Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Năm 2026
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 5
 Lượt truy cập: 29135481

 
Khoa học kỹ thuật 17.05.2026 18:56
Bộ trưởng Quốc phòng VN người Việt gốc Hoa Phùng Quang Thanh nói quan hệ Việt-Trung vẫn tốt đẹp 16 chữ vàng 4 tốt
01.06.2014 02:44


Bộ trưởng Quốc phòng VN Phùng Quang Thanh
Bộ trưởng Quốc phòng VN người Việt gốc Hoa đề nghị Trung Quốc 'rút giàn khoan' và 'đàm phán'.
Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam nói quan hệ Việt-Trung vẫn "phát triển tốt đẹp" và so sánh xung đột hiện nay trên Biển Đông với 'mâu thuẫn gia đình'.


Phát biểu trên được ông Phùng Quang Thanh đưa ra trong phiên họp toàn thể vào trưa ngày 31/5 tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore.
Trong bài phát biểu được truyền thông trong nước đăng toàn văn, ông Thanh nói:
"Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi."
"Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông và đôi khi cũng có những va chạm gây căng thẳng".
"Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông và đôi khi cũng có những va chạm gây căng thẳng"
Ông Phùng Quang Thanh
Ông Thanh gọi việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trên vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền là hành động "gây bức xúc cho nhân dân Việt Nam, gây lo ngại cho các quốc gia trong khu vực và cộng đồng quốc tế."
"Chúng tôi đề nghị Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam và cùng Việt Nam đàm phán để giữ được hòa bình ổn định và quan hệ hữu nghị hai nước."
Ông Thanh khẳng định phía Việt Nam "nhất quán chủ trương kiên trì giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế".
"Để kiểm soát và giảm thiểu các nguy cơ xung đột, chúng ta nên phát huy có hiệu quả các cơ chế hợp tác cả song phương và đa phương," ông nói.
"Trong quá trình giải quyết các vấn đề mâu thuẫn, bất đồng cần phải được công khai, minh bạch trước cộng đồng quốc tế, tránh sự hiểu lầm hoặc gây hoài nghi cho dư luận."

'Quân đội phải kiềm chế'

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam cho rằng quân đội Việt Nam, Trung Quốc cần "kiềm chế", "tăng cường hợp tác" và "kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động" để tránh có "hành động ngoài tầm kiểm soát".
Xung đột giàn khoan
Tướng Phùng Quang Thanh nói tàu Việt Nam 'không chủ động đâm va', 'phun vòi rồng'.
Về xung đột hiện nay xung quanh giàn khoan của Trung Quốc, ông Thanh khẳng định phía Việt Nam không sử dụng máy bay hay tàu quân sự mà chỉ "dùng tàu kiểm ngư, tàu cảnh sát biển và tàu cá của ngư dân, phối hợp với lực lượng chấp pháp để bảo vệ chủ quyền."
Ông cũng nói tàu Việt Nam "không chủ động đâm va, không phun vòi rồng vào các tàu của Trung Quốc".
"Vấn đề là lãnh đạo cấp cao của các nước nên cần hết sức bình tĩnh, kiềm chế, đặt lợi ích của quốc gia trong lợi ích của khu vực và quốc tế; lựa chọn giải pháp hòa bình thông qua đàm phán ngoại giao để giữ gìn quan hệ hữu nghị giữa các nước."
"Trong giải quyết bất cứ một mâu thuẫn hay tranh chấp nào, các bên liên quan cần phải tự kiềm chế, bình tĩnh, nhận rõ bản chất vấn đề thật khách quan và rất thận trọng đưa ra các quyết định."
"Chỉ cần một sai lầm nhỏ cũng có thể làm cho căng thẳng trở thành xung đột."
"Trong giải quyết bất cứ một mâu thuẫn hay tranh chấp nào, các bên liên quan cần phải tự kiềm chế, bình tĩnh, nhận rõ bản chất vấn đề thật khách quan và rất thận trọng đưa ra các quyết định. Chỉ cần một sai lầm nhỏ cũng có thể làm cho căng thẳng trở thành xung đột"
Ông Phùng Quang Thanh
Hôm thứ Bảy, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đưa ra lời cáo buộc Trung Quốc "gây bất ổn" trên Biển Đông và gọi đây là hành động 'đe dọa quá trình phát triển' của khu vực về dài hạn.
Ông Chuck Hagel cũng nói Hoa Kỳ sẽ "không làm ngơ" khi các nước khác phớt lờ luật pháp quốc tế. Ông Hagel đưa ra phát biểu trên tại cuộc hội nghị an ninh kéo dài trong ba ngày với sự tham gia của Hoa Kỳ và các quốc gia Đông Nam Á.
Tối hôm thứ Sáu, phát biểu tại Đối thoại Shangri-La với tư cách một diễn giả chính, Thủ tướng Nhật Bản, ông Shinzo Abe nói Tokyo sẽ “ủng hộ tối đa” cho các nước Đông Nam Á, trong đó có một số nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc.
“Tất cả các nước cần tôn trọng luật pháp quốc tế. Nhật sẽ ủng hộ tối đa cho nỗ lực của các nước ASEAN trong việc đảm bảo an ninh vùng biển và bầu trời, và triệt để duy trì tự do hàng hải và tự do hàng không," ông Abe nói. Nhật có kế hoạch đóng một vai trò lớn hơn và chủ động hơn so với thời điểm hiện nay để đảm bảo cho châu Á và thế giới được hòa bình hơn”, ông Abe nói tại diễn đàn an ninh cấp khu vực ở Singapore.

'Nói chung chung'

"Giới chức Việt Nam thường có thói quen nói chung chung và không đi vào cụ thể"
GS Carl Thayer
Trước đó, trong cuộc phỏng vấn với BBC hôm 30/5, giáo sư Carl Thayer, từ Học viện Quốc phòng Úc, đã cho rằng bài phát biểu của tướng Thanh ngày 31/5 "không có bất cứ ảnh hưởng nào đến tình hình hiện nay trên Biển Đông".
"Tôi đã nói chuyện với nhiều chuyên gia về Hoa Kỳ và Trung Quốc từ khi đến Singapore".
"Tất cả bọn họ đều cho rằng đây là một cuộc chơi mà Trung Quốc nắm chắc lợi thế và Bắc Kinh đang có những bước tính toán rất chính xác.
"Giới chức Việt Nam thường có thói quen nói chung chung và không đi vào cụ thể"
"Tướng Thanh có thể than phiền về một số hành động trên Biển Đông của Trung Quốc và đề cập tới khả năng mở đường dây nóng giữa hai nước, tăng cường trao đổi giữa các phái đoàn cấp cao,
"Và tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho tranh chấp hiện nay, ví dụ như kêu gọi sớm đi đến một Bộ quy tắc ứng xử (COC) trên Biển Đông".
"Tuy nhiên, tôi không cho rằng ông ta sẽ đi xa hơn thế", ông nói với BBC từ Singapore.

'Vai trò hòa giải?'

alt
Thủ tướng Shinzo Abe nói trong hội nghị Shangri-La rằng ông 'ủng hộ VN trong nỗ lực giải quyết tranh chấp thông qua đối thoại'.
Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.
Cũng hôm 30/5, một nhà quan sát từ châu Âu nói với BBC sự kiện Đối thoại Shangri-La 13 có thể là một dịp 'hữu ích' và 'kịp thời' để các bên trong vụ xung đột giàn khoan ở Biển Đông hiện nay và những ai quan tâm cùng xem xét lại vấn đề và có thể tìm kiếm giải pháp.
Giáo sư David Camroux từ Đại học Khoa học Chính trị Sciences-Po Paris, Pháp nói: "Tôi nghĩ đây là thời điểm hữu ích để nhìn nhận và cân nhắc một sự kiện hệ trọng liên quan tới một cuộc xung đột nghiêm trọng xảy ra, do đó Đối thoại Shangri-La đã diễn ra vào một thời điểm rất đúng lúc để tất cả các bên cùng ngồi xuống bình tĩnh,
"Tôi nghĩ Asean là một mẫu mực, không va chạm vào quyền lợi của nhau, không xâm lược nhau, không đánh chửi nhau, đấy là những điều nguyên tắc cơ bản của khối Asean"
GS. Jorg Thomas Engelbert
"Và nói rằng hãy xem xét và chúng ta sẽ không để cho tình hình lọt ra khỏi tầm tay của chúng ta, hay là chúng ta sẽ đưa ra các biện pháp có ý nghĩa để giải quyết vấn đề.
"Tôi không cho rằng Đối thoại sẽ đưa ra một giải pháp thật lớn lao cho một cuộc xung đột như vậy, thế nhưng như người ta vẫn nói 'hòa bình vẫn tốt hơn là chiến tranh' và do đó điều tốt hơn vẫn là đối thoại, đàm phán, để hiểu lập trường của nhau rõ ràng hơn, hơn là để cho một cuộc xung đột xảy ra rồi lên cao."
Trong khi đó, một học giả từ Đại học Hamburg của CHLB Đức hôm thứ Sáu nói với BBC cho rằng nếu Việt Nam và Trung Quốc cần đến một nhà 'trung gian, hòa giải', thì vai trò đó sẽ phù hợp với Asean.
Giáo sư Jorg Thomas Engelbert nói: "Tôi nghĩ Asean là một mẫu mực, không va chạm vào quyền lợi của nhau, không xâm lược nhau, không đánh chửi nhau, đấy là những điều nguyên tắc cơ bản của khối Asean.
"Và từ lâu Asean cũng cố gắng áp dụng những điều lệ này với quan hệ với các cường quốc bên ngoài, nhất là với Trung Quốc", nhà nghiên cứu nêu quan điểm.


