Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Năm 2026
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 5
 Lượt truy cập: 29132132

 
Tin tức - Sự kiện 16.05.2026 23:22
Trung Quốc-Campuchia lần đầu tập trận chung để chuẩn bị tấng công VN lưỡng đầu thọ địch
21.02.2016 02:27

Ngay sau khi Phnom Penh nhận được 3 tàu chiến của Nhật Bản, Trung Quốc sẽ tổ chức buổi tập trận chung đầu tiên với Hải quân Campuchia vào tuần tới.

Theo thông tin từ Reuters, ba tàu chiến của Trung Quốc chở theo 737 thuỷ thủ sẽ cập cảng tại tỉnh Preah Sihanouk vào ngày 22/2.

Hoạt động này được tổ chức chỉ một ngày sau khi 3 tàu chiến khác của Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản rời đi, sau khi có chuyến giao lưu văn hoá với Hải quân Campuchia. 

Hình ảnh Trung Quốc-Campuchia lần đầu tập trận chung số 1

Một tàu chiến của Hải quân Trung Quốc. Ảnh: Barcroft Media

Phó Tư lệnh Hải quân Campuchia, phó Đô đốc Vann Bunneang nhấn mạnh "Đây sẽ là cuộc tập trận chung quan trọng trong hoạt động tìm kiếm cứu nạn. Cuộc tập trận sẽ nâng cao khả năng sẵn sàng khi tàu thuyền bị chìm và các thảm họa thiên tai xảy ra".

Hải quân Trung Quốc sẽ tập trận chung lần đầu tiên với Campuchia - Ảnh minh họa: AFP
Cuộc tập trận giữa hải quân hai nước diễn ra gần khu vực tàu chiến Nhật Bản cập cảng tại Campuchia trong khoảng vài giờ.

Thông tin trên được đưa ra trong bối cảnh dư luận khu vực và quốc tế đang quan ngại sâu sắc trước việc Trung Quốc triển khai hệ thống tên lửa đất đối không tại đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trung Quốc còn ngang nhiên tuyên bố đây là động thái nhằm mục đích tự vệ cần thiết. 

Giới phân tích Mỹ lo ngại, Campuchia có thể trở thành đồng minh của Trung Quốc và hậu thuẫn Bắc Kinh đối phó với ASEAN. Khi được hỏi về thông tin tập trận của Trung Quốc, Đại sứ quán Nhật Bản tại Campuchia đã từ chối đưa ra bình luận. 

Ba tàu chiến của Trung Quốc chở theo 737 thủy thủ sẽ đến cảng ở tỉnh Preah Sihanouk của Campuchia vào ngày 22.2 để bắt đầu cuộc tập trận lần đầu tiên được tổ chức trên biển giữa hải quân 2 nước.

“Đây sẽ là sự hợp tác và huấn luyện quân sự lớn đối với công tác cứu hộ nhằm ứng phó kịp thời tàu chìm và các thiên tai xảy ra”, Phó đô đốc Vann Bunneang của Hải quân Campuchia nói với Reuters.

Trung Quốc hợp tác mở học viện quân sự ở Campuchia, cung cấp vũ khí và phương tiện quân sự như trực thăng, đạn rocket cho công tác huấn luyện của học viện, tiếp nhận đào tạo quân nhân Campuchia ở Trung Quốc.

Để đối phó với các nước, Trung Quốc đang tăng cường sức mạnh quân sự ở biển Hoa Đông và Biển Đông, đồng thời đẩy mạnh quan hệ lôi kéo sự ủng hộ của nước khác. Campuchia là nước thành viên ASEAN có lập trường ủng hộ Bắc Kinh. Cuộc tập trận được tổ chức nhằm tăng cường quan hệ quân sự mà Trung Quốc mong muốn có được với Campuchia, và trong bối cảnh Bắc Kinh vừa mới gây thêm căng thẳng khi triển khai tên lửa phòng không đến đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đang bị Trung Quốc chiếm đóng.

Các nhà phân tích cho rằng Mỹ lo ngại Campuchia trở thành quốc gia đồng minh của Trung Quốc, giúp Bắc Kinh đối phó với ASEAN.

Hải quân Trung Quốc sẽ tham gia diễn tập cứu hộ ở khu vực mà tàu chiến Nhật đang hiện diện. Ba tàu chiến Nhật đã đến Campuchia hôm 17.2 và sẽ rời đi ngày 20.2. Tokyo đẩy mạnh quan hệ quân sự với Phnom Penh thông qua các hoạt động giao lưu mang tính văn hóa giữa hải quân 2 nước.

Giáo sư Carlyle Thayer của Học viện quốc phòng Úc cho rằng cả Bắc Kinh và Tokyo đang muốn lôi kéo Phnom Penh về phía mình. Đây mới chỉ là bước khởi đầu bằng những cuộc huấn luyện của quân đội, sau đó sẽ có những cuộc tập trận lớn giữa các nước này.

“Đây là phần cơ bản của sự "tán tỉnh". Rồi bạn sẽ thấy sau đó là buổi dạo chơi trên biển, tay trong tay”, ông Thayer ví von về mối quan hệ quân sự của Trung Quốc, Nhật với Campuchia, theo Cambodia Daily.

Không chỉ 2 cường quốc Đông Á này mà Ấn Độ cũng đang “ve vãn” Campuchia khi cùng tổ chức huấn luyện quân sự với hải quân nước này vào tháng 6.2016. Mỹ không đứng ngoài cuộc khi Lầu Năm Góc đang chuẩn bị cho cuộc tập trận với Campuchia vào tháng 11.2016.

“Chúng ta sẽ nhìn thấy sự gia tăng hiện diện của các đối thủ siêu cường ở khu vực này”, ông Thayer bình luậnTrung Quốc hiện đang quản lý một học viện quân sự tại Campuchia và đã trang bị cho quân đội nước này nhiều trực thăng, tên lửa vác vai và nhiều phương tiện cơ giới.

Nghiêm Thu (Tổng hợp)

Quân đội Campuchia nhận viện trợ quân sự lớn từ TQ

Giá trị các gói viện trợ quân sự mà Quân đội Campuchia nhận từ Trung Quốc đang dần tăng theo mỗi năm, bất chấp mối quan hệ căng thẳng giữa Bắc Kinh và ASEAN.
Theo tạp chí quân sự Jane’s, Quân đội Campuchia và Trung Quốc vừa đạt được một thỏa thuận mới nhằm mở rộng mối quan hệ hợp tác hỗ trợ và phát triển công nghệ quốc phòng giữa.

Thỏa thuận trên vừa được hai nước thông qua trong một loạt buổi hội đàm giữa Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Campuchia Tea Banh và người đồng cấp Thường Vạn Toàn vào hôm 6/11 tại Phnom Penh, nhân chuyến thăm chính thức của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc đến Campuchia
[​IMG]
Trong 5 năm trở lại gần đây Bắc Kinh đã chi hàng trăm triệu USD cho các chương trình viện trợ quân sự cho Campuchia
Theo đó, Trung Quốc đã đồng ý hỗ trợ cho Phnom Penh gói viện trợ quân sự mới. Tuy nhiên giá trị của gói viện trợ này lại không được tiết lộ. Nhưng theo Bộ Quốc phòng Campuchia sau khi tiếp nhận viện trợ quân sự từ Bắc Kinh sức mạnh của lực lượng vũ trang Hoàng gia Campuchia sẽ nâng lên đáng kể.

