tàu chiến hải quân nước ngoài. Hình ảnh một hàng không mẫu hạm trang bị vũ khí nguyên tử, nặng 90,000 tấn, vào Vịnh Cam Ranh sẽ là biểu tượng minh bạch của sự hòa giải Mỹ-Việt, vì vịnh này là nơi hải quân Mỹ trú đóng thời chiến tranh. Việc tàu chiến Mỹ vào Cam Ranh cũng là dấu hiệu cho các nước Châu Á rằng Mỹ muốn giữ an ninh khu vực và nhắc TQ rằng Mỹ sẽ là một đối thủ khổng lồ. Năm ngoái, phi cơ từ mẫu hạm USS George Washington đã chở nhiều lãnh tụ quân sự và chính trị VN bay ra tàu chiến đậu ngoaì khơi. Mẫu hạm USS John Stennis cũng làm như thế trước đó cùng năm, cả 2 lần đều bị Bắc Kinh phản đối vì nói rằng vi phạm vùng Biển Đông củaTQ.

Nhưng dấu hiệu rõ nhất là việc mở một văn phòng liên lạc tại Hà Nội bởi sở tình báo Mỹ CIA. Không ai nhầm lẫn nữa về các dấu hiệu hợp tác về an ninh”.

Nếu bản tin trên đây là thật thì ta rất có thể yên tâm. Đối với lũ tướng tuồng Đại Hán này, cứ già đòn thì sẽ non nhẽ thôi mà.

Liên minh Mỹ - Nhật, liên minh Mỹ - Phi, liên minh Ấn – Nhật, liên minh Úc- Nhật- Ấn đã và đang tích cực hình thành.

Liên minh quân sự giữa Việt Nam với Hoa Kỳ và Nhật Bản được thiết lập nữa thì hẳn Trung Quốc phải bớt ngang ngược, hung hăng, cứ thế lùi lũi chui vào khuôn phép. Năm 1909 Trung Quốc từng nhảy vào định chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa của ta đấy chứ. Đầu năm ấy, đô đốc Tàu Lý Chuẩn chỉ huy ba pháo thuyền đã đổ bộ chớp nhoáng lên đảo Phú Lâm nhưng ngay sau đó phải cụp đuôi rút chạy khi đụng độ với quân đội viễn chinh Pháp với tư cách là lực lượng được Chính quyền Pháp, đại diện cho Nhà nước Việt Nam về đối ngoại, giao nhiệm vụ bảo vệ, quản lý, thực thi chủ quyền tại quần đảo này.

Thực ra Trung Quốc không mạnh khi mà nền kinh tế nước họ đang trên bờ vực thẳm và nguy cơ vỡ các mảng Tân Cương, Tây Tạng đã nhỡn tiền.

Ta cũng không phải lo sợ về cuộc chiến đối với Trung Quốc nếu xẩy ra. Chỉ cần có những lãnh đạo tài ba, có tướng giỏi, ta có thể tổ chức cuộc chiến dưới dạng chiến tranh ủy nhiệm và chiến tranh cục bộ. Chiến tranh ủy nhiệm đã được đề cập trong bài “Bộ trưởng Quốc phòng chống lại Thủ tướng”. Chiến tranh cục bộ sẽ được diễn giải trong một bài khác. Tinh thần của nó là hạn chế để chiến tranh chỉ diễn ra ở Biển Đông và trên các đảo.

Phải chi họ bị thay thế. Trước mắt chỉ cần họ bớt lú lẫn, ngu xuẩn đi, Đất nước chắc chắn sẽ hồi sinh mạnh mẽ.

Hà Nội, 19 tháng 6 năm 2014

Nguyễn Thanh Giang
Mobi: 0984 724 165
Email: thanhgiang36@yahoo.com




Thay đổi kinh tế hay thay đổi chính trị?

Cập nhật: 14:10 GMT - thứ năm, 19 tháng 6, 2014
alt
Trên Diễn đàn BBC ngày 7-5-2014, Luật sư Ngô Ngọc Trai cho rằng nguyên lý thị trường thực chất là lẽ công bằng trong địa hạt kinh tế và để phát triển kinh tế thì phải duy trì động lực cố gắng của các doanh nghiệp, bảo vệ lẽ công bằng hay tôn trọng các nguyên lý thị trường.

