Doanh Nghiệp Nhật, Hàn, Đài Loan rời Trung Quốc chọn Việt Nam
19.12.2015 16:02
Hàn Quốc, Đài Loan (TQ) chuyển hướng sang Việt Nam sau khi thua lỗ tại Trung QuốcẢnh: nguồn Nikkei Các công ty Đài Loan (TQ), Hàn Quốc đang phải trả một cái giá đắt cho sự phụ thuộc vào nền kinh tế Trung Quốc. Nhiều công ty trong số đó hiện đang từ bỏ Trung Quốc và tìm đến thị trường Việt Nam, Ấn Độ.
Hãng tin Nikkei cho biết, trong nhiều năm qua, chính quyền Đài Loan luôn tìm cách đặt quan hệ về mặt kinh tế chặt chẽ với Trung Quốc. Xuất khẩu ràng buộc đối với đại lục và Hồng Kông (TQ) chiếm khoảng 40% tổng lượng xuất khẩu của Đài Loan. Tuy nhiên, kể từ tháng 10 năm ngoái, các lô hàng xuất khẩu của Đài Loan đã giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Theo Nikkei, sự chững lại của kinh tế Trung Quốc đã làm suy yếu lượng tiêu thụ các thiết bị điện tử di động, dẫn đến tình trạng tụt giảm về lượng đặt hàng vật liệu bán dẫn, vốn là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của ngành công nghiệp xứ Đài.
Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu một loạt mặt hàng của Hàn Quốc như: hóa dầu, sản phẩm thép, máy móc nông nghiệp, điện thoại thông minh, thiết bị văn phòng và các thiết bị truyền thông không dây khác,... sang Trung Quốc đã giảm mạnh. Trong một nỗ lực thoát khỏi tổn thất nhiều hơn, các doanh nghiệp Hàn Quốc và Đài Loan đã chuyển hướng tiếp cận vào thị trường Việt Nam và Ấn Độ, bao gồm cả việc thiết lập cơ sở sản xuất ở hai nước này. Thất bại vì phải cạnh tranh với các doanh nghiệp Trung Quốc
Một số công ty Đài Loan cho biết, ngoài vấn đề về nhu cầu, thị trường Trung Quốc còn nhiều bất cập khác như: sự nổi lên của nhiều công ty Trung Quốc được sự hậu thuẫn của nhà nước - tình trạng này còn được gọi là "chuỗi cung ứng đỏ" - đã cướp đi nhiều cơ hội của các doanh nghiệp Đài Loan. Bắc Kinh đã đổ một khoản tiền lớn vào các ngành công nghiệp trên sân nhà như các chất bán dẫn và màn hình tinh thể lỏng. Wintek, nhà sản xuất màn hình cảm hứng số 2 của Đài Loan, nói rằng doanh thu của họ giảm mạnh trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt với các đối thủ Trung Quốc. Vào tháng 10 năm 2014, công ty này đã đệ đơn xin tái cơ cấu và đến tháng 7 vừa qua, đã phải ngưng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán. Doosan Engine, tập đoàn công nghiệp nặng hàng đầu Hàn Quốc, cũng chịu ảnh hưởng nặng nề. Tập đoàn này cho biết: "Chính phủ Trung Quốc đã yêu cầu các công ty đóng tàu của nhà nước phải ưu tiên sử dụng các thiết bị động cơ của các nhà sản xuất trong nước. Từ đó, tốc độ xuất khẩu của chúng tôi đã giảm đi đáng kể".
Samsung Electronics, hãng sản xuất điện thoại thông minh lớn nhất thế giới, đã từng kiểm soát thị phần lớn nhất tại thị trường Trung Quốc về doanh số bán hàng. Tuy nhiên, từ tháng 4 đến tháng 6 năm ngoái, hãng này đã bị các đối thủ Trung Quốc như Xiaomi và Lenovo lấn át hoàn toàn.