Trước đó Bộ Quốc phòng Campuchia từng thông báo nước này mới mua số lượng lớn tên lửa phòng không vác vai di động (MANPADS) do Trung Quốc chế tạo và các thiết bị quân sự cần thiết để tăng cường khả năng quốc phòng và bảo vệ toàn vệ lãnh thổ của Campuchia.

Mặc dù loại tên lửa MANPADS mới được Trung Quốc chuyển giao cho Campuchia chưa được tiết lộ, nhưng theo nhiều chuyên gia quân sự đánh giá nhiều khả năng là dòng tên lửa phòng không vác vai di động FN-6, vốn từng được Trung Quốc viện trợ số lượng hạn chế cho Campuchia trước đó.

TRUNG CỘNG Ồ ẠT VIỆN TRỢ VŨ KHÍ CHO CAMPUCHIA TRONG MƯU ĐỒ KHỐNG CHẾ BIỂN ĐÔNG






Cát Hiệp
 
Trong mưu đồ thôn tính biển Đông, từ lâu Trung Quốc xem Campuchia là một trong những "viên ngọc trai" trong “chuỗi ngọc trai” mà Trung Quốc muốn tạo ra trong khu vực Đông Nam Á – vị trí đảm bảo quyền tiếp cận Vịnh Thái Lan và Biển Đông một cách thuận tiện nhất, khống chế đường ra biển lớn của Việt Nam. Chí vì vậy, việc Trung Quốc đang ổ ạt viện trợ và trang bị vũ khí cho Chính phủ của Hunsen - vốn đã tuyên bố đứng về phía Trung Quốc trong tranh chấp biển Đông, là không bất ngờ.

Hình 1: Lô xe quân sự Trung Quốc viện trợ cho Campuchia.

Tờ The Cambodia Daily ngày 25/5/2015 đưa tin Trung Quốc vừa bàn giao một loạt vũ khí hạng nặng và các thiết bị quân sự cho Bộ Quốc phòng Campuchia. Gói viện trợ lần này bao gồm 44 xe gồm có xe jeep, xe tải gắn bệ phóng tên lửa và ít nhất 6 hệ thống súng máy phòng không di động.

Buổi lễ bàn giao được diễn ra tại Học viện Quân sự Campuchia tại tỉnh Kompong Speu. Tham dự lễ bàn giao có Bộ trưởng Quốc phòng Campuchia Tea Banh và Đại sứ Trung Quốc, bà Bố Kiến Quốc.

Phát biểu tại buổi tiếp nhận, Trung tướng Chao Phirun, Cục trưởng Cục Trang bị - kỹ thuật Bộ Quốc phòng Campuchia cho biết: "Việc tiếp quản các vũ khí khí tài quân sự đặc biệt ngày hôm nay từ Bộ Quốc phòng Trung Quốc là một thành tựu lịch sử trong sự giúp đỡ của chính phủ Trung Quốc đã dành cho Bộ Quốc phòng Campuchia".

Cùng đó, Trung Quốc cũng viện trợ cho Campuchia 20 xe bốc dỡ, 4 xe bếp di động, 2 tấn hóa chất không xác định và khoảng 10 tấn phụ tùng. Một trung tâm đào tạo rộng 500 mét vuông cũng nằm trong danh sách viện trợ.

Thời gian gần đây, các hợp đồng mua bán vũ khí và viện trợ quân sự của Trung Quốc dành cho Campuchia cũng đang gia tăng một cách đáng ngạc nhiên, bất thường.

Năm 2013, Trung Quốc bán dưới hình thức cho vay cho Campuchia 12 trực thăng Harbin Z-9 trị giá 195 triệu USD.

Hình 2: Campuchia tiếp nhận lô trực thăng Z-9 từ Trung Quốc.

Trong năm 2015 này, quân đội Campuchia sẽ tiếp nhận thêm 26 xe tải và 30.000 bộ quân phục từ Trung Quốc.

Viện trợ của Trung Quốc cho Campuchia hiện nay lớn hơn nhiều so với viện trợ của Mỹ.

Năm 2010, Mỹ đã hủy việc bàn giao 200 xe quân sự cho Campuchia sau khi Phnôm Pênh trục xuất một nhóm người xin tị nạn Duy Ngô Nhĩ (Tây Tạng) về Trung Quốc vào năm 2009. Chỉ hai ngày sau vụ trục xuất, Trung Quốc và Campuchia đã ký các hợp đồng trị giá khoảng 850 triệu USD.

Năm 2013, Phnôm Pênh tuyên bố ngừng một số hợp tác quân sự với Mỹ sau những chỉ trích của các nghị sĩ Mỹ về cuộc bầu cử tại Campuchia.

Trong bài viết có tiêu đề "Vì sao Trung Quốc quyến rũ Campuchia", giáo sư Heidi Dahles, Trưởng khoa Nghiên cứu châu Á (ĐH Griffith, Australia) cho rằng, do Campuchia là một trong những vị trí địa chính trị chiến lược của Trung Quốc. Theo chuyên gia này, Campuchia có tầm quan trọng chiến lược, là một trong những viên ngọc trai trong “chuỗi ngọc trai” mà Trung Quốc đang muốn tạo ra trong khu vực Đông Nam Á – vị trí đảm bảo quyền tiếp cận Vịnh Thái Lan và Biển Đông một cách thuận tiện nhất.

Trong bối cảnh có sự cạnh tranh khốc liệt giữa Mỹ và Trung Quốc nhằm giành ảnh hưởng tại châu Á – Thái Bình Dương, Campuchia là một mắt xích đảm bảo lợi thế địa chính trị khu vực sẽ thuộc về bên nào thân thiết hơn với nước này.

Hình 3: Bản đồ khu vực Đông Nam châu Á Thái Bình Dương. Campuchia nằm ở phía tây nam Việt Nam

Các chương trình hợp tác quân sự - quốc phòng giữa Mỹ và Campuchia, được thiết lập từ năm 2006, sắp hết hạn. Vấn đề cấp bách hiện nay là liệu sự hợp tác này có bị bỏ rơi hay không khi đã có một liên kết quân sự gần gũi hơn giữa Campuchia với Trung Quốc. Trung Quốc, đất nước có ít bạn bè trong khu vực Đông Nam Á, sẽ chào đón một Campuchia ngừng thỏa thuận với Mỹ.

Với Trung Quốc, ai đứng đầu Campuchia không quan trọng, quan trọng là những gì Bắc Kinh đã làm vẫn sẽ có sức ảnh hưởng với chính quyền Phnom Penh.

Còn nhớ mới đây thôi, ngày 25/3/2015, lãnh đạo Campuchia thủ tướng Hunsen đã công khai tán đồng quan điểm (sai trái) của Trung Quốc rằng vấn đề tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông không thể được giải quyết qua ASEAN mà "cần được giải quyết bởi các bên bị ảnh hưởng trực tiếp". "Cuối cùng đó không phải là vấn đề đối với toàn bộ ASEAN. Nó là vấn đề song phương giữa các nước liên quan mà họ cần phải nói chuyện với nhau", ông Hun Sen nói.