Luật sư Trai cho rằng dựa trên định hướng xã hội chủ nghĩa nhà cầm quyền Việt Nam lấy thẩm quyền quản lý điều tiết nền kinh tế, liên tục tác động vào thị trường, hệ quả là nền kinh tế yếu kém và vì thế để phát triển xã hội cần phải có một “chủ thuyết” kinh tế mới cho Việt Nam.

Đến ngày 7-6-2014 trong kỳ họp Quốc hội thứ 7 - khóa XIII bà Trương Thị Mai Ủy viên Thường vụ Quốc hội, Chủ Nhiệm Ủy Ban Các Vấn Đề Xã Hội, đánh giá và đưa ra nhận định sự chênh lệch giàu nghèo đang có xu hướng gia tăng.

Nhìn từ góc cạnh xã hội chúng ta sẽ thấy rõ hơn vai trò của chính phủ trong việc phát triển kinh tế xã hội và để từ đó có thể thấy được cần thay đổi kinh tế hay chính trị.

Quan hệ chủ thợ
Người chủ doanh nghiệp có tiền vốn, có công cụ sản xuất, có quyền quyết định đầu tư sản xuất, quyền thuê mướn lao động, quyền tối thiểu chi phí để tối đa lợi nhuận. Trong khi ấy ngừơi thợ chỉ có sức lao động để trao đổi cho cuộc sống cá nhân và gia đình.

Ở các doanh nghiệp sản xuất nhỏ, chủ và thợ còn có thể tự thương lượng và thỏa thuận các điều kiện để hai bên cùng có lợi. Khi doanh nghiệp mở rộng hơn quan hệ này dần dần mất đi.

Ở các quốc gia dân chủ người thợ tham gia các công đoàn, tạo một tiếng nói chung, thương lượng cho quyền lợi chính mình.
alt
Ở Việt Nam Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam là tổ chức duy nhất được phép tổ chức các vụ đình công và được đứng ra bảo vệ quyền lợi của người lao động.

Theo báo cáo của tổ chức này, từ năm 1995 đến hết năm 2012, cả nước xảy ra 4,922 cuộc đình công, trong đó: doanh nghiệp nhà nước xảy ra 100 vụ; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xảy ra hơn 3,500 vụ; doanh nghiệp tư nhân xảy ra gần 1,300 vụ.

Hầu hết các cuộc đình công là do doanh nghiệp trả lương thấp hoặc còn nợ lương, trả lương làm thêm quá thấp hay không trả lương làm thêm, điều kiện lao động không được bảo đảm, bữa ăn trưa kém phẩm chất, không được ký hợp đồng lao động hay không đóng bảo hiểm xã hội. Nói chung là vì quyền lợi lao động.

Hầu hết các cuộc đình công các chủ doanh nghiệp đã nhượng bộ đòi hỏi của công nhân, chứng tỏ các doanh nghiệp bóp chẹt hay bóc lột người lao động. Điều cần nói là tất cả các cuộc đình công đều tự phát, bất hợp pháp hay Tổng Liên Đòan luôn đứng bên ngòai các cuộc đình công.

Điều này không lạ vì Tổng Liên Đòan và các Công Đòan cơ sở chỉ là những tổ chức ngọai vi nhằm thực hiện các kế họach, đường lối, nghị quyết và chỉ thị của đảng Cộng sản. Thậm chí Công đòan được chủ trả lương nên gần như đứng về phía chủ hơn là phía công nhân.
alt
Đời sống công nhân thì càng ngày càng khó khăn, lạm phát gia tăng, thu nhập giảm sút, ngừơi công nhân chỉ còn hai cách hoặc nghỉ việc hay phải liên tục đình công. Một số các cuộc đình công đã biến thành bạo động, cảnh sát phải giữ an ninh và thậm chí đánh công nhân đến trọng thương.

Việc đình công tự phát sẽ được giải quyết khi Việt Nam có những công đòan tự do và độc lập. Người công nhân có quyền tự do gia nhập các công đòan, được tự do chọn lựa và bầu ra ban đại diện công đòan, để họ đứng ra thương lượng cho quyền lợi công nhân. Và khi ấy chính giới chủ doanh nghiệp cũng không dám vi phạm luật pháp quốc gia.