Sau những khó khăn trên thị trường Trung Quốc, Samsung đã chuyển cơ sở sản xuất sang Việt Nam trong những năm gần đây. Hãng LG Electronics cũng đã chi ra 1,5 tỉ USD để mở một nhà máy điện tử và điện thoại thông minh mới tại Hải Phòng vào hồi tháng 3 vừa qua. Các công ty Đài Loan cũng thực hiện những động thái tương tự. Vào tháng 7 vừa qua, công ty Compal Electronics đã tái hoạt động một nhà máy ở Việt Nam. Tập đoàn Hon Hai, nhà cung cấp linh kiện điện tử lớn nhất thế giới, còn được biết đến với tên gọi Foxconn, đang có kế hoạch xây khoảng 10 đến 12 nhà máy tại Ấn Độ vào năm 2020. Theo dự kiến, các nhà xưởng sẽ tạo ra 1 triệu việc làm.
Tuyết Nhung (Theo Nikkei)DN Nhật tìm đến VN: Đừng vội cười(Doanh nghiệp) - DN Nhật tìm đến VN, nhưng không tự nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển công nghiệp hỗ trợ cơ hội sẽ vuột khỏi tầm tay.DN Nhật chọn VN: Đừng vội mừng Liên quan tới câu chuyện DN Nhật “chê” DN cung ứng Việt Nam quy mô vừa nhỏ vừa không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng sản xuất. Do đó, nhiều DN nước này phải lựa chọn nhà cung ứng đến từ Thái Lan hoặc Trung Quốc.  | | Ảnh minh họa |
Nói rõ về nguyên nhân và thực trạng của sự yếu kém trên PGS.TSKH Nguyễn Văn Minh - Viện kinh tế và thương mại quốc tế cho biết, sự yếu kém của ngành công nghiệp hỗ trợ đã nhận thức từ khoảng 15 - 20 năm về trước. Từ nhận thức trên nên đã có rất nhiều nghị quyết, chỉ đạo về phát triển chiến lược ngành công nghiệp hỗ trợ. Tuy nhiên, chính sách có đủ, nhận thức cũng rất rõ ràng song vấn đề triển khai còn gặp rất nhiều khó khăn. Khó khăn thứ nhất, ông Minh cho biết, đặc thù của ngành công nghiệp hỗ trợ là ở quy mô và công nghệ. Để đầu tư được công nghệ cao lại phải đòi hỏi có vốn lớn và trình độ cao. Đây là hạn chế rất lớn với các DN Việt Nam. Khó khăn thứ hai, là cơ chế chính sách điều hành vĩ mô chưa phân định được rõ mục tiêu. Nếu theo thông lệ quốc tế, họ thường có bước chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Theo ông, việc thu hút đầu tư nước ngoài, giống như công tác chuẩn bị tiếp đón một vị khách tới chơi nhà mình vậy. “Tức là ngoài việc có ngôi nhà, còn phải có chủ nhà, có đồ ăn, thức uống… để chuẩn bị thết đãi khách. Thu hút FDI cũng vậy, đáng ra phải xác định rõ mục tiêu, xác định từng lĩnh vực, từng ngành nghề ưu tiên và quan trọng nội lực trong nước phải được nâng lên, DN trong nước phải đủ vững vàng, đủ năng lực tham gia được vào chuỗi cung ứng của họ. Chỉ có như vậy trình độ, năng lực DN mới từng bước được cải thiện, giá trị được hưởng lợi mới tăng lên”, ông Minh ví von. Tuy nhiên, ông Minh cho biết, chính sách thu hút đầu tư FDI của Việt Nam thời gian qua chưa xác định rõ mục tiêu, giữa chính sách và thực tế đang có sự lệch pha. Chính sách không phù hợp, công nghiệp phụ trợ không phát