Mối quan hệ thân thiết, đặc biệt về hợp tác và viện trợ quân sự giữa Trung Quốc và Campuchia rõ ràng gây bất lợi và ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng của Việt Nam - nhất là khi căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam đang dâng cao, do Trung Quốc không ngừng thực thi những hành động ngang ngược, bất chấp luật pháp quốc tề để thực hiện mưu đồ giành chủ quyền ở Trường Sa và Biển Đông.

Còn nhớ năm 1977, chính Trung Quốc đã viện trợ và ủng hộ Chính phủ Polpot ở Campuchia khi đó xâm lấn, tấn công biên giới Tây Nam của Việt Nam. Tiếp đó năm 1979, Trung Quốc xua trên 50 vạn quân ổ ạt tấn công tuyến biên giới phía bắc Việt Nam.

Âm mưu thâm sâu hiểm độc, tham vọng chủ quyền khôn cùng, độc tài tham nhũng - ấy chính là Trung Quốc dưới thời cộng sản./.


Trung Quốc tăng đầu tư quân sự ở Campuchia

Tài trợ đào tạo quân sự, viện trợ vũ khí, tăng cường đầu tư, là những cách Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng quân sự ở Campuchia.
2015-04-02T124052Z-1-LYNXMPEB3-2379-4916

Một cố vấn quân đội Trung Quốc đang gắn quân hàm cho sinh viên tốt nghiệp Campuchia. Ảnh: Reuters.

Tháng trước, Bộ trưởng Quốc phòng Tea Bank tham dự lễ tốt nghiệp tại Học viện Quân đội danh tiếng của Campuchia. Ông trực tiếp nói lời cảm ơn tới một đoàn khách quân đội Trung Quốc.

Học viện Quân đội (AI) thành lập năm 1999, nằm ở tỉnh Kampong Speu, cách thủ đô Phnom Penh khoảng 80 km, nằm trong kế hoạch tăng cường viện trợ quân sự của Trung Quốc ở Campuchia. Các nhà phân tích cho rằng đó là một phần trong nỗ lực mở rộng ảnh hưởng trong khu vực của Trung Quốc.

Phát biểu tại AI, ông Tea ca ngợi các thiết bị "hiện đại" mà Trung Quốc viện trợ cho Campuchia. "Chúng ta biết ơn họ vì đã hiểu cho hoàn cảnh khó khăn hiện nay của chúng ta."

Kể từ năm 2009 đến nay, mỗi năm có khoảng 200 học viên thi đỗ vào chương trình học 4 năm ở AI, do bộ Quốc phòng và các cố vấn Trung Quốc giám sát, dưới sự giảng dạy của giáo viên địa phương. Chương trình cũng bao gồm khóa thực tập 6 tháng bắt buộc ở các học viện quân sự tại Trung Quốc.

Tháng trước, 190 sinh viên khóa thứ 3 đã tốt nghiệp. "Sinh viên tốt nghiệp được sắp xếp vào các vị trí quan trọng, kể cả chỉ huy lữ đoàn," một quan chức chính phủ cấp cao giấu tên cho biết. "Họ nắm giữ các vị trí có thực quyền trong lực lượng chiến đấu."

Ông này nói thêm, Trung Quốc chi trả phần lớn tiền xây dựng và vận hành trường. Ngôi trường cũng nhận khoảng 200 sinh viên mỗi năm theo học khóa ngắn hạn 6 tháng.

Học viện này dường như là phép thử đầu tiên của Trung Quốc nhằm xây dựng các cơ sở quy mô tương tự ở Đông Nam Á, Carl Thayer, chuyên gia an ninh khu vực Đông Nam Á, Học viện Quốc phòng Australia, cho biết.

"Đối với Trung Quốc, đây là sự khởi đầu của một chiến lược dài hạn, tăng ảnh hưởng trong quân đội Campuchia. Ngoài ra, Trung Quốc còn nắm giữ hồ sơ tình báo cực kì chi tiết về từng người," ông nói.

Ngôi trường phát triển đồng thời với việc gia tăng đáng kể những hợp đồng bán vũ khí Trung Quốc và tăng cường viện trợ quân sự vào Campuchia. Trung Quốc cũng đầu tư hàng tỉ USD vào kinh tế nước này.

Năm 2013, Campuchia nhận 12 trực thăng Harbin Z-9 mua từ khoản vay 195 triệu USD của Trung Quốc. Năm 2014, nước này nhận thêm viện trợ 26 xe tải Trung Quốc và 30.000 bộ quân phục.

AI cũng nhanh chóng mở rộng xây dựng. Kể từ năm 2002 đến nay, hơn 70 tòa nhà đã mọc lên trong khuôn viên rộng 148 ha của trườngQuan chức Bộ Quốc phòng Campuchia từ chối bình luận thông tin này.

Trong khi đó, Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho biết sẽ "tiếp tục tăng mức hỗ trợ cho học viện, giúp Campuchia nâng cao năng lực giảng dạy và trình độ đào tạo."

"Viện trợ này không đi kèm bất cứ điều kiện chính trị nào, và không làm tổn hại đến lợi ích của bên thứ ba", phía Trung Quốc tuyên bố.

Lao Mong Hay, chuyên gia phân tích Campuchia, đánh giá Trung Quốc tăng cường viện trợ nhằm tạo thế cân bằng với ảnh hưởng của các nước khác.

Năm 2014, Washington dành khoảng một triệu USD viện trợ tài chính cho quân đội và công tác huấn luyện binh sĩ ở Campuchia. 12 sĩ quan quân đội Campuchia cũng được đào tạo ở Mỹ về nhân quyền và "nâng cao năng lực hàng hải."

Hồng Hạnh (theoReuters)

Campuchia hợp tác quân sự ngày một lớn với Trung Quốc

Dân trí Được nhận những khoản vay ưu đãi hàng trăm triệu USD từ Trung Quốc, Campuchia đã mua nhiều trực thăng quân sự cùng các thiết bị khác từ Trung Quốc, và mối quan hệ được đánh giá đang ngày một thêm thân thiết.

Campuchia hợp tác quân sự ngày một lớn với Trung Quốc
Bộ trưởng quốc phòng Campuchia Tea Banh kiểm tra lô xe quân sự Trung Quốc cung cấp tại tỉnh Kampong Speu, Campuchia hôm 23/5 (Ảnh: Xinhua)

Hồi tuần trước, Bộ trưởng quốc phòng Campuchia Tea Banh đã có chuyến thăm kéo dài 5 ngày tới Trung Quốc, để gặp gỡ với các tướng lĩnh cấp cao nước chủ nhà, và nhận được thêm những cam kết hỗ trợ từ quân đội Trung Quốc.

Trong một cuộc phỏng vấn mới đây với đài phát thanh VOA Khmer, của Mỹ, ông Banh cho biết chuyến thăm đã thành công trong việc thắt chặt hơn nữa hợp tác quân sự giữa hai nước. Mối quan hệ này giờ đã “thân thiết hơn quan hệ quốc phòng của Campuchia với Mỹ”, vị Bộ trưởng khẳng định.

Theo các nhà phân tích, Phnom Penh có khả năng sẽ còn trông cậy nhiều hơn nữa vào sự hỗ trợ từ Bắc Kinh.