Tiều sử-- Phùng Quang Thanh 
(Sinh 2 tháng 2 năm 1949 –) là một tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông mang quân hàm Đại tướng và là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (Việt Nam), Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X (2006), Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XI, XII[1], XIII.

Tiểu sử

Phùng Quang Thanh sinh tại xã Thạch Đà, huyện Mê Linh,Vĩnh Phúc nay là Mê Linh Hà Nội trong một gia đình họ Phùng gốc Hoa. Ông gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1967, tham gia chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị, Nam Lào trong chiến tranh Việt Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc. Năm 1968, ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1971, ông được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vì thành tích chiến đấu, lúc đang giữ chức vụ Đại đội trưởng, thuộc Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64, Sư đoàn 320B.

Tháng 6 năm 1971, ông được đi học tại trường Sĩ quan Lục quân. Năm 1972, trở lại chiến đấu, giữ chức Tiểu đoàn trưởng. Tháng 8 năm 1974, ông được đi học tại Học viện Quân sự (nay là Học viện Lục quân Đà Lạt).

Từ năm 1977 đến 1989, ông lần lượt giữ các chức vụ chỉ huy từ cấp Trung đoàn đến Sư đoàn. 8-1988 - 2-1989, ông là Sư đoàn trưởng Sư đoàn Bộ binh 312 Năm 1989, ông được cử đi học tại Học viện Quân sự Voroshilov (Liên Xô), năm sau về nước, học tại Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng Việt Nam).

Từ 8/1991- 8/1993, ông làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 312 lần thứ 2. Sau đó được điều về Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu giữ chức Phó Cục trưởng (1993), thăng quân hàm Thiếu tướng năm 1994 rồi Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu (1995).

Tháng 8 năm 1997, ông học lớp chính trị ngắn hạn tại Học viện Chính trị Quân sự. Tháng 12 năm 1997, ông được điều về giữ chức Tư lệnh Quân khu 1. Được thăng Trung tướng năm 1999

Từ tháng 5 năm 2001 đến tháng 8 năm 2006(thăng Thượng tướng năm 2003), ông giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (thay Trung tướng Lê Văn Dũng sang giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị), Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Năm 2006, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Ngày 6 tháng 7 năm 2007, ông được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trao quân hàm Đại tướng.

Ông kiêm chức chủ tịch Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm và Cứu nạn.

Ông là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ khoá IX (2001), là ủy viên Bộ Chính trị từ khóa X (2006), khóa XI (2011).
Lịch sử thụ phong quân hàm
Năm thụ phong 1994 1999 2003 2007
Cấp bậc Thiếu Tướng Trung Tướng Thượng Tướng Đại Tướng
Thành tích

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 20/9/1971.
Huân chương Chiến công hạng nhất, hạng nhì, hạng ba.
Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất.
Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng ba.
Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, hạng nhì, hạng ba.
Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng nhất, hạng nhì, hạng ba.
Huy chương Quân kỳ Quyết thắng



Con của Phùng Quang Thanh được cha thăng chức đại tá lúc trên 30 tuổi, là bạn của bầu Kiên

Cha là Phùng Quang Thanh làm Bộ trưởng quốc phòng (UVBCT), con làm tổng giám độc công ty xây dựng của quân đội... Đại tá Phùng Quang Hải.

Đại tá Phùng Quang Hải - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng Công ty 319 Bộ Quốc phòng là một trong số những “thủ lĩnh”trẻ nhất của các doanh nghiệp quân đội trực thuộc Bộ Quốc phòng hiện nay. Anh sinh năm 1974, nhập ngũ năm 1991. Đầu năm 2009, Phùng Quang Hải được giao trọng trách Giám đốc Công ty Xây dựng 319 - Quân khu 3, khi đó anh mới ở tuổi 35. Hơn một năm sau, tháng 5-2010, thực hiện chủ trương sắp xếp đổi mới doanh nghiệp, Công ty Xây dựng 319 chuyển thành Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên 319, Phùng Quang Hải tiếp tục được giao trọng trách Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng Giám đốc; sau đó (tháng 1-2011), anh thôi kiêm chức Tổng Giám đốc. Tháng 8 năm 2011, Công ty TNHH một thành viên 319 được tổ chức lại thành Tổng công ty 319 và chuyển từ Quân khu 3 về trực thuộc Bộ Quốc phòng, Phùng Quang Hải tiếp tục được bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Là người “thủ lĩnh” của một doanh nghiệp trong quân đội, Đại tá Phùng Quang Hải luôn xác định, việc thực hiện sản xuất kinh doanh (SXKD) phải đúng hướng, đúng pháp luật, không ngừng nâng cao doanh thu, lợi nhuận, hiệu quả SXKD; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động; đóng góp ngân sách theo đúng quy định và thực hiện tốt các hoạt động xã hội, hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” và chính sách hậu phương quân đội. Đặc biệt, trong thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trên cương vị Bí thư Đảng ủy, anh đã cùng với Thường vụ Đảng ủy Tổng công ty quán triệt sâu sắc và xác định những nội dung trọng tâm cần thực hiện. Trước hết là phải tập trung lựa chọn giải quyết những khâu yếu, mặt yếu, những vấn đề nổi cộm trong lĩnh vực chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống, xác định thời gian khắc phục, kiên quyết không để trì trệ kéo dài… Bản thân anh luôn là người đi đầu, gương mẫu cả trong lời nói lẫn việc làm. Qua đó đã phát huy được vai trò, tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì. Anh luôn coi trọng kỷ luật, kỷ cương, khách quan công tâm trong xem xét giải quyết các vấn đề, nên đã có những chuyển biến rõ rệt. Nhiều vấn đề trước đây khó giải quyết như tồn đọng về tài chính đến nay đã được giải quyết hiệu quả. Anh khẳng định: “Việc học tập Bác, chúng tôi xác định phải như “rửa mặt hằng ngày”, không phải đợi đến lúc sinh hoạt mới đem ra phê bình, do đó những việc làm chưa đúng đều được nhắc nhở, chấn chỉnh và xử lý kịp thời”.

Đại tá Phùng Quang Hải luôn là người quản lý biết đặt lợi ích của cán bộ, công nhân viên, người lao động, của tập thể đơn vị lên trên lợi ích cá nhân.. Anh luôn suy nghĩ rằng, tài sản quý nhất của doanh nghiệp là con người. Do đó anh luôn trăn trở, tìm các giải pháp, biện pháp để tháo gỡ khó khăn, đưa đơn vị đi lên. Trong điều kiện khó khăn như hiện nay, nhưng với tinh thần chủ động sáng tạo, dám nghĩ dám làm dám chịu trách nhiệm, bản thân anh đã chủ động đề xuất và khởi xướng chiến lược đổi mới, tái cấu trúc doanh nghiệp để phát triển Tổng công ty một cách toàn diện. Từ SXKD, cơ cấu tổ chức bộ máy, quy mô, ngành nghề, thị trường, đối tác, thương hiệu uy tín. Chủ trương ấy đã được mọi người đồng tình ủng hộ và được triển khai thực hiện một cách chặt chẽ, quyết liệt. Từ một đơn vị đang trong giai đoạn bị mất cân đối tài chính, vay nợ ngân hàng lớn, làm ăn kém hiệu quả (giai đoạn 2004 - 2008), nhưng từ năm 2009 đến nay, Tổng công ty 319 đã có bước phát triển mạnh mẽ, uy tín và thương hiệu không ngừng được giữ vững và khẳng định trên toàn quốc. Doanh thu hằng năm tăng từ 12 đến 35%; lợi nhuận tăng 22 đến 35%, trở thành doanh nghiệp có hệ số bảo toàn vốn nhà nước tốt so với mặt bằng chung; đứng trong tốp doanh nghiệp quân đội về lợi nhuận, tăng trưởng; trong đó có những lĩnh vực đứng đầu toàn quân như dò mìn, xử lý bom mìn, vật nổ, khắc phục hậu quả sau chiến tranh…

Đối với doanh nghiệp, cán bộ đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì phải thường xuyên tiếp xúc với lĩnh vực nhạy cảm như tài chính, ngân hàng, vật tư… rất dễ nảy sinh tiêu cực. Thấm nhuần tư tưởng, tấm gương đạo đức của Bác: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, Đại tá Phùng Quang Hải đã thường xuyên gương mẫu đi đầu trong thực hành tiết kiệm, đồng thời phát động toàn Tổng công ty. Cụ thể như tiết kiệm từ các hoạt động và hội nghị tổng kết cuối năm không tặng quà mà sử dụng số tiền đó vào giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn đã được mọi người ủng hộ…

Song song với việc thực hành tiết kiệm, bản thân anh cùng với Thường vụ Đảng ủy, các cơ quan chức năng của Tổng công ty đã kiên quyết xử lý các trường hợp sai phạm, nhất là những trường hợp tồn đọng về tài chính của nhiều tập thể và cá nhân. Riêng trong năm 2012 đã xử lý và thu hồi được 15, 798 tỉ đồng. Tất cả các trường hợp vi phạm đều được xem xét chặt chẽ, đúng quy trình, nguyên tắc thủ tục, phân tích rõ nguyên nhân chủ quan khách quan, quy rõ trách nhiệm cá nhân, tập thể, có hình thức kỷ luật đúng mức. Bên cạnh đó, người vi phạm còn phải chịu trách nhiệm bồi hoàn tiền cho đơn vị do liên quan đến trách nhiệm cá nhân.