triển, VN hoàn toàn không có gì ngoài những dải tường bao kín, vì thế mà thu hút đầu tư của VN cứ luẩn quẩn mãi. “Dường như đang có một phong trào đua nhau xây dựng khu công nghiệp, khu kinh tế để thu hút FDI nhưng lại không trú trọng tới yêu cầu chuyển giao công nghệ hay đòi hỏi phải có công nghệ rồi mới thu hút đầu tư. Vì thế, mới có câu chuyện xây dựng xong khu kinh tế, khu công nghiệp thì DN có công nghệ lõi lại không muốn vào. Vì vào cũng không tìm được DN cung ứng, như vậy họ có hai lựa chọn một là mang theo DN hỗ trợ từ nước mình; hai là tìm kiếm DN cung ứng từ các nước khác như Trung Quốc, Thái Lan. Cuối cùng, DN Việt vẫn chỉ đứng nhìn”, ông cho biết. Vị chuyên gia cũng cảnh báo, VN đừng vội mừng khi nhìn thấy có những DN Nhật hay Mỹ chuyển dịch trụ sở từ TQ sang VN. Đầu tiên phải hiểu đây chỉ như một phương án dự phòng khi kinh tế TQ đang có dấu hiệu bất ổn, chính sách ưu đãi bị siết lại. Nếu so sánh về tiềm năng Malaysia, Thái Lan vẫn có khả năng hút các nhà đầu tư nước ngoài hơn cả. Vấn đề thứ hai, vị chuyên gia cho biết khả năng DN Nhật lựa chọn VN còn vì mối quan hệ phát triển giữa hai nước đã được xây dựng và hợp tác từ nhiều năm. Đây là lợi thế lớn với VN, nhưng nếu VN không tận dụng tốt cơ hội, không tranh thủ tự nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ thì cơ hội cũng sẽ bị vuột khỏi tầm tay. Thay vì làm xuôi giờ hãy làm ngược Bàn về vấn đề này, TS Đinh Trọng Thịnh cho biết, yêu cầu phải tham gia được vào chuỗi sản xuất toàn cầu là vấn đề đã được đặt ra từ lâu đối với các DN Việt Nam. Tuy nhiên, đây chính là điểm yếu của nền kinh tế VN. Ông cho biết, khi VN không thể tự làm chủ được một dây chuyền sản xuất thì việc tham gia được vào từng công đoạn của tập đoàn lớn sẽ là cơ hội để các DN trong nước học hỏi, tự nâng cao nâng lực để tham gia được vào chuỗi sản xuất toàn cầu. Có thể nói rằng, DN Việt đang đối diện với yếu kém toàn diện, yếu mọi mặt từ quy mô DN việt nhỏ lẻ, vốn, tài chính hạn hẹp, kỹ năng sản xuất, hội nhập, cho tới khả năng đàm phán không cao… do đó bao nhiêu năm hội nhập DN Việt vẫn không thể đáp ứng được yêu cầu của DN nước ngoài. Về giải pháp, theo PGS.TSKH Nguyễn Văn Minh, để công nghiệp hỗ trợ trong nước phát triển đầu tiên VN cần phải thay đổi lại tư duy và cách làm. Nếu trước kia làm xuôi giờ chúng ta phải đi ngược.
Hiệp định tự do thương mại Việt Nam - Hàn Quốc bắt đầu có hiệu lựcQuang cảnh lễ ký kết Hiệp định - Ảnh: Internet  Theo Bộ Công Thương, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA) chính thức có hiệu lực từ ngày mai 20.12.Được khởi động tại Hà Nội từ tháng 8.2012, sau 8 phiên đàm phán chính thức và 8 phiên họp giữa kỳ, họp cấp trưởng đoàn đàm phán, hai bên đã cơ bản thống nhất nội dung Hiệp định với phạm vi toàn diện, mức độ cam kết cao và đảm bảo cân bằng lợi ích.
Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Hàn Quốc bao gồm các nhóm nội dung chính về thương mại hàng hóa - cam kết cắt giảm thuế quan, thương mại dịch vụ bao gồm các phụ lục về viễn thông, tài chính..., đầu tư, sở hữu trí tuệ, các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS), quy tắc xuất xứ, thuận lợi hóa hải quan, phòng vệ thương mại, hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), thương mại điện tử…
Hàn Quốc cam kết dành cho Việt Nam ưu đãi cắt giảm thuế quan, tạo cơ hội xuất khẩu mới quan trọng đối với các nhóm hàng nông- thủy sản chủ lực như tôm cá, hoa quả nhiệt đới, hàng công nghiệp như dệt may, sản phẩm cơ khí... Cùng với đó, Hàn Quốc cũng sẽ dành thêm cơ hội thị trường cho các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư của Việt Nam, đặc biệt là nhất trí tăng cường hợp tác kinh tế, dành hỗ trợ kỹ thuật toàn diện trong nhiều lĩnh vực. Lần đầu tiên, Hàn Quốc mở cửa thị trường cho những sản phẩm nhạy cảm cao như tỏi, gừng, mật ong, tôm, tạo cơ hội cạnh tranh đáng kể cho Việt Nam so với các đối thủ cạnh tranh khác trong khu vực. Về phía Việt Nam, Việt Nam cũng cam kết dành ưu đãi cho Hàn Quốc về các nhóm hàng công nghiệp như nguyên phụ liệu dệt may, nguyên liệu nhựa, linh kiện điện tử, xe tải và xe con từ 2.500cc trở lên, phụ tùng ô tô, điện gia dụng, sản phẩm sắt thép, dây cáp điện. Hiệp định FTA này dự kiến cũng sẽ tạo điều kiện nâng cao hiệu quả nhập khẩu, nhất là các nhóm hàng nguyên phụ liệu phục vụ các ngành sản xuất, xuất khẩu chủ lực như dệt may, giày dép, điện tử, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu từ các nguồn khác.
Bộ Công Thương cho rằng khi FTA với Hàn Quốc chính thức có hiệu lực, các doanh nghiệp xuất khẩu và các nhà sản xuất Việt Nam cần triệt để tận dụng cơ hội xuất khẩu những ngày cuối năm 2015 và có kế hoạch xuất khẩu cho năm 2016 để hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA) ngay khi hiệp định có hiệu lực. Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc cũng cho biết khi Hiệp định thương mại tự do được đưa vào thực hiện ngay trong năm nay, các công ty của hai nước sẽ được lợi từ việc cắt giảm thuế bắt đầu từ ngày 1.1.2016. Điều này có ý nghĩa quan trọng vì Việt Nam là thị trường lớn thứ 3 của các loại hàng hóa xuất khẩu của Hàn Quốc. Từ tháng 1.10, Việt Nam nhập khẩu lượng hàng hóa trị giá hơn 23 tỉ USD từ Hàn Quốc. Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc cũng khẳng định FTA này sẽ giúp các công ty của Hàn Quốc có cơ hội kinh doanh thuận lợi hơn tại thị trường Việt Nam. Việt Nam - Hàn Quốc đã bắt đầu thương lượng về hiệp định tự do vào tháng 9.2012, hai bên chính thức ký kết FTA nói trên vào ngày 5.5. Dựa trên thỏa thuận giữa hai nước, phía Hàn Quốc đồng ý mở cửa gần 95% thị trường cho Việt Nam trong khi Việt Nam đồng ý mở cửa hơn 92% thị trường cho Hàn Quốc.
Ngoài ra việc triển khai Hiệp định thương mại song phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc sẽ tiếp tục đẩy mạnh thương mại hai chiều Việt Nam - Hàn Quốc trong thời gian tới.
Top 10 người giàu nhất Việt Nam trên TTCK năm 2015Thị trường chứng khoán đang bước vào những phiên giao dịch cuối cùng của năm 2015. Tuy nhiên, tại thời điểm hiện tại, vị trí những người giàu nhất trên thị trường gần như đã được xác lập.