Hai nước lâu nay vẫn có mối quan hệ gần gũi, nhưng đến năm 2012, lại càng xích lại gần nhau hơn khi Campuchia là nước chủ nhà hội nghị thượng đỉnh ASEAN. Tại hội nghị này, Phnom Penh đã đứng hẳn về phía Bắc Kinh trong vấn đề Biển Đông.

Ngay năm sau đó, Bắc Kinh đã cung cấp cho Phnom Penh khoản vay 195 triệu USD, giúp nước này mua 12 trực thăng quân sự Z-9 do Trung Quốc sản xuất. Tháng 5/2013, Trung Quốc cam kết hỗ trợ Campuchia nhiều xe tải quân sự, các phụ tùng, thiết bị và nhiều hóa chất.

Thủ tướng Campuchia Hun Sen cũng thường dùng nhiều lời “có cánh” để ca ngợi mối quan hệ này. Hồi tháng trước, trong lễ thông xe một tuyến đường qua tỉnh Kampong Som do Trung Quốc tài trợ, ông đã khẳng định với một nhóm nông dân địa phương rằng quan hệ Campuchia – Trung Quốc đang tốt nhất từ trước đến nay, và rằng hai nước đang hướng tới quan hệ đối tác toàn diện.

Trong năm 2015, Trung Quốc đã tăng mạnh hỗ trợ phát triển cho Campuchia, từ 100 triệu USD hồi năm ngoái lên 140 triệu USD, ông Hun Sen cho biết.

Bộ trưởng Tea Banh cũng bảo vệ mối quan hệ song phương này, với tuyên bố viện trợ của Trung Quốc không hề kèm các điều kiện, và rằng Bắc Kinh không hề can dự vào vấn đề nội bộ của Phnom Penh.

Trung Quốc hưởng lợi

Dù vậy, theo các nhà phân tích Trung Quốc đang là bên được lợi nhiều hơn trong quan hệ với Campuchia.

Chheang Vannarith, giáo sư thỉnh giảng đại học Leeds, Anh cho biết, Trung Quốc cần Campuchia với tư cách đối tác tại Đông Nam Á, nơi sự cạnh tranh đang gia tăng.

“Khu vực này chứa đầy những cuộc cạnh tranh phức tạp”, giữa Trung Quốc và Nhật Bản, Trung Quốc và Mỹ, chuyên gia này nói. “Trung Quốc dùng Campuchia tại Đông Dương và khu vực sông Mekong để củng cố trường ảnh hưởng của mình tại châu Á – Thái Bình Dương”.

Ông Chheang Vannarith khẳng định Campuchia đang là người mạo hiểm hơn Trung Quốc. “Một khi dựa quá nhiều vào Trung Quốc, chúng ta sẽ mất đi cái gọi là quyền tự quyết trong chính sách đối ngoại”.

Paul Chambers, giáo sư đại học Chiang Mai, Thái Lan thì gọi Trung Quốc là “một siêu cường đang lên” muốn sử dụng Campuchia để gây ảnh hưởng tại ASEAN. Và ông Chambers cho rằng đang có một “cuộc chiến tranh lạnh âm ỉ” giữa Bắc Kinh và Washington.

“Tôi tin rằng ông Hun Sen đã từng và đang tiếp tục cho thấy là người giỏi bước đi thăng bằng giữa các đồng mình. Ông ấy sẽ ngày càng chào đón những hỗ trợ quân sự từ Trung Quốc”.

Giáo sư chiến lược học Hugh White, đến từ đại học Quốc gia Úc tại Canberra nhận định, quan hệ quân sự ngày một chặt chẽ giữa Trung Quốc và Campuchia sẽ là đối trọng cho ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực, đồng thời củng cố năng lực quân sự của Campuchia.

“Chúng ta có thể thấy Mỹ đang cố gắng xây dựng quan hệ tốt hơn với Việt Nam, mà một minh chứng là chuyến thăm Washington mới đây của Tổng bí thư đảng Cộng Sản Nguyễn Phú Trọng”, ông White nói.

“Việc Trung Quốc sẵn lòng phát triển quan hệ quân sự chặt chẽ hơn với Campuchia cũng là một phần trong tiến trình này. Dù vậy tôi nghi ngờ sự hợp tác này sẽ đi xa tới mức thay đổi về cơ bản năng lực quân sự hay ngành quốc phòng Campuchia”.

Thanh Tùng
Theo VOA News

VNTB – Sẽ xảy ra đối đầu quân sự Việt – Trung trong 12-18 tháng tới ?