Công Đoàn và Chính Phủ
Khi nền kinh tế mở rộng, với đầu tư và giao thương quốc tế, việc bóc lột lao động tại một nước đồng nghĩa với việc giảm cạnh tranh lao động tại nước khác và tạo ra thất nghiệp tại nước này. Bởi thế công đòan các nước thường liên kết thêm sức mạnh tạo sự công bằng cho công nhân trên tòan thế giới.
"Vai trò của chính phủ là đề ra những chính sách mang lại lợi ích cho người dân, rõ ràng 'mức lương tối thiểu' chưa hay không mang lại lợi ích thiết thực cho tầng lớp công nhân Việt Nam."
Gần đây hai tổ chức công đoàn lớn ở Hoa Kỳ: AFL-CIO và Communications Workers of America đã cùng hằng trăm dân biểu Hoa Kỳ đồng tuyên bố Việt Nam không hội đủ tiêu chuẩn để tham gia Hiệp Định Xuyên Thái Bình Dương (TPP) vì Việt Nam không tôn trọng quyền tự do lập công đoàn độc lập.

Nói rõ hơn họ ngăn chặn Việt Nam gia nhập TPP không phải vì quyền lợi của người công nhân Việt Nam, mà vì họ muốn giảm thiểu ảnh hưởng từ sự bóc lột lao động tại Việt Nam, tạo công bằng cạnh tranh và giữ công việc cho công nhân tại Hoa Kỳ.

Việc đình công tại Việt Nam không phải chỉ giới hạn giữa chủ doanh nghiệp và công nhân. Vào đầu năm 2006 cuộc Tổng Đình Công với hằng trăm ngàn công nhân đồng lọat tham dự đã buộc thủ tướng Phan Văn Khải phải ký chỉ thị tăng mức lương tối thiểu cho công nhân thêm 40 phần trăm.

Vai trò của chính phủ là đề ra những chính sách mang lại lợi ích cho người dân, rõ ràng “mức lương tối thiểu” chưa hay không mang lại lợi ích thiết thực cho tầng lớp công nhân Việt Nam.

Trên thương trường không phải lúc nào người chủ cũng đầu tư một cách khôn ngoan sáng suốt. Khi người chủ thua lỗ phải đóng cửa người thợ sẽ lâm vào tình trạng thất nghiệp.

Kinh tế thị trường cũng thừơng xuyên bước và những chu kỳ suy thoái ảnh hưởng trực tiếp đến tầng lớp công nhân.

Vai trò của Công đòan là vận động các đảng chính trị để chính phủ phải đề ra những chính sách mang lại lợi ích thiết thực cho xã hội, cho tập thể công nhân.

Vì thế Công đòan cần phải độc lập với các đảng chính trị để có thể sử dụng sự độc lập và sức mạnh tập thể công nhân ảnh hưởng đến các chính sách quốc gia.

Chính Phủ đối với các Tầng Lớp Khác
alt
Trong quá trình sản xuất các doanh nghiệp thường không tính đến môi trường bị hủy họai ảnh hưởng đến sức khỏe của người thợ và của các cư dân trong vùng. Môi trường bị hủy họai còn ảnh hưởng đến nhiều thế hệ nối tiếp, tạo ra những nỗi bất công truyền kiếp cho dân nghèo.

Nhìn rộng hơn việc chính phủ trợ giúp cho một tầng lớp nhất định, dễ tạo ra bất công cho các tầng lớp khác. Như phát triển kỹ nghệ và đô thị gần đây tạo ra nạn dân oan mất đất hay không được bồi hòan một cách thỏa đáng. Dẫn đến các cuộc biểu tình, những cuộc đàn áp, liên tục tạo ra những bất ổn xã hội.

Nhìn xa hơn một xã hội được ổn định phát triển khi mà đời sống của tòan dân đựơc nâng cao và khỏang cách chênh lệch giàu nghèo được giới hạn. Muốn thế năng xuất lao động phải cao, giáo dục và đào tạo phải đúng tầm, vệ sinh y tế phải được quan tâm, an sinh phải đựơc bảo đảm… và nhất là tự do dân chủ cần được thăng tiến. Muốn đạt được như thế Việt Nam cần:

Thứ nhất, một xã hội dân sự gồm các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức dân sự được hình thành và phát triển, để tạo sức mạnh vận động các đảng chính trị đề ra những chính sách phát triển quốc gia. Các tổ chức này cần độc lập với các đảng chính trị để có thể sử dụng sự độc lập và sức mạnh tập thể ảnh hưởng đến các chính sách quốc gia.