So với thời điểm cuối năm 2014, mức tăng - giảm tài sản trên sàn của các tỉ phú hầu như không đáng kể so với khối tài sản sở hữu, ngoại trừ trường hợp của ông Đoàn Nguyên Đức (bầu Đức) và ông Trần Đình Long (bầu Long). Sau nhiều năm giữ vị trí người giàu thứ hai thị trường thì năm nay, bầu Đức đã để tuột ngôi vị giàu thứ 2 trên sàn chứng khoán Việt vào tay bầu Long do đà lao dốc “không phanh” của cổ phiếu HAG. Thị giá HAG đã “bốc hơi” 48,42% so với thời điểm đóng cửa phiên giao dịch 31.12.2014 và đang tạm dừng ở mức giá 11.400 đồng/cổ phiếu chốt phiên 11.12.2015 - mức thấp kỷ lục của cổ phiếu này kể từ thời điểm niêm yết năm 2008. Đáng nói là trong 3 tháng trở lại đây, số phiên tăng điểm của cổ phiếu HAG chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Do vậy, dù đã tăng khối lượng nắm giữ cổ phiếu HAG từ 311,6 triệu đơn vị từ cuối năm 2014 lên 347,7 triệu đơn vị hiện tại, song khối tài sản trên sàn chứng khoán của bầu Đức vẫn thất thoát lớn, giảm từ hơn 7.781 tỉ đồng xuống còn 3.965 tỉ đồng thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, với con số tài sản nắm giữ hiện tại, vị trí giàu thứ 3 của bầu Đức cũng không vững chắc vì chỉ nhỉnh hơn không nhiều so với 3.810 tỉ đồng tài sản của bà Phạm Thu Hương (cổ phiếu VIC – Vingroup). Chỉ cần một vài phiên biến động khiến cổ phiếu HAG tiếp tục giảm hoặc cổ phiếu VIC tăng giá thì bầu Đức sẽ tiếp tục “tụt hạng” trên bảng xếp hạng này. Trong khi đó, mặc dù tính trong cả năm nay, cổ phiếu HPG cũng ghi nhận sụt giảm gần 14%, còn 29.800 đồng/cổ phiếu tại thời điểm đóng cửa phiên 11.12.2015. Tuy nhiên, do bầu Long đã nâng khối lượng nắm giữ HPG từ 101 triệu đơn vị lên 184,3 triệu đơn vị, nên tài sản trên sàn chứng khoán của bầu Long vẫn đạt gần 5.500 tỉ đồng (so với 6.100 tỉ đồng cuối năm ngoái), cao hơn đáng kể so với bầu Đức. Vị trí thứ 6 của bà Vũ Thị Hiền (vợ bầu Long) nhường lại cho bà Nguyễn Thị Hoàng Yến (Tập đoàn Ma San) và lùi xuống vị trí thứ 8 trong bảng xếp hạng. Cũng trong năm 2015 này, cổ phiếu VIC của Vingroup ghi nhận tăng khá mạnh (9,21%), đạt 41.500 đồng/cổ phiếu trong phiên 11.12, do vậy, tài sản của ông Phạm Nhật Vượng, bà Phạm Thu Hương và bà Phạm Thúy Hằng đều tăng. Hiện tại, tính riêng giá trị tài sản do nắm giữ cổ phiếu VIC, ông Vượng đã sở hữu 22.096 tỉ đồng, tiếp tục dẫn đầu danh sách những người giàu nhất thị trường chứng khoán Việt Nam. Bà Phạm Thu Hương và bà Phạm Thúy Hằng lần lượt giữ vị trí thứ 4 và thứ 5. Bà Trương Thị Lệ Khanh (Chủ tịch HĐQT kiêm CEO Thủy sản Vĩnh Hoàn – VHC) tiếp tục giữ vị trí thứ 7. Trong khi đó, vị trí thứ 9 và thứ 10 có sự thay đổi. Theo đó, bà Chu Thị Bình (Thủy sản Minh Phú) và ông Dương Ngọc Minh (Thủy sản Hùng Vương) đều rời Top 10 và thay vào đó là ông Trương Gia Bình (FPT) và ông Nguyễn Văn Đạt (Bất động sản Phát Đạt). Bích Diệp - Dân Trí |
|