Có không đây nhỉ ? ráng chờ xem . Nếu có bắn nhau thì là tôi trốn đi bộ đội . Ngu gì làm bia đỡ đan như trận Gạt Ma . Chỉ làm bia cho Tàu nó bắn đạn thật.
zzx1
Nguyễn Hiền (VNTB) Ông Joshua Kurlantzick, chuyên gia Đông Nam Á thuộc tổ chức nghiên cứu Hội đồng quan hệ đối ngoại (CFR, Washington, Mỹ) đã có một bài viết dài trên trang tin CFR của Mỹ, trong đó đưa ra những dấu hiệu và giải pháp cho sự đối đầu quân sự Việt – Trung trong tương lai gần.
Nguy cơ gần kề
Nguy cơ cuộc đối đầu quân sự giữa Trung Quốc và Việt Nam đang tăng lên. Mặc dù hai nước đã đạt được các thành tựu trong nhiều thập kỷ, nhưng kể từ năm 2011, cả hai lên tiếng về mâu thuẫn Biển Đông khi Bắc Kinh tuyên bố 90% vùng biển này thuộc chủ quyền của mình.
Bắc Kinh cũng đã nhiều lần di chuyển giàn khoan dầu vào khu vực tranh chấp, nạo vét và chiếm đóng đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, và xây dựng ít nhất một đường băng với nhiều tiềm năng được sử dụng bởi quân đội trong quần đảo Trường Sa. Trong khi đó, Việt Nam cũng đã cố gắng tiến hành thăm dò dầu và yêu cầu bồi thường – vốn được cho là đã đâm vào tàu ​​Trung Quốc ở vùng biển tranh chấp. Việt Nam đã tạo dựng các mối quan hệ quân sự chặt chẽ với Hoa Kỳ, các quốc gia Đông Nam Á khác như Philippines, và cường quốc khu vực như Ấn Độ, tất cả để lại sự kinh ngạc đối với Trung Quốc. Ngoài ra, cả hai nước đang ngày càng cạnh tranh giành ảnh hưởng ở Đông Nam Á, nơi Việt Nam đã ngự trị từ những năm 1970 đến cuối những năm 2000.
Biểu tình chống Trung Quốc. Ảnh: RFA
Trung Quốc không chịu thua, nước này tăng tốc và đã trở thành nhà viện trợ và đầu tư ở nhiều quốc gia Đông Nam Á, cũng như một đối tác quân sự quan trọng của Myanmar, Campuchia, Thái Lan và Lào.
Sự gia tăng chủ nghĩa dân tộc ở cả hai nước – vốn là “nhiên liệu” cho cuộc đua gây ảnh hưởng khu vực này liệu có dẫn đến một cuộc đối đầu quân sự nghiêm trọng giữa hai nước trong 12 – 18 tháng tới?
Các kịch bản tiềm năng 
Có ba kịch bản tiềm năng có thể dẫn đến cuộc khủng hoảng quân sự giữa Trung Quốc và Việt Nam. Bao gồm:
Leo thang căng thẳng trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. Từ thập niên 90 của thế kỷ 20 (1990 – 2000), chính phủ Trung Quốc, dù chưa từng từ bỏ yêu sách lâu dài ở Biển Đông, tuy nhiên, lãnh đạo nước này sử dụng phương pháp ít quyết đoán hơn để ứng phó với các bên tranh chấp. Tuy nhiên, điều này đã thay đổi trong 5 năm qua, khi Bắc Kinh liên tục tái khẳng định yêu sách chủ quyền với 90% vùng biển Đông. Việt Nam đã phản ứng mạnh mẽ, khởi động lại các dự án đất khai hoang của mình ở quần đảo Trường Sa (đảo Sơn Ca, đảo Đá Tây).
Vào tháng năm 2014, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Trung Quốc (CNPC) đã chuyển một giàn khoan dầu vào vùng biển tranh chấp với Việt Nam. Hải quân và các tàu bảo vệ bờ biển hai nước đã đối mặt xung quanh giàn khoan, các cuộc bạo động chống Trung Quốc nổ ra ở Việt Nam. Mặc dù hai nước cuối cùng xoa dịu cuộc khủng hoảng, thì cuộc đối đầu trên biển cũng khiến các nhà lãnh đạo hai bên phớt lờ nhau trong 4 tuần tiếp theo đó.
Có thể điểm lại một số nguy cơ làm leo thang căng thẳng như: một số báo cáo trong tháng 7 năm 2015 cho rằng Trung Quốc đã bắt đầu triển khai lại một giàn khoan ở vùng biển Đông, tương tự như trong năm 2014. Nếu CNPC tiếp tục thăm dò khu vực này một lần nữa, đặc biệt là theo dọc bờ biển Việt Nam, thì giàn khoan của nó có thể được đi kèm với đội quân bán quân sự, lực lượng hải quân Trung Quốc. Trung Quốc cũng đã mở rộng đáng kể cơ sở của mình tại đảo Hải Nam để chứa hải quân, trong khi Việt Nam cũng đã bắt đầu tăng cường hiện đại hóa hải quân, trong đó bổ sung lực lượng tàu ngầm lớp kilô hiện đại.
Nếu các tàu hải quân hai bên đối mặt với nhau, đó có thể là sự “ma sát” chết người.
Hà Nội và Bắc Kinh cũng có thể củng cố vị trí của mình trên biển với lực lượng hải quân, cảnh sát biển, và lực lượng đặc biệt. Hai nước cũng chưa bao giờ chấp nhận một biên bản ghi nhớ (MOU) về việc làm thế nào để giải quyết các tranh chấp hàng hải; trong 2011, Hà Nội và Bắc Kinh đã ký kết một thỏa thuận về các nguyên tắc chung để giải quyết các tranh chấp hàng hải, nhưng đã không có tiến triển nào trong thực tế. Và mặc dù Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) về lý thuyết có thể hòa giải tranh chấp, thì khả năng hòa giải của tổ chức này chưa được chứng thực.
Nếu hai bên không kiểm soát được tình hình, thì sẽ dẫn đến cuộc chiến hải quân.
Mâu thuẫn trong vấn đề biên giới Trung -Việt. Vùng biên giới hai nước đã căng thẳng trong năm 2014 và 2015, khi lực lượng biên phòng Trung Quốc tiến hành nổ súng bắn hạ người Uighur – đang chạy trốn sang Việt Nam. Và việc thực hiện này trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông, hay vùng Cửu Long – nơi đập thủy điện Trung Quốc làm hạn chế dòng chảy và nguồn lợi thủy sản đã khiến cho Việt Nam không hài lòng. Sự đụng độ biên giới đất liền, cũng có thể đưa đến leo thang quân sự.
Chính phủ Việt Nam cũng có thể lo sợ rằng, nếu không có hành động quyết định trong bất kỳ kịch bản trên biên giới đất liền với Trung Quốc, thì ảnh hưởng của Hà Nội sẽ yếu đi trong mắt các nước khác ở Đông Nam Á, nơi Việt Nam đang cố gắng để duy trì ảnh hưởng chiến lược.
Chế độ Trung Quốc và Việt Nam, mặc dù độc tài, cũng không thể bỏ qua dư luận; người dân Việt Nam đang ngày càng nhạy cảm với bất kỳ nỗ lực của Trung Quốc nhằm kiểm soát biên giới đất liền, một phần vì hai nước từng là anh em này đã có một trận chiến tranh biên giới đẫm máu vào năm 1979.
Tương tác quân sự ngoài ý muốn xung quanh diễn tập quân sự giữa Việt Nam với các đối tác chiến lược mới.
Việt Nam sẽ bắt đầu cuộc tập trận quân sự với các đối tác chiến lược của mình. Trong tương lai gần, các bài tập có thể sẽ bao gồm tập trận hải quân với Ấn Độ, Philippines, Singapore, và ngay cả với Hoa Kỳ và Nhật Bản. Những cuộc tập trận này được theo dõi chặt chẽ bởi Trung Quốc, bởi cac syếu tố liên kết chiến lược có thể là một cái gai trong mắt nước này. Trước đó, Bắc Kinh từng lên án một cuộc họp không chính thức giữa những quân đội Việt Nam và Philippines trên vùng đảo tranh chấp của Đảo Song Tử Đông vào tháng Năm.