Từ những kết quả trong lãnh đạo chỉ đạo hoạt động nói trên, dấu ấn của Tổng công ty 319 đã in đậm trên các công trình khắp mọi miền Tổ quốc bởi chất lượng luôn là thước đo niềm tin của các đối tác với Tổng công ty. Đặc biệt, với trên 31.000ha bị ô nhiễm bom mìn đã được giải phóng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, xã hội, cơ sở hạ tầng cho nhiều địa phương trong cả nước; hay các dự án xây nhà ở cho người có thu nhập thấp… đã và đang làm sáng dang thương hiệu 319. Đại tá Phùng Quang Hải vui mừng “bật mí” kết quả SXKD của Tổng công ty 319 đã có bước phát triển mới: Năm 2011 doanh thu là trên 2.800 tỉ đồng, lương bình quân người lao động là 4,279 triệu đồng/người/tháng; năm 2012 là trên 3.000 tỉ đồng, lương bình quân đạt 6,239 triệu; năm 2013 này, mặc dù tiếp tục phải chịu tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng Tổng công ty vẫn quyết tâm đạt doanh thu trên 3.700 tỉ đồng. Chúng tôi hiểu, những con số trên đây có đóng góp không nhỏ của người “thủ lĩnh” – Đại tá Phùng Quang Hải.

Với những thành tích đã đạt được trong thực hiện nhiệm vụ chính trị nói chung và Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” nói riêng, Tổng công ty 319 và cá nhân Đại tá Phùng Quang Hải đã vinh dự nhận được nhiều phần thưởng cao quý. Đối với Tổng công ty, được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba (2010); Chính phủ và Bộ Quốc phòng tặng Cờ thi đua (2012). Đại tá Phùng Quang Hải vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng hai Huân chương Lao động (hạng Nhì, hạng Ba); Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Bộ Quốc phòng và Bộ Tư lệnh Quân khu 3 tặng Danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở. Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam bình chọn là doanh nhân trẻ tiêu biểu Việt Nam năm 2011 và được tặng Giải thưởng Sao Đỏ… Cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.


Nguy cơ lớn nhất của Việt Nam hiện nay 

 Tình báo người Tàu ở Việt Nam và đám Việt gian, là nguy cơ .... hiện nay. Nếu như không nắm và khống chế được bọn này, thì rất có thể, Bắc Kinh sẽ thực hiện một cuộc đảo chính để lập nên chính phủ bù nhìn, ôm gót chân Bắc Kinh trong thời gian tới. 
Những nguy cơ của Việt Nam hiện nay là:
 
1. Một nền kinh tế, chính trị, ngoại giao phụ thuộc gần như toàn diện vào China
2. Nền kinh tế có nguy cơ phá sản, do sản xuất trong nước không phát triển được, không cạnh tranh lại với hàng China, thâm thủng mậu dịch với China quá lớn, tính ra năm 2013 là hơn 20 tỷ USD. Nếu cộng từ 5 năm trước lại, thì có thể thâm hụt thương mại Việt Nam so với China (tức còn nợ China) khoảng 50 tỷ USD. Chưa kể các khoản vay ODA cho các công trình trọng điểm quốc gia mà China trúng thầu đến 90%. Có thể tổng nợ của Việt Nam so với China vào khoảng 70 đến 80 tỷ USD. Đào đâu ra tài nguyên, khoáng sản để trả và trả bao giờ cho hết số nợ ấy? (tôi dự đoán rằng, tổng nợ nước ngoài của Việt Nam hiện nay khoảng hơn gấp đôi số nợ China nói trên, tức khoảng 170 đến 200 tỷ USD). Qua đây cho thấy, chỉ cần Bắc Kinh “húng hắng ho” là Hà Nội đã xanh mặt, cho nên liên tục nhượng bộ Bắc Kinh. 
3. Tệ nạn tham nhũng kéo dài vài chục năm nay đã làm suy kiệt mọi nguồn lực. Gần như tất cả các bộ, ngành, địa phương đều nghĩ cách để khai thác tài nguyên nhằm vơ vét khi có chức, có quyền để còn kịp hạ cánh. Rừng hầu như đã bị phá hết (trừ một số rừng quốc gia); chỗ nào có khoáng sản đều được truy tìm để khai thác, kể cả đá và cát trong xây dựng cũng vậy…
4. Văn hóa đã ở mức suy đồi, đạo đức xã hội đã bị băng hoại, đang nằm ở đáy. Cơ quan công quyền hống hách, khinh dân. Đến các cơ quan công quyền, bệnh viện,… Nhân Dân phải nghĩ đến phong bì…; cứ nhìn các tấm ảnh công an đánh người thâm tím đến chết trong nhiều vụ án mà thất kinh, ngoài sức tưởng tượng 
5. Mâu thuẫn giữa Đảng cầm quyền, Chính quyền với Nhân Dân gần như đã trở thành đối kháng. Và ta dễ nhận thấy, Đảng CSVN đã và đang xem Nhân Dân Việt Nam là “thế lực thù địch”?! Việc không dám ban hành Luật biểu tình và cấm Nhân Dân biểu tình, là sự trả lời cho nhận định này. Đảng sợ “thế lực thù địch” lợi dụng biểu tình để lật đổ. 
6. Khả năng chiến tranh với China là rất lớn. Sự kiện giàn khoan HD-981 là điển hình. Nếu nhượng bộ thì sẽ tạo tiền lệ để China làm tới, sẽ tạo “vết dầu loang”; nếu căng quá thì có thể xẩy ra chiến tranh. Có vẻ như China đã động binh ở Biên giới phía Bắc (?!). Trong khi China cũng đã thuê đất ở Lào là 50-70 năm; với CPC giáp Việt Nam, họ đã thuê có nơi nghe đâu là 99 năm, chắc chắn họ đã thiết lập căn cứ quân sự rồi. Vậy là, Việt Nam tứ bề bị China bao vây. Trong đó nguy cơ từ phía biển là cực kỳ nguy hiểm. Tưởng tượng với vài ba chục nghìn chiếc tàu đánh cá có vũ trang đổ bộ bất ngờ vào một số cảng từ Thanh Hóa trở vào, và ở một số địa phương ven biển, thì tình hình sẽ rối loạn ngay từ đầu. 
Về mọi mặt, nếu xẩy ra chiến tranh với China, và nếu như không có sự giúp đỡ của Mỹ, Nhật, thì chắc chắn đến 80% Việt Nam sẽ thua, và mất khoảng một nửa Biển theo cuộc chiến này. Hơn ai hết, Bắc Kinh đang rất cân nhắc kỹ sự thiệt hơn trong việc gây chiến lần này. 
Trên đây là 6 nguy cơ lớn, nhưng chưa phải là lớn nhất, quan trọng nhất. Vậy còn lại là nguy cơ nào?
Xin trả lời, đó là: VIỆT GIAN! 
Việc để mất các điểm cao ở huyện Thanh Thủy, tỉnh Hà Giang, cũng như để mất Gạc Ma, trong thập niên 1980 cho thấy, hầu như Bắc Kinh đã cài cắm được người vào cấp cao nhất của Việt Nam ở thời điểm đó. .
Vụ các quan chức cấp cao người Lào bị tai nạn hôm tháng 17.5.2014 vừa rồi là bài học cảnh giác dễ thấy về người Tàu đã lũng đoạn Lào ở mức độ nào. Việt Nam cũng không khá hơn, hãy cảnh giác!
Những cuộc biểu tình bị lợi dụng ở Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Áng, hôm 14 và 15 tháng 5 vừa rồi, mà báo chí, cũng như cộng đồng mạng đưa tin, bình luận… cũng cho thấy, tình báo China đã cài được vào lực lượng an ninh Việt Nam. 
Tóm lại: Tình báo người Tàu ở Việt Nam và đám Việt gian, là nguy cơ lớn nhất của Việt Nam ở giai đoạn hiện nay. Nếu như không nắm và khống chế được bọn này, thì rất có thể, Bắc Kinh sẽ thực hiện một cuộc đảo chính để lập nên chính phủ bù nhìn, ôm gót chân Bắc Kinh trong thời gian tới.