Thứ hai, một môi trường chính trị lành mạnh gồm sự phát triển của các đảng chính trị cạnh tranh quyền lực qua những chính sách quốc gia và cầm quyền qua những cuộc bầu cử tự do và được sự tín nhiệm của người dân.

Mặc dù cả hai nhóm có những khác biệt về quyền lợi và phương cách họat động nhưng đều có chung một mục đích là phát triển kinh tế, xã hội và quốc gia.

Nói tóm lại việc thay đổi kinh tế Việt Nam chỉ là điều kiện cần, thay đổi chính trị mới là chính điều kiện đủ, để đưa đất nước đi lên đồng thời tạo một xã hội công bằng và thịnh vượng.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, nguyên chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Canberra và phó chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Úc Châu.




Truyền Thông Trung Quốc: Tại Việt Nam, Dương Khiết Trì gọi 'đứa con hoang đàng' trở về nhà


Bạn đọc Danlambao - Sau chuyến thăm của Dương Khiết Trì, truyền thông Trung Quốc tiếp tục tỏ rõ sự hả hê trước thái độ nhu nhược của giới cầm quyền CSVN. Trang mạng Hoàn Cầu Thời Báo mô tả cuộc hội đàm tại Hà Nội hôm 18/6 như một 'món quà' để lãnh đạo đảng CS Việt Nam 'tự kiềm chế bản thân trước khi quá muộn'. Ngạo mạn hơn, trang mạng sặc mùi hiếu chiến của Trung Quốc này gọi Việt Nam như một 'đứa con hoang đàng' được Dương Khiết Trì sang để 'thúc giục về nhà'.

Lời lẽ kích động trên trên Hoàn Cầu Thời Báo gợi lại một tuyên bố trước đó của bộ trưởng quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh. Phát biểu tại buổi đối thoại Shangri-La, tướng Thanh đã lấy lòng Trung Quốc khi ví von: 'Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia, hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau'.


Ghi nhận phản ứng của truyền thông Trung Quốc, ngày 20/6/2014, trang mạng Diplomat đăng tải một bài viết mà chỉ cần đọc qua tiêu đề cũng đủ khiến những người Việt Nam thờ ơ nhất cũng phải tỏ ra căm phẫn. 

Bài viết "Chinese Media: In Vietnam, Yang Calls 'Prodigal Son' to Return Home" (Truyền Thông Trung Quốc: Tại Việt Nam, Dương Khiết Trì gọi 'đứa con hoang đàng' trở về nhà) nhận xét: ''Truyền Thông Trung Quốc mô tả chuyến đi Việt Nam của Dương Khiết Trì là một chiến thắng về ngoại giao và tinh thần đối với Trung Quốc''

Theo Tân Hoa Xã, buổi tiếp xúc giữa Dương Khiết Trì và Phạm Bình Minh đã dẫn đến một thỏa thuận chung, hai bên 'đồng ý xử lý đúng đắn các vấn đề tế nhị song phương'. Giới lãnh đạo cộng sản VN dù cố tỏ ra lạnh nhạt trong quan hệ với Trung Quốc, nhưng trên thực tế đã rất sốt sắng trong việc đàn áp thẳng tay những người dân Việt Nam yêu nước.

Một cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược vào chiều hôm 19/6 đã nhanh chóng bị công an dập tắt tại Hà Nội. An ninh cũng được thắt chặt tối đa trong chuyến viếng thăm Việt Nam của Dương Khiết Trì.

Đáp lại, Trung Quốc một mặt kéo thêm nhiều giàn khoan vào Biển Đông, một mặt vẫn liên tục chỉ trích và dùng truyền thông dọa dẫm giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam.

Rõ ràng, đảng cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn bế tắc trong vấn đề Biển Đông. Hậu quả của việc lệ thuộc và thần phục Trung Quốc suốt hàng chục năm đã khiến giới chóp bu cộng sản rơi vào một cuộc khủng hoảng chính trị thực sự. 



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Chúc Mừng Năm Mới 2026 [01.01.2026 19:26]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 184 lần]
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 180 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 166 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 165 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 60 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 44 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.