Trong tương lai, Bắc Kinh cố gắng để đối phó với cuộc tập trận chung của Việt Nam, bởi nó dự báo sẽ cản trở khả năng triển khai sức mạnh của Trung Quốc. Bắc Kinh có thể di chuyển máy bay và hải quân vào gần đó, ngay cả khi các bài tập được tổ chức tại các khu vực xa bờ biển Trung Quốc hay ngoài Biển Đông.
Sự quyết đoán của Trung Quốc trong tuần tra hải quân và không quân gần khu vực diễn tập quân sự có thể dẫn đến những sự cố không mong muốn sẽ khiến căng thẳng leo thang.
Các dấu hiệu cảnh báo 
Một vài dấu hiệu cảnh báo cho thấy nguy cơ của một cuộc đối đầu quân sự đang gia tăng. Trong số các dấu hiệu tổng quát về quan hệ song phương xấu đi sẽ như sau:
Công khai chỉ trích với công chúng. Mặc dù cả Trung Quốc và Việt Nam là hai nước kiểm soát chặt chẽ phương tiện truyền thông, nhưng việc cả hai chính phủ tổ chức họp báo để tố cáo nhau sau khi thông báo chính sách liên quan đến Biển Đông, biên giới Trung Quốc-Việt Nam, và các vấn đề gây tranh cãi khác đang ngày nhiều lên. Những cuộc họp báo và tuyên bố công khai bằng văn bản có xu hướng trích dẫn cáo trạng phát ngôn viên cấp cao của phía bên kia. Trong khi đó, cả hai chính phủ thường giữ họp báo để công bố những phát triển tích cực trong quan hệ song phương. Tin tức về một cuộc họp báo ở Bắc Kinh hay Hà Nội liên quan đến quan hệ Trung Quốc-Việt Nam do đó nên được xem như là một dấu hiệu về tăng căng thẳng giữa hai nước.
Bật đèn xanh biểu tình trong nước. Trên nhiều lần trong ba năm qua, các cuộc biểu tình chống Trung Quốc đã được tổ chức tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, thường là để phản đối các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông. Mặc dù ít phổ biến hơn, cũng đã có các cuộc biểu tình chống Việt Nam tổ chức tại Bắc Kinh kể từ 2010. Có thể giả định rằng, cuộc biểu tình công khai chống Trung Quốc và chống Việt Nam được hỗ trợ từ phía chính phủ. Sự hiện diện của các cuộc biểu tình chống Trung Quốc c ở Việt Nam hay các cuộc biểu tình chống Việt Nam tại Trung Quốc cũng là một dấu hiệu của sự gia tăng căng thẳng giữa hai nước.
Thông báo của quan hệ đối tác chiến lược mới. Việt Nam đang tích cực tìm kiếm các mối quan hệ gần gũi hơn với các nước, đặc biệt với những nước đang có sự gia tăng quyền lực trong khu vực như Indonesia, để cùng chia sẻ mối quan tâm về sự bành trướng của Trung Quốc. Một thông báo về quan hệ đối tác chiến lược mới giữa Việt Nam với một quốc gia châu Á như Indonesia nên được xem như một dấu hiệu tiềm năng trong gia tăng căng thẳng giữa Bắc Kinh và Hà Nội.
Sáng kiến viện trợ của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Trong 5 năm qua, Trung Quốc tăng cường các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao nước này đến với các quốc gia vùng Đông Nam Á và đi kèm đó là công bố gói viện trợ lớn. Những sáng kiến ​​này gây ra sự lo lắng rõ ràng cho Hà Nội. Ví dụ, trong năm 2010, Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tới Campuchia, và tuyên bố dành 1.2 tỷ đô-la viện trợ cho Phnom Penh – đất nước mà trước đó, Việt Nam đã kiểm soát được Thủ tướng Campuchia Hun Sen. Tâm lý chống Trung Quốc tại Việt Nam đã tăng vọt vào thời điểm đó, có thể một phần là do khuyến khích chính thức từ chính phủ.
Ngoài ra, một số dấu hiệu chiến thuật có thể dự đoán mối quan hệ Trung – Việt:
Chuyển động của giàn khoan dầu vào vùng biển và tuyên bố công khai.
Trung Quốc và Việt Nam sử dụng tuyên bố tranh chấp công khai, nhằm bày tỏ yêu sách ở Biển Đông. Cả hai cũng đã sử dụng các công ty dầu khí nhà nước làm công cụ để khẳng định yêu sách đó. Trong quá khứ, cả Trung Quốc và Việt Nam đã phản ứng nhanh chóng trong thăm dò dầu khí mới của phía bên kia bằng cách tăng cường tuần tra tại khu vực tranh chấp hay cắt dây cáp của tàu khảo sát. Vì vậy, tuyên bố chính thức trên hoặc thông báo các thăm dò mới ở Biển Đông có thể báo hiệu một cuộc khủng hoảng quân sự sắp xảy ra.
Tập trận gần biên giới đất liền Trung Quốc-Việt Nam. Cả Trung Quốc và Việt Nam hiện đang tiến hành các cuộc tập trận thường xuyên gần biên giới trên bộ, cuộc tập trận gần biên giới có thể báo hiệu một cuộc đối đầu sắp xảy ra.
Trung Quốc chuẩn bị quân sự để đáp trả diễn tập quân sự của Việt Nam và các đối tác. Máy bay chiến đấu Trung Quốc ngày càng sẵn sàng trong những năm gần đây để giám sát vùng không gian hoặc diễn biến các cuộc diễn tập, dù nằm gần hay xa Trung Quốc. Trung – Việt cũng không có thỏa thuận về nguyên tắc cho không-đối-không khi lực lượng hai bên chạm mặt. Trung Quốc có thể đánh chặn máy bay của Việt Nam, đặc biệt là khi Việt Nam đang tiến hành một bài tập với các đối tác của mình, nên được coi là dấu hiệu cảnh báo chiến thuật.
Mỹ và vai trò trong xung đột Việt – Trung 
Bất kỳ cuộc khủng hoảng quân sự giữa Trung Quốc và Việt Nam có thể gây tổn hại cho lợi ích của Mỹ, nhưng cuộc xung đột trên vùng Biển Đông sẽ gây thiệt hại lớn cho Mỹ hơn so cuộc xung đột trên vùng biên giới đất liền. Bởi xung đột sẽ buộc phải “đóng cửa” một phần Biển Đông trong một vài ngày, gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế quốc tế vì vùng biển này rất quan trọng trong giao thương, trên 5 nghìn tỷ đô-la thương mại chảy qua hằng năm.
Ngoài ra, cuộc xung đột trên biển có thể lôi kéo các đối tác của Việt Nam như Philippines, Ấn Độ và Singapore… Nói rộng hơn, một tranh chấp hàng hải Trung -Việt sẽ nhanh chóng hình thành mối quan hệ đối lập giữa Trung Quốc và các quốc gia châu Á khác. Bởi, Trung Quốc có thể tăng tốc độ nạo vét của mình, xây dựng đường băng, và thực hiện các hành vi quyết đoán chủ quyền khác trong vùng biển tranh chấp. Nhưng ngược lại, nó thúc đẩy Nhật Bản, Philippines, Indonesia, và Singapore mở rộng các mối quan hệ quân sự và tăng chi tiêu quốc phòng để chống lại cái mà họ gọi là “sự đe dọa trong trỗi dậy”. Philippines, Nhật Bản, Việt Nam, Indonesia cũng tăng tốc cải tạo khu vực do mình quản lý trong khu vực biển tranh chấp.