Thư ngỏ về tình hình khẩn cấp của đất nước

Kính gửi đồng bào Việt Nam ở trong nước và nước ngoài,
cùng toàn thể các đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ đầu tháng 5 năm 2014, Trung Quốc huy động nhiều loại tàu, đặc biệt là tàu vũ trang, tàu quân sự và cả máy bay yểm trợ cho việc đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 tại vị trí ở sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, xâm hại tàu, thuyền của ngư dân và tàu công vụ của Việt Nam hoạt động ở vùng biển này. Đó là hành vi xâm lược bằng vũ lực, ngang nhiên vi phạm luật pháp và các cam kết quốc tế mà chính Trung Quốc đã ký kết, đánh dấu một bước leo thang mới rất nguy hiểm của thế lực bành trướng Trung Quốc trong mưu đồ lấn chiếm Biển Đông, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, uy hiếp chủ quyền của một số nước khác tiếp giáp Biển Đông và đe dọa trực tiếp hòa bình, an ninh, an toàn hàng hải trong khu vực. Hành động này, cùng với thái độ ngoan cố, xuyên tạc sự thật trước sự phản đối của dư luận quốc tế, đã phơi trần dã tâm bành trướng của nhà cầm quyền Trung Quốc, phản bội quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt-Trung.
Tình thế hiểm nghèo khi chủ quyền quốc gia bị xâm phạm đòi hỏi phải phân tích, dự báo diễn biến và có đối sách chủ động ứng phó. Trách nhiệm này được đặt ra trước hết cho cơ quan lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), đảng đang cầm quyền. Mấy ngày sau khi Trung Quốc đặt giàn khoan, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI của ĐCSVN đã họp trong 7 ngày (từ 8/5 đến 14/5 năm 2014) song không đáp ứng yêu cầu nêu trên. Phát biểu khai mạc và bế mạc của Tổng Bí thư Đảng CSVN cũng như thông báo của Hội nghị khi kết thúc đều không lên án, phân tích và đề ra đối sách chống lại mưu đồ và hành động xâm lược mới của thế lực bành trướng Trung Quốc. Như vậy, khi đất nước đối mặt với nguy cơ lớn, Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN, trước hết là Tổng Bí thư và Bộ Chính trị đã buông lơi trách nhiệm của mình đối với nước, với dân.
Trước dã tâm của nhà cầm quyền Trung Quốc, nhân dân muốn bày tỏ ý chí chống xâm lược, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nhưng các cuộc biểu tình ôn hòa trong mấy năm qua đều bị nhà cầm quyền trấn áp. Sau “vụ giàn khoan,” các cuộc biểu tình yêu nước của dân vẫn không được chính quyền ủng hộ, mà còn dùng nhiều hình thức ngăn trở, phá đám nên không đạt quy mô và hiệu quả thể hiện đúng sự phẫn nộ và đoàn kết của 90 triệu dân Việt trước kẻ xâm lăng. Nghiêm trọng hơn nữa là sự mất cảnh giác và tình trạng đột ngột tê liệt đến khó hiểu của nhà cầm quyền và các lực lượng an ninh để cho những phần tử xấu chen vào các cuộc biểu tình kích động bạo động phá hoại ở một số nơi, gây thiệt hại cho một số doanh nghiệp nước ngoài, cho nền kinh tế và cho uy tín quốc gia. Dư luận chưa được biết chính xác ai đứng sau những vụ kích động có chủ đích này, song thấy rõ một điều là nhà cầm quyền Trung Quốc đã lập tức thổi phồng những cuộc bạo động này để làm mờ hành vi xâm lược ở Biển Đông và bôi xấu hình ảnh Việt Nam. Các cấp chính quyền nước ta trong khi trợ giúp các doanh nghiệp bị thiệt hại, trấn an các nhà đầu tư nước ngoài, lại lấy các sự cố đó làm cớ để ngăn chặn nhân dân tiếp tục biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược.
Tình thế hiểm nghèo của đất nước hiện nay vừa thách thức nghiêm trọng, vừa tạo cơ hội lớn cho dân tộc ta chấn hưng đất nước theo con đường dân tộc và dân chủ, trước hết là giải tỏa nhận thức mơ hồ về thế lực bành trướng Trung Quốc, thấy rõ sự xâm nhập, lũng đoạn bằng nhiều thủ đoạn tinh vi và thâm độc của thế lực này trên nhiều mặt mà nước ta phải phấn đấu để thoát khỏi sự phụ thuộc, xây dựng quan hệ láng giềng hòa bình, hữu nghị trên cơ sở tự chủ, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.
Dư luận xã hội ghi nhận và ủng hộ những quan điểm và hành động tích cực trong thời gian gần đây của không ít người có trách nhiệm trong bộ máy cầm quyền ở các ngành, các cấp trước mưu đồ bành trướng của Trung Quốc. Trong những biểu hiện đó, nổi lên lời phát biểu của Thủ tướng tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN họp ngày 11-5, tại hội nghị Diễn đàn kinh tế thế giới khu vực Đông Á ngày 22-5, đặc biệt là lời khẳng định “Việt Nam nhất định không chịu đánh đổi chủ quyền thiêng liêng để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”, thể hiện đúng ý chí của nhân dân ta.
Tình hình hiện nay đòi hỏi và tạo cơ sở cho các cán bộ, đảng viên trung thành với tâm nguyện vì dân vì nước cùng với nhân dân vạch rõ và đấu tranh không khoan nhượng chống lại những quan điểm và thái độ nhu nhược đối với kẻ xâm lược, dùng bạo lực, lừa mị đối với dân, lo mất chức quyền hơn mất nước của một số người lãnh đạo ở cơ quan Trung Ương và các cấp, đặc biệt là những kẻ có quan hệ mờ ám với nhà cầm quyền Trung Quốc. Những nhân tố tích cực trong giới cầm quyền cần thoát khỏi sự khống chế và kìm hãm lâu nay, gắn bó mật thiết với dân để cùng nhân dân thúc đẩy cải cách chính trị, chuyển đổi thể chế từ toàn trị sang dân chủ một cách ôn hòa, gắn với cải cách kinh tế, văn hóa, giáo dục, đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng toàn diện và sâu sắc hiện nay, mở ra một trang mới trong lịch sử dân tộc. Chỉ có như vậy chúng ta mới tập hợp, đoàn kết được toàn dân tộc và thu hút được sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của nhân loại tiến bộ để có đủ sức mạnh bảo vệ và phát triển đất nước.
Không một thủ đoạn lừa bịp, hăm dọa hay bạo lực nào từ bên ngoài có thể khuất phục được ý chí bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta!
Không một sự lừa mị, một hành động trấn áp nào có thể lung lạc được tinh thần yêu nước của nhân dân!
Chúng tôi tin tưởng rằng cuộc đấu tranh nêu trên của những đảng viên vì nước vì dân của Đảng CSVN sẽ được nhân dân nhiệt tình ủng hộ, góp sức. Mọi người Việt Nam hãy đồng lòng kiên quyết đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia bằng nhiều hình thức thể hiện rõ tính chính nghĩa và nhân văn, hết sức cảnh giác trước những thủ đoạn kích động của thế lực bành trướng Trung Quốc và tay sai, hết lòng cổ vũ, hỗ trợ các chiến sĩ bảo vệ biển đảo và ngư dân bám biển, đồng thời góp phần tích cực thúc đẩy cải cách chính trị, xây dựng nền dân chủ và pháp trị thực sự, đổi mới và phát triển kinh tế, văn hóa để bảo vệ chủ quyền, đưa đất nước thoát khỏi lệ thuộc và tụt hậu.
Chúng tôi mong nhận được sự đồng tình, hưởng ứng của đồng bào ở trong và ngoài nước cùng với nhiều đảng viên ĐCSVN, thể hiện trước hết bằng việc ký thư ngỏ này và vận động nhiều người khác tham gia.
Để ký tên xin ghi rõ: (1) họ tên; (2) nghề nghiệp; (3) địa chỉ cư trú (mức thành phố, tỉnh); (4) nước nơi đang cư trú; và gửi về địa chỉ thungovn2014@gmail.com
 
 
Những người ký tên đầu tiên
  1. Phạm Xuân Yêm, nguyên Giám đốc Nghiên cứu Khoa học (CNRS), Đại học Pierre et Marie Curie, Paris, Pháp
  2. Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử, Huế
  3. Tô Nhuận Vỹ, nhà văn, Huế
  4. Nguyễn Trọng Vĩnh, Thiếu tướng, Hà Nội
  5. J.B Nguyễn Hữu Vinh, kỹ sư, blogger, nhà báo tự do, Hà Nội
  6. Dương Tường, nhà thơ – dịch giả, Hà Nội
  7. Hoàng Minh Tường, nhà văn, Hà Nội
  8. Trần Thị Tươi, làm biên tập website, TP HCM
  9. Hoàng Tụy, GS, Viện Toán học, Hà Nội
  10. Nguyễn Đức Tùng, M.D., Canada
  11. Vũ Quốc Tuấn, nguyên trợ lý Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội
  12. Tô Văn Trường, TS, chuyên gia tài nguyên nước và môi trường, TP HCM
  13. Nguyễn Trung, nguyên trợ lý cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội
  14. Phạm Đình Trọng, nhà văn, TP HCM
  15. Nguyễn Thị Khánh Trâm, nghiên cứu viên về văn hóa, TP HCM
  16. Phạm Toàn, nhà giáo nghỉ hưu, Hà Nội
  17. Nguyễn Minh Tịnh, Australia
  18. Phan Văn Thuận, Giám đốc công ty TNHH Phú An Định, TP HCM
  19. Nguyễn Thị Thu, cán bộ nghỉ hưu, TP HCM
  20. Đào Tiến Thi, ThS, nhà giáo, nhà văn, nhà nghiên cứu ngôn ngữ, Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội
  21. Lê Thân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên cán bộ phong trào đấu tranh của nhân dân, sinh viên, học sinh tranh thủ dân chủ Thành phố Đà Lạt, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP HCM
  22. JM. Lê Quốc Thăng, linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
  23. Trần Minh Thảo, viết văn, Bảo Lộc, Lâm Đồng
  24. Trần Quang Thành, nhà báo, Slovakia
  25. Antôn Lê Ngọc Thanh, linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, Tổng Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
  26. Thân Hải Thanh, nguyên Tổng Giám đốc Benthanhtourist, TP HCM
  27. Trần Thị Băng Thanh, nghiên cứu văn học cổ Việt Nam, Hà Nội
  28. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM
  29. Trần Công Thạch, nhà giáo nghỉ hưu, Sài Gòn
  30. Nguyễn Hữu Tế, TP HCM
  31. Bùi Ngọc Tấn, nhà văn, Hải Phòng
  32. Đào Xuân Sâm, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội
  33. Trần Ngọc Sơn, kỹ sư, Pháp
  34. Tô Lê Sơn, kỹ sư cơ khí, TP HCM
  35.  André Menras Hồ Cương Quyết, cựu tù chính trị chế độ cũ, Cộng hòa Pháp
  36. Bùi Minh Quốc, nhà báo, nguyên Tổng Biên tập tạp chí Lang Bian, Đà Lạt
  37. Nguyễn Đăng Quang, Đại tá, nguyên cán bộ Bộ Công an, Hà Nội
  38. Đặng Bích Phượng, đã nghỉ hưu, Hà Nội
  39. Hiền Phương, nhà văn, TP HCM
  40. Huỳnh Sơn Phước, nhà báo, nguyên thành viên IDS, Hội An
  41. Hà Sĩ Phu, TS, nhà văn tự do, Đà Lạt
  42. Nguyễn Hữu Châu Phan, nhà nghiên cứu, Huế
  43. Nguyễn Văn Nhượng, kỹ sư, Thụy Sĩ
  44. Hồ Ngọc Nhuận, nguyên Chủ bút nhật báo Tin Sáng Sài Gòn, TP HCM
  45. Nguyễn Quang Nhàn, cán bộ công đoàn hưu trí, Đà Lạt
  46. Nguyễn Thái Nguyên, TS, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, Hà Nội
  47. Trần Đức Nguyên, nguyên Trưởng ban Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội
  48. Nguyễn Đình Nguyên, TS, Australia
  49. Hạ Đình Nguyên, hưu trí, TP HCM
  50. Nguyên Ngọc, nhà văn, Hội An – Hà Nội
  51. Nguyễn Xuân Nghĩa, TS, giảng viên, TP HCM
  52. Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM
  53. Trần Tố Nga, nhà giáo về hưu, Huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh của Pháp, hiện sống ở Paris
  54. La Thi Nga, sinh viên, CHLB Đức
  55. Ngô Minh, nhà thơ, Huế
  56. Phạm Gia Minh, TS Kinh tế, Hà Nội
  57. GBt. Huỳnh Công Minh, linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn, TP HCM
  58. Phan Đắc Lữ, nhà thơ, TP HCM
  59. Lê Thăng Long, kỹ sư, TP HCM
  60. Mai Thái Lĩnh, nhà giáo nghỉ hưu, nhà nghiên cứu độc lập, Đà Lạt, Lâm Đồng
  61. Hồ Uy Liêm, PGS TS, nguyên quyền Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội
  62. Cao Lập, hưu trí, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Giám đốc Làng Du lịch Bình Quới – Saigontourist
  63. Võ Thị Lan, cán bộ hưu trí (Công an TP- HCM), TP HCM
  64. Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải, nguyên Phó Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội
  65. Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, TP HCM
  66. Trần Minh Khôi, kỹ sư điện toán, Đức
  67. Vũ Trọng Khải, chuyên gia độc lập về phát triển nông thôn, TP HCM
  68. Hoàng Hưng, nhà thơ, nhà báo tự do, TP HCM
  69. Hà Thúc Huy, PGS TS, giảng dạy đại học, TP HCM
  70. Nguyễn Thế Hùng, GS TS ngành Thủy lợi, Phó Chủ tịch Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam, TP Đà Nẵng
  71. Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục giáo phận Vinh
  72. Tô Hòa, nguyên Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM
  73. Nguyễn Xuân Hoa, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin, nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Huế
  74. Hồ Hiếu, cựu tù Côn Đảo, nguyên chánh văn phòng Ban Dân vận Thành ủy, TP HCM
  75. Phạm Duy Hiển, GS, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
  76. Phạm Duy Hiển, kĩ sư, đã nghỉ hưu, Bà Rịa – Vũng Tàu
  77. Vũ Sinh Hiên, nhà nghiên cứu, TP HCM
  78. Nguyễn Công Hê, TP HCM
  79. Nguyễn Thị Thanh Hằng, dược sĩ, Pháp
  80. Võ Thị Hảo, nhà văn, Hà Nội
  81. Đặng Thị Hảo, TS, Hà Nội
  82. Nguyễn Gia Hảo, chuyên gia tư vấn (Kinh tế đối ngoại) độc lập, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ (Võ Văn Kiệt), trọng tài viên Trung tâm Trọng tài (Thương mại) Quốc tế Việt nam (VIAC), Hà Nội
  83. Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Hà Nội
  84. Nguyễn Tất Hanh, họa sĩ, nhà thơ, hội viên Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng
  85. Phạm Bá Hải, Ths Kinh tế, Sài Gòn
  86. Đặng Hạ, lão thành cách mạng, đã nghỉ hưu, Hà Nội
  87. Lê Minh Hà, nhà văn, Đức
  88. Lê Công Giàu, nguyên Tổng Thư ký Tổng hội Sinh viên Sài Gòn 1966, nguyên Giám đốc Trung Tâm xúc tiến thương mại đầu tư, TP HCM
  89. Nguyễn Ngọc Giao, nhà giáo về hưu, Pháp
  90. Nguyễn Hoàng Giao, nghiên cứu sinh tại Đại học Macquarie, Australia
  91. Trần Tiến Đức, nhà báo, đạo diễn truyền hình, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục – Truyền thông Ủy ban Quốc gia Dân số và Kế hoạch hóa Gia đình, Hà Nội
  92. Lê Mạnh Đức, hưu trí, TP HCM
  93. Huy Đức, nhà báo độc lập, TP HCM
  94. Uông Đình Đức, kỹ sư cơ khí đã nghỉ hưu, TP HCM
  95. Phạm Ngọc Đăng, GS TSKH, Nhà giáo Nhân dân, Hà Nội
  96. Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, TP HCM
  97. Nguyễn Đức Dương, nghiên cứu tiếng Việt, cán bộ nghỉ hưu, TP HCM
  98. Lê Đăng Doanh, TS Kinh tế, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ Tướng, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội
  99. Doãn Mạnh Dũng, kỹ sư Khai thác Vận tải biển, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hội Biển TP HCM, TP HCM
  100. Hoàng Dũng, PGS TS, Đại học Sư phạm TP HCM, TP HCM
  101. Nguyễn Xuân Diện, TS Ngữ văn, Hà Nội
  102. Nguyễn Trung Dân, nhà báo, TP HCM
  103. Phạm Công Cường, TS Hóa học, nguyên giảng viên Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, cán bộ Viện Nghiên cứu Năng lượng Nguyên tử Quốc gia, Hà Nội
  104. Tiêu Dao Bảo Cự, nhà văn tự do, Đà Lạt
  105. Ngô Thị Kim Cúc, nhà văn, nhà báo, TP HCM
  106. Tống Văn Công, nguyên Tổng Biên tập báo Lao Động, TP HCM
  107. Nguyễn Kim Chung, giáo viên dạy toán đã về hưu, TP HCM
  108. Nguyễn Phương Chi, biên tập viên chính, nguyên Phó phòng Tạp chí Nghiên cứu văn học, Viện Văn học, Hà Nội
  109. Nguyễn Huệ Chi, GS, Hà Nội
  110. Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo, Sài Gòn
  111. Nguyễn Văn Binh, nguyên dân biểu Quốc hội Sài Gòn, TP HCM
  112. Nguyễn Thị Hoàng Bắc, nhà giáo, nhà văn, Hoa Kỳ
  113. Trần Ngọc Báu, nghỉ hưu, Thuỵ Sĩ
  114.  Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng thư ký Hội Trí thức, TP HCM
  115.  Nguyễn Quang A, TS, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội
Đợt 2:
  1.  Phạm Tư Thanh Thiện, nhà báo, nguyên Phó ban Việt ngữ đài RFI, Pháp
  2.  Lại Nguyên Ân, nhà nghiên cứu văn học, Hà Nội
  3.  Nguyễn Tường Thụy, viết báo tự do, Hà Nội
  4.  Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội, Hà Nội
  5. Nguyễn Lộc, giảng dạy Đại học, TP HCM
  6. Ý Nhi (Hoàng Thị Ý Nhi), làm thơ, TP HCM
  7. Nguyễn Đắc Diên, bác sĩ Nha khoa, TP HCM
  8. Nguyễn Quang Thân, nhà văn, TP HCM
  9. Dạ Ngân, nhà văn, TP HCM
  10. Bùi Minh Quỳnh, kỹ sư cầu đường, Nghệ An
  11. Nguyễn Văn Dũng, nhà giáo, nhà văn, Huế
  12. Nguyễn Huy Văn, kỹ sư điện, TP HCM
  13. Vũ Thị Bích, hưu trí, Pháp
  14. Nguyễn Viết Lầu, giảng viên hưu trí, Hà Nội
  15. Đỗ Xuân Thọ, TS Cơ học ứng dụng, Hà Nội
  16. Le Van Minh, CH Czech
  17. Nguyễn Minh Đào, cán bộ hưu trí 57 tuổi Đảng, tỉnh An Giang
  18. Bùi Thị Thiện Căn, nhà giáo hưu trí, Hà Nội
  19. Trần Khắc Trí, nghề tự do, Lâm Đồng
  20. Nguyễn Văn Thanh, cử nhân kinh tế, TP HCM
  21. Bùi Đức Hiệp, nhân viên vận tải, TP HCM
  22. Nguyễn Trí, cử nhân kinh tế, TP HCM
  23. Võ Thanh Hà, giáo viên về hưu, Hà Nội
  24. Huu Loi Ngo nhà phản biện tự do, Huế
  25. Phan Cự Cường, kỹ sư ô tô, Hà Nội
  26. Nguyễn Phương Nam, cán bộ nghỉ hưu, Bà Rịa – Vũng Tàu
  27. Nguyễn Cao Phong, Hà Nội
  28. Nguyễn Đăng Hưng, TSKH, Giáo sư Danh dự Thực thụ, Đại học Liège, Bỉ
  29. Đỗ Thành Long, giáo viên, TP HCM
  30. Nguyễn Văn Túc, cựu quân nhân tình nguyện chiến trường Campuchia, Thái Bình
  31. Doãn Quốc Khoa, TS, kiến trúc sư, giảng viên đại học, Hà Nội
  32. Nguyễn Văn Phú, nghiên cứu và giảng dạy CNRS, Pháp
  33. Phạm Thế Phương, kỹ sư, Hải Phòng.
  34. Hoàng Quý Thân, PGS TS ngành hệ thống điện, Hà Nội
  35. Nguyễn Quang, kỹ sư, CH Czech
  36. Lê Phú Khải, nguyên phóng viên thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại miền Nam, TP HCM
  37. Đoàn Viết Hiệp, kỹ sư điện toán, Pháp
  38. Trần Việt Thắng, ThS khoa học, Hà Nội
  39. Hồ Trọng Để, kỹ sư cơ khí, TP HCM
  40. Tran Van Minh, nghỉ hưu, Đà Nẵng
  41. Lê Văn Ngọ, kỹ sư đã nghỉ hưu, Nha trang
  42. Lê Hoàng Lan, TS, cán bộ về hưu, Hà Nội
  43. Le Xuan Dieu, kinh doanh, TP HCM
  44. Bùi Phan Thiên Giang, kỹ sư Tin học, TP HCM
  45. Hồ Văn Thân, nghề nghiệp tự do, TP HCM
  46. Tran Van Thuan, CNC Programmierer, CHLB Đức
  47. Nguyễn Quang Cương, nhân viên bán hàng kỹ thuật, Hà Nội
  48. Nguyễn Đức Quyết, kỹ sư xây dựng, CHLB Đức
  49. Đoàn Kim Dung, giáo viên hưu trí, Hà Nội
  50. Lê Văn Oánh, kỹ sư xây dựng, Hà Nội
  51. Le Xuan Vinh, nông dân, TP HCM
  52. Đinh Việt Bình, nguyên giảng viên trường Đại học Ngoại Ngữ – Đại học Quốc gia, Hà Nội
  53. Ngô Kim Hoa, nhà báo tự do, TP HCM
  54. Nguyễn Đình Quyền, kiến trúc/ xây dựng, TP HCM
  55. Phan Hữu Nam, CH Czech
  56. Huyen Stefan, California State Employee, Hoa Kỳ
  57. Hoàng Thế Đức, kỹ sư, Hà Nội
  58. John Pham, học sinh, Hoa Kỳ
  59. Hà Dương Tuấn, nguyên chuyên gia công nghệ thông tin, Pháp
  60. Nguyen Van Hai, kỹ sư, doanh nhân, Cambodia
  61. Nguyễn Vũ, kỹ sư, hành nghề tự do, TP HCM
  62. Đặng Văn Lập, kiến trúc sư, Hà Nội
  63. Nguyễn Thiện Nhân, kế toán, Bình Dương
  64. Nguyen Phu Vinh, kỹ sư, TP HCM
  65. Ngô Minh Danh, giáo viên, Đồng Nai
  66. Đặng Trần Hùng, bác sĩ, Hà Nội
  67. Nguyễn Ngọc Thạnh, dược sĩ, Canada
  68. Trần Thế Việt, nguyên Bí thư Thành ủy Đà Lạt, Lâm Đồng