Về mặt lý thuyết, một cuộc khủng hoảng trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc có thể phục vụ lợi ích của Mỹ ở châu Á, ít nhất sự phản ứng khủng hoảng có thể đưa các quốc gia Châu Á tăng cường quan hệ hơn với Mỹ. Một số quốc gia như Malaysia và Singapore vốn là đối tác của Mỹ có thể tăng cường thêm mối quan hệ với Hoa Kỳ qua các hiệp ước và hạn chế hợp tác quân sự với Trung Quốc. Các nước như Indonesia – hiện có mối quan hệ quân sự hạn chế với Hoa Kỳ sẽ nhanh chóng mở rộng quan hệ quân sự.
Tuy nhiên, một kịch bản khác là trong trường hợp cuộc khủng hoảng hàng hải nỗ ra và phản ứng của Mỹ là không hiệu quả, khiến xung đột kéo dài cũng như không khiến Trung Quốc rút lui, thì ngay cả các đối tác thân cận của Mỹ có thể tìm cách thúc đẩy lại mối quan hệ với Trung Quốc. Trong trường hợp, phản ứng thích hợp của Mỹ với cuộc khủng hoảng có hiệu quả, thì một số quốc gia châu Á, như Indonesia hay Malaysia, vẫn có thể quyết định tăng cường mối quan hệ quân sự với Trung Quốc và giảm hợp tác với Hoa Kỳ, bởi các nước này có thể tính toán rằng, bản chất của các hành động quyết đoán của Trung Quốc trong vùng Biển Đông là không thể ngăn chặn lại. Trong khi đó, cuộc chạy đua vũ trang của các quốc gia Châu Á vẫn sẽ diễn ra, và nguy cơ leo thang chiến tranh tại châu Á ở vùng biển và vùng trời châu Á vẫn sẽ tồn tại.
Các lựa chọn 
Hoa Kỳ có nhiều lựa chọn để giảm nguy cơ của cuộc khủng hoảng quân sự Trung -Việt, mặc dù ảnh hưởng của Mỹ đối với Trung Quốc và thậm chí Việt Nam còn nhiều hạn chế.
Chúng bao gồm các chiến lược để thúc đẩy hợp tác, tăng cường khả năng của Việt Nam để ngăn chặn các hành động của Trung Quốc trong đe dọa tự do hàng hải hoặc lợi ích chiến lược của Mỹ, và cho phép Mỹ rút ra khỏi một cuộc xung đột Trung -Việt mà không đe dọa Mỹ lợi ích chiến lược hoặc liên quan đến đồng minh của Mỹ.
Thúc đẩy hợp tác. Một quy tắc ứng xử cho các tàu hoạt động trong vùng biển Đông có thể là chiến lược hợp tác hiệu quả nhất. Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á đã tham gia các cuộc đàm phán về quy tắc ứng xử (mã riêng nhằm giảm xung đột, đối đầu) kể từ tháng 9 năm 2013. Hoa Kỳ có thể làm việc với Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á khác để tạo ra sự thống nhất về quy tắc ứng xử. Nếu Trung Quốc từ chối tham gia tham gia vào các quy tắc ứng xử này, Hoa Kỳ nên khuyến khích ASEAN đưa dự thảo mã riêng của mình và trình bày công khai với Bắc Kinh.
Một chiến lược hợp tác thứ hai có thể là thúc đẩy dự án kinh tế và khoa học chung ở Biển Đông giữa ASEAN-Trung Quốc, chẳng hạn như các chương trình để hệ thống hóa đa dạng sinh học biển. Những công trình khoa học này sẽ xây dựng lòng tin và có thể dẫn đến dự án thăm dò dầu khí chung giữa ASEAN-Trung Quốc, làm giảm đáng kể tình trạng căng thẳng.
Một chiến lược hợp tác thứ ba có thể khuyến khích tuần tra biên giới đất liền giữa hai nước Trung -Việt, mặc dù ảnh hưởng của Mỹ về các vấn đề liên quan đến biên giới đất liền hai nước này là rất hạn chế.
Mua bán vũ khí và diễn tập chung để ngăn chặn Trung Quốc. 
Một chiến lược phòng ngừa cũng có thể là một trong những chiến lược răn đe quân sự trong vùng Biển Đông. Hoa Kỳ có thể gửi tàu hải quân Mỹ đến các khu vực ở Biển Đông, nơi mà Trung Quốc tìm cách ngăn chặn tàu thuyền của Việt Nam hoặc nước khác, để chứng tỏ cam kết của Mỹ đối với tự do hàng hải. Hoa Kỳ đã sử dụng một biến thể của chiến lược này bằng cách cố tình gửi B-52 đến khu vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) của Bắc Kinh mà không cần báo trước.
Bước thứ hai có thể sử dụng quyền lực ngoại giao để thể hiện sự cam kết của Mỹ với các đồng minh liên quan đến vùng Biển Đông. Các nhà lãnh đạo Mỹ có thể tuyên bố công khai rằng lực lượng Hoa Kỳ sẽ đến trợ giúp đồng minh, theo hiệp ước nếu họ đối mặt với các cuộc tấn công vô cớ tại khu vực biển Đông, nơi nhiều quốc gia tuyên bố chủ quyền. Hiện nay, các quan chức Mỹ chỉ mới đề cập rằng, tự do hàng hải ở Biển Đông là lợi ích quốc gia của Mỹ.
Các tuyên bố như thế có thể làm mếch lòng Trung Quốc và góp phần vào sự leo thang, nhưng ngay cả khi không làm vậy, thì Bắc Kinh vẫn đang nhanh chóng nạo vét và quân sự hóa vùng biển tranh chấp.
Việc thực hiện hỗ trợ đồng minh trong tranh chấp Biển Đông có thể định vị được hình ảnh của Hoa Kỳ đối với khu vực, và cũng là sự bảo đảm cho an ninh khu vực.
Bước thứ ba là nâng cấp khả năng phòng thủ của Việt Nam bằng cách mở rộng phạm vi bán vũ khí sát thương của Mỹ cho Hà Nội, mà Quốc hội Mỹ đã thông qua vào mùa thu năm 2014, bao gồm máy bay và tàu hải quân. Hoa Kỳ cũng có thể giúp cải thiện hệ thống tuần tra-kiểm soát biển của Việt Nam bằng cách tăng cường các cuộc diễn tập cứu hộ – quân sự hàng năm.
Giảm tiếp xúc cuộc đối đầu đất liền giữa Trung -Việt. Một chiến lược giảm thiểu can thiệp của Mỹ trong cuộc xung đột biên giới đất liền có thể là lựa chọn tốt nhất đối với Mỹ. Hoa Kỳ có lợi ích chiến lược và kinh tế tối thiểu ở nhiều nước Đông Nam Á; biên giới đất liền Trung -Việt không quan trọng đáng cho nền kinh tế Mỹ, và Washington đã cho phép các đối tác khác ở châu Á giải quyết tranh chấp biên giới mà không cần sự can dự.
Tuy nhiên, một chiến lược để tránh sự tham gia xung đột vùng biên giới trên đất liền giữa hai nước Trung – Việt có thể dễ dẫn đến trường hợp Trung Quốc hành động quả quyết hơn trong khu vực khi Việt Nam xử lý thất bại. Nói cách khác, “Mỹ tránh một cuộc xung đột đất liền sẽ khuyến khích sự quyết đoán của Trung Quốc tại Đông Nam Á,” bao gồm vùng biển.
Lựa chọn tháo ngòi khủng hoảng 
Hoa Kỳ có thể sử dụng một số biện pháp phòng ngừa để tháo ngòi một cuộc khủng hoảng quân sự. Các tùy chọn này, mặc dù bị hạn chế bởi thực tế Việt Nam không phải là một đồng minh theo hiệp ước và rằng mối quan hệ Mỹ-Trung vẫn còn tranh cãi về tính hợp tác.
Hợp tác: Khuyến khích Hà Nội và Bắc Kinh sử dụng đường dây nóng và các cuộc họp cấp cao, và thúc giục đối tác Việt Nam tổ chức ngay lập tức các cuộc họp với các nhà lãnh đạo cấp cao Trung Quốc.
Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam đã thiết lập một đường dây nóng vào năm 2013, để các nhà lãnh đạo hàng đầu có thể nói chuyện trực tiếp với nhau, nhưng có vẻ cả hai chính phủ đã bỏ qua công cụ này trong cuộc khủng hoảng tháng 5 năm 2014. Ngoài ra, hai nước từ chối triệu tập một cuộc họp của cấp cao Việt Nam và các nhà lãnh đạo Trung Quốc trong tháng đó.
Nếu bế tắc khác xảy ra ở Biển Đông, qua diễn tập quân sự của Việt Nam, hoặc dọc theo biên giới Trung -Việt, Washington có thể khuyến khích cả Hà Nội và Bắc Kinh sử dụng đường dây nóng ngay lập tức; mặc dù Việt Nam không là đồng minh, nhưng Hoa Kỳ có lẽ có ảnh hưởng nhiều với Hà Nội hơn bất cứ yếu tố bên ngoài nào khác.
Triệu tập phiên họp Hội đồng Bảo an khẩn cấp của Liên Hợp Quốc 
Nếu một cuộc khủng hoảng quân sự Trung -Việt xảy ra, Hoa Kỳ nên thúc giục Tổng thư ký LHQ triệu tập một phiên họp khẩn cấp. ASEAN có thể không đảm nhiệm hòa giải các cuộc khủng hoảng liên quan đến Hà Nội vì Tổng thư ký ASEAN hiện nay là một nhà ngoại giao Việt Nam. Triệu tập một cuộc họp của Hội đồng Bảo an LHQ sẽ tạo điều kiện cho cả hai quốc gia đối đầu ngồi cùng bàn và nói chuyện với nhau. Hoa Kỳ và các quốc gia khác có thể thúc đẩy sự ra đời Nghị quyết dừng xung đột hoặc chấp nhận sự trừng phạt, mặc dù Trung Quốc có thể sử dụng quyền phủ quyết của mình để ngăn chặn điều đó.
Cam kết tín hiệu Mỹ đến Việt Nam 
Nếu một cuộc khủng hoảng quân sự nổ ra từ sự quyết đoán chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông, hoặc phản ứng của Trung Quốc với diễn tập quân sự Mỹ-Việt. Thì Washington có thể gửi nhóm tàu ​​sân bay Mỹ vào vùng biển Đông để thúc giục các nhà lãnh đạo của Bắc Kinh ngồi lại với nhà lãnh đạo Việt Nam và tìm hướng giải quyết.
Kiến nghị 
Như vậy, chiến lược hiệu quả nhất của Mỹ nhằm giảm nguy cơ khủng hoảng quân sự Trung -Việt là tập hợp các nhóm giải pháp sau: sử dụng ASEAN để thúc đẩy niềm tin đa phương trong khu vực Biển Đông, cho ra đời các văn bản và hướng dẫn rõ ràng nhằm giải quyết tranh chấp hàng hải, làm rõ chính sách của Mỹ liên quan đến các hiệp ước đồng minh và tuyên bố Biển Đông, tăng cường khả năng phòng thủ của Việt Nam và các đối tác Đông Nam Á khác để ngăn chặn hiệu quả hành vi chủ quyền càng quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông, và giảm thiểu sự tham gia của Mỹ trong bất kỳ cuộc xung đột biên giới đất liền nào giữa Trung Quốc-Việt Nam.
Mặc dù chiến lược Mỹ áp dụng nhằm mở rộng quan hệ đối tác với Việt Nam là “chính sách ngăn chặn” Trung Quốc, nhưng Hoa Kỳ cần phải nhấn mạnh rằng đó không phải là tìm cách ngăn chặn thế sự trỗi dậy của Trung Quốc trong khu vực châu Á, bằng chứng là:
– Tăng cường khả năng hòa giải của ASEAN. Khi Tổng thư ký ASEAN không còn là người Việt vào năm 2018, ASEAN có thể đóng vai trò trung gian giữa Trung Quốc và Việt Nam. Việt Nam cũng đang cố gắng đóng vai trò lãnh đạo của ASEAN. Hoa Kỳ nên khuyến khích hòa giải từ Tổng thư ký ASEAN và giúp tăng cường năng lực của Ban thư ký ASEAN cho các trường hợp xung đột hòa giải. Hoa Kỳ cần phải cung cấp từ 2 triệu và 4 triệu đô-la viện trợ hàng năm để giúp Viện Hòa bình và Hòa giải về năng lực làm việc, kỹ năng làm trung gian các cuộc xung đột (như Na Uy) trong khu vực Đông Nam Á.
– Khuyến khích Trung Quốc và Việt Nam thực hiện nghiêm túc biên bản ghi nhớ để giải quyết các tranh chấp hàng hải. Mỹ nên khuyến khích cả hai bên nối lại đàm phán thỏa thuận các quy tắc xử lý tranh chấp hàng hải.
– Mã giai quyết xung đột Biển Đông là một ưu tiên của các quan chức ngoại giao Mỹ. Mỹ, bao gồm cả Tổng thống Barack Obama, nên tiến hành cuộc viếng thăm khu vực để chứng minh Mỹ sẽ hỗ trợ cho các cuộc đàm phán Trung Quốc-ASEAN, tiến tới thiết lânhj một “mã biển Đông” nhằm giải tỏa xung đột.
– Làm rõ vị trí của Mỹ trong bảo vệ các đối tác ở Biển Đông. Hoa Kỳ nên công khai xác định rõ hơn các cam kết của Mỹ để bảo vệ Philippines tại khu vực tranh chấp nếu đồng minh bị tấn công vô cớ.
– Mở rộng mối quan hệ quốc phòng Mỹ-Việt Nam. Hoa Kỳ cần phải nhiều việc để tàu hải quân Mỹ tiếp cận vịnh Cam Ranh và tăng số lượng các chương trình đào tạo cán bộ cấp cao của Việt Nam, để chuẩn bị cho cuộc tập trận hải quân Mỹ-Việt trong tương lai. Đẩy mạnh đào tạo có thể được thực hiện bằng cách tăng gấp đôi số lượng người việc được học trong Viện Giáo dục Quốc tế Hoa Kỳ và các chương trình đào tạo năm 2020. Và bằng cách mời các cán bộ cấp cao Việt Nam tham gia cuộc diễn tập quân sự quốc tế như Cobra Gold được tổ chức tại Thái Lan. Hoa Kỳ cũng nên tăng cường bán vũ khí sát thương sang Việt Nam, mặc dù cần phải giới hạn số lượng đối với hải quân và không quân. Chính quyền Obama có thể thiết lập một nhóm làm việc liên ngành để phê duyệt lượng vũ khí hằng năm và kiểm soát các vũ khí này không nhằm vào việc đàn áp người dân Việt Nam.
– Tăng cường mối quan hệ với các đối tác Đông Nam Á khác. Hoa Kỳ cần tăng cường răn đe ở Biển Đông bằng cách mở rộng hơn nữa mối quan hệ của Mỹ với Singapore và Philippines. Trong đó, tăng qui mô cuộc tập trận chung Mỹ-Philippines Balikatan hàng năm từ khoảng 11.000 người lên 20.000 người vào năm 2020, và với Singapore, Hoa Kỳ nên, tiếp cận bí mật với chính phủ nước này trong việc ký kết một liên minh hiệp ước chính thức.
– Gửi tín hiệu đến Hà Nội, rằng Hoa Kỳ là không được chuẩn bị để mở rộng hợp tác trong giải quyết xung đột biên giới đất liền. Hoa Kỳ cần phải báo hiệu cho Hà Nội rằng sự hợp tác chiến lược Mỹ-Việt sẽ không bao gồm các vấn đề biên giới trên bộ, trừ trường hợp Việt Nam bị tấn công vô cớ



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Chúc Mừng Năm Mới 2026 [01.01.2026 19:26]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 181 lần]
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 177 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 163 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 162 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 38 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 30 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.