  69. Hoàng Ngọc Trường, kỹ sư hàng hải, thuyền trưởng, Hà Nội
  70. Trần Văn Bang, kỹ sư, cựu binh chống Trung Quốc xâm lược biên giới phía Bắc, TP HCM
  71. Nguyễn Văn Lý, cử nhân, lao động tự do, Hà Tĩnh
  72. Tống Hoàng Nhân, công nhân, Huế.
  73. Phạm Tuấn Trung, kỹ sư tin, Australia
  74. Vũ Tuấn, GS TS, Đại học Sư phạm Hà Nội, đã nghỉ hưu, Hà Nội
  75. Ngô Đức Minh, dạy học, TP HCM
  76. Ngọc Dung Lê, nguyên Tổng Biên tập báo Vietnameuropa, nhà báo quốc tế IFJ, CH Czech
  77. Nguyễn Quốc Ân, dược sĩ đại học, Hà Nội
  78. Tran Thi Quy, giáo viên, nghỉ hưu, CHLB Đức
  79. Vinh Nguyễn, công nhân, Hoa Kỳ
  80. Pet. Xuân Nguyễn, Công nghệ thông tin, TP HCM
  81. Giuse Nguyễn Công Bắc, linh mục giáo phận Vinh, Nghệ An
  82. Phạm Văn Lễ, kỹ sư cầu đường, TP HCM
  83. Hoàng Anh Vũ, chuyên gia công nghệ ngân hàng, Indonesia
  84. Khuất Thu Hồng, nghiên cứu khoa học xã hội, Hà Nội
  85. Thu San Nguyễn Thế Hùng, TS Vật lý, Viện  Vật lý, Hà Nội
  86. Tuyet A Jethwa, cử nhân kinh tế, Nhật Bản
  87. Nguyễn Thế Việt, TS Ngữ văn, CHLB Đức
  88. Vũ Quang Chính, nhà luận phê bình phim, Hà Nội
  89. Trần Thị Hường, kỹ sư kinh tế điện (về hưu), Hà Nội
  90. Phạm Trọng Chánh, TS, nhà nghiên cứu, Pháp
  91. Pham Tuan Anh, kinh doanh, Praha, CH Czech
  92. Lê Toàn, nhà giáo hưu trí, Đà Nẵng
  93. Nguyen Thanh Chính, Hoa Kỳ
  94. Nguyễn Ngọc Duyên, TS, Australia
  95. Nguyễn Hữu Phùng, bác sĩ hưu trí, Đà Nẵng
  96. Trần Ngọc Tuấn, nhà báo, CH Czech
  97. Chu Văn Tiên, kỹ sư, CHLB Đức
  98. Phạm Minh Hoàng, cựu giảng viên Đại học Bách khoa TP HCM, TP HCM.
  99. Chu Quốc Khánh, kỹ sư điện tử, cử nhân kinh tế, Hà Nội
  100. Phạm Hồng Hà, cán bộ hưu trí, Nghệ An
  101. Nguyễn Thanh Nga, MBA, Hà Nội
  102. Nguyễn Ngọc Bảo, kỹ sư, trách nhiệm an ninh thông tin, Pháp
  103. Phạm Duy Hiển, hưu trí, Gia Lai
  104. Lê Văn Chinh, kỹ sư xây dựng, Đà Nẵng
  105. Trần Thị Thúy Lan, nhân viên trợ lý dự án, Hà Nội
  106. Nguyễn Đăng Lập, kỹ sư, Bà Rịa – Vũng Tàu
  107. Nguyễn Văn Vinh, hưu trí, Hà Nội
  108. Nguyễn Văn Thạnh, kỹ sư, Đà Nẵng
  109. Phạm Cường, đạo diễn, CHLB Đức
  110. Nguyễn Đào Trường, cán bộ hưu, Hải Dương
  111. Trần Rạng, nhà giáo, TP HCM
  112. Nguyễn Hoàng Thanh Liêm, An Giang
  113. Cao Nghĩa, kỹ sư cơ khí, Đà Nẵng
  114. Lê Tiên Hoàn, nghỉ hưu, Hà Nội
  115. Lê Xuân Đôn, Chủ tịch Tổng hội Sinh viên học sinh Việt Nam Liên bang Australia, Australia
  116. Nguyễn Tuấn Anh, kinh doanh tự do, Hà Nội
  117. Phan Tinh, kỹ sư, Anh
  118. Trần Văn Tùng, lao động tự do, Tuyên Quang
  119. Nguyễn Hữu Thao, cựu quân nhân F289, Bộ Tư lệnh Công binh Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bulgaria
  120. Đỗ Thành Nhân, quản lý doanh nghiệp, Quảng Ngãi
  121. Nguyễn Minh Sang, làm ruộng, Bắc Giang
  122. Quý Hải, nhà tư vấn & đào tạo, TP HCM
  123. Phan Đình Hùng, kỹ sư vỏ tàu thuỷ, đăng kiểm (đã nghỉ hưu), Australia
  124. Trần Ngọc Hùng, y sĩ, Bình Dương
  125. Nguyễn Thị Thanh Tâm, nhà đầu tư, Hà Nội
  126. Trịnh Hồng Kỳ, nhân viên xuất nhật khẩu, TP HCM
  127. Vũ Tuấn, TS phần mềm và điện tử, CHLB Đức
  128. Đào Văn Bính, kỹ sư xây dựng, Hà Nội
  129. Trần Hữu Lực, kỹ sư điện tử, TP HCM
  130. Trần Tư Bình, giáo chức, chủ nhiệm web chữ Việt nhanh, Sydney, Australia
  131. Lê Quang Thanh, TP HCM
  132. Đào Đình Bình, kỹ sư hưu trí, Hà Nội
  133. Huỳnh Thị Ngọc Tuyết, hưu trí, TP HCM
  134. Nguyễn Minh Hiền, nguyên Tổng biên tập báo Doanh Nhân Sài Gòn, TP HCM
  135. Trần Hữu Khánh, hưu trí, TP HCM
  136. Phạm Văn Đỉnh, TS KH, Pháp
  137. Nguyễn Khánh Hưng, kiểm toán viên, Hoa Kỳ
  138. Phan Quốc Tuyên, kỹ sư tin học, Thụy Sĩ
  139. Lý Đăng Thạnh, người chép Sử, TP HCM
  140. Phạm Thanh Lâm, kỹ sư điện tử, Đan Mạch
  141. Lê Manh Tiên, kinh doanh, Lào
  142. Vũ Ngọc Thăng, dịch giả, Canada
  143. Việt Linh, đạo diễn, TP HCM
  144. Phạm Văn Thành, Pháp
  145. Đoan Trang, nhà báo, Hoa Kỳ
  146. Đặng Kim Toàn, tư doanh, Hoa kỳ
  147. Nguyễn Cường, kinh doanh, CH Czech
  148. Trần Văn Tấn, kỹ sư, CHLB Ðức
  149. Phan Thanh Bình, Hoa Kỳ
  150. Lê Công Định, tù nhân tư tưởng, bị quản chế, TP HCM
  151. Nguyễn Hồng Quân, kỹ sư xây dựng, TP HCM
  152. Trần Viết Tôn, bác sĩ, CHLB Đức
  153. Trần Thị Thanh Tâm, nghỉ hưu, Ba Lan
  154. Phạm Toàn Thắng, kinh doanh, CH Czech
  155. Trần Thị Quyên, giáo viên, TP HCM
  156. Nguyễn Ngọc Đức, kỹ sư tin học, Pháp
  157. Nguyễn Trung Thành, kỹ sư Giao thông Vận tải, Phú Thọ
  158. Đặng Lợi Minh, giáo viên hưu trí, Hải Phòng
  159. Ngô Đức Thọ, PGS TS, nhà nghiên cứu di sản Hán Nôm, Hà Nội
  160. Le Luc, họa sĩ, Canada
  161. Nguyễn Quốc Quân, TS Toán, Hoa Kỳ
  162. Nguyễn Minh Mẫn, kỹ sư, Canada
  163. Nguyễn Thị Nguyệt Nga, Canada
  164. Nghiêm Ngọc Trai, kỹ sư xây dựng đã nghỉ hưu, Hà Nội
  165. Nguyễn Xuân Thọ, kỹ sư điện tử, CHLB Đức
  166. Nguyễn Trọng Hoàng, bác sĩ y khoa, Pháp
  167. Nguyễn Quế Hương, kiến trúc sư, Hoa Kỳ
  168. Hà Minh Hiển, TS Hoá học, Ba Lan
  169. Võ Tiến Khai, kỹ sư Cơ khí, Biên Hòa
  170. Trương Long Điền, công chức hưu trí, An Giang
  171. Trần Định Quốc Khai Nguyên, FAA Honeywell Aerospace, Hoa Kỳ
  172. Hoàng Dương Tuấn, giáo sư đại học công nghệ Sydney (University of Technology, Sydney), Australia
  173. Nguyễn Hữu Sâm, cựu Giáo sư Trung học đệ nhị cấp, hồi hưu, Australia
  174. Tien Loc Nguyen, nhà văn, Canada
  175. Thi Canh Nguyen, công nhân, Canada
  176. Thu Hai  Irich, giáo viên, Canada
  177. Nguyễn Công Nghĩa, TS bác sĩ, nghiên cứu viên đại học Waterloo, Canada
  178. Trần Quang Ngọc, TS, nghiên cứu khoa học, Hoa Kỳ
  179. Nguyễn Sỹ Phương, Dr, CHLB Đức
  180. Nguyễn Thanh Lam, nghiên cứu sinh....

TÀ QUYỀN KHIẾP NHƯỢC.

*Không có cái nhục nào to lớn bằng cái nhục của một dân tộc có một chính quyền hèn hạ và đốn mạt như chính quyền cộng sản Việt Nam ngày nay


                                                                                                                            Lê Duy San

 

Nhiều người nghĩ rằng cái nhục lớn nhất của một dân tộc là cái nhục mất nước. Điều này không đúng hẳn. Nước nhỏ, dân ít, bị một nước lớn, dân đông, xâm chiếm là điều thường xẩy ra trên thế giới, nhất là vào thời kỳ khoa học, kỹ thuật chưa được tiến bộ. Vấn đề quan trọng là dân tộc đó có ý chí, có quyết tâm để tìm cách giành lại chủ quyền hay không. Chỉ khi nào dân tộc đó không có ý chí phục quốc, không có quyết tâm giành lại độc lập và cam chịu số phận mất nước mới gọi là nhục.
Nước ta bị người Tầu đô hộ một ngàn năm và bị người Pháp đô hộ gần 100 năm, nhưng dân tộc ta không bao giờ chịu nhục. Lúc nào dân tộc ta cũng có những người yêu nước tìm cách nổi dậy để đánh đuổi người Tầu, người Pháp ra khỏi bờ cõi, giành lại độc lập cho đất nước và lấy lại chủ quyền cho dân tộc. Nhưng có độc lập, có chủ quyền mà đất bị lấn bị chiếm, biển bị xâm phạm mà chính quyền lại hèn nhát, không dám lên tiếng, thì qủa là một cái đại nhục cho dân tộc.
Ngày 19/1/74, trong khi Hải Quân của Việt Nam Cộng Hòa tử chiến với quân xâm lược Trung Cộng để bảo vệ Hoàng Sa thì ngụy quyền Việt Công Hà Nội im hơi lặng tiếng một cách hèn hạ, không một lời phản đối Trung Cộng.
Ngày 2/12/07, Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập một quận lỵ lấy tên là Tam Sa, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, để trực tiếp quản lý cả hai quần đảo này, ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam cũng chỉ dám phản đối một cách yếu ớtqua lời tuyên bố của Lê Dũng, người phát ngôn của Bộ Ngọai Giao Cộng sản Việt Nam, rằng: "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa", và rằng: "Hành động này đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, không phù hợp với nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước, không có lợi cho tiến trình đàm phán tìm kiếm biện pháp cơ bản, lâu dài cho vấn đề trên biển giữa hai bên”.
Ngày 16/5/09, Trung Cộng đã chính thức ra lệnh cấm đánh cá đặc khu kinh tế khổng lồ bao quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không phải chỉ các vùng đang bị tranh chấp mà cả các vùngmà Việt Nam có chủ quyền. Là cơ quan hành pháp, đại diện cho một quốc gia, đứng trước hành động hỗn xựợc này của Trung Quốc, đúng lý ra, bộ Ngoại Giao Việt Nam phải cho mời Đại Sứ Trung Cộng tới để phản đối hoặc gửi công hàm phản đối với lời lẽ thật mạnh mẽ và cương quyết như “vi phạm chủ quyền của Việt Nam” “xâm phạm lãnh hải Việt Nam” và “yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền Việt Nam, lãnh hải của Việt Nam cũng như quyền đánh cá của ngư dân Việt Nam v.v.”
Theophát ngôn viên của chính quyền Việt Cộng thì bộ Ngoại Giao Việt Cộng đã yêu cầu Đại Sứ Trung Quốc tại Hà Nội kêu gọi chính phủ Bắc Kinh ngừng các hoạt động trên biển. Nhưng thực ra chính quyền Cộng Sản Việt Nam không những đã không dám phản đối mà chỉ xin xỏ một cách hèn hạ như “đề nghị phía Trung Quốc không nên có các hoạt động cản trở hoạt động bình thường của ngư dân Việt Nam” hoặc “việc Trung Quốc tăng cường tuần tra sẽ dẫn tới có thêm nhiều vụ bắt bớ ảnh hưởng tới các hoạt động đánh bắt cá bình thường của ngư dân Việt Nam tại khu vực đánh bắt cá truyền thống của Việt Nam”.
Thế nào là “khu vực đánh bắt cá truyên thống” ? Phải chăng đó là ngôn từ ngoại giao của bè lũ bán nước Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Văn An? Ôi, nghe sao mà hèn hạ vậy? Nếu không dám dùng những danh từ dao to, búa lớn, những danh từ sặc mùi khát mắu mà bọn chúng đã dùng trong thời gian xâm chiếm miền Nam thì ít nhất cũng phải dùng những chữ cho rõ nghĩa, cho đúng với ngôn từ của một quốc gia độc lập và có chủ quyền như: “không được có những hành động cản trở những hoạt động bình thường của ngư dân Việt Nam” hoặc“không được xâm phạm vào khu vực đánh cá thuộc chủ quyền của Việt Nam” v.v. Đúng là phường khôn nhà dại chợ, chỉ quen áp bức dân lành.
Không những hèn mạt, không dám phản đối quan thày Trung Cộng, bọn ngụy quyền Cộng Sản Hà Nội còn sợ mất lòng quan thày Trung Cộng không dám để người dân bầt tỏ lòng yêu nước và tìm cách đàn áp, bịt miệng những người bất đồng chính kiến, đúng như tờ báo chui, “Báo Sinh Viên Yêu Nước”, của anh em Sinh Viên trong nước đã nhận định trong cố báo thứ 5: “Thời gian qua, sự kiện Trung Quốc khai thác Bauxit ở Tây Nguyên còn đang bị dư luận phản đối. Vụ ngư dân Việt Nam đã không dám đánh cá vì bị tàu Trung Quốc tấn công. Vụ lãnh hải Việt Nam bị thu hẹp vì Trung Quốc dùng sức mạnh bá quyền công khai áp lực. Vụ luật sư Cù Huy Hà Vũ dám ra mặt kiện Nguyễn Tấn Dũng. Trước áp lực dư luận có nguy cơ bùng nổ, phô bày bản chất yếu hèn, phản động của đảng CSVN trước tham vọng xâm lăng Việt Nam của Trung Quốc.  Hà nội quyết định bắt luật sư Lê Công Định, cũng là cách để chuyển dư luận chống đối sang ngã rẻ khác, vừa răn đe thành phần đấu tranh dân chủ, vừa nhắn nhủ giới luật sư, trí thức, thanh niên sinh viên Việt Nam đang manh nha hình thành lực lượng nhằm phản đối vụ khai thác Bauxit và những quyết định bạc nhược, hèn yếu của Chính trị bộ đối với quan hệ Trung - Việt.
Hẳn chúng ta còn nhớ, cách đây gần 2 năm, sau khi biết tin Trung Cộng công khai xân chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam và sát nhập vào một quần đảo khác của Trung Cộng để thành lập một quận lỵ lấy tên là Tam Sa? Các học sinh và sinh viên Việt Nam cùng đồng bào trong nước đã tổ chức 2 cuộc biểu tình vào ngày 9/12/07 tai Saigon và Hà Nội để phản đối hành động xâm lược của Trung Quốc. Bọn nguỵ quyền Cộng Sản Hà Nội, không những không ủng hộ hay khuyến khích mà lại còn bắt bớ, cấm đoán và hăm dọa. khiến một nữ sinh viên qúa uất ức đã vừa khóc vừa la: “Chúng cháu đến đây để thể hiện lòng yêu nước của mình…tai sao lực lượng an ninh lại ngăn cản lòng yêu nước của chúng cháu…? ngăn chặn chúng cháu lại và không cho chúng cháu vào tham gia cùng mọi người…? Taị sao ? Tại sao ? Và một thanh niên khác, không dằn được sự tức giận, đã hiên ngang đập mạnh tay xuống bàn và la lớn: “Các ông chỉ biết lo cho cái ghế của các ông, các ông chỉ biết tham nhũng”.
Thật là một điều nghịch lý khi những nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam gán cho những người dân yêu nước dám bầy tỏ thái độ, lập trường của mình trước những vấn đề liên quan đến sự tồn vong của đất nước, của dân tộc lại bị gán cho những tội danh như “xâm phạm an ninh quốc gia”, “lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm hại quyền lợi nhà nước”. Thật là một điều nghịch lý khi nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đã trù dập, đàn áp dã man và bỏ tù những người yêu nước như nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà giáo Vũ Hùng, sinh viên Nguyễn Tiến Nam cho tới các bloggers Điếu Cày Nguyễn Hoàng Hải, Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Người Buôn Gió Bùi Thanh Hiếu, rồi nhà báo Phạm Đoan Trang, cùng nhiều người khác nữa chỉ vì họ có tâm huyết với đất nước.
Ngày nay chúng ta đã thấy, người dân đã dám bàn chuyện chính trị, dám phê phán chính quyền công khai, không còn dè dặt và sợ hãi như những năm trước nữa. Nhiều người còn dám rủ nhau đi kiện, đi biểu tình phản đối những vụ chính quyền trưng dụng nhà cửa, đất đai của họ. Các anh em sinh viên cũng đã dám ra một tờ báo chui gọi là Báo Sinh Viên Yêu Nước để bầy tỏ thái độ và các trí thức trong nước cũng đã dám công khai bầy tỏ lập trường. Họ không còn sợ hãi trước sự hù dọa hay sự bắt bớ, giam cầm, bỏ tù một số người chống đối, của ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam. Một vài luật sư đã dám tranh luận thẳng thừng với các chánh án Việt Cộng để bênh vực cho thân chủ trong các vụ án có liên can tới chính trị. Nhưng số người này còn quá ít ỏi, vẫn chưa đủ. Họ cần phải đông đảo hơn nữa, tích cực hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa cho tới khi nào chế độ Cộng Sản Việt Nam bán nước phải cáo chung.
Một người dân trong nước cũng viết: “Tôi bần thần tự hỏi, chính quyền hiện hành có còn là chính quyền của dân tộc Việt Nam hay không ?Tự hỏi để rồi ngầm trả lời:Không, không, không. Chính quyền này không phải là của dân tộc Việt Nam, mà là chính quyền của đảng cộng sản Việt Nam ! Tôi và bao bậc cha mẹ khác lẽ nào đưa con mình đi cầm súng để bảo vệ đảng nô lệ như thế này ? Tôi đã rớt nước mắt. Tệ hại quá, tôi phải “nướng” con tôi cho lũ cầm quyền phản dân tộc này sao? Tôi sẽ phải làm thế nào ? Cầm súng bảo vệ đất nước thì tôi không sợ, cầm súng chống bọn xâm lấn Trung Cộng thì tôi sẵn sàng đưa con tôi lên đường. Còn cầm súng, hi sinh con cái chúng tôi cho quyền lợi riêng của đảng cộng sản Việt Nam thì khác nào sự ngu xuẩn, hơn nữa, đó là sự nhục nhã !
Gần đây, tấm bia ghi chiến tích trận đánh Trung Quốc nơi biên giới Việt Trung của quân đội Cộng Sản Việt Nam trong cuộc chiến tranh biên giới vào năm 1979 đã bị bọn ngụy quyền Việt Cộng hèn nhát ra lệnh đục bỏ những chữ “Đoàn Quân Trung Quốc Xâm Lược“ là bằng chứng cho sự khiếp nhược đã tới mức không thể diễn tả bằng lời”.
%5B106041%5D03___Tam_bia_ky_niem_chien_thang_tai_dau_cau_Khanh_Khe__2_
Những chữ “Đòan quân Trung Quốc” đã bị đục bỏ
Thật không có cái nhục nào to lớn bằng cái nhục của một dân tộc có một chính quyền hèn hạ và đốn mạt như chính quyền cộng sản Việt Nam ngày nay, một chính quyền bán nước hại dân, chỉ biết tham nhũng và hiếp đáp dân lành. Không những thế, bọn ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam còn muốn tất cả dân tộc Việt Nam phải hèn nhát như bọn chúng. Vì thế nếu có người nào can đảm, dám biểu lộ lòng yêu nước và dám nói lên những việc làm sai trái, đốn mạt của bọn chúng, là bọn chúng tìm cách đàn áp và bắt giam như ta đã thấy. Không biết người dân còn chịu đựng sự nhục nhã này tới bao giờ mới tìm cách lôi cổ bọn hèn nhát này xuống để trị tội?
Lê Duy San
*
Cựu Tổng thống Nga Putin nói: “Kẻ nào tin những gì CS nói là không có cái đầu. Kẻ nào làm theo lời của CS, là không có trái tim.”
 


Saturday, May 31, 2014

Brisbane, Queensland, Úc: CĐNVTD/QLD Biểu Tình phản đối Việt Cộng bán nước và Trung Cộng xâm lăng, ngày Thứ Bảy 31/5/2014.

CĐNVTD/QLD Biểu Tình phản đối Việt Cộng bán nước và Trung Cộng xâm lăng, ngày Thứ Bảy 31/5/2014. Ngày: Thứ Bảy, 31 tháng 5, năm 2014. Thời gian: Bắt đầu từ 10:30 giờ sáng đến 12:30 giờ trưa. Địa Điểm: King George Square, Brisbane QLD 4000, Australia. Hình ảnh cuả Tuấn Lê.





























Saturday, May 31, 2014

Brisbane, Queensland, Úc: CĐNVTD/QLD Biểu Tình phản đối Việt Cộng bán nước và Trung Cộng xâm lăng, ngày Thứ Bảy 31/5/2014.

CĐNVTD/QLD Biểu Tình phản đối Việt Cộng bán nước và Trung Cộng xâm lăng, ngày Thứ Bảy 31/5/2014. Ngày: Thứ Bảy, 31 tháng 5, năm 2014. Thời gian: Bắt đầu từ 10:30 giờ sáng đến 12:30 giờ trưa. Địa Điểm: King George Square, Brisbane QLD 4000, Australia. Hình ảnh cuả Tuấn Lê.


Saturday, May 31, 2014

Brisbane, Queensland, Úc: CĐNVTD/QLD Biểu Tình phản đối Việt Cộng bán nước và Trung Cộng xâm lăng, ngày Thứ Bảy 31/5/2014.

CĐNVTD/QLD Biểu Tình phản đối Việt Cộng bán nước và Trung Cộng xâm lăng, ngày Thứ Bảy 31/5/2014. Ngày: Thứ Bảy, 31 tháng 5, năm 2014. Thời gian: Bắt đầu từ 10:30 giờ sáng đến 12:30 giờ trưa. Địa Điểm: King George Square, Brisbane QLD 4000, Australia. Hình ảnh cuả Tuấn Lê.





























Saturday, May 31, 2014

Brisbane, Queensland, Úc: CĐNVTD/QLD Biểu Tình phản đối Việt Cộng bán nước và Trung Cộng xâm lăng, ngày Thứ Bảy 31/5/2014.

CĐNVTD/QLD Biểu Tình phản đối Việt Cộng bán nước và Trung Cộng xâm lăng, ngày Thứ Bảy 31/5/2014. Ngày: Thứ Bảy, 31 tháng 5, năm 2014. Thời gian: Bắt đầu từ 10:30 giờ sáng đến 12:30 giờ trưa. Địa Điểm: King George Square, Brisbane QLD 4000, Australia. Hình ảnh cuả Tuấn Lê.




 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 184 lần]
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 180 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 166 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 165 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 60 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 